NỘI DUNG
TÌM THẤY TRONG NHỮNG TẬP TÀI LIỆU CỦA CỐ HỌC GIẢ DIEDRICH KNICKERBOCKER.
Đó là một vùng đất êm đềm của những kẻ mơ màng,
Của những giấc mơ chập chờn trước đôi mắt hé mở;
Và những lâu đài lộng lẫy trên mây trôi bồng bềnh
Mãi rực hồng dưới bầu trời mùa hạ.
LÂU ĐÀI CỦA SỰ LƯỜI BIẾNG.
Nép mình êm ả trong lòng một vũng vịnh rộng lớn khoét sâu vào bờ đông con sông Hudson, ngay tại khúc phình to mà những nhà hàng hải Hà Lan thời xưa vẫn gọi là Tappan Zee1 - nơi họ luôn cẩn trọng hạ buồm và cầu xin thánh Nicholas phù hộ mỗi khi vượt qua - có một thị trấn giao thương nhỏ bé, hay nói cho đúng hơn là một bến cảng nông thôn. Đôi kẻ gọi nó là Greensburgh, nhưng cái tên thường được biết đến rộng rãi và chính xác hơn lại là Tarry Town. Quý vị thân mến, cái tên này, theo lời kể của người xưa, do những bà nội trợ đảm đang quanh vùng đặt ra từ thuở trước, xuất phát từ thói quen thâm căn cố đế của các đức ông chồng họ: cứ nán lại quanh quẩn nơi quán rượu làng mỗi dịp họp chợ. Dù sao đi nữa, tôi cũng chẳng dám đoan chắc về sự thật ấy, mà chỉ nhắc đến cốt sao cho câu chuyện thêm phần chân thực. Cách ngôi làng chừng hai dặm, có một thung lũng nhỏ, hay đúng hơn là một dải đất lọt thỏm giữa những ngọn đồi cao, vốn là một trong những chốn yên tĩnh nhất trên toàn thế giới. Một con suối nhỏ lượn lờ chảy qua, tiếng róc rách của nó vừa đủ để ru người ta vào giấc ngủ; còn tiếng huýt sáo thỉnh thoảng của chú chim cút, hay tiếng gõ lóc cóc của chim gõ kiến, gần như là những âm thanh duy nhất phá vỡ sự tĩnh lặng đều đặn nơi đây.
Tôi còn nhớ, thuở thiếu niên, chiến công đầu tiên trong sự nghiệp bắn sóc của tôi chính là ở một lùm cây óc chó cao lớn rợp bóng bên rìa thung lũng. Tôi đã lang thang vào đó lúc đúng giữa trưa, khi mọi cảnh vật thiên nhiên đều đặc biệt tĩnh lặng, và giật thót mình bởi tiếng nổ từ chính khẩu súng của mình - nó xé toạc bầu không khí tịch mịch của ngày Sabbath, kéo dài và vang vọng qua những âm vang giận dữ. Nếu có bao giờ tôi ao ước một nơi ẩn dật để lánh xa cõi đời cùng những xáo trộn của nó, mà mơ màng trải qua phần đời còn lại của một kiếp người đầy sóng gió, tôi chẳng biết nơi nào hứa hẹn hơn thung lũng nhỏ bé này.
Từ sự yên bình trầm mặc của vùng đất ấy, cùng tính cách đặc trưng của những cư dân nơi đây - vốn là hậu duệ của những người Hà Lan định cư đầu tiên - hẻm núi heo hút này từ lâu đã nức tiếng với cái tên THUNG LŨNG SLEEPY HOLLOW, và những chàng trai quê mùa ở đây được khắp vùng lân cận gọi là Những chàng trai Thung lũng Sleepy Hollow. Một thứ ảnh hưởng mơ màng, buồn ngủ dường như bao trùm lên cả vùng đất và thấm đẫm vào chính bầu không khí. Có kẻ bảo rằng nơi này đã bị một bác sĩ người Đức lão luyện yểm bùa từ những ngày đầu lập ấp; kẻ khác lại nói rằng một vị tù trưởng da đỏ già, một nhà tiên tri hay pháp sư của bộ lạc ông ta, đã từng tổ chức những nghi lễ tế tự ở đây trước khi vùng đất này được Ngài Hendrick Hudson khám phá. Có một điều chắc chắn là: nơi này vẫn tiếp tục chịu sự chi phối của một sức mạnh ma quái nào đó, thứ đang yểm bùa lên tâm trí những con người lương thiện, khiến họ luôn bước đi trong một cơn mộng du triền miên. Họ tin vào đủ loại tín ngưỡng kỳ lạ, dễ rơi vào trạng thái xuất thần và mộng tưởng, thường xuyên nhìn thấy những cảnh tượng kỳ dị, nghe thấy âm nhạc và những giọng nói vọng ra từ hư không. Khắp vùng nhan nhản những câu chuyện kể địa phương, những địa điểm bị ma ám, và những điều mê tín lúc chạng vạng; sao băng và những vệt sáng xẹt ngang qua thung lũng thường xuyên hơn bất kỳ nơi nào khác trên vùng đất này, và cơn ác mộng, cùng chín bề trói buộc của ả, dường như coi đây là sân chơi ưa thích cho những trò nô đùa của mình.
Thế nhưng, linh hồn thống lĩnh vùng đất bị phù phép này, và dường như là tổng tư lệnh của tất cả các thế lực trong không trung, chính là bóng ma của một kỵ sĩ không đầu. Một số người cho rằng đó là hồn ma của một kỵ binh người Hessian, kẻ đã bị đạn đại bác tiện mất đầu trong một trận chiến vô danh nào đó thời Chiến tranh Cách mạng, và thỉnh thoảng lại được người dân quê nhìn thấy đang lao vút trong bóng đêm mù mịt, tựa như đang cưỡi trên đôi cánh của gió. Những nơi hắn ám không chỉ bó hẹp trong thung lũng, mà đôi khi còn lan ra những con đường lân cận, và đặc biệt là khu vực quanh một nhà thờ cách đó không xa. Quả thực, một số nhà sử học đáng tin cậy nhất của vùng - những người đã cẩn trọng thu thập và đối chiếu các dữ kiện trôi nổi về bóng ma này - khẳng định rằng thi thể của viên kỵ binh đã được chôn cất trong nghĩa trang nhà thờ, hồn ma thường phi ngựa đến chiến trường hằng đêm để tìm cái đầu của mình, và tốc độ lao vút như gió lốc lúc nửa đêm mà hắn thỉnh thoảng lướt qua Thung lũng, chính là do hắn đã về muộn và đang hối hả quay lại nghĩa trang trước lúc rạng đông.
Đó là nội dung chung của câu chuyện mê tín huyền thoại này, thứ đã cung cấp chất liệu cho biết bao câu chuyện rùng rợn nơi vùng đất của những chiếc bóng; và bóng ma ấy được mọi người quanh những bếp lửa nông thôn biết đến với cái tên Kỵ sĩ Không đầu của Thung lũng Sleepy Hollow.
Điều đáng chú ý là cái xu hướng mơ mộng mà tôi vừa nhắc đến không chỉ bó hẹp nơi những cư dân bản địa của thung lũng, mà còn thâm nhập một cách vô thức vào bất kỳ ai cư ngụ ở đó một thời gian. Dù có tỉnh táo đến đâu trước khi bước vào vùng đất ngái ngủ ấy, chắc chắn chỉ sau một thời gian ngắn, họ sẽ hít phải luồng không khí ma mị, bắt đầu trở nên giàu trí tưởng tượng, hay mơ mộng, và nhìn thấy những bóng ma.
Tôi nhắc đến chốn bình yên này bằng tất cả lời ca ngợi, bởi lẽ chính trong những thung lũng Hà Lan nhỏ bé và hẻo lánh như thế - nằm rải rác lọt thỏm giữa lòng Bang New York rộng lớn - mà dân số, lề thói và phong tục vẫn không hề thay đổi, trong khi dòng thác di cư và cải cách ồ ạt, thứ đang tạo ra những đổi thay không ngừng ở những vùng khác của đất nước xáo động này, lại lướt qua chúng mà không ai hay biết. Chúng giống như những vũng nước lặng lẽ bên rìa một dòng suối xiết, nơi ta có thể thấy cọng rơm và bọt nước đang neo đậu yên bình, hoặc từ từ xoay tròn trong bến cảng thu nhỏ của mình, không hề bị xáo trộn bởi sự hối hả của dòng nước lướt qua. Dù đã nhiều năm trôi qua kể từ khi tôi rảo bước dưới những tán cây buồn ngủ của Thung lũng Sleepy Hollow, tôi vẫn tự hỏi liệu mình có còn tìm thấy những cái cây ấy và những gia đình ấy đang sinh sôi trong vòng tay che chở của nó hay không.
Tại nơi chốn hẻo lánh này của tạo hóa, vào một thời kỳ xa xưa của lịch sử nước Mỹ - tức là khoảng ba mươi năm trước - có một gã tốt bụng tên là Ichabod Crane cư ngụ, hay như anh ta thường nói là "nán lại", ở Thung lũng Sleepy Hollow, với mục đích dạy dỗ lũ trẻ trong vùng. Anh ta là người gốc Connecticut, một tiểu bang vẫn hằng cung cấp cho Liên bang những người tiên phong cho trí tuệ cũng như cho rừng rậm, và năm nào cũng gửi đi những đội quân thợ rừng vùng biên giới cùng những thầy giáo trường làng. Cái biệt danh Crane - quả không sai với dáng vóc của anh ta. Anh ta cao lêu nghêu, nhưng vô cùng gầy gò, với đôi vai hẹp, tay chân dài ngoẵng, đôi bàn tay đung đưa thò ra cả dặm khỏi ống tay áo, đôi bàn chân có thể dùng làm xẻng, và toàn bộ khung xương như được chắp nối một cách lỏng lẻo nhất. Đầu anh ta nhỏ, phẳng lì ở đỉnh, với đôi tai to tướng, đôi mắt xanh lồi to bằng thủy tinh, và cái mũi dài như mỏ dẽ - trông cứ như một chiếc chong chóng thời tiết đậu trên cái cổ khẳng khiu để báo hướng gió. Nhìn anh ta sải bước trên sườn đồi vào một ngày lộng gió, quần áo thùng thình bay phần phật quanh người, người ta có thể nhầm anh ta với vị thần đói khát đang giáng thế, hay một con bù nhìn rơm nào đó vừa trốn khỏi ruộng ngô.
Trường học của anh là một tòa nhà thấp tầng chỉ có một phòng lớn, được xây dựng thô sơ bằng những khúc gỗ; các ô cửa sổ một phần gắn kính, một phần chắp vá bằng những trang vở cũ. Vào những giờ vắng vẻ, nó được bảo vệ một cách khéo léo nhờ sợi dây đan xoắn vào tay nắm cửa và những cọc gỗ dựng chặn ngoài cửa chớp; thế nên, dẫu một tên trộm có thể lẻn vào dễ dàng, hắn lại gặp chút bối rối khi muốn thoát ra - một ý tưởng rất có thể đã được kiến trúc sư Yost Van Houten vay mượn từ bí ẩn của chiếc lờ bắt lươn. Ngôi trường nằm ở một vị trí khá vắng vẻ nhưng dễ chịu, ngay dưới chân một ngọn đồi rợp bóng cây, có con suối chảy sát cạnh và một cây phong vàng cổ thụ mọc ở một đầu tòa nhà. Từ nơi đây, vào một ngày hè oi ả buồn ngủ, người ta có thể nghe thấy tiếng rì rầm trầm thấp của lũ học trò đang học thuộc bài, tựa như tiếng vo ve của một tổ ong; thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi giọng nói uy nghiêm của thầy giáo, mang âm điệu đe dọa hoặc ra lệnh, hay có thể là tiếng chát chúa của roi phong vàng, khi thầy thúc giục một kẻ lề mề nào đó dọc theo con đường tri thức đầy hoa. Quả thực, thầy là một người tận tâm và luôn ghi nhớ câu châm ngôn vàng ngọc: "Thương cho roi cho vọt." Học trò của Ichabod Crane chắc chắn không hề bị làm hư.
Tuy nhiên, tôi không muốn quý vị nghĩ rằng thầy là một trong những vị vua chúa độc ác chốn học đường, kẻ vui sướng trước nỗi đau của thần dân mình; trái lại, thầy thực thi công lý với sự phân biệt rạch ròi chứ không phải bằng sự tàn nhẫn: cất đi gánh nặng trên vai những kẻ yếu ớt, và trút nó lên những kẻ mạnh mẽ. Cậu thiếu niên ốm yếu chỉ biết co rúm lại trước một cú vung roi nhẹ nhất thì được tha thứ bằng sự khoan dung; nhưng những yêu cầu của công lý lại được thỏa mãn bằng cách giáng một hình phạt gấp đôi lên thằng nhóc Hà Lan cứng đầu cứng cổ, mặc áo choàng rộng thùng thình, kẻ vốn hay sưng sỉa, phồng mang trợn má và trở nên lầm lì, cáu kỉnh dưới ngọn roi phong. Tất cả những điều này thầy gọi là "làm tròn bổn phận với cha mẹ chúng"; và thầy chẳng bao giờ giáng một đòn trừng phạt nào mà không kèm theo lời cam đoan, thứ an ủi vô cùng đối với đứa trẻ đang đau đớn, rằng "nó sẽ nhớ và biết ơn thầy cho đến tận ngày cuối đời."
Khi giờ học kết thúc, thầy lại là bạn đồng hành và bạn cùng chơi của những cậu nam sinh lớn tuổi; và vào những buổi chiều ngày nghỉ, thầy sẽ hộ tống một vài đứa nhỏ về nhà - những đứa tình cờ có chị gái xinh đẹp, hoặc có bà mẹ nội trợ đảm đang nổi tiếng với sự sung túc của tủ thức ăn. Quả thực, thầy có nghĩa vụ phải giữ mối quan hệ tốt với học trò của mình. Thu nhập từ trường học rất ít ỏi, gần như không đủ để cung cấp lương thực hằng ngày cho thầy, bởi thầy là một kẻ ăn uống dữ dội và - dù gầy gò - lại sở hữu khả năng phình to của một con trăn anaconda. Nhưng để có thêm chi phí sinh hoạt, theo phong tục miền quê ở vùng ấy, thầy được ăn ở ngay tại nhà của những nông dân có con cái mà thầy dạy dỗ. Thầy luân phiên sống với họ mỗi nơi một tuần, cứ thế đi hết một vòng quanh xóm, với toàn bộ tài sản trần tục được gói gọn trong một chiếc khăn tay bằng bông.
Để việc này không trở thành gánh nặng quá lớn đối với túi tiền của những nhà bảo trợ nông thôn - những người vốn coi chi phí học hành là một gánh nặng nhức nhối và thường xem các thầy giáo như lũ ăn bám - thầy có vô vàn cách để khiến bản thân trở nên vừa hữu ích vừa dễ chịu. Thỉnh thoảng thầy giúp đỡ các nông dân làm những công việc nhẹ nhàng hơn trong nông trại: giúp làm cỏ khô, sửa chữa hàng rào, dắt ngựa đi uống nước, lùa bò từ đồng cỏ về, và chẻ củi cho đống lửa mùa đông. Thầy cũng dẹp bỏ mọi sự uy nghiêm thống trị và quyền lực tuyệt đối mà thầy thường dùng để cai trị trong vương quốc nhỏ bé của mình là ngôi trường, mà trở nên dịu dàng và nịnh bợ một cách lạ thường. Thầy ghi điểm trong mắt các bà mẹ bằng cách cưng nựng lũ trẻ, đặc biệt là đứa nhỏ nhất; và tựa như chú sư tử dũng mãnh ngày xưa đã từng hào hiệp ôm ấp chú cừu non, thầy có thể ngồi đặt một đứa trẻ lên đầu gối và dùng chân đưa nôi suốt hàng giờ liền.
Ngoài những công việc khác, thầy còn là thầy dạy hát của cả vùng, và kiếm được kha khá những đồng shilling sáng bóng bằng cách dạy những người trẻ tuổi hát thánh ca. Thầy không khỏi cảm thấy chút phù phiếm vào những ngày Chủ nhật, khi đứng chễm chệ trước ban công nhà thờ cùng với một ban nhạc gồm toàn những ca sĩ được tuyển chọn - nơi mà, trong thâm tâm, thầy hoàn toàn lấn lướt cả vị mục sư. Có một điều chắc chắn: giọng hát của thầy vang xa hơn tất thảy những người còn lại trong giáo đoàn; và hiện vẫn còn những âm rung kỳ lạ vang vọng trong ngôi nhà thờ ấy, những âm thanh thậm chí có thể nghe thấy từ cách xa nửa dặm, ngay phía bên kia ao xay xát, vào một sáng Chủ nhật tĩnh lặng - mà người ta tin rằng đã được di truyền chính đáng từ chiếc mũi của Ichabod Crane. Như vậy, bằng vô số cách xoay xở nhỏ nhặt, theo cái kiểu khéo léo mà người ta thường gọi là "bằng mọi giá", vị thầy giáo đáng kính này đã tiến thân khá trót lọt, và được những kẻ chẳng hiểu chi về lao động trí óc cho là có một cuộc sống vô cùng an nhàn.
Thầy giáo làng thường là một nhân vật có chút ảnh hưởng trong vòng tròn phụ nữ ở vùng nông thôn; họ coi thầy như một con người nhàn nhã mang phong thái quý tộc, với khiếu thẩm mỹ và tài năng vượt trội hơn hẳn những gã trai quê thô lỗ - và thực tế, chỉ kém vị mục sư về mặt học thức. Bởi thế, sự xuất hiện của thầy thường gây ra đôi chút xôn xao nơi bàn trà của một trang trại, kèm theo đó là một đĩa bánh ngọt hay mứt được dọn thêm, hoặc có thể là sự hiện diện long trọng của một chiếc ấm trà bằng bạc. Vì lẽ đó, con người có học thức của chúng ta đặc biệt đắm mình trong nụ cười của hết thảy các bậc thiếu nữ thôn quê. Quý vị hãy xem cách anh điệu đà sải bước giữa họ trong sân nhà thờ những ngày Chủ nhật; hái nho dại cho họ từ những dây leo hoang mọc lan trên các thân cây xung quanh; đọc to cho họ nghe tất cả các văn bia trên bia mộ để mua vui; hay thơ thẩn dạo bước cùng cả một bầy nữ giới dọc theo bờ ao xay xát gần đó - trong khi những gã trai quê ngượng ngùng đứng thu mình phía sau, ghen tị trước vẻ lịch thiệp và phong thái vượt trội của anh.
Từ cuộc sống bán du mục của mình, anh còn đóng vai trò như một tờ báo lưu động, mang theo toàn bộ túi tin đồn địa phương từ nhà này sang nhà khác, nên sự xuất hiện của anh luôn được chào đón bằng niềm hài lòng. Hơn nữa, anh lại còn được phụ nữ kính trọng vì là một người học rộng hiểu nhiều, bởi anh đã đọc trọn vẹn vài cuốn sách và là một bậc thầy tinh thông cuốn Lịch sử Phù thủy vùng New England của Cotton Mather2 - cuốn sách mà, nói thêm, anh tin tưởng một cách sâu sắc và mãnh liệt nhất.
Thực tế, anh là một sự pha trộn kỳ lạ giữa sự sắc sảo nhỏ nhặt và tính nhẹ dạ cả tin. Cơn khao khát những điều kỳ diệu cũng như khả năng tiêu hóa chúng của anh đều phi thường như nhau; và cả hai còn được tăng thêm bội phần nhờ việc anh cư ngụ trong chính vùng đất bị phù phép này. Chẳng có câu chuyện nào quá thô thiển hay quái dị đối với cái dạ dày khổng lồ của anh. Sau giờ tan trường mỗi buổi chiều, thú vui thường nhật của anh là nằm dài trên thảm cỏ ba lá tươi tốt ven bờ con suối nhỏ róc rách chảy qua trường, và ở đó miệt mài đọc những câu chuyện kinh dị của lão Mather, cho đến khi bóng tối chập choạng buông xuống khiến những trang giấy in chỉ còn là một màn sương mờ trước mắt. Sau đó, khi anh lên đường băng qua đầm lầy, dòng suối và những cánh rừng âm u đáng sợ để đến trang trại nơi anh tình cờ được tá túc, mọi âm thanh của thiên nhiên vào cái giờ khắc ma mị ấy đều làm rung động trí tưởng tượng đang bị kích thích của anh - tiếng rên rỉ của loài chim ác là từ sườn đồi, tiếng kêu báo hiệu của con ếch cây, sứ giả của bão tố, tiếng cú vọ kêu thê lương, hay tiếng sột soạt bất ngờ trong bụi rậm của những con chim bị giật mình khỏi tổ. Những con đom đóm, vốn lập lòe sáng rực nhất ở những nơi tối tăm nhất, thỉnh thoảng cũng khiến anh giật mình, khi một con đom đóm sáng dị thường xẹt ngang qua lối đi; và nếu, tình cờ, một con bọ cánh cứng to đùng ngu ngốc lao vào anh trong chuyến bay loạng choạng của nó, thì gã đàn ông tội nghiệp đã sẵn sàng lìa đời, với ý nghĩ rằng mình đã bị một bùa ngải của phù thủy đánh trúng. Phương kế duy nhất của anh trong những lúc như thế - hoặc để nhấn chìm suy nghĩ hoặc để xua đuổi tà ma - là hát những bài thánh ca; và những người dân lương thiện ở Thung lũng Sleepy Hollow, khi ngồi hóng mát trước cửa nhà vào buổi tối, thường cảm thấy sợ hãi khi nghe giai điệu đầy giọng mũi của anh, "trong sự ngọt ngào ngân dài kết nối," vọng tới từ ngọn đồi xa xa hay dọc theo con đường chập choạng tối.
Một nguồn thú vui đầy sợ hãi khác của anh là trải qua những buổi tối mùa đông dài dằng dặc cùng các bà lão Hà Lan, khi họ ngồi quay sợi bên đống lửa, với một hàng táo đang xèo xèo nướng trên lò sưởi, và lắng nghe những câu chuyện thần kỳ của họ về ma quỷ và yêu tinh, về những cánh đồng ma ám, những dòng suối ma ám, những cây cầu ma ám, những ngôi nhà ma ám, và đặc biệt là về kỵ sĩ không đầu - hay Kỵ binh Hessian3 Phi ngựa của Thung lũng, như họ thỉnh thoảng vẫn gọi hắn. Anh cũng sẽ làm họ vui thích chẳng kém bằng những giai thoại về phù thủy, về những điềm báo khủng khiếp cùng những cảnh tượng và âm thanh báo hiệu trong không trung - những điều từng thịnh hành vào thời kỳ sơ khai của Connecticut; và sẽ làm họ sợ hãi tột độ bằng những phỏng đoán về sao chổi và sao băng, cùng với sự thực đáng báo động rằng thế giới hoàn toàn đang xoay tròn, và họ đã bị lộn ngược suốt một nửa thời gian!
Nhưng nếu có một niềm vui nào đó trong tất thảy những điều này, khi êm ấm cuộn mình trong góc lò sưởi của một căn phòng rực sáng ánh hồng từ đống củi cháy lách tách, và ở nơi mà, dĩ nhiên, chẳng có bóng ma nào dám thò mặt ra, thì niềm vui ấy lại được mua với giá quá đắt bằng nỗi kinh hoàng trên quãng đường bộ về nhà sau đó. Biết bao hình thù và bóng ma đáng sợ bủa vây lối anh đi, giữa thứ ánh sáng mờ ảo và ghê rợn của một đêm đầy tuyết! Anh đã dùng ánh mắt khao khát đến nhường nào để dán chặt vào từng tia sáng le lói hắt qua những cánh đồng hoang vu từ một ô cửa sổ xa xăm nào đó! Đã bao lần anh kinh hãi trước một bụi cây phủ đầy tuyết, thứ bủa vây lối đi của anh hệt như một bóng ma quấn khăn tang! Đã bao lần anh thu mình lại trong nỗi sợ hãi tê dại trước tiếng bước chân của chính mình trên lớp vỏ băng giá dưới chân, và khiếp sợ không dám ngoái đầu nhìn qua vai, e rằng mình sẽ nhìn thấy một sinh vật kỳ dị nào đó đang lầm lũi dậm bước sát ngay sau lưng! Và đã bao lần anh bị đẩy vào cơn kinh hoàng tột độ bởi một luồng gió dữ dội xông tới, rít gào giữa những hàng cây, với ý nghĩ rằng đó chính là Kỵ binh Hessian Phi ngựa trong một chuyến càn quét hằng đêm của hắn!
Thế nhưng, tất cả những thứ này cũng chỉ là những nỗi khiếp sợ của màn đêm, những bóng ma trong tâm trí chỉ dạo bước trong bóng tối; và mặc dù anh đã thấy nhiều bóng ma trong đời, và không ít lần bị quỷ Satan bao vây dưới đủ mọi hình dạng trong những chuyến tản bộ cô độc của mình, ánh sáng ban ngày vẫn chấm dứt mọi sự xấu xa ấy; và anh hẳn đã trải qua một cuộc đời êm ả, bất chấp Ác Quỷ cùng mọi việc làm của hắn, nếu như đường đời của anh không bị một sinh vật cản lối - thứ gây ra nhiều sự bối rối cho những kẻ trần tục hơn cả ma quỷ, yêu tinh và toàn bộ chủng loài phù thủy cộng lại, và đó chính là - một người phụ nữ.
Trong số những học trò âm nhạc tụ họp mỗi tuần một buổi tối để được anh dạy hát thánh ca, có Katrina Van Tassel - cô con gái cưng và cũng là người con duy nhất của một điền chủ Hà Lan giàu có. Nàng là một thiếu nữ mười tám tuổi căng tràn nhựa sống, mũm mĩm tựa chim đa đa, chín mọng và mơn mởn, đôi má hồng như một trong những trái đào nơi vườn nhà. Danh tiếng nàng vang xa không chỉ bởi nhan sắc, mà còn bởi những kỳ vọng to lớn về gia sản kế thừa sau này. Hơn thế nữa, nàng còn phảng phất nét lẳng lơ, như người ta có thể nhận ra ngay qua cách ăn vận - một sự pha trộn khéo léo giữa thời trang xưa và nay, cốt để tôn lên vẻ quyến rũ của bản thân. Nàng đeo những món trang sức bằng vàng ròng mà cụ cố nàng từng mang từ Saardam sang; mặc chiếc áo nịt ngực đầy mê hoặc của thời trước, kèm theo đó là chiếc váy ngắn đầy khiêu khích, cốt ý khoe đôi chân cùng cặp mắt cá thanh tú nhất vùng.
Ichabod Crane vốn mang một trái tim mềm yếu và khờ dại trước phái đẹp; bởi vậy, có gì đáng ngạc nhiên khi một miếng mồi ngon lành đến thế nhanh chóng lọt vào mắt xanh của anh - nhất là sau khi anh đã ghé thăm nàng tại chính dinh thự của cha nàng. Lão Baltus Van Tassel quả là bức chân dung mẫu mực của một điền chủ thịnh vượng, mãn nguyện và hào phóng. Quả thực, lão hiếm khi phóng tầm mắt hay suy tưởng vượt ra ngoài ranh giới trang trại của mình; nhưng bên trong ranh giới ấy, mọi thứ đều ấm cúng, vui vẻ và nền nếp đâu ra đấy. Lão bằng lòng với sự giàu sang của mình mà chẳng hề tự mãn; và lão tự hào về sự sung túc mộc mạc hơn là lối sống hào nhoáng. Điền trang vững chãi của lão tọa lạc bên bờ sông Hudson, trên một vùng đất màu mỡ, xanh tươi và rợp bóng mát - cái kiểu vùng đất mà những người nông dân Hà Lan vô cùng ưa thích làm tổ. Một cây du cổ thụ đồ sộ vươn rộng những tán nhánh bao trùm lên ngôi nhà; nơi gốc cây, một mạch nước trong vắt và ngọt lành nhất trào lên từ một cái giếng nhỏ đóng bằng thùng gỗ, rồi lấp lánh chảy xuyên qua thảm cỏ, hòa mình vào một con suối lân cận đang róc rách len lỏi giữa những bụi tống quán sủ và liễu lùn. Ngay sát bên trang trại là một kho thóc khổng lồ, rộng đến mức có thể làm nhà thờ; mọi khung cửa sổ và kẽ hở của nó dường như đang tuôn trào những kho báu ruộng vườn. Tiếng đập lúa vang lên rộn rã bên trong từ sáng đến tối; những cánh én và nhạn bay vòng ríu rít quanh mái hiên; còn lũ bồ câu thì từng hàng từng hàng - con thì ngước một mắt lên như thể đang xem thời tiết, con thì dúi đầu dưới cánh hay vùi trong ngực, con khác lại ưỡn ngực gù gù và nghiêng mình chào đàn mái - tất cả cùng tận hưởng ánh nắng trên mái. Những con lợn to béo ục ịch tận hưởng cảnh nhàn nhã và sung túc nơi chuồng trại; thỉnh thoảng lại lục tục chạy ra những bầy lợn con đang bú sữa mẹ, như thể chỉ để hít thở bầu không khí trong lành. Một hạm đội ngỗng trắng oai vệ đang bơi lội trên mặt ao kế bên, hộ tống toàn bộ đàn vịt đi theo; những trung đoàn gà tây kêu cục tác khắp sân trại; còn lũ gà sao thì chạy lăng xăng khắp nơi, như những bà nội trợ cáu kỉnh, phát ra những tiếng kêu la bực dọc, gắt gỏng.
Miệng vị thầy giáo ứa nước miếng khi nhìn thấy lời hứa hẹn về cả một mùa đông xa hoa toàn những thức ăn sang trọng. Trong con mắt tâm trí đang thèm thuồng của mình, anh hình dung mọi con lợn quay đang chạy lon ton với cái bánh pudding trong bụng và một quả táo trong miệng; những con bồ câu được đặt nằm ngoan ngoãn trên chiếc giường bánh nướng êm ái, đắp lên người tấm chăn vỏ bánh; lũ ngỗng bơi trong chính nước thịt của chúng; và những cặp vịt nằm khăng khít trong đĩa, tựa những đôi vợ chồng son, với một lớp nước xốt hành tây vừa vặn phủ lên. Nhìn những con lợn béo tròn, anh đã thấy chúng được cắt ra thành những sườn thịt muối thơm béo và những miếng giăm bông mọng nước đầy hấp dẫn trong tương lai; chẳng con gà tây nào mà anh không mường tượng ra cảnh nó được buộc gọn gàng một cách ngon lành, với cái mề kẹp dưới cánh, và, có lẽ, một chuỗi vòng cổ kết bằng xúc xích thơm lừng; và thậm chí con gà trống rực rỡ kia cũng đang nằm ngửa chềnh ềnh trên một cái đĩa phụ, với cặp móng vuốt giơ lên trời, như thể đang cầu xin ân xá cho một tinh thần hiệp sĩ mà khi còn sống nó chẳng bao giờ chịu khuất phục.
Khi Ichabod say sưa tưởng tượng ra tất cả những điều này, cùng lúc đảo đôi mắt xanh to tướng của mình qua những đồng cỏ mỡ màng, những cánh đồng lúa mì, lúa mạch đen, kiều mạch và ngô da đỏ trù phú, cùng những vườn cây trĩu quả đỏ au bao bọc lấy ngôi nhà ấm cúng của Van Tassel, trái tim anh khao khát thiếu nữ sẽ được thừa kế những vùng đất này. Trí tưởng tượng của anh rộng mở với ý nghĩ: làm sao chúng có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt, rồi số tiền ấy lại được đầu tư vào những vùng đất hoang vu rộng lớn, thành những cung điện lợp ván giữa chốn hoang sơ. Thậm chí, trí tưởng tượng bận rộn của anh còn vẽ ra trước mắt cả một tương lai đã thành hiện thực: nàng Katrina rạng rỡ, với một bầy con cái đông đúc, ngồi trên nóc một cỗ xe ngựa chất đầy đồ đạc, với xoong nồi lủng lẳng bên dưới; và anh thấy chính mình đang cưỡi một con ngựa cái chạy kiệu, theo sau là một chú ngựa con, thẳng tiến đến Kentucky, Tennessee - hay có Chúa mới biết là phương trời nào!
Khi anh bước vào nhà, sự chinh phục trái tim anh đã hoàn tất. Đó là một trong những trang trại rộng lớn, mái nhà có đường gờ cao nhưng dốc thoải, được xây dựng theo phong cách truyền lại từ những người Hà Lan định cư đầu tiên; những mái hiên thấp nhô ra tạo thành một dãy hành lang chạy dọc theo mặt trước, có thể đóng lại khi trời mưa gió. Dưới mái hiên này treo đủ thứ: đập lúa, dây nịt, các dụng cụ làm nông, và cả lưới đánh cá ở con sông lân cận. Những chiếc ghế dài được đóng cố định dọc theo tường để dùng vào mùa hè; và ở một đầu đặt chiếc guồng quay sợi lớn, đầu kia là thùng đánh bơ, cho thấy cái mái hiên quan trọng này mang trong mình biết bao công dụng. Từ hàng hiên, Ichabod đầy kinh ngạc bước vào gian đại sảnh - trung tâm của dinh thự và cũng là nơi sinh hoạt thường ngày. Tại đây, những hàng đồ thiếc sáng rực được xếp ngay ngắn trên một chiếc tủ dài khiến anh hoa mắt. Một góc phòng là một bao len khổng lồ, đã sẵn sàng để quay sợi; góc khác là một lượng lớn vải len pha lanh vừa mới rời khung cửi. Những bắp ngô da đỏ và những chuỗi táo, đào sấy khô treo thành những dải rực rỡ dọc theo các bức tường, xen lẫn với màu sắc chói lọi của những quả ớt đỏ. Một cánh cửa hé mở cho anh nhìn trộm vào phòng khách đẹp nhất: những chiếc ghế chân móng vuốt và bàn gỗ gụ sẫm màu bóng loáng như gương; những thanh sắt kê củi trong lò sưởi, cùng với xẻng và kẹp đi kèm, lấp lánh từ chỗ nấp sau những cành măng tây trang trí; những quả cam giả và vỏ ốc xà cừ phô bày trên bệ lò sưởi; những chuỗi trứng chim muôn màu treo lơ lửng phía trên; một quả trứng đà điểu to tướng treo giữa trần nhà; và một chiếc tủ góc được cố ý để mở, phô bày cả kho báu đồ sộ bằng bạc cũ và đồ sứ được vá víu cẩn thận.
Ngay từ khoảnh khắc Ichabod đặt mắt tới những vùng đất đầy mê hoặc này, tâm trí anh không còn chút bình yên nào nữa; và nỗ lực duy nhất của anh từ đó là làm sao chiếm được tình cảm của cô con gái vô song của lão Van Tassel. Tuy nhiên, trong cuộc chinh phục này, anh phải đối mặt với nhiều khó khăn thực sự hơn hẳn những gì thường rơi vào số phận của một hiệp sĩ giang hồ thời xưa - những kẻ hiếm khi phải đối phó với điều gì khác ngoài những tên khổng lồ, phù thủy, rồng phun lửa hay những kẻ thù dễ dàng bị đánh bại tương tự, và chỉ việc mở đường vượt qua những cánh cổng bằng sắt, bằng đồng, những bức tường kim cương để đến với ngọn tháp nơi người đẹp trong tim chàng đang bị giam cầm - tất cả đều đạt được dễ dàng như việc một người đàn ông dùng dao xẻ vào giữa chiếc bánh Giáng sinh; và rồi người phụ nữ trao tay nàng cho chàng như một lẽ đương nhiên. Ichabod, trái lại, phải tìm đường đến với trái tim của một cô nàng lẳng lơ chốn thôn quê, bị bủa vây bởi một mê cung những ý tưởng kỳ quặc và thất thường, thứ luôn bày ra những khó khăn và chướng ngại mới; và anh còn phải đối mặt với cả một đạo quân những kẻ thù thực sự, bằng xương bằng thịt và đáng sợ - đám người ái mộ nơi thôn dã đông đúc, những kẻ phong tỏa mọi lối vào trái tim nàng, canh chừng nhau bằng những cặp mắt cảnh giác và thù địch, nhưng lại sẵn sàng liên minh bùng nổ vì mục tiêu chung: chống lại bất kỳ đối thủ cạnh tranh mới nào.
Trong số này, kẻ đáng gờm nhất là một gã to lớn, ồn ào, hiếu động tên là Abraham, hay theo cách rút gọn của người Hà Lan, Brom Van Brunt - người hùng của cả vùng, nơi vang dội mãi những kỳ tích về sức mạnh và lòng dũng cảm của hắn. Hắn có đôi vai rộng, xương khớp chắc nịch, mái tóc đen xoăn ngắn, và một khuôn mặt thô bạo nhưng không hề khó ưa, mang vẻ pha trộn giữa sự vui nhộn và kiêu ngạo. Từ thân hình vạm vỡ như lực sĩ Hercules cùng sức mạnh to lớn của tứ chi, hắn đã có được biệt danh BROM BONES - cái tên mà mọi người đều biết đến hắn. Hắn nổi tiếng với kiến thức sâu rộng và tài cưỡi ngựa điêu luyện, thuần thục trên lưng ngựa như một chiến binh Tartar. Hắn luôn đứng đầu trong mọi cuộc đua ngựa và đá gà; và, với cái uy mà sức mạnh cơ bắp luôn giành được trong đời sống chốn thôn quê, hắn là trọng tài cho mọi cuộc tranh chấp - hắn đội mũ lệch sang một bên, đưa ra phán quyết với phong thái và giọng điệu không cho phép bất kỳ ai phản bác hay kháng cáo. Hắn luôn sẵn sàng cho một cuộc ẩu đả hay một trò nghịch ngợm; nhưng trong con người hắn, sự tinh nghịch nhiều hơn ác ý; và ẩn bên dưới tất cả vẻ thô bạo hống hách ấy, tận sâu thẳm hắn vẫn có một khiếu hài hước láu lỉnh mạnh mẽ. Hắn có ba hoặc bốn người bạn nhậu, những kẻ coi hắn như hình mẫu lý tưởng; và đứng đầu nhóm này, hắn đi sục sạo khắp vùng, tham gia vào mọi vụ ẩu đả hay cuộc vui trong vòng nhiều dặm quanh đó. Vào mùa lạnh, hắn nổi bật với chiếc mũ lông thú, trên chóp cắm một cái đuôi cáo sặc sỡ; và khi những người dân tại các buổi tụ tập làng quê nhìn thấy huy hiệu quen thuộc này từ xa, đang lao vụt qua giữa một nhóm những tay đua ngựa cừ khôi, họ luôn sẵn sàng cho một cơn bão táp sắp ập đến. Đôi khi, phi hành đoàn của hắn còn được nghe thấy đang lao ầm ầm qua các trang trại lúc nửa đêm, với những tiếng la hét vang dội hệt như một toán kỵ binh Don Cossack; và những bà lão, bật tỉnh giấc nửa đêm, sẽ lắng nghe một lát cho đến khi đám hối hả ồn ào ấy trôi qua, rồi thốt lên:
- Chà, lại Brom Bones và băng đảng của hắn đấy!
Vị anh hùng ngông cuồng này đã nhắm đến nàng Katrina rạng rỡ từ lâu, lấy nàng làm đối tượng cho những cử chỉ ga-lăng thô nhám của mình. Và mặc dù những trò tán tỉnh trìu mến của hắn có phần giống với những cái vuốt ve yêu thương của một con gấu, thiên hạ vẫn xì xào rằng nàng không hoàn toàn dập tắt những hy vọng của hắn. Chắc chắn là, những bước tiến của hắn chính là tín hiệu để các ứng viên đối thủ rút lui - những kẻ không chút hứng thú chen ngang vào chuyện tình của một con sư tử; đến nỗi, hễ khi nào con ngựa của hắn được nhìn thấy đang buộc vào hàng rào nhà Van Tassel vào một đêm Chủ Nhật - dấu hiệu chắc chắn rằng chủ nhân của nó đang tán tỉnh bên trong, hay như thiên hạ thường nói là đi "đánh tia lửa" - thì tất cả những người cầu hôn khác đều lẳng lặng dắt ngựa đi qua trong nỗi tuyệt vọng, mà mang cuộc chiến của mình sang những địa hạt khác.
Đó chính là đối thủ đáng gờm mà Ichabod Crane phải đương đầu; và, xét mọi bề, một người cường tráng hơn anh hẳn đã chùn bước trước cuộc cạnh tranh này, một người khôn ngoan hơn hẳn đã tuyệt vọng. Tuy nhiên, anh lại có một sự pha trộn đáng mừng giữa mềm dẻo và kiên trì trong bản chất của mình; vóc dáng và tinh thần anh giống như cây gậy supple-jack - chịu nhượng bộ nhưng dẻo dai; dù có cong lại nhưng chẳng bao giờ gãy; và dù anh cúi mình trước áp lực dù là nhỏ nhất, thì ngay khoảnh khắc áp lực ấy biến mất - bật một cái! - anh lại đứng thẳng và ngẩng cao đầu như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Công khai đối đầu với đối thủ của anh ư - đó sẽ là một sự điên rồ; bởi hắn không phải kẻ dễ dàng bị cản bước trong tình cảm của mình, cũng chẳng khác gì người tình bão táp Achilles trong sử thi. Do đó, Ichabod đã tiến những bước đi của mình một cách lặng lẽ, nhẹ nhàng và đầy ẩn ý. Dưới vỏ bọc là một thầy dạy hát, anh thường xuyên lui tới trang trại; và điều này chẳng vấp phải trở ngại gì từ phía cha mẹ - thứ thường là hòn đá cản đường các đôi tình nhân. Lão Balt Van Tassel là một tâm hồn dễ dãi và bao dung; lão yêu cô con gái của mình thậm chí còn hơn cả cái tẩu thuốc, và, như một người đàn ông có lý trí và một người cha tuyệt vời, lão để nàng được làm theo ý mình trong mọi sự. Bà vợ nhỏ nhắn và tháo vát của lão cũng có quá đủ việc phải làm: lo liệu việc nội trợ và trông nom đàn gia cầm; bởi vì, như bà đã từng nhận xét một cách khôn ngoan, vịt và ngỗng là những sinh vật ngốc nghếch, cần phải trông chừng, nhưng các cô gái thì có thể tự lo cho mình. Do vậy, trong khi bà vợ tất bật đi đi lại lại trong nhà, hoặc quay cuồng với chiếc guồng quay sợi ở một đầu mái hiên, thì lão Balt thật thà ngồi hút tẩu thuốc buổi tối ở đầu bên kia, dõi theo những chiến công của một chiến binh gỗ nhỏ xíu - kẻ được trang bị một thanh kiếm ở mỗi tay - đang dũng cảm chiến đấu với gió trên đỉnh mái kho thóc. Còn Ichabod, trong lúc đó, lại tiếp tục công cuộc tán tỉnh cô con gái của lão bên con suối dưới bóng cây du lớn, hay thơ thẩn tản bộ trong ánh chạng vạng - cái giờ phút vô cùng thuận lợi cho những lời lẽ hùng hồn của kẻ đang yêu.
Tôi không dám tự nhận mình biết cách trái tim phụ nữ được tán tỉnh và chinh phục ra sao. Đối với tôi, chúng mãi mãi là những vấn đề huyền bí và đáng ngưỡng mộ. Một số dường như chỉ có một điểm yếu duy nhất, hay một cánh cửa để tiến vào; trong khi những người khác lại có cả ngàn đại lộ, và có thể bị chiếm lĩnh theo ngàn cách khác nhau. Giành được trái tim của loại trước quả là một chiến thắng vĩ đại của kỹ năng; nhưng duy trì được sự sở hữu với loại sau lại là một minh chứng còn lớn lao hơn cho tài thao lược, bởi người đàn ông phải chiến đấu cho pháo đài của mình ở mọi cánh cửa và cửa sổ. Kẻ chinh phục được cả ngàn trái tim bình thường do đó cũng xứng đáng có được chút danh tiếng; nhưng kẻ giữ vững quyền thống trị không thể tranh cãi đối với trái tim của một nàng lẳng lơ thì quả thực là một bậc anh hùng. Chắc chắn là, điều này không thể áp dụng vào trường hợp của Brom Bones đáng sợ; và kể từ thời điểm Ichabod Crane xuất hiện, sức hút của gã Brom rõ ràng đã suy giảm: con ngựa của hắn không còn được thấy buộc nơi hàng rào vào những đêm Chủ Nhật nữa, và một mối thù truyền kiếp chết người dần dần nảy sinh giữa hắn và vị thầy giáo của Thung lũng Sleepy Hollow.
Brom, với bản chất mang đậm tinh thần hiệp sĩ thô bạo, thà đưa mọi chuyện ra một cuộc chiến tranh công khai, và giải quyết những đối địch về mặt tình ái theo cách thức của những hiệp sĩ giang hồ thời xưa - bằng đấu tay đôi. Nhưng Ichabod quá ý thức được sức mạnh vượt trội của đối thủ để dám bước vào sàn đấu chống lại hắn; anh đã tình cờ nghe thấy một lời khoe khoang của Bones, rằng hắn sẽ "bẻ gập đôi gã thầy giáo, rồi đặt hắn lên một cái giá sách trong chính ngôi trường của hắn"; và anh đủ cảnh giác để không cho hắn cơ hội làm điều đó. Có một điều gì đó cực kỳ chọc tức trong cách phòng thủ hòa hoãn đến ngoan cố này; nó không để lại cho Brom lựa chọn nào khác ngoài việc rút ra từ kho tàng những trò đùa thô kệch chốn thôn quê trong bản chất của mình, mà trút xuống đối thủ những trò chơi xỏ thực tế và đầy thô bỉ. Ichabod trở thành mục tiêu của sự khủng bố kỳ quái từ Bones và băng đảng kỵ sĩ ngổ ngáo của hắn. Chúng quấy phá những lãnh địa vốn yên bình bấy lâu của anh: hun khói buổi học hát bằng cách bịt ống khói lại; đột nhập vào trường học giữa đêm, bất chấp những chốt khóa đáng sợ bằng dây leo và cọc chặn cửa sổ, rồi lộn tùng phèo mọi thứ, đến mức vị thầy giáo đáng thương bắt đầu nghĩ rằng tất cả mụ phù thủy trong nước đã tổ chức các cuộc hội họp của chúng tại đây. Nhưng điều còn khó chịu hơn cả, là Brom tận dụng mọi cơ hội để biến anh thành trò cười trước mặt tình nương của mình. Hắn nuôi một con chó tinh ranh mà hắn đã dạy cho cách rên rỉ theo kiểu lố bịch nhất, rồi giới thiệu nó như một tình địch của Ichabod với nhiệm vụ dạy nàng hát thánh ca.
Sự việc cứ thế tiếp diễn trong một thời gian, mà không hề tạo ra bất kỳ xáo trộn đáng kể nào trong cán cân quyền lực giữa các thế lực đang tranh giành. Vào một buổi chiều thu đẹp trời, Ichabod, với tâm trạng trầm tư, đang ngồi chễm chệ trên chiếc ghế đẩu cao chót vót - vọng gác quen thuộc của chàng, nơi chàng thường quan sát mọi hoạt động trong vương quốc văn học bé nhỏ của mình. Trên tay chàng là một chiếc thước kẻ gỗ, cây quyền trượng của quyền lực chuyên chế; cây roi phong của công lý thì đang ung dung nằm trên ba chiếc đinh phía sau ngai vàng, một nỗi khiếp sợ thường trực đối với những kẻ làm điều ác. Còn trên mặt bàn trước mặt chàng, người ta có thể thấy la liệt đủ thứ đồ tịch thu và vũ khí cấm - những chiến lợi phẩm tịch thu được từ đám trẻ lười nhác - nào là những quả táo đang ăn dở, súng phốc, con quay, lồng nhốt ruồi, và cả một đội quân những chú gà chọi bằng giấy hung hăng. Dường như vừa mới có một cuộc thi hành công lý long trời lở đất nào đó diễn ra, bởi lũ học trò của chàng đều đang chăm chú dí mũi vào sách vở, hay thì thầm lén lút sau lưng với một con mắt luôn dè chừng ông thầy; và một bầu không khí tĩnh lặng vo ve bao trùm khắp lớp học. Sự tĩnh lặng ấy bất ngờ bị phá vỡ bởi sự xuất hiện của một gã da đen mặc áo khoác vải lanh thô và quần tây, đầu đội một cái mũ chóp tròn trông như chiếc mũ của thần Thủy Tinh, và đang cưỡi trên lưng một con ngựa con chưa thuần, rách rưới, hoang dã - thứ mà gã điều khiển bằng một sợi dây thừng thay cho dây cương. Gã phi ngựa rầm rập tới trước cổng trường, mang theo lời mời Ichabod đến dự một buổi tụ tập vui vẻ, hay còn gọi là "bữa tiệc khâu chăn," sẽ được tổ chức tối hôm ấy tại tư dinh của ngài Van Tassel. Sau khi truyền đạt xong thông điệp với cái vẻ quan trọng cùng những nỗ lực dùng từ bóng bẩy mà người da đen thường hay thể hiện trong những chuyến đi sứ nhỏ nhặt kiểu này, gã phi ngựa vút qua con suối, và người ta còn thấy gã đang phóng vội vã chạy ngược lên thung lũng, tràn đầy vẻ quan trọng cùng sự hấp tấp của nhiệm vụ đang dang dở.
Thế là mọi thứ trong lớp học vốn yên tĩnh bỗng chốc trở nên hối hả và ồn ào. Lũ học trò vội vàng lướt qua các bài học của mình, chẳng buồn dừng lại ở những chi tiết vụn vặt; những đứa nhanh nhẹn thì vượt qua một nửa bài mà không bị trừng phạt, còn những đứa chậm chạp thỉnh thoảng lãnh ngay một cú quất thông minh vào mông để tăng tốc, hoặc để giúp chúng vượt qua một từ vựng khó nhằn nào đó. Sách vở bị quăng sang một bên chẳng buồn xếp ngay ngắn lên kệ, những lọ mực thì bị lật úp, ghế băng ngã nghiêng, và toàn bộ ngôi trường được thả rông sớm hơn một tiếng so với giờ tan thường lệ. Cả đám bùng nổ tràn ra ngoài như một đội quân tiểu yêu tinh, la hét inh ỏi và nô giỡn khắp bãi cỏ xanh trong niềm vui sướng tột độ vì được giải phóng sớm.
Chàng Ichabod dũng hiệp giờ đây dành ra ít nhất nửa tiếng đồng hồ cho việc làm đẹp - chải chuốt, tân trang lại bộ đồ đen cũ kỹ duy nhất và cũng là đẹp nhất của mình, rồi sắp xếp lại mấy lọn tóc bằng một mảnh gương vỡ treo trong trường học. Để có thể xuất hiện trước mặt người đẹp trong đúng phong thái của một kỵ sĩ, chàng đã mượn một con ngựa từ người nông dân mà chàng đang tá túc - lão Hans Van Ripper người Hà Lan cục cằn - và, hiên ngang trên lưng ngựa, chàng xuất phát như một hiệp sĩ giang hồ lên đường tìm kiếm những cuộc phiêu lưu. Nhưng quả thật sẽ rất phù hợp nếu tôi, với đúng tinh thần của những câu chuyện lãng mạn, dành đôi chút mô tả về diện mạo và trang bị của người anh hùng cùng con chiến mã của chàng. Con vật mà chàng cưỡi là một con ngựa cày già nua tàn tạ, thứ dường như đã sống sót qua mọi thứ, ngoại trừ chính cái vẻ xấu xí của nó. Nó hốc hác và xù xì, với cái cổ cong xuống và cái đầu giống hệt một cái búa; bờm và đuôi màu gỉ sét của nó rối bù và bện lại thành những nút cỏ gai; một bên mắt đã mất đồng tử, lườm lườm nhìn một cách ma quái, nhưng bên mắt còn lại thì ánh lên tia sáng của một con quỷ thực thụ. Tuy vậy, hẳn nó đã từng có lửa và khí phách trong thời hoàng kim của mình, nếu chúng ta suy từ chính cái tên mà nó mang - Thuốc Súng. Quả thật, nó từng là con chiến mã cưng của ông chủ, lão Van Ripper cục cằn, một tay cưỡi ngựa dữ dằn, và rất có thể lão đã truyền một phần tinh thần của chính mình vào con vật; bởi lẽ, dù trông già nua và tàn tạ, có nhiều sự xảo quyệt của ác quỷ ẩn náu trong con ngựa này hơn bất kỳ con ngựa cái non nào trong cả vùng.
Ichabod đúng là một vóc dáng phù hợp cho một con chiến mã như thế. Chàng cưỡi ngựa với đôi bàn đạp quá ngắn, khiến đầu gối chàng bị đẩy lên gần sát với phần bướu yên ngựa; đôi khuỷu tay nhọn hoắt của chàng thò ra ngoài như hai con châu chấu; chàng cắm thẳng chiếc roi trên tay như một cây quyền trượng, và khi con ngựa lọc cọc chạy tiếp, chuyển động của hai cánh tay chàng chẳng khác gì tiếng đập của một đôi cánh. Một chiếc mũ len nhỏ nằm chỏng chơ trên đỉnh cái mũi của chàng - bởi cái giải trán thưa thớt của chàng có thể được gọi như vậy; và vạt áo khoác đen của chàng thì phấp phới bay gần như chạm tới tận đuôi ngựa. Đó chính là dáng vẻ của Ichabod và chiến mã của chàng khi họ lê bước ra khỏi cổng nhà Hans Van Ripper, và quả là một hình bóng ma quái hiếm khi bắt gặp giữa thanh thiên bạch nhật.
Hôm ấy, như tôi đã nói, là một ngày thu đẹp tuyệt vời; bầu trời trong vắt và thanh bình, và thiên nhiên khoác lên mình bộ cánh sặc sỡ vàng óng mà chúng ta vẫn luôn liên tưởng đến ý niệm về sự sung túc. Những cánh rừng đã khoác lên mình sắc nâu và vàng điềm đạm, trong khi một số loài cây mảnh mai hơn đã được sương giá nhuộm thành những sắc màu rực rỡ: cam, tím và đỏ tươi. Những đàn vịt trời bắt đầu nối đuôi nhau xuất hiện trên nền trời cao; tiếng kêu của con sóc vang lên từ những lùm cây sồi và hồ đào, và tiếng huýt sáo trầm ngâm của con chim cút thỉnh thoảng lại cất lên từ cánh đồng gốc rạ lân cận.
Những chú chim nhỏ đang thưởng thức bữa tiệc chia tay của mình. Trong cơn no nê của bữa tiệc, chúng vỗ cánh, kêu ríu rít và nô đùa từ bụi cây này sang bụi cây khác, từ cây này sang cây khác, thay đổi thất thường bởi chính sự phong phú và đa dạng vây quanh. Kia là con chim cổ đỏ chân thật - mục tiêu yêu thích của những tay thợ săn nhỏ tuổi - với giọng hót lớn hay càu nhàu; và những con chim sáo đá ríu rít bay thành từng đám mây đen kịt; và con chim gõ kiến cánh vàng với chóp mào đỏ tươi, chiếc yếm đen rộng và bộ lông lộng lẫy; và con chim tuyết tùng với đôi cánh chóp đỏ, chiếc đuôi chóp vàng và chiếc mũ lông nhỏ kiểu monteiro; rồi con chim giẻ cùi xanh, gã công tử bột ồn ào, trong chiếc áo khoác xanh nhạt sặc sỡ và bộ đồ lót trắng muốt, la hét và lảm nhảm, gật gù, nhấp nhô và cúi chào, giả vờ như đang có quan hệ thân tình với mọi giống chim sơn ca trong khu rừng.
Khi Ichabod chậm rãi rảo bước trên đường, con mắt của chàng - vốn luôn mở to trước mọi biểu hiện của sự dồi dào về ẩm thực - ngập tràn thích thú trước những kho báu của mùa thu tươi vui. Ở khắp mọi nơi, chàng đều bắt gặp vô số kho táo khổng lồ: một số quả treo lủng lẳng đầy áp đảo trên cây; một số quả đã được thu vào giỏ và thùng để đem ra chợ bán; số khác lại được chất thành những đống lớn dồi dào cho máy ép rượu táo. Xa hơn nữa, chàng trông thấy những cánh đồng ngô da đỏ bạt ngàn, với những bắp ngô vàng óng hé mình ra khỏi lớp vỏ lá bảo vệ, hứa hẹn về những chiếc bánh ngọt và bánh pudding ăn nhanh; rồi những quả bí ngô vàng óng nằm rải rác bên dưới, ngửa cái bụng tròn xoe lên tắm nắng, mang theo viễn cảnh phong phú về những chiếc bánh nướng xa hoa nhất. Ngay sau đó, chàng đi ngang qua những cánh đồng kiều mạch thơm ngát đang tỏa ra mùi hương của tổ ong, và khi nhìn thấy chúng, những dự cảm êm ái len lỏi vào tâm trí chàng - những chiếc bánh kếp nhỏ nhắn ngon lành, được quết đầy bơ và trang trí bằng mật ong hay mật đường, tất cả được chuẩn bị bởi đôi bàn tay lúm đồng tiền nhỏ nhắn, xinh xắn của nàng Katrina Van Tassel.
Cứ như vậy, nuôi dưỡng tâm trí mình bằng những suy tưởng ngọt ngào và "những giả định bọc đường," chàng thả bước dọc theo sườn một dãy đồi nhìn ra một vài cảnh đẹp lộng lẫy nhất của dòng sông Hudson hùng vĩ. Mặt trời đang dần dần lăn chiếc đĩa khổng lồ của mình xuống phía tây. Mặt nước rộng mênh mông của vịnh Tappan Zee phẳng lặng và trong vắt như gương, chỉ trừ đây đó một gợn sóng lăn tăn khe khẽ gợn lên rồi kéo dài cái bóng xanh thẳm của ngọn núi xa xa. Một vài đám mây màu hổ phách lững lờ trôi trên bầu trời, không một ngọn gió nào lay động chúng. Chân trời mang một sắc vàng tuyệt đẹp, dần dần chuyển sang một màu xanh táo trong trẻo, rồi từ đó lại chuyển sang màu xanh thẳm của tầng giữa trời. Một tia sáng xiên xẹo cuối cùng còn đọng lại trên những đỉnh núi đầy cây cối của các vách đá nhô ra khỏi đôi ba khúc sông, nhuộm cho màu xám đen và màu tím của sườn đá một chiều sâu thăm thẳm hơn. Một chiếc thuyền buồm đang thong thả trôi ở mãi đằng xa, chầm chậm xuôi theo dòng thủy triều, cánh buồm của nó rủ xuống vô dụng bên cột buồm; và khi ánh phản chiếu của bầu trời lấp lánh dọc theo mặt nước tĩnh lặng, trông con thuyền như đang lơ lửng giữa không trung vậy.
Trời đã ngả về chiều khi Ichabod đặt chân đến tòa lâu đài của lão Van Tassel, nơi chàng thấy tụ hội đông đúc biết bao niềm kiêu hãnh và đóa hoa của cả vùng thôn dã lân cận. Những lão nông dân già nua - một giống người gầy guộc, da mặt hằn sâu những nếp nhăn tựa như da thuộc - khoác trên mình những chiếc áo vét và quần ống túm dệt thủ công, đi tất xanh, đôi giày to sù cồng kềnh, cùng những chiếc khóa bằng hợp kim thiếc lấp lánh đầy kiêu hãnh. Bên cạnh họ là những bà vợ nhỏ nhắn, nhăn nheo nhưng lanh lẹn, đầu đội những chiếc mũ bó sát xếp li thật nhiều nếp gấp, váy ngắn cạp cao, váy lót dệt thủ công, với những chiếc kéo và gối cắm kim cùng những túi vải hoa sặc sỡ đung đưa lủng lẳng bên hông. Những cô gái đẫy đà, nom cũng cổ hủ chẳng kém gì mẹ mình, chỉ khác ở chỗ một chiếc mũ rơm, một dải ruy băng duyên dáng, hay có khi là một chiếc váy trắng tinh khôi đã mang lại đôi chút dấu ấn của làn gió đổi mới chốn thành thị. Còn lũ con trai thì mặc những chiếc áo khoác ngắn với vạt áo vuông vức, điểm xuyết những hàng cúc đồng to tướng, và mái tóc của chúng thường được tết thành đuôi sam theo đúng mốt thời bấy giờ - nhất là khi chúng có thể kiếm được một lớp da lươn cho mục đích ấy, thứ mà cả vùng đều tin rằng có khả năng nuôi dưỡng và làm chắc khỏe mái tóc một cách diệu kỳ.
Thế nhưng chính Brom Bones mới là người hùng thực sự của khung cảnh này. Gã đến buổi tụ tập trên lưng con chiến mã yêu quý Daredevil - một sinh vật cũng tràn đầy khí phách và tinh nghịch y như chủ nhân của nó, và ngoài gã ra chẳng ai có thể điều khiển nổi. Quả thực, gã nổi tiếng vì sở thích nuôi những con vật hung hãn, đầy mưu mẹo khiến người cưỡi luôn đứng trước nguy cơ gãy cổ bất cứ lúc nào, bởi gã coi một con ngựa ngoan ngoãn đã được thuần hóa tử tế là thứ không xứng đáng với một chàng trai đầy nhiệt huyết.
Tôi xin phép dừng lại đôi chút để mà chiêm ngưỡng cái thế giới đầy mê hoặc đang mở ra trước cặp mắt say đắm của vị anh hùng của tôi, khi chàng bước vào căn phòng khách sang trọng của dinh thự Van Tassel. Không phải vẻ đẹp của đám thiếu nữ đẫy đà với sự phô bày lộng lẫy của sắc đỏ và trắng; mà chính là sức quyến rũ dồi dào của một bàn trà chốn thôn quê chính hiệu kiểu Hà Lan, giữa thời khắc mùa thu sung túc. Những đĩa bánh chất cao như núi, đủ mọi chủng loại mà gần như không sao diễn tả nổi, chỉ có những bà nội trợ Hà Lan dày dặn kinh nghiệm mới thấu hiểu hết được! Nào là những chiếc bánh rán dẻo thơm, những chiếc oly koek7 mềm xốp tan ngay đầu lưỡi, và món bánh vòng giòn rụm bở tơi; bánh ngọt và bánh nướng xốp, bánh gừng và bánh mật ong, cùng toàn thể đại gia đình nhà bánh tráng miệng. Rồi lại còn có cả bánh nướng nhân táo, bánh nướng nhân đào, và bánh nướng nhân bí ngô; bên cạnh những lát giăm bông và thịt bò hun khói thơm lừng; và hơn thế nữa là những đĩa mận ngâm, đào, lê và mộc qua ngọt lịm; chưa kể đến cá trích nướng và gà quay vàng óng; cùng với những bát sữa và kem mát lạnh - tất cả hòa quyện lộn xộn, xen kẽ nhau chẳng theo trật tự nào, gần như đúng y như những gì tôi vừa liệt kê, với chiếc ấm trà mẹ ngự trị ở chính giữa, tỏa ra những đám mây hơi nước thơm ngát. Cầu Trời ban phước! Tôi thiếu cả hơi thở lẫn thời gian để bàn luận về bữa tiệc này một cách xứng đáng với nó, và đang quá nóng lòng để tiếp tục câu chuyện của mình. May mắn thay, Ichabod Crane không vội vã như kẻ chép sử của chàng, mà đã thưởng thức một cách đầy đủ và công bằng từng món ngon vật lạ.
Chàng là một sinh vật tử tế và đầy lòng biết ơn. Trái tim chàng nở rộng ra tương ứng với chiếc bụng đang được lấp đầy bằng những món ăn ngon lành, và tinh thần chàng cũng dâng cao cùng với việc ăn uống - giống như cách một số quý ông phấn chấn lên trước đồ uống vậy. Chàng không thể không đảo đôi mắt to tròn của mình ngó nghiêng khắp xung quanh trong lúc đang nhai nuốt, và mỉm cười thầm lặng với ý nghĩ rằng một ngày nào đó chàng có thể trở thành chủ nhân của tất cả cái khung cảnh xa hoa và tráng lệ gần như không thể tưởng tượng nổi này. Rồi, chàng tự nhủ, sẽ nhanh chóng biết bao khi chàng quay lưng lại với ngôi trường học cũ kỹ kia; búng tay vào mặt gã Hans Van Ripper và mọi ông chủ keo kiệt khác; và tống cổ bất kỳ gã thầy giáo lang bạt nào ra khỏi cửa nếu hắn dám gọi chàng là đồng chí!
Lão Baltus Van Tassel đi lại giữa đám khách khứa với khuôn mặt giãn ra vì mãn nguyện và vui vẻ - tròn trịa và tươi cười như vầng trăng mùa thu hoạch. Những cử chỉ hiếu khách của lão rất ngắn gọn, nhưng đầy biểu cảm - chỉ giới hạn ở một cái bắt tay thật chặt, một cái vỗ vai thân tình, một tràng cười vang rộn rã, và một lời mời khẩn thiết hãy "ngồi xuống, cứ tự nhiên như ở nhà."
Và giờ đây, tiếng nhạc từ căn phòng sinh hoạt chung - hay đại sảnh - đã vang lên, mời gọi mọi người bước vào khiêu vũ. Nhạc công là một lão da đen tóc hoa râm, người đã từng là ban nhạc lưu động của cả khu vực này trong suốt hơn nửa thế kỷ. Nhạc cụ của lão cũng cũ kỹ và rách nát y như chính chủ nhân của nó. Phần lớn thời gian, lão chỉ cọ xát lên hai hay ba dây đàn, và đi kèm với mỗi chuyển động của cây vĩ là một cái lắc lư của mái đầu; lão cúi chào gần sát xuống đất, rồi dậm chân thình thịch mỗi khi có một cặp đôi mới chuẩn bị xuất phát.
Ichabod tự hào về kỹ năng khiêu vũ của mình cũng nhiều như về giọng hát vậy. Không một bộ phận nào, không một thớ cơ nào trên người chàng chịu đứng yên; và nếu bạn nhìn thấy cái thân hình lỏng lẻo, khẳng khiu ấy chuyển động hết cỡ, đập lạch cạch quanh căn phòng, bạn sẽ tưởng rằng chính thánh Vitus4 - vị thần hộ mệnh linh thiêng của điệu nhảy - đang đích thân múa lượn trước mắt mình. Chàng trở thành niềm ngưỡng mộ của tất thảy những người da đen; họ tụ tập từ đủ mọi lứa tuổi và kích cỡ, từ khắp các trang trại và vùng lân cận, đứng xếp thành một kim tự tháp những khuôn mặt đen bóng ở mọi ô cửa ra vào và cửa sổ, chăm chú dõi theo cảnh tượng với vẻ thích thú tột độ, đảo tròn những con ngươi trắng dã và nhe những hàm răng trắng ởn thành những nụ cười toe toét đến tận mang tai. Làm sao kẻ chuyên đánh đòn lũ trẻ kia lại có thể không sống động và vui sướng cho được? Người phụ nữ trong mộng của chàng chính là bạn nhảy của chàng, và đang mỉm cười duyên dáng đáp lại từng cái liếc mắt đưa tình; trong khi gã Brom Bones, đang bị giày vò nặng nề bởi tình yêu và cơn ghen tuông, ngồi thu mình suy tư trong một góc tối.
Khi điệu nhảy kết thúc, Ichabod bị thu hút bởi một nhóm những người lớn tuổi và từng trải hơn, những người cùng với lão Van Tassel đang ngồi hút thuốc ở một đầu mái hiên, chuyện trò về thời xa xưa và kéo dài những câu chuyện chiến tranh đến vô tận.
Vùng lân cận này, vào cái thời mà tôi đang nhắc đến, là một trong những nơi được trời phú cho vô vàn ân sủng - đầy rẫy những cuốn biên niên sử và những con người vĩ đại. Tuyến đường hành quân của cả quân Anh lẫn quân Mỹ đều từng chạy ngang qua gần nơi đây trong suốt cuộc chiến; do đó, nó đã từng là sân khấu của những cuộc cướp phá, và bị tàn phá bởi những kẻ tị nạn, những gã cao bồi, cùng mọi loại tinh thần hiệp sĩ vùng biên ải. Đã trôi qua vừa đủ thời gian để cho phép mỗi người kể chuyện tự thêm thắt vào câu chuyện của mình một chút hư cấu sao cho vừa vặn, và, trong màn sương mờ ảo của ký ức cá nhân, biến chính bản thân mình thành người anh hùng của mọi chiến công.
Có câu chuyện về Doffue Martling, một gã đàn ông Hà Lan cao lớn với bộ râu quai nón màu xanh biếc, người suýt chút nữa đã hạ gục một con tàu khu trục của Anh bằng một khẩu súng thần công bằng sắt cũ kỹ - loại bắn đạn chín pound - đặt trên một bức tường rào bằng bùn, chỉ tiếc rằng khẩu súng của lão đã nổ tung ở phát bắn thứ sáu. Lại có một vị quý ông lớn tuổi mà tôi xin phép không nêu tên, bởi ngài mynheer này giàu có đến mức không thể bị nhắc đến một cách tùy tiện - người, trong trận chiến White Plains, nhờ là một bậc thầy phòng thủ xuất sắc, đã dùng một thanh gươm ngắn gạt một viên đạn súng hỏa mai, đến mức ông thực sự cảm thấy nó rít lên quay quanh lưỡi kiếm rồi sượt qua ngay phần chuôi kiếm; và để chứng minh cho điều đó, bất cứ lúc nào ông cũng sẵn sàng đưa ra thanh gươm với phần chuôi hơi bị uốn cong. Còn vài người nữa cũng vĩ đại ngang ngửa trên chiến trường, và không một ai trong số họ lại không tin chắc rằng mình đã góp một bàn tay đáng kể trong việc đưa cuộc chiến tranh đến một kết thúc có hậu.
Nhưng tất cả những điều ấy chẳng thấm vào đâu so với những câu chuyện về ma quỷ và hồn ma diễn ra sau đó. Vùng đất này giàu có vô ngần những kho tàng truyền thuyết thuộc loại ấy. Những câu chuyện và mê tín địa phương phát triển tươi tốt nhất tại những nơi trú ẩn hẻo lánh và được định cư lâu đời này; nhưng lại bị chà đạp dưới bước chân của đám đông di cư hối hả - thứ tạo nên dân số của hầu hết những miền thôn dã của chúng ta. Ngoài ra, chẳng có mấy sự khuyến khích dành cho ma quỷ ở hầu hết các ngôi làng của chúng ta, bởi chúng thậm chí còn chưa kịp ngủ xong giấc ngủ đầu tiên và trở mình trong nấm mồ, thì những người bạn còn sống sót của chúng đã rời bỏ vùng lân cận từ lâu rồi; thế nên, khi chúng bước ra ngoài vào ban đêm để dạo quanh những vòng quen thuộc, chúng chẳng còn người quen nào để mà gọi tên. Đây có lẽ là lý do tại sao chúng ta rất hiếm khi nghe nói về ma quỷ, ngoại trừ ở những cộng đồng người Hà Lan lâu đời của chúng ta mà thôi.
Tuy vậy, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự thịnh hành của những câu chuyện siêu nhiên ở những khu vực này, không còn nghi ngờ gì nữa, chính là do sự gần kề với Thung lũng Sleepy Hollow. Có một thứ lây lan trong chính cái không khí thổi ra từ vùng đất bị ám ảnh đó; nó thở ra một bầu khí quyển của những giấc mơ và ảo tưởng, lan nhiễm sang khắp cả vùng. Một số cư dân của Thung lũng Sleepy Hollow cũng có mặt tại nhà Van Tassel, và như thường lệ, họ đang hào phóng phân phát những truyền thuyết hoang dã và kỳ vĩ của mình. Nhiều câu chuyện ảm đạm đã được kể về những đoàn tàu tang lễ, cùng những tiếng than khóc và rên rỉ ai oán được nghe và nhìn thấy quanh cái cây lớn nơi vị Thiếu tá André5 bất hạnh đã bị bắt giữ, và là nơi yên nghỉ cuối cùng của người sĩ quan trẻ tuổi ấy.
Tình trạng hẻo lánh của ngôi nhà thờ này dường như luôn biến nó thành nơi ám ảnh ưa thích của những linh hồn đang gặp rắc rối. Nó đứng trên một sườn đồi thoai thoải, được bao quanh bởi những cây dương chấu và cây du cao lớn; từ giữa những tán cây ấy, những bức tường được quét vôi trắng sạch sẽ của nó tỏa sáng một cách khiêm nhường, tựa như sự thuần khiết của đạo Cơ Đốc đang tỏa sáng xuyên qua những bóng tối của chốn ẩn dật. Một con dốc thoai thoải dẫn xuống một dải nước màu bạc, được viền quanh bởi những hàng cây cao; qua những khoảng hở giữa các tán lá, những ánh nhìn lén lút có thể bắt gặp được những ngọn đồi xanh biếc của dòng sông Hudson. Nhìn vào cái sân cỏ mọc um tùm của nó, nơi những tia nắng dường như đang ngủ yên một cách tĩnh lặng, người ta có thể nghĩ rằng ít nhất ở nơi đó, những người đã khuất cũng có thể yên nghỉ. Ở một bên của nhà thờ trải dài một thung lũng đầy cây cối rộng lớn, dọc theo đó có một dòng suối lớn đang giận dữ chảy giữa những tảng đá vỡ và thân những cây cổ thụ đổ ngã. Phía trên một đoạn suối sâu và đen ngòm, không xa nhà thờ, trước kia người ta đã bắc một cây cầu gỗ; con đường dẫn đến đó, và bản thân cây cầu, bị che khuất dày đặc bởi những tán cây nhô ra phủ lên một màu u ám bao quanh nó, ngay cả vào ban ngày; nhưng lại trở thành một bóng tối đáng sợ khi màn đêm buông xuống. Đó là một trong những nơi ám ảnh ưa thích của Kỵ sĩ Không đầu, và là nơi hắn thường xuyên bị bắt gặp nhất. Có câu chuyện kể về lão Brouwer, một kẻ ngoại đạo không tin vào ma quỷ đến mức cứng đầu cứng cổ, về việc lão đã gặp Kỵ sĩ khi hắn đang trở về từ cuộc đột kích vào Thung lũng Sleepy Hollow, và buộc phải leo lên ngựa ngồi phía sau hắn; cách mà họ đã phi nước đại qua bụi rậm và phăng phăng qua đồi và đầm lầy, cho đến khi họ đến chỗ cây cầu; và ngay lúc ấy, Kỵ sĩ đột nhiên biến thành một bộ xương, ném lão Brouwer xuống dòng suối, rồi vụt văng qua những ngọn cây cùng với một tiếng sấm sét rung chuyển đất trời.
Câu chuyện này ngay lập tức bị đọ sức bằng một cuộc phiêu lưu ly kỳ gấp ba lần của chính Brom Bones, kẻ đã coi thường gã Kỵ binh Hessian Phi Ngựa như một tên nài ngựa lang bạt tầm thường. Gã khẳng định rằng khi đang trên đường trở về vào một đêm nọ từ ngôi làng Sing Sing lân cận, gã đã bị viên kỵ binh lúc nửa đêm này đuổi kịp; rằng gã đã đề nghị đua ngựa với hắn ta để giành một bát rượu đấm làm phần thưởng, và hẳn là cũng sẽ thắng, vì con ngựa Daredevil đã đánh bại con ngựa quỷ sứ ấy một cách hoàn toàn áp đảo - nhưng ngay khi họ đến cây cầu của nhà thờ, gã Hessian đã lồng lên và biến mất trong một tia chớp lửa rực sáng.
Tất cả những câu chuyện này, được kể bằng cái giọng trầm trầm buồn ngủ mà người ta thường dùng khi nói chuyện trong bóng tối, với những khuôn mặt của người nghe chỉ thỉnh thoảng mới nhận được một tia sáng rực rỡ tình cờ hắt ra từ chiếc tẩu thuốc, đã khắc sâu vào tâm trí Ichabod. Chàng đáp trả họ bằng hiện vật với những đoạn trích dài từ tác giả vô giá của chàng, lão Cotton Mather, và thêm vào nhiều sự kiện ly kỳ đã từng diễn ra ở tiểu bang Connecticut quê hương chàng, cùng những cảnh tượng đáng sợ mà chàng đã từng chứng kiến trong những chuyến đi dạo ban đêm của mình quanh Thung lũng Sleepy Hollow.
Cuộc vui lúc này đã dần dần tan rã. Những lão nông dân già nua gom góp gia đình mình vào trong những cỗ xe ngựa, và người ta nghe thấy tiếng họ lạch cạch lăn bánh đi dọc theo những con đường trũng và qua những ngọn đồi xa xa trong một khoảng thời gian dài. Một số thiếu nữ thì cưỡi trên yên ngựa phía sau những người yêu dấu của mình, và tiếng cười vui vẻ nhẹ nhàng của họ, hòa quyện với tiếng móng ngựa lộc cộc, vang vọng dọc theo những cánh rừng tĩnh mịch, nghe xa dần, xa dần, cho đến khi tắt lịm hẳn - và cảnh ồn ào, vui chơi lúc trước giờ đây đã chìm vào tĩnh lặng và vắng vẻ. Chỉ còn mỗi Ichabod nán lại phía sau, theo đúng thói quen của những tình lang chốn thôn quê, để có một cuộc nói chuyện riêng tư với người nữ thừa kế; hoàn toàn bị thuyết phục rằng chàng hiện đã đang đi trên con đường dẫn tới thành công. Những gì đã diễn ra tại cuộc phỏng vấn này, tôi sẽ không giả vờ là mình biết, bởi thực tế là tôi không biết. Tuy nhiên, tôi e rằng hẳn là đã có chuyện gì đó chẳng lành xảy ra, vì chàng chắc chắn đã lao ra ngoài, sau một khoảng thời gian không dài lắm, với một dáng vẻ khá là tiều tụy và chán nản. Ôi, những người phụ nữ này! Những người phụ nữ này! Liệu cô gái đó có đang giở trò lẳng lơ nào của mình không? Phải chăng sự khích lệ của nàng dành cho tay thầy giáo nghèo khổ kia tất cả chỉ là một trò giả dối nhằm đảm bảo sự chinh phục của nàng đối với đối thủ của anh? Chỉ có Chúa mới biết được, chứ tôi thì không! Cứ cho là đủ để nói rằng, Ichabod đã lẻn ra ngoài với dáng vẻ của một kẻ vừa đi cướp ổ gà chứ không phải là trái tim của một người phụ nữ xinh đẹp. Chẳng buồn nhìn sang trái hay sang phải để chú ý đến cảnh tượng của sự giàu có chốn thôn dã - thứ mà chàng đã từng thường xuyên thèm thuồng say đắm - chàng đi thẳng đến chuồng ngựa, và bằng một vài cú đá và thụi đầy thô bạo, chàng đã đánh thức con chiến mã của mình dậy một cách vô cùng bất lịch sự từ nơi ở thoải mái mà nó đang ngủ say sưa, mơ màng về những ngọn núi ngô và yến mạch cùng toàn bộ những thung lũng cỏ timothy và cỏ ba lá ngút ngàn.
Đúng vào cái giờ phút ma mị nhất của màn đêm, Ichabod, mang trong lòng một trái tim nặng trĩu u sầu, lại tiếp tục cuộc hành trình trở về nhà, men theo triền những ngọn đồi cao chót vót phía trên Tarry Town - cũng chính con đường mà vào buổi chiều chàng đã rảo bước qua đầy vui vẻ. Giờ đây khung cảnh cũng ảm đạm chẳng khác gì lòng chàng. Xa xăm phía dưới chân đồi, vịnh Tappan Zee trải rộng mặt nước mờ sương, bàng bạc và nhập nhòa, lác đác đây đó những cột buồm cao vút của một con thuyền đang neo mình lặng lẽ dưới bóng đất liền. Trong sự tĩnh mịch đến chết chóc của nửa đêm, chàng thậm chí còn nghe thấy tiếng chó canh gác sủa vọng sang từ bờ bên kia sông Hudson; nhưng âm thanh ấy mơ hồ và yếu ớt đến nỗi chỉ càng nhấn mạnh thêm cái khoảng cách mênh mông giữa chàng và người bạn đồng hành trung thành nhất của con người nơi trần thế. Đôi khi, tiếng gà trống gáy dài thườn thượt, vô tình bị đánh thức giữa đêm khuya, lại vẳng đến từ một nơi xa tít tắp, từ một nông trại nào đó khuất lấp giữa những rặng đồi - nhưng lọt vào tai chàng, nó chẳng khác gì một âm thanh vọng về từ cõi mộng. Chung quanh chàng không hề có một dấu hiệu nào của sự sống - trừ tiếng gáy buồn thảm của một chú dế, hay có khi là tiếng ộp oạp the thé từ cổ họng một con ếch nhái nơi đầm lầy lân cận, cứ như thể nó đang say ngủ không yên giấc mà đột ngột trở mình trên chiếc giường bùn đất của mình vậy.
Tất thảy những câu chuyện về ma quỷ và yêu tinh mà chàng đã nghe suốt buổi chiều bỗng nhiên ùa về trong tâm trí. Màn đêm mỗi lúc một thêm dày đặc; những vì sao như chìm sâu hơn xuống vòm trời, và những đám mây trôi bất chợt lại che khuất chúng khỏi tầm mắt chàng. Chưa bao giờ chàng cảm thấy cô độc và u ám đến nhường ấy. Hơn nữa, chàng đang tiến dần đến tận chốn đã từng là sân khấu cho biết bao cảnh tượng trong những câu chuyện ma. Ngay giữa lòng đường sừng sững một cây hoa tu-líp khổng lồ, vươn mình như một gã khổng lồ vượt lên trên hết thảy những cây khác trong vùng, và nghiễm nhiên trở thành một thứ cột mốc. Những nhánh của nó xù xì và kỳ quái, to đến nỗi đủ làm thân cho những cây tầm thường, uốn lượn xuống gần sát mặt đất rồi lại vươn ngược lên trời cao. Nó gắn liền với câu chuyện thương tâm của viên Thiếu tá André xấu số, kẻ đã bị bắt làm tù binh ngay gần đó; và được dân gian biết đến rộng rãi với cái tên Cây của Thiếu tá André. Người dân thường nhìn nhận nó bằng một thứ tình cảm pha trộn giữa kính trọng và mê tín - một phần vì đồng cảm với số phận của con người xấu số đã đặt tên cho nó, và một phần bởi những câu chuyện về những cảnh tượng kỳ lạ, những lời than van sầu thảm được đồn đại quanh nơi này.
Khi Ichabod tiến lại gần cái cây đáng sợ ấy, chàng bắt đầu huýt sáo; chàng tưởng tiếng huýt sáo của mình đã được đáp trả - nhưng đó chỉ là một cơn gió mạnh quét vù vù xuyên qua những cành cây khô. Khi chàng đến gần hơn một chút, chàng tưởng mình trông thấy một thứ gì đó trắng nhợt treo lơ lửng ngay giữa thân cây: chàng dừng bước và ngừng huýt sáo, nhưng, khi nhìn kỹ hơn, thì chỉ là một chỗ cây bị sét đánh cháy sém làm lộ ra phần lõi gỗ trắng. Đột nhiên chàng nghe thấy một tiếng rên rỉ - hai hàm răng chàng va vào nhau lập cập, và hai đầu gối chàng đập thình thịch vào yên ngựa: hóa ra đó chỉ là tiếng cọ xát của những cành cây khổng lồ vào nhau khi bị gió lay động. Chàng đã vượt qua cái cây an toàn, nhưng những mối nguy mới vẫn còn chờ đợi ở phía trước.
Cách cái cây chừng hai trăm thước, một con suối nhỏ cắt ngang qua đường và chảy vào một thung lũng cây cối rậm rạp và lầy lội, được biết đến với cái tên Đầm lầy Wiley. Mấy khúc gỗ thô kệch được đặt san sát cạnh nhau tạo thành một cây cầu bắc qua dòng suối này. Ở bờ bên kia con đường, nơi con suối len mình vào khu rừng, một cụm cây sồi và cây hạt dẻ đan xen dày đặc với những dây nho hoang dại, phủ xuống một màn bóng tối sâu hun hút tựa như hang động. Vượt qua cây cầu này chính là thử thách cam go nhất. Bởi lẽ cũng chính ngay tại địa điểm này mà viên Thiếu tá André bất hạnh đã bị tóm gọn, và ẩn nấp dưới những tán cây hạt dẻ cùng đám dây leo rậm rịt đó chính là những người nông dân lực lưỡng đã khiến ông ta bất ngờ. Kể từ ngày ấy, nơi này vẫn luôn bị coi là một dòng suối bị ám, và cái cảm giác mà một cậu học trò phải nếm trải khi một mình vượt qua nó sau lúc trời tối thực sự là điều kinh khủng.
Khi chàng đến gần con suối, tim chàng bắt đầu đập thình thịch trong lồng ngực; thế nhưng, chàng vẫn cố thu hết quyết tâm, giáng cho con ngựa của mình nửa tá cú đá vào mạng sườn, và định bụng phi nhanh qua cầu; nhưng thay vì lao thẳng về phía trước, con vật già cỗi ngoan cố lại ngoặt ngang sang một bên và đâm sầm vào hàng rào. Ichabod, với nỗi sợ hãi càng lúc càng tăng theo sự trì hoãn, giật mạnh dây cương sang phía ngược lại và thúc mạnh bằng chân bên kia: tất cả đều vô ích; con chiến mã của chàng quả có lao đi thật, nhưng chỉ để lao sang bờ bên kia con đường, đâm sầm vào một bụi rậm mâm xôi và tống quán sủ. Vị thầy giáo lúc này giáng cả roi lẫn gót giày lên hai bên hông lép kẹp của con Gunpowder già, con vật vọt lên phía trước, khịt khịt và khụt khịt mũi, nhưng rồi lại đứng khựng ngay trước cây cầu - với một sự đột ngột gần như hất tung người cưỡi của nó lộn nhào qua đầu. Và chính ngay lúc này, đôi tai thính nhạy của Ichabod đã nghe thấy tiếng lép nhép của bước chân bên cạnh cây cầu. Trong màn tối đen kịt của lùm cây, trên rìa con suối, chàng nhận ra một vật thể gì đó khổng lồ, méo mó và cao chót vót. Nó không nhúc nhích, mà dường như đang thu mình tụ lại trong bóng đêm, tựa một con quái vật gớm ghiếc sẵn sàng chồm lên vồ lấy kẻ lữ hành.
Tóc trên đầu viên thầy giáo đang hoảng loạn dựng đứng cả lên vì sợ hãi. Phải làm gì đây? Quay lưng tháo chạy lúc này đã quá muộn; mà ngay cả có trốn được chăng nữa - liệu có cơ may nào thoát khỏi một bóng ma hay yêu tinh, nếu quả đúng là như vậy, thứ có thể cưỡi trên đôi cánh gió kia chứ? Vậy nên, chàng thu hết can đảm, cất giọng lắp bắp hỏi lớn:
- Ngươi là ai? Chẳng một lời đáp lại. Chàng lặp lại câu hỏi bằng một giọng còn kích động hơn lúc trước. Vẫn không một tiếng trả lời. Một lần nữa chàng lại quất roi túi bụi vào mạng sườn con Gunpowder ương bướng, và, nhắm nghiền mắt lại, buột miệng thốt ra một giai điệu thánh ca đầy thành kính trong vô thức. Ngay khoảnh khắc ấy, cái vật thể đen ngòm sừng sững kia đột ngột chuyển động, và với một cú cào cấu cùng một bước nhảy vọt đã đứng chắn ngay giữa con đường. Dẫu màn đêm tối đen như mực, hình dáng của kẻ lạ mặt lúc này ở một mức độ nào đó cũng có thể nhận ra được. Hắn nom tựa một kỵ sĩ vóc dáng khổng lồ, đang cưỡi trên một con tuấn mã đen với bộ khung xương to lớn. Hắn chẳng tỏ vẻ muốn quấy rầy hay bắt chuyện, mà chỉ lặng lẽ giữ khoảng cách bên lề đường, từ từ lọc cọc theo phía bên con mắt mù của con Gunpowder già, con vật giờ đây đã qua cơn hoảng loạn và sự ngoan cố của mình.
Ichabod, kẻ chẳng hề có chút hứng thú gì với người bạn đồng hành nửa đêm kỳ lạ này, và chợt nhớ lại cuộc phiêu lưu của Brom Bones với gã Hessian Phi Ngựa, liền thúc con chiến mã của mình tăng tốc với hy vọng bỏ lại hắn phía sau. Thế nhưng, kẻ lạ mặt kia cũng lập tức thúc ngựa đuổi theo kịp tốc độ. Ichabod ghì cương, chuyển sang đi nước kiệu chầm chậm, định bụng tụt lại phía sau - kẻ kia cũng làm y hệt như vậy. Tim chàng bắt đầu chìm nghỉm trong lồng ngực; chàng cố gắng tiếp tục bài thánh ca của mình, nhưng cái lưỡi khô khốc đã dính chặt vào vòm miệng, và chàng không sao thốt ra nổi một tiếng nào. Có một điều gì đó trong cái im lặng ủ rũ và lầm lì của người bạn đường ngoan cố này đầy bí ẩn và rùng rợn. Và điều đó chẳng mấy chốc đã được giải thích một cách khủng khiếp. Khi tiến lên một mô đất nhô cao, nơi hình dáng của kẻ đồng hành hiện lên nổi bật trên nền trời, cao lớn như một gã khổng lồ và quấn mình trong một chiếc áo choàng, Ichabod đã kinh hoàng tột độ khi nhận ra rằng hắn ta không hề có đầu! - nhưng nỗi kinh hoàng của chàng còn tăng lên gấp bội khi nhận thấy rằng cái đầu, thứ lẽ ra phải an vị trên đôi vai hắn, thì lại đang được xách theo trước mặt, đặt ngay trên phần bướu của yên ngựa! Nỗi khiếp sợ của chàng dâng trào thành tuyệt vọng; chàng trút xuống một cơn mưa cú đá và cú đánh lên mình con Gunpowder, hy vọng bằng một cú bứt tốc đột ngột sẽ tẩu thoát khỏi kẻ đồng hành - nhưng bóng ma ấy cũng lao vọt lên cùng với chàng. Thế rồi, họ cùng phóng vun vút qua những bụi rậm và khoảng trống; đá bay tung tóe và tia lửa bắn lóe lên dưới mỗi nhịp vó ngựa. Quần áo mỏng manh của Ichabod bay phần phật trong gió khi chàng rướn dài cái thân hình gầy nhẳng, ngoằng ngoèo của mình ra khỏi đầu ngựa, trong cơn vội vã chạy trốn.
Họ lúc này đã đến con đường rẽ sang Thung lũng Sleepy Hollow; nhưng con Gunpowder, cứ như bị quỷ nhập, thay vì đi theo lối rẽ ấy lại ngoặt sang một ngã hoàn toàn ngược lại, rồi lao thẳng đầu xuống ngọn đồi phía bên trái. Con đường này dẫn xuyên qua một thung lũng cát rộng chừng một phần tư dặm, hai bên rợp bóng hàng cây, nơi nó băng qua cây cầu nổi tiếng trong câu chuyện yêu tinh; và ngay phía bên kia chính là ngọn đồi nhỏ xanh mướt, nơi ngôi nhà thờ quét vôi trắng sừng sững tọa lạc.
Tới lúc này thì cơn hoảng loạn của con chiến mã đã đem lại cho kẻ cưỡi ngựa vụng về của nó một lợi thế rõ ràng trong cuộc rượt đuổi, nhưng ngay khi chàng đi được nửa đường xuyên qua thung lũng, những sợi dây nịt yên ngựa bỗng đứt phựt, và chàng cảm thấy chiếc yên đang tuột khỏi mình. Chàng nắm chặt lấy phần bướu yên, cố giữ nó lại, nhưng vô ích; và chỉ vừa kịp cứu lấy bản thân bằng cách vòng hai tay ôm chặt lấy cổ con Gunpowder già, thì chiếc yên đã rơi xuống đất, và chàng nghe thấy tiếng nó bị kẻ truy đuổi giẫm đạp dưới chân mình. Trong một thoáng, nỗi kinh hoàng về cơn thịnh nộ của Hans Van Ripper vụt qua tâm trí chàng - vì đây chính là chiếc yên ngày Chủ Nhật của lão! - nhưng lúc này nào có phải là lúc cho những nỗi sợ nhỏ nhặt; con yêu tinh vẫn đang bám riết phía sau chàng; và (một kẻ cưỡi ngựa vụng về như chàng!) chàng đã phải chật vật hết sức mới giữ nổi mình trên lưng ngựa; lúc thì trượt sang bên này, lúc thì trượt sang bên kia, rồi có lúc bị xóc nảy lên trên cái sống lưng cao chót vót của con ngựa với một sức mạnh dữ dội đến nỗi chàng thực sự lo sợ rằng mình sẽ bị xé toạc ra làm đôi.
Một khoảng trống vừa hé mở giữa những hàng cây đã cổ vũ chàng với niềm hy vọng rằng cây cầu nhà thờ đã ở trong tầm tay. Ánh phản chiếu lung linh của một ngôi sao bạc trên mặt nước đã mách bảo chàng rằng mình không hề nhầm lẫn. Chàng thấy những bức tường nhà thờ lờ mờ tỏa sáng dưới những rặng cây xa xa. Chàng chợt nhớ lại cái nơi mà kẻ đối thủ ma quái của Brom Bones đã biến mất. "Chỉ cần ta tới được cây cầu đó," Ichabod nghĩ thầm, "là ta an toàn." Ngay lúc ấy, chàng nghe thấy tiếng con ngựa đen đang hổn hển phì phò ngay sát sau lưng; chàng thậm chí còn tưởng mình cảm nhận được hơi thở nóng rực của nó. Thêm một cú đá co giật nữa vào mạng sườn, và con Gunpowder già bật nhảy vọt lên cây cầu; nó lao ầm ầm trên những tấm ván vang dội; nó đã đến được bờ bên kia; và giờ đây Ichabod liếc nhanh ra phía sau để xem kẻ truy đuổi của mình có biến mất, theo đúng luật lệ, trong một luồng chớp lửa và diêm sinh hay không. Ngay khoảnh khắc ấy, chàng nhìn thấy con yêu tinh đang rướn người trên bàn đạp của hắn, và đang ở chính trong cái tư thế ném cái đầu của mình vào chàng. Ichabod cố gắng né tránh thứ vũ khí khủng khiếp ấy, nhưng đã quá muộn. Nó đập vào hộp sọ chàng với một tiếng sầm dữ dội - chàng ngã nhào cắm đầu xuống đất, và con Gunpowder, con chiến mã đen, cùng tên yêu tinh cưỡi ngựa, lướt qua tựa như một cơn lốc xoáy.
Sáng hôm sau, người ta tìm thấy con ngựa già không yên cương, với dây cương vắt dưới chân, đang điềm nhiên gặm cỏ ngay trước cổng nhà chủ. Ichabod đã không xuất hiện vào bữa sáng; giờ ăn trưa đã điểm, nhưng vẫn chẳng thấy bóng dáng Ichabod đâu. Lũ trẻ tụ tập ở trường học và lững thững tản bộ nhàn rỗi dọc bờ suối; nhưng chẳng có ông thầy nào cả. Hans Van Ripper lúc này bắt đầu cảm thấy đôi chút lo âu cho số phận của Ichabod tội nghiệp, và cho cả chiếc yên ngựa của lão. Một cuộc điều tra đã được tiến hành, và sau khi tìm kiếm cẩn thận, người ta đã tìm thấy dấu vết của chàng. Ở một đoạn đường dẫn đến nhà thờ, chiếc yên ngựa nằm chà đạp trong bụi đất; những dấu móng ngựa in hằn sâu trên đường, rõ ràng là ở một tốc độ điên cuồng, được lần theo cho đến tận cây cầu, và xa hơn nữa, trên bờ của một khúc sông rộng, nơi dòng nước chảy sâu và đen ngòm, người ta tìm thấy chiếc mũ của Ichabod bất hạnh, và ngay cạnh đó là một quả bí ngô vỡ vụn.
Dòng suối đã được lùng sục, nhưng thi thể của vị thầy giáo vẫn không sao tìm thấy. Hans Van Ripper, với tư cách là người thi hành di chúc của chàng, đã kiểm tra cái bọc chứa tất thảy tài sản trần tục của chàng. Chúng bao gồm hai chiếc áo sơ mi và một nửa chiếc nữa; hai chiếc khăn quàng cổ; một hoặc hai đôi tất len dài; một chiếc quần cộc cũ bằng vải nhung kẻ; một con dao cạo hoen rỉ; một cuốn sách thánh ca đầy những nếp gấp; và một chiếc còi chỉnh âm bị gãy. Về phần những cuốn sách và đồ đạc của trường học, chúng thuộc về cộng đồng, ngoại trừ cuốn Lịch sử Phù thủy của Cotton Mather, một cuốn Niên giám New England, và một cuốn sách về những giấc mơ và bói toán; trong cuốn cuối cùng ấy có một tờ giấy kẻ ngang bị viết nguệch ngoạc và lem luốc sau nhiều lần nỗ lực sao chép một cách vô vọng những câu thơ ca tụng nữ thừa kế của nhà Van Tassel. Những cuốn sách phép thuật và những dòng thơ ca này ngay lập tức bị Hans Van Ripper ném vào lửa; và từ đó về sau, lão quyết định sẽ không gửi con cái đến trường nữa, nhận xét rằng lão chưa từng thấy có điều gì tốt đẹp lại đến từ cái việc đọc và viết này. Bất kể món tiền nào mà vị thầy giáo từng sở hữu - và chàng đã nhận tiền lương quý của mình chỉ một hoặc hai ngày trước đó - thì hẳn chàng đã mang theo bên mình vào lúc mất tích.
Sự kiện bí ẩn này đã gây ra biết bao đồn đoán tại nhà thờ vào ngày Chủ Nhật tiếp theo. Những tốp người xúm xít đứng nhìn và bàn tán, tụ tập ở nghĩa trang nhà thờ, trên cây cầu, và ngay tại nơi tìm thấy chiếc mũ cùng quả bí ngô. Những câu chuyện của Brouwer, của Bones, cùng toàn bộ kho tàng giai thoại của nhiều người khác đều được gợi nhắc lại trong tâm trí; và khi họ đã cẩn thận xem xét tất cả, rồi đối chiếu với những dấu hiệu của vụ việc hiện tại, họ bèn lắc đầu và đi đến kết luận rằng Ichabod đã bị Gã Hessian Phi Ngựa tóm đi. Vì chàng vốn là một kẻ độc thân, lại chẳng nợ nần ai, nên rốt cuộc cũng chẳng mấy ai còn bận tâm đến chàng nữa; ngôi trường được dời đến một khu vực khác của thung lũng, và một ông thầy giáo khác lên nắm quyền thay thế chàng.
Sự thật là, một lão nông dân già, người trong chuyến viếng thăm New York vài năm sau đó và cũng chính từ ông lão này mà câu chuyện về những cuộc phiêu lưu của bóng ma được truyền lại, đã mang về tin tức rằng Ichabod Crane vẫn còn sống; rằng chàng đã rời bỏ vùng này, một phần vì sợ con yêu tinh và Hans Van Ripper, một phần vì hổ thẹn trước sự cự tuyệt đột ngột của nàng thừa kế; rằng chàng đã chuyển đến cư ngụ tại một miền đất xa xôi của quốc gia này; vừa dạy học vừa học luật cùng một lúc; được nhận vào đoàn luật sư; trở thành chính trị gia; đi vận động tranh cử; viết bài cho các tờ báo; và cuối cùng được bổ nhiệm làm thẩm phán của Tòa án Mười Pound6. Gã Brom Bones cũng vậy, kẻ ngay sau khi đối thủ của mình mất tích đã long trọng đưa nàng Katrina rạng rỡ đắc thắng tiến về bàn thờ, bị người ta nhận thấy là luôn mang một vẻ mặt vô cùng tinh quái mỗi khi câu chuyện về Ichabod được kể lại, và luôn phá lên cười sằng sặc mỗi khi nhắc đến quả bí ngô; điều này khiến một số người nghi ngờ rằng gã biết nhiều về vụ việc này hơn những gì gã muốn thổ lộ.
Dầu sao đi nữa, những bà lão chốn thôn dã, những vị quan tòa đáng tin cậy nhất trong những chuyện đại loại như vậy, cho đến tận ngày nay vẫn giữ vững quan điểm rằng Ichabod đã bị các thế lực siêu nhiên bắt đi; và đó là một câu chuyện được ưa chuộng, thường được kể bên đống lửa hồng trong những buổi tối mùa đông nơi xứ này. Cây cầu ấy ngày càng trở thành một đối tượng của nỗi kính sợ mê tín; và có lẽ cũng chính vì lẽ đó mà con đường đã bị đổi hướng trong những năm gần đây, để người ta có thể đến nhà thờ bằng lối men theo bờ ao xay xát. Ngôi trường bị bỏ hoang sau đó cũng chẳng mấy chốc rơi vào cảnh đổ nát hoang tàn, và được đồn rằng đã bị ám bởi hồn ma của vị thầy giáo bất hạnh; và cậu bé chăn trâu, trên con đường lững thững về nhà vào một buổi chiều hè êm ả, đã thường xuyên tưởng như mình nghe thấy giọng nói của chàng ở đằng xa, đang ngân nga một điệu thánh ca sầu thảm giữa chốn cô tịch tĩnh mịch của Thung lũng Sleepy Hollow.
TÁI BÚT.
TÌM THẤY TRONG CHỮ VIẾT TAY CỦA NGÀI KNICKERBOCKER.
Câu chuyện trên đây được thuật lại gần như chính xác bằng những ngôn từ mà tôi đã nghe khi nó được kể tại một cuộc họp của Hội đồng Quản trị ở cố đô Manhattoes, với sự hiện diện của nhiều vị công dân thông thái và lừng lẫy nhất chốn này. Người kể chuyện là một lão già dễ mến, ăn mặc xuề xòa, mang phong thái quý tộc, trong bộ quần áo màu tiêu muối, với một khuôn mặt hài hước nhưng buồn bã, và là người mà tôi rất đỗi nghi ngờ là nghèo khó - lão đã nỗ lực hết sức mình để trở nên thú vị. Khi câu chuyện của lão kết thúc, có rất nhiều tiếng cười và sự tán thưởng, đặc biệt là từ hai hoặc ba vị phó thị trưởng, những người đã ngủ gà ngủ gật suốt phần lớn thời gian. Tuy nhiên, có một vị quý ông cao lêu nghêu, vẻ mặt khô khan, với cặp lông mày rậm rạp, người đã giữ một nét mặt nghiêm trang và khá nghiêm khắc từ đầu đến cuối, thỉnh thoảng lại khoanh tay, nghiêng đầu và nhìn xuống sàn nhà, như thể đang cân nhắc một mối nghi ngờ nào đó trong tâm trí mình. Ông ta là một trong những kẻ cảnh giác của quý vị, kẻ chẳng bao giờ cười trừ khi có những lý do chính đáng - khi lý trí và luật pháp đứng về phía mình. Khi sự vui vẻ của những người còn lại trong cuộc họp đã lắng xuống và sự im lặng được khôi phục, ông ta tỳ một cánh tay lên thành ghế, chống nạnh cánh tay kia, yêu cầu, với một cái gật đầu nhẹ, nhưng vô cùng thông thái, cùng một cái nhíu mày, rằng bài học đạo đức của câu chuyện này là gì, và nó định chứng minh điều chi?
Người kể chuyện, lúc ấy đang vừa đưa ly rượu lên môi để giải khát sau những nhọc nhằn của mình, dừng lại một khoảnh khắc, nhìn người hỏi với một vẻ tôn kính vô hạn, rồi từ từ hạ ly rượu xuống bàn, nhận xét rằng câu chuyện nhằm mục đích chứng minh một cách hết sức logic rằng -
- Rằng chẳng có hoàn cảnh nào trong đời mà lại không hàm chứa những lợi ích và niềm vui riêng của nó - miễn là chúng ta biết đón nhận một trò đùa khi ta bắt gặp nó:
- Rằng, vì lẽ đó, kẻ nào chạy đua với những đội kỵ binh yêu tinh thì rất có thể sẽ có một chuyến đi vô cùng thô bạo.
- Và vì vậy, đối với một tay thầy giáo làng, việc bị một nữ thừa kế người Hà Lan khước từ bàn tay cầu hôn chính là một bước đi chắc chắn để tiến tới những chức vụ cao hơn trong tiểu bang.
Vị lão già thận trọng cau mày chặt gấp mười lần sau lời giải thích này, vô cùng bối rối trước phép suy luận tam đoạn luận ấy, trong khi, tôi nghĩ, người mặc bộ đồ màu tiêu muối kia lại nhìn ông ta bằng một cái liếc mắt gian xảo đầy vẻ chiến thắng. Cuối cùng, ông ta nhận xét rằng tất cả những điều này đều rất tốt, nhưng ông vẫn nghĩ câu chuyện có phần hơi cường điệu - có một hoặc hai điểm mà ông có những nghi ngờ của riêng mình.
- Quả thực vậy, thưa ngài, - người kể chuyện đáp lời, - về chuyện đó, chính bản thân tôi cũng chẳng tin đến một nửa của nó đâu.
D. K.
HẾT.
-
Tappan Zee: Một đoạn phình to tự nhiên của dòng sông Hudson tại New York. Tên gọi này được những người Hà Lan định cư đầu tiên đặt ("zee" trong tiếng Hà Lan nghĩa là biển). ↩
-
Cotton Mather (1663-1728): Một mục sư Thanh giáo quyền lực và học giả ở New England. Ông được biết đến nhiều nhất qua những ghi chép về phù thủy và có liên đới đến Cuộc xét xử phù thủy Salem. ↩
-
Kỵ binh Hessian: Đội lính đánh thuê người Đức (vùng Hesse) được Đế quốc Anh thuê để chiến đấu chống lại quân đội Lục địa Mỹ trong Chiến tranh Cách mạng. Nổi tiếng với sự tàn bạo và kỷ luật thép. ↩
-
Thánh Vitus: Vị thánh bảo trợ của các vũ công và những người giải trí. "Điệu nhảy của Thánh Vitus" cũng là tên gọi cổ của một chứng bệnh thần kinh gây co giật liên tục. ↩
-
Thiếu tá André (John André): Một sĩ quan tình báo của quân đội Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, bị bắt ở Tarry Town và bị treo cổ vì tội gián điệp vào năm 1780. ↩
-
Tòa án Mười Pound: (Ten Pound Court) Các tòa án địa phương thời bấy giờ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự với giá trị bồi thường lên tới 10 pound. Ám chỉ một chức vụ thẩm phán địa phương nhỏ. ↩
-
Oly koek: (Oliebollen) Bánh ngọt truyền thống của người Hà Lan, làm từ bột chiên ngập dầu và rắc đường bột, được xem là tiền thân của bánh doughnut hiện đại. ↩
CONTENT
FOUND AMONG THE PAPERS OF THE LATE DIEDRICH KNICKERBOCKER.
A pleasing land of drowsy head it was,
Of dreams that wave before the half-shut eye;
And of gay castles in the clouds that pass,
Forever flushing round a summer sky.
CASTLE OF INDOLENCE.
In the bosom of one of those spacious coves which indent the eastern shore of the Hudson, at that broad expansion of the river denominated by the ancient Dutch navigators the Tappan Zee, and where they always prudently shortened sail and implored the protection of St. Nicholas when they crossed, there lies a small market town or rural port, which by some is called Greensburgh, but which is more generally and properly known by the name of Tarry Town. This name was given, we are told, in former days, by the good housewives of the adjacent country, from the inveterate propensity of their husbands to linger about the village tavern on market days. Be that as it may, I do not vouch for the fact, but merely advert to it, for the sake of being precise and authentic. Not far from this village, perhaps about two miles, there is a little valley or rather lap of land among high hills, which is one of the quietest places in the whole world. A small brook glides through it, with just murmur enough to lull one to repose; and the occasional whistle of a quail or tapping of a woodpecker is almost the only sound that ever breaks in upon the uniform tranquillity.
I recollect that, when a stripling, my first exploit in squirrel-shooting was in a grove of tall walnut-trees that shades one side of the valley. I had wandered into it at noontime, when all nature is peculiarly quiet, and was startled by the roar of my own gun, as it broke the Sabbath stillness around and was prolonged and reverberated by the angry echoes. If ever I should wish for a retreat whither I might steal from the world and its distractions, and dream quietly away the remnant of a troubled life, I know of none more promising than this little valley.
From the listless repose of the place, and the peculiar character of its inhabitants, who are descendants from the original Dutch settlers, this sequestered glen has long been known by the name of SLEEPY HOLLOW, and its rustic lads are called the Sleepy Hollow Boys throughout all the neighboring country. A drowsy, dreamy influence seems to hang over the land, and to pervade the very atmosphere. Some say that the place was bewitched by a High German doctor, during the early days of the settlement; others, that an old Indian chief, the prophet or wizard of his tribe, held his powwows there before the country was discovered by Master Hendrick Hudson. Certain it is, the place still continues under the sway of some witching power, that holds a spell over the minds of the good people, causing them to walk in a continual reverie. They are given to all kinds of marvellous beliefs, are subject to trances and visions, and frequently see strange sights, and hear music and voices in the air. The whole neighborhood abounds with local tales, haunted spots, and twilight superstitions; stars shoot and meteors glare oftener across the valley than in any other part of the country, and the nightmare, with her whole ninefold, seems to make it the favorite scene of her gambols.
The dominant spirit, however, that haunts this enchanted region, and seems to be commander-in-chief of all the powers of the air, is the apparition of a figure on horseback, without a head. It is said by some to be the ghost of a Hessian trooper, whose head had been carried away by a cannon-ball, in some nameless battle during the Revolutionary War, and who is ever and anon seen by the country folk hurrying along in the gloom of night, as if on the wings of the wind. His haunts are not confined to the valley, but extend at times to the adjacent roads, and especially to the vicinity of a church at no great distance. Indeed, certain of the most authentic historians of those parts, who have been careful in collecting and collating the floating facts concerning this spectre, allege that the body of the trooper having been buried in the churchyard, the ghost rides forth to the scene of battle in nightly quest of his head, and that the rushing speed with which he sometimes passes along the Hollow, like a midnight blast, is owing to his being belated, and in a hurry to get back to the churchyard before daybreak.
Such is the general purport of this legendary superstition, which has furnished materials for many a wild story in that region of shadows; and the spectre is known at all the country firesides, by the name of the Headless Horseman of Sleepy Hollow.
It is remarkable that the visionary propensity I have mentioned is not confined to the native inhabitants of the valley, but is unconsciously imbibed by every one who resides there for a time. However wide awake they may have been before they entered that sleepy region, they are sure, in a little time, to inhale the witching influence of the air, and begin to grow imaginative, to dream dreams, and see apparitions.
I mention this peaceful spot with all possible laud, for it is in such little retired Dutch valleys, found here and there embosomed in the great State of New York, that population, manners, and customs remain fixed, while the great torrent of migration and improvement, which is making such incessant changes in other parts of this restless country, sweeps by them unobserved. They are like those little nooks of still water, which border a rapid stream, where we may see the straw and bubble riding quietly at anchor, or slowly revolving in their mimic harbor, undisturbed by the rush of the passing current. Though many years have elapsed since I trod the drowsy shades of Sleepy Hollow, yet I question whether I should not still find the same trees and the same families vegetating in its sheltered bosom.
In this by-place of nature there abode, in a remote period of American history, that is to say, some thirty years since, a worthy wight of the name of Ichabod Crane, who sojourned, or, as he expressed it, “tarried,” in Sleepy Hollow, for the purpose of instructing the children of the vicinity. He was a native of Connecticut, a State which supplies the Union with pioneers for the mind as well as for the forest, and sends forth yearly its legions of frontier woodmen and country schoolmasters. The cognomen of Crane was not inapplicable to his person. He was tall, but exceedingly lank, with narrow shoulders, long arms and legs, hands that dangled a mile out of his sleeves, feet that might have served for shovels, and his whole frame most loosely hung together. His head was small, and flat at top, with huge ears, large green glassy eyes, and a long snipe nose, so that it looked like a weather-cock perched upon his spindle neck to tell which way the wind blew. To see him striding along the profile of a hill on a windy day, with his clothes bagging and fluttering about him, one might have mistaken him for the genius of famine descending upon the earth, or some scarecrow eloped from a cornfield.
His schoolhouse was a low building of one large room, rudely constructed of logs; the windows partly glazed, and partly patched with leaves of old copybooks. It was most ingeniously secured at vacant hours, by a withe twisted in the handle of the door, and stakes set against the window shutters; so that though a thief might get in with perfect ease, he would find some embarrassment in getting out,-an idea most probably borrowed by the architect, Yost Van Houten, from the mystery of an eelpot. The schoolhouse stood in a rather lonely but pleasant situation, just at the foot of a woody hill, with a brook running close by, and a formidable birch-tree growing at one end of it. From hence the low murmur of his pupils’ voices, conning over their lessons, might be heard in a drowsy summer’s day, like the hum of a beehive; interrupted now and then by the authoritative voice of the master, in the tone of menace or command, or, peradventure, by the appalling sound of the birch, as he urged some tardy loiterer along the flowery path of knowledge. Truth to say, he was a conscientious man, and ever bore in mind the golden maxim, “Spare the rod and spoil the child.” Ichabod Crane’s scholars certainly were not spoiled.
I would not have it imagined, however, that he was one of those cruel potentates of the school who joy in the smart of their subjects; on the contrary, he administered justice with discrimination rather than severity; taking the burden off the backs of the weak, and laying it on those of the strong. Your mere puny stripling, that winced at the least flourish of the rod, was passed by with indulgence; but the claims of justice were satisfied by inflicting a double portion on some little tough wrong-headed, broad-skirted Dutch urchin, who sulked and swelled and grew dogged and sullen beneath the birch. All this he called “doing his duty by their parents;” and he never inflicted a chastisement without following it by the assurance, so consolatory to the smarting urchin, that “he would remember it and thank him for it the longest day he had to live.”
When school hours were over, he was even the companion and playmate of the larger boys; and on holiday afternoons would convoy some of the smaller ones home, who happened to have pretty sisters, or good housewives for mothers, noted for the comforts of the cupboard. Indeed, it behooved him to keep on good terms with his pupils. The revenue arising from his school was small, and would have been scarcely sufficient to furnish him with daily bread, for he was a huge feeder, and, though lank, had the dilating powers of an anaconda; but to help out his maintenance, he was, according to country custom in those parts, boarded and lodged at the houses of the farmers whose children he instructed. With these he lived successively a week at a time, thus going the rounds of the neighborhood, with all his worldly effects tied up in a cotton handkerchief.
That all this might not be too onerous on the purses of his rustic patrons, who are apt to consider the costs of schooling a grievous burden, and schoolmasters as mere drones, he had various ways of rendering himself both useful and agreeable. He assisted the farmers occasionally in the lighter labors of their farms, helped to make hay, mended the fences, took the horses to water, drove the cows from pasture, and cut wood for the winter fire. He laid aside, too, all the dominant dignity and absolute sway with which he lorded it in his little empire, the school, and became wonderfully gentle and ingratiating. He found favor in the eyes of the mothers by petting the children, particularly the youngest; and like the lion bold, which whilom so magnanimously the lamb did hold, he would sit with a child on one knee, and rock a cradle with his foot for whole hours together.
In addition to his other vocations, he was the singing-master of the neighborhood, and picked up many bright shillings by instructing the young folks in psalmody. It was a matter of no little vanity to him on Sundays, to take his station in front of the church gallery, with a band of chosen singers; where, in his own mind, he completely carried away the palm from the parson. Certain it is, his voice resounded far above all the rest of the congregation; and there are peculiar quavers still to be heard in that church, and which may even be heard half a mile off, quite to the opposite side of the millpond, on a still Sunday morning, which are said to be legitimately descended from the nose of Ichabod Crane. Thus, by divers little makeshifts, in that ingenious way which is commonly denominated “by hook and by crook,” the worthy pedagogue got on tolerably enough, and was thought, by all who understood nothing of the labor of headwork, to have a wonderfully easy life of it.
The schoolmaster is generally a man of some importance in the female circle of a rural neighborhood; being considered a kind of idle, gentlemanlike personage, of vastly superior taste and accomplishments to the rough country swains, and, indeed, inferior in learning only to the parson. His appearance, therefore, is apt to occasion some little stir at the tea-table of a farmhouse, and the addition of a supernumerary dish of cakes or sweetmeats, or, peradventure, the parade of a silver teapot. Our man of letters, therefore, was peculiarly happy in the smiles of all the country damsels. How he would figure among them in the churchyard, between services on Sundays; gathering grapes for them from the wild vines that overran the surrounding trees; reciting for their amusement all the epitaphs on the tombstones; or sauntering, with a whole bevy of them, along the banks of the adjacent millpond; while the more bashful country bumpkins hung sheepishly back, envying his superior elegance and address.
From his half-itinerant life, also, he was a kind of travelling gazette, carrying the whole budget of local gossip from house to house, so that his appearance was always greeted with satisfaction. He was, moreover, esteemed by the women as a man of great erudition, for he had read several books quite through, and was a perfect master of Cotton Mather’s “History of New England Witchcraft,” in which, by the way, he most firmly and potently believed.
He was, in fact, an odd mixture of small shrewdness and simple credulity. His appetite for the marvellous, and his powers of digesting it, were equally extraordinary; and both had been increased by his residence in this spell-bound region. No tale was too gross or monstrous for his capacious swallow. It was often his delight, after his school was dismissed in the afternoon, to stretch himself on the rich bed of clover bordering the little brook that whimpered by his schoolhouse, and there con over old Mather’s direful tales, until the gathering dusk of evening made the printed page a mere mist before his eyes. Then, as he wended his way by swamp and stream and awful woodland, to the farmhouse where he happened to be quartered, every sound of nature, at that witching hour, fluttered his excited imagination,-the moan of the whip-poor-will from the hillside, the boding cry of the tree toad, that harbinger of storm, the dreary hooting of the screech owl, or the sudden rustling in the thicket of birds frightened from their roost. The fireflies, too, which sparkled most vividly in the darkest places, now and then startled him, as one of uncommon brightness would stream across his path; and if, by chance, a huge blockhead of a beetle came winging his blundering flight against him, the poor varlet was ready to give up the ghost, with the idea that he was struck with a witch’s token. His only resource on such occasions, either to drown thought or drive away evil spirits, was to sing psalm tunes and the good people of Sleepy Hollow, as they sat by their doors of an evening, were often filled with awe at hearing his nasal melody, “in linked sweetness long drawn out,” floating from the distant hill, or along the dusky road.
Another of his sources of fearful pleasure was to pass long winter evenings with the old Dutch wives, as they sat spinning by the fire, with a row of apples roasting and spluttering along the hearth, and listen to their marvellous tales of ghosts and goblins, and haunted fields, and haunted brooks, and haunted bridges, and haunted houses, and particularly of the headless horseman, or Galloping Hessian of the Hollow, as they sometimes called him. He would delight them equally by his anecdotes of witchcraft, and of the direful omens and portentous sights and sounds in the air, which prevailed in the earlier times of Connecticut; and would frighten them woefully with speculations upon comets and shooting stars; and with the alarming fact that the world did absolutely turn round, and that they were half the time topsy-turvy!
But if there was a pleasure in all this, while snugly cuddling in the chimney corner of a chamber that was all of a ruddy glow from the crackling wood fire, and where, of course, no spectre dared to show its face, it was dearly purchased by the terrors of his subsequent walk homewards. What fearful shapes and shadows beset his path, amidst the dim and ghastly glare of a snowy night! With what wistful look did he eye every trembling ray of light streaming across the waste fields from some distant window! How often was he appalled by some shrub covered with snow, which, like a sheeted spectre, beset his very path! How often did he shrink with curdling awe at the sound of his own steps on the frosty crust beneath his feet; and dread to look over his shoulder, lest he should behold some uncouth being tramping close behind him! And how often was he thrown into complete dismay by some rushing blast, howling among the trees, in the idea that it was the Galloping Hessian on one of his nightly scourings!
All these, however, were mere terrors of the night, phantoms of the mind that walk in darkness; and though he had seen many spectres in his time, and been more than once beset by Satan in divers shapes, in his lonely perambulations, yet daylight put an end to all these evils; and he would have passed a pleasant life of it, in despite of the Devil and all his works, if his path had not been crossed by a being that causes more perplexity to mortal man than ghosts, goblins, and the whole race of witches put together, and that was-a woman.
Among the musical disciples who assembled, one evening in each week, to receive his instructions in psalmody, was Katrina Van Tassel, the daughter and only child of a substantial Dutch farmer. She was a blooming lass of fresh eighteen; plump as a partridge; ripe and melting and rosy-cheeked as one of her father’s peaches, and universally famed, not merely for her beauty, but her vast expectations. She was withal a little of a coquette, as might be perceived even in her dress, which was a mixture of ancient and modern fashions, as most suited to set off her charms. She wore the ornaments of pure yellow gold, which her great-great-grandmother had brought over from Saardam; the tempting stomacher of the olden time, and withal a provokingly short petticoat, to display the prettiest foot and ankle in the country round.
Ichabod Crane had a soft and foolish heart towards the sex; and it is not to be wondered at that so tempting a morsel soon found favor in his eyes, more especially after he had visited her in her paternal mansion. Old Baltus Van Tassel was a perfect picture of a thriving, contented, liberal-hearted farmer. He seldom, it is true, sent either his eyes or his thoughts beyond the boundaries of his own farm; but within those everything was snug, happy and well-conditioned. He was satisfied with his wealth, but not proud of it; and piqued himself upon the hearty abundance, rather than the style in which he lived. His stronghold was situated on the banks of the Hudson, in one of those green, sheltered, fertile nooks in which the Dutch farmers are so fond of nestling. A great elm tree spread its broad branches over it, at the foot of which bubbled up a spring of the softest and sweetest water, in a little well formed of a barrel; and then stole sparkling away through the grass, to a neighboring brook, that babbled along among alders and dwarf willows. Hard by the farmhouse was a vast barn, that might have served for a church; every window and crevice of which seemed bursting forth with the treasures of the farm; the flail was busily resounding within it from morning to night; swallows and martins skimmed twittering about the eaves; and rows of pigeons, some with one eye turned up, as if watching the weather, some with their heads under their wings or buried in their bosoms, and others swelling, and cooing, and bowing about their dames, were enjoying the sunshine on the roof. Sleek unwieldy porkers were grunting in the repose and abundance of their pens, from whence sallied forth, now and then, troops of sucking pigs, as if to snuff the air. A stately squadron of snowy geese were riding in an adjoining pond, convoying whole fleets of ducks; regiments of turkeys were gobbling through the farmyard, and Guinea fowls fretting about it, like ill-tempered housewives, with their peevish, discontented cry. Before the barn door strutted the gallant cock, that pattern of a husband, a warrior and a fine gentleman, clapping his burnished wings and crowing in the pride and gladness of his heart,-sometimes tearing up the earth with his feet, and then generously calling his ever-hungry family of wives and children to enjoy the rich morsel which he had discovered.
The pedagogue’s mouth watered as he looked upon this sumptuous promise of luxurious winter fare. In his devouring mind’s eye, he pictured to himself every roasting-pig running about with a pudding in his belly, and an apple in his mouth; the pigeons were snugly put to bed in a comfortable pie, and tucked in with a coverlet of crust; the geese were swimming in their own gravy; and the ducks pairing cosily in dishes, like snug married couples, with a decent competency of onion sauce. In the porkers he saw carved out the future sleek side of bacon, and juicy relishing ham; not a turkey but he beheld daintily trussed up, with its gizzard under its wing, and, peradventure, a necklace of savory sausages; and even bright chanticleer himself lay sprawling on his back, in a side dish, with uplifted claws, as if craving that quarter which his chivalrous spirit disdained to ask while living.
As the enraptured Ichabod fancied all this, and as he rolled his great green eyes over the fat meadow lands, the rich fields of wheat, of rye, of buckwheat, and Indian corn, and the orchards burdened with ruddy fruit, which surrounded the warm tenement of Van Tassel, his heart yearned after the damsel who was to inherit these domains, and his imagination expanded with the idea, how they might be readily turned into cash, and the money invested in immense tracts of wild land, and shingle palaces in the wilderness. Nay, his busy fancy already realized his hopes, and presented to him the blooming Katrina, with a whole family of children, mounted on the top of a wagon loaded with household trumpery, with pots and kettles dangling beneath; and he beheld himself bestriding a pacing mare, with a colt at her heels, setting out for Kentucky, Tennessee,-or the Lord knows where!
When he entered the house, the conquest of his heart was complete. It was one of those spacious farmhouses, with high-ridged but lowly sloping roofs, built in the style handed down from the first Dutch settlers; the low projecting eaves forming a piazza along the front, capable of being closed up in bad weather. Under this were hung flails, harness, various utensils of husbandry, and nets for fishing in the neighboring river. Benches were built along the sides for summer use; and a great spinning-wheel at one end, and a churn at the other, showed the various uses to which this important porch might be devoted. From this piazza the wondering Ichabod entered the hall, which formed the centre of the mansion, and the place of usual residence. Here rows of resplendent pewter, ranged on a long dresser, dazzled his eyes. In one corner stood a huge bag of wool, ready to be spun; in another, a quantity of linsey-woolsey just from the loom; ears of Indian corn, and strings of dried apples and peaches, hung in gay festoons along the walls, mingled with the gaud of red peppers; and a door left ajar gave him a peep into the best parlor, where the claw-footed chairs and dark mahogany tables shone like mirrors; andirons, with their accompanying shovel and tongs, glistened from their covert of asparagus tops; mock-oranges and conch-shells decorated the mantelpiece; strings of various-colored birds eggs were suspended above it; a great ostrich egg was hung from the centre of the room, and a corner cupboard, knowingly left open, displayed immense treasures of old silver and well-mended china.
From the moment Ichabod laid his eyes upon these regions of delight, the peace of his mind was at an end, and his only study was how to gain the affections of the peerless daughter of Van Tassel. In this enterprise, however, he had more real difficulties than generally fell to the lot of a knight-errant of yore, who seldom had anything but giants, enchanters, fiery dragons, and such like easily conquered adversaries, to contend with and had to make his way merely through gates of iron and brass, and walls of adamant to the castle keep, where the lady of his heart was confined; all which he achieved as easily as a man would carve his way to the centre of a Christmas pie; and then the lady gave him her hand as a matter of course. Ichabod, on the contrary, had to win his way to the heart of a country coquette, beset with a labyrinth of whims and caprices, which were forever presenting new difficulties and impediments; and he had to encounter a host of fearful adversaries of real flesh and blood, the numerous rustic admirers, who beset every portal to her heart, keeping a watchful and angry eye upon each other, but ready to fly out in the common cause against any new competitor.
Among these, the most formidable was a burly, roaring, roystering blade, of the name of Abraham, or, according to the Dutch abbreviation, Brom Van Brunt, the hero of the country round, which rang with his feats of strength and hardihood. He was broad-shouldered and double-jointed, with short curly black hair, and a bluff but not unpleasant countenance, having a mingled air of fun and arrogance. From his Herculean frame and great powers of limb he had received the nickname of BROM BONES, by which he was universally known. He was famed for great knowledge and skill in horsemanship, being as dexterous on horseback as a Tartar. He was foremost at all races and cock fights; and, with the ascendancy which bodily strength always acquires in rustic life, was the umpire in all disputes, setting his hat on one side, and giving his decisions with an air and tone that admitted of no gainsay or appeal. He was always ready for either a fight or a frolic; but had more mischief than ill-will in his composition; and with all his overbearing roughness, there was a strong dash of waggish good humor at bottom. He had three or four boon companions, who regarded him as their model, and at the head of whom he scoured the country, attending every scene of feud or merriment for miles round. In cold weather he was distinguished by a fur cap, surmounted with a flaunting fox’s tail; and when the folks at a country gathering descried this well-known crest at a distance, whisking about among a squad of hard riders, they always stood by for a squall. Sometimes his crew would be heard dashing along past the farmhouses at midnight, with whoop and halloo, like a troop of Don Cossacks; and the old dames, startled out of their sleep, would listen for a moment till the hurry-scurry had clattered by, and then exclaim, “Ay, there goes Brom Bones and his gang!” The neighbors looked upon him with a mixture of awe, admiration, and good-will; and, when any madcap prank or rustic brawl occurred in the vicinity, always shook their heads, and warranted Brom Bones was at the bottom of it.
This rantipole hero had for some time singled out the blooming Katrina for the object of his uncouth gallantries, and though his amorous toyings were something like the gentle caresses and endearments of a bear, yet it was whispered that she did not altogether discourage his hopes. Certain it is, his advances were signals for rival candidates to retire, who felt no inclination to cross a lion in his amours; insomuch, that when his horse was seen tied to Van Tassel’s paling, on a Sunday night, a sure sign that his master was courting, or, as it is termed, “sparking,” within, all other suitors passed by in despair, and carried the war into other quarters.
Such was the formidable rival with whom Ichabod Crane had to contend, and, considering all things, a stouter man than he would have shrunk from the competition, and a wiser man would have despaired. He had, however, a happy mixture of pliability and perseverance in his nature; he was in form and spirit like a supple-jack-yielding, but tough; though he bent, he never broke; and though he bowed beneath the slightest pressure, yet, the moment it was away-jerk!-he was as erect, and carried his head as high as ever.
To have taken the field openly against his rival would have been madness; for he was not a man to be thwarted in his amours, any more than that stormy lover, Achilles. Ichabod, therefore, made his advances in a quiet and gently insinuating manner. Under cover of his character of singing-master, he made frequent visits at the farmhouse; not that he had anything to apprehend from the meddlesome interference of parents, which is so often a stumbling-block in the path of lovers. Balt Van Tassel was an easy indulgent soul; he loved his daughter better even than his pipe, and, like a reasonable man and an excellent father, let her have her way in everything. His notable little wife, too, had enough to do to attend to her housekeeping and manage her poultry; for, as she sagely observed, ducks and geese are foolish things, and must be looked after, but girls can take care of themselves. Thus, while the busy dame bustled about the house, or plied her spinning-wheel at one end of the piazza, honest Balt would sit smoking his evening pipe at the other, watching the achievements of a little wooden warrior, who, armed with a sword in each hand, was most valiantly fighting the wind on the pinnacle of the barn. In the mean time, Ichabod would carry on his suit with the daughter by the side of the spring under the great elm, or sauntering along in the twilight, that hour so favorable to the lover’s eloquence.
I profess not to know how women’s hearts are wooed and won. To me they have always been matters of riddle and admiration. Some seem to have but one vulnerable point, or door of access; while others have a thousand avenues, and may be captured in a thousand different ways. It is a great triumph of skill to gain the former, but a still greater proof of generalship to maintain possession of the latter, for man must battle for his fortress at every door and window. He who wins a thousand common hearts is therefore entitled to some renown; but he who keeps undisputed sway over the heart of a coquette is indeed a hero. Certain it is, this was not the case with the redoubtable Brom Bones; and from the moment Ichabod Crane made his advances, the interests of the former evidently declined: his horse was no longer seen tied to the palings on Sunday nights, and a deadly feud gradually arose between him and the preceptor of Sleepy Hollow.
Brom, who had a degree of rough chivalry in his nature, would fain have carried matters to open warfare and have settled their pretensions to the lady, according to the mode of those most concise and simple reasoners, the knights-errant of yore,-by single combat; but Ichabod was too conscious of the superior might of his adversary to enter the lists against him; he had overheard a boast of Bones, that he would “double the schoolmaster up, and lay him on a shelf of his own schoolhouse;” and he was too wary to give him an opportunity. There was something extremely provoking in this obstinately pacific system; it left Brom no alternative but to draw upon the funds of rustic waggery in his disposition, and to play off boorish practical jokes upon his rival. Ichabod became the object of whimsical persecution to Bones and his gang of rough riders. They harried his hitherto peaceful domains; smoked out his singing school by stopping up the chimney; broke into the schoolhouse at night, in spite of its formidable fastenings of withe and window stakes, and turned everything topsy-turvy, so that the poor schoolmaster began to think all the witches in the country held their meetings there. But what was still more annoying, Brom took all opportunities of turning him into ridicule in presence of his mistress, and had a scoundrel dog whom he taught to whine in the most ludicrous manner, and introduced as a rival of Ichabod’s, to instruct her in psalmody.
In this way matters went on for some time, without producing any material effect on the relative situations of the contending powers. On a fine autumnal afternoon, Ichabod, in pensive mood, sat enthroned on the lofty stool from whence he usually watched all the concerns of his little literary realm. In his hand he swayed a ferule, that sceptre of despotic power; the birch of justice reposed on three nails behind the throne, a constant terror to evil doers, while on the desk before him might be seen sundry contraband articles and prohibited weapons, detected upon the persons of idle urchins, such as half-munched apples, popguns, whirligigs, fly-cages, and whole legions of rampant little paper gamecocks. Apparently there had been some appalling act of justice recently inflicted, for his scholars were all busily intent upon their books, or slyly whispering behind them with one eye kept upon the master; and a kind of buzzing stillness reigned throughout the schoolroom. It was suddenly interrupted by the appearance of a negro in tow-cloth jacket and trowsers, a round-crowned fragment of a hat, like the cap of Mercury, and mounted on the back of a ragged, wild, half-broken colt, which he managed with a rope by way of halter. He came clattering up to the school door with an invitation to Ichabod to attend a merry-making or “quilting frolic,” to be held that evening at Mynheer Van Tassel’s; and having delivered his message with that air of importance, and effort at fine language, which a negro is apt to display on petty embassies of the kind, he dashed over the brook, and was seen scampering away up the hollow, full of the importance and hurry of his mission.
All was now bustle and hubbub in the late quiet schoolroom. The scholars were hurried through their lessons without stopping at trifles; those who were nimble skipped over half with impunity, and those who were tardy had a smart application now and then in the rear, to quicken their speed or help them over a tall word. Books were flung aside without being put away on the shelves, inkstands were overturned, benches thrown down, and the whole school was turned loose an hour before the usual time, bursting forth like a legion of young imps, yelping and racketing about the green in joy at their early emancipation.
The gallant Ichabod now spent at least an extra half hour at his toilet, brushing and furbishing up his best, and indeed only suit of rusty black, and arranging his locks by a bit of broken looking-glass that hung up in the schoolhouse. That he might make his appearance before his mistress in the true style of a cavalier, he borrowed a horse from the farmer with whom he was domiciliated, a choleric old Dutchman of the name of Hans Van Ripper, and, thus gallantly mounted, issued forth like a knight-errant in quest of adventures. But it is meet I should, in the true spirit of romantic story, give some account of the looks and equipments of my hero and his steed. The animal he bestrode was a broken-down plow-horse, that had outlived almost everything but its viciousness. He was gaunt and shagged, with a ewe neck, and a head like a hammer; his rusty mane and tail were tangled and knotted with burs; one eye had lost its pupil, and was glaring and spectral, but the other had the gleam of a genuine devil in it. Still he must have had fire and mettle in his day, if we may judge from the name he bore of Gunpowder. He had, in fact, been a favorite steed of his master’s, the choleric Van Ripper, who was a furious rider, and had infused, very probably, some of his own spirit into the animal; for, old and broken-down as he looked, there was more of the lurking devil in him than in any young filly in the country.
Ichabod was a suitable figure for such a steed. He rode with short stirrups, which brought his knees nearly up to the pommel of the saddle; his sharp elbows stuck out like grasshoppers’; he carried his whip perpendicularly in his hand, like a sceptre, and as his horse jogged on, the motion of his arms was not unlike the flapping of a pair of wings. A small wool hat rested on the top of his nose, for so his scanty strip of forehead might be called, and the skirts of his black coat fluttered out almost to the horses tail. Such was the appearance of Ichabod and his steed as they shambled out of the gate of Hans Van Ripper, and it was altogether such an apparition as is seldom to be met with in broad daylight.
It was, as I have said, a fine autumnal day; the sky was clear and serene, and nature wore that rich and golden livery which we always associate with the idea of abundance. The forests had put on their sober brown and yellow, while some trees of the tenderer kind had been nipped by the frosts into brilliant dyes of orange, purple, and scarlet. Streaming files of wild ducks began to make their appearance high in the air; the bark of the squirrel might be heard from the groves of beech and hickory-nuts, and the pensive whistle of the quail at intervals from the neighboring stubble field.
The small birds were taking their farewell banquets. In the fullness of their revelry, they fluttered, chirping and frolicking from bush to bush, and tree to tree, capricious from the very profusion and variety around them. There was the honest cock robin, the favorite game of stripling sportsmen, with its loud querulous note; and the twittering blackbirds flying in sable clouds; and the golden-winged woodpecker with his crimson crest, his broad black gorget, and splendid plumage; and the cedar bird, with its red-tipt wings and yellow-tipt tail and its little monteiro cap of feathers; and the blue jay, that noisy coxcomb, in his gay light blue coat and white underclothes, screaming and chattering, nodding and bobbing and bowing, and pretending to be on good terms with every songster of the grove.
As Ichabod jogged slowly on his way, his eye, ever open to every symptom of culinary abundance, ranged with delight over the treasures of jolly autumn. On all sides he beheld vast store of apples; some hanging in oppressive opulence on the trees; some gathered into baskets and barrels for the market; others heaped up in rich piles for the cider-press. Farther on he beheld great fields of Indian corn, with its golden ears peeping from their leafy coverts, and holding out the promise of cakes and hasty-pudding; and the yellow pumpkins lying beneath them, turning up their fair round bellies to the sun, and giving ample prospects of the most luxurious of pies; and anon he passed the fragrant buckwheat fields breathing the odor of the beehive, and as he beheld them, soft anticipations stole over his mind of dainty slapjacks, well buttered, and garnished with honey or treacle, by the delicate little dimpled hand of Katrina Van Tassel.
Thus feeding his mind with many sweet thoughts and “sugared suppositions,” he journeyed along the sides of a range of hills which look out upon some of the goodliest scenes of the mighty Hudson. The sun gradually wheeled his broad disk down in the west. The wide bosom of the Tappan Zee lay motionless and glassy, excepting that here and there a gentle undulation waved and prolonged the blue shadow of the distant mountain. A few amber clouds floated in the sky, without a breath of air to move them. The horizon was of a fine golden tint, changing gradually into a pure apple green, and from that into the deep blue of the mid-heaven. A slanting ray lingered on the woody crests of the precipices that overhung some parts of the river, giving greater depth to the dark gray and purple of their rocky sides. A sloop was loitering in the distance, dropping slowly down with the tide, her sail hanging uselessly against the mast; and as the reflection of the sky gleamed along the still water, it seemed as if the vessel was suspended in the air.
It was toward evening that Ichabod arrived at the castle of the Heer Van Tassel, which he found thronged with the pride and flower of the adjacent country. Old farmers, a spare leathern-faced race, in homespun coats and breeches, blue stockings, huge shoes, and magnificent pewter buckles. Their brisk, withered little dames, in close-crimped caps, long-waisted short gowns, homespun petticoats, with scissors and pincushions, and gay calico pockets hanging on the outside. Buxom lasses, almost as antiquated as their mothers, excepting where a straw hat, a fine ribbon, or perhaps a white frock, gave symptoms of city innovation. The sons, in short square-skirted coats, with rows of stupendous brass buttons, and their hair generally queued in the fashion of the times, especially if they could procure an eel-skin for the purpose, it being esteemed throughout the country as a potent nourisher and strengthener of the hair.
Brom Bones, however, was the hero of the scene, having come to the gathering on his favorite steed Daredevil, a creature, like himself, full of mettle and mischief, and which no one but himself could manage. He was, in fact, noted for preferring vicious animals, given to all kinds of tricks which kept the rider in constant risk of his neck, for he held a tractable, well-broken horse as unworthy of a lad of spirit.
Fain would I pause to dwell upon the world of charms that burst upon the enraptured gaze of my hero, as he entered the state parlor of Van Tassel’s mansion. Not those of the bevy of buxom lasses, with their luxurious display of red and white; but the ample charms of a genuine Dutch country tea-table, in the sumptuous time of autumn. Such heaped up platters of cakes of various and almost indescribable kinds, known only to experienced Dutch housewives! There was the doughty doughnut, the tender oly koek, and the crisp and crumbling cruller; sweet cakes and short cakes, ginger cakes and honey cakes, and the whole family of cakes. And then there were apple pies, and peach pies, and pumpkin pies; besides slices of ham and smoked beef; and moreover delectable dishes of preserved plums, and peaches, and pears, and quinces; not to mention broiled shad and roasted chickens; together with bowls of milk and cream, all mingled higgledy-piggledy, pretty much as I have enumerated them, with the motherly teapot sending up its clouds of vapor from the midst-Heaven bless the mark! I want breath and time to discuss this banquet as it deserves, and am too eager to get on with my story. Happily, Ichabod Crane was not in so great a hurry as his historian, but did ample justice to every dainty.
He was a kind and thankful creature, whose heart dilated in proportion as his skin was filled with good cheer, and whose spirits rose with eating, as some men’s do with drink. He could not help, too, rolling his large eyes round him as he ate, and chuckling with the possibility that he might one day be lord of all this scene of almost unimaginable luxury and splendor. Then, he thought, how soon he’d turn his back upon the old schoolhouse; snap his fingers in the face of Hans Van Ripper, and every other niggardly patron, and kick any itinerant pedagogue out of doors that should dare to call him comrade!
Old Baltus Van Tassel moved about among his guests with a face dilated with content and good humor, round and jolly as the harvest moon. His hospitable attentions were brief, but expressive, being confined to a shake of the hand, a slap on the shoulder, a loud laugh, and a pressing invitation to “fall to, and help themselves.”
And now the sound of the music from the common room, or hall, summoned to the dance. The musician was an old gray-headed negro, who had been the itinerant orchestra of the neighborhood for more than half a century. His instrument was as old and battered as himself. The greater part of the time he scraped on two or three strings, accompanying every movement of the bow with a motion of the head; bowing almost to the ground, and stamping with his foot whenever a fresh couple were to start.
Ichabod prided himself upon his dancing as much as upon his vocal powers. Not a limb, not a fibre about him was idle; and to have seen his loosely hung frame in full motion, and clattering about the room, you would have thought St. Vitus himself, that blessed patron of the dance, was figuring before you in person. He was the admiration of all the negroes; who, having gathered, of all ages and sizes, from the farm and the neighborhood, stood forming a pyramid of shining black faces at every door and window, gazing with delight at the scene, rolling their white eyeballs, and showing grinning rows of ivory from ear to ear. How could the flogger of urchins be otherwise than animated and joyous? The lady of his heart was his partner in the dance, and smiling graciously in reply to all his amorous oglings; while Brom Bones, sorely smitten with love and jealousy, sat brooding by himself in one corner.
When the dance was at an end, Ichabod was attracted to a knot of the sager folks, who, with Old Van Tassel, sat smoking at one end of the piazza, gossiping over former times, and drawing out long stories about the war.
This neighborhood, at the time of which I am speaking, was one of those highly favored places which abound with chronicle and great men. The British and American line had run near it during the war; it had, therefore, been the scene of marauding and infested with refugees, cowboys, and all kinds of border chivalry. Just sufficient time had elapsed to enable each storyteller to dress up his tale with a little becoming fiction, and, in the indistinctness of his recollection, to make himself the hero of every exploit.
There was the story of Doffue Martling, a large blue-bearded Dutchman, who had nearly taken a British frigate with an old iron nine-pounder from a mud breastwork, only that his gun burst at the sixth discharge. And there was an old gentleman who shall be nameless, being too rich a mynheer to be lightly mentioned, who, in the battle of White Plains, being an excellent master of defence, parried a musket-ball with a small sword, insomuch that he absolutely felt it whiz round the blade, and glance off at the hilt; in proof of which he was ready at any time to show the sword, with the hilt a little bent. There were several more that had been equally great in the field, not one of whom but was persuaded that he had a considerable hand in bringing the war to a happy termination.
But all these were nothing to the tales of ghosts and apparitions that succeeded. The neighborhood is rich in legendary treasures of the kind. Local tales and superstitions thrive best in these sheltered, long-settled retreats; but are trampled under foot by the shifting throng that forms the population of most of our country places. Besides, there is no encouragement for ghosts in most of our villages, for they have scarcely had time to finish their first nap and turn themselves in their graves, before their surviving friends have travelled away from the neighborhood; so that when they turn out at night to walk their rounds, they have no acquaintance left to call upon. This is perhaps the reason why we so seldom hear of ghosts except in our long-established Dutch communities.
The immediate cause, however, of the prevalence of supernatural stories in these parts, was doubtless owing to the vicinity of Sleepy Hollow. There was a contagion in the very air that blew from that haunted region; it breathed forth an atmosphere of dreams and fancies infecting all the land. Several of the Sleepy Hollow people were present at Van Tassel’s, and, as usual, were doling out their wild and wonderful legends. Many dismal tales were told about funeral trains, and mourning cries and wailings heard and seen about the great tree where the unfortunate Major André was taken, and which stood in the neighborhood. Some mention was made also of the woman in white, that haunted the dark glen at Raven Rock, and was often heard to shriek on winter nights before a storm, having perished there in the snow. The chief part of the stories, however, turned upon the favorite spectre of Sleepy Hollow, the Headless Horseman, who had been heard several times of late, patrolling the country; and, it was said, tethered his horse nightly among the graves in the churchyard.
The sequestered situation of this church seems always to have made it a favorite haunt of troubled spirits. It stands on a knoll, surrounded by locust-trees and lofty elms, from among which its decent, whitewashed walls shine modestly forth, like Christian purity beaming through the shades of retirement. A gentle slope descends from it to a silver sheet of water, bordered by high trees, between which, peeps may be caught at the blue hills of the Hudson. To look upon its grass-grown yard, where the sunbeams seem to sleep so quietly, one would think that there at least the dead might rest in peace. On one side of the church extends a wide woody dell, along which raves a large brook among broken rocks and trunks of fallen trees. Over a deep black part of the stream, not far from the church, was formerly thrown a wooden bridge; the road that led to it, and the bridge itself, were thickly shaded by overhanging trees, which cast a gloom about it, even in the daytime; but occasioned a fearful darkness at night. Such was one of the favorite haunts of the Headless Horseman, and the place where he was most frequently encountered. The tale was told of old Brouwer, a most heretical disbeliever in ghosts, how he met the Horseman returning from his foray into Sleepy Hollow, and was obliged to get up behind him; how they galloped over bush and brake, over hill and swamp, until they reached the bridge; when the Horseman suddenly turned into a skeleton, threw old Brouwer into the brook, and sprang away over the tree-tops with a clap of thunder.
This story was immediately matched by a thrice marvellous adventure of Brom Bones, who made light of the Galloping Hessian as an arrant jockey. He affirmed that on returning one night from the neighboring village of Sing Sing, he had been overtaken by this midnight trooper; that he had offered to race with him for a bowl of punch, and should have won it too, for Daredevil beat the goblin horse all hollow, but just as they came to the church bridge, the Hessian bolted, and vanished in a flash of fire.
All these tales, told in that drowsy undertone with which men talk in the dark, the countenances of the listeners only now and then receiving a casual gleam from the glare of a pipe, sank deep in the mind of Ichabod. He repaid them in kind with large extracts from his invaluable author, Cotton Mather, and added many marvellous events that had taken place in his native State of Connecticut, and fearful sights which he had seen in his nightly walks about Sleepy Hollow.
The revel now gradually broke up. The old farmers gathered together their families in their wagons, and were heard for some time rattling along the hollow roads, and over the distant hills. Some of the damsels mounted on pillions behind their favorite swains, and their light-hearted laughter, mingling with the clatter of hoofs, echoed along the silent woodlands, sounding fainter and fainter, until they gradually died away,-and the late scene of noise and frolic was all silent and deserted. Ichabod only lingered behind, according to the custom of country lovers, to have a tête-à-tête with the heiress; fully convinced that he was now on the high road to success. What passed at this interview I will not pretend to say, for in fact I do not know. Something, however, I fear me, must have gone wrong, for he certainly sallied forth, after no very great interval, with an air quite desolate and chapfallen. Oh, these women! these women! Could that girl have been playing off any of her coquettish tricks? Was her encouragement of the poor pedagogue all a mere sham to secure her conquest of his rival? Heaven only knows, not I! Let it suffice to say, Ichabod stole forth with the air of one who had been sacking a henroost, rather than a fair lady’s heart. Without looking to the right or left to notice the scene of rural wealth, on which he had so often gloated, he went straight to the stable, and with several hearty cuffs and kicks roused his steed most uncourteously from the comfortable quarters in which he was soundly sleeping, dreaming of mountains of corn and oats, and whole valleys of timothy and clover.
It was the very witching time of night that Ichabod, heavy-hearted and crestfallen, pursued his travels homewards, along the sides of the lofty hills which rise above Tarry Town, and which he had traversed so cheerily in the afternoon. The hour was as dismal as himself. Far below him the Tappan Zee spread its dusky and indistinct waste of waters, with here and there the tall mast of a sloop, riding quietly at anchor under the land. In the dead hush of midnight, he could even hear the barking of the watchdog from the opposite shore of the Hudson; but it was so vague and faint as only to give an idea of his distance from this faithful companion of man. Now and then, too, the long-drawn crowing of a cock, accidentally awakened, would sound far, far off, from some farmhouse away among the hills-but it was like a dreaming sound in his ear. No signs of life occurred near him, but occasionally the melancholy chirp of a cricket, or perhaps the guttural twang of a bullfrog from a neighboring marsh, as if sleeping uncomfortably and turning suddenly in his bed.
All the stories of ghosts and goblins that he had heard in the afternoon now came crowding upon his recollection. The night grew darker and darker; the stars seemed to sink deeper in the sky, and driving clouds occasionally hid them from his sight. He had never felt so lonely and dismal. He was, moreover, approaching the very place where many of the scenes of the ghost stories had been laid. In the centre of the road stood an enormous tulip-tree, which towered like a giant above all the other trees of the neighborhood, and formed a kind of landmark. Its limbs were gnarled and fantastic, large enough to form trunks for ordinary trees, twisting down almost to the earth, and rising again into the air. It was connected with the tragical story of the unfortunate André, who had been taken prisoner hard by; and was universally known by the name of Major André’s tree. The common people regarded it with a mixture of respect and superstition, partly out of sympathy for the fate of its ill-starred namesake, and partly from the tales of strange sights, and doleful lamentations, told concerning it.
As Ichabod approached this fearful tree, he began to whistle; he thought his whistle was answered; it was but a blast sweeping sharply through the dry branches. As he approached a little nearer, he thought he saw something white, hanging in the midst of the tree: he paused and ceased whistling but, on looking more narrowly, perceived that it was a place where the tree had been scathed by lightning, and the white wood laid bare. Suddenly he heard a groan-his teeth chattered, and his knees smote against the saddle: it was but the rubbing of one huge bough upon another, as they were swayed about by the breeze. He passed the tree in safety, but new perils lay before him.
About two hundred yards from the tree, a small brook crossed the road, and ran into a marshy and thickly-wooded glen, known by the name of Wiley’s Swamp. A few rough logs, laid side by side, served for a bridge over this stream. On that side of the road where the brook entered the wood, a group of oaks and chestnuts, matted thick with wild grape-vines, threw a cavernous gloom over it. To pass this bridge was the severest trial. It was at this identical spot that the unfortunate André was captured, and under the covert of those chestnuts and vines were the sturdy yeomen concealed who surprised him. This has ever since been considered a haunted stream, and fearful are the feelings of the schoolboy who has to pass it alone after dark.
As he approached the stream, his heart began to thump; he summoned up, however, all his resolution, gave his horse half a score of kicks in the ribs, and attempted to dash briskly across the bridge; but instead of starting forward, the perverse old animal made a lateral movement, and ran broadside against the fence. Ichabod, whose fears increased with the delay, jerked the reins on the other side, and kicked lustily with the contrary foot: it was all in vain; his steed started, it is true, but it was only to plunge to the opposite side of the road into a thicket of brambles and alder bushes. The schoolmaster now bestowed both whip and heel upon the starveling ribs of old Gunpowder, who dashed forward, snuffling and snorting, but came to a stand just by the bridge, with a suddenness that had nearly sent his rider sprawling over his head. Just at this moment a plashy tramp by the side of the bridge caught the sensitive ear of Ichabod. In the dark shadow of the grove, on the margin of the brook, he beheld something huge, misshapen and towering. It stirred not, but seemed gathered up in the gloom, like some gigantic monster ready to spring upon the traveller.
The hair of the affrighted pedagogue rose upon his head with terror. What was to be done? To turn and fly was now too late; and besides, what chance was there of escaping ghost or goblin, if such it was, which could ride upon the wings of the wind? Summoning up, therefore, a show of courage, he demanded in stammering accents, “Who are you?” He received no reply. He repeated his demand in a still more agitated voice. Still there was no answer. Once more he cudgelled the sides of the inflexible Gunpowder, and, shutting his eyes, broke forth with involuntary fervor into a psalm tune. Just then the shadowy object of alarm put itself in motion, and with a scramble and a bound stood at once in the middle of the road. Though the night was dark and dismal, yet the form of the unknown might now in some degree be ascertained. He appeared to be a horseman of large dimensions, and mounted on a black horse of powerful frame. He made no offer of molestation or sociability, but kept aloof on one side of the road, jogging along on the blind side of old Gunpowder, who had now got over his fright and waywardness.
Ichabod, who had no relish for this strange midnight companion, and bethought himself of the adventure of Brom Bones with the Galloping Hessian, now quickened his steed in hopes of leaving him behind. The stranger, however, quickened his horse to an equal pace. Ichabod pulled up, and fell into a walk, thinking to lag behind,-the other did the same. His heart began to sink within him; he endeavored to resume his psalm tune, but his parched tongue clove to the roof of his mouth, and he could not utter a stave. There was something in the moody and dogged silence of this pertinacious companion that was mysterious and appalling. It was soon fearfully accounted for. On mounting a rising ground, which brought the figure of his fellow-traveller in relief against the sky, gigantic in height, and muffled in a cloak, Ichabod was horror-struck on perceiving that he was headless!-but his horror was still more increased on observing that the head, which should have rested on his shoulders, was carried before him on the pommel of his saddle! His terror rose to desperation; he rained a shower of kicks and blows upon Gunpowder, hoping by a sudden movement to give his companion the slip; but the spectre started full jump with him. Away, then, they dashed through thick and thin; stones flying and sparks flashing at every bound. Ichabod’s flimsy garments fluttered in the air, as he stretched his long lank body away over his horse’s head, in the eagerness of his flight.
They had now reached the road which turns off to Sleepy Hollow; but Gunpowder, who seemed possessed with a demon, instead of keeping up it, made an opposite turn, and plunged headlong downhill to the left. This road leads through a sandy hollow shaded by trees for about a quarter of a mile, where it crosses the bridge famous in goblin story; and just beyond swells the green knoll on which stands the whitewashed church.
As yet the panic of the steed had given his unskilful rider an apparent advantage in the chase, but just as he had got half way through the hollow, the girths of the saddle gave way, and he felt it slipping from under him. He seized it by the pommel, and endeavored to hold it firm, but in vain; and had just time to save himself by clasping old Gunpowder round the neck, when the saddle fell to the earth, and he heard it trampled under foot by his pursuer. For a moment the terror of Hans Van Ripper’s wrath passed across his mind,-for it was his Sunday saddle; but this was no time for petty fears; the goblin was hard on his haunches; and (unskilful rider that he was!) he had much ado to maintain his seat; sometimes slipping on one side, sometimes on another, and sometimes jolted on the high ridge of his horse’s backbone, with a violence that he verily feared would cleave him asunder.
An opening in the trees now cheered him with the hopes that the church bridge was at hand. The wavering reflection of a silver star in the bosom of the brook told him that he was not mistaken. He saw the walls of the church dimly glaring under the trees beyond. He recollected the place where Brom Bones’s ghostly competitor had disappeared. “If I can but reach that bridge,” thought Ichabod, “I am safe.” Just then he heard the black steed panting and blowing close behind him; he even fancied that he felt his hot breath. Another convulsive kick in the ribs, and old Gunpowder sprang upon the bridge; he thundered over the resounding planks; he gained the opposite side; and now Ichabod cast a look behind to see if his pursuer should vanish, according to rule, in a flash of fire and brimstone. Just then he saw the goblin rising in his stirrups, and in the very act of hurling his head at him. Ichabod endeavored to dodge the horrible missile, but too late. It encountered his cranium with a tremendous crash,-he was tumbled headlong into the dust, and Gunpowder, the black steed, and the goblin rider, passed by like a whirlwind.
The next morning the old horse was found without his saddle, and with the bridle under his feet, soberly cropping the grass at his master’s gate. Ichabod did not make his appearance at breakfast; dinner-hour came, but no Ichabod. The boys assembled at the schoolhouse, and strolled idly about the banks of the brook; but no schoolmaster. Hans Van Ripper now began to feel some uneasiness about the fate of poor Ichabod, and his saddle. An inquiry was set on foot, and after diligent investigation they came upon his traces. In one part of the road leading to the church was found the saddle trampled in the dirt; the tracks of horses’ hoofs deeply dented in the road, and evidently at furious speed, were traced to the bridge, beyond which, on the bank of a broad part of the brook, where the water ran deep and black, was found the hat of the unfortunate Ichabod, and close beside it a shattered pumpkin.
The brook was searched, but the body of the schoolmaster was not to be discovered. Hans Van Ripper as executor of his estate, examined the bundle which contained all his worldly effects. They consisted of two shirts and a half; two stocks for the neck; a pair or two of worsted stockings; an old pair of corduroy small-clothes; a rusty razor; a book of psalm tunes full of dog’s-ears; and a broken pitch-pipe. As to the books and furniture of the schoolhouse, they belonged to the community, excepting Cotton Mather’s “History of Witchcraft,” a “New England Almanac,” and a book of dreams and fortune-telling; in which last was a sheet of foolscap much scribbled and blotted in several fruitless attempts to make a copy of verses in honor of the heiress of Van Tassel. These magic books and the poetic scrawl were forthwith consigned to the flames by Hans Van Ripper; who, from that time forward, determined to send his children no more to school, observing that he never knew any good come of this same reading and writing. Whatever money the schoolmaster possessed, and he had received his quarter’s pay but a day or two before, he must have had about his person at the time of his disappearance.
The mysterious event caused much speculation at the church on the following Sunday. Knots of gazers and gossips were collected in the churchyard, at the bridge, and at the spot where the hat and pumpkin had been found. The stories of Brouwer, of Bones, and a whole budget of others were called to mind; and when they had diligently considered them all, and compared them with the symptoms of the present case, they shook their heads, and came to the conclusion that Ichabod had been carried off by the Galloping Hessian. As he was a bachelor, and in nobody’s debt, nobody troubled his head any more about him; the school was removed to a different quarter of the hollow, and another pedagogue reigned in his stead.
It is true, an old farmer, who had been down to New York on a visit several years after, and from whom this account of the ghostly adventure was received, brought home the intelligence that Ichabod Crane was still alive; that he had left the neighborhood partly through fear of the goblin and Hans Van Ripper, and partly in mortification at having been suddenly dismissed by the heiress; that he had changed his quarters to a distant part of the country; had kept school and studied law at the same time; had been admitted to the bar; turned politician; electioneered; written for the newspapers; and finally had been made a justice of the Ten Pound Court. Brom Bones, too, who, shortly after his rival’s disappearance conducted the blooming Katrina in triumph to the altar, was observed to look exceedingly knowing whenever the story of Ichabod was related, and always burst into a hearty laugh at the mention of the pumpkin; which led some to suspect that he knew more about the matter than he chose to tell.
The old country wives, however, who are the best judges of these matters, maintain to this day that Ichabod was spirited away by supernatural means; and it is a favorite story often told about the neighborhood round the winter evening fire. The bridge became more than ever an object of superstitious awe; and that may be the reason why the road has been altered of late years, so as to approach the church by the border of the millpond. The schoolhouse being deserted soon fell to decay, and was reported to be haunted by the ghost of the unfortunate pedagogue and the plowboy, loitering homeward of a still summer evening, has often fancied his voice at a distance, chanting a melancholy psalm tune among the tranquil solitudes of Sleepy Hollow.
POSTSCRIPT.
FOUND IN THE HANDWRITING OF MR. KNICKERBOCKER.
The preceding tale is given almost in the precise words in which I heard it related at a Corporation meeting at the ancient city of Manhattoes, at which were present many of its sagest and most illustrious burghers. The narrator was a pleasant, shabby, gentlemanly old fellow, in pepper-and-salt clothes, with a sadly humourous face, and one whom I strongly suspected of being poor-he made such efforts to be entertaining. When his story was concluded, there was much laughter and approbation, particularly from two or three deputy aldermen, who had been asleep the greater part of the time. There was, however, one tall, dry-looking old gentleman, with beetling eyebrows, who maintained a grave and rather severe face throughout, now and then folding his arms, inclining his head, and looking down upon the floor, as if turning a doubt over in his mind. He was one of your wary men, who never laugh but upon good grounds-when they have reason and law on their side. When the mirth of the rest of the company had subsided, and silence was restored, he leaned one arm on the elbow of his chair, and sticking the other akimbo, demanded, with a slight, but exceedingly sage motion of the head, and contraction of the brow, what was the moral of the story, and what it went to prove?
The story-teller, who was just putting a glass of wine to his lips, as a refreshment after his toils, paused for a moment, looked at his inquirer with an air of infinite deference, and, lowering the glass slowly to the table, observed that the story was intended most logically to prove-
“That there is no situation in life but has its advantages and pleasures-provided we will but take a joke as we find it:
“That, therefore, he that runs races with goblin troopers is likely to have rough riding of it.
“Ergo, for a country schoolmaster to be refused the hand of a Dutch heiress is a certain step to high preferment in the state.”
The cautious old gentleman knit his brows tenfold closer after this explanation, being sorely puzzled by the ratiocination of the syllogism, while, methought, the one in pepper-and-salt eyed him with something of a triumphant leer. At length he observed that all this was very well, but still he thought the story a little on the extravagant-there were one or two points on which he had his doubts.
“Faith, sir,” replied the story-teller, “as to that matter, I don’t believe one-half of it myself.” D. K.
THE END.