🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG III.

Ngôi nhà mới của tôi quả là một nơi tuyệt diệu!-một căn nhà rộng lớn, bề thế, với những bức tranh treo tường, đồ trang trí thanh nhã, nội thất sang trọng, và chẳng có một góc nào tăm tối cả; tất cả bừng lên trong muôn vàn sắc màu tinh tế dưới ánh nắng chan hòa tràn ngập khắp nơi; bao quanh nhà là cả một khuôn viên thoáng đãng, và một khu vườn rộng mênh mông-ôi, những thảm cỏ xanh mướt, những hàng cây cao quý, và hoa thì nhiều vô kể! Tôi cũng được đối xử như một thành viên trong gia đình; họ yêu quý tôi, cưng nựng tôi, và không hề đặt cho tôi một cái tên mới, mà vẫn gọi bằng cái tên cũ thân thương mẹ tôi đã đặt-Aileen Mavourneen1. Mẹ tôi lấy nó từ một bài hát; nhà Gray cũng biết bài hát ấy, và họ bảo đó là một cái tên thật đẹp.

Bà Gray ba mươi tuổi, ngọt ngào và đáng yêu đến mức bạn không thể nào hình dung nổi; còn Sadie thì mười tuổi, và giống hệt mẹ mình, cứ như một phiên bản thu nhỏ thanh mảnh và duyên dáng của bà vậy, với những bím tóc màu nâu đỏ buông sau lưng và những chiếc váy ngắn xinh xắn; em bé thì mới một tuổi, bụ bẫm, có má lúm đồng tiền, và vô cùng quý mến tôi, chẳng bao giờ biết chán cái trò kéo đuôi tôi, ôm ghì lấy tôi, rồi cười khanh khách trong niềm vui sướng ngây thơ; còn ông Gray thì ba mươi tám tuổi, cao ráo, thanh mảnh và đẹp trai, phía trước hơi hói một chút, nhanh nhẹn, cử chỉ hoạt bát, phong thái của một doanh nhân, dứt khoát, quyết đoán, không chút ủy mị, và mang một gương mặt với những đường nét sắc cạnh dường như chỉ ánh lên và lấp lánh thứ trí tuệ lạnh lùng! Ông ấy là một nhà khoa học lừng danh. Tôi chẳng biết từ ấy có nghĩa là gì, nhưng mẹ tôi hẳn sẽ biết cách dùng nó để gây ấn tượng. Mẹ sẽ biết cách xoay từ ấy để khiến một con chó sục săn chuột phải cụp đuôi và làm một con chó cảnh phải hối hận vì đã dám bén mảng tới. Nhưng đó chưa phải là từ ghê gớm nhất; từ ghê gớm nhất là Phòng Thí Nghiệm. Mẹ tôi có thể tổ chức hẳn một Hội đồng quản trị chỉ dựa trên cái từ ấy để lột sạch vòng cổ nộp thuế của cả một bầy chó. Phòng thí nghiệm không phải là một cuốn sách, cũng chẳng phải một bức tranh, hay một chỗ để rửa tay, như lời con chó của ông hiệu trưởng đại học từng nói-không, đó là phòng vệ sinh2; phòng thí nghiệm thì khác hẳn, nó chứa đầy những cái hũ, cái lọ, đồ điện, dây nhợ, và những cỗ máy kỳ lạ; rồi mỗi tuần các nhà khoa học khác lại kéo đến, ngồi vào chỗ, vận hành máy móc, thảo luận, và thực hiện những thứ mà họ gọi là thí nghiệm và phát minh; tôi cũng thường mon men tới đó, đứng vơ vẩn xung quanh, lắng nghe, và cố gắng học hỏi, vì mẹ tôi, và để tưởng nhớ mẹ với tất cả tình yêu thương, dù điều đó khiến tôi đau nhói khi nghĩ rằng mẹ đã bỏ lỡ biết bao điều trong đời, và bản thân tôi thì lại chẳng tiếp thu được gì sất; bởi vì dù có cố gắng đến mấy, tôi cũng chẳng bao giờ hiểu nổi những thứ ấy.

Những lúc khác tôi lại nằm ngủ trên sàn trong phòng làm việc của bà chủ, bà dịu dàng gác chân lên người tôi, biết rằng điều đó làm tôi vui, vì đó là một cử chỉ âu yếm; có khi tôi dành hàng giờ trong phòng trẻ, được vò đầu bứt tai và thấy lòng ngập tràn hạnh phúc; khi khác tôi lại canh chừng bên chiếc nôi, lúc em bé đang ngủ và người bảo mẫu ra ngoài lo vài việc lặt vặt cho bé; lúc thì tôi nô đùa và chạy đuổi cùng Sadie khắp khuôn viên và vườn tược cho đến khi cả hai đứa mệt lử, rồi lăn ra ngủ trên bãi cỏ dưới bóng cây trong lúc cô bé đọc sách; có khi tôi lại sang thăm mấy con chó hàng xóm-vì có vài người bạn rất dễ mến ở gần đấy, trong đó có một anh chàng chó tha mồi Ireland lông xoăn vô cùng tuấn tú, lịch thiệp và duyên dáng tên là Robin Adair3, anh ta cũng là tín đồ dòng Presbyterian như tôi, và thuộc về vị mục sư người Scotland.

Những người hầu trong nhà chúng tôi đều tốt bụng và rất quý tôi, và vì thế, như bạn thấy đấy, cuộc sống của tôi thật êm đềm. Chẳng thể có con chó nào hạnh phúc hay biết ơn hơn tôi. Tôi sẽ nói điều này về bản thân mình, vì nó đơn giản chỉ là sự thật: Tôi đã cố gắng bằng mọi cách để sống cho tử tế và làm những điều đúng đắn, để tôn vinh ký ức cùng những lời dạy của mẹ, và để xứng đáng, một cách tốt nhất có thể, với niềm hạnh phúc đã đến với mình.

Rồi chẳng bao lâu sau, đứa con bé bỏng của tôi chào đời, và lúc ấy chiếc cốc của tôi đã đầy tràn, hạnh phúc của tôi đã trở nên trọn vẹn. Nó là một sinh linh lẫm chẫm đáng yêu nhất trên cõi đời này, mượt mà và mềm mại như nhung, với những cái bàn chân bé xíu lóng ngóng kháu khỉnh, đôi mắt tràn đầy yêu thương, và một gương mặt ngây thơ ngọt ngào vô ngần; tôi tự hào biết bao khi thấy bọn trẻ cùng mẹ của chúng yêu quý, cưng nựng nó, và trầm trồ trước từng hành động nhỏ bé kỳ diệu mà nó làm. Đối với tôi, dường như cuộc sống đã quá đỗi tuyệt vời đến mức-

Và Rồi Cún Con Bé Nhỏ Của Tôi Chào Đời

Rồi mùa đông đến. Một ngày nọ, tôi đang làm nhiệm vụ canh gác trong phòng trẻ. Nói đúng ra là, tôi đang ngủ trên giường. Em bé đang ngủ trong nôi, đặt ngay cạnh giường, ở phía gần lò sưởi. Đó là loại nôi có chiếc lều che bên trên bằng chất liệu mỏng manh mà bạn có thể nhìn xuyên qua. Người bảo mẫu đã ra ngoài, và chỉ còn hai chúng tôi - hai kẻ đang say ngủ. Một tia lửa từ đống củi trong lò bắn ra, rơi trúng mái dốc của chiếc lều. Tôi đoán là sau đó có một khoảng lặng ngắn, rồi một tiếng thét của em bé đánh thức tôi dậy, và chiếc lều ấy đã rực cháy phừng phừng, lửa bốc lên tới tận trần nhà! Trước khi kịp suy nghĩ, tôi đã hoảng hốt nhảy phốc xuống sàn nhà, và chỉ trong một giây đã chạy được nửa đường ra tới cửa; nhưng ngay nửa giây sau đó, lời từ biệt của mẹ văng vẳng bên tai, và tôi liền quay trở lại chiếc giường. Tôi vươn đầu qua ngọn lửa, cắn vào đai lưng của em bé mà lôi ra, ráng hết sức kéo đi, rồi cả hai chúng tôi cùng rơi xuống sàn trong một đám mây khói mịt mù; tôi ngoạm lại một chỗ khác, lôi sinh linh bé nhỏ đang gào khóc ấy ra khỏi cửa, vòng qua khúc quanh của hành lang, và vẫn đang ra sức kéo đi, lòng tràn ngập kích động, hạnh phúc và tự hào, thì giọng ông chủ vang lên:

"Mày cút đi, con thú khốn kiếp!" - và tôi nhảy lên để tự vệ; nhưng ông ta nhanh như điên, rượt theo tôi, vung gậy đánh tôi tới tấp, tôi né hết bên này sang bên kia trong nỗi kinh hoàng, và cuối cùng một cú giáng thật mạnh trúng vào chân trước bên trái của tôi, khiến tôi rú lên và gục xuống, trong khoảnh khắc ấy, hoàn toàn bất lực; cây gậy lại vung lên cho một cú nữa, nhưng chẳng bao giờ giáng xuống, vì giọng người bảo mẫu hoảng loạn vang lên: "Phòng trẻ cháy rồi!" - và ông chủ liền lao vụt về hướng ấy, thế là những chiếc xương còn lại của tôi được cứu.

Cơn đau thật tàn nhẫn, nhưng không sao, tôi không được phép lãng phí một giây phút nào; ông ta có thể quay lại bất cứ lúc nào; thế là tôi khập khiễng đi bằng ba chân về phía cuối hành lang, nơi có một cầu thang nhỏ tối om dẫn lên căn gác xép - chỗ cất giữ những chiếc hộp cũ và những thứ tương tự, như tôi từng nghe kể, và là nơi người ta hiếm khi lui tới. Tôi xoay sở để leo lên được đó, rồi mò mẫm trong bóng tối len qua những đống đồ đạc ngổn ngang, tìm đến nơi kín đáo nhất mà tôi có thể thấy. Thật là ngốc nghếch khi phải sợ hãi ở nơi ấy, nhưng tôi vẫn sợ; sợ đến mức tôi cố nén và gần như chẳng dám rên rỉ tiếng nào, dù rằng rên rỉ sẽ khiến tôi dễ chịu hơn biết bao, vì nó giúp xoa dịu cơn đau, bạn biết đấy. Nhưng tôi có thể liếm cái chân của mình, và việc ấy cũng đỡ được phần nào.

Trong vòng nửa giờ, ở tầng dưới náo loạn hết cả lên, những tiếng la hét, những bước chân chạy rầm rập, rồi mọi thứ lại trở nên yên ắng. Im lìm trong một vài phút, và điều ấy khiến tinh thần tôi nhẹ nhõm đôi chút, vì khi ấy nỗi sợ hãi của tôi bắt đầu dịu xuống; mà nỗi sợ thì còn tồi tệ hơn những cơn đau - ôi, tồi tệ hơn nhiều. Rồi một âm thanh vang lên khiến tôi chết lặng. Họ đang gọi tôi - gọi tên tôi - đang săn lùng tôi!

Âm thanh ấy bị bóp nghẹt bởi khoảng cách, nhưng điều đó chẳng thể làm vơi đi nỗi kinh hoàng trong nó, và đối với tôi, đó là âm thanh khủng khiếp nhất mà tôi từng nghe thấy. Nó vang lên khắp mọi nơi, mọi ngóc ngách, ở dưới kia: dọc theo các hành lang, xuyên qua tất cả các căn phòng, ở cả hai tầng lầu, dưới tầng hầm và hầm chứa; rồi ra tới bên ngoài, xa dần, xa dần - rồi lại quay về, và vòng quanh ngôi nhà thêm một lần nữa, tôi đã nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ, chẳng bao giờ chấm dứt. Nhưng cuối cùng nó cũng ngừng, rất lâu sau khi ánh hoàng hôn mờ ảo của căn gác xép từ lâu đã bị bóng tối đen kịt nuốt chửng.

Rồi trong sự tĩnh lặng thánh thiện ấy, những nỗi kinh hoàng của tôi dần dần tan biến, tôi thấy bình yên và thiếp đi. Đó là một giấc ngủ ngon, nhưng tôi đã thức dậy trước khi hoàng hôn lại buông xuống. Tôi cảm thấy khá thoải mái, và giờ đây tôi có thể nghĩ ra một kế hoạch. Tôi đã vạch ra một kế hoạch rất hay; đó là, bò xuống, men theo cầu thang sau đi xuống hết, nấp sau cánh cửa hầm, rồi lẻn ra ngoài và trốn thoát khi người giao đá đến vào lúc bình minh, lúc ông ta vào trong để chất đá cho tủ lạnh; sau đó tôi sẽ lẩn trốn suốt cả ngày, và bắt đầu cuộc hành trình của mình khi màn đêm buông xuống; cuộc hành trình của tôi đến - chà, bất cứ nơi nào mà người ta không biết đến tôi và sẽ không giao nộp tôi cho ông chủ. Lúc này tôi cảm thấy gần như vui vẻ; rồi đột nhiên tôi chợt nghĩ: Ôi, cuộc sống sẽ ra sao nếu thiếu vắng đứa con bé bỏng của mình!

Đó là nỗi tuyệt vọng. Chẳng còn kế hoạch nào cho tôi nữa; tôi nhận ra điều ấy; tôi phải ở lại nơi mình đang trú ngụ; ở lại, chờ đợi, và đón nhận bất cứ điều gì có thể ập đến - đó không phải là chuyện của tôi; cuộc sống là như thế - mẹ tôi đã từng nói vậy. Rồi - chà, rồi tiếng gọi lại bắt đầu! Tất cả nỗi buồn tủi của tôi lại ùa về. Tôi tự nhủ, ông chủ sẽ chẳng bao giờ tha thứ. Tôi không biết mình đã làm gì mà khiến ông ấy trở nên cay nghiệt và không thể khoan dung đến vậy, nhưng tôi đoán đó là điều mà một con chó không sao hiểu nổi, nhưng với con người thì lại rành rành và thật khủng khiếp.

Họ cứ gọi và gọi - tôi chẳng còn phân biệt nổi ngày hay đêm nữa, đối với tôi dường như là thế. Lâu đến mức cơn đói và cơn khát suýt làm tôi phát điên, và tôi nhận ra mình đang trở nên rất yếu. Khi bạn ở trong tình trạng như vậy, bạn sẽ ngủ rất nhiều, và tôi cũng thế. Có một lần tôi thức giấc trong nỗi sợ hãi tột độ - dường như tiếng gọi đang ở ngay tại căn gác xép này! Và đúng là như vậy: đó là giọng của Sadie, và cô bé đang khóc; tên tôi thốt ra từ đôi môi cô bé nghe thật nức nở, tội nghiệp làm sao, và tôi không thể tin vào tai mình vì quá đỗi vui sướng khi nghe cô bé nói:

"Hãy quay về với chúng ta đi - ôi, hãy quay về với chúng ta, và tha thứ cho chị - mọi thứ thật buồn bã nếu thiếu em -"

Tôi chen ngang bằng MỘT tiếng sủa ăng ẳng nhỏ xíu đầy biết ơn, và khoảnh khắc sau Sadie đã lao tới, loạng choạng xuyên qua bóng tối cùng đống đồ đạc lỉnh kỉnh và hét lớn cho cả nhà cùng nghe: "Tìm thấy em ấy rồi, tìm thấy em ấy rồi!"

Kéo Nhau Đến Nghe Về Chiến Công Anh Hùng Của Tôi

Những ngày sau đó - chà, chúng quả là tuyệt diệu. Bà chủ, Sadie và những người hầu - ôi, họ dường như chỉ biết tôn thờ tôi. Họ dường như chẳng thể làm cho tôi một chỗ nằm nào đủ tốt; còn về thức ăn, họ không thể hài lòng với bất cứ thứ gì kém hơn thịt thú rừng và những món ngon trái mùa; và ngày nào bạn bè cùng hàng xóm láng giềng cũng lũ lượt kéo đến để nghe về sự anh hùng của tôi - đó là cái tên mà họ gọi cho hành động ấy, và nó có nghĩa là nông nghiệp4. Tôi nhớ có lần mẹ tôi đã dùng từ ấy trên một cái chuồng chó, và giải thích nó theo cách như vậy, nhưng không nói nông nghiệp là gì, ngoại trừ việc nó đồng nghĩa với sự nóng sáng trong tường5; và mỗi ngày cả chục lần bà Gray và Sadie lại kể câu chuyện ấy cho những người mới đến, nói rằng tôi đã liều mạng để cứu em bé, và cả hai chúng tôi đều có những vết bỏng để minh chứng, rồi đám khách khứa sẽ chuyền tay nhau bế tôi lên, vuốt ve và xuýt xoa về tôi, và bạn có thể nhìn thấy niềm tự hào lấp lánh trong ánh mắt của Sadie và mẹ cô bé; và mỗi khi có người muốn biết điều gì đã khiến tôi đi khập khiễng, họ lại tỏ ra bối rối và lảng sang chuyện khác, và đôi lúc người ta cứ dồn dập hỏi họ đủ kiểu về chuyện đó, tôi thấy dường như họ sắp khóc đến nơi.

Và vinh quang không chỉ dừng lại ở đó; không, bạn bè của ông chủ đã kéo đến, tổng cộng hai mươi người toàn những nhân vật xuất chúng nhất, họ đưa tôi vào phòng thí nghiệm, và bàn luận về tôi như thể tôi là một loại phát minh nào đó; một vài người bảo điều ấy thật kỳ diệu ở một con thú câm lặng, màn trình diễn tuyệt vời nhất của bản năng mà họ từng được chứng kiến; nhưng ông chủ thì nói, với vẻ sôi nổi hẳn lên: "Nó vượt xa bản năng; đó là LÝ TRÍ, và có biết bao con người, được ban cho đặc ân cứu rỗi và cùng các vị với tôi bước đến một thế giới tốt đẹp hơn nhờ đặc ân ấy, lại có ít lý trí hơn con vật bốn chân ngốc nghếch tội nghiệp đã được định sẵn là sẽ diệt vong này;" rồi ông ta bật cười, và nói: "Chà, cứ nhìn tôi mà xem - tôi đúng là một trò mỉa mai! Lạy Chúa, với tất cả trí thông minh tuyệt đỉnh của mình, điều duy nhất mà tôi suy ra được là con chó đã phát điên và đang cắn xé đứa trẻ, trong khi nếu không nhờ trí thông minh của con thú - đó là LÝ TRÍ, tôi bảo các vị thế! - thì đứa trẻ đã bỏ mạng rồi!"

Họ tranh cãi rồi lại tranh cãi, và tôi là tâm điểm của tất cả những chuyện ấy, tôi đã ước gì mẹ tôi có thể biết được vinh dự lớn lao này đã đến với tôi; điều đó hẳn sẽ khiến mẹ tự hào biết mấy.

Sau đó họ thảo luận về quang học6, theo cách mà họ gọi, và liệu một chấn thương nào đó ở não có dẫn đến mù lòa hay không, nhưng họ chẳng thể thống nhất được về vấn đề ấy, họ bảo rằng chẳng sớm thì muộn họ sẽ phải kiểm tra nó bằng thí nghiệm; tiếp theo họ bàn về các loài cây, và điều ấy làm tôi thích thú, bởi vì vào mùa hè Sadie và tôi đã từng gieo vài hạt giống - tôi đã giúp cô bé đào hố, bạn biết đấy - và sau rất nhiều ngày, một bụi cây nhỏ hay một bông hoa lại mọc lên ở đó, thật là kỳ diệu xiết bao làm sao chuyện đó lại có thể xảy ra; nhưng nó đã xảy ra, và tôi ước gì mình có thể nói được - tôi sẽ kể cho những người ấy nghe về chuyện đó, cho họ thấy tôi biết nhiều đến thế nào, và hào hứng với chủ đề ấy ra sao; nhưng tôi thì chẳng quan tâm gì đến quang học; nó thật tẻ nhạt, và khi họ quay trở lại với chủ đề ấy, nó khiến tôi chán ngấy đến mức tôi lăn ra ngủ.

Chẳng bao lâu sau, mùa xuân đã về, nắng ấm dịu dàng và thật đáng yêu, người mẹ hiền từ cùng bọn trẻ âu yếm vuốt ve chào tạm biệt tôi và chó con, rồi họ lên đường cho một chuyến đi chơi và thăm họ hàng. Ông chủ thì chẳng bầu bạn gì với chúng tôi, nhưng hai mẹ con tôi chơi đùa cùng nhau và có những khoảng thời gian thật vui vẻ; những người hầu cũng tốt bụng và thân thiện, vậy nên chúng tôi sống với nhau khá hạnh phúc, đếm từng ngày mong ngóng gia đình trở về.

Rồi một ngày kia, những người đàn ông ấy lại đến, và bảo rằng bây giờ là lúc để kiểm tra - họ đưa chó con vào phòng thí nghiệm, tôi cũng khập khiễng lê ba chân theo sau, lòng đầy tự hào, vì bất cứ sự chú ý nào dành cho chó con cũng là niềm vui đối với tôi, dĩ nhiên rồi. Họ thảo luận rồi tiến hành thí nghiệm, và đột nhiên chó con hét lên một tiếng bàng hoàng, họ đặt nó xuống sàn, nó lảo đảo chạy vòng quanh, đầu bê bết máu, và ông chủ vỗ tay reo lên:

"Đó, tôi thắng rồi - thừa nhận đi! Nó mù như một con dơi ấy!"

Và tất cả bọn họ đều nói:

"Đúng là như vậy - anh đã chứng minh được giả thuyết của mình, và nhân loại đau khổ từ nay mang nợ anh một ân tình to lớn," rồi họ vây quanh ông ta, siết chặt tay ông ta một cách chân thành và đầy biết ơn, hết lời ca ngợi ông ta.

Nhưng tôi gần như chẳng nhìn thấy hay nghe được những điều ấy, vì tôi đã lao ngay đến bên con cưng bé nhỏ của mình, rúc sát vào nơi nó đang nằm, liếm sạch những vết máu, và nó rúc đầu vào đầu tôi, rên rỉ khe khẽ, và từ trong sâu thẳm trái tim mình, tôi biết rằng việc cảm nhận được cái chạm của mẹ là một niềm an ủi đối với nó giữa nỗi đau đớn và hoạn nạn này, dù nó chẳng thể nhìn thấy tôi. Rồi một lát sau, nó gục xuống, cái mũi nhung nhỏ xíu của nó tựa lên sàn nhà, nó nằm im lìm, và không cử động thêm nữa.

Chẳng mấy chốc, ông chủ ngừng thảo luận một lát, rung chuông gọi người đầy tớ vào, và bảo: "Đem chôn nó ở góc xa của khu vườn," rồi tiếp tục cuộc tranh luận. Tôi lạch bạch chạy theo người đầy tớ, rất đỗi hạnh phúc và biết ơn, vì tôi biết giờ đây chó con đã thoát khỏi đau đớn, bởi nó đang ngủ. Chúng tôi đi sâu xuống khu vườn cho đến tận cùng, nơi bọn trẻ, người bảo mẫu, chó con và tôi từng chơi đùa vào mùa hè dưới bóng một cây du lớn, ở đó người đầy tớ đào một cái hố. Tôi thấy bác ấy định gieo trồng chó con7, và tôi rất vui, vì nó sẽ lớn lên và trở thành một con chó khôi ngô tuyệt đẹp, giống như Robin Adair, và sẽ là một bất ngờ tuyệt vời cho cả nhà khi họ trở về; thế là tôi cố gắng giúp bác ấy đào, nhưng cái chân thọt của tôi chẳng làm nên trò trống gì, vì nó bị cứng đơ, bạn biết đấy, và bạn phải có đủ hai chân, bằng không thì vô ích. Khi người đầy tớ làm xong và đắp đất lên chú chó Robin bé nhỏ, bác ấy vuốt ve đầu tôi, trong mắt bác rưng rưng nước mắt, và bác ấy nói: "Con chó nhỏ tội nghiệp, mày đã cứu đứa con của ÔNG ẤY!"

Mày Đã Cứu Đứa Con Của **ÔNG ẤY**

Tôi đã canh chừng suốt hai tuần tròn, mà nó vẫn không mọc lên! Tuần vừa rồi, một nỗi hoảng sợ đã len lỏi trong tôi. Tôi nghĩ có điều gì đó thật tồi tệ về chuyện này. Tôi không biết đó là gì, nhưng nỗi sợ hãi khiến tôi ốm yếu đi, và tôi chẳng thể ăn được gì, dù những người hầu mang đến cho tôi những thức ăn ngon nhất; họ cưng nựng tôi vô cùng, thậm chí còn đến vào ban đêm, khóc, và bảo: "Chó nhỏ tội nghiệp - từ bỏ đi và vào nhà thôi; đừng làm chúng tôi tan nát cõi lòng!" - và tất cả những điều ấy càng khiến tôi khiếp sợ hơn, càng làm tôi tin chắc rằng có chuyện gì đó đã xảy ra. Và tôi yếu quá; từ hôm qua tôi không thể đứng vững trên đôi chân của mình được nữa. Và trong vòng một giờ qua, những người hầu, khi nhìn về phía mặt trời đang khuất dần và cái lạnh của màn đêm đang ập tới, đã nói những điều tôi chẳng thể hiểu, nhưng chúng mang theo một thứ gì đó lạnh giá buốt đến tận tim tôi.

"Những sinh linh tội nghiệp ấy! Họ không hề nghi ngờ. Sáng mai họ sẽ về nhà, háo hức hỏi thăm con chó nhỏ đã làm nên hành động dũng cảm ấy, và ai trong chúng ta sẽ đủ can đảm để nói ra sự thật với họ: 'Người bạn nhỏ bé khiêm nhường ấy đã đi đến nơi dành cho những sinh linh sinh ra để rồi diệt vong.'"



  1. Aileen Mavourneen là tựa đề một bài hát/bài thơ dân ca phổ biến của Ireland thế kỷ 19. Trong tiếng Ireland, 'Mavourneen' bắt nguồn từ 'mo mhuirnín', mang ý nghĩa là 'tình yêu của tôi' hoặc 'người yêu dấu'. Cái tên này thể hiện nguồn gốc Ireland của chó mẹ và sự gắn kết của tác phẩm với văn hóa Celt. 

  2. Chi tiết này chứa đựng một trò chơi chữ (pun) rất khó dịch trọn vẹn sang tiếng Việt, dựa trên sự tương đồng về cách phát âm trong tiếng Anh giữa 'laboratory' (phòng thí nghiệm) và 'lavatory' (phòng vệ sinh). 

  3. Robin Adair là tên một bài hát dân ca truyền thống rất nổi tiếng của Ireland và Scotland. 

  4. Một tổn thất biên dịch một phần: ở nguyên tác tiếng Anh, chó mẹ đánh đồng từ 'heroism' (chủ nghĩa anh hùng) với từ 'agriculture' (nông nghiệp). 

  5. Trong nguyên tác, cụm từ này là 'intramural incandescence'. Việc sử dụng những thuật ngữ học thuật phức tạp nhưng ghép lại hoàn toàn vô nghĩa là phong cách châm biếm đặc trưng của Mark Twain. 

  6. Quang học (optics) là phân ngành vật lý nghiên cứu về ánh sáng và cơ chế của thị giác. Đề tài thảo luận học thuật này thực chất là bước đệm báo trước cho hành động tàn nhẫn của nhà khoa học: thực hiện giải phẫu sinh thể (vivisection) gây chấn thương não trên chính chú chó con để kiểm chứng lý thuyết. 

  7. Chú chó mẹ không có khái niệm về cái chết hay việc 'chôn cất' (bury), nên đã liên tưởng hành động đào đất lấp thi thể với việc 'gieo hạt' (plant) mà nó từng phụ giúp cô chủ nhỏ.