KHÚC THỨ TƯ.
VỊ LINH HỒN CUỐI CÙNG.
Bóng Ma lặng lẽ tiến đến, từ tốn và uy nghiêm. Khi nó tới gần, Scrooge quỳ sụp một chân xuống; bởi ngay trong chính bầu không khí mà linh hồn này lướt qua, dường như có một thứ u ám và huyền bí đang lan tỏa.
Nó khoác một lớp áo choàng đen tuyền, trùm kín đầu, kín mặt, che lấp toàn bộ thân hình, chẳng để lộ bất cứ thứ gì ngoại trừ một bàn tay vươn ra. Nếu không nhờ bàn tay ấy, thật khó lòng tách bóng dáng nó ra khỏi màn đêm, khó mà phân biệt được nó với bóng tối dày đặc bao quanh.
Scrooge cảm nhận được vóc dáng cao lớn và uy nghi của nó khi nó sánh bước bên cạnh mình, và sự hiện diện bí ẩn ấy khiến ông ngập tràn một nỗi khiếp sợ thiêng liêng. Ông không biết thêm điều gì, bởi Vị Linh Hồn không cất lời, cũng chẳng hề cử động.
“Tôi đang đứng trước Linh Hồn của Giáng Sinh Tương Lai, có phải không?” Scrooge hỏi.
Vị Linh Hồn chẳng đáp, chỉ giơ bàn tay chỉ thẳng về phía trước.
“Ngài sắp cho tôi thấy những cái bóng của những điều chưa xảy ra, nhưng rồi sẽ xảy ra trong thời gian tới,” Scrooge nói tiếp. “Có phải vậy không, thưa Ngài?”
Nếp áo choàng phía trên khẽ chùng xuống trong một khoảnh khắc, như thể Vị Linh Hồn vừa nghiêng đầu. Đó là câu trả lời duy nhất ông nhận được.
Dẫu giờ đây đã khá quen với việc sánh bước cùng những linh hồn, Scrooge vẫn sợ hãi cái hình bóng câm lặng ấy đến nỗi hai chân run lẩy bẩy, và ông thấy mình chật vật lắm mới đứng vững khi chuẩn bị bước theo nó. Vị Linh Hồn thoáng dừng lại, như thể đang quan sát tình trạng của ông, cho ông chút thời gian để trấn tĩnh.
Nhưng chính điều ấy lại khiến Scrooge càng thêm rối bời. Một nỗi kinh hoàng mơ hồ, bất định len lỏi khiến ông rùng mình, bởi ông biết rằng đằng sau tấm vải liệm mờ ảo kia, những đôi mắt ma quái đang chòng chọc nhìn mình, còn ông thì dù có trợn mắt hết cỡ, cũng chỉ thấy mỗi một bàn tay ma quái và một mớ đen ngòm.
“Linh Hồn của Giáng Sinh Tương Lai!” ông buột miệng thốt lên, “Tôi sợ Ngài hơn bất cứ linh hồn nào tôi từng giáp mặt. Nhưng vì tôi biết mục đích của Ngài là mang lại điều tốt lành cho tôi, và vì tôi hy vọng mình sẽ sống để trở thành một con người hoàn toàn khác với những gì đã qua, tôi sẵn sàng đồng hành cùng Ngài, và làm điều đó với một trái tim biết ơn. Ngài sẽ không nói chuyện với tôi ư?”
Nó vẫn không đưa ra một lời hồi đáp nào. Bàn tay vẫn chỉ thẳng về phía trước.
“Xin hãy dẫn đường!” Scrooge nói. “Xin hãy dẫn đường! Đêm đang vụt trôi nhanh lắm, và thời gian đối với tôi lúc này vô cùng quý giá, tôi biết điều đó. Dẫn đường đi, thưa Ngài!”
Vị Linh Hồn rời bước - đúng như cái cách nó đã tiến đến chỗ ông. Scrooge bước theo trong cái bóng áo choàng của nó, cái bóng dường như nâng ông lên, ông nghĩ vậy, rồi cuốn ông đi theo.
Họ chẳng cần phải đi vào thành phố; bởi thành phố cứ thế tự nhiên mọc lên vây quanh họ và bao trùm lấy họ. Thế nhưng họ đã ở đó, ngay trung tâm thành phố; trên sàn giao dịch chứng khoán1, giữa những thương gia; những kẻ hối hả đi lại, làm đồng tiền kêu leng keng trong túi, túm năm tụm ba trò chuyện, thi thoảng liếc đồng hồ, rồi lại trầm ngâm nghịch nghịch những con dấu vàng to tướng2 của mình; cùng vô vàn những việc khác, y hệt như những gì Scrooge vẫn thường chứng kiến.
Vị Linh Hồn dừng chân cạnh một nhóm nhỏ các thương gia. Nhận thấy bàn tay đang chỉ về phía họ, Scrooge tiến lại gần để lắng nghe cuộc trò chuyện.
“Không,” một người đàn ông to béo với cái cằm vĩ đại nói, “tôi chẳng biết bao nhiêu về chuyện đó, nói chung là thế. Tôi chỉ biết mỗi một điều: hắn ta đã chết rồi.”
“Hắn chết bao giờ?” một người khác hỏi.
“Đêm qua, tôi tin là vậy.”
“Chà, hắn bị làm sao thế?” người thứ ba lên tiếng, vừa lấy ra một lượng lớn thuốc lá hít từ một cái hộp rất to. “Tôi cứ tưởng hắn sẽ sống đời đời kiếp kiếp cơ chứ.”
“Có Chúa mới biết được,” người đầu tiên đáp, kèm theo một cái ngáp dài.
“Hắn xử lý đống tiền của hắn ra sao?” một quý ông mặt đỏ gay, với cái cục u lủng lẳng ở đầu mũi cứ rung rung như mào gà tây, hỏi xen vào.
“Tôi chưa nghe ngóng được gì,” gã đàn ông có chiếc cằm lớn đáp, rồi lại ngáp. “Có lẽ để lại cho công ty của hắn. Chứ của tôi thì hắn chẳng để lại đồng nào đâu. Đó là tất cả những gì tôi biết.”
Câu đùa này khiến cả bọn cười rộ lên.
“Chắc sẽ là một đám ma tiết kiệm bậc nhất,” cũng chính người vừa nãy tiếp lời; “bởi vì thề có Chúa, tôi chẳng tài nào nghĩ ra có ai sẽ bỏ công đi dự. Hay là chúng ta hẹn nhau tình nguyện đi một chuyến nhỉ?”
“Tôi chẳng ngại đi, miễn là có cung cấp bữa trưa,” quý ông có cục u trên mũi nhận xét. “Nhưng tôi phải được no bụng cái đã, nếu tôi có tham gia.”
Lại thêm một tràng cười nữa.
“Chà, xét cho cùng thì tôi là người vô tư nhất trong số các ông đấy,” kẻ nói đầu tiên cất tiếng, “bởi tôi có bao giờ đeo găng tay đen3 đâu, cũng có bao giờ đi ăn trưa đâu. Nhưng tôi cũng sẽ đề nghị đi, nếu có ai đó cùng đi với tôi. Giờ nghĩ kỹ lại, tôi cũng không chắc mình chẳng phải là người bạn đặc biệt nhất của hắn đấy; bởi vì chúng tôi vẫn thường dừng lại đôi ba câu mỗi lần chạm mặt nhau. Tạm biệt nhé!”
Những người nói lẫn kẻ nghe tản dần ra, rồi hòa lẫn vào các nhóm khác. Scrooge biết mặt những người này, và quay sang Vị Linh Hồn chờ đợi một lời giải thích.
Vị Linh Hồn lặng lẽ lướt tiếp vào một con phố. Ngón tay nó chỉ vào hai người đàn ông đang gặp nhau. Scrooge lại lắng tai nghe, đoán rằng lời giải thích có lẽ nằm ở đây.
Ông cũng biết rất rõ hai con người này. Họ đều là thương gia: giàu có bậc nhất, và có tầm ảnh hưởng lớn. Ông vẫn luôn chú trọng việc giữ gìn hình ảnh trong mắt họ - xét trên phương diện làm ăn, thuần túy chỉ là phương diện làm ăn mà thôi.
“Anh khỏe chứ?” một người hỏi.
“Anh khỏe chứ?” người kia đáp lại.
“Chà!” người đầu tiên nói. “Cuối cùng thì Quỷ Sứ cũng đòi được mạng hắn rồi nhỉ?”
“Tôi cũng nghe đồn vậy,” người thứ hai đáp lời. “Trời lạnh thật đấy, phải không?”
“Đúng kiểu thời tiết Giáng Sinh. Chắc anh không đi trượt băng nhỉ?”
“Không. Không. Còn bao nhiêu chuyện khác phải lo. Chào buổi sáng nhé!”
Chẳng thêm một lời nào nữa. Đó là cuộc gặp gỡ, cuộc trò chuyện, và cuộc chia tay của họ.
Ban đầu Scrooge có phần ngạc nhiên, tự hỏi tại sao Vị Linh Hồn lại gán cho những cuộc trò chuyện tưởng như nhạt phèo này một tầm quan trọng đến vậy; nhưng rồi cảm thấy chắc chắn rằng chúng hẳn phải ẩn chứa một mục đích sâu xa nào đó, ông bắt đầu lần mò xem mục đích ấy có thể là gì. Khó mà cho rằng chúng liên quan đến cái chết của Jacob, người cộng sự cũ của ông, bởi vụ việc ấy thuộc về Quá Khứ, còn phạm vi của Vị Linh Hồn này lại là Tương Lai. Ông cũng chẳng thể nghĩ ra người nào có mối liên hệ trực tiếp với chính mình để những lời ấy có thể áp dụng vào. Nhưng không một mảy may nghi ngờ gì rằng, dù chúng ám chỉ ai đi chăng nữa, thì cũng đều chứa đựng một bài học ngầm nào đó cho sự tiến bộ của bản thân ông, ông quyết định khắc ghi từng lời mình nghe, từng điều mình thấy; và đặc biệt là phải quan sát cho bằng được cái bóng của chính bản thân mình khi nó xuất hiện. Bởi ông ôm ấp một niềm hy vọng rằng hành vi của chính mình trong tương lai sẽ cung cấp cho ông manh mối mà ông đang thiếu, và sẽ giúp ông dễ dàng giải mã những bí ẩn này.
Ông dáo dác tìm kiếm hình ảnh của chính mình ngay tại chỗ đó; nhưng một người đàn ông khác đang đứng ở cái góc quen thuộc của ông, và dù đồng hồ đã điểm đúng cái giờ ông thường lù lù xuất hiện ở đó, ông vẫn chẳng thấy bóng dáng nào giống mình giữa dòng người tấp nập đang tuôn qua Cổng. Tuy vậy, điều đó cũng chẳng khiến ông bất ngờ cho lắm; bởi trong tâm trí ông đang ấp ủ một cuộc chuyển mình, và ông vừa nghĩ vừa hy vọng rằng mình đã thấy được những quyết tâm mới mẻ của bản thân được hiện thực hóa ngay tại nơi này.
Lặng thinh và tăm tối, Vị Linh Hồn sừng sững đứng bên cạnh ông, bàn tay vẫn vươn ra. Khi Scrooge bừng tỉnh khỏi cuộc tìm kiếm đầy suy tư của mình, ông lờ mờ nhận ra từ cách xoay chuyển của bàn tay, và từ vị trí của nó so với chính ông, rằng Đôi Mắt Vô Hình đang nhìn ông sắc lẹm. Ý nghĩ ấy khiến ông rùng mình, và cảm thấy lạnh buốt đến tận xương tủy.
Họ rời khỏi khung cảnh nhộn nhịp náo nhiệt, tiến sâu vào một khu vực tăm tối của thị trấn - nơi mà Scrooge chưa từng đặt chân đến bao giờ, dù ông thừa biết vị trí của nó cùng cái tai tiếng hết sức tồi tệ bao phủ lên nó. Những con đường chật hẹp và nhơ nhớp bẩn thỉu; những căn nhà cùng cửa tiệm tồi tàn xiêu vẹo; những con người quần áo rách tả tơi, say khướt, lôi thôi lếch thếch, nhếch nhác xấu xí. Những con hẻm hẹp và những lối đi xuyên qua mái vòm, chẳng khác nào vô số hố phân khổng lồ, liên tục ộc ra mùi hôi thối, cặn bã và thứ sự sống nhơ nhuốc xuống những con phố ngoằn ngoèo; cả khu phố nồng nặc mùi tội ác, nhơ bẩn và khốn cùng.
Nằm sâu trong hang ổ tụ tập khét tiếng ấy, dưới một mái hiên che, có một cửa tiệm mái chìa lụp xụp thấp tè - nơi chuyên thu mua sắt vụn, giẻ rách, chai lọ, xương xẩu và đồ phế thải lấm lem dầu mỡ. Bên trong, trên sàn nhà chất thành từng đống là nào chìa khóa rỉ sét, đinh, xích sắt, bản lề, dũa, cân, quả cân và đủ loại sắt vụn linh tinh khác. Những điều bí mật mà hiếm kẻ nào muốn dò xét cứ thế sinh sôi nảy nở, ẩn náu bên trong những núi giẻ rách nhơ nhớp, những đống mỡ thiu thối rữa và những nấm mồ chất đầy xương xẩu. Ngồi giữa lòng những món hàng mình kinh doanh, bên cạnh một lò than chắp vá từ đám gạch cũ kỹ, là một lão già tóc bạc trắng trông vô cùng gian xảo, trạc chừng bảy mươi tuổi; lão tự che chắn mình khỏi luồng không khí lạnh giá bên ngoài bằng một tấm rèm bẩn thỉu chắp vá đủ thứ giẻ rách treo lòng thòng trên sợi dây; lão ung dung nhả khói từ chiếc tẩu, tận hưởng sự xa hoa nơi chốn ẩn dật yên bình của riêng mình.
Scrooge và Vị Linh Hồn bước vào tầm mắt của lão già ấy, đúng ngay khoảnh khắc một người đàn bà mang theo một bọc đồ nặng nề lén lút luồn vào tiệm. Nhưng mụ vừa mới bước chân vào, thì một người đàn bà khác, cũng mang theo đồ đạc na ná như thế, bước vào theo; và bám sát gót mụ ta là một gã đàn ông mặc bộ đồ đen đã bạc màu - gã giật thót mình không kém gì sự ngạc nhiên của hai mụ đàn bà khi nhận ra nhau. Sau một thoáng lặng người ngỡ ngàng - trong đó lão già ngậm tẩu cũng ngạc nhiên không kém - cả ba kẻ cùng đồng loạt phá lên cười.
“Để bà quét dọn đến trước tiên nào!” ả vừa bước vào trước nhất kêu lên. “Để bà giặt đồ làm người thứ hai; và để gã phụ việc nhà đòn làm người thứ ba. Nhìn mà xem, lão Joe, đúng là trời cho một cơ hội! Rõ ràng cả ba bọn ta tình cờ chạm mặt nhau ở đây mà chẳng hề hẹn trước!”
“Mấy người có muốn cũng chẳng tìm được một chỗ nào tốt hơn đâu,” lão Joe đáp, rút chiếc tẩu ra khỏi miệng. “Vào phòng khách đi. Mấy người được tự do ra vào chốn này từ lâu rồi, biết đấy nhé; và hai người kia cũng có phải người lạ đâu. Chờ tao một chút để tao đóng cửa tiệm lại đã. Chậc! Nghe nó rít lên khiếp chưa kìa! Tao dám chắc ở trong chỗ này chẳng có mẩu kim loại nào rỉ sét hơn chính bản lề của cái cửa này đâu; và tao cũng dám chắc là chẳng có mớ xương xẩu nào già cỗi hơn mấy khúc xương của lão già này nữa. Ha, ha! Tất cả chúng ta đều thuận với cái nghề của mình; đúng là xứng lứa vừa đôi. Vào phòng khách đi. Vào phòng khách đi nào.”
Phòng khách là cái khoảng không gian ở đằng sau tấm bình phong chắp vá bằng giẻ rách. Lão già dùng một thanh kim loại - một cái chắn cầu thang cũ - cào mấy cục than lại với nhau, và sau khi dùng cán tẩu khều khều cho ngọn đèn dầu đang leo lét mờ mịt sáng lên (vì lúc này đang là ban đêm), lão lại ngậm chiếc tẩu vào miệng.
Trong khi lão đang làm việc này, người đàn bà vừa cất tiếng lúc nãy vứt phịch bọc đồ của mình xuống sàn, rồi ngồi phịch xuống một chiếc ghế đẩu với điệu bộ trơ trẽn; mụ chống khuỷu tay lên đầu gối và ném cái nhìn thách thức đầy xấc xược về phía hai kẻ kia.
“Thì có sao đâu chứ! Có gì đâu, bà Dilber?” người đàn bà lên tiếng. “Mỗi người đều có quyền lo cho bản thân mình cả. Hắn thì lúc nào chẳng thế.”
“Quả thật là vậy!” bà giặt đồ hùa theo. “Trên đời chẳng có ai lo cho bản thân hơn hắn đâu.”
“Thế thì, đừng có đứng đực mặt ra mà trừng mắt nhìn như thể mày đang khiếp vía thế, đồ ngốc kia; ai mà biết được cơ chứ? Tao đoán là chúng ta sẽ không đi vạch lá tìm sâu chuyện của nhau đâu nhỉ?”
“Chắc chắn là không rồi!” bà Dilber và gã đàn ông đồng thanh đáp. “Mong là không.”
“Tốt lắm!” người đàn bà kêu lên. “Thế là đủ rồi. Mất đi vài món đồ này thì ai mà thiệt hại chứ? Chắc chắn không phải là một cái xác chết rồi nhỉ.”
“Chắc chắn là không rồi,” bà Dilber vừa cười vừa nói.
“Nếu hắn muốn giữ khư khư mấy thứ này sau khi chết, cái lão già bủn xỉn độc ác đó,” người đàn bà tiếp lời, “thì sao lúc còn sống hắn không chịu cư xử cho đàng hoàng đi? Nếu hắn chịu làm thế, thì đã có người ở bên chăm sóc hắn khi cái chết ập đến, thay vì nằm đấy thở hắt ra từng hơi cuối cùng, cô độc một mình.”
“Đó là câu nói đúng nhất từng được thốt ra,” bà Dilber tán đồng. “Quả là một sự phán xét của Chúa dành cho hắn.”
“Tao còn ước sự trừng phạt phải nặng nề hơn một chút nữa cơ,” người đàn bà đáp; “và lẽ ra đã phải như thế, mấy người cứ tin đi, nếu tao mà vớ thêm được bất kỳ thứ gì khác nữa. Mở cái bọc đó ra đi, lão Joe, rồi cho tao biết nó đáng giá bao nhiêu. Nói toạc ra đi. Tao chẳng sợ làm người đầu tiên, cũng chẳng sợ cho họ thấy. Tao tin là chúng ta đều thừa biết mình đã tự lo cho bản thân ra sao, trước khi gặp mặt nhau ở đây. Điều đó có gì là tội lỗi đâu. Mở bọc đồ ra đi, Joe.”
Nhưng tinh thần ga lăng của những người bạn không cho phép mụ làm vậy; và gã đàn ông mặc bộ đồ đen đã phai màu, xông pha giành lên trước, phô bày chiến lợi phẩm của gã. Cũng chẳng có bao nhiêu nhặn gì. Một hoặc hai con dấu, một cái hộp đựng bút chì, một đôi khuy măng sét, và một chiếc trâm cài áo chẳng đáng giá là bao, chỉ có thế thôi. Lão Joe xem xét và định giá từng món một, lấy phấn viết số tiền lão sẵn sàng trả cho mỗi thứ lên tường, rồi cộng lại thành tổng khi chẳng còn gì nữa.
“Đấy là sổ sách của mày,” Joe nói, “và tao sẽ không đưa thêm một cắc bạc nào nữa, cho dù có bị người ta đem đi luộc vì từ chối trả thêm đi chăng nữa. Tiếp theo, ai đây?”
Bà Dilber là người tiếp theo. Khăn trải giường và khăn tắm, một ít quần áo đang mặc dở, hai cái thìa cà phê bằng bạc kiểu cổ, một cái kẹp đường, và vài chiếc ủng. Sổ sách của bà cũng được ghi lên tường theo đúng cách như thế.
“Tao lúc nào cũng đưa quá nhiều cho đàn bà. Đấy là điểm yếu của tao, và rồi cũng chính vì thế mà tao tự làm cho mình mạt vận mất thôi,” lão Joe nói. “Đó là phần của mày. Nếu mày còn đòi thêm một xu nào nữa, và làm toáng hết cả lên, thì tao sẽ hối hận vì mình đã quá hào phóng và bớt của mày hẳn nửa crown đấy.”
“Và giờ thì mở bọc đồ của tao ra nào, Joe,” người đàn bà đầu tiên lên tiếng.
Joe quỳ hẳn xuống sàn cho tiện việc mở bọc, và sau khi gỡ vô số nút thắt rối rắm, lão lôi ra một cuộn vải tối màu, vừa to vừa nặng.
“Mày gọi cái này là cái gì thế?” Joe hỏi. “Rèm giường4 à!”
“Á à!” người đàn bà đáp, cười và chồm người tới phía trước, hai tay khoanh lại. “Rèm giường chứ còn gì nữa!”
“Mày không định nói với tao là mày đã tháo tất cả chỗ này xuống, lấy luôn cả khuyên rèm và mọi thứ, ngay lúc hắn còn đang nằm đó đấy chứ?” Joe hỏi.
“Đúng vậy đấy,” người đàn bà đáp. “Thì tại sao lại không chứ?”
“Mày đúng là sinh ra để làm giàu mà,” Joe nói, “và mày chắc chắn sẽ giàu thôi.”
“Tao bảo đảm với mày đấy, Joe, tao chẳng ngần ngại gì mà không thò tay ra, miễn là tao có thể vơ vét được bất cứ thứ gì bằng cách đó, đối với cái hạng người như Hắn,” người đàn bà lạnh lùng đáp. “Nhớ đừng có nhỏ dầu lên mấy cái chăn đó đấy nhé.”
“Chăn của hắn à?” Joe hỏi.
“Chứ mày còn tưởng là của ai khác à?” người đàn bà đáp trả. “Tao dám cá là hắn có thiếu mấy cái chăn này cũng chẳng đến nỗi cảm lạnh được đâu.”
“Tao hy vọng là hắn không chết vì bệnh gì dễ lây nhỉ? Hả?” lão Joe vừa nói, vừa ngừng việc đang làm và ngước mắt nhìn.
“Đừng có sợ mấy chuyện đó,” người đàn bà đáp trả. “Tao cũng chẳng có hứng thú bầu bạn với hắn đến mức cứ lảng vảng quanh xác hắn nếu hắn bị mấy thứ bệnh ấy đâu. Chà! mày có nhìn xuyên qua cái áo sơ mi đó đến mỏi cả con mắt; thì cũng chẳng đời nào mày tìm ra nổi một cái lỗ thủng, hay một chỗ sờn rách nào hết. Đó là cái áo tốt nhất của hắn, lại còn là áo xịn nữa cơ. Người ta đã lãng phí nó, nếu không nhờ có tao.”
“Mày gọi thế nào là lãng phí?” lão Joe hỏi.
“Thì mặc vào cho hắn để đem đi chôn, tất nhiên là thế rồi,” người đàn bà đáp, kèm theo một tiếng cười. “Có một kẻ nào đó đã đủ ngu ngốc để làm cái việc ấy, nhưng tao đã cởi nó ra rồi. Nếu vải cotton thô không đủ tốt cho mục đích đó, thì nó cũng chẳng đủ tốt cho bất cứ việc gì khác. Nó quá hợp với một cái xác chết. Hắn cũng chẳng thể nào trông xấu xí hơn khi mặc cái áo này đâu.”
Scrooge kinh hoàng lắng nghe toàn bộ cuộc đối thoại. Khi bọn họ ngồi xúm xít lại quanh đống chiến lợi phẩm, dưới thứ ánh sáng yếu ớt leo lét từ chiếc đèn của lão già, ông nhìn họ với một sự ghê tởm và khinh miệt không gì có thể sánh bằng - cứ như thể họ là lũ quỷ dữ tục tĩu đang bâu vào mặc cả chính cái xác chết kia vậy.
“Ha, ha!” cũng chính người đàn bà ấy bật cười, khi lão Joe rút ra một chiếc túi vải dạ đựng tiền, rồi đếm từng phần chia cho từng đứa trên sàn nhà. “Mày thấy đấy, kết cục rồi cũng đến thế thôi! Lúc sống hắn xua đuổi tất thảy mọi người, để rồi khi chết đi, hắn làm lợi cho bọn ta! Ha, ha, ha!”
“Thưa Ngài!” Scrooge kêu lên, run bắn từ đầu đến chân. “Tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi. Tình cảnh của con người khốn khổ này rất có thể sẽ là chính tôi. Cuộc đời hiện tại của tôi đang lao thẳng về phía cái kết cục ấy. Lạy Chúa nhân từ, chuyện gì thế này!”
Ông lùi lại, kinh hãi tột cùng, bởi khung cảnh quanh ông đã hoàn toàn biến đổi. Giờ đây, ông gần như chạm vào một chiếc giường - một chiếc giường trơ trụi, không màn che, không rèm phủ. Trên đó, bên dưới tấm khăn trải rách rưới tả tơi, có một thứ gì được phủ kín. Dù câm lặng, nó vẫn tự cất lên tên mình bằng một thứ ngôn ngữ rùng rợn đến ghê người.
Căn phòng tối mịt, quá tối để có thể nhìn rõ bất cứ thứ gì, dẫu Scrooge đã đảo mắt quan sát theo một thôi thúc ngầm, đầy lo âu, mong biết được đây là thứ phòng gì. Một luồng sáng nhợt nhạt, le lói từ khoảng không bên ngoài, rọi thẳng xuống chiếc giường; và trên đó, bị tước đoạt, bị bỏ mặc, chẳng có ai canh thức, chẳng có ai khóc than, cũng chẳng một ai bận lòng đoái hoài, là thi hài của người đàn ông này.
Scrooge liếc nhìn Vị Linh Hồn. Bàn tay kiên định của nó đang chỉ thẳng về phía đầu giường. Tấm khăn phủ được đắp một cách hời hợt đến nỗi chỉ cần Scrooge nhấc lên một chút, khẽ động một ngón tay thôi, cũng đủ để hé lộ gương mặt bên dưới. Ông nghĩ đến điều đó, thấy hành động ấy thật dễ dàng làm sao, và lòng ông khát khao được làm điều đó biết bao; nhưng ông chẳng có đủ sức mạnh để vén tấm màn mỏng manh kia lên, cũng như chẳng thể xua đuổi nổi linh hồn đang đứng bên cạnh mình.
Ôi, Cái Chết lạnh lẽo, buốt giá, cứng đờ và đáng sợ, hãy cứ dựng bàn thờ của ngươi nơi đây, và trang hoàng nó bằng tất thảy những nỗi kinh hoàng trong tầm tay ngươi: bởi đây chính là lãnh địa của ngươi! Nhưng với một mái đầu từng được yêu thương, kính trọng, và tôn vinh, ngươi chẳng thể nào bẻ cong lấy một sợi tóc để phục vụ cho mục đích ghê rợn của mình, hay làm cho bất kỳ đường nét nào trở nên đáng ghét. Không phải bởi bàn tay kia giờ đây nặng trĩu và sẽ buông rơi khi thả lỏng; không phải bởi trái tim và mạch đập kia đã ngừng lịm hẳn; mà là vì bàn tay ấy từng mở rộng, hào phóng, và chân thành; trái tim ấy từng dũng cảm, ấm áp, và dịu dàng; và nhịp đập ấy là nhịp đập của một con người. Cứ giáng đòn đi, Hỡi Cái Bóng, cứ giáng đòn đi! Rồi hãy xem những việc làm tốt đẹp của người ấy sẽ vươn lên từ chính vết thương, để gieo mầm sự sống bất diệt khắp thế gian!
Chẳng có giọng nói nào cất lên những lời này bên tai Scrooge, vậy mà ông lại nghe thấy chúng khi cúi nhìn xuống chiếc giường. Ông tự hỏi: nếu người đàn ông này có thể sống lại ngay lúc này, thì những suy nghĩ đầu tiên của lão ta sẽ là gì? Lòng tham lam? Những phi vụ làm ăn tàn nhẫn? Những nỗi lo toan keo kiệt, bủn xỉn? Chúng quả thực đã mang đến cho lão một kết cục thật "phong phú" làm sao!
Lão nằm đó, trong ngôi nhà trống trải và tăm tối, không một người đàn ông, đàn bà, hay đứa trẻ nào lên tiếng rằng: "Lão đã tốt với tôi trong chuyện này, chuyện nọ, và để tưởng nhớ một lời tử tế, tôi sẽ đối xử tử tế lại với lão." Một con mèo đang cào cửa, và có tiếng lũ chuột gặm nhấm dưới phiến đá sưởi lò. Chúng muốn gì trong căn phòng của thần chết, và vì cớ gì mà chúng lại bồn chồn, náo động đến thế, Scrooge không dám nghĩ tới.
"Thưa Ngài!" Scrooge cất tiếng, "Đây là một nơi đáng sợ. Dù có rời khỏi đây, tôi cũng sẽ không quên bài học của nó, xin hãy tin tôi. Chúng ta đi thôi!"
Vị Linh Hồn vẫn giữ nguyên ngón tay bất động, chỉ thẳng về phía đầu giường.
"Tôi hiểu ý Ngài," Scrooge đáp, "và tôi sẽ làm điều đó, nếu tôi có thể. Nhưng tôi không có đủ sức mạnh, thưa Ngài. Tôi không có đủ sức mạnh."
Vị Linh Hồn dường như lại nhìn ông thêm một lần nữa.
"Nếu trong thị trấn này có bất kỳ ai cảm thấy xúc động trước cái chết của người đàn ông kia," Scrooge thốt lên trong niềm đau đớn tột cùng, "xin hãy cho tôi thấy người đó, thưa Ngài, tôi van xin Ngài!"
Vị Linh Hồn trải rộng chiếc áo choàng đen của nó ra trước mặt ông trong chốc lát, tựa như một đôi cánh; và khi thu lại, nó hé lộ một căn phòng chan hòa ánh sáng ban ngày, nơi có một người mẹ cùng những đứa con của cô.
Cô đang chờ đợi ai đó với nỗi háo hức pha lẫn lo âu; cô cứ đi đi lại lại khắp phòng, giật mình trước mọi âm thanh, nhìn ra ngoài cửa sổ, liếc về phía đồng hồ, cố gắng - nhưng vô ích - để tiếp tục công việc khâu vá, và khó lòng chịu đựng nổi tiếng ồn ào của lũ trẻ đang nô đùa.
Cuối cùng, tiếng gõ cửa mà cô hằng mong ngóng đã vang lên. Cô vội vã chạy ra cửa và đón chồng mình: một người đàn ông với khuôn mặt tiều tụy, chán chường, dù anh ta hãy còn trẻ. Lúc này trên gương mặt anh có một biểu cảm thật kỳ lạ - một thứ niềm vui nghiêm nghị mà chính anh cũng cảm thấy xấu hổ và đang ra sức kìm nén.
Anh ngồi xuống dùng bữa tối mà người vợ đã giữ phần cho mình bên lò sưởi; và khi cô yếu ớt cất lời hỏi anh có tin tức gì không - phải sau một hồi im lặng rất lâu cô mới dám hỏi - anh lộ vẻ bối rối, không biết phải trả lời ra sao.
"Tin tốt," cô nói, "hay tin xấu?" - cố gắng giúp chồng mình.
"Tin xấu," anh đáp.
"Chúng ta hoàn toàn phá sản rồi sao?"
"Không. Vẫn còn hy vọng, Caroline ạ."
"Nếu lão ta mủi lòng," cô thốt lên, đầy kinh ngạc, "thì đúng là còn hy vọng! Sẽ chẳng có gì là hết hy vọng nếu một phép màu như thế xảy ra."
"Lão ta không thể mủi lòng được nữa rồi," chồng cô đáp. "Lão chết rồi."
Cô vốn là một người hiền lành và nhẫn nại, nếu gương mặt cô phản ánh trung thực tâm hồn mình; nhưng trong sâu thẳm trái tim, cô cảm thấy biết ơn khi nghe tin ấy, và cô buột miệng thốt ra điều đó trong lúc hai tay đan chặt vào nhau. Ngay khoảnh khắc sau, cô vội cầu xin sự tha thứ và cảm thấy hối lỗi; nhưng cảm xúc đầu tiên mới chính là cảm xúc bật ra từ tận đáy lòng cô.
"Điều mà người đàn bà nửa say nửa tỉnh anh kể với em tối qua, khi chị ta nói với anh lúc anh cố gặp lão để xin gia hạn thêm một tuần; điều mà anh đã nghĩ chỉ là cái cớ để lão tránh mặt mình; hóa ra lại hoàn toàn là sự thật. Lúc đó lão không chỉ ốm nặng, mà còn đang hấp hối."
"Vậy khoản nợ của chúng ta sẽ được chuyển cho ai?"
"Anh không biết. Nhưng trước lúc đó chúng ta sẽ chuẩn bị đủ tiền; và ngay cả khi không đủ, thì việc tìm thấy một chủ nợ tàn nhẫn đến thế ở kẻ kế vị lão quả là một điều vô cùng xui xẻo. Đêm nay chúng ta có thể ngủ với trái tim nhẹ nhõm, Caroline à!"
Đúng vậy. Dù họ có cố xoa dịu nó thế nào đi nữa, trái tim họ vẫn nhẹ nhõm hơn. Khuôn mặt lũ trẻ, nín lặng xúm xít quanh cha mẹ để lắng nghe những điều chúng chẳng mấy hiểu, trở nên rạng rỡ hơn hẳn; và đây quả là một ngôi nhà hạnh phúc hơn nhờ chính cái chết của người đàn ông này! Cảm xúc duy nhất mà Vị Linh Hồn có thể cho ông thấy, bắt nguồn từ sự kiện ấy, lại là một niềm vui.
"Xin hãy cho tôi thấy một chút dịu dàng nào đó liên quan đến cái chết," Scrooge nói; "nếu không thì căn phòng tối tăm kia, thưa Ngài, nơi chúng ta vừa rời khỏi, sẽ mãi mãi ám ảnh tôi."
Vị Linh Hồn dẫn ông lần theo những con phố thân thuộc in dấu chân mình; dọc đường, Scrooge dáo dác tìm kiếm bản thân, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Họ bước vào ngôi nhà của Bob Cratchit tội nghiệp - căn nhà ông từng ghé thăm trước kia - và bắt gặp người mẹ cùng lũ trẻ đang quây quần bên lò sưởi.
Tĩnh lặng. Một sự tĩnh lặng đến nghẹt thở. Những đứa trẻ nhà Cratchit vốn ồn ã ngày thường, nay im phăng phắc như những pho tượng nép mình nơi góc phòng, mắt ngước nhìn Peter đang cầm cuốn sách mở ra trước mặt. Người mẹ và các cô con gái thì miệt mài kim chỉ. Nhưng sự tĩnh lặng ấy mới đáng sợ làm sao!
"Và Người đón lấy một đứa trẻ, rồi đặt nó vào giữa họ.5"
Scrooge đã nghe câu này ở đâu nhỉ? Ông không hề mơ thấy chúng. Chắc hẳn thằng bé đã đọc to lên vào lúc ông và Vị Linh Hồn vừa bước qua ngưỡng cửa. Nhưng sao nó không đọc tiếp?
Người mẹ hạ đồ khâu xuống bàn, rồi đưa một tay lên che mặt.
"Ánh sáng chói làm mẹ nhức mắt quá," bà nói.
Ánh sáng chói ư? Ôi, Tiny Tim tội nghiệp!
"Giờ đỡ hơn rồi ạ," vợ Cratchit nói tiếp. "Ngồi khâu dưới nến làm mắt mẹ yếu đi; mà mẹ thì không muốn để cha các con thấy mắt mẹ đỏ hoe khi ông ấy về nhà đâu, nhất định là không. Chắc giờ này ông ấy cũng sắp về rồi."
"Thực ra thì quá giờ một chút rồi mẹ ạ," Peter đáp, khép cuốn sách lại. "Nhưng con nghĩ mấy buổi tối gần đây cha đi bộ về nhà chậm hơn trước một chút."
Cả nhà lại chìm vào tĩnh lặng. Cuối cùng, người mẹ cất lời, giọng điềm nhiên và nhẹ nhõm, chỉ khẽ run lên đúng một lần:
"Mẹ đã từng thấy cha các con bước đi với - mẹ đã từng thấy cha các con bước đi với Tiny Tim vác trên vai, và ông ấy bước rất nhanh."
"Con cũng vậy ạ!" Peter thốt lên. "Rất nhiều lần."
"Con cũng từng thấy!" một đứa nữa kêu lên. Và tất cả lũ trẻ đều đồng thanh như thế.
"Nhưng thằng bé rất nhẹ để bế ẵm mà," bà tiếp tục, mắt vẫn chăm chú vào đường kim mũi chỉ, "và cha các con thì thương yêu nó vô cùng, nên điều đó có hề gì đâu - chẳng có gì nặng nhọc cả. Ôi, cha các con về đến cửa rồi kìa!"
Bà vội vã lao ra đón chồng; và Bob bé nhỏ, với chiếc khăn quàng cổ quấn kỹ - trời ạ, ông ấy cần nó biết bao, con người tội nghiệp! - bước vào. Ấm trà của ông đã sẵn sàng trên vỉ sưởi, và cả bọn tranh nhau xem ai sẽ là người giành phần rót trà cho cha. Rồi hai đứa trẻ nhỏ nhất nhà Cratchit leo tót lên đầu gối ông, mỗi đứa áp một bên má phúng phính vào mặt ông, cứ như muốn thủ thỉ rằng: "Đừng buồn nữa cha ơi. Đừng đau lòng nữa cha!"
Bob vui vẻ đùa với lũ trẻ, rồi trò chuyện ấm áp với cả nhà. Ông đưa mắt nhìn công việc dang dở trên bàn, và hết lời khen ngợi sự chuyên cần cùng tốc độ thoăn thoắt của vợ và các con gái. Ông bảo họ sẽ hoàn thành xong từ lâu trước ngày Chủ Nhật.
"Chủ Nhật! Vậy là hôm nay mình đã đến chỗ đó rồi phải không, Robert?" vợ ông hỏi.
"Phải rồi, mình ạ," Bob đáp. "Tôi chỉ ước gì mình cũng có thể cùng đi hôm nay. Được nhìn thấy nơi ấy xanh tươi thế nào hẳn sẽ khiến lòng mình nhẹ nhõm hơn nhiều. Nhưng mình sẽ còn ra đó thường xuyên mà. Tôi đã hứa với thằng bé là Chủ Nhật nào tôi cũng sẽ đi dạo bộ ra thăm nó. Đứa con bé bỏng của tôi, bé bỏng xiết bao!" Bob bỗng òa lên nức nở. "Đứa con bé bỏng của tôi!"
Ông suy sụp hoàn toàn ngay trong khoảnh khắc ấy. Chẳng thể nào kìm nén được nữa. Mà giá như ông có thể kìm lòng, thì e rằng tình cha con giữa ông và đứa trẻ đã phải xa cách hơn cái hiện thực phũ phàng này rồi.
Ông rời khỏi phòng khách, bước lên cầu thang, vào gian phòng phía trên - nơi đèn nến lung linh rực rỡ và được trang hoàng theo đúng không khí Giáng Sinh. Có một chiếc ghế được kê ngay sát bên đứa trẻ, và những dấu vết hãy còn cho thấy ai đó vừa mới ở đây cách đây chưa lâu. Bob tội nghiệp ngồi xuống chiếc ghế ấy, và sau một hồi suy tư rồi trấn tĩnh lại, ông cúi xuống hôn lên khuôn mặt bé nhỏ kia. Ông đã chấp nhận nỗi bất hạnh đã giáng xuống, rồi lặng lẽ bước xuống nhà, gương mặt lại trở về vẻ vui tươi thường nhật.
Cả nhà quây quần bên lò sưởi, vừa làm việc vừa trò chuyện; các cô con gái và mẹ vẫn thoăn thoắt tay kim. Bob kể cho họ nghe về lòng tốt phi thường của người cháu trai ông Scrooge - một quý ông mà Bob hầu như mới chỉ gặp đúng một lần. Người ấy, tình cờ gặp Bob trên phố hôm ấy, thấy ông có vẻ hơi - "chỉ hơi buồn một chút thôi, mọi người biết đấy," Bob bảo - đã ân cần hỏi thăm xem có chuyện chi khiến ông phiền muộn. "Thế là," Bob kể tiếp, "bởi cậu ấy thực sự là vị quý ông ăn nói dễ mến nhất mà người ta từng gặp, tôi đã thổ lộ hết với cậu ấy. 'Tôi vô cùng lấy làm tiếc về chuyện này, anh Cratchit ạ,' cậu ấy nói, 'và xin chân thành gửi lời chia buồn đến người vợ hiền của anh.' Nhân tiện, làm sao cậu ấy biết được chuyện đó thì tôi cũng chịu thôi."
"Biết chuyện gì cơ, mình?"
"Thì, biết rằng mình là một người vợ hiền ấy mà," Bob trả lời.
"Cả thiên hạ đều biết điều đó mà cha!" Peter kêu lên.
"Nhận xét tuyệt lắm, con trai!" Bob thốt lên. "Cha hy vọng là như thế. 'Xin chân thành chia buồn,' cậu ấy bảo, 'cùng người vợ hiền của anh. Nếu tôi có thể giúp được anh bất cứ điều gì,' rồi cậu ấy đưa cho tôi tấm danh thiếp, 'đây là nơi tôi cư ngụ. Xin hãy cứ đến tìm tôi.' Này mọi người ạ, điều quý giá không phải," Bob thốt lên đầy xúc động, "ở những gì cậu ấy có thể giúp chúng ta, mà chính là ở cái thái độ tử tế chân thành ấy mới thực sự đáng quý. Cảm giác như thể cậu ấy cũng từng quen biết Tiny Tim của chúng ta vậy, và đồng cảm với nỗi mất mát của gia đình mình."
"Mẹ tin chắc cậu ấy là một con người tốt bụng!" bà Cratchit nói.
"Mình sẽ còn tin chắc hơn nữa, mình yêu dấu ạ," Bob đáp lời, "nếu mình có dịp gặp gỡ và trò chuyện với cậu ấy. Tôi sẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên đâu - hãy nhớ lời tôi nói nhé! - nếu một ngày kia cậu ấy kiếm cho Peter một công việc tử tế hơn."
"Nghe rõ chưa, Peter," bà Cratchit bảo.
"Và rồi," một trong các cô con gái reo lên, "Peter sẽ bắt đầu ve vãn cô nào đó, rồi ra ở riêng thôi!"
"Thôi đi cô nương!" Peter cự lại, nhe răng cười.
"Chuyện ấy rồi sẽ đến thôi," Bob nói, "một ngày nào đó; mặc dù hãy còn nhiều thời gian cho việc ấy lắm, mình ạ. Nhưng dù sau này chúng ta có xa cách nhau đến đâu, hay vào lúc nào đi nữa, thì cha tin chắc rằng không một ai trong chúng ta sẽ quên Tiny Tim tội nghiệp - đúng không nào - hay quên đi cuộc chia ly đầu tiên này trong mái ấm của chúng ta?"
"Không bao giờ, cha ơi!" tất cả đồng thanh kêu lên.
"Và cha biết," Bob nói tiếp, "cha biết, các con thân yêu của cha, rằng mỗi khi nhớ lại em đã kiên nhẫn và dịu dàng biết bao; dẫu em chỉ là một đứa trẻ bé bỏng, thật bé bỏng; chúng ta sẽ chẳng dễ dàng cãi cọ nhau nữa, và sẽ chẳng nỡ lòng nào quên đi Tiny Tim tội nghiệp ngay trong chính lúc tranh cãi như thế."
"Không, không bao giờ, cha ơi!" tất cả lại đồng thanh đáp.
"Cha thực sự hạnh phúc," Bob bé nhỏ thốt lên, "cha thực sự hạnh phúc!"
Bà Cratchit hôn chồng, các cô con gái hôn cha, hai đứa nhỏ nhà Cratchit cũng hôn cha, và Peter thì nắm chặt lấy tay ông. Linh hồn của Tiny Tim ơi, chính bản chất trẻ thơ thiêng liêng của con đã đến từ Chúa!
"Thưa Linh Hồn," Scrooge cất lời, "có điều gì đó mách bảo tôi rằng giây phút chia tay của chúng ta đang đến rất gần. Tôi biết điều đó, nhưng chẳng hiểu vì sao. Xin hãy nói cho tôi hay: người đàn ông chúng ta thấy nằm chết kia là ai vậy?"
Linh Hồn Giáng Sinh Tương Lai lại đưa ông đi, hệt như trước - dẫu vào một thời điểm khác, Scrooge thầm nghĩ: quả thực, dường như chẳng có thứ tự nào trong những ảo ảnh về sau này, ngoại trừ sự thật rằng chúng đều nằm ở Tương Lai - đưa ông đến chốn lui tới quen thuộc của những tay thương nhân, nhưng nhất quyết không cho ông thấy bản thân mình. Đúng vậy, Vị Linh Hồn không dừng chân lại vì bất cứ điều gì, mà thẳng tiến, như thể nhắm về chính cái kết cục mà Scrooge vừa mong mỏi được thấy, cho đến khi bị lời van nài của Scrooge buộc phải dừng lại trong phút chốc.
"Cái sân trong này," Scrooge nói, "nơi chúng ta đang hối hả lướt qua, chính là nơi tôi làm việc, và đã làm việc suốt một thời gian dài. Tôi nhận ra tòa nhà kia rồi. Xin hãy cho tôi thấy tôi sẽ ra sao, trong những ngày sắp đến!"
Vị Linh Hồn dừng lại; nhưng bàn tay lại chỉ về một hướng khác.
"Ngôi nhà ở đằng kia cơ mà," Scrooge kêu lên. "Tại sao Ngài lại chỉ đi nơi khác?"
Ngón tay lạnh như băng chẳng hề mảy may lay chuyển.
Scrooge vội vã lao đến bên khung cửa sổ văn phòng của mình, nhìn vào bên trong. Vẫn là một văn phòng làm việc, nhưng không còn là của ông nữa. Đồ đạc đã đổi khác, và bóng người ngồi trên ghế kia cũng chẳng phải ông. Vị Linh Hồn vẫn kiên định chỉ tay về hướng cũ như trước.
Ông lại sánh bước theo Vị Linh Hồn, lòng thầm tự vấn tại sao và mình đang đi về đâu. Họ cứ thế đồng hành cho đến khi một cánh cổng sắt hiện ra trước mắt. Ông khựng lại, đưa mắt nhìn quanh trước lúc cất bước vào trong.
Một nghĩa trang. Thì ra là đây; kẻ bất hạnh mà giờ đây ông sắp phải biết tên, đang yên nghỉ dưới lòng đất lạnh lẽo này. Quả là một nơi xứng đáng. Bốn bề vây kín bởi những dãy nhà; cỏ dại và cây hoang lan tràn khắp lối - thứ sinh trưởng của cái chết của thực vật, chứ không phải của sự sống; ngột ngạt vì chôn cất quá nhiều người; căng ứ vì đã no nê thỏa mãn cơn đói khát. Một nơi thật xứng đáng!
Vị Linh Hồn dừng chân giữa những nấm mồ, rồi giơ tay chỉ xuống Một Ngôi Mộ. Scrooge run rẩy bước về phía ấy. Vị Linh Hồn vẫn y nguyên như trước, nhưng ông sợ hãi nhận ra mình đang nhìn thấy một ý nghĩa mới ẩn trong dáng hình trang nghiêm ấy.
“Trước khi tôi lại gần hơn tấm bia đá mà Ngài đang chỉ,” Scrooge cất tiếng, “xin Ngài hãy trả lời tôi một câu hỏi. Những điều tôi thấy đây là bóng của những điều Sẽ Xảy Ra, hay chỉ là bóng của những điều Có Thể Xảy Ra?”
Vị Linh Hồn vẫn lặng thinh, chỉ tay về phía ngôi mộ nơi nó đang đứng.
“Đường đời của mỗi con người sẽ báo trước những kết cục nhất định,” Scrooge nói, “và nếu cứ ngoan cố bước tiếp trên con đường ấy, thì những kết cục đó ắt sẽ đến. Nhưng nếu người ta đổi lối, thì kết cục cũng sẽ đổi thay. Xin hãy nói rằng những gì Ngài cho tôi thấy cũng là như vậy đi!”
Vị Linh Hồn vẫn bất động như mọi khi.
Scrooge lê từng bước nặng nhọc về phía nó, toàn thân run lẩy bẩy. Men theo ngón tay của Vị Linh Hồn, ông đọc được trên tấm bia của ngôi mộ hoang phế ấy cái tên của chính mình - Ebenezer Scrooge.

Vị Linh Hồn cuối cùng
“Có phải tôi là cái người đàn ông đã nằm trên chiếc giường kia không?” ông gào lên, quỳ sụp xuống đất.
Ngón tay chỉ từ ngôi mộ về phía ông, rồi lại chỉ ngược về phía ngôi mộ.
“Không, thưa Ngài! Ôi không, không!”
Ngón tay vẫn không hề lay chuyển.
“Thưa Ngài!” ông kêu lên thảm thiết, hai tay bám chặt lấy áo choàng của Vị Linh Hồn, “xin hãy nghe tôi! Tôi không còn là con người trước đây nữa. Tôi sẽ không trở thành cái kẻ mà lẽ ra tôi đã thành nếu không có cuộc gặp gỡ này. Sao lại cho tôi thấy tất cả những điều này, nếu như tôi đã hết sạch mọi hy vọng rồi!”
Lần đầu tiên, bàn tay kia dường như run lên.
“Linh hồn Nhân từ,” ông nói tiếp, cả thân hình gục hẳn xuống mặt đất trước Vị Linh Hồn, “bản chất của Ngài đang can thiệp để cứu giúp tôi, và thương xót cho tôi. Xin hãy bảo đảm với tôi rằng tôi vẫn còn có thể thay đổi những ảo ảnh mà Ngài đã cho tôi thấy, bằng một cuộc đời khác hẳn!”
Bàn tay nhân từ run rẩy.
“Tôi sẽ tôn vinh Giáng Sinh trong trái tim mình, và sẽ cố gắng giữ gìn tinh thần ấy suốt cả năm. Tôi sẽ sống trong Quá Khứ, trong Hiện Tại, và trong Tương Lai. Cả Ba Linh Hồn sẽ cùng phấn đấu bên trong tôi. Tôi sẽ không bao giờ gạt bỏ những bài học mà họ đã dạy. Ôi, xin hãy nói với tôi rằng tôi có thể xóa sạch những dòng chữ trên tấm bia đá này!”
Trong cơn đau đớn tột cùng, ông nắm chặt lấy bàn tay ma quái. Nó vùng vẫy cố thoát ra, nhưng Scrooge đã trở nên mạnh mẽ trong lời khẩn cầu của mình, và ông níu giữ nó lại. Vị Linh Hồn, mạnh mẽ hơn, đẩy bật ông ra.
Ông giơ hai tay lên trong một lời nguyện cầu cuối cùng, mong cho số phận mình được đảo ngược. Và rồi ông nhìn thấy một sự biến đổi trên lớp áo choàng trùm mũ của Vị Linh Hồn. Nó co rút lại, đổ sụp xuống, và thu nhỏ thành một cái cọc giường.
-
Vào thế kỷ 19 ở London, Royal Exchange (Sàn giao dịch Hoàng gia) là nơi các thương gia, nhà môi giới và doanh nhân tụ tập để bàn bạc công việc làm ăn, trao đổi tin tức và giao dịch. ↩
-
Vào thời Victoria, những người đàn ông giàu có thường mang theo đồng hồ bỏ túi có gắn dây chuyền. Trên dây chuyền này thường treo các con dấu bằng vàng dùng để đóng dấu sáp lên thư từ, được xem như một biểu tượng của sự giàu có và địa vị. ↩
-
Theo phong tục tang lễ thời Victoria, găng tay đen là trang phục bắt buộc dành cho những người đưa tang, thể hiện sự tiếc thương đối với người đã khuất. ↩
-
Vào thời đại Victoria, những chiếc giường bốn cọc thường được bao quanh bởi rèm vải dày để giữ ấm trong những đêm mùa đông giá rét, khi hệ thống sưởi trong nhà chưa phát triển. ↩
-
Đây là một câu trích dẫn từ Kinh Thánh (Phúc Âm Mark 9:36). ↩
STAVE FOUR.
THE LAST OF THE SPIRITS.
The Phantom slowly, gravely, silently, approached. When it came near him, Scrooge bent down upon his knee; for in the very air through which this Spirit moved it seemed to scatter gloom and mystery.
It was shrouded in a deep black garment, which concealed its head, its face, its form, and left nothing of it visible save one outstretched hand. But for this it would have been difficult to detach its figure from the night, and separate it from the darkness by which it was surrounded.
He felt that it was tall and stately when it came beside him, and that its mysterious presence filled him with a solemn dread. He knew no more, for the Spirit neither spoke nor moved.
“I am in the presence of the Ghost of Christmas Yet To Come?” said Scrooge.
The Spirit answered not, but pointed onward with its hand.
“You are about to show me shadows of the things that have not happened, but will happen in the time before us,” Scrooge pursued. “Is that so, Spirit?”
The upper portion of the garment was contracted for an instant in its folds, as if the Spirit had inclined its head. That was the only answer he received.
Although well used to ghostly company by this time, Scrooge feared the silent shape so much that his legs trembled beneath him, and he found that he could hardly stand when he prepared to follow it. The Spirit paused a moment, as observing his condition, and giving him time to recover.
But Scrooge was all the worse for this. It thrilled him with a vague uncertain horror, to know that behind the dusky shroud, there were ghostly eyes intently fixed upon him, while he, though he stretched his own to the utmost, could see nothing but a spectral hand and one great heap of black.
“Ghost of the Future!” he exclaimed, “I fear you more than any spectre I have seen. But as I know your purpose is to do me good, and as I hope to live to be another man from what I was, I am prepared to bear you company, and do it with a thankful heart. Will you not speak to me?”
It gave him no reply. The hand was pointed straight before them.
“Lead on!” said Scrooge. “Lead on! The night is waning fast, and it is precious time to me, I know. Lead on, Spirit!”
The Phantom moved away as it had come towards him. Scrooge followed in the shadow of its dress, which bore him up, he thought, and carried him along.
They scarcely seemed to enter the city; for the city rather seemed to spring up about them, and encompass them of its own act. But there they were, in the heart of it; on ’Change, amongst the merchants; who hurried up and down, and chinked the money in their pockets, and conversed in groups, and looked at their watches, and trifled thoughtfully with their great gold seals; and so forth, as Scrooge had seen them often.
The Spirit stopped beside one little knot of business men. Observing that the hand was pointed to them, Scrooge advanced to listen to their talk.
“No,” said a great fat man with a monstrous chin, “I don’t know much about it, either way. I only know he’s dead.”
“When did he die?” inquired another.
“Last night, I believe.”
“Why, what was the matter with him?” asked a third, taking a vast quantity of snuff out of a very large snuff-box. “I thought he’d never die.”
“God knows,” said the first, with a yawn.
“What has he done with his money?” asked a red-faced gentleman with a pendulous excrescence on the end of his nose, that shook like the gills of a turkey-cock.
“I haven’t heard,” said the man with the large chin, yawning again. “Left it to his company, perhaps. He hasn’t left it to me. That’s all I know.”
This pleasantry was received with a general laugh.
“It’s likely to be a very cheap funeral,” said the same speaker; “for upon my life I don’t know of anybody to go to it. Suppose we make up a party and volunteer?”
“I don’t mind going if a lunch is provided,” observed the gentleman with the excrescence on his nose. “But I must be fed, if I make one.”
Another laugh.
“Well, I am the most disinterested among you, after all,” said the first speaker, “for I never wear black gloves, and I never eat lunch. But I’ll offer to go, if anybody else will. When I come to think of it, I’m not at all sure that I wasn’t his most particular friend; for we used to stop and speak whenever we met. Bye, bye!”
Speakers and listeners strolled away, and mixed with other groups. Scrooge knew the men, and looked towards the Spirit for an explanation.
The Phantom glided on into a street. Its finger pointed to two persons meeting. Scrooge listened again, thinking that the explanation might lie here.
He knew these men, also, perfectly. They were men of business: very wealthy, and of great importance. He had made a point always of standing well in their esteem: in a business point of view, that is; strictly in a business point of view.
“How are you?” said one.
“How are you?” returned the other.
“Well!” said the first. “Old Scratch has got his own at last, hey?”
“So I am told,” returned the second. “Cold, isn’t it?”
“Seasonable for Christmas time. You’re not a skater, I suppose?”
“No. No. Something else to think of. Good morning!”
Not another word. That was their meeting, their conversation, and their parting.
Scrooge was at first inclined to be surprised that the Spirit should attach importance to conversations apparently so trivial; but feeling assured that they must have some hidden purpose, he set himself to consider what it was likely to be. They could scarcely be supposed to have any bearing on the death of Jacob, his old partner, for that was Past, and this Ghost’s province was the Future. Nor could he think of any one immediately connected with himself, to whom he could apply them. But nothing doubting that to whomsoever they applied they had some latent moral for his own improvement, he resolved to treasure up every word he heard, and everything he saw; and especially to observe the shadow of himself when it appeared. For he had an expectation that the conduct of his future self would give him the clue he missed, and would render the solution of these riddles easy.
He looked about in that very place for his own image; but another man stood in his accustomed corner, and though the clock pointed to his usual time of day for being there, he saw no likeness of himself among the multitudes that poured in through the Porch. It gave him little surprise, however; for he had been revolving in his mind a change of life, and thought and hoped he saw his new-born resolutions carried out in this.
Quiet and dark, beside him stood the Phantom, with its outstretched hand. When he roused himself from his thoughtful quest, he fancied from the turn of the hand, and its situation in reference to himself, that the Unseen Eyes were looking at him keenly. It made him shudder, and feel very cold.
They left the busy scene, and went into an obscure part of the town, where Scrooge had never penetrated before, although he recognised its situation, and its bad repute. The ways were foul and narrow; the shops and houses wretched; the people half-naked, drunken, slipshod, ugly. Alleys and archways, like so many cesspools, disgorged their offences of smell, and dirt, and life, upon the straggling streets; and the whole quarter reeked with crime, with filth, and misery.
Far in this den of infamous resort, there was a low-browed, beetling shop, below a pent-house roof, where iron, old rags, bottles, bones, and greasy offal, were bought. Upon the floor within, were piled up heaps of rusty keys, nails, chains, hinges, files, scales, weights, and refuse iron of all kinds. Secrets that few would like to scrutinise were bred and hidden in mountains of unseemly rags, masses of corrupted fat, and sepulchres of bones. Sitting in among the wares he dealt in, by a charcoal stove, made of old bricks, was a grey-haired rascal, nearly seventy years of age; who had screened himself from the cold air without, by a frousy curtaining of miscellaneous tatters, hung upon a line; and smoked his pipe in all the luxury of calm retirement.
Scrooge and the Phantom came into the presence of this man, just as a woman with a heavy bundle slunk into the shop. But she had scarcely entered, when another woman, similarly laden, came in too; and she was closely followed by a man in faded black, who was no less startled by the sight of them, than they had been upon the recognition of each other. After a short period of blank astonishment, in which the old man with the pipe had joined them, they all three burst into a laugh.
“Let the charwoman alone to be the first!” cried she who had entered first. “Let the laundress alone to be the second; and let the undertaker’s man alone to be the third. Look here, old Joe, here’s a chance! If we haven’t all three met here without meaning it!”
“You couldn’t have met in a better place,” said old Joe, removing his pipe from his mouth. “Come into the parlour. You were made free of it long ago, you know; and the other two an’t strangers. Stop till I shut the door of the shop. Ah! How it skreeks! There an’t such a rusty bit of metal in the place as its own hinges, I believe; and I’m sure there’s no such old bones here, as mine. Ha, ha! We’re all suitable to our calling, we’re well matched. Come into the parlour. Come into the parlour.”
The parlour was the space behind the screen of rags. The old man raked the fire together with an old stair-rod, and having trimmed his smoky lamp (for it was night), with the stem of his pipe, put it in his mouth again.
While he did this, the woman who had already spoken threw her bundle on the floor, and sat down in a flaunting manner on a stool; crossing her elbows on her knees, and looking with a bold defiance at the other two.
“What odds then! What odds, Mrs. Dilber?” said the woman. “Every person has a right to take care of themselves. He always did.”
“That’s true, indeed!” said the laundress. “No man more so.”
“Why then, don’t stand staring as if you was afraid, woman; who’s the wiser? We’re not going to pick holes in each other’s coats, I suppose?”
“No, indeed!” said Mrs. Dilber and the man together. “We should hope not.”
“Very well, then!” cried the woman. “That’s enough. Who’s the worse for the loss of a few things like these? Not a dead man, I suppose.”
“No, indeed,” said Mrs. Dilber, laughing.
“If he wanted to keep ’em after he was dead, a wicked old screw,” pursued the woman, “why wasn’t he natural in his lifetime? If he had been, he’d have had somebody to look after him when he was struck with Death, instead of lying gasping out his last there, alone by himself.”
“It’s the truest word that ever was spoke,” said Mrs. Dilber. “It’s a judgment on him.”
“I wish it was a little heavier judgment,” replied the woman; “and it should have been, you may depend upon it, if I could have laid my hands on anything else. Open that bundle, old Joe, and let me know the value of it. Speak out plain. I’m not afraid to be the first, nor afraid for them to see it. We know pretty well that we were helping ourselves, before we met here, I believe. It’s no sin. Open the bundle, Joe.”
But the gallantry of her friends would not allow of this; and the man in faded black, mounting the breach first, produced his plunder. It was not extensive. A seal or two, a pencil-case, a pair of sleeve-buttons, and a brooch of no great value, were all. They were severally examined and appraised by old Joe, who chalked the sums he was disposed to give for each, upon the wall, and added them up into a total when he found there was nothing more to come.
“That’s your account,” said Joe, “and I wouldn’t give another sixpence, if I was to be boiled for not doing it. Who’s next?”
Mrs. Dilber was next. Sheets and towels, a little wearing apparel, two old-fashioned silver teaspoons, a pair of sugar-tongs, and a few boots. Her account was stated on the wall in the same manner.
“I always give too much to ladies. It’s a weakness of mine, and that’s the way I ruin myself,” said old Joe. “That’s your account. If you asked me for another penny, and made it an open question, I’d repent of being so liberal and knock off half-a-crown.”
“And now undo my bundle, Joe,” said the first woman.
Joe went down on his knees for the greater convenience of opening it, and having unfastened a great many knots, dragged out a large and heavy roll of some dark stuff.
“What do you call this?” said Joe. “Bed-curtains!”
“Ah!” returned the woman, laughing and leaning forward on her crossed arms. “Bed-curtains!”
“You don’t mean to say you took ’em down, rings and all, with him lying there?” said Joe.
“Yes I do,” replied the woman. “Why not?”
“You were born to make your fortune,” said Joe, “and you’ll certainly do it.”
“I certainly shan’t hold my hand, when I can get anything in it by reaching it out, for the sake of such a man as He was, I promise you, Joe,” returned the woman coolly. “Don’t drop that oil upon the blankets, now.”
“His blankets?” asked Joe.
“Whose else’s do you think?” replied the woman. “He isn’t likely to take cold without ’em, I dare say.”
“I hope he didn’t die of anything catching? Eh?” said old Joe, stopping in his work, and looking up.
“Don’t you be afraid of that,” returned the woman. “I an’t so fond of his company that I’d loiter about him for such things, if he did. Ah! you may look through that shirt till your eyes ache; but you won’t find a hole in it, nor a threadbare place. It’s the best he had, and a fine one too. They’d have wasted it, if it hadn’t been for me.”
“What do you call wasting of it?” asked old Joe.
“Putting it on him to be buried in, to be sure,” replied the woman with a laugh. “Somebody was fool enough to do it, but I took it off again. If calico an’t good enough for such a purpose, it isn’t good enough for anything. It’s quite as becoming to the body. He can’t look uglier than he did in that one.”
Scrooge listened to this dialogue in horror. As they sat grouped about their spoil, in the scanty light afforded by the old man’s lamp, he viewed them with a detestation and disgust, which could hardly have been greater, though they had been obscene demons, marketing the corpse itself.
“Ha, ha!” laughed the same woman, when old Joe, producing a flannel bag with money in it, told out their several gains upon the ground. “This is the end of it, you see! He frightened every one away from him when he was alive, to profit us when he was dead! Ha, ha, ha!”
“Spirit!” said Scrooge, shuddering from head to foot. “I see, I see. The case of this unhappy man might be my own. My life tends that way, now. Merciful Heaven, what is this!”
He recoiled in terror, for the scene had changed, and now he almost touched a bed: a bare, uncurtained bed: on which, beneath a ragged sheet, there lay a something covered up, which, though it was dumb, announced itself in awful language.
The room was very dark, too dark to be observed with any accuracy, though Scrooge glanced round it in obedience to a secret impulse, anxious to know what kind of room it was. A pale light, rising in the outer air, fell straight upon the bed; and on it, plundered and bereft, unwatched, unwept, uncared for, was the body of this man.
Scrooge glanced towards the Phantom. Its steady hand was pointed to the head. The cover was so carelessly adjusted that the slightest raising of it, the motion of a finger upon Scrooge’s part, would have disclosed the face. He thought of it, felt how easy it would be to do, and longed to do it; but had no more power to withdraw the veil than to dismiss the spectre at his side.
Oh cold, cold, rigid, dreadful Death, set up thine altar here, and dress it with such terrors as thou hast at thy command: for this is thy dominion! But of the loved, revered, and honoured head, thou canst not turn one hair to thy dread purposes, or make one feature odious. It is not that the hand is heavy and will fall down when released; it is not that the heart and pulse are still; but that the hand was open, generous, and true; the heart brave, warm, and tender; and the pulse a man’s. Strike, Shadow, strike! And see his good deeds springing from the wound, to sow the world with life immortal!
No voice pronounced these words in Scrooge’s ears, and yet he heard them when he looked upon the bed. He thought, if this man could be raised up now, what would be his foremost thoughts? Avarice, hard-dealing, griping cares? They have brought him to a rich end, truly!
He lay, in the dark empty house, with not a man, a woman, or a child, to say that he was kind to me in this or that, and for the memory of one kind word I will be kind to him. A cat was tearing at the door, and there was a sound of gnawing rats beneath the hearth-stone. What they wanted in the room of death, and why they were so restless and disturbed, Scrooge did not dare to think.
“Spirit!” he said, “this is a fearful place. In leaving it, I shall not leave its lesson, trust me. Let us go!”
Still the Ghost pointed with an unmoved finger to the head.
“I understand you,” Scrooge returned, “and I would do it, if I could. But I have not the power, Spirit. I have not the power.”
Again it seemed to look upon him.
“If there is any person in the town, who feels emotion caused by this man’s death,” said Scrooge quite agonised, “show that person to me, Spirit, I beseech you!”
The Phantom spread its dark robe before him for a moment, like a wing; and withdrawing it, revealed a room by daylight, where a mother and her children were.
She was expecting some one, and with anxious eagerness; for she walked up and down the room; started at every sound; looked out from the window; glanced at the clock; tried, but in vain, to work with her needle; and could hardly bear the voices of the children in their play.
At length the long-expected knock was heard. She hurried to the door, and met her husband; a man whose face was careworn and depressed, though he was young. There was a remarkable expression in it now; a kind of serious delight of which he felt ashamed, and which he struggled to repress.
He sat down to the dinner that had been hoarding for him by the fire; and when she asked him faintly what news (which was not until after a long silence), he appeared embarrassed how to answer.
“Is it good?” she said, “or bad?”-to help him.
“Bad,” he answered.
“We are quite ruined?”
“No. There is hope yet, Caroline.”
“If he relents,” she said, amazed, “there is! Nothing is past hope, if such a miracle has happened.”
“He is past relenting,” said her husband. “He is dead.”
She was a mild and patient creature if her face spoke truth; but she was thankful in her soul to hear it, and she said so, with clasped hands. She prayed forgiveness the next moment, and was sorry; but the first was the emotion of her heart.
“What the half-drunken woman whom I told you of last night, said to me, when I tried to see him and obtain a week’s delay; and what I thought was a mere excuse to avoid me; turns out to have been quite true. He was not only very ill, but dying, then.”
“To whom will our debt be transferred?”
“I don’t know. But before that time we shall be ready with the money; and even though we were not, it would be a bad fortune indeed to find so merciless a creditor in his successor. We may sleep to-night with light hearts, Caroline!”
Yes. Soften it as they would, their hearts were lighter. The children’s faces, hushed and clustered round to hear what they so little understood, were brighter; and it was a happier house for this man’s death! The only emotion that the Ghost could show him, caused by the event, was one of pleasure.
“Let me see some tenderness connected with a death,” said Scrooge; “or that dark chamber, Spirit, which we left just now, will be for ever present to me.”
The Ghost conducted him through several streets familiar to his feet; and as they went along, Scrooge looked here and there to find himself, but nowhere was he to be seen. They entered poor Bob Cratchit’s house; the dwelling he had visited before; and found the mother and the children seated round the fire.
Quiet. Very quiet. The noisy little Cratchits were as still as statues in one corner, and sat looking up at Peter, who had a book before him. The mother and her daughters were engaged in sewing. But surely they were very quiet!
“ ‘And He took a child, and set him in the midst of them.’ ”
Where had Scrooge heard those words? He had not dreamed them. The boy must have read them out, as he and the Spirit crossed the threshold. Why did he not go on?
The mother laid her work upon the table, and put her hand up to her face.
“The colour hurts my eyes,” she said.
The colour? Ah, poor Tiny Tim!
“They’re better now again,” said Cratchit’s wife. “It makes them weak by candle-light; and I wouldn’t show weak eyes to your father when he comes home, for the world. It must be near his time.”
“Past it rather,” Peter answered, shutting up his book. “But I think he has walked a little slower than he used, these few last evenings, mother.”
They were very quiet again. At last she said, and in a steady, cheerful voice, that only faltered once:
“I have known him walk with-I have known him walk with Tiny Tim upon his shoulder, very fast indeed.”
“And so have I,” cried Peter. “Often.”
“And so have I,” exclaimed another. So had all.
“But he was very light to carry,” she resumed, intent upon her work, “and his father loved him so, that it was no trouble: no trouble. And there is your father at the door!”
She hurried out to meet him; and little Bob in his comforter-he had need of it, poor fellow-came in. His tea was ready for him on the hob, and they all tried who should help him to it most. Then the two young Cratchits got upon his knees and laid, each child a little cheek, against his face, as if they said, “Don’t mind it, father. Don’t be grieved!”
Bob was very cheerful with them, and spoke pleasantly to all the family. He looked at the work upon the table, and praised the industry and speed of Mrs. Cratchit and the girls. They would be done long before Sunday, he said.
“Sunday! You went to-day, then, Robert?” said his wife.
“Yes, my dear,” returned Bob. “I wish you could have gone. It would have done you good to see how green a place it is. But you’ll see it often. I promised him that I would walk there on a Sunday. My little, little child!” cried Bob. “My little child!”
He broke down all at once. He couldn’t help it. If he could have helped it, he and his child would have been farther apart perhaps than they were.
He left the room, and went up-stairs into the room above, which was lighted cheerfully, and hung with Christmas. There was a chair set close beside the child, and there were signs of some one having been there, lately. Poor Bob sat down in it, and when he had thought a little and composed himself, he kissed the little face. He was reconciled to what had happened, and went down again quite happy.
They drew about the fire, and talked; the girls and mother working still. Bob told them of the extraordinary kindness of Mr. Scrooge’s nephew, whom he had scarcely seen but once, and who, meeting him in the street that day, and seeing that he looked a little-“just a little down you know,” said Bob, inquired what had happened to distress him. “On which,” said Bob, “for he is the pleasantest-spoken gentleman you ever heard, I told him. ‘I am heartily sorry for it, Mr. Cratchit,’ he said, ‘and heartily sorry for your good wife.’ By the bye, how he ever knew that, I don’t know.”
“Knew what, my dear?”
“Why, that you were a good wife,” replied Bob.
“Everybody knows that!” said Peter.
“Very well observed, my boy!” cried Bob. “I hope they do. ‘Heartily sorry,’ he said, ‘for your good wife. If I can be of service to you in any way,’ he said, giving me his card, ‘that’s where I live. Pray come to me.’ Now, it wasn’t,” cried Bob, “for the sake of anything he might be able to do for us, so much as for his kind way, that this was quite delightful. It really seemed as if he had known our Tiny Tim, and felt with us.”
“I’m sure he’s a good soul!” said Mrs. Cratchit.
“You would be surer of it, my dear,” returned Bob, “if you saw and spoke to him. I shouldn’t be at all surprised-mark what I say!-if he got Peter a better situation.”
“Only hear that, Peter,” said Mrs. Cratchit.
“And then,” cried one of the girls, “Peter will be keeping company with some one, and setting up for himself.”
“Get along with you!” retorted Peter, grinning.
“It’s just as likely as not,” said Bob, “one of these days; though there’s plenty of time for that, my dear. But however and whenever we part from one another, I am sure we shall none of us forget poor Tiny Tim-shall we-or this first parting that there was among us?”
“Never, father!” cried they all.
“And I know,” said Bob, “I know, my dears, that when we recollect how patient and how mild he was; although he was a little, little child; we shall not quarrel easily among ourselves, and forget poor Tiny Tim in doing it.”
“No, never, father!” they all cried again.
“I am very happy,” said little Bob, “I am very happy!”
Mrs. Cratchit kissed him, his daughters kissed him, the two young Cratchits kissed him, and Peter and himself shook hands. Spirit of Tiny Tim, thy childish essence was from God!
“Spectre,” said Scrooge, “something informs me that our parting moment is at hand. I know it, but I know not how. Tell me what man that was whom we saw lying dead?”
The Ghost of Christmas Yet To Come conveyed him, as before-though at a different time, he thought: indeed, there seemed no order in these latter visions, save that they were in the Future-into the resorts of business men, but showed him not himself. Indeed, the Spirit did not stay for anything, but went straight on, as to the end just now desired, until besought by Scrooge to tarry for a moment.
“This court,” said Scrooge, “through which we hurry now, is where my place of occupation is, and has been for a length of time. I see the house. Let me behold what I shall be, in days to come!”
The Spirit stopped; the hand was pointed elsewhere.
“The house is yonder,” Scrooge exclaimed. “Why do you point away?”
The inexorable finger underwent no change.
Scrooge hastened to the window of his office, and looked in. It was an office still, but not his. The furniture was not the same, and the figure in the chair was not himself. The Phantom pointed as before.
He joined it once again, and wondering why and whither he had gone, accompanied it until they reached an iron gate. He paused to look round before entering.
A churchyard. Here, then; the wretched man whose name he had now to learn, lay underneath the ground. It was a worthy place. Walled in by houses; overrun by grass and weeds, the growth of vegetation’s death, not life; choked up with too much burying; fat with repleted appetite. A worthy place!
The Spirit stood among the graves, and pointed down to One. He advanced towards it trembling. The Phantom was exactly as it had been, but he dreaded that he saw new meaning in its solemn shape.
“Before I draw nearer to that stone to which you point,” said Scrooge, “answer me one question. Are these the shadows of the things that Will be, or are they shadows of things that May be, only?”
Still the Ghost pointed downward to the grave by which it stood.
“Men’s courses will foreshadow certain ends, to which, if persevered in, they must lead,” said Scrooge. “But if the courses be departed from, the ends will change. Say it is thus with what you show me!”
The Spirit was immovable as ever.
Scrooge crept towards it, trembling as he went; and following the finger, read upon the stone of the neglected grave his own name, Ebenezer Scrooge.

The Last of the Spirits
“Am I that man who lay upon the bed?” he cried, upon his knees.
The finger pointed from the grave to him, and back again.
“No, Spirit! Oh no, no!”
The finger still was there.
“Spirit!” he cried, tight clutching at its robe, “hear me! I am not the man I was. I will not be the man I must have been but for this intercourse. Why show me this, if I am past all hope!”
For the first time the hand appeared to shake.
“Good Spirit,” he pursued, as down upon the ground he fell before it: “Your nature intercedes for me, and pities me. Assure me that I yet may change these shadows you have shown me, by an altered life!”
The kind hand trembled.
“I will honour Christmas in my heart, and try to keep it all the year. I will live in the Past, the Present, and the Future. The Spirits of all Three shall strive within me. I will not shut out the lessons that they teach. Oh, tell me I may sponge away the writing on this stone!”
In his agony, he caught the spectral hand. It sought to free itself, but he was strong in his entreaty, and detained it. The Spirit, stronger yet, repulsed him.
Holding up his hands in a last prayer to have his fate reversed, he saw an alteration in the Phantom’s hood and dress. It shrunk, collapsed, and dwindled down into a bedpost.