KHÚC THỨ BA.
VỊ LINH HỒN THỨ HAI TRONG BA VỊ.
Giữa một tiếng ngáy to khỏe rền vang, lão Scrooge bừng tỉnh và ngồi thẳng dậy trên giường để thu xếp ý nghĩ. Chẳng cần ai nhắc, lão cũng tự biết rằng tiếng chuông lại sắp điểm một giờ. Lão cảm thấy mình đã tỉnh dậy đúng thời điểm, với một mục đích rất rõ ràng - diện kiến vị sứ giả thứ hai được Jacob Marley gửi đến. Thế nhưng, khi lão bắt đầu tự hỏi Vị Linh Hồn mới này sẽ vén bức rèm nào lên, một cơn lạnh buốt bất chợt chạy dọc sống lưng. Thế là lão tự tay gạt hết rèm sang một bên, rồi nằm xuống trở lại, dựng nên một vòng canh gác sắc lẹm quanh chiếc giường của mình. Bởi lão quyết định sẽ đón đầu Vị Linh Hồn ngay khoảnh khắc ngài xuất hiện - lão không muốn bị bất ngờ mà phát hoảng lên.
Những quý ông thuộc tuýp phóng khoáng, vốn luôn tự hào rằng mình thông thạo dăm ba kiểu cách và cực kỳ nhạy bén trước thời cuộc, thường thích phô trương năng lực phiêu lưu rộng lớn của mình bằng những tuyên bố rằng họ sẵn sàng đối mặt với bất cứ thứ gì, từ trò tung đồng xu cho đến tội ngộ sát. Mà quả thật, giữa hai thái cực ấy là cả một khoảng chủ đề bao la và toàn diện đến mức đáng nể. Tôi thì không dám mạo hiểm mà mạnh miệng thay cho lão Scrooge đến thế, nhưng tôi chẳng ngại mời các bạn tin rằng lão đã chuẩn bị tinh thần để đón nhận cả một vùng trời mênh mông của những hiện tượng lạ kỳ, và rằng chẳng có thứ gì - từ một đứa bé sơ sinh cho đến một con tê giác - có thể làm lão ngạc nhiên thêm được nữa.
Thế nhưng lúc này đây, dù đã sẵn sàng đón nhận gần như mọi thứ, lão lại hoàn toàn không chuẩn bị cho tình huống… chẳng có gì xảy ra cả. Và thế là khi chuông điểm Một giờ mà chẳng thấy bóng hình nào hiện ra, một cơn run rẩy dữ dội bỗng ập đến với lão. Năm phút trôi qua, rồi mười phút, rồi mười lăm phút - vẫn tuyệt nhiên không thấy gì. Suốt quãng thời gian ấy, lão nằm trên giường, ngay giữa tâm điểm của một luồng ánh sáng đỏ rực. Thứ ánh sáng ấy đã đổ xuống giường lão ngay khi đồng hồ vừa điểm giờ, và vì cũng chỉ là ánh sáng thôi, nó lại đáng báo động hơn cả tá bóng ma. Bởi lão hoàn toàn bất lực, không sao hiểu nổi nó mang ý nghĩa gì hay sắp sửa làm gì. Thậm chí đôi lúc lão còn sợ rằng chính vào khoảnh khắc này, lão có thể đang là một ca "tự bốc cháy" vô cùng thú vị, mà chẳng được an ủi bằng cách biết trước về nó. Tuy nhiên, cuối cùng thì lão cũng bắt đầu nghĩ - như bạn hoặc tôi hẳn đã nghĩ ra ngay từ đầu; bởi người không ở trong hoàn cảnh khốn đốn thì luôn biết rõ điều gì lẽ ra nên làm, và chắc chắn cũng sẽ làm ngay như vậy - vâng, cuối cùng thì tôi xin nói, lão bắt đầu nghĩ rằng nguồn gốc và bí mật của luồng sáng ma quái này có lẽ nằm ở căn phòng bên cạnh. Từ đó, qua quan sát kỹ hơn, ánh sáng dường như đang thực sự phát ra. Khi ý nghĩ ấy đã chiếm trọn tâm trí, lão rón rén trở dậy và lê đôi dép lê của mình ra phía cửa.
Ngay khoảnh khắc tay lão Scrooge vừa chạm vào ổ khóa, một giọng nói kỳ lạ cất lên gọi tên lão và bảo lão hãy bước vào. Lão tuân lời.
Đó chính là căn phòng của lão, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng nó đã trải qua một cuộc biến đổi đến kinh ngạc. Tường và trần nhà được bao phủ bởi những cành lá xanh tươi tốt, trông hệt như một khu rừng nhỏ hoàn mỹ. Từ mọi ngóc ngách, những chùm quả mọng sáng bóng lấp la lấp lánh. Những chiếc lá giòn của cây nhựa ruồi, tầm gửi và thường xuân phản chiếu ánh sáng lên khắp nơi, tựa hồ có vô vàn tấm gương tí hon được rải rác ở đó. Và một ngọn lửa khổng lồ đang gầm vang, bốc lên cuồn cuộn trong lò sưởi. Ngọn lửa ấy lớn đến nỗi - cái lò sưởi hóa thạch xỉn màu kia chưa bao giờ biết đến một thứ như vậy, suốt thời lão Scrooge, thời Marley, hay trong biết bao mùa đông trước đó nữa. Chất đống ngổn ngang trên sàn nhà, tạo thành một dạng ngai vàng đồ sộ, là gà tây, ngỗng quay, thịt rừng, thịt gia cầm, thịt lợn muối, những tảng thịt nướng khổng lồ, những chú lợn sữa, những vòng xúc xích dài ngoằng, bánh nướng nhân thịt băm, bánh pudding mận, những thùng hàu đầy ắp, hạt dẻ nóng hổi, táo đỏ hồng như má đào, những quả cam mọng nước, lê ngọt lịm thơm nức, những chiếc bánh khổng lồ dành cho đêm thứ mười hai1, và những bát rượu punch sủi bọt lăn tăn, khiến cả căn phòng mờ ảo trong làn hơi thơm ngào ngạt của chúng. Ngự trị uy nghi trên chiếc tràng kỷ lộng lẫy này là một Người Khổng Lồ vui vẻ, rạng rỡ đến chói lòa. Ngài mang theo một ngọn đuốc rực sáng, có hình dáng chẳng khác gì chiếc sừng Sung Túc huyền thoại2, và giương nó lên, lên thật cao, để thứ ánh sáng ấy tràn ngập lên lão Scrooge khi lão thò mặt qua khe cửa mà nhìn trộm.
"Vào đi!" Vị Linh Hồn vang giọng. "Vào đi! và hãy biết ta rõ hơn nào, Scrooge!"
Lão Scrooge rụt rè bước vào, rồi cúi gằm mặt trước Vị Linh Hồn. Lão đã không còn là một Scrooge ngoan cố như trước nữa. Và dù đôi mắt của Vị Linh Hồn trong trẻo và nhân từ, lão vẫn không dám chạm ánh nhìn với ngài.
"Ta là Linh hồn của Giáng Sinh Hiện Tại," Vị Linh Hồn cất tiếng. "Hãy nhìn ta!"
Lão Scrooge kính cẩn làm theo. Ngài khoác trên mình một chiếc áo choàng xanh lá cây rất đỗi giản dị, viền lông thú trắng. Tấm áo choàng khoác lên dáng người một cách hờ hững, để lộ trọn bộ ngực vạm vỡ trần trụi, như thể ngài khinh thường việc phải che giấu hay bảo vệ thân thể mình bằng bất kỳ thứ giả tạo nào. Đôi chân của ngài, dưới những nếp gấp rộng rãi của tà áo, cũng để trần; và trên đầu ngài chẳng đội thứ gì khác ngoài một vòng hoa nhựa ruồi, điểm xuyết đây đó vài trụ băng lấp lánh. Mái tóc xoăn màu nâu sẫm của ngài dài và bồng bềnh, tự do như chính khuôn mặt phúc hậu, ánh mắt lấp lánh, đôi bàn tay rộng mở, giọng nói vui tươi, phong thái không chút gò bó và dáng vẻ hân hoan tràn trề của ngài. Quấn quanh bụng ngài là một chiếc vỏ kiếm cổ kính, nhưng bên trong chẳng có thanh kiếm nào, và lớp vỏ xưa cũ ấy đã bị rỉ sét ăn mòn gần hết.

Vị Khách Thứ Ba của Scrooge
"Anh chưa từng gặp ai giống ta trước đây phải không!" Vị Linh Hồn thốt lên.
"Chưa từng," lão Scrooge đáp lại.
"Chưa từng dạo bước cùng những thành viên trẻ hơn trong gia đình ta sao? Ý ta là - vì ta còn rất trẻ - những người anh lớn của ta sinh ra trong những năm gần đây ấy?" Bóng ma nói tiếp.
"Tôi không nghĩ là mình đã từng," lão Scrooge đáp. "Tôi e là chưa. Ngài có nhiều anh em không, thưa Linh Hồn?"
"Hơn một ngàn tám trăm," Vị Linh Hồn đáp.
"Một gia đình đông đúc khủng khiếp để mà chu cấp!" lão Scrooge lẩm bẩm.
Linh hồn của Giáng Sinh Hiện Tại đứng dậy.
"Thưa Linh Hồn," lão Scrooge ngoan ngoãn thưa, "xin hãy dẫn tôi đi bất cứ đâu ngài muốn. Đêm qua tôi đã ra ngoài vì bị ép buộc, và tôi đã học được một bài học đang ngày một thấm thía. Đêm nay, nếu ngài có bất cứ điều gì muốn dạy tôi, xin hãy để tôi được hưởng lợi từ nó."
"Hãy chạm vào áo choàng của ta!"
Lão Scrooge làm theo lời ngài, và bám chặt lấy chiếc áo.
Cây nhựa ruồi, tầm gửi, quả mọng đỏ, thường xuân, gà tây, ngỗng, thịt rừng, thịt gia cầm, thịt muối, thịt lợn, xúc xích, hàu, bánh nướng, bánh pudding, trái cây, và rượu punch - tất cả tan biến trong khoảnh khắc. Căn phòng biến mất. Ngọn lửa biến mất. Ánh sáng rực hồng cũng biến mất. Và giờ phút đêm đen kia cũng chẳng còn, để rồi họ đứng giữa những con phố trong thành phố vào một buổi sáng Giáng Sinh. Ở đây, vì thời tiết khắc nghiệt, người ta đang cạo tuyết khỏi vỉa hè trước cửa nhà mình. Tiếng cào vang lên thứ nhạc thô ráp mà lanh lảnh, nhưng chẳng hề khó chịu chút nào. Trên những mái nhà, lũ con trai khoái chí vô cùng khi trông thấy tuyết rơi lộp bộp xuống mặt đường bên dưới, rồi vỡ tung thành những cơn bão tuyết nhỏ nhân tạo.
Mặt tiền các ngôi nhà nom khá tối tăm, và những ô cửa sổ còn tối hơn thế, hằn lên trên nền tuyết trắng mịn phủ trên mái cùng lớp tuyết bẩn hơn bên dưới mặt đất. Lớp tuyết dưới này đã bị bánh xe ngựa và xe kéo nặng nề cày thành những rãnh sâu. Những rãnh ấy đan chéo vào nhau hàng trăm lần ở những chỗ phố lớn rẽ nhánh, tạo nên một mạng lưới rãnh nước rối rắm khôn lường giữa lớp bùn vàng đặc quánh và nước đá buốt giá. Bầu trời ảm đạm, và những con phố ngắn nhất thì bị bóp nghẹt trong màn sương mù xám xịt, nửa tan nửa đóng băng. Những hạt nặng hơn của nó rơi xuống như một trận mưa hạt bồ hóng, cứ như thể tất thảy ống khói trên khắp Vương quốc Anh đã đồng lòng bén lửa, và giờ thì đang cháy rực rỡ thỏa thích. Chẳng có gì ở khí hậu và thị trấn này thực sự vui vẻ, ấy thế mà khắp nơi lại tràn ngập một bầu không khí hân hoan đến độ ngay cả bầu không khí mùa hè trong trẻo nhất và mặt trời mùa hè rực rỡ nhất cũng chẳng cách nào lan tỏa nổi.
Bởi lẽ, những người đang xúc tuyết trên nóc nhà đều vui vẻ và tràn đầy niềm phấn khởi. Họ í ới gọi nhau qua lan can, và đôi lúc trao đổi một quả cầu tuyết đùa nghịch - một thứ vũ khí thiện chí hơn nhiều so với biết bao lời trêu ghẹo suông. Họ cười sảng khoái nếu ném trúng, và cũng cười chẳng kém sảng khoái nếu ném trượt. Mấy cửa hàng bán thịt gia cầm vẫn còn mở nửa chừng, còn các cửa hàng bán trái cây thì rạng rỡ trong vinh quang của mình. Những chiếc giỏ hạt dẻ to tròn, bụng phệ, mang hình thù y hệt chiếc áo gi-lê của mấy ông già vui tính, lăn lông lốc ra ngoài cửa và ngả ngớn ra tận mặt đường trong sự sung túc phồn thực của chúng. Có những củ Hành Tây Tây Ban Nha đỏ au, mặt nâu, béo ngậy, tỏa rạng rỡ nhờ độ chín mọng như thể những Tu sĩ Tây Ban Nha, từ trên kệ cứ nháy mắt ranh mãnh với mấy cô gái đi ngang qua, rồi lại bẽn lẽn liếc nhìn cành tầm gửi treo lơ lửng trên cao. Có những quả lê và táo, chất thành từng gò cao trĩu quả; có những chùm nho, nhờ lòng hảo tâm của chủ tiệm, được treo lủng lẳng trên những chiếc móc thật nổi bật, khiến bao người đi ngang qua phải thèm thuồng nhỏ dãi miễn phí; có những đống hạt phỉ, phủ rêu phong nâu sẫm, qua mùi hương mà gợi nhớ về những cuộc dạo chơi trong rừng rất mực xa xưa, và về những bước chân lạo xạo êm ái lún sâu trong đống lá khô; có những quả táo Norfolk Biffins3, lùn tịt và ngăm đen, làm nổi bật sắc vàng của cam và chanh, và bên trong thân hình chắc nịch mọng nước của chúng, dường như có tiếng khẩn khoản thiết tha van xin được mang về nhà trong những chiếc túi giấy và thưởng thức sau bữa tối. Đến cả lũ cá vàng và cá bạc, được trưng bày giữa đám trái cây thượng hạng này trong một chiếc bát thủy tinh, dẫu thuộc về một giống loài chậm chạp và máu lạnh, cũng tỏ vẻ như thể chúng biết có điều gì đó đang diễn ra. Và cứ như một con cá, chúng lững lờ há miệng bơi vòng quanh thế giới tí hon của mình trong một niềm phấn khích chậm rãi mà vô hồn.
Những người Bán tạp hóa! Ôi, những người Bán tạp hóa! Tiệm họ gần như đã đóng cửa, có lẽ chỉ còn một hoặc hai cánh cửa chớp sập xuống; nhưng qua những khe hở ấy, ôi những cảnh tượng! Không chỉ là tiếng chiếc cân đập xuống quầy vang lên vui tai, hay cuộn dây bện và con lăn tách nhau ra lanh lẹ, hay những hộp kẹo rỗng va vào nhau loảng xoảng như đang tung hứng, hay thậm chí là mùi hương pha trộn của trà và cà phê xoa dịu cánh mũi. Cũng chẳng phải vì nho khô quá đỗi dồi dào và quý hiếm, hạnh nhân quá đỗi trắng ngần, cành quế quá dài và thẳng tắp, các loại gia vị khác quá thơm ngon, hay trái cây đóng hộp đông đặc và lấm tấm đường tan chảy đến nỗi làm những kẻ bàng quan lạnh lùng nhất cũng phải ngất ngây rồi phát ngấy. Cũng không phải vì quả sung ướt át và mọng nước, hay vì quả mận Pháp e ấp nét chua chua trong những chiếc hộp chạm trổ cầu kỳ, hay vì tất thảy mọi thứ đều ngon lành và đang khoác lên mình bộ áo Giáng Sinh. Mà là vì những người mua hàng đều quá vội vã và háo hức trước niềm hy vọng tràn trề của ngày hôm nay, đến nỗi họ va vào nhau chốn cửa tiệm, vung vẩy những chiếc giỏ mây điên cuồng, rồi bỏ quên đồ đã mua trên quầy, và lại chạy quay về để lấy, và phạm đủ thứ sai sót tương tự, trong một tâm trạng tuyệt vời hết mức có thể. Trong khi đó, người Bán tạp hóa cùng đám phụ việc của ông ta thật thà và tươi tắn đến nỗi những trái tim lấp lánh ánh kim nơi họ buộc tạp dề ra đằng sau có khi chính là trái tim thật của họ, đeo ra ngoài cho toàn thiên hạ chiêm ngưỡng, và cho lũ quạ Giáng Sinh mổ vào nếu chúng thích.
Nhưng chẳng mấy chốc, các tháp chuông ngân vang gọi tất thảy những con người tử tế đến nhà thờ. Họ lũ lượt kéo nhau đi, đổ xô qua các con phố trong những bộ quần áo đẹp nhất và với những gương mặt tươi vui nhất. Cùng lúc ấy, từ vô vàn phố phụ, ngõ hẻm và những lối rẽ không tên tuổi, hiện ra vô số những con người đang mang bữa tối của mình đến các tiệm bánh mì. Cảnh tượng những người nghèo khó mà vui vẻ này dường như khiến Vị Linh Hồn vô cùng thích thú, bởi ngài đã dừng chân cùng lão Scrooge bên một cửa tiệm bánh, và mở nắp nồi khi những người mang chúng đi ngang qua, rồi rắc hương liệu lên bữa tối của họ từ chính ngọn đuốc của mình. Và quả là một ngọn đuốc lạ lùng, vì một đôi lần khi có lời qua tiếng lại giận dữ giữa vài người mang bữa tối lỡ va phải nhau, ngài chỉ nhỏ vài giọt từ ngọn đuốc ấy lên họ, thế là ngay lập tức niềm vui của họ được khôi phục trở lại. Bởi họ bảo rằng, cãi nhau vào Ngày Giáng Sinh quả là một điều xấu hổ. Và đúng là thế thật! Lạy Chúa, đúng là thế!
Rồi đến lúc tiếng chuông thôi ngân, và các tiệm bánh mì lần lượt khép cửa. Ấy vậy mà vẫn còn lưu lại một dư ảnh lờ mờ về tất thảy những bữa tối ấy cùng tiến trình nấu nướng của chúng, trong những vệt ướt nhòe tan chảy trên từng chiếc lò nướng bánh. Nơi vỉa hè bốc khói nghi ngút, cứ như thể chính những viên đá lát đường kia cũng đang được nấu chín.
"Có một hương vị đặc biệt nào trong thứ ngài rắc từ ngọn đuốc của ngài không?" lão Scrooge hỏi.
"Có. Của riêng ta."
"Nó có dùng được cho bất kỳ loại bữa tối nào vào ngày này không?" lão Scrooge hỏi.
"Cho bất kỳ bữa tối nào được mang đến bằng tấm lòng. Nhất là cho một bữa tối nghèo nàn."
"Tại sao lại là bữa tối nghèo nàn nhất?" lão Scrooge hỏi.
"Vì nó cần điều đó nhất."
"Thưa Linh Hồn," lão Scrooge nói, sau một thoáng suy tư, "tôi lấy làm lạ rằng ngài, giữa tất thảy những sinh thể ở bao thế giới vây quanh chúng ta, lại muốn hạn chế cơ hội tận hưởng niềm vui hồn nhiên của những con người này."
"Ta sao!" Vị Linh Hồn kêu lên.
"Ngài tước đi của họ phương tiện ăn uống vào đúng mỗi ngày chúa nhật, thường là ngày duy nhất họ có thể được coi là được ăn uống tử tế," lão Scrooge nói. "Có phải vậy không?"
"Ta sao!" Vị Linh Hồn lại kêu lên.
"Ngài tìm cách đóng cửa những nơi này vào Ngày Chúa Nhật?" lão Scrooge nói. "Và điều đó rốt cuộc cũng chỉ dẫn đến một kết quả mà thôi."
"Ta tìm cách ư!" Vị Linh Hồn thốt lên.
"Xin thứ lỗi cho tôi nếu tôi có sai. Điều đó vẫn được thực hiện nhân danh ngài, hoặc ít nhất là nhân danh gia đình ngài," lão Scrooge đáp.
"Có một số kẻ trên trái đất này của anh," Vị Linh Hồn trả lời, "những kẻ tự xưng là biết chúng ta, và nhân danh chúng ta mà thực hiện những hành động dục vọng thấp hèn, kiêu ngạo, ác ý, hận thù, ghen tị, cố chấp và ích kỷ - những kẻ xa lạ với chúng ta và toàn thể họ hàng thân thích của chúng ta, xa lạ như thể chúng chưa từng hiện hữu trên đời. Hãy ghi nhớ điều đó, và đổ lỗi cho hành động của chúng lên đầu chúng, chứ không phải lên đầu chúng ta."
Lão Scrooge hứa sẽ ghi nhớ. Rồi họ lại tiếp tục cuộc hành trình, vô hình như trước, hướng về vùng ngoại ô của thị trấn. Vị Linh Hồn sở hữu một phẩm chất đặc biệt đáng chú ý - lão Scrooge đã từng quan sát thấy ở cửa hàng bánh mì - ấy là dẫu thân hình đồ sộ khổng lồ, ngài vẫn có thể dễ dàng thu mình để thích nghi với bất kỳ nơi nào. Và ngài đứng dưới một mái nhà thấp cũng duyên dáng và toát lên vẻ siêu nhiên y hệt như thể ngài đang hiện diện trong một đại sảnh cao vút nào đó.
Và có lẽ chính niềm vui của Vị Linh Hồn nhân hậu khi phô diễn quyền năng này, hoặc cũng có thể bản tính hào sảng, ấm áp và đầy trắc ẩn của ngài dành cho hết thảy những người nghèo khổ, đã dẫn ngài đi thẳng đến căn nhà của người thư ký cho lão Scrooge. Ngài đã tới đó, và mang theo lão Scrooge đang bám rịt lấy vạt áo choàng của ngài. Ngay nơi ngưỡng cửa, Vị Linh Hồn mỉm cười, dừng chân ban phước cho tổ ấm của Bob Cratchit bằng cách rảy vài giọt nước từ ngọn đuốc của ngài. Thử nghĩ mà xem! Bản thân Bob chỉ kiếm được mười lăm "Bob"4 một tuần - vào mỗi chiều thứ Bảy, anh chỉ bỏ túi vỏn vẹn mười lăm đồng tiền mang chính cái tên thánh của mình; ấy vậy mà Linh Hồn của Giáng Sinh Hiện Tại vẫn giáng phúc xuống căn nhà bốn gian của anh!
Thế rồi bà Cratchit, vợ của Bob Cratchit, đứng dậy. Bà ăn vận giản dị trong chiếc váy đã lộn trái một lần, nhưng lại rạng rỡ với những dải ruy băng chỉ tốn vỏn vẹn sáu xu - vừa rẻ lại vừa trông hết sức lộng lẫy. Bà trải khăn bàn, với sự phụ giúp của Belinda Cratchit, cô con gái thứ hai, cũng nổi bật với những dải ruy băng rực rỡ. Cùng lúc đó, Cậu chủ Peter Cratchit đâm một chiếc nĩa vào nồi khoai tây, và khéo léo nhét hai góc cổ áo khổng lồ của mình - tài sản riêng của Bob, được cha ban lại cho đứa con trai đích tôn nhân dịp lễ - vào trong miệng, lòng hân hoan vì thấy mình bảnh bao xiết bao, và khao khát được khoe bộ đồ lanh của mình ở những công viên thời thượng. Rồi hai đứa nhỏ nhà Cratchit, một trai một gái, xé rào chạy ùa vào, réo lên rằng bên ngoài tiệm bánh chúng đã đánh hơi thấy mùi ngỗng, và nhận ra đó chính là con ngỗng của nhà mình. Đắm chìm trong những mơ mộng xa hoa về cây xô thơm và củ hành tây, hai đứa nhỏ nhảy nhót quanh bàn, tung hô Cậu chủ Peter Cratchit lên tận mây xanh. Còn cậu - chẳng hề tự kiêu chút nào, dù chiếc cổ áo suýt bóp nghẹt cậu - vẫn miệt mài thổi lửa, cho đến khi những củ khoai tây chậm chín nổi bong bóng sùng sục, gõ lộp bộp vào vung nồi như đòi được vớt ra và lột vỏ.
"Cái gì đã níu chân người cha yêu dấu của các con vậy?" bà Cratchit cất tiếng. "Còn cả em Tiny Tim của các con nữa! Còn Martha thì đã nửa tiếng trôi qua như Giáng Sinh năm ngoái rồi, giờ này vẫn chưa thấy về!"
"Martha đây rồi, mẹ ơi!" một cô gái lên tiếng, xuất hiện ngay khi vừa dứt lời.
"Martha đây rồi, mẹ ơi!" hai đứa nhỏ nhà Cratchit reo vang. "Hoan hô! Có một con ngỗng tuyệt vời lắm, Martha ơi!"
"Trời phù hộ con, con yêu, sao con về muộn thế này!" bà Cratchit thốt lên, hôn cô đến cả chục cái, vừa sốt sắng gỡ khăn choàng và mũ bonnet cho cô.
"Tụi con có khối việc phải xong đêm qua," cô gái đáp, "và sáng nay lại phải dọn dẹp nữa, mẹ à!"
"Ồ! Chẳng sao cả, miễn là con đã về đến nhà," bà Cratchit nói. "Ngồi xuống bên lò sưởi sưởi ấm đi con yêu, Trời phù hộ con!"
"Không! Không! Cha đang về kìa!" hai đứa nhỏ nhà Cratchit đồng thanh réo lên, chúng dường như có mặt ở khắp mọi nơi cùng một lúc. "Trốn đi, Martha, trốn đi!"
Thế là Martha lẩn đi, và anh Bob nhỏ bé - người cha - bước vào. Chiếc khăn quàng cổ dài ít nhất ba feet của anh, không tính phần tua rua, thõng xuống phía trước. Bộ quần áo sờn cũ được vá víu và chải chuốt cẩn thận để hợp với ngày lễ. Và trên vai anh là bé Tiny Tim. Than ôi cho Tiny Tim, cậu bé phải chống một chiếc nạng nhỏ, còn chân tay thì bó trong một bộ khung sắt để nâng đỡ!
"Sao, Martha của chúng ta đâu rồi?" Bob Cratchit kêu lên, đảo mắt nhìn quanh.
"Con bé không về," bà Cratchit đáp.
"Không về ư!" Bob buột miệng, tinh thần bỗng sụp hẳn xuống; bởi anh đã làm ngựa chiến cho Tim suốt cả chặng đường từ nhà thờ về, và đã về đến nhà với tâm thế vô cùng phấn chấn. "Không về vào Ngày Giáng Sinh sao!"
Martha chẳng nỡ thấy cha thất vọng, dù chỉ là lời nói đùa. Thế là cô bé vội vàng chạy ra từ sau cánh cửa tủ, ùa vào vòng tay cha, trong khi hai đứa nhỏ nhà Cratchit xúm vào đẩy bé Tiny Tim, khiêng cậu vào gian nhà giặt, để cậu có thể nghe thấy tiếng bánh pudding xèo xèo trong chiếc nồi đồng.
"Thế bé Tim có ngoan không?" bà Cratchit hỏi, sau khi đã trêu chọc Bob vì tội cả tin, và Bob đã ôm con gái mình vào lòng thỏa thuê.
"Ngoan như vàng," Bob đáp, "và còn ngoan hơn thế nữa. Chẳng hiểu sao thằng bé cứ hay suy tư, ngồi lặng lẽ một mình quá nhiều, rồi nghĩ ra những điều lạ lùng nhất mà con từng được nghe. Nó bảo anh, lúc trên đường về nhà, rằng nó hy vọng mọi người sẽ nhìn thấy nó trong nhà thờ, bởi nó là một kẻ què quặt, và biết đâu điều đó sẽ khiến họ dễ chịu hơn khi nhớ lại - vào Ngày Giáng Sinh - ai đã khiến những kẻ ăn mày què quặt bước đi được, và những kẻ mù lòa trông thấy ánh sáng."
Giọng Bob nghẹn ngào khi kể cho họ nghe những lời ấy, và còn run rẩy hơn nữa khi anh nói thêm rằng Tiny Tim đang lớn lên mạnh khỏe và cứng cáp.
Tiếng nạng nhỏ của cậu bé gõ nhịp trên sàn nhà, và Tiny Tim quay trở lại trước khi ai kịp thốt thêm lời nào. Cậu được anh trai và chị gái hộ tống đến chiếc ghế đẩu bên cạnh lò sưởi. Còn Bob - tội nghiệp anh, như thể tay áo anh còn có thể tồi tàn hơn được nữa - xắn tay áo lên, pha một thứ hỗn hợp nóng trong bình với rượu gin và chanh, rồi khuấy đều và đặt lên bếp lửa cho sôi liu riu. Cậu chủ Peter cùng hai đứa nhỏ nhà Cratchit, vốn có mặt ở khắp mọi nơi, đi lấy ngỗng và chẳng mấy chốc đã long trọng rước về.
Một cuộc nhốn nháo nổi lên đến nỗi bạn có thể tưởng rằng ngỗng là giống chim quý hiếm nhất trần đời - một hiện tượng lông vũ mà so với nó, thiên nga đen cũng chỉ là chuyện tầm thường. Và quả thực, trong căn nhà này, nó đúng là như vậy. Bà Cratchit làm nước thịt - đã chuẩn bị sẵn trong một chiếc xoong nhỏ - sôi xèo xèo. Cậu chủ Peter nghiền khoai tây với một sinh lực phi thường. Cô Belinda làm ngọt nước sốt táo. Martha lau bụi cho những chiếc đĩa nóng. Bob đỡ Tiny Tim ngồi sát bên mình ở một góc nhỏ của bàn ăn. Hai đứa nhỏ nhà Cratchit kê ghế cho tất cả mọi người, không quên cả bản thân chúng, rồi đứng canh gác ngay vị trí của mình, nhét thìa vào miệng, kẻo chúng lại bật ra réo đòi ngỗng trước khi đến lượt được chia phần. Cuối cùng món ăn được dọn lên, và mọi người cùng đọc lời cầu nguyện. Tiếp đó là một khoảng lặng đến nín thở khi bà Cratchit, chăm chú nhìn dọc theo lưỡi dao thái thịt, chuẩn bị cắm nó vào phần ức ngỗng. Nhưng khi bà làm vậy, và khi dòng nhân thơm phức được mong đợi từ lâu tuôn trào ra, một tiếng rì rầm vui sướng đồng loạt dậy lên khắp mặt bàn. Thậm chí cả bé Tiny Tim, bị kích động bởi hai đứa nhỏ nhà Cratchit, cũng dùng cán dao gõ lên bàn và khẽ reo lên: "Hoan hô!"
Chưa từng có một con ngỗng nào được như thế. Bob tuyên bố rằng anh không tin trên đời từng có một con ngỗng nấu chín nào đạt đến tầm cỡ ấy. Độ mềm mại, hương vị, kích thước lẫn cái giá rẻ mạt của nó - tất cả đều trở thành đề tài để mọi người thi nhau ca tụng. Dùng kèm với sốt táo và khoai tây nghiền, nó tạo thành một bữa tối no nê cho cả đại gia đình. Quả thực, như bà Cratchit đã nhận xét với một niềm hân hoan tột độ - khi nhìn ngắm mảnh xương nhỏ xíu còn sót lại trên đĩa - rốt cuộc họ cũng chưa thể ăn hết! Vậy mà ai nấy đều đã no khan, và đặc biệt là mấy đứa nhỏ nhất nhà Cratchit, miệng dính đầy xô thơm và hành tây lên tận chân mày! Nhưng giờ đây, khi đĩa bàn đã được Cô Belinda thay đi, bà Cratchit rời khỏi phòng một mình - quá hồi hộp đến nỗi không muốn có ai chứng kiến - để lấy chiếc bánh pudding ra và bưng vào.
Lỡ như nó chưa đủ chín thì sao! Lỡ như nó vỡ tan ra khi lật ngược ra đĩa thì sao! Lỡ như có kẻ nào đó đã trèo qua bức tường sân sau và cuỗm mất nó trong lúc mọi người đang say sưa với con ngỗng - một giả thiết khiến hai đứa nhỏ nhà Cratchit tái xanh mặt mày! Đủ mọi thứ khủng khiếp đều được tưởng tượng ra.
Ồ! Nhiều hơi nước quá! Bánh pudding đã được nhấc ra khỏi nồi đồng. Một mùi hương hệt như ngày giặt giũ! Đó là tấm khăn vải. Một mùi hương hệt như một quán ăn và một tiệm bánh ngọt nằm sát cạnh nhau, kèm thêm cả một tiệm giặt ủi ngay bên cạnh nữa! Đó chính là bánh pudding! Nửa phút sau, bà Cratchit bước vào - mặt đỏ bừng nhưng nở một nụ cười đầy tự hào - bưng trên tay chiếc bánh pudding, trông hệt như một viên đạn đại bác lốm đốm, tròn trịa và chắc nịch, rực cháy trong một nửa của một phần tư lít rượu brandy bốc lửa, và trên đỉnh cắm một cành nhựa ruồi Giáng Sinh điểm tô.
Ôi, một chiếc bánh pudding tuyệt diệu làm sao! Bob Cratchit tuyên bố - và bằng một giọng hết sức điềm tĩnh - rằng anh coi đây là thành công lớn nhất mà bà Cratchit đạt được kể từ ngày họ kết hôn. Bà Cratchit đáp rằng, giờ đây đã trút được gánh nặng trong lòng, bà xin thú thật là bà đã từng có những nghi ngờ nhất định về lượng bột mì. Ai nấy đều có đôi điều để nói về chiếc bánh, nhưng không một ai nói hay thậm chí nghĩ rằng đó là một chiếc bánh pudding quá nhỏ đối với một đại gia đình. Bảo thế thì đúng là một sự báng bổ trắng trợn. Bất cứ thành viên nào trong gia đình Cratchit cũng sẽ đỏ bừng mặt lên nếu có ai dám ám chỉ một điều như vậy.
Cuối cùng thì bữa tối cũng xong xuôi. Khăn trải bàn được dọn đi, lò sưởi được quét tước sạch sẽ, và ngọn lửa được khơi lên cao. Hỗn hợp nóng trong bình đã được nếm thử và được công nhận là hoàn hảo. Táo và cam được bày lên bàn, và một xẻng đầy hạt dẻ được đem ra nướng trên lửa. Rồi cả gia đình Cratchit túm tụm quanh lò sưởi, tạo thành thứ mà Bob Cratchit gọi là "một vòng tròn" - thực chất chỉ là nửa vòng tròn mà thôi. Ngay kế bên khuỷu tay Bob Cratchit là bộ sưu tập đồ thủy tinh của gia đình: hai chiếc ly uống nước, và một chiếc cốc đựng sữa trứng không quai.
Nhưng những chiếc ly ấy đựng thứ đồ uống nóng hổi từ bình cũng ngon lành chẳng kém gì những chiếc ly bằng vàng ròng. Và Bob phục vụ nó với ánh mắt rạng ngời, trong khi hạt dẻ trên bếp lửa nổ lách tách vui tai. Rồi Bob cất lời:
"Giáng Sinh An Lành cho tất cả chúng ta, các con yêu quý. Chúa ban phước cho chúng ta!"
Cả gia đình đồng thanh hưởng ứng.
"Chúa ban phước cho mỗi người chúng ta!" bé Tiny Tim nói sau cùng.
Cậu bé ngồi sát ngay bên cha trên chiếc ghế đẩu nhỏ của mình. Bob nắm lấy bàn tay gầy guộc nhỏ xíu của cậu, như thể anh yêu thương đứa trẻ quá đỗi, chỉ muốn giữ cậu bé mãi bên mình, và lo sợ rằng ai đó có thể mang cậu đi mất.
"Thưa Linh Hồn," lão Scrooge cất tiếng, với một mối bận tâm mà lão chưa từng cảm thấy bao giờ, "xin hãy nói cho tôi biết liệu thằng bé Tiny Tim có sống hay không."
"Ta thấy một chỗ trống," Vị Linh Hồn đáp, "nơi góc lò sưởi nghèo nàn kia, và một chiếc nạng vô chủ, được cất giữ cẩn thận. Nếu những bóng hình này không bị Tương Lai thay đổi, đứa trẻ sẽ chết."
"Không, không," lão Scrooge kêu lên. "Ôi không, thưa Linh Hồn nhân từ! Xin ngài hãy nói rằng nó sẽ được dung thứ."
"Nếu những bóng hình này không bị Tương Lai thay đổi, chẳng còn một ai khác trong dòng giống của ta," Vị Linh Hồn đáp lời, "sẽ tìm thấy thằng bé ở chốn này nữa. Vậy thì sao? Nếu nó có khả năng phải chết, thà nó chết đi còn hơn, để làm giảm bớt cái số dân thừa thãi kia."
Lão Scrooge cúi gằm mặt xuống khi nghe chính những lời của mình bị Vị Linh Hồn nhắc lại, và lòng tràn ngập hối hận cùng đau buồn.
"Hỡi con người kia," Vị Linh Hồn nói tiếp, "nếu trái tim ngươi là trái tim con người, chứ không phải sỏi đá, thì hãy kìm nén thứ ngôn ngữ đạo đức giả độc ác ấy lại cho đến khi ngươi khám phá ra Thế Nào là Thừa Thãi, và nó nằm ở Đâu. Ngươi sẽ quyết định ai được sống, ai phải chết ư? Có lẽ, dưới mắt của Trời, ngươi còn vô giá trị và ít xứng đáng được sống hơn hàng triệu con người giống như đứa con của người đàn ông nghèo khổ này. Ôi, lạy Chúa! Một con Côn Trùng trên chiếc lá lại ngồi phán xét về sự sống quá nhiều giữa những người anh em đang đói khát của nó nơi cát bụi!"
Lão Scrooge cúi rạp người trước lời khiển trách của Vị Linh Hồn, run rẩy dán mắt xuống mặt đất. Nhưng lão lập tức ngẩng lên khi nghe thấy tên mình.
"Ông Scrooge!" Bob cất tiếng. "Tôi xin nâng ly chúc ông Scrooge, Người Sáng Lập Bữa Tiệc này!"
"Sáng Lập Bữa Tiệc cái nỗi gì!" bà Cratchit kêu lên, đỏ mặt tía tai. "Tôi ước gì có lão ta ở đây. Tôi sẽ cho lão một tràng những suy nghĩ của tôi để mà mở tiệc, và tôi hy vọng lão sẽ có hứng thú mà ăn ngon miệng."
"Mình à," Bob khẽ nhắc, "có các con ở đây! Hôm nay là Ngày Giáng Sinh mà."
"Chắc chắn phải là Ngày Giáng Sinh rồi," bà đáp, "thì người ta mới đi nâng ly chúc sức khỏe một gã đàn ông đáng ghét, keo kiệt, cứng nhắc, vô cảm như Ngài Scrooge. Em biết rõ lão ta lắm, Robert ạ! Mà không ai biết rõ hơn anh đâu, tội nghiệp anh!"
"Mình ơi," Bob ôn tồn đáp, "hôm nay là Ngày Giáng Sinh mà."
"Tôi sẽ nâng ly chúc lão ta vì anh và vì Ngày Lễ," bà Cratchit nói, "chứ không phải vì bản thân lão ta. Chúc lão ta sống lâu! Một Giáng Sinh an lành và một năm mới hạnh phúc! Lão ta sẽ rất vui vẻ và rất hạnh phúc, tôi chẳng nghi ngờ gì về điều đó cả!"
Lũ trẻ cũng lần lượt uống chúc mừng theo mẹ chúng. Đó là hành động đầu tiên của chúng thiếu đi sự chân thành trọn vẹn. Tiny Tim là người uống cuối cùng, nhưng cậu bé chẳng bận tâm chút nào. Lão Scrooge chính là Chằn tinh của gia đình. Cái tên lão vừa nhắc đến đã phủ xuống bữa tiệc một bóng đen u ám, kéo dài trọn vẹn năm phút mới tan biến.
Sau khi bóng đen tan đi, họ còn vui vẻ gấp mười lần trước đó, đơn giản chỉ vì họ cảm thấy nhẹ nhõm khi cái tên Scrooge Tai Ác kia đã trôi qua. Bob Cratchit kể cho mọi người nghe rằng anh đã để ý đến một vị trí cho Cậu chủ Peter, và nếu thành công, vị trí ấy sẽ mang về trọn vẹn năm shilling sáu xu mỗi tuần. Hai đứa nhỏ nhà Cratchit cười khúc khích trước viễn cảnh Peter trở thành một thương gia. Còn chính Peter thì đăm chiêu nhìn ngọn lửa qua kẽ hở giữa hai góc cổ áo, như thể đang cân nhắc xem mình sẽ ưu tiên khoản đầu tư đặc biệt nào khi bắt đầu nhận được số tiền hoa mắt ấy. Martha, một cô thợ học việc nghèo ở tiệm mũ, kể cho mọi người nghe về loại công việc cô phải làm, bao nhiêu tiếng đồng hồ liền một mạch, và cô định sáng mai sẽ nằm dài trên giường để ngủ một giấc thật đã đời - bởi ngày mai là ngày lễ cô được ở nhà. Cô còn kể rằng mình đã trông thấy một vị Bá tước Phu nhân và một vị Lãnh chúa cách đây vài hôm, và vị Lãnh chúa ấy "cũng chỉ cao tầm Peter mà thôi." Nghe đến đó, Peter kéo thẳng cổ áo lên cao đến nỗi nếu bạn có mặt ở đấy, bạn sẽ chẳng thể nào trông thấy đầu cậu nữa. Suốt khoảng thời gian ấy, hạt dẻ và bình rượu nóng liên tục được chuyền tay nhau. Và chẳng mấy chốc, họ cùng hát một bài - bài hát về một đứa trẻ đi lạc trong tuyết - do Tiny Tim cất giọng. Cậu bé có một chất giọng nhỏ nhắn, ai oán, và cậu hát rất hay.
Chẳng có gì nổi bật trong chuyện này cả. Họ không phải là một gia đình xinh đẹp. Họ chẳng ăn mặc bảnh bao. Giày dép của họ còn xa mới gọi là chống thấm nước. Quần áo của họ thì thiếu thốn đủ đường. Và Peter có lẽ đã biết - thậm chí rất có thể đã biết - bên trong một tiệm cầm đồ trông như thế nào. Nhưng họ hạnh phúc, họ biết ơn, họ mãn nguyện với nhau và hài lòng với khoảnh khắc hiện tại. Và khi hình bóng họ nhạt dần, rồi trông còn hạnh phúc hơn nữa trong những giọt ánh sáng lấp lánh rắc xuống từ ngọn đuốc của Vị Linh Hồn vào giây phút chia tay, lão Scrooge vẫn dán mắt nhìn theo họ - đặc biệt là Tiny Tim - cho đến tận khoảnh khắc cuối cùng.
Trời dần tối, tuyết rơi mỗi lúc một dày; và khi lão Scrooge cùng Vị Linh Hồn rảo bước qua các con phố, ánh lửa rực hồng hắt ra từ những gian bếp, phòng khách, đủ mọi loại phòng ốc - cảnh tượng ấy quả là kỳ diệu. Chỗ này, ánh lửa lung linh phô bày cảnh tượng người ta đang sửa soạn một bữa tối ấm cúng, với những đĩa thức ăn được hơ nóng kỹ càng bên bếp lò, và những tấm rèm đỏ thẫm sẵn sàng buông xuống ngăn cái lạnh cùng bóng đêm. Chỗ kia, lũ trẻ trong nhà đang ùa cả ra nền tuyết để đón những người chị, người anh đã lập gia đình, nào anh chị em họ, nào chú bác cô dì, và tranh nhau cái vinh dự được là người đầu tiên chào đón họ. Lại chỗ này, bóng những vị khách đang tề tựu in hằn lên rèm cửa sổ; và đằng kia nữa, một nhóm thiếu nữ xinh xắn, tất cả đều đội mũ trùm và đi ủng lông, đang ríu rít chuyện trò, nhẹ bước đến nhà một người láng giềng gần gũi; và ở nơi đó - khốn khổ thay cho gã độc thân nào trông thấy các nàng bước vào - những ả phù thủy ranh ma ấy, họ biết tỏng điều đó mà - trong một vầng sáng rực rỡ!
Ấy thế nhưng, cứ dựa vào số lượng người đang trên đường đến những cuộc sum họp bạn bè, bạn sẽ dễ tưởng rằng chẳng có ai ở nhà để đón họ khi họ ghé thăm, thay vì thực tế rằng mỗi ngôi nhà đều đang mong khách, và chất củi lên lò sưởi cao ngất gần nửa chiều cao ống khói. Xin chúc phúc cho điều đó, Vị Linh Hồn đã hân hoan biết bao! Ngài đã ưỡn căng bộ ngực lực lưỡng của mình như thế nào, và giang rộng đôi tay đồ sộ, rồi lướt qua, vung vãi bằng đôi tay hào phóng một niềm vui tươi sáng và vô hại lên hết thảy mọi vật trong tầm với của ngài! Thậm chí cả người thắp đèn đường, đang chạy vượt lên trước để chấm những đốm sáng vào con phố mờ tối, và cả gã ăn vận bảnh bao kia đang định đi đâu đó buổi tối, cũng phá lên cười khi Vị Linh Hồn lướt ngang qua - dù anh chàng thắp đèn kia có biết đâu rằng còn ai bầu bạn với ngài ngoài chính Giáng Sinh!
Và giờ đây, chẳng một lời báo trước nào từ Vị Linh Hồn, họ đã đứng trên một vùng đất hoang sơ, hiu quạnh, nơi những khối đá thô nhám khổng lồ nằm ngổn ngang, cứ như thể đó là bãi chôn cất của những gã khổng lồ vậy; nước thì tràn lan bất cứ chốn nào nó muốn - hoặc đáng lẽ đã thế - nếu sương giá không giam hãm nó lại; và chẳng thứ gì mọc nổi ngoài rêu, cây kim tước và lớp cỏ dại xơ xác. Nơi tít phía tây, mặt trời lặn đã để sót lại một vệt ửng đỏ như lửa, cau có lườm xuống cảnh hoang tàn ấy trong chốc lát, hệt như một con mắt đầy hờn dỗi, rồi cau mày thấp dần, thấp dần, thấp hơn nữa, cho đến khi chìm khuất trong sự u ám sâu dày của màn đêm đen kịt nhất.
"Đây là nơi nào?" lão Scrooge hỏi.
"Một nơi của những người thợ mỏ sinh sống, những kẻ lao động trong lòng đất," Vị Linh Hồn đáp. "Nhưng họ biết ta. Hãy nhìn kìa!"
Một tia sáng từ ô cửa sổ của một túp lều tỏa ra, và họ nhanh chóng tiến về phía ấy. Xuyên qua bức tường bằng bùn và đá, họ nhìn thấy một nhóm người đang vui vẻ quây quần quanh ngọn lửa rực hồng. Một ông lão, một bà lão, cùng con cái họ, rồi con cái của con cái họ, và thêm một thế hệ nữa sau đó - tất cả đều ăn mặc sặc sỡ trong những bộ lễ phục ngày hội. Ông lão, với chất giọng ít khi nào cất cao hơn tiếng gió rít bên ngoài vùng đất cằn cỗi, đang hát cho họ nghe một bài ca Giáng Sinh - một bài hát rất cũ có từ thời ông còn là một cậu bé - và thỉnh thoảng tất cả đều hòa chung vào điệp khúc. Chắc chắn rằng mỗi lần họ cất giọng lên, ông lão lại trở nên vô cùng phấn khởi và cất tiếng hát vang; và cũng chắc chắn như vậy, mỗi khi họ ngưng lời, sinh khí của ông lại chùng xuống trông thấy.
Vị Linh Hồn không nán lại chốn này, mà bảo lão Scrooge bám lấy áo choàng của ngài, rồi vượt qua vùng đất hoang, lao vút đi - về đâu đây? Có phải là ra biển? Ra biển. Nỗi kinh hoàng tràn ngập lão Scrooge, khi ngoái nhìn lại, lão thấy mảnh đất cuối cùng - một dải đá gớm ghiếc - đang lùi khuất đằng sau; và tai lão điếc đặc đi vì tiếng sấm gầm của nước biển, khi những cơn sóng cuộn trào, gầm thét và phẫn nộ giữa những hang hốc đáng sợ mà chúng đã đục khoét ra, rồi hung hãn tìm cách phá hủy mặt đất.
Trên một dải đá ngầm u ám, cách bờ chừng một dặm - nơi nước biển suốt năm hoang dại bào mòn và vỗ đập - sừng sững một ngọn hải đăng đơn độc. Những đống rong biển khổng lồ bám đầy quanh chân tháp, và lũ chim bão - hẳn người ta sẽ nghĩ chúng sinh ra từ gió, cũng như rong biển sinh ra từ nước - bay lên rồi sà xuống quanh ngọn hải đăng, tựa hồ những con sóng mà chúng vụt lướt qua.
Ấy vậy mà, ngay tại nơi này, hai người đàn ông canh giữ ngọn đèn biển đã nhóm lên một bếp lửa. Qua ô cửa nhỏ trên bức tường đá dày, ngọn lửa ấy hắt ra một tia sáng rực rỡ trên mặt biển dữ dội kia. Họ bắt tay nhau qua chiếc bàn gồ ghề nơi họ đang ngồi, rồi chúc nhau Giáng Sinh An Lành bằng những lon rượu grog5 của mình; và một trong hai người - kẻ lớn tuổi hơn, mang trên khuôn mặt đầy những vết thương và vết sẹo do thời tiết khắc nghiệt, trông hệt một bức tượng ở mũi một con tàu cũ - đã cất lên một bài hát mạnh mẽ, mà bản thân bài hát ấy tựa hồ một Cơn Bão.
Vị Linh Hồn lại lao vút đi, bay bên trên vùng biển đen ngòm và cuộn trào - đi mãi, đi mãi - cho đến khi, như ngài nói với lão Scrooge, họ đã cách xa bất kỳ bờ biển nào. Rồi họ hạ xuống một con tàu. Họ đứng bên người bẻ lái ở bánh lái, người gác ở mũi tàu, những viên sĩ quan đang đổi ca trực; những hình bóng tối tăm, mờ ảo ở từng vị trí của họ; ấy thế nhưng, mỗi một người đàn ông trong số họ đều đang khe khẽ ngân nga một điệu nhạc Giáng Sinh, hoặc đang có một ý nghĩ về Giáng Sinh, hoặc đang thì thầm với người bạn đồng hành bên cạnh về một Ngày Giáng Sinh nào đó đã xa, cùng với những niềm hy vọng hướng về quê nhà. Và mỗi một người trên con tàu, dù đang thức hay đang ngủ, dù tốt hay xấu, đều dành cho nhau những lời lẽ tử tế hơn vào ngày hôm ấy so với bất kỳ ngày nào khác trong năm; họ chia sẻ ở một chừng mực nào đó những sinh hoạt lễ hội của ngày ấy; và nhớ đến những người thân yêu nơi phương xa, đồng thời biết rằng những người ấy cũng vui mừng khi nhớ đến họ.
Lão Scrooge đã vô cùng sửng sốt, khi đang lắng nghe tiếng gió than gào và suy tưởng về việc di chuyển xuyên qua bóng tối tịch mịch trên một vực thẳm vô định - nơi mà độ sâu của nó cất giấu những bí mật thăm thẳm chẳng kém gì Cái Chết - thật là một việc hết sức trang nghiêm: lão Scrooge đã vô cùng sửng sốt, ngay trong lúc đang mải suy tư như vậy, lại nghe vẳng đến một tràng cười sảng khoái. Lão còn sửng sốt gấp bội khi nhận ra đó là tiếng cười của chính đứa cháu trai mình; và nhìn quanh, lão thấy mình đang ở trong một căn phòng sáng sủa, khô ráo và lấp lánh, với Vị Linh Hồn đứng bên cạnh đang mỉm cười, nhìn người cháu trai ấy bằng ánh mắt thân thiện đầy tán thưởng!
"Ha, ha!" cháu trai lão Scrooge cười lớn. "Ha, ha, ha!"
Nếu như bạn, bởi một cơ may không thể ngờ tới nào đó, có quen biết một người được Trời phú cho tiếng cười dồi dào hơn cả cháu trai lão Scrooge, thì tôi chỉ có thể nói rằng, tôi cũng rất muốn được quen biết người ấy. Hãy giới thiệu anh ta với tôi, và tôi sẽ vun đắp tình bạn với anh ta.
Quả là một sự điều tiết công bằng, cân đối và cao thượng của tạo hóa, rằng trong khi bệnh tật và nỗi buồn có thể lây lan, thì trên thế gian này chẳng có thứ gì dễ lây lan một cách mãnh liệt cho bằng tiếng cười và sự vui vẻ hân hoan. Khi cháu trai lão Scrooge cười theo cái kiểu ấy - ôm bụng, lắc lư cái đầu và vặn vẹo khuôn mặt thành những nét biểu cảm cường điệu hết mức - thì cháu dâu lão Scrooge, cũng cười sảng khoái không kém gì chồng mình. Và những người bạn đang tề tựu ở đó cũng chẳng hề thua kém chút nào, đều cười rống lên đầy hào sảng.
"Ha, ha! Ha, ha, ha, ha!"
"Bác ấy bảo Giáng Sinh là một trò bịp bợm, thề có Chúa!" cháu trai lão Scrooge kêu lên. "Và bác ấy còn tin vào điều đó nữa chứ!"
"Càng đáng hổ thẹn cho bác ấy, Fred à!" cháu dâu lão Scrooge nói, đầy phẫn nộ. Cầu Chúa phù hộ cho những người phụ nữ; họ chẳng bao giờ làm điều gì nửa vời. Họ luôn luôn dốc hết lòng mình.
Cô ấy rất xinh đẹp: cực kỳ xinh đẹp. Với khuôn mặt bầu bĩnh điểm lúm đồng tiền, trông cứ như đang ngạc nhiên về một điều gì đó; chiếc miệng nhỏ xinh chúm chím, dường như sinh ra là để được hôn - và chắc chắn là đúng như vậy rồi; đủ mọi nốt chấm duyên dáng li ti quanh cằm, tan hòa vào nhau khi nàng cười; và đôi mắt long lanh rạng rỡ nhất mà bạn từng thấy trên gương mặt bất kỳ tạo vật bé nhỏ nào. Nói tóm lại, nàng là kiểu người mà bạn sẽ gọi là có nét khiêu khích, bạn biết đấy; nhưng cũng rất đỗi vừa lòng. Ôi, hoàn toàn vừa lòng.
"Bác ấy là một ông già khôi hài," cháu trai lão Scrooge nói, "điều đó là sự thật; và tính tình không mấy dễ chịu như bác ấy lẽ ra nên có. Tuy nhiên, những trò gây khó chịu của bác ấy tự chúng đã mang theo hình phạt rồi, và cháu chẳng có gì để nói chống lại bác ấy cả."
"Em dám chắc là bác ấy rất giàu có, Fred," cháu dâu lão Scrooge gợi ý. "Ít nhất thì anh vẫn luôn nói với em như thế."
"Thì đã sao nào, em yêu!" cháu trai lão Scrooge đáp. "Sự giàu sang có ích lợi gì cho bác ấy đâu. Bác ấy chẳng làm được việc gì tốt đẹp với nó cả. Bác ấy cũng chẳng làm cho bản thân mình được thoải mái với nó. Và bác ấy cũng chẳng có được chút hài lòng nào khi nghĩ rằng - ha, ha, ha! - rồi sẽ có ngày bác ấy mang lại lợi ích cho CHÚNG TA bằng chính cái gia tài ấy."
"Cháu chẳng có lấy một chút kiên nhẫn nào với bác ấy hết," cháu dâu lão Scrooge nhận xét. Các chị em gái của cháu dâu lão Scrooge, cùng tất cả các quý cô khác, đều đồng loạt bày tỏ ý kiến như vậy.
"Ồ, còn anh thì có!" cháu trai lão Scrooge nói. "Anh thấy thương cho bác ấy; anh không thể giận bác ấy dù có cố. Ai là người phải chịu đựng những ý thích kỳ quặc của bác ấy? Chính bản thân bác ấy, lúc nào cũng vậy. Này nhé, bác ấy có thành kiến với chúng ta, và bác ấy không đến dùng bữa tối với chúng ta. Kết quả là gì? Bác ấy cũng chẳng mất mát bao nhiêu chỉ vì một bữa tối."
"Thực ra mà nói, em nghĩ bác ấy đã bỏ lỡ một bữa tối hết sức ngon lành," cháu dâu lão Scrooge ngắt lời. Tất cả mọi người khác cũng đều nói vậy, và họ phải được thừa nhận là những giám khảo đầy thẩm quyền, bởi họ vừa mới dùng bữa tối xong; và lúc này, với món tráng miệng bày sẵn trên bàn, họ đang quây quần bên ngọn lửa, dưới ánh đèn.
"Chà! Anh thật mừng khi nghe điều đó," cháu trai lão Scrooge nói, "bởi vì anh chẳng mấy tin tưởng vào mấy bà nội trợ trẻ tuổi này đâu. Anh Topper, anh thấy sao?"
Topper rõ ràng đã để mắt đến một trong các chị em của cháu dâu lão Scrooge, bởi anh ta trả lời rằng một gã độc thân là một kẻ ngoài lề khốn khổ, chẳng có tư cách gì để bày tỏ ý kiến về vấn đề này. Nghe thế, cô em gái của cháu dâu lão Scrooge - nàng mũm mĩm với chiếc áo yếm viền đăng ten, chứ không phải cô cài hoa hồng kia - liền đỏ bừng mặt.
"Tiếp tục đi, Fred," cháu dâu lão Scrooge nói, vỗ hai tay vào nhau. "Anh ấy chẳng bao giờ nói cho hết câu! Anh ấy đúng là một gã lố bịch!"
Cháu trai lão Scrooge lại đắm mình trong một tràng cười mới, và vì sự lây lan ấy chẳng tài nào ngăn cản nổi - mặc dù cô em gái mũm mĩm đã cố hết sức bằng cách dùng dấm thơm - tấm gương của anh liền được tất cả mọi người nhất loạt noi theo.
"Anh chỉ định nói," cháu trai lão Scrooge tiếp lời, "rằng hậu quả của chuyện bác ấy có ác cảm với chúng ta, và không cùng vui với chúng ta, theo anh nghĩ, là bác ấy đã bỏ lỡ một vài khoảnh khắc dễ chịu - những điều vốn chẳng thể gây hại gì cho bác ấy cả. Anh dám chắc là bác ấy đã đánh mất những người bạn đồng hành dễ chịu hơn nhiều so với những gì bác ấy có thể tìm thấy trong chính suy nghĩ của mình, dù là trong cái văn phòng mốc meo cũ kỹ, hay trong căn hộ bụi bặm của bác ấy. Anh định sẽ cho bác ấy cơ hội đó mỗi năm, dù bác ấy có thích hay không, bởi vì anh thương hại bác ấy. Bác ấy có thể chế nhạo Giáng Sinh cho đến khi chết đi, nhưng bác ấy không thể không nghĩ khá hơn về nó một chút - anh thách bác ấy đấy - nếu như bác ấy thấy anh ghé thăm, với tâm trạng vui vẻ, năm này qua năm khác, và nói: Chú Scrooge, chú có khỏe không ạ? Nếu điều đó chỉ khiến bác ấy nảy ra ý định để lại cho viên thư ký tội nghiệp của mình năm mươi bảng, thì thế đã là một điều gì đó rồi; và anh nghĩ là hôm qua anh đã làm bác ấy lay chuyển đấy."
Giờ thì đến lượt họ phá lên cười trước cái ý nghĩ rằng anh đã làm cho lão Scrooge lay chuyển. Nhưng vì bản tính vô cùng hiền lành, và chẳng mấy bận tâm xem họ cười vì cái gì, miễn sao họ cứ cười là được, anh khuyến khích họ vui vẻ, và hào hứng chuyền chai rượu đi vòng quanh.
Sau giờ uống trà, họ chơi một vài bản nhạc. Bởi cả nhà đều là những người yêu âm nhạc, và họ biết rất rõ mình đang làm gì, nên khi họ hát một bài hợp xướng hay một bài bắt nhịp, tôi xin cam đoan với bạn điều này: đặc biệt là Topper, anh chàng ấy có thể gầm gừ những nốt trầm như một bậc thầy thực thụ, và chẳng bao giờ phải nổi gân xanh trên trán hay đỏ bừng mặt vì chuyện đó. Cháu dâu lão Scrooge chơi đàn hạc rất điêu luyện; và trong số những giai điệu khác, nàng chơi một khúc nhạc nhỏ giản dị - chẳng có gì ghê gớm, bạn có thể học thổi sáo bài này trong vòng hai phút - một giai điệu vốn đã rất thân thuộc với đứa trẻ ngày xưa từng đến trường nội trú đón lão Scrooge về, như vị Linh Hồn của Giáng Sinh Quá Khứ đã gợi nhắc cho lão. Khi những nốt nhạc này vang lên, tất cả những điều mà Vị Linh Hồn kia đã cho lão thấy liền ùa về trong tâm trí; lòng lão ngày một mềm đi; và lão nghĩ rằng nếu như nhiều năm về trước lão có thể thường xuyên nghe được giai điệu ấy, thì có lẽ lão đã tự tay mình vun đắp nên những điều tử tế trong cuộc sống để kiến tạo hạnh phúc cho chính mình, mà chẳng cần phải nhờ đến chiếc xẻng của gã đào huyệt đã chôn cất Jacob Marley kia.
Nhưng họ không dành trọn buổi tối cho âm nhạc. Một lát sau, họ chơi trò nộp phạt6; bởi đôi khi làm trẻ con cũng là điều tốt, và chẳng bao giờ tốt hơn là vào dịp Giáng Sinh, khi mà chính Đấng Sáng Lập vĩ đại của ngày lễ ấy cũng đã từng là một đứa trẻ. Khoan đã! Trước tiên là trò bịt mắt bắt dê. Đương nhiên là phải có trò đó rồi. Và tôi chẳng tin là Topper thực sự bị mù, cũng y như tôi chẳng tin rằng anh ta có mắt ở giày vậy. Ý kiến của tôi là, đó là một vụ thông đồng giữa anh ta với cháu trai lão Scrooge; và Vị Linh Hồn của Giáng Sinh Hiện Tại biết rõ điều đó. Cái cách anh ta đeo đuổi cô em gái mũm mĩm mặc áo yếm viền đăng ten, quả là một sự sỉ nhục đối với lòng cả tin của bản chất con người. Đánh đổ cả bộ đồ nghề nhóm lửa, vấp ngã qua ghế, va vào đàn piano, chui tọt vào trong rèm cửa - cô ấy đi đâu, anh ta theo đến đó! Anh ta luôn biết cô em gái mũm mĩm đang ở đâu. Anh ta chẳng thèm bắt bất cứ ai khác. Nếu bạn chẳng may vô tình đâm sầm vào anh ta - như một vài người trong bọn họ đã cố tình làm vậy - anh ta sẽ giả vờ như đang cố chộp lấy bạn, một hành động quả thực là sỉ nhục trí thông minh của bạn, và rồi ngay lập tức anh ta sẽ lảng sang hướng khác, nhắm thẳng về phía cô em gái mũm mĩm kia. Cô nàng liên tục kêu lên rằng như thế là không công bằng; và quả thật là không công bằng. Nhưng khi cuối cùng anh ta tóm được nàng; khi mà, bất chấp tất cả những tiếng sột soạt của lớp lụa là, và những bước lướt nhanh thoăn thoắt của nàng, anh ta đã dồn nàng vào một góc tường không lối thoát; thì lúc bấy giờ, hành vi của anh ta mới là tồi tệ nhất. Bởi anh ta giả vờ như không biết nàng là ai; anh ta giả đò rằng cần phải sờ vào món trang sức trên đầu nàng, và hơn thế nữa, phải xác nhận danh tính của nàng bằng cách ấn tay vào một chiếc nhẫn nào đó trên ngón tay nàng, rồi một sợi dây chuyền nào đó quanh cổ nàng; thật là đê tiện, thật là quái gở! Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, cô nàng chắc chắn đã cho anh ta biết ý kiến của mình về chuyện đó, bởi khi một người bịt mắt khác đang làm nhiệm vụ, thì cả hai người họ lại tỏ ra vô cùng thân mật với nhau, ngay đằng sau tấm rèm cửa.
Cháu dâu lão Scrooge không tham gia vào nhóm bịt mắt bắt dê, mà ngồi thoải mái trên một chiếc ghế bành lớn, chân gác lên một chiếc bục nhỏ, trong một góc ấm cúng, nơi Vị Linh Hồn và lão Scrooge đứng ngay sát phía sau. Nhưng nàng có tham gia trò nộp phạt, và say sưa yêu đến từng chữ cái trong bảng chữ cái một cách đáng khâm phục. Cũng như vậy, trong trò chơi Làm Thế Nào, Khi Nào và Ở Đâu7, nàng vô cùng xuất sắc, và mang đến niềm vui thầm kín cho cháu trai lão Scrooge khi đánh bại các chị em gái của mình một cách hoàn toàn áp đảo; dù cho họ cũng đều là những cô gái sắc sảo cả, như Topper có thể nói với bạn vậy. Có lẽ khoảng hai mươi người ở đó, già lẫn trẻ, nhưng tất cả đều chơi, và lão Scrooge cũng chơi theo; bởi lão đã hoàn toàn quên mất bản thân mình trong niềm hứng thú với những gì đang diễn ra, rằng giọng nói của lão chẳng hề lọt vào tai họ, nên thỉnh thoảng lão buột miệng thốt ra câu đoán của mình khá là to, và cũng thường đoán rất trúng; bởi lẽ cây kim nhọn nhất - loại kim Whitechapel8 hảo hạng nhất, loại được bảo đảm là không chọc vào mắt - cũng chẳng sắc sảo hơn lão Scrooge; dù lão có cố ý giả đò cùn nhụt đến đâu đi nữa.
Vị Linh Hồn hết sức hài lòng khi thấy lão trong tâm trạng này, và ngài nhìn lão với vẻ ưu ái đến nỗi ngài đã nghe thấy lão cầu xin, như một cậu bé, được phép nán lại cho đến khi những vị khách ra về hết. Nhưng Vị Linh Hồn nói rằng điều đó không thể được.
"Còn một trò chơi mới nữa kia kìa," lão Scrooge nói. "Nửa tiếng thôi, thưa Linh Hồn, chỉ một trò thôi ạ!"
Đó là trò chơi mang tên Có và Không, trong đó cháu trai lão Scrooge sẽ nghĩ về một thứ gì đó, và những người còn lại phải tìm ra đó là thứ gì; anh chỉ được trả lời các câu hỏi của họ bằng Có hoặc Không, tùy từng trường hợp. Cuộc tra hỏi dồn dập mà anh phải hứng chịu đã buộc anh tiết lộ rằng anh đang nghĩ đến một con vật, một con vật còn sống, một con vật khá là khó ưa, một con vật hoang dã, một con vật đôi lúc gầm gừ và càu nhàu, và đôi lúc biết nói, sống ở London, đi lại trên đường phố, nhưng không bị mang ra làm trò mua vui, không bị ai xích dắt đi dạo, không sống trong sở thú, không bao giờ bị giết thịt ngoài chợ, và không phải là ngựa, lừa, bò cái, bò đực, hổ, chó, lợn, mèo, hay gấu. Cứ mỗi câu hỏi mới được đặt ra cho anh, người cháu trai này lại phá lên một tràng cười mới; và anh bị cù lét một cách khó mà tả xiết, đến mức buộc phải bật dậy khỏi ghế sô-pha và giậm chân thình thịch. Cuối cùng, cô em gái mũm mĩm kia, cũng rơi vào trạng thái y hệt như vậy, thốt lên:
"Em tìm ra rồi! Em biết đó là gì rồi, Fred! Em biết đó là gì rồi!"
"Là gì nào?" Fred kêu lên.
"Đó chính là Chú Scro-o-o-o-oge của anh!"
Dĩ nhiên là lão rồi. Sự thán phục là tâm trạng chung của mọi người, mặc dù một vài người có ý kiến phản đối rằng câu trả lời cho câu hỏi "Có phải là một con gấu không?" lẽ ra phải là "Có;" vì câu trả lời phủ định kia đã đủ để đánh lạc hướng suy nghĩ của họ khỏi ngài Scrooge, giả như họ từng có chút xu hướng nào đoán về lão.
"Bác ấy đã mang lại cho chúng ta kha khá niềm vui đấy, anh dám chắc là thế," Fred nói, "và thật là vô ơn nếu chúng ta không nâng ly chúc sức khỏe bác ấy. Đây, ly rượu nóng hổi đang sẵn trong tay chúng ta lúc này; và anh xin nói: 'Chú Scrooge!'"
"Hoan hô! Chú Scrooge!" tất cả đồng thanh reo lên.
"Một Giáng Sinh An Lành và một Năm Mới Hạnh Phúc cho ông cụ, dù ông cụ có là người thế nào đi nữa!" cháu trai lão Scrooge cất lời. "Bác ấy sẽ chẳng nhận lời chúc này từ cháu đâu, nhưng dẫu sao cũng mong bác ấy có được điều đó. Chú Scrooge!"
Lão Scrooge đã vô tình trở nên vui vẻ và nhẹ nhõm trong lòng đến nỗi lão đã nâng ly đáp lễ những con người không hay biết kia, và cảm ơn họ bằng một bài diễn văn không thể nào nghe thấy, giá như Vị Linh Hồn cho lão đủ thời gian. Nhưng toàn bộ khung cảnh ấy đã tan biến ngay trong hơi thở của từ cuối cùng mà cháu trai lão vừa thốt ra; và lão cùng Vị Linh Hồn lại tiếp tục cuộc hành trình của mình.
Họ đã thấy rất nhiều, đã đi rất xa, và ghé thăm biết bao mái nhà, nhưng luôn kết thúc trong niềm hân hoan. Vị Linh Hồn đứng bên những giường bệnh, và người bệnh trở nên vui vẻ; ở những vùng đất xa lạ, và họ thấy gần gũi như đang ở chính quê nhà; bên những con người đang chật vật, và họ kiên nhẫn trong niềm hy vọng lớn lao hơn; bên sự nghèo khó, và nó hóa nên giàu có. Trong trại tế bần, bệnh viện và nhà tù, trong mọi nơi ẩn náu của sự khốn cùng - nơi mà những kẻ hão huyền với chút quyền lực nhỏ nhoi và ngắn ngủi của mình không đóng chặt cánh cửa và nhốt Vị Linh Hồn ở bên ngoài - ngài đã để lại phước lành của mình, và truyền dạy cho lão Scrooge những bài học quý giá.
Ấy là một đêm dài, nếu quả thực nó chỉ vỏn vẹn trong một đêm; nhưng lão Scrooge vẫn không khỏi hoài nghi, bởi lẽ dường như toàn bộ những ngày Lễ Giáng Sinh đã được dồn nén gọn ghẽ vào khoảng thời gian họ sánh bước bên nhau. Lại còn một điều kỳ lạ nữa: trong khi dung mạo của lão Scrooge vẫn y nguyên chẳng đổi thay, thì Vị Linh Hồn lại già đi, già đi trông thấy từng hồi. Lão Scrooge đã sớm nhận ra sự đổi thay ấy, nhưng tuyệt nhiên không hề hé môi, mãi cho đến lúc họ rời khỏi bữa tiệc Đêm Thứ Mười Hai lũ trẻ đang vui đùa, khi cùng nhau đứng nơi một bãi đất trống, lão chợt nhận thấy mái tóc Vị Linh Hồn đã điểm đầy sương muối hoa râm.
"Cuộc đời của các tinh linh ngắn ngủi vậy sao?" lão Scrooge hỏi.
"Cuộc đời ta trên quả địa cầu này, rất ngắn ngủi," Vị Linh Hồn trả lời. "Nó kết thúc đêm nay."
"Đêm nay!" lão Scrooge kêu lên.
"Đêm nay, vào lúc nửa đêm. Nghe kìa! Giờ khắc ấy đang đến gần rồi."
Tiếng chuông đồng hồ điểm mười một giờ ba mươi lăm phút ngay vào lúc ấy.
"Xin ngài thứ lỗi nếu lời tôi hỏi có phần đường đột," lão Scrooge lên tiếng, mắt chăm chăm nhìn vào tà áo choàng của Vị Linh Hồn, "nhưng tôi thấy có thứ gì đó kỳ lạ, không thuộc về ngài, đang thò ra từ vạt áo ngài. Đó là bàn chân hay móng vuốt thế?"
"Có lẽ là móng vuốt, ít ra là xét theo lớp thịt bọc bên ngoài," Vị Linh Hồn đáp, giọng buồn bã. "Hãy nhìn đây."
Từ trong những nếp gấp của tấm áo choàng, ngài lôi ra hai đứa trẻ; tiều tụy, khốn khổ, rùng rợn, gớm ghiếc, thảm thương. Chúng quỳ rạp xuống dưới chân ngài, bấu víu vào lớp vải ngoài của chiếc áo choàng.
"Ôi, hỡi Con Người! Hãy nhìn đây. Nhìn đi, nhìn xuống đây này!" Vị Linh Hồn thốt lên.
Ấy là một cậu bé và một cô bé. Vàng vọt, hốc hác, rách rưới, cau có, mang dáng vẻ hoang dại tựa loài sói; thế nhưng cũng đồng thời phủ phục, cúi rạp trong nỗi hèn mọn đến tột cùng. Ở nơi mà lẽ ra tuổi xuân duyên dáng phải bừng nở trên từng đường nét gương mặt, điểm tô những sắc thái tươi tắn nhất của tạo hóa, thì một bàn tay khô héo và nhăn nheo, hao hao bàn tay của tuổi già, đã nhéo nặn, vặn xoắn và xé toạc chúng thành từng mảnh vụn. Nơi những thiên thần lẽ ra phải ngự trị trên ngai vàng, thì lũ quỷ dữ lại đang ẩn nấp, trừng trừng đôi mắt đầy hăm dọa. Chẳng một sự đổi thay nào, chẳng một sự suy đồi nào, chẳng một sự biến chất nào của kiếp nhân sinh, dù ở bất kỳ cấp độ nào, xuyên suốt tất thảy những bí ẩn của công cuộc sáng tạo kỳ vĩ, lại sản sinh ra nổi những con quái vật đáng sợ và kinh hoàng dù chỉ bằng một nửa như thế này.

Lão Scrooge lùi lại, kinh hoàng tột độ. Bị đặt trước cảnh tượng phơi bày trần trụi đến thế này, lão định cất lời bảo rằng chúng là những đứa trẻ ngoan ngoãn, nhưng ngôn từ cứ tự nghẹn ứ nơi cuống họng, không đời nào chịu trở thành kẻ đồng lõa cho một lời dối trá quái gở tày trời đến vậy.
"Thưa Linh Hồn! Chúng là con của ngài sao?" Lão Scrooge không thể thốt nổi thêm lời nào.
"Chúng thuộc về Con Người," Vị Linh Hồn nói, cúi mắt nhìn xuống chúng. "Và chúng bám lấy ta, van xin thay cho những người cha của chúng. Thằng bé này chính là Sự Ngu Dốt. Còn con bé này là Sự Thiếu Thốn. Hãy đề phòng cả hai, và tất thảy lũ cùng giống với chúng, nhưng trên hết, hãy đề phòng thằng bé này, vì trên vầng trán nó ta thấy có khắc dòng chữ Diệt Vong, trừ phi dòng chữ ấy bị xóa sạch. Cứ việc phủ nhận đi!" Vị Linh Hồn kêu lên, dang rộng đôi tay hướng về phía thành phố. "Cứ việc vu khống những kẻ nói cho các ngươi biết điều đó đi! Cứ việc thừa nhận nó để phục vụ cho những mục đích bè phái của các ngươi, và cứ làm cho nó tồi tệ thêm nữa đi. Và rồi hãy đợi đến hồi kết cục!"
"Chẳng lẽ chúng không có nơi nương tựa hay nguồn cứu trợ nào sao?" lão Scrooge kêu lên.
"Chẳng phải đã có nhà tù đó sao?" Vị Linh Hồn nói, quay lại nhìn lão lần cuối cùng bằng chính những lời lẽ của lão. "Chẳng phải đã có trại tế bần đó sao?"
Chuông điểm mười hai giờ.
Lão Scrooge nhìn quanh quất tìm Vị Linh Hồn, nhưng ngài đã biến mất tự lúc nào. Khi tiếng chuông cuối cùng vừa dứt, lão sực nhớ lại lời tiên đoán của Jacob Marley già cỗi, bèn ngước mắt lên - và trông thấy một Bóng Ma trang nghiêm, quấn rèm kín mít, trùm kín đầu, đang lướt tới, tựa một làn sương mù là là dọc theo mặt đất, thẳng hướng về phía lão.
-
Tên gốc là Twelfth Night (đêm mùng 5 tháng 1), đánh dấu đêm cuối cùng của chuỗi Mười Hai Ngày lễ Giáng Sinh ở Anh. Người ta thường tổ chức các bữa tiệc ăn mừng lớn với bánh trái cây đặc biệt cỡ lớn để kết thúc kỳ nghỉ lễ. ↩
-
Tên gốc là Cornucopia, một biểu tượng của sự dồi dào, no ấm trong thần thoại cổ đại, thường được tạo hình giống một chiếc sừng dê chứa đầy trái cây, hoa cỏ và lúa mì. ↩
-
Một loại táo nổi tiếng trồng ở hạt Norfolk, nước Anh. Loại táo này thường được sấy hoặc nướng chậm trong lò nướng thành món kẹo đặc sản màu đỏ sậm rất được ưa chuộng vào thời Victoria. ↩
-
Một lối chơi chữ của tác giả. Trong tiếng lóng của Anh thời bấy giờ, "bob" là một từ dùng để gọi đồng tiền xu shilling. ↩
-
Một loại đồ uống pha chế từ rượu rum, nước nóng, chanh và đường, thường được các thủy thủ hoặc những người đi biển uống để giữ ấm trong thời tiết giá lạnh. ↩
-
Tên gốc là Forfeits, một trò chơi nhóm truyền thống phổ biến ở Anh. Khi một người chơi phạm lỗi hoặc thua, họ phải đưa ra một vật thế chấp (thường là khăn tay, đồ trang sức). Để lấy lại đồ, họ phải thực hiện một thử thách hoặc hình phạt vui nhộn do quản trò đưa ra. ↩
-
Tên gốc là "How, When, and Where", một trò chơi đố từ phổ biến trong các bữa tiệc thời Victoria. Một người ra ngoài, những người còn lại chọn một từ, sau đó người đó quay lại và phải đoán từ đó bằng cách hỏi ba câu: "Bạn thích nó như thế nào?", "Khi nào?", và "Ở đâu?". ↩
-
Whitechapel là một khu vực ở phía Đông London, từng nổi tiếng với các xưởng sản xuất kim khâu chất lượng cao. ↩
STAVE THREE.
THE SECOND OF THE THREE SPIRITS.
Awaking in the middle of a prodigiously tough snore, and sitting up in bed to get his thoughts together, Scrooge had no occasion to be told that the bell was again upon the stroke of One. He felt that he was restored to consciousness in the right nick of time, for the especial purpose of holding a conference with the second messenger despatched to him through Jacob Marley’s intervention. But finding that he turned uncomfortably cold when he began to wonder which of his curtains this new spectre would draw back, he put them every one aside with his own hands; and lying down again, established a sharp look-out all round the bed. For he wished to challenge the Spirit on the moment of its appearance, and did not wish to be taken by surprise, and made nervous.
Gentlemen of the free-and-easy sort, who plume themselves on being acquainted with a move or two, and being usually equal to the time-of-day, express the wide range of their capacity for adventure by observing that they are good for anything from pitch-and-toss to manslaughter; between which opposite extremes, no doubt, there lies a tolerably wide and comprehensive range of subjects. Without venturing for Scrooge quite as hardily as this, I don’t mind calling on you to believe that he was ready for a good broad field of strange appearances, and that nothing between a baby and rhinoceros would have astonished him very much.
Now, being prepared for almost anything, he was not by any means prepared for nothing; and, consequently, when the Bell struck One, and no shape appeared, he was taken with a violent fit of trembling. Five minutes, ten minutes, a quarter of an hour went by, yet nothing came. All this time, he lay upon his bed, the very core and centre of a blaze of ruddy light, which streamed upon it when the clock proclaimed the hour; and which, being only light, was more alarming than a dozen ghosts, as he was powerless to make out what it meant, or would be at; and was sometimes apprehensive that he might be at that very moment an interesting case of spontaneous combustion, without having the consolation of knowing it. At last, however, he began to think-as you or I would have thought at first; for it is always the person not in the predicament who knows what ought to have been done in it, and would unquestionably have done it too-at last, I say, he began to think that the source and secret of this ghostly light might be in the adjoining room, from whence, on further tracing it, it seemed to shine. This idea taking full possession of his mind, he got up softly and shuffled in his slippers to the door.
The moment Scrooge’s hand was on the lock, a strange voice called him by his name, and bade him enter. He obeyed.
It was his own room. There was no doubt about that. But it had undergone a surprising transformation. The walls and ceiling were so hung with living green, that it looked a perfect grove; from every part of which, bright gleaming berries glistened. The crisp leaves of holly, mistletoe, and ivy reflected back the light, as if so many little mirrors had been scattered there; and such a mighty blaze went roaring up the chimney, as that dull petrification of a hearth had never known in Scrooge’s time, or Marley’s, or for many and many a winter season gone. Heaped up on the floor, to form a kind of throne, were turkeys, geese, game, poultry, brawn, great joints of meat, sucking-pigs, long wreaths of sausages, mince-pies, plum-puddings, barrels of oysters, red-hot chestnuts, cherry-cheeked apples, juicy oranges, luscious pears, immense twelfth-cakes, and seething bowls of punch, that made the chamber dim with their delicious steam. In easy state upon this couch, there sat a jolly Giant, glorious to see; who bore a glowing torch, in shape not unlike Plenty’s horn, and held it up, high up, to shed its light on Scrooge, as he came peeping round the door.
“Come in!” exclaimed the Ghost. “Come in! and know me better, man!”
Scrooge entered timidly, and hung his head before this Spirit. He was not the dogged Scrooge he had been; and though the Spirit’s eyes were clear and kind, he did not like to meet them.
“I am the Ghost of Christmas Present,” said the Spirit. “Look upon me!”
Scrooge reverently did so. It was clothed in one simple green robe, or mantle, bordered with white fur. This garment hung so loosely on the figure, that its capacious breast was bare, as if disdaining to be warded or concealed by any artifice. Its feet, observable beneath the ample folds of the garment, were also bare; and on its head it wore no other covering than a holly wreath, set here and there with shining icicles. Its dark brown curls were long and free; free as its genial face, its sparkling eye, its open hand, its cheery voice, its unconstrained demeanour, and its joyful air. Girded round its middle was an antique scabbard; but no sword was in it, and the ancient sheath was eaten up with rust.

Scrooge’s Third Visitor
“You have never seen the like of me before!” exclaimed the Spirit.
“Never,” Scrooge made answer to it.
“Have never walked forth with the younger members of my family; meaning (for I am very young) my elder brothers born in these later years?” pursued the Phantom.
“I don’t think I have,” said Scrooge. “I am afraid I have not. Have you had many brothers, Spirit?”
“More than eighteen hundred,” said the Ghost.
“A tremendous family to provide for!” muttered Scrooge.
The Ghost of Christmas Present rose.
“Spirit,” said Scrooge submissively, “conduct me where you will. I went forth last night on compulsion, and I learnt a lesson which is working now. To-night, if you have aught to teach me, let me profit by it.”
“Touch my robe!”
Scrooge did as he was told, and held it fast.
Holly, mistletoe, red berries, ivy, turkeys, geese, game, poultry, brawn, meat, pigs, sausages, oysters, pies, puddings, fruit, and punch, all vanished instantly. So did the room, the fire, the ruddy glow, the hour of night, and they stood in the city streets on Christmas morning, where (for the weather was severe) the people made a rough, but brisk and not unpleasant kind of music, in scraping the snow from the pavement in front of their dwellings, and from the tops of their houses, whence it was mad delight to the boys to see it come plumping down into the road below, and splitting into artificial little snow-storms.
The house fronts looked black enough, and the windows blacker, contrasting with the smooth white sheet of snow upon the roofs, and with the dirtier snow upon the ground; which last deposit had been ploughed up in deep furrows by the heavy wheels of carts and waggons; furrows that crossed and re-crossed each other hundreds of times where the great streets branched off; and made intricate channels, hard to trace in the thick yellow mud and icy water. The sky was gloomy, and the shortest streets were choked up with a dingy mist, half thawed, half frozen, whose heavier particles descended in a shower of sooty atoms, as if all the chimneys in Great Britain had, by one consent, caught fire, and were blazing away to their dear hearts’ content. There was nothing very cheerful in the climate or the town, and yet was there an air of cheerfulness abroad that the clearest summer air and brightest summer sun might have endeavoured to diffuse in vain.
For, the people who were shovelling away on the housetops were jovial and full of glee; calling out to one another from the parapets, and now and then exchanging a facetious snowball-better-natured missile far than many a wordy jest-laughing heartily if it went right and not less heartily if it went wrong. The poulterers’ shops were still half open, and the fruiterers’ were radiant in their glory. There were great, round, pot-bellied baskets of chestnuts, shaped like the waistcoats of jolly old gentlemen, lolling at the doors, and tumbling out into the street in their apoplectic opulence. There were ruddy, brown-faced, broad-girthed Spanish Onions, shining in the fatness of their growth like Spanish Friars, and winking from their shelves in wanton slyness at the girls as they went by, and glanced demurely at the hung-up mistletoe. There were pears and apples, clustered high in blooming pyramids; there were bunches of grapes, made, in the shopkeepers’ benevolence to dangle from conspicuous hooks, that people’s mouths might water gratis as they passed; there were piles of filberts, mossy and brown, recalling, in their fragrance, ancient walks among the woods, and pleasant shufflings ankle deep through withered leaves; there were Norfolk Biffins, squat and swarthy, setting off the yellow of the oranges and lemons, and, in the great compactness of their juicy persons, urgently entreating and beseeching to be carried home in paper bags and eaten after dinner. The very gold and silver fish, set forth among these choice fruits in a bowl, though members of a dull and stagnant-blooded race, appeared to know that there was something going on; and, to a fish, went gasping round and round their little world in slow and passionless excitement.
The Grocers’! oh, the Grocers’! nearly closed, with perhaps two shutters down, or one; but through those gaps such glimpses! It was not alone that the scales descending on the counter made a merry sound, or that the twine and roller parted company so briskly, or that the canisters were rattled up and down like juggling tricks, or even that the blended scents of tea and coffee were so grateful to the nose, or even that the raisins were so plentiful and rare, the almonds so extremely white, the sticks of cinnamon so long and straight, the other spices so delicious, the candied fruits so caked and spotted with molten sugar as to make the coldest lookers-on feel faint and subsequently bilious. Nor was it that the figs were moist and pulpy, or that the French plums blushed in modest tartness from their highly-decorated boxes, or that everything was good to eat and in its Christmas dress; but the customers were all so hurried and so eager in the hopeful promise of the day, that they tumbled up against each other at the door, crashing their wicker baskets wildly, and left their purchases upon the counter, and came running back to fetch them, and committed hundreds of the like mistakes, in the best humour possible; while the Grocer and his people were so frank and fresh that the polished hearts with which they fastened their aprons behind might have been their own, worn outside for general inspection, and for Christmas daws to peck at if they chose.
But soon the steeples called good people all, to church and chapel, and away they came, flocking through the streets in their best clothes, and with their gayest faces. And at the same time there emerged from scores of bye-streets, lanes, and nameless turnings, innumerable people, carrying their dinners to the bakers’ shops. The sight of these poor revellers appeared to interest the Spirit very much, for he stood with Scrooge beside him in a baker’s doorway, and taking off the covers as their bearers passed, sprinkled incense on their dinners from his torch. And it was a very uncommon kind of torch, for once or twice when there were angry words between some dinner-carriers who had jostled each other, he shed a few drops of water on them from it, and their good humour was restored directly. For they said, it was a shame to quarrel upon Christmas Day. And so it was! God love it, so it was!
In time the bells ceased, and the bakers were shut up; and yet there was a genial shadowing forth of all these dinners and the progress of their cooking, in the thawed blotch of wet above each baker’s oven; where the pavement smoked as if its stones were cooking too.
“Is there a peculiar flavour in what you sprinkle from your torch?” asked Scrooge.
“There is. My own.”
“Would it apply to any kind of dinner on this day?” asked Scrooge.
“To any kindly given. To a poor one most.”
“Why to a poor one most?” asked Scrooge.
“Because it needs it most.”
“Spirit,” said Scrooge, after a moment’s thought, “I wonder you, of all the beings in the many worlds about us, should desire to cramp these people’s opportunities of innocent enjoyment.”
“I!” cried the Spirit.
“You would deprive them of their means of dining every seventh day, often the only day on which they can be said to dine at all,” said Scrooge. “Wouldn’t you?”
“I!” cried the Spirit.
“You seek to close these places on the Seventh Day?” said Scrooge. “And it comes to the same thing.”
“I seek!” exclaimed the Spirit.
“Forgive me if I am wrong. It has been done in your name, or at least in that of your family,” said Scrooge.
“There are some upon this earth of yours,” returned the Spirit, “who lay claim to know us, and who do their deeds of passion, pride, ill-will, hatred, envy, bigotry, and selfishness in our name, who are as strange to us and all our kith and kin, as if they had never lived. Remember that, and charge their doings on themselves, not us.”
Scrooge promised that he would; and they went on, invisible, as they had been before, into the suburbs of the town. It was a remarkable quality of the Ghost (which Scrooge had observed at the baker’s), that notwithstanding his gigantic size, he could accommodate himself to any place with ease; and that he stood beneath a low roof quite as gracefully and like a supernatural creature, as it was possible he could have done in any lofty hall.
And perhaps it was the pleasure the good Spirit had in showing off this power of his, or else it was his own kind, generous, hearty nature, and his sympathy with all poor men, that led him straight to Scrooge’s clerk’s; for there he went, and took Scrooge with him, holding to his robe; and on the threshold of the door the Spirit smiled, and stopped to bless Bob Cratchit’s dwelling with the sprinkling of his torch. Think of that! Bob had but fifteen “Bob” a-week himself; he pocketed on Saturdays but fifteen copies of his Christian name; and yet the Ghost of Christmas Present blessed his four-roomed house!
Then up rose Mrs. Cratchit, Cratchit’s wife, dressed out but poorly in a twice-turned gown, but brave in ribbons, which are cheap and make a goodly show for sixpence; and she laid the cloth, assisted by Belinda Cratchit, second of her daughters, also brave in ribbons; while Master Peter Cratchit plunged a fork into the saucepan of potatoes, and getting the corners of his monstrous shirt collar (Bob’s private property, conferred upon his son and heir in honour of the day) into his mouth, rejoiced to find himself so gallantly attired, and yearned to show his linen in the fashionable Parks. And now two smaller Cratchits, boy and girl, came tearing in, screaming that outside the baker’s they had smelt the goose, and known it for their own; and basking in luxurious thoughts of sage and onion, these young Cratchits danced about the table, and exalted Master Peter Cratchit to the skies, while he (not proud, although his collars nearly choked him) blew the fire, until the slow potatoes bubbling up, knocked loudly at the saucepan-lid to be let out and peeled.
“What has ever got your precious father then?” said Mrs. Cratchit. “And your brother, Tiny Tim! And Martha warn’t as late last Christmas Day by half-an-hour?”
“Here’s Martha, mother!” said a girl, appearing as she spoke.
“Here’s Martha, mother!” cried the two young Cratchits. “Hurrah! There’s such a goose, Martha!”
“Why, bless your heart alive, my dear, how late you are!” said Mrs. Cratchit, kissing her a dozen times, and taking off her shawl and bonnet for her with officious zeal.
“We’d a deal of work to finish up last night,” replied the girl, “and had to clear away this morning, mother!”
“Well! Never mind so long as you are come,” said Mrs. Cratchit. “Sit ye down before the fire, my dear, and have a warm, Lord bless ye!”
“No, no! There’s father coming,” cried the two young Cratchits, who were everywhere at once. “Hide, Martha, hide!”
So Martha hid herself, and in came little Bob, the father, with at least three feet of comforter exclusive of the fringe, hanging down before him; and his threadbare clothes darned up and brushed, to look seasonable; and Tiny Tim upon his shoulder. Alas for Tiny Tim, he bore a little crutch, and had his limbs supported by an iron frame!
“Why, where’s our Martha?” cried Bob Cratchit, looking round.
“Not coming,” said Mrs. Cratchit.
“Not coming!” said Bob, with a sudden declension in his high spirits; for he had been Tim’s blood horse all the way from church, and had come home rampant. “Not coming upon Christmas Day!”
Martha didn’t like to see him disappointed, if it were only in joke; so she came out prematurely from behind the closet door, and ran into his arms, while the two young Cratchits hustled Tiny Tim, and bore him off into the wash-house, that he might hear the pudding singing in the copper.
“And how did little Tim behave?” asked Mrs. Cratchit, when she had rallied Bob on his credulity, and Bob had hugged his daughter to his heart’s content.
“As good as gold,” said Bob, “and better. Somehow he gets thoughtful, sitting by himself so much, and thinks the strangest things you ever heard. He told me, coming home, that he hoped the people saw him in the church, because he was a cripple, and it might be pleasant to them to remember upon Christmas Day, who made lame beggars walk, and blind men see.”
Bob’s voice was tremulous when he told them this, and trembled more when he said that Tiny Tim was growing strong and hearty.
His active little crutch was heard upon the floor, and back came Tiny Tim before another word was spoken, escorted by his brother and sister to his stool before the fire; and while Bob, turning up his cuffs-as if, poor fellow, they were capable of being made more shabby-compounded some hot mixture in a jug with gin and lemons, and stirred it round and round and put it on the hob to simmer; Master Peter, and the two ubiquitous young Cratchits went to fetch the goose, with which they soon returned in high procession.
Such a bustle ensued that you might have thought a goose the rarest of all birds; a feathered phenomenon, to which a black swan was a matter of course-and in truth it was something very like it in that house. Mrs. Cratchit made the gravy (ready beforehand in a little saucepan) hissing hot; Master Peter mashed the potatoes with incredible vigour; Miss Belinda sweetened up the apple-sauce; Martha dusted the hot plates; Bob took Tiny Tim beside him in a tiny corner at the table; the two young Cratchits set chairs for everybody, not forgetting themselves, and mounting guard upon their posts, crammed spoons into their mouths, lest they should shriek for goose before their turn came to be helped. At last the dishes were set on, and grace was said. It was succeeded by a breathless pause, as Mrs. Cratchit, looking slowly all along the carving-knife, prepared to plunge it in the breast; but when she did, and when the long expected gush of stuffing issued forth, one murmur of delight arose all round the board, and even Tiny Tim, excited by the two young Cratchits, beat on the table with the handle of his knife, and feebly cried Hurrah!
There never was such a goose. Bob said he didn’t believe there ever was such a goose cooked. Its tenderness and flavour, size and cheapness, were the themes of universal admiration. Eked out by apple-sauce and mashed potatoes, it was a sufficient dinner for the whole family; indeed, as Mrs. Cratchit said with great delight (surveying one small atom of a bone upon the dish), they hadn’t ate it all at last! Yet every one had had enough, and the youngest Cratchits in particular, were steeped in sage and onion to the eyebrows! But now, the plates being changed by Miss Belinda, Mrs. Cratchit left the room alone-too nervous to bear witnesses-to take the pudding up and bring it in.
Suppose it should not be done enough! Suppose it should break in turning out! Suppose somebody should have got over the wall of the back-yard, and stolen it, while they were merry with the goose-a supposition at which the two young Cratchits became livid! All sorts of horrors were supposed.
Hallo! A great deal of steam! The pudding was out of the copper. A smell like a washing-day! That was the cloth. A smell like an eating-house and a pastrycook’s next door to each other, with a laundress’s next door to that! That was the pudding! In half a minute Mrs. Cratchit entered-flushed, but smiling proudly-with the pudding, like a speckled cannon-ball, so hard and firm, blazing in half of half-a-quartern of ignited brandy, and bedight with Christmas holly stuck into the top.
Oh, a wonderful pudding! Bob Cratchit said, and calmly too, that he regarded it as the greatest success achieved by Mrs. Cratchit since their marriage. Mrs. Cratchit said that now the weight was off her mind, she would confess she had had her doubts about the quantity of flour. Everybody had something to say about it, but nobody said or thought it was at all a small pudding for a large family. It would have been flat heresy to do so. Any Cratchit would have blushed to hint at such a thing.
At last the dinner was all done, the cloth was cleared, the hearth swept, and the fire made up. The compound in the jug being tasted, and considered perfect, apples and oranges were put upon the table, and a shovel-full of chestnuts on the fire. Then all the Cratchit family drew round the hearth, in what Bob Cratchit called a circle, meaning half a one; and at Bob Cratchit’s elbow stood the family display of glass. Two tumblers, and a custard-cup without a handle.
These held the hot stuff from the jug, however, as well as golden goblets would have done; and Bob served it out with beaming looks, while the chestnuts on the fire sputtered and cracked noisily. Then Bob proposed:
“A Merry Christmas to us all, my dears. God bless us!”
Which all the family re-echoed.
“God bless us every one!” said Tiny Tim, the last of all.
He sat very close to his father’s side upon his little stool. Bob held his withered little hand in his, as if he loved the child, and wished to keep him by his side, and dreaded that he might be taken from him.
“Spirit,” said Scrooge, with an interest he had never felt before, “tell me if Tiny Tim will live.”
“I see a vacant seat,” replied the Ghost, “in the poor chimney-corner, and a crutch without an owner, carefully preserved. If these shadows remain unaltered by the Future, the child will die.”
“No, no,” said Scrooge. “Oh, no, kind Spirit! say he will be spared.”
“If these shadows remain unaltered by the Future, none other of my race,” returned the Ghost, “will find him here. What then? If he be like to die, he had better do it, and decrease the surplus population.”
Scrooge hung his head to hear his own words quoted by the Spirit, and was overcome with penitence and grief.
“Man,” said the Ghost, “if man you be in heart, not adamant, forbear that wicked cant until you have discovered What the surplus is, and Where it is. Will you decide what men shall live, what men shall die? It may be, that in the sight of Heaven, you are more worthless and less fit to live than millions like this poor man’s child. Oh God! to hear the Insect on the leaf pronouncing on the too much life among his hungry brothers in the dust!”
Scrooge bent before the Ghost’s rebuke, and trembling cast his eyes upon the ground. But he raised them speedily, on hearing his own name.
“Mr. Scrooge!” said Bob; “I’ll give you Mr. Scrooge, the Founder of the Feast!”
“The Founder of the Feast indeed!” cried Mrs. Cratchit, reddening. “I wish I had him here. I’d give him a piece of my mind to feast upon, and I hope he’d have a good appetite for it.”
“My dear,” said Bob, “the children! Christmas Day.”
“It should be Christmas Day, I am sure,” said she, “on which one drinks the health of such an odious, stingy, hard, unfeeling man as Mr. Scrooge. You know he is, Robert! Nobody knows it better than you do, poor fellow!”
“My dear,” was Bob’s mild answer, “Christmas Day.”
“I’ll drink his health for your sake and the Day’s,” said Mrs. Cratchit, “not for his. Long life to him! A merry Christmas and a happy new year! He’ll be very merry and very happy, I have no doubt!”
The children drank the toast after her. It was the first of their proceedings which had no heartiness. Tiny Tim drank it last of all, but he didn’t care twopence for it. Scrooge was the Ogre of the family. The mention of his name cast a dark shadow on the party, which was not dispelled for full five minutes.
After it had passed away, they were ten times merrier than before, from the mere relief of Scrooge the Baleful being done with. Bob Cratchit told them how he had a situation in his eye for Master Peter, which would bring in, if obtained, full five-and-sixpence weekly. The two young Cratchits laughed tremendously at the idea of Peter’s being a man of business; and Peter himself looked thoughtfully at the fire from between his collars, as if he were deliberating what particular investments he should favour when he came into the receipt of that bewildering income. Martha, who was a poor apprentice at a milliner’s, then told them what kind of work she had to do, and how many hours she worked at a stretch, and how she meant to lie abed to-morrow morning for a good long rest; to-morrow being a holiday she passed at home. Also how she had seen a countess and a lord some days before, and how the lord “was much about as tall as Peter;” at which Peter pulled up his collars so high that you couldn’t have seen his head if you had been there. All this time the chestnuts and the jug went round and round; and by-and-bye they had a song, about a lost child travelling in the snow, from Tiny Tim, who had a plaintive little voice, and sang it very well indeed.
There was nothing of high mark in this. They were not a handsome family; they were not well dressed; their shoes were far from being water-proof; their clothes were scanty; and Peter might have known, and very likely did, the inside of a pawnbroker’s. But, they were happy, grateful, pleased with one another, and contented with the time; and when they faded, and looked happier yet in the bright sprinklings of the Spirit’s torch at parting, Scrooge had his eye upon them, and especially on Tiny Tim, until the last.
By this time it was getting dark, and snowing pretty heavily; and as Scrooge and the Spirit went along the streets, the brightness of the roaring fires in kitchens, parlours, and all sorts of rooms, was wonderful. Here, the flickering of the blaze showed preparations for a cosy dinner, with hot plates baking through and through before the fire, and deep red curtains, ready to be drawn to shut out cold and darkness. There all the children of the house were running out into the snow to meet their married sisters, brothers, cousins, uncles, aunts, and be the first to greet them. Here, again, were shadows on the window-blind of guests assembling; and there a group of handsome girls, all hooded and fur-booted, and all chattering at once, tripped lightly off to some near neighbour’s house; where, woe upon the single man who saw them enter-artful witches, well they knew it-in a glow!
But, if you had judged from the numbers of people on their way to friendly gatherings, you might have thought that no one was at home to give them welcome when they got there, instead of every house expecting company, and piling up its fires half-chimney high. Blessings on it, how the Ghost exulted! How it bared its breadth of breast, and opened its capacious palm, and floated on, outpouring, with a generous hand, its bright and harmless mirth on everything within its reach! The very lamplighter, who ran on before, dotting the dusky street with specks of light, and who was dressed to spend the evening somewhere, laughed out loudly as the Spirit passed, though little kenned the lamplighter that he had any company but Christmas!
And now, without a word of warning from the Ghost, they stood upon a bleak and desert moor, where monstrous masses of rude stone were cast about, as though it were the burial-place of giants; and water spread itself wheresoever it listed, or would have done so, but for the frost that held it prisoner; and nothing grew but moss and furze, and coarse rank grass. Down in the west the setting sun had left a streak of fiery red, which glared upon the desolation for an instant, like a sullen eye, and frowning lower, lower, lower yet, was lost in the thick gloom of darkest night.
“What place is this?” asked Scrooge.
“A place where Miners live, who labour in the bowels of the earth,” returned the Spirit. “But they know me. See!”
A light shone from the window of a hut, and swiftly they advanced towards it. Passing through the wall of mud and stone, they found a cheerful company assembled round a glowing fire. An old, old man and woman, with their children and their children’s children, and another generation beyond that, all decked out gaily in their holiday attire. The old man, in a voice that seldom rose above the howling of the wind upon the barren waste, was singing them a Christmas song-it had been a very old song when he was a boy-and from time to time they all joined in the chorus. So surely as they raised their voices, the old man got quite blithe and loud; and so surely as they stopped, his vigour sank again.
The Spirit did not tarry here, but bade Scrooge hold his robe, and passing on above the moor, sped-whither? Not to sea? To sea. To Scrooge’s horror, looking back, he saw the last of the land, a frightful range of rocks, behind them; and his ears were deafened by the thundering of water, as it rolled and roared, and raged among the dreadful caverns it had worn, and fiercely tried to undermine the earth.
Built upon a dismal reef of sunken rocks, some league or so from shore, on which the waters chafed and dashed, the wild year through, there stood a solitary lighthouse. Great heaps of sea-weed clung to its base, and storm-birds-born of the wind one might suppose, as sea-weed of the water-rose and fell about it, like the waves they skimmed.
But even here, two men who watched the light had made a fire, that through the loophole in the thick stone wall shed out a ray of brightness on the awful sea. Joining their horny hands over the rough table at which they sat, they wished each other Merry Christmas in their can of grog; and one of them: the elder, too, with his face all damaged and scarred with hard weather, as the figure-head of an old ship might be: struck up a sturdy song that was like a Gale in itself.
Again the Ghost sped on, above the black and heaving sea-on, on-until, being far away, as he told Scrooge, from any shore, they lighted on a ship. They stood beside the helmsman at the wheel, the look-out in the bow, the officers who had the watch; dark, ghostly figures in their several stations; but every man among them hummed a Christmas tune, or had a Christmas thought, or spoke below his breath to his companion of some bygone Christmas Day, with homeward hopes belonging to it. And every man on board, waking or sleeping, good or bad, had had a kinder word for another on that day than on any day in the year; and had shared to some extent in its festivities; and had remembered those he cared for at a distance, and had known that they delighted to remember him.
It was a great surprise to Scrooge, while listening to the moaning of the wind, and thinking what a solemn thing it was to move on through the lonely darkness over an unknown abyss, whose depths were secrets as profound as Death: it was a great surprise to Scrooge, while thus engaged, to hear a hearty laugh. It was a much greater surprise to Scrooge to recognise it as his own nephew’s and to find himself in a bright, dry, gleaming room, with the Spirit standing smiling by his side, and looking at that same nephew with approving affability!
“Ha, ha!” laughed Scrooge’s nephew. “Ha, ha, ha!”
If you should happen, by any unlikely chance, to know a man more blest in a laugh than Scrooge’s nephew, all I can say is, I should like to know him too. Introduce him to me, and I’ll cultivate his acquaintance.
It is a fair, even-handed, noble adjustment of things, that while there is infection in disease and sorrow, there is nothing in the world so irresistibly contagious as laughter and good-humour. When Scrooge’s nephew laughed in this way: holding his sides, rolling his head, and twisting his face into the most extravagant contortions: Scrooge’s niece, by marriage, laughed as heartily as he. And their assembled friends being not a bit behindhand, roared out lustily.
“Ha, ha! Ha, ha, ha, ha!”
“He said that Christmas was a humbug, as I live!” cried Scrooge’s nephew. “He believed it too!”
“More shame for him, Fred!” said Scrooge’s niece, indignantly. Bless those women; they never do anything by halves. They are always in earnest.
She was very pretty: exceedingly pretty. With a dimpled, surprised-looking, capital face; a ripe little mouth, that seemed made to be kissed-as no doubt it was; all kinds of good little dots about her chin, that melted into one another when she laughed; and the sunniest pair of eyes you ever saw in any little creature’s head. Altogether she was what you would have called provoking, you know; but satisfactory, too. Oh, perfectly satisfactory.
“He’s a comical old fellow,” said Scrooge’s nephew, “that’s the truth: and not so pleasant as he might be. However, his offences carry their own punishment, and I have nothing to say against him.”
“I’m sure he is very rich, Fred,” hinted Scrooge’s niece. “At least you always tell me so.”
“What of that, my dear!” said Scrooge’s nephew. “His wealth is of no use to him. He don’t do any good with it. He don’t make himself comfortable with it. He hasn’t the satisfaction of thinking-ha, ha, ha!-that he is ever going to benefit US with it.”
“I have no patience with him,” observed Scrooge’s niece. Scrooge’s niece’s sisters, and all the other ladies, expressed the same opinion.
“Oh, I have!” said Scrooge’s nephew. “I am sorry for him; I couldn’t be angry with him if I tried. Who suffers by his ill whims! Himself, always. Here, he takes it into his head to dislike us, and he won’t come and dine with us. What’s the consequence? He don’t lose much of a dinner.”
“Indeed, I think he loses a very good dinner,” interrupted Scrooge’s niece. Everybody else said the same, and they must be allowed to have been competent judges, because they had just had dinner; and, with the dessert upon the table, were clustered round the fire, by lamplight.
“Well! I’m very glad to hear it,” said Scrooge’s nephew, “because I haven’t great faith in these young housekeepers. What do you say, Topper?”
Topper had clearly got his eye upon one of Scrooge’s niece’s sisters, for he answered that a bachelor was a wretched outcast, who had no right to express an opinion on the subject. Whereat Scrooge’s niece’s sister-the plump one with the lace tucker: not the one with the roses-blushed.
“Do go on, Fred,” said Scrooge’s niece, clapping her hands. “He never finishes what he begins to say! He is such a ridiculous fellow!”
Scrooge’s nephew revelled in another laugh, and as it was impossible to keep the infection off; though the plump sister tried hard to do it with aromatic vinegar; his example was unanimously followed.
“I was only going to say,” said Scrooge’s nephew, “that the consequence of his taking a dislike to us, and not making merry with us, is, as I think, that he loses some pleasant moments, which could do him no harm. I am sure he loses pleasanter companions than he can find in his own thoughts, either in his mouldy old office, or his dusty chambers. I mean to give him the same chance every year, whether he likes it or not, for I pity him. He may rail at Christmas till he dies, but he can’t help thinking better of it-I defy him-if he finds me going there, in good temper, year after year, and saying Uncle Scrooge, how are you? If it only puts him in the vein to leave his poor clerk fifty pounds, that’s something; and I think I shook him yesterday.”
It was their turn to laugh now at the notion of his shaking Scrooge. But being thoroughly good-natured, and not much caring what they laughed at, so that they laughed at any rate, he encouraged them in their merriment, and passed the bottle joyously.
After tea, they had some music. For they were a musical family, and knew what they were about, when they sung a Glee or Catch, I can assure you: especially Topper, who could growl away in the bass like a good one, and never swell the large veins in his forehead, or get red in the face over it. Scrooge’s niece played well upon the harp; and played among other tunes a simple little air (a mere nothing: you might learn to whistle it in two minutes), which had been familiar to the child who fetched Scrooge from the boarding-school, as he had been reminded by the Ghost of Christmas Past. When this strain of music sounded, all the things that Ghost had shown him, came upon his mind; he softened more and more; and thought that if he could have listened to it often, years ago, he might have cultivated the kindnesses of life for his own happiness with his own hands, without resorting to the sexton’s spade that buried Jacob Marley.
But they didn’t devote the whole evening to music. After a while they played at forfeits; for it is good to be children sometimes, and never better than at Christmas, when its mighty Founder was a child himself. Stop! There was first a game at blind-man’s buff. Of course there was. And I no more believe Topper was really blind than I believe he had eyes in his boots. My opinion is, that it was a done thing between him and Scrooge’s nephew; and that the Ghost of Christmas Present knew it. The way he went after that plump sister in the lace tucker, was an outrage on the credulity of human nature. Knocking down the fire-irons, tumbling over the chairs, bumping against the piano, smothering himself among the curtains, wherever she went, there went he! He always knew where the plump sister was. He wouldn’t catch anybody else. If you had fallen up against him (as some of them did), on purpose, he would have made a feint of endeavouring to seize you, which would have been an affront to your understanding, and would instantly have sidled off in the direction of the plump sister. She often cried out that it wasn’t fair; and it really was not. But when at last, he caught her; when, in spite of all her silken rustlings, and her rapid flutterings past him, he got her into a corner whence there was no escape; then his conduct was the most execrable. For his pretending not to know her; his pretending that it was necessary to touch her head-dress, and further to assure himself of her identity by pressing a certain ring upon her finger, and a certain chain about her neck; was vile, monstrous! No doubt she told him her opinion of it, when, another blind-man being in office, they were so very confidential together, behind the curtains.
Scrooge’s niece was not one of the blind-man’s buff party, but was made comfortable with a large chair and a footstool, in a snug corner, where the Ghost and Scrooge were close behind her. But she joined in the forfeits, and loved her love to admiration with all the letters of the alphabet. Likewise at the game of How, When, and Where, she was very great, and to the secret joy of Scrooge’s nephew, beat her sisters hollow: though they were sharp girls too, as Topper could have told you. There might have been twenty people there, young and old, but they all played, and so did Scrooge; for wholly forgetting in the interest he had in what was going on, that his voice made no sound in their ears, he sometimes came out with his guess quite loud, and very often guessed quite right, too; for the sharpest needle, best Whitechapel, warranted not to cut in the eye, was not sharper than Scrooge; blunt as he took it in his head to be.
The Ghost was greatly pleased to find him in this mood, and looked upon him with such favour, that he begged like a boy to be allowed to stay until the guests departed. But this the Spirit said could not be done.
“Here is a new game,” said Scrooge. “One half hour, Spirit, only one!”
It was a Game called Yes and No, where Scrooge’s nephew had to think of something, and the rest must find out what; he only answering to their questions yes or no, as the case was. The brisk fire of questioning to which he was exposed, elicited from him that he was thinking of an animal, a live animal, rather a disagreeable animal, a savage animal, an animal that growled and grunted sometimes, and talked sometimes, and lived in London, and walked about the streets, and wasn’t made a show of, and wasn’t led by anybody, and didn’t live in a menagerie, and was never killed in a market, and was not a horse, or an ass, or a cow, or a bull, or a tiger, or a dog, or a pig, or a cat, or a bear. At every fresh question that was put to him, this nephew burst into a fresh roar of laughter; and was so inexpressibly tickled, that he was obliged to get up off the sofa and stamp. At last the plump sister, falling into a similar state, cried out:
“I have found it out! I know what it is, Fred! I know what it is!”
“What is it?” cried Fred.
“It’s your Uncle Scro-o-o-o-oge!”
Which it certainly was. Admiration was the universal sentiment, though some objected that the reply to “Is it a bear?” ought to have been “Yes;” inasmuch as an answer in the negative was sufficient to have diverted their thoughts from Mr. Scrooge, supposing they had ever had any tendency that way.
“He has given us plenty of merriment, I am sure,” said Fred, “and it would be ungrateful not to drink his health. Here is a glass of mulled wine ready to our hand at the moment; and I say, ‘Uncle Scrooge!’ ”
“Well! Uncle Scrooge!” they cried.
“A Merry Christmas and a Happy New Year to the old man, whatever he is!” said Scrooge’s nephew. “He wouldn’t take it from me, but may he have it, nevertheless. Uncle Scrooge!”
Uncle Scrooge had imperceptibly become so gay and light of heart, that he would have pledged the unconscious company in return, and thanked them in an inaudible speech, if the Ghost had given him time. But the whole scene passed off in the breath of the last word spoken by his nephew; and he and the Spirit were again upon their travels.
Much they saw, and far they went, and many homes they visited, but always with a happy end. The Spirit stood beside sick beds, and they were cheerful; on foreign lands, and they were close at home; by struggling men, and they were patient in their greater hope; by poverty, and it was rich. In almshouse, hospital, and jail, in misery’s every refuge, where vain man in his little brief authority had not made fast the door, and barred the Spirit out, he left his blessing, and taught Scrooge his precepts.
It was a long night, if it were only a night; but Scrooge had his doubts of this, because the Christmas Holidays appeared to be condensed into the space of time they passed together. It was strange, too, that while Scrooge remained unaltered in his outward form, the Ghost grew older, clearly older. Scrooge had observed this change, but never spoke of it, until they left a children’s Twelfth Night party, when, looking at the Spirit as they stood together in an open place, he noticed that its hair was grey.
“Are spirits’ lives so short?” asked Scrooge.
“My life upon this globe, is very brief,” replied the Ghost. “It ends to-night.”
“To-night!” cried Scrooge.
“To-night at midnight. Hark! The time is drawing near.”
The chimes were ringing the three quarters past eleven at that moment.
“Forgive me if I am not justified in what I ask,” said Scrooge, looking intently at the Spirit’s robe, “but I see something strange, and not belonging to yourself, protruding from your skirts. Is it a foot or a claw?”
“It might be a claw, for the flesh there is upon it,” was the Spirit’s sorrowful reply. “Look here.”
From the foldings of its robe, it brought two children; wretched, abject, frightful, hideous, miserable. They knelt down at its feet, and clung upon the outside of its garment.
“Oh, Man! look here. Look, look, down here!” exclaimed the Ghost.
They were a boy and girl. Yellow, meagre, ragged, scowling, wolfish; but prostrate, too, in their humility. Where graceful youth should have filled their features out, and touched them with its freshest tints, a stale and shrivelled hand, like that of age, had pinched, and twisted them, and pulled them into shreds. Where angels might have sat enthroned, devils lurked, and glared out menacing. No change, no degradation, no perversion of humanity, in any grade, through all the mysteries of wonderful creation, has monsters half so horrible and dread.

Scrooge started back, appalled. Having them shown to him in this way, he tried to say they were fine children, but the words choked themselves, rather than be parties to a lie of such enormous magnitude.
“Spirit! are they yours?” Scrooge could say no more.
“They are Man’s,” said the Spirit, looking down upon them. “And they cling to me, appealing from their fathers. This boy is Ignorance. This girl is Want. Beware them both, and all of their degree, but most of all beware this boy, for on his brow I see that written which is Doom, unless the writing be erased. Deny it!” cried the Spirit, stretching out its hand towards the city. “Slander those who tell it ye! Admit it for your factious purposes, and make it worse. And bide the end!”
“Have they no refuge or resource?” cried Scrooge.
“Are there no prisons?” said the Spirit, turning on him for the last time with his own words. “Are there no workhouses?”
The bell struck twelve.
Scrooge looked about him for the Ghost, and saw it not. As the last stroke ceased to vibrate, he remembered the prediction of old Jacob Marley, and lifting up his eyes, beheld a solemn Phantom, draped and hooded, coming, like a mist along the ground, towards him.