I

Chiếc Nellie, một con tàu tuần tra nhỏ kiểu yawl, buông neo nằm im lìm, trên những cánh buồm chẳng mảy may có lấy một nếp rung động. Nước triều đang dâng, gió gần như lặng ngắt. Và vì chúng tôi phải xuôi theo dòng, cách duy nhất là đậu lại chờ cho đến khi con nước đổi chiều.

Cửa sông Thames mở ra trước mắt chúng tôi tựa như điểm khởi đầu của một tuyến đường thủy vô tận. Tít tắp khơi xa, biển và bầu trời hòa quyện vào nhau không một tì vết, và trong cái không gian rực rỡ ấy, những cánh buồm nâu sạm của đoàn sà lan trôi lững lờ theo con nước, tưởng chừng như đang bất động, gom lại thành những cụm bạt nhọn hoắt màu đỏ gạch, lấp lánh những vệt sáng hắt ra từ những cột buồm bóng loáng véc-ni. Dọc theo những bờ bãi thấp thoai thoải chạy dài ra biển, một lớp sương mù đọng lại rồi nhạt nhòa tan biến. Không khí phía trên Gravesend1 phủ một bức màn u ám, càng về xa càng như cô đặc lại thành một đám mây sầu thảm, phủ bóng im lìm lên thị trấn đồ sộ và vĩ đại nhất thế giới.

Vị Giám đốc của chúng tôi vừa là thuyền trưởng, vừa là chủ tàu. Bốn người chúng tôi đầy thiện cảm ngắm nhìn bóng lưng ông, lúc này đang đứng ở mũi tàu phóng tầm mắt ra phía đại dương. Trên khắp khúc sông này, chẳng có thứ gì toát lên vẻ từng trải của dân đi biển như ông. Ông mang vóc dáng của một vị hoa tiêu - hình mẫu của sự đáng tin cậy tuyệt đối trong mắt mọi thủy thủ. Thật khó mà tin được rằng nơi ông làm việc chẳng phải là ngoài cửa biển rực rỡ nắng vàng kia, mà lại là ở phía sau lưng, lẩn khuất dưới đám mây u ám nọ.

Giữa chúng tôi, như tôi từng nói, có chung một sợi dây gắn kết của biển cả. Nó không chỉ nối liền những trái tim dẫu qua muôn vàn cách trở, mà còn dạy chúng tôi biết bao dung với những câu chuyện rông dài - và thậm chí là đức tin - của nhau. Viên Luật sư - người tuyệt vời nhất trong nhóm bạn già - nhờ tuổi tác và đạo mạo, được đặc cách chiếm dụng chiếc đệm duy nhất trên boong và đang ngả lưng trên tấm thảm độc nhất. Viên Kế toán lôi ra một hộp domino, say sưa hí hoáy những quân cờ. Marlow thì ngồi xếp bằng phía đuôi tàu, tựa lưng vào cột buồm. Với đôi má hóp, nước da vàng vọt, sống lưng thẳng tắp cùng nét mặt khổ hạnh, hai cánh tay buông thõng, lòng bàn tay ngửa ra ngoài, trông anh hệt như một bức tượng Phật. Vị Giám đốc, sau khi đoan chắc mỏ neo đã bám chặt, bèn cất bước về phía đuôi tàu rồi ngồi xuống giữa chúng tôi. Cả nhóm uể oải buông vài câu trò chuyện. Rồi một sự tĩnh lặng nhẹ nhàng bao trùm lấy con tàu. Chẳng hiểu sao chúng tôi vẫn chưa bắt đầu ván domino. Ai nấy đều chìm trong suy tư, chẳng màng làm gì ngoài việc thả hồn nhìn xa xăm, lòng thanh thản lạ thường. Một ngày dần khép lại trong vẻ tĩnh tại bình yên và rực rỡ đến độ hoàn mỹ. Mặt nước tỏa ánh sáng êm ả; bầu trời trong vắt không một gợn mây mở ra một khoảng không bao la của thứ ánh sáng tinh khiết; ngay cả mảng sương mù vờn quanh khu đầm lầy Essex cũng hệt như một dải lụa mỏng lấp lánh, vắt ngang từ những gò đất rợp bóng cây trong đất liền, rồi rủ xuống những dải bờ thấp qua những nếp gấp mờ ảo. Chỉ riêng đám mây u ám phía trời tây, chực chờ bao phủ lấy thượng nguồn, là cứ mỗi phút lại thêm sẫm màu, cứ như đang phẫn nộ trước ánh tà dương dần buông.

Và rồi, men theo quỹ đạo trượt dần mà mắt thường khó lòng nhận biết, mặt trời lặn xuống, từ một khối trắng chói lóa chuyển sang sắc đỏ đục ngầu, cạn kiệt cả tia sáng lẫn hơi ấm, như thể chực lụi tắt bất cứ lúc nào, bị kết liễu bởi cái chạm ác nghiệt của đám mây u ám đang đè nặng lên vô số sinh linh đằng kia.

Tức thì, một biến chuyển lan nhanh trên mặt nước, vẻ thanh bình bớt đi sự chói lọi nhưng lại nhuốm màu sâu lắng hơn. Dòng sông già cỗi uốn mình qua khúc quanh rộng lớn nằm im lìm không một gợn sóng giữa buổi chiều tà. Sau bao năm tháng tận tụy phụng sự cho những con người lập nghiệp đôi bờ, giờ đây nó trải dài trong vẻ tĩnh mạc trang nghiêm, tựa như một tuyến đường thủy dẫn đến những nơi tận cùng của trái đất. Chúng tôi ngắm nhìn dòng nước đáng kính ấy, chẳng phải dưới ánh sáng chói lòa của một ngày ngắn ngủi chợt đến rồi đi, mà dưới quầng sáng huy hoàng của những ký ức trường tồn. Và quả thực, với một kẻ trót "theo nghiệp biển" bằng tất cả lòng tôn kính và sự gắn bó, chẳng gì dễ dàng hơn việc đánh thức tinh thần vĩ đại của quá khứ trên đoạn hạ lưu sông Thames này. Con nước thủy triều cứ mải miết dâng lên rồi rút xuống, hoàn thành nghĩa vụ không mệt mỏi của nó, chuyên chở trĩu nặng những ký ức về bao con người, bao chiến hạm mà nó từng dẫn lối về bến đỗ bình yên hay đưa đẩy vào những trận thủy chiến khốc liệt. Nó đã chứng kiến và phụng sự mọi vĩ nhân mà quốc gia này hằng tự hào, từ Ngài Francis Drake2 cho tới Ngài John Franklin3. Dù có được phong tước hay không, tất thảy họ đều là những hiệp sĩ - những hiệp sĩ lang bạt vĩ đại của đại dương. Nó từng cõng trên lưng tất cả những con tàu có tên tuổi sáng lấp lánh như ngọc báu giữa màn đêm của thời gian: từ chiếc Golden Hind4 trở về với hai mạn tàu phình to vì chất đầy châu báu, vinh dự được Nữ hoàng giá lâm để rồi ghi danh vào những trang sử hào hùng; cho tới chiếc ErebusTerror20 giong buồm hướng tới những miền đất hứa - và vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Sông Thames đã thấu tỏ cả những con tàu lẫn những con người. Họ nhổ neo từ Deptford, từ Greenwich, từ Erith5 - những nhà thám hiểm, những người khai hoang; những ngự thuyền của bậc đế vương, những chiến thuyền của phường thương gia; các vị thuyền trưởng, các bậc đô đốc, hay cả những "kẻ buôn lậu" bí ẩn dọc tuyến giao thương phương Đông, cùng những "vị tướng" được ủy quyền thống lĩnh hạm đội Đông Ấn6. Kẻ săn vàng, người cầu danh, tất thảy đều đã căng buồm trên chính dòng sông này. Mang theo gươm giáo, và thường là cả những ngọn đuốc sáng, họ là những sứ giả mang trong mình sức mạnh quốc gia, những người châm ngọn lửa thiêng. Có sự vĩ đại nào lại chưa từng dập dềnh trên dòng thủy triều rút của dòng sông này, để trôi vào sự bí ẩn của những miền đất vô danh!... Những giấc mơ của nhân loại, những hạt giống của các liên bang, những mầm mống của bao đế chế.

Mặt trời khuất bóng; hoàng hôn rũ xuống lòng sông, đôi bờ lác đác những ánh đèn nhen nhóm. Ngọn hải đăng Chapman, cắm ba chân đứng sừng sững trên bãi bùn, tỏa ra quầng sáng rực rỡ. Ánh đèn từ những con tàu qua lại trên luồng lạch tạo nên một nhịp điệu hối hả của những đốm sáng ngược xuôi. Dọc theo thượng nguồn xa tít về phía tây, hình hài của thị trấn khổng lồ vẫn hằn lên nền trời một vẻ đe dọa đầy ám ảnh: một quầng mây u ám dưới ánh dương, một quầng sáng đỏ quạch chói lòa dưới ngàn sao.

"Và nơi này nữa," Marlow bất chợt lên tiếng, "cũng từng là một trong những nơi tăm tối nhất của trái đất."

Anh là người duy nhất trong nhóm chúng tôi còn "theo nghiệp biển". Lời chỉ trích nặng nề nhất có thể dành cho anh, ấy là anh không đại diện cho chính tầng lớp của mình. Marlow là một gã thủy thủ, nhưng đồng thời lại là một kẻ lang bạt kỳ hồ; trong khi phần lớn dân đi biển đều sống một cuộc đời - nếu có thể nói vậy - khá yên vị. Tâm hồn họ thuộc về tuýp người hoài hương, và tổ ấm thì luôn gắn chặt lấy họ - đó chính là con tàu; quê hương của họ cũng vậy - đó chính là đại dương. Tàu nào thì cũng là tàu, và biển thì nơi đâu cũng là biển. Giữa cái bất biến của môi trường chung quanh, những bến bờ xa lạ, những khuôn mặt ngoại quốc, cái bao la thay hình đổi dạng không ngừng của nhân thế cứ thế lướt qua họ; không bị che lấp bởi sự huyền bí, mà bị khuất lấp bởi một thái độ phớt lờ có phần coi khinh. Bởi lẽ, đối với một tay thủy thủ, chẳng có gì là bí ẩn ngoại trừ đại dương, cái bà chúa vừa định đoạt sự sinh tồn của hắn, vừa khó lường hệt như Định mệnh. Còn lại, rũ bỏ những giờ làm việc căng thẳng, một chuyến thả bộ tình cờ hay một cuộc vui tàn khốc ngẫu hứng trên đất liền là đã quá đủ để phơi bày trước mắt hắn bí mật của cả một lục địa; và thường thì, hắn luôn cho rằng mớ bí mật đó chẳng bõ công để bận tâm. Các câu chuyện của dân đi biển luôn mang một sự bộc trực giản đơn, ý nghĩa dồn cả vào trong cái vỏ nứt của một hạt dẻ. Nhưng Marlow thì khác (chưa bàn đến cái thói thích rông dài của anh); với anh, ý nghĩa của một sự kiện không nằm khuất lấp bên trong như một cái nhân, mà nó nằm ở bên ngoài, bao bọc lấy câu chuyện đang chuyên chở nó ra ánh sáng, hệt như một tia chớp làm hiển lộ màn sương mù, mang dáng dấp của một quầng hào quang mờ ảo thỉnh thoảng hiện lên dưới thứ ánh sáng huyền hoặc của vầng trăng.

Câu bình luận của anh nghe chẳng có gì đáng để ngạc nhiên, bởi nó mang rặt phong cách của Marlow. Cả nhóm đón nhận trong im lặng. Chẳng một ai buồn càu nhàu nửa lời; và một lát sau, anh cất giọng chầm chậm - "Tôi đang ngẫm về những thời kỳ xa xăm, khi những người La Mã đầu tiên đặt chân đến cõi này, mười chín thế kỷ trước - tưởng chừng như mới đây thôi.... Từ dạo đó, ánh sáng đã lan tỏa trên dòng sông này - các anh vừa bảo là những Hiệp sĩ ư? Phải rồi; nhưng nó giống một ngọn lửa liếm qua cánh đồng, một tia chớp chói lòa rạch ngang mây xám. Chúng ta đang sống trong cái ánh chớp lóe sáng ấy - cầu mong sao nó còn kéo dài chừng nào cái trái đất già cỗi này vẫn quay! Thế nhưng, sự tăm tối đã từng ngự trị nơi đây mới ngày hôm qua. Hãy thử hình dung cảm giác của vị chỉ huy một con tàu mỹ lệ - người ta gọi chúng là gì nhỉ? - à, một chiếc thuyền chiến ba tầng chèo vẫy vùng nơi Địa Trung Hải, bỗng nhiên nhận lệnh hành quân lên miền viễn bắc; vội vã băng qua lãnh thổ quân Gaul7; rồi được giao phó một trong những chiến thuyền đó cùng bầy lính lê dương - hẳn họ cũng là một đội thợ mộc vô cùng khéo tay - để rồi họ chế ra, có lẽ là hàng trăm chiếc thuyền như thế, chỉ trong vòng một đến hai tháng, nếu ta dám tin vào những gì sử sách còn ghi. Hãy tưởng tượng hắn ta đang đứng ở đây - tại cái nơi tận cùng của thế giới này, đối diện một vùng biển màu chì sầm sì, một bầu trời đặc khói xám xịt, trên một con tàu trồi sụt như một chiếc phong cầm - đang còng lưng đi ngược con nước cùng với lương thảo, mệnh lệnh, hay bất cứ thứ quái quỷ gì mà hắn muốn. Nhìn đâu cũng chỉ thấy bãi cát ngầm, đầm lầy, rừng rậm và lũ người man rợ, - thứ thức ăn bỏ bụng cho một con người văn minh chẳng có là bao, nước uống thì chẳng có gì ngoài nước sông Thames. Không có rượu Falernian8, chẳng có lấy một lần được phép lên bờ xả hơi. Chỗ này, chỗ kia mọc lên vài doanh trại quân đội lọt thỏm giữa vùng hoang vu, khác nào mò kim đáy bể - chỉ có giá lạnh, sương mù, bão tố, bệnh dịch, cảnh lưu đày và cái chết - một cái chết rình rập vất vưởng trong không khí, lặn dưới làn nước, nấp sau những bụi rậm. Bọn họ chắc mẩm đã chết như rạ ở cái xứ này. Ồ, phải rồi - hắn ta đã làm như vậy. Và không mảy may nghi ngờ, hắn đã hoàn thành rất tốt, chẳng mấy đắn đo về chuyện đó, ngoại trừ việc sau này sẽ khoác lác về những chiến tích thời oanh liệt. Họ là những kẻ đủ gan góc để đương đầu với bóng tối. Và biết đâu, hắn còn tự an ủi mình bằng cách trông ngóng cơ hội được thăng quan tiến chức vào hạm đội đồn trú ở Ravenna9 sau này, miễn là hắn quen biết mấy tay tai to mặt lớn ở Rome và sống sót qua được cái khí hậu khắc nghiệt đến rợn người ấy. Hoặc thử nghĩ tới một chàng công dân trẻ tử tế vận chiếc áo choàng toga10 - có khi vì trót mê trò xúc xắc quá đà, các anh hiểu mà - mò đến chốn này trong đoàn tùy tùng của một viên thái thú nào đó, một tay thu thuế, hay thậm chí là một gã thương gia, hòng đổi đời gỡ gạc. Đặt chân lên vùng đầm lầy, hành quân lội qua những cánh rừng, và bên trong một trạm gác hẻo lánh nào đó, hắn cảm nhận được sự man rợ, một sự man rợ đến tột cùng, đang vây bủa lấy mình - tất thảy cái sự sống bí hiểm của vùng hoang dã, cái thứ vẫn luôn âm ỉ cựa mình trong những cánh rừng rậm rạp, trong trái tim của lũ người hoang dã. Cũng chẳng có lễ nghi kết nạp nào dọn đường cho việc bước chân vào những cõi huyền bí như vậy. Hắn buộc phải sống mòn giữa những thứ không thể nào thấu hiểu nổi, và cũng vô cùng đáng ghê tởm. Để rồi, nó bắt đầu có một sức cám dỗ, rỉ rả ăn mòn hắn. Sự cám dỗ của cái ác - các anh biết đấy, cứ thử tưởng tượng nỗi hối hận ngày một trào dâng, niềm khao khát được đào tẩu, sự ghê tởm đến bất lực, cái đầu hàng nhục nhã, và cả lòng căm thù."

Anh khựng lại.

"Phải nhớ nhé," anh lại bắt đầu, khẽ nâng một cánh tay lên từ khuỷu, lòng bàn tay ngửa ra, sao cho, với đôi chân xếp bằng trước mặt, anh mang dáng dấp của một vị Phật đang thuyết pháp, khoác âu phục và thiếu đi đài sen - "Phải nhớ kỹ, không ai trong chúng ta sẽ phải nếm trải cảm giác tồi tệ nhường ấy. Điều cứu rỗi chúng ta chính là sự hiệu quả - sự tận hiến cho tính hiệu quả. Nhưng lũ người này thì quả thực chẳng đáng bận tâm. Bọn họ không phải là dân thực dân; tôi ngờ rằng sự cai trị của chúng chẳng qua chỉ là những cuộc vơ vét, không hơn không kém. Chúng là những kẻ chinh phục, và để đạt được điều đó, anh chỉ cần đến một thứ sức mạnh bạo tàn - chẳng có gì đáng để vỗ ngực tự hào, khi anh sở hữu nó, bởi rốt cuộc cái sức mạnh ấy chỉ là hệ quả phái sinh từ sự yếu thế của kẻ khác. Chúng ra sức vơ vét những gì có thể hôi của được, cốt cũng chỉ vì lòng tham vô đáy. Đó thuần túy là những vụ cướp bóc bằng bạo lực, là tội ác tày trời giết người hàng loạt trên quy mô lớn, và những con người ấy cứ nhắm mắt đâm đầu vào nó một cách mù quáng - rất xứng tầm với những kẻ đang phải chật vật chống chọi lại bóng tối. Cái gọi là công cuộc chinh phục trái đất, nói tóm lại cũng chỉ là việc tước đoạt đất đai từ tay những người có màu da khác đi một chút, hay sở hữu chiếc mũi tẹt hơn chúng ta đôi phần, và nó chẳng phải là điều gì tốt đẹp một khi anh nhìn thấu tâm can nó. Thứ duy nhất vớt vát được chút thể diện chính là ý tưởng. Một lý tưởng nằm đằng sau vỏ bọc ấy; không phải là một sự ngụy tạo ủy mị rẻ tiền mà là một lý tưởng đích thực; và một đức tin thuần khiết không vụ lợi dành cho lý tưởng ấy - một thứ gì đó để anh có thể gây dựng, cúi đầu sùng bái, và sẵn sàng hiến tế đời mình cho nó...."

Anh ngừng bặt. Những đốm lửa trượt dài trên mặt sông, những đốm xanh lá, đốm đỏ, đốm trắng, rượt đuổi, vượt lên, hội tụ, đan chéo vào nhau - rồi từ từ hoặc vội vã tách rời. Nhịp điệu giao thông của thành phố khổng lồ vẫn cứ thế hối hả trôi qua màn đêm đang đổ ập xuống dòng sông thao thức. Chúng tôi kiên nhẫn đưa mắt quan sát, mỏi mòn chờ đợi - cũng chẳng biết làm gì hơn cho đến khi con nước lên tới đỉnh triều; thế nhưng, sau một khoảng lặng thật dài, khi anh cất lời bằng một chất giọng ngập ngừng, "Tôi đồ rằng các anh vẫn còn nhớ tôi đã từng có một dạo làm thủy thủ nước ngọt," thì chúng tôi mới cay đắng nhận ra rằng, trước khi thủy triều kịp rút, tất thảy đã bị định sẵn sẽ phải ngồi nghe về một trong những chuyến phiêu lưu không hồi kết của Marlow.

"Tôi không muốn phiền các anh quá nhiều về những gì đã xảy đến với cá nhân tôi," anh bắt đầu cất giọng, và qua lời rào trước này cũng đủ bóc trần điểm yếu cố hữu của nhiều kẻ kể chuyện, những người dường như chẳng màng quan tâm thính giả của mình thích nghe điều gì nhất; "tuy nhiên, để thấu hiểu được tác động của nó đối với tôi, các anh nên biết làm cách nào mà tôi lại mò đến đó, tôi đã chứng kiến những gì, tôi đã đi ngược dòng sông ấy ra sao để đặt chân đến cái nơi mà lần đầu tiên tôi giáp mặt với con người đáng thương đó. Đó là điểm cực hạn của chuyến hải trình, và cũng là đỉnh điểm trong toàn bộ trải nghiệm của tôi. Chẳng hiểu sao, nó như thể rọi một thứ ánh sáng soi chiếu lên vạn vật xung quanh tôi - và đi sâu vào cả những miền suy tưởng của tôi. Nó cũng đủ tăm tối - và bi ai - chẳng có gì đặc biệt - cũng chẳng lấy gì làm rõ ràng cho cam. Không, nó không rõ ràng một chút nào. Thế nhưng, nó dường như đã hắt ra một quầng sáng rực rỡ."

"Như các anh còn nhớ, dạo ấy tôi vừa mới quay trở lại London sau một thời gian dài lênh đênh trên Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Biển Đông-như một kiểu tẩm bổ quen thuộc của phương Đông-mất đâu độ sáu năm gì đó. Tôi chỉ quanh quẩn vướng chân, quấy rầy các anh lúc làm việc, tự tiện xông vào nhà cứ như thể mình mang một sứ mệnh khai hóa thiêng liêng nào đó. Chuyện này cũng ổn thỏa được một dạo, nhưng dần dà tôi đâm ra chán ngán sự nhàn rỗi. Thế là tôi bắt đầu lùng sục một chiếc tàu-thật tình, tôi cho rằng đó mới là công việc gian nan nhất trần đời. Đám tàu bè thậm chí chẳng thèm ngó ngàng tới tôi. Rồi tôi cũng mệt mỏi với trò đuổi bắt ấy.

"Thuở nhỏ, tôi từng say mê bản đồ đến kỳ lạ. Tôi có thể dán mắt hàng giờ liền vào Nam Mỹ, châu Phi hay nước Úc, đắm chìm trong ánh hào quang rực rỡ của những cuộc thám hiểm vĩ đại. Hồi đó, trái đất còn đầy những khoảng trống chưa ai khám phá, và hễ thấy một vùng đất nào trên bản đồ trông có vẻ gợi trí tò mò (mà thực ra vùng nào cũng vậy cả), tôi lại đặt ngón tay lên đấy và quả quyết: 'Lớn lên, mình sẽ đến chỗ này.' Tôi nhớ Bắc Cực là một trong số đó. Chà, đến giờ tôi vẫn chưa tới đó, và giờ thì cũng chẳng muốn thử nữa. Sự quyến rũ đã phai nhạt mất rồi. Những vùng đất khác thì nằm rải rác khắp các bán cầu. Có vài nơi tôi đã từng đặt chân tới, và... thôi, ta sẽ không bàn về chuyện đó nữa. Nhưng vẫn còn một nơi-vùng đất bao la nhất, trống trải nhất, nếu có thể nói như vậy-mà tôi vẫn hằng khao khát.

"Thực tình mà nói, lúc bấy giờ nó không còn là một khoảng trống nữa. Nó đã được lấp đầy kể từ thời thơ ấu của tôi với vô số sông ngòi, hồ nước và những cái tên. Nó không còn là một khoảng trống chứa đựng sự bí ẩn đầy mê hoặc-một khoảng trắng dành cho những giấc mơ huy hoàng của một cậu bé. Nó đã biến thành một chốn tăm tối. Nhưng ở đó nổi bật lên một con sông, một dòng sông kỳ vĩ, mà nếu nhìn trên bản đồ, các anh sẽ thấy nó uốn lượn hệt như một con rắn khổng lồ đang trườn mình; đầu cắm ra biển lớn, thân vắt ngang một vùng đất mênh mông, còn chiếc đuôi thì lẩn khuất sâu vào đất liền. Lần đó, qua cửa kính của một cửa hàng, tôi nhìn thấy nó trên bản đồ, và nó lập tức thôi miên tôi hệt như con rắn thôi miên một chú chim non ngốc nghếch. Rồi tôi chợt nhớ ra có một tổ chức lớn, một Công ty thương mại tầm cỡ đang hoạt động trên con sông ấy. Chết tiệt thật! Tôi thầm nghĩ, họ đâu thể buôn bán mà thiếu vắng tàu thuyền trên cái mớ nước ngọt khổng lồ ấy-hẳn phải có tàu chạy bằng hơi nước! Tại sao mình lại không thử kiếm một chân thuyền trưởng nhỉ? Tôi rảo bước dọc theo phố Fleet, nhưng cái ý nghĩ ấy cứ bám riết lấy tôi. Con rắn đã thực sự bỏ bùa tôi mất rồi.

"Các anh đều biết tổ chức Thương mại ấy nằm ở Lục địa; nhưng tôi có vô khối họ hàng sống ở đó, phần vì chi phí rẻ, phần vì ở đấy cũng không đến nỗi tồi tàn như vẻ ngoài của nó, nghe họ bảo thế.

"Thật lòng tôi hơi xấu hổ khi thừa nhận rằng mình đã bắt đầu đến quấy nhiễu họ. Đó là một bước ngoặt hoàn toàn mới mẻ với tôi. Các anh biết đấy, tôi vốn không quen đạt được mục đích theo cách đó. Xưa nay, tôi luôn đi theo con đường của riêng mình và tự bước đi bằng chính đôi chân của mình. Tôi thậm chí không thể tin được bản thân lại làm vậy; nhưng rồi-các anh thấy đấy-tôi cảm thấy dường như có một sức mạnh vô hình nào đó thôi thúc tôi phải đến được nơi đó bằng mọi giá. Thế nên tôi đã đến làm phiền họ. Cánh đàn ông chỉ ậm ừ, 'Anh bạn thân mến,' và chẳng giúp được tích sự gì. Rồi-các anh có tin nổi không?-tôi phải cậy nhờ tới cả cánh đàn bà. Tôi, Charlie Marlow, lại phải nhờ đàn bà ra tay-để xin việc. Lạy Chúa! Chà, các anh thấy đấy, cái ý nghĩ ấy cứ thiêu đốt tôi. Tôi có một bà dì, một người phụ nữ luôn ngập tràn nhiệt huyết. Dì ấy viết: 'Sẽ thật tuyệt vời. Dì sẵn sàng làm bất cứ điều gì, bất cứ điều gì cho cháu. Đó là một ý tưởng vô cùng vinh quang. Dì quen vợ của một quan chức cấp cao trong Chính quyền, lại còn quen một người đàn ông có tầm ảnh hưởng lớn với...' vân vân. Bà quyết làm ầm ĩ mọi chuyện cốt để giúp tôi giành được chức thuyền trưởng trên một con tàu hơi nước chạy trên sông, nếu đó là thứ tôi khao khát.

"Tôi nhận được lệnh bổ nhiệm-chắc chắn là thế rồi; và lại còn có được nó cực kỳ nhanh chóng. Hóa ra Công ty vừa nhận hung tin một vị thuyền trưởng của họ đã bị sát hại trong một vụ xô xát với người bản địa. Đây chính là cơ may của tôi, và nó càng khiến tôi nóng lòng muốn lên đường hơn bao giờ hết. Mãi đến nhiều tháng sau, khi cố gắng thu gom những gì còn sót lại của thi hài anh ta, tôi mới biết căn nguyên của cuộc ẩu đả ấy bắt nguồn từ một sự hiểu lầm về mấy con gà. Vâng, hai con gà mái đen. Fresleven-tên của gã, một người Đan Mạch-cảm thấy mình bị chèn ép trong lúc mặc cả, thế là gã lên bờ và vác gậy đánh đập tay trưởng làng. Ồ, tôi không mảy may ngạc nhiên khi nghe chuyện này, dẫu người ta vẫn bảo Fresleven là một kẻ hiền lành, ít nói nhất trần đời. Hẳn đúng là anh ta hiền lành thật; nhưng anh ta đã ở ngoài đó vài năm để cống hiến cho một sự nghiệp cao cả, các anh biết đấy, và có lẽ rốt cuộc anh ta cảm thấy cần phải khẳng định cái tôi của mình theo một cách nào đó. Vì thế, gã đánh đập lão da đen già nua một cách tàn nhẫn, trước sự sững sờ của đông đảo dân làng, cho đến khi một người đàn ông-nghe đâu là con trai của lão trưởng làng-trong cơn phẫn uất tột cùng vì tiếng la hét của cha mình, đã đâm một nhát giáo vào người đàn ông da trắng-và dĩ nhiên, mũi giáo xuyên qua giữa hai xương bả vai anh ta một cách dễ dàng. Ngay sau đó, toàn bộ dân làng chạy tán loạn vào rừng rậm, phập phồng chờ đợi những tai họa khủng khiếp sẽ giáng xuống đầu mình; trong khi chiếc tàu hơi nước do Fresleven chỉ huy cũng rời đi trong một sự hoảng loạn tột độ dưới sự điều khiển của gã kỹ sư trưởng, tôi đoán vậy. Về sau, dường như chẳng ai đoái hoài gì đến hài cốt của Fresleven, cho đến khi tôi ra đó và thế chỗ anh ta. Dù sao thì tôi không thể nhắm mắt làm ngơ; nhưng đến lúc tôi có cơ hội đến chỗ người tiền nhiệm của mình, thì cỏ dại mọc xuyên qua những đoạn xương sườn đã đủ cao để che khuất bộ xương. Tất cả đều ở đó. Sau khi ngã xuống, cái sinh thể siêu nhiên ấy đã không bị ai chạm tới. Và ngôi làng thì bị bỏ hoang, những túp lều rách nát há hoác đen ngòm, xiêu vẹo sau những hàng rào đổ nát. Chắc chắn tai họa đã ập xuống nơi này. Mọi người đã biến mất sạch. Nỗi kinh hoàng tột độ đã xua đuổi họ, từ đàn ông, đàn bà đến trẻ con, chạy bạt mạng vào những bụi rậm, và họ không bao giờ quay trở lại. Tôi cũng không rõ bầy gà đã đi đâu về đâu. Nhưng tôi cho rằng nguyên nhân của sự tiến bộ vĩ đại đã bắt lấy chúng. Dù sao đi nữa, chính nhờ cái vụ việc vẻ vang này mà tôi nhận được quyết định bổ nhiệm, sớm hơn cả lúc tôi bắt đầu nhen nhóm hy vọng về nó.

"Tôi tất tả ngược xuôi lo liệu hành trang, và chưa đầy bốn mươi tám tiếng sau, tôi đã vượt eo biển Manche để trình diện các ông chủ và ký hợp đồng. Chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ, tôi đã đặt chân đến một thành phố luôn khiến tôi liên tưởng tới một nấm mồ được quét vôi trắng toát. Đương nhiên, đó chỉ là thành kiến của tôi. Chẳng khó khăn gì để tìm ra trụ sở của Công ty. Nó là tòa nhà đồ sộ nhất thị trấn, đi đến đâu cũng nghe người ta bàn tán về nó. Họ sắp sửa điều hành một đế chế ở hải ngoại, và hứa hẹn sẽ kiếm bộn tiền nhờ thương mại.

"Đó là một con phố hẹp, vắng lặng và chìm khuất trong bóng râm tối tăm, hai bên là những ngôi nhà cao tầng với vô số ô cửa sổ buông rèm sáo, một sự tĩnh lặng chết chóc bao trùm, cỏ dại mọc lởm chởm giữa những phiến đá tảng. Những cổng vòm uy nghi dành cho xe ngựa mở ra hai bên phải trái, những cánh cửa đôi khổng lồ nặng nề chỉ hé mở đôi chút. Tôi lách qua một trong những khe hở ấy, bước lên cầu thang sạch sẽ nhưng trơ trọi, khô khốc hệt như một sa mạc, và mở cánh cửa đầu tiên mình nhìn thấy. Hai người phụ nữ, một béo một gầy, ngồi trên những chiếc ghế tựa đan rơm, đang cặm cụi đan len đen. Bà béo đứng dậy, đi thẳng về phía tôi-tay vẫn đan, mắt vẫn nhìn xuống-và chỉ khi tôi định lảng tránh đường như tránh một người mộng du, bà ta mới dừng bước và ngước nhìn. Chiếc váy bà ta mặc tuềnh toàng như chiếc vỏ bọc ô, bà ta quay ngoắt lại chẳng nói chẳng rằng, đi trước dẫn tôi vào phòng chờ. Tôi xưng tên rồi đảo mắt nhìn quanh. Chiếc bàn gỗ thông mộc mạc đặt giữa phòng, vài chiếc ghế đẩu kê dọc theo những bức tường, ở một góc là tấm bản đồ lớn sáng bóng, loè loẹt đủ bảy sắc cầu vồng. Có một mảng màu đỏ lớn-thật mừng khi thấy nó, vì người ta thừa biết rằng ở đó đang có những công việc thực thụ; một vùng màu xanh dương, một chút màu xanh lá, vài vệt màu cam, và, trên Bờ Biển Đông, một đốm màu tím-đánh dấu nơi những kẻ tiên phong vui vẻ của sự tiến bộ đang nhâm nhi thứ bia nhẹ sảng khoái. Thế nhưng, tôi chẳng định đến bất cứ nơi nào trong số đó. Tôi đang tiến vào vùng màu vàng. Chết tiệt, nó nằm ngay chính giữa. Và con sông thì ở đó-đầy mê hoặc-nhưng lại chực chờ chết chóc-hệt như một con rắn. Ough! Một cánh cửa hé mở, cái đầu tóc trắng của một viên thư ký thò ra, mang theo một vẻ mặt đầy thương hại, và một ngón trỏ gầy guộc vẫy tôi vào trong khu vực cấm địa. Ánh sáng ở đó lờ mờ, và một chiếc bàn làm việc đồ sộ nằm chễm chệ giữa phòng. Từ phía sau cấu trúc ấy, một thân hình mũm mĩm, nhợt nhạt trong chiếc áo bành tô dài thượt từ từ lộ diện. Đó chính là ngài vĩ nhân. Ông ta cao độ mét sáu mấy, tôi đoán vậy, và nắm trong tay quyền sinh sát đối với hàng triệu đô la. Tôi ngờ rằng ông ta đã bắt tay tôi, lúng búng nói điều gì đó mơ hồ, và tỏ vẻ hài lòng với vốn tiếng Pháp của tôi. Bon Voyage (Thượng lộ bình an).

"Chừng bốn mươi lăm giây sau, tôi lại đứng trong phòng chờ với gã thư ký ngập tràn lòng trắc ẩn, kẻ đang dùng vẻ mặt đau khổ và đồng cảm tột độ ép tôi ký vào một mớ giấy tờ nào đó. Trong số đó, tôi tin là mình đã cam kết không bao giờ tiết lộ những bí mật thương mại. Chà, tôi cũng chẳng có ý định làm thế đâu.

"Tôi bắt đầu cảm thấy rờn rợn. Các anh biết đấy, tôi không quen với những thủ tục rườm rà thế này, lại còn có thứ gì đó đầy đe dọa lởn vởn trong bầu không khí. Có cảm giác như tôi đã vô tình vướng vào một âm mưu mờ ám nào đó-thật khó nói-có điều gì đó sai sai; và tôi chỉ mong nhanh chóng thoát khỏi nơi này. Ở căn phòng ngoài, hai người phụ nữ vẫn đang miệt mài đan đám len đen. Có vài người bước vào, và người phụ nữ trẻ hơn đi đi lại lại để dẫn họ vào trong. Người phụ nữ già hơn vẫn ngồi tĩnh lặng trên ghế. Đôi dép vải bệt của bà ta gác lên một chiếc lò sưởi chân, và một con mèo đang thiu thiu ngủ trên đùi. Đầu bà đội một thứ mũ cứng đơ màu trắng, trên má có một nốt ruồi, và chiếc kính gọng bạc trễ xuống tận chóp mũi. Bà ta liếc nhìn tôi qua cặp kính ấy. Cái nhìn lướt qua dửng dưng và điềm nhiên đến mức khiến tôi lạnh gáy. Hai thanh niên với khuôn mặt ngờ nghệch, hớn hở bước qua, và bà ta cũng ném cho họ cái nhìn sắc lẹm, hờ hững đầy vẻ từng trải ấy. Dường như bà ta biết tuốt mọi chuyện về họ, và về cả tôi nữa. Một cảm giác kỳ quái bóp nghẹt lấy tôi. Bà ta toát lên vẻ gì đó kỳ bí và mang đầy tính định mệnh. Sau này, ở nơi hoang dã xa xôi ấy, tôi thường hay nghĩ về hai người phụ nữ này, những kẻ gác đền của Bóng tối, ngồi đan len đen như để dệt một tấm khăn liệm ấm áp; một người thì liên tục đẩy những bóng hình vào cõi vô định, kẻ còn lại thì dán đôi mắt già nua, vô hồn săm soi những khuôn mặt thơ ngây, hớn hở kia. Ave! Hỡi người thợ đan len đen già nua. Morituri te salutant11 (Những kẻ sắp chết xin chào người). Dám chắc là quá nửa những người từng bị bà ta nhìn sẽ chẳng bao giờ có cơ hội quay lại nhìn bà ta lần nữa.

"Vẫn còn một thủ tục nữa-khám sức khỏe. 'Chỉ là một thủ tục đơn giản thôi,' viên thư ký trấn an tôi, với vẻ mặt nhăn nhó như thể đang phải gánh vác phần lớn nỗi sầu muộn của tôi. Tiếp đó, một gã thanh niên trẻ tuổi đội chiếc mũ lệch qua bên trái-chắc cũng là một thư ký, bởi ngay cả một nơi tĩnh mịch như nấm mồ này hẳn cũng phải có vài tay thư ký-từ trên lầu đi xuống dẫn tôi đi. Hắn trông khá tồi tàn và cẩu thả, tay áo khoác dính đầy vết mực, chiếc cà vạt to sụ phồng lên dưới cái cằm có hình thù hệt như mũi một chiếc ủng cũ. Vì vẫn còn hơi sớm để gặp bác sĩ, tôi đề nghị đi uống một ly, và thế là gã bộc lộ ngay sự vui vẻ rạng rỡ. Khi chúng tôi ngồi nhâm nhi ly vermouth, hắn thao thao bất tuyệt ca ngợi công việc làm ăn của Công ty, một lát sau tôi tình cờ bày tỏ sự ngạc nhiên vì sao hắn lại không ra đó. Gã bỗng chốc trở nên lạnh lùng và điềm tĩnh. 'Tôi không ngốc như vẻ ngoài của mình đâu, như Plato12 đã từng nói với các môn đệ của mình vậy,' hắn huênh hoang, nốc cạn ly rượu với một vẻ kiên quyết, rồi chúng tôi đứng dậy.

"Vị bác sĩ già bắt mạch cho tôi, trong khi tâm trí ông ta dường như đang để ở đâu đâu. 'Tốt, sức khỏe tốt, đủ sức ra ngoài đó,' ông ta lầm bầm, rồi với một vẻ háo hức kỳ lạ, ông hỏi liệu tôi có phiền nếu ông ta đo kích thước hộp sọ của tôi không. Dù khá ngạc nhiên, tôi vẫn gật đầu. Ông ta lôi ra một thứ dụng cụ trông như chiếc thước kẹp, tỉ mỉ đo từ trước ra sau, đo mọi góc độ, rồi cẩn thận ghi chép lại. Đó là một người đàn ông nhỏ nhắn, râu ria lởm chởm, mặc một chiếc áo khoác cũ sờn dài như áo chùng, chân đi dép lê; và tôi trộm nghĩ ông ta hẳn là một gã ngốc vô hại. 'Tôi luôn phải xin phép, vì lợi ích của khoa học, để đo hộp sọ của những kẻ sắp sửa ra đó,' ông giải thích. 'Thế khi họ trở về thì sao?' tôi hỏi. 'Ồ, tôi có bao giờ nhìn thấy họ quay về đâu,' ông thản nhiên đáp; 'với lại, những thay đổi thực sự lại diễn ra ở bên trong cơ, anh hiểu chứ.' Ông mỉm cười, như thể vừa nghĩ ra một trò đùa thầm kín nào đó. 'Vậy là anh sẽ ra đó. Tuyệt lắm. Chắc sẽ thú vị lắm đây.' Ông ném cho tôi một cái nhìn dò xét, rồi ghi thêm một dòng nữa. 'Trong gia đình anh, trước đây có ai từng mắc bệnh tâm thần không?' ông hỏi, giọng đều đều không chút cảm xúc. Tôi bắt đầu thấy khó chịu. 'Câu hỏi này cũng là vì lợi ích của khoa học à?' 'Nó sẽ rất thú vị cho khoa học,' ông ta nói, tảng lờ sự bực dọc của tôi, 'để quan sát những biến đổi về mặt tinh thần của các cá nhân ngay tại nơi đó, nhưng...' 'Ông có phải là bác sĩ tâm thần không vậy?' tôi ngắt lời. 'Bất cứ bác sĩ nào cũng nên mang trong mình một chút tính cách của một bác sĩ tâm thần,' gã dị nhân điềm nhiên đáp trả. 'Tôi có một giả thuyết nhỏ mà các quý ông ra ngoài đó phải giúp tôi chứng minh. Đó là đóng góp của tôi vào những lợi ích to lớn mà quốc gia sẽ gặt hái được nhờ sở hữu một thuộc địa tráng lệ như thế. Còn của cải vật chất thì tôi nhường cho kẻ khác. Xin thứ lỗi vì những câu hỏi mạo muội, nhưng anh là người Anh đầu tiên tôi có cơ hội quan sát...' Tôi vội vàng thanh minh rằng mình chẳng phải là một hình mẫu điển hình gì cho cam. 'Nếu tôi giống họ,' tôi nói, 'tôi đã chẳng đứng đây mà nói chuyện kiểu này với ông.' 'Những gì anh nói nghe khá sâu sắc, nhưng cũng có thể là sai lầm,' ông nói kèm theo một nụ cười ranh mãnh. 'Ở ngoài đó, tốt nhất là nên tránh những cơn giận dữ hơn là tránh ánh nắng mặt trời. Adieu (Tạm biệt). Người Anh các anh nói thế nào nhỉ? Good-bye. À! Good-bye. Adieu. Ở xứ nhiệt đới, trước hết người ta phải luôn giữ được sự bình tĩnh...' Ông giơ ngón trỏ lên với vẻ đầy cảnh cáo.... 'Du calme, du calme (Bình tĩnh, bình tĩnh).'

"Vẫn còn một việc nữa phải làm-đó là nói lời từ biệt với người dì tuyệt vời của tôi. Tôi thấy bà đang trong cơn đắc thắng tột độ. Tôi đã uống một tách trà-tách trà đàng hoàng cuối cùng trong nhiều ngày sắp tới-và trong một căn phòng bài trí êm đềm đúng như người ta kỳ vọng ở phòng khách của một quý bà, chúng tôi đã có một cuộc trò chuyện dài và ấm cúng bên lò sưởi. Qua cuộc tâm tình này, tôi lờ mờ nhận ra rằng mình đã được bà giới thiệu với vợ của vị chức sắc nọ, và có trời mới biết là với bao nhiêu người khác nữa, như một cá nhân xuất chúng và đầy tài năng-một món hời hiếm có của Công ty-một nhân tài không dễ gì bắt gặp. Lạy Chúa tôi! Vậy mà tôi lại đang chuẩn bị lên đường chỉ để điều khiển một chiếc tàu hơi nước rẻ tiền chạy bằng thứ còi chẳng đáng một xu! Thế nhưng, qua lời bà, có vẻ như tôi cũng là một Người Lao động, với chữ cái được viết hoa đầy trang trọng. Giống như một sứ giả mang ánh sáng văn minh, một kiểu tông đồ cấp thấp. Báo chí và dư luận hồi đó nhan nhản những thứ nhảm nhí như vậy, và người phụ nữ tuyệt vời ấy, sống giữa tâm bão của những trò huyễn hoặc đó, đã bị cuốn phăng đi. Bà thao thao bất tuyệt về sứ mệnh 'cai sữa cho hàng triệu con người ngu dốt ngoài kia khỏi những lề thói man rợ của họ,' cho đến khi, tôi thề có Chúa, bà khiến tôi cảm thấy thực sự ngột ngạt. Tôi bèn đánh bạo bóng gió rằng Công ty này hoạt động cốt chỉ vì lợi nhuận.

"'Cháu quên mất rồi sao, Charlie bé nhỏ, người lao động thì phải xứng đáng với đồng lương của mình chứ,' bà rạng rỡ đáp. Thật lạ kỳ là phụ nữ lại có thể xa rời thực tế đến mức ấy. Họ tự nhốt mình trong một thế giới mộng tưởng của riêng họ, một thế giới chưa từng tồn tại, và cũng sẽ chẳng bao giờ có thể tồn tại. Nó quá đỗi tươi đẹp, và nếu họ có dựng nên nó đi chăng nữa, nó cũng sẽ sụp đổ tơi bời ngay trước khi mặt trời lặn vào ngày đầu tiên. Một vài sự thật trần trụi nào đó-những thứ mà cánh đàn ông chúng ta vẫn chung sống hòa bình kể từ ngày đầu tiên của lịch sử kiến tạo-sẽ lập tức vùng lên và nghiền nát toàn bộ hệ thống ấy.

"Sau đó, tôi được ôm hôn thắm thiết, được dặn dò phải nhớ mặc đồ len flanen, phải viết thư thường xuyên, và vân vân-rồi tôi bước ra khỏi cửa. Trên đường phố-tôi chẳng hiểu vì sao-một cảm giác kỳ quặc bất chợt xâm chiếm lấy tôi, cảm giác như mình là một kẻ mạo danh. Thật nực cười khi tôi, một kẻ luôn sẵn sàng lên đường đến bất cứ xó xỉnh nào trên thế giới chỉ với vỏn vẹn hai mươi bốn giờ chuẩn bị, ít đắn đo hơn cả khi hầu hết những gã đàn ông khác bước qua đường, lại có một khoảnh khắc-tôi sẽ không gọi là do dự, mà là một sự ngập ngừng đầy thảng thốt-trước công việc kinh doanh tầm thường này. Cách tốt nhất để giải thích điều đó với các anh là nói rằng, trong một vài giây ngắn ngủi, tôi có cảm giác như thể mình đang chuẩn bị khởi hành đi thẳng đến trung tâm của trái đất, thay vì chỉ là đi vào trung tâm của một lục địa.

"Tôi khởi hành trên một chiếc tàu hơi nước của Pháp. Nó cập bến ở tất cả mọi hải cảng tồi tàn dọc đường, bởi vì, theo những gì tôi quan sát được, mục đích duy nhất của nó là nhả những gã lính và nhân viên hải quan lên bờ. Tôi chăm chú nhìn bờ biển. Ngắm nhìn một dải bờ biển vụt qua hệt như đang giải một câu đố hóc búa. Nó phơi bày trước mắt anh-khi thì mỉm cười, khi cau có, lúc vẫy gọi, vĩ đại, hèn mọn, nhạt nhẽo hay hoang dại, nhưng luôn câm lặng với một vẻ như đang thầm thì: 'Hãy đến đây và khám phá ta đi.' Dải bờ biển này gần như chẳng có nét gì nổi bật, cứ như thể nó vẫn đang trong quá trình thành hình, với một vẻ mặt dữ tợn và tẻ ngắt. Rìa của một khu rừng rậm khổng lồ, xanh thẫm đến mức gần như đen kịt, được viền bởi lớp bọt sóng trắng xóa, chạy thẳng tắp như một vệt kẻ vạch, trải dài xa tít tắp dọc theo vùng biển lấp lánh đang bị làm mờ bởi lớp sương mù đặc quánh. Mặt trời thiêu đốt rát bỏng, mảnh đất dường như rực sáng và túa ra những giọt hơi nước mịt mù. Điểm xuyết đây đó, những đốm màu trắng xám nhấp nhô hiện lên giữa đám bọt sóng, có lẽ được gắn thêm một lá cờ phấp phới trên đỉnh. Những khu định cư dù đã vài thế kỷ tuổi đời, nhưng vẫn chẳng lớn hơn cái đầu đinh ghim là bao so với dải đất hoang sơ mênh mông của chúng. Chúng tôi cứ ầm ầm tiến tới, dừng lại, nhả quân; rồi lại tiếp tục, thả những gã nhân viên hải quan lên bờ để thu thuế ở những nơi hoang vu chẳng khác gì bị Chúa ruồng bỏ, nơi chỉ có một cái lán lợp tôn trơ trọi và một cột cờ lạc lõng vươn lên; thả thêm vài gã lính-chắc là để bảo vệ những nhân viên hải quan ấy. Tôi nghe đồn vài người trong số họ đã bị sóng cuốn trôi vào bờ; nhưng dù họ có chết đuối hay không, thì dường như cũng chẳng ai mảy may bận tâm. Người ta chỉ việc quăng họ lên bờ, rồi chúng tôi lại nhổ neo đi tiếp. Bờ biển ngày nào cũng y chang nhau, hệt như chúng tôi chưa hề xê dịch; ấy vậy mà chúng tôi đã đi qua vô số điểm dừng chân-những trạm giao thương tồi tàn-với đủ loại tên gọi như Gran’ Bassam hay Little Popo13; những cái tên nghe cứ như thuộc về một vở kịch câm rẻ tiền nào đó đang diễn ra trước tấm phông màn đầy ám khí. Sự nhàn rỗi chết người của một gã hành khách, sự cô lập bóp nghẹt giữa những kẻ chẳng có lấy một điểm chung, mặt biển lênh láng dầu mỡ và uể oải, cùng sự u ám đồng điệu của dải bờ biển, dường như đã nhốt chặt tôi vào trong tấm lưới của một ảo tưởng sầu thảm và vô nghĩa, tách biệt hẳn khỏi hiện thực. Thỉnh thoảng, tiếng sóng vỗ bờ dội lại mang đến một niềm vui sướng thực sự, nghe hệt như lời thủ thỉ của một người anh em. Nó là thứ tự nhiên, có nguyên do, có ý nghĩa. Đôi khi, một chiếc thuyền từ bờ chèo ra mang đến cho người ta một cái chạm chớp nhoáng với thực tại. Trên đó là những gã da đen đang chèo kéo. Từ đằng xa, anh đã có thể nhìn thấy lòng trắng đôi mắt họ lấp lánh. Họ la hét, ca hát vang trời; mồ hôi nhễ nhại túa ra trên những cơ thể trần trụi; khuôn mặt họ trông như những chiếc mặt nạ kỳ dị-đám người này ấy à; nhưng họ có xương, có cơ bắp, có một sức sống hoang dại, một nguồn năng lượng chuyển động cuồn cuộn mãnh liệt, tự nhiên và chân thực như chính những đợt sóng đang xô dạt dọc bờ biển của họ. Họ tồn tại ở đó, chẳng cần phải viện tới một cái cớ nào cả. Chỉ ngắm nhìn họ thôi cũng đủ mang lại một sự an ủi vô bờ bến. Trong một khoảng thời gian, tôi cảm tưởng như mình vẫn thuộc về một thế giới của những sự thật hiển nhiên và trần trụi; nhưng thứ cảm giác ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Luôn có một điều gì đó bất chợt trồi lên và xua đuổi nó đi mất. Có lần, tôi nhớ, chúng tôi tình cờ bắt gặp một chiếc tàu chiến đang thả neo ngoài khơi xa. Xung quanh chẳng có lấy một túp lều, thế mà nó đang nã pháo ầm ầm vào bụi rậm. Có vẻ người Pháp lại đang tiến hành một trong vô vàn những cuộc chiến tranh quen thuộc của họ ở quanh khu vực đó. Lá cờ của nó rủ xuống một cách uể oải như miếng giẻ rách; miệng những khẩu súng sáu inch đen ngòm chĩa ra tua tủa từ thân tàu thấp lè tè; những đợt sóng trơn tuột, nhầy nhụa lười nhác nhấc bổng nó lên rồi hạ xuống, khiến mấy cột buồm gầy guộc chao đảo lắc lư. Nằm trơ trọi giữa sự trống rỗng vô biên của đất trời và mặt nước, chiếc tàu hiện lên với một vẻ phi lý đến cùng cực, đang nã đạn vào một lục địa vô tri. Bùm! Một trong những khẩu pháo sáu inch khạc lửa; một tia sáng lóe lên rồi vụt tắt, nhả ra một luồng khói trắng mỏng manh, theo sau là tiếng rít yếu ớt của viên đạn pháo-và chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Chẳng có gì có thể xảy ra. Sự điên rồ hiển hiện rõ trong từng hành động, một cảm giác khôi hài nhưng cay đắng tột độ toát lên từ khung cảnh đó; và nó không hề bị xua tan dẫu một gã nào đó trên tàu cứ thao thao trấn an tôi với vẻ đầy tâm huyết rằng có một khu trại của người bản xứ-gã gọi họ là kẻ thù!-đang lẩn khuất đâu đó ngoài tầm nhìn.

"Chúng tôi quăng những bao thư lên tàu cho họ (tôi nghe nói đám đàn ông trên chiếc tàu đơn độc ấy đang chết dần chết mòn vì những cơn sốt với tốc độ ba mạng mỗi ngày) rồi lại tiếp tục hành trình. Chúng tôi ghé lại vài nơi nữa với những cái tên lố bịch, nơi vũ điệu hoan ca của cái chết và thương mại vẫn ngang nhiên tiếp diễn giữa bầu không khí tĩnh mịch, bốc mùi đất ẩm mốc của một hầm mộ bị nung nóng; tất thảy dọc theo bờ biển định hình dang dở, được bao bọc bởi những con sóng vỗ hung hãn chực chờ, như thể chính mẹ Thiên nhiên cũng đang gồng mình cố ngăn cản những bước chân xâm lược; tiến vào rồi lại lùi ra khỏi những con sông-những dòng chảy của tử thần cuộn quanh sự sống-những đôi bờ đang rữa nát thành bùn lầy, dòng nước đặc quánh, len lỏi qua đám rễ cây đước xoắn xuýt, dường như đang oằn mình chằm chằm nhìn chúng tôi trong nỗi tuyệt vọng tột cùng của sự bất lực. Không nơi nào chúng tôi dừng lại đủ lâu để đọng lại một ấn tượng rõ nét, nhưng cái cảm giác ngạc nhiên mơ hồ và ngột ngạt cứ thế lớn dần lên trong tôi. Nó giống hệt như một cuộc hành hương mệt mỏi tiến sâu vào giữa những dự cảm của vô vàn cơn ác mộng.

"Hơn ba mươi ngày sau, tôi mới thấy được cửa ngõ của dòng sông lớn. Tàu chúng tôi buông neo ngoài khơi khu vực chính quyền quản lý. Nhưng công việc của tôi lại ở cách đó tận hai trăm dặm đường. Thế nên, ngay khi có thể, tôi đã lên đường nhắm thẳng tới một điểm cách hạ lưu chừng ba mươi dặm lên phía thượng nguồn.

"Tôi có vé trên một chiếc tàu biển nhỏ. Vị thuyền trưởng là người Thụy Điển, và vì biết tôi cũng là dân đi biển, anh ta liền gọi tôi lên đài chỉ huy. Đó là một gã đàn ông trẻ, gầy guộc, tóc vàng và mang vẻ mặt ủ dột, với mái tóc xõa xượi cùng dáng đi lê lết. Ngay khi con tàu rời khỏi cái bến cảng nhỏ bé tồi tàn, anh ta hất cằm về phía bờ vẻ đầy khinh miệt. 'Anh đã sống ở đó à?' anh ta hỏi. Tôi đáp, 'Vâng.' 'Toàn là lũ viên chức chính phủ xuất chúng-có phải không nào?' anh ta tiếp lời, nói thứ tiếng Anh chuẩn xác nhưng nhuốm phần cay đắng. 'Thật nực cười khi thấy có những kẻ sẵn sàng làm đủ trò chỉ vì vài đồng franc rách mỗi tháng. Tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra với loại người đó khi tiến sâu lên thượng nguồn?' Tôi nói với anh ta rằng tôi hy vọng sẽ sớm được chứng kiến điều đó. 'Thế cơ à!' anh ta thốt lên. Anh ta lết ngang qua tôi, một mắt vẫn đề phòng ném cái nhìn về phía trước. 'Đừng quá chắc chắn,' anh ta nói tiếp. 'Hôm nọ tôi vừa chở một gã treo cổ tự vẫn dọc đường. Hắn cũng là người Thụy Điển.' 'Treo cổ tự vẫn! Tại sao, lạy Chúa?' tôi thốt lên. Anh ta vẫn dán mắt ra ngoài vẻ cảnh giác. 'Ai mà biết được? Có lẽ ánh nắng mặt trời này là quá sức chịu đựng đối với anh ta, hoặc cũng có thể là do chính mảnh đất này.'

"Cuối cùng chúng tôi cũng lọt vào một khúc sông. Một vách đá sừng sững hiện ra, những gò đất bị xới tung dọc hai bờ, những nếp nhà nằm lưng chừng đồi, những mái tôn ngổn ngang giữa một bãi khai quật hoang tàn, hoặc treo vắt vẻo trên triền dốc. Tiếng gầm gào liên hồi của những ngọn thác phía trên bao trùm lấy cái khung cảnh hoang tàn đầy rẫy dấu chân người này. Đám đông lúc nhúc, đa phần là những kẻ da đen mình trần, di chuyển qua lại hệt như bầy kiến. Một chiếc cầu tàu nhoài mình ra mặt nước. Ánh mặt trời chói chang thỉnh thoảng lại nhấn chìm tất thảy vào trong một luồng sáng chói lòa đột ngột. 'Trạm của Công ty anh kìa,' viên thuyền trưởng Thụy Điển cất lời, tay trỏ về phía ba dãy nhà gỗ trông như doanh trại nằm trên sườn dốc lởm chởm đá. 'Tôi sẽ chuyển hành lý của anh lên. Bốn chiếc rương phải không? Thế nhé. Tạm biệt.'

"Tôi tình cờ trông thấy một cái nồi hơi nằm chỏng chơ trên bãi cỏ, rồi lần ra được một lối mòn dẫn lên đồi. Con đường rẽ ngang để né những tảng đá tảng lớn, vắt qua cả một chiếc xe goòng bé xíu đang nằm lật ngửa, phơi bốn bánh lên trời. Một bánh xe đã sút ra. Cỗ máy ấy trông im lìm, chết chóc hệt như xác chết của một con thú tàn tạ. Tôi lại bắt gặp vô số mảnh máy móc rỉ sét, cùng một đống đường ray han gỉ. Về phía bên trái, một lùm cây tỏa bóng râm rợp, nơi những khối đen ngòm dường như đang cựa quậy một cách yếu ớt. Tôi chớp mắt, con đường dốc ngược. Bỗng một tiếng còi rú lên bên phải, và tôi thấy lũ người da đen nháo nhào bỏ chạy. Một tiếng nổ xé tai làm rung chuyển cả mặt đất, một luồng khói phụt ra từ vách đá, và chỉ có vậy. Bề mặt vách đá chẳng suy suyển mảy may. Bọn họ đang xây một tuyến đường sắt. Vách đá kia vốn chẳng cản đường cản lối; nhưng cái vụ nổ vô nghĩa ấy dường như là tất cả những gì đang diễn ra ở đây.

"Một tiếng lanh canh nhè nhẹ sau lưng khiến tôi quay đầu lại. Sáu người đàn ông da đen đi thành một hàng dọc, nhọc nhằn lê bước lên con dốc. Họ bước đi thẳng lưng và chậm chạp, giữ thăng bằng cho những chiếc giỏ mây chứa đầy đất trên đầu, còn tiếng lanh canh thì như đang bắt nhịp cho từng bước chân nằng nặng. Vài mảnh giẻ đen quấn ngang hông, với cái đuôi ngắn cũn cỡn lắc lư đằng sau. Tôi có thể đếm được từng rẻ xương sườn, thấy rõ những khớp chân tay gồ lên như những gút thắt trên sợi dây thừng; mỗi người đều bị tròng một chiếc vòng sắt vào cổ, tất cả bị xâu chuỗi với nhau bằng một sợi xích mà những đoạn chùng cứ đung đưa giữa họ, lanh canh theo nhịp bước. Lại một tiếng nổ nữa dội ra từ vách đá khiến tôi sực nhớ đến chiếc tàu chiến đang điên cuồng vãi đạn vào một lục địa dạo nào. Cùng một kiểu âm thanh sặc mùi đe dọa; thế nhưng, dù có vận dụng trí tưởng tượng đến đâu, người ta cũng chẳng thể nào coi những gã đàn ông trước mặt tôi là kẻ thù được. Họ bị gán cho cái danh tội phạm, và luật pháp với cơn thịnh nộ của nó, giống hệt như những quả đạn pháo nổ tung kia, đã giáng xuống đầu họ-một bí ẩn không sao lý giải được từ phía đại dương. Những lồng ngực gầy gò cùng nhau thở dốc, những cánh mũi nở to bần bật run rẩy, và những đôi mắt trừng trừng nhìn lên đồi một cách vô hồn vô cảm. Họ đi lướt qua tôi cách chưa đầy nửa thước, chẳng màng ném lấy một ánh nhìn, một sự thờ ơ tuyệt đối hệt như cái chết, cái chết của những kẻ dã man bất hạnh. Đi sau khối xác thịt thô kệch ấy là một trong những kẻ đã được 'cải tạo', một sản phẩm của những luồng thế lực mới đang vận hành, hắn thong dong lê bước vẻ chán chường, tay lăm lăm khẩu súng trường ngang hông. Hắn mặc một chiếc áo khoác đồng phục đã đứt một cúc, và khi thoáng thấy bóng một người da trắng trên đường, hắn liền sốt sắng vác súng lên vai. Một hành động cảnh giác thường tình thôi, người da trắng nhìn từ xa trông na ná nhau đến nỗi hắn chẳng thể biết tôi là hạng người nào. Khi nhanh chóng nhận ra, hắn buông thõng cảnh giác, nhe răng cười một cách xảo trá, phô ra hàm răng trắng hếu, rồi đánh mắt liếc qua đám tù nhân, dường như muốn lôi kéo tôi dự phần vào cái sứ mệnh cao cả của hắn. Xét cho cùng, tôi cũng là một phần trong sự nghiệp vĩ đại của cái gọi là sự tiến bộ cao cả và công lý này cơ mà.

"Thay vì đi lên, tôi quay gót bước xuống đồi về phía bên trái. Tôi định bụng chờ cho đám tù nhân xiềng xích kia đi khuất hẳn rồi mới tiếp tục leo lên. Các anh biết đấy, tôi vốn chẳng phải hạng người yếu đuối mau nước mắt; tôi từng nếm trải cảnh đánh đấm và phòng ngự. Nhiều khi tôi còn phải phản kháng và tấn công-đó cũng chỉ là một cách để tự vệ mà thôi-chẳng màng tính toán thiệt hơn, cốt để sống sót trong cái kiểu đời mà tôi lỡ dấn thân vào. Tôi từng chạm trán với con quỷ của bạo lực, con quỷ của lòng tham, và con quỷ của sự thèm khát nhục dục đến thiêu đốt; nhưng, nhân danh mọi vì sao trên trời! đó là những con quỷ mạnh mẽ, ăm ắp sinh khí, với đôi mắt hằn tia máu đỏ ngầu, đang thống trị và sai khiến con người-những con người đúng nghĩa, tôi nói thật với các anh đấy. Thế nhưng khi đứng trên triền đồi này, tôi bỗng dự cảm rằng dưới cái nắng chói chang của vùng đất chết này, tôi sắp sửa diện kiến một con quỷ nhão nhoét, giả tạo, với ánh mắt lờ đờ, mang hình hài của một sự ngu muội tham lam và tàn độc. Sự xảo quyệt của nó đến mức nào thì phải vài tháng sau đó và cách xa hàng ngàn dặm tôi mới tường tận được. Trong một thoáng, tôi đứng sững lại vì kinh sợ, như thể vừa nhận được một điềm báo. Cuối cùng, tôi đi men xuống đồi, hướng về phía lùm cây mà tôi đã trông thấy khi nãy.

"Tôi lách qua một cái hố nhân tạo sâu hoắm ai đó đã đào trên sườn dốc, chẳng tài nào đoán được người ta đào nó để làm gì. Nhìn kiểu gì cũng không giống mỏ khai thác đá hay hố lấy cát. Nó đơn thuần chỉ là một cái hố. Có chăng nó liên quan đến cái ý định nhân đạo là ban phát cho đám tội phạm chút việc gì đó để giết thời gian chăng. Tôi không rõ. Sau đó tôi lại suýt trượt chân rơi xuống một khe núi hẹp té, trông y hệt một vết sẹo rạch ngang sườn đồi. Dưới đó ngổn ngang hàng đống ống cống nhập khẩu dành cho khu định cư. Chẳng cái nào còn nguyên vẹn. Thật là một sự tàn phá vô lối. Rốt cuộc tôi cũng lết được đến dưới những tán cây. Lúc đầu tôi chỉ định tản bộ vào bóng râm nghỉ ngơi chốc lát; nhưng vừa đặt chân tới, tôi chợt có cảm giác như mình vừa sa chân vào vòng xoáy u minh của một tầng Địa ngục nào đó. Tiếng thác đổ ầm ào gần đó, với thứ âm thanh rền rĩ, đều đặn không dứt lấp đầy sự tĩnh mịch tang thương của khu rừng nhỏ, nơi không một gợn gió lay, không một phiến lá rung, tạo nên một thứ thanh âm kỳ bí-hệt như thể tốc độ xé gió của trái đất đang lao đi trên quỹ đạo bỗng dưng hiện hình thành tiếng động.

"Những hình bóng đen đúa co rúm lại, nằm, ngồi vất vưởng giữa những gốc cây, tựa mình vào thân gỗ, bám víu lấy mặt đất ẩm ướt, nửa thực nửa hư trong thứ ánh sáng nhờ nhợ, phơi bày đủ mọi tư thế của sự đớn đau, ruồng rẫy và tuyệt vọng tột cùng. Lại một tiếng nổ dội lên từ vách đá, kéo theo một cơn chấn động nhẹ dưới chân tôi. Công trường vẫn đang thi công. Công trường! Và đây chính là nơi mà vài gã phu dịch khốn khổ đã lê lết trốn vào chỉ để chờ chết.

"Họ đang chết dần chết mòn-điều đó hiển hiện rõ mồn một. Họ chẳng phải là kẻ thù, cũng không phải phường tội phạm, giờ đây họ chẳng còn là giống gì trên cõi đời này nữa-họ chỉ là những cái bóng đen ngòm của bệnh tật và cơn đói khát, nằm vạ vật ngổn ngang giữa màn sương màu lục. Bị lùa đến từ mọi ngóc ngách của dọc bờ biển dưới cái vỏ bọc hợp pháp của những bản hợp đồng lao động có thời hạn, lạc loài giữa môi trường xa lạ, nhét vào bụng những thứ thức ăn chẳng mảy may quen thuộc, họ ngã bệnh, trở nên vô dụng, và sau đó được 'ban phước' cho bò đi tìm chỗ nghỉ ngơi. Những bóng ma thoi thóp ấy tự do tự tại như không khí-và cũng mong manh mờ ảo y như thế. Tôi bắt đầu nhìn ra những đốm sáng lấp lánh từ các hốc mắt dưới tán cây. Rồi khi nhìn xuống, tôi chợt thấy một khuôn mặt đang ngước lên ngay sát tay mình. Bộ xương khô màu đen ngả người ra phía sau, một bên vai tựa vào gốc cây, từ từ hé đôi mi mắt nặng trĩu; đôi mắt trũng sâu nhìn chằm chằm vào tôi, to tướng và trống rỗng, hắt ra một thứ ánh sáng trắng đục lòa lòa nơi đáy hốc mắt, rồi lịm dần đi một cách chậm chạp. Gã thanh niên này có vẻ còn trẻ-dường như chỉ là một cậu nhóc-nhưng các anh biết đấy, với lũ người này thật khó mà đoán tuổi. Chẳng biết làm gì hơn, tôi đành móc túi đưa cho cậu ta một chiếc bánh quy của tay bạn tàu Thụy Điển tốt bụng nọ. Những ngón tay khẳng khiu từ từ vươn ra đón lấy rồi nắm chặt lại-không một cử động, không một ánh nhìn nào thêm nữa. Cậu ta đã buộc một mẩu sợi len trắng quanh cổ-Nhưng tại sao? Cậu ta kiếm đâu ra thứ đó? Phải chăng đó là một chiếc huy hiệu-một món đồ trang sức-một lá bùa hộ mệnh-hay là một nghi thức chuộc lỗi lầm? Liệu có ẩn ý sâu xa nào phía sau nó không? Chắc hẳn người ta sẽ phải giật mình khi nhìn thấy mẩu chỉ len trắng bé xíu lặn lội từ tận bên kia bờ đại dương giờ đang quấn chặt quanh cái cổ đen đúa của một gã nô lệ.

"Ngay cạnh gốc cây ấy là hai khúc xương xẩu nhọn hoắt đang ngồi co ro. Một kẻ tì cằm lên đầu gối, trừng trừng nhìn vào cõi hư vô với một ánh mắt kinh khiếp và ám ảnh đến mức không sao chịu đựng nổi: bóng ma đồng loại bên cạnh thì tựa trán vào gối, như thể đã gục ngã hoàn toàn trước sự kiệt quệ cùng cực; chung quanh đó, vô số những kẻ khác nằm rải rác trong đủ mọi tư thế vặn vẹo đổ nát, trông hệt như một bức họa thảm sát hay đại dịch hạch nào đó. Trong lúc tôi còn đang đứng chết trân vì kinh hãi, một trong số những sinh linh thoi thóp ấy đã gượng chống tay và đầu gối nhổm dậy, bò lết bằng cả tứ chi về phía mép sông tìm nước uống. Anh ta liếm láp những giọt nước vương trên tay, rồi ngồi thăng bằng dưới nắng, vắt chéo hai cẳng chân khẳng khiu phía trước, và một lát sau mặc cho cái đầu với mớ tóc xoăn tít gục hẳn xuống xương ức.

"Tôi chẳng còn bụng dạ nào để nán lại thêm dưới những bóng cây đó, liền hối hả rảo bước về phía trạm. Khi vừa tới gần mấy dãy nhà, tôi đụng mặt một người da trắng, trong một bộ dạng bảnh bao đến mức khó tin, làm tôi trong thoáng chốc đã tưởng đó là một ảo ảnh. Anh ta diện một chiếc cổ áo hồ cứng dựng đứng, phần cổ tay áo trắng lốp, khoác chiếc áo khoác alpaca mỏng tang, chiếc quần dài thì trắng như tuyết, thắt chiếc cravat tươm tất cùng đôi giày ống đánh véc-ni bóng lộn. Đầu trần không mũ. Tóc chải ngôi mượt mà, bóng nhẫy dầu, núp dưới bóng một chiếc ô có lót lớp vải xanh lục do một bàn tay to lớn, trắng trẻo cầm. Anh ta trông thật đáng kinh ngạc, với một quản bút vắt vẻo sau mang tai.

"Tôi đưa tay ra bắt với cái hiện tượng kỳ diệu này, và được biết anh ta chính là kế toán trưởng của Công ty, nơi mà mọi công việc sổ sách ghi chép đều được thu dọn tại đây. Anh ta vừa ra ngoài một lát, theo lời anh ta, 'để hít thở chút không khí trong lành.' Cái cách nói ấy nghe mới nực cười làm sao, nó phảng phất hương vị của một lối sống bàn giấy ù lì thụ động. Lẽ ra tôi đã chẳng nhắc đến gã này làm gì, nếu không phải chính từ miệng gã mà lần đầu tiên tôi được nghe cái tên của người đàn ông đã gắn liền mãi mãi với những hồi ức của tôi về khoảng thời gian đó. Hơn thế nữa, tôi có phần nể phục gã. Thật đấy; tôi nể phục những chiếc cổ áo hồ cứng dựng đứng, nể những cổ tay áo trắng muốt, nể cả cái mái tóc chải chuốt bóng mượt kia. Vẻ bề ngoài của anh ta đúng là chỉ hợp với mấy gã ma-nơ-canh ở tiệm cắt tóc; nhưng giữa cái chốn đầy rẫy sự suy đồi và băng hoại đạo đức này, anh ta vẫn giữ được bộ dạng bảnh bao đến thế. Đó quả là một bản lĩnh. Những chiếc cổ áo hồ cứng hay phần trước ngực chiếc áo sơ mi được ủi phẳng phiu đều là biểu tượng của lòng kiêu hãnh. Anh ta đã bám trụ ở đây gần ba năm ròng; rồi sau đó, tôi không kìm được mà tò mò hỏi làm thế nào anh ta có thể chưng diện được những bộ đồ bằng vải lanh tinh tươm như vậy. Anh ta chỉ hơi ửng đỏ mặt, khiêm tốn đáp, 'Tôi đã phải dạy một ả đàn bà bản địa quanh trạm này cách giặt ủi. Trầy vi tróc vẩy lắm. Ả ghét cay ghét đắng cái việc này.' Ít ra thì người đàn ông này cũng đã làm nên trò trống gì đó. Và anh ta còn tận tụy cống hiến hết mình cho những cuốn sổ sách kia, sắp xếp chúng đâu vào đấy gọn gàng.

"Mọi thứ khác trong trạm đều chìm trong mớ bòng bong hỗn độn-từ đầu óc con người, vật dụng cho đến những dãy nhà xập xệ. Từng hàng dài những thân hình da đen phủ đầy bụi bặm với bàn chân bè bẹt to tướng cứ lũ lượt ra vào; một dòng hàng hóa sản xuất công nghiệp, vải bông rẻ tiền rác rưởi, hạt cườm, cùng những cuộn dây đồng thau được tuôn vào nơi sâu thẳm của bóng tối, để đánh đổi lại một dòng chảy ngà voi vô giá.

"Tôi đã phải cắm rễ ở cái trạm này tới tận mười ngày ròng-một khoảng thời gian dài đằng đẵng. Tôi trú ngụ trong một túp lều cất vội ngoài sân, nhưng hễ muốn lánh xa sự ồn ào hỗn tạp, tôi lại chuồn vào phòng làm việc của tay kế toán. Căn phòng được dựng bằng những tấm ván ngang, ghép lại cẩu thả đến nỗi, khi anh ta khom lưng xuống chiếc bàn làm việc cao nghều của mình, những vệt nắng chiếu xuyên qua khe hở vạch lên người anh ta những đường vằn vện từ cổ xuống tận gót chân. Chẳng cần mở tung cánh cửa chớp lớn cũng đủ sáng để nhìn. Trong đó nóng như lò thiêu; những con nhặng xanh khổng lồ vo ve như bầy quỷ dữ, chúng không chích, mà là đâm xuyên qua da thịt. Tôi thường hay ngồi bệt xuống sàn, trong khi gã kia, với vẻ ngoài không một tì vết (thậm chí còn phảng phất mùi nước hoa rẻ tiền), đậu chót vót trên chiếc ghế đẩu cao, cắm cúi viết, không ngừng viết. Thỉnh thoảng anh ta lại đứng dậy vươn vai thư giãn. Có lần, người ta khiêng vào một chiếc giường xếp có chở theo một bệnh nhân (một đặc vụ nhiễm bệnh từ thượng nguồn chuyển xuống), anh ta tỏ vẻ khó chịu ra mặt. 'Những tiếng rên rỉ của gã ốm kia,' anh ta càu nhàu, 'làm tôi phân tâm quá. Sống ở cái xứ khí hậu khắc nghiệt này đã khó để ghi chép cho khỏi sai sót rồi, đừng nói là thêm ba cái vụ này.'

"Một ngày nọ, anh ta buông lời nhận xét mà chẳng thèm ngẩng đầu lên, 'Vào sâu trong đất liền chắc chắn anh sẽ đụng mặt ngài Kurtz.' Khi tôi gặng hỏi Kurtz là ai, anh ta đáp gọn lỏn đó là một đặc vụ hạng nhất; và khi tinh ý nhận ra vẻ thất vọng chán chường của tôi trước cái thông tin nhạt toẹt ấy, anh ta mới từ tốn đặt bút xuống nói tiếp, 'Ông ấy là một nhân vật hết sức phi phàm.' Sau một hồi bị tôi dồn hỏi, anh ta đành hé lộ thêm rằng ngài Kurtz hiện đang cai quản một trạm giao thương, một mắt xích tối quan trọng, nằm ngay trong lòng vựa ngà voi đích thực, 'tận sâu tít dưới đó. Lượng ngà voi ông ấy thu gom gửi về bằng tất thảy những kẻ khác gộp lại...' Nói đoạn anh ta cắm cúi viết tiếp. Người đàn ông ốm yếu kia đã kiệt sức đến độ chẳng còn rên rỉ nổi nữa. Lũ nhặng xanh cứ vo ve mãi trong một bầu không khí tĩnh mịch tuyệt đối.

"Đột nhiên những tiếng xì xồ vẳng lại mỗi lúc một to, quyện lẫn với tiếng bước chân rầm rập hối hả. Một đoàn lữ hành vừa cập bến. Hỗn hợp âm thanh lộn xộn chói tai bùng lên dữ dội ngay phía bên kia bức vách. Cả đám phu khuân vác thi nhau la hét chửi bới, và giữa cái chốn huyên náo ồn ã đó, giọng nói ai oán của viên quản lý bến lại vang lên đầy nước mắt, gào thét 'dẹp hết đi' lần thứ hai mươi trong ngày hôm đó.... Anh kế toán từ từ đứng dậy. 'Thật là một vụ ồn ào điếc tai,' anh ta càu nhàu. Anh ta nhẹ nhàng bước lại gần giường nhìn người bệnh, rồi quay gót nói với tôi, 'Anh ta điếc rồi.' 'Cái gì! Chết rồi ư?' tôi giật mình thốt lên. 'Không, chưa đâu,' anh ta đáp gọn lỏn, vẻ mặt vẫn lạnh tanh không chút biến sắc. Sau đó, hất hàm về phía đám đông đang làm loạn ngoài sân trạm, anh ta chậc lưỡi, 'Khi anh cần phải ghi chép cho chính xác từng con số, anh sẽ đâm ra thù ghét cái lũ mọi rợ đó-ghét cay ghét đắng đến tận xương tủy.' Anh ta đứng trầm ngâm một lát. 'Khi anh gặp ông Kurtz' anh ta lại cất lời, 'hãy chuyển lời thay tôi rằng mọi thứ ở đây'-anh ta liếc nhìn đống sổ sách trên bàn-'vẫn rất đâu vào đấy. Tôi chẳng mặn mà gì với việc viết thư tay cho ông ấy-với cái đám phu trạm đưa thư đó, anh sẽ chẳng bao giờ biết được bức thư của mình sẽ lọt vào tay kẻ nào-nhất là ở cái Trạm Trung tâm chết tiệt đó.' Anh ta nhìn chằm chằm vào tôi bằng đôi mắt ốc nhồi hiền lành đờ đẫn. 'Ồ, ông ấy sẽ còn thăng tiến xa, rất xa,' anh ta lầm bầm. 'Sớm muộn gì ông ấy cũng sẽ trở thành một nhân vật máu mặt trong Chính quyền. Bọn họ, những kẻ chóp bu ở trên-Hội đồng tại châu Âu, anh biết đấy-đã nhắm ông ấy cho cái vị trí đó rồi.'

"Anh ta lại cắm mặt vào mớ sổ sách. Tiếng huyên náo bên ngoài đã lắng xuống, lúc rảo bước ra ngoài, tôi khựng lại nán một chút nơi bậu cửa. Giữa tiếng vo ve bất tận của đàn nhặng, viên đặc vụ đang trên đường hồi hương kia giờ nằm thoi thóp bất tỉnh nhân sự; kẻ còn lại thì còng lưng trên đống sổ sách, mải mê nắn nót những dòng kẻ chính xác cho những phi vụ giao dịch cũng chính xác không kém; và cách cái bậu cửa chừng năm mươi thước phía dưới kia, tôi có thể trông thấy những ngọn cây im lìm của khu rừng đầy tử khí."

"Hôm sau, rốt cuộc tôi cũng rời khỏi cái trạm chết tiệt ấy, cùng một đoàn lữ hành gồm sáu mươi gã trai tráng, dấn thân vào chuyến đi bộ dài hai trăm dặm đường.

"Tôi cũng chẳng muốn kể lể dài dòng với các anh về cái chuyến đi ấy làm gì. Những nẻo đường, những nẻo đường, khắp chốn; cả một mạng lưới đường sá hằn sâu ngoằn ngoèo vắt vẻo qua vùng đất trống hoác, luồn lách qua những đám cỏ mọc quá đầu người, xuyên qua lớp cỏ cháy rụi, xẻ dọc những bụi rậm um tùm, bò xuống rồi lại trườn lên những khe núi lạnh cóng, trèo lên rồi lại đổ dốc qua những ngọn đồi đá thiêu đốt hầm hập; và một sự hoang vắng, một sự hoang vắng đến lạnh người, tuyệt nhiên không một bóng người, không một nếp nhà. Dân bản địa đã cao chạy xa bay tự đời nào. Chà, cứ thử tưởng tượng xem, nếu có một đám người da đen bí ẩn, trang bị tận răng đủ thứ vũ khí chết chóc, bất thình lình tuần tiễu dọc theo con lộ nối giữa Deal và Gravesend, tóm cổ hết thảy lũ nông phu hai bên đường để bắt làm phu phen khuân vác những kiện hàng nặng trịch, thì tôi đồ rằng mọi trang trại và mái nhà quanh vùng đó cũng sẽ sớm trống hoác mà thôi. Có điều ở chốn này, đến cả những túp lều cũng đã bị san phẳng. Dẫu vậy tôi vẫn đi ngang qua một vài ngôi làng bỏ hoang. Tàn tích những vách cỏ đổ nát toát lên một vẻ gì đó thật thảm hại và trẻ con. Ngày tiếp nối ngày, sau lưng tôi là tiếng lê bước nhọc nhằn của sáu mươi đôi chân trần gánh trên vai cái tải trọng sáu mươi cân Anh. Cắm trại, nấu nướng, ngủ vùi, nhổ trại, rồi lại hành quân. Đôi lúc có gã phu trạm gục chết trên đường làm nhiệm vụ, nằm phơi thây vĩnh viễn trên đám cỏ rậm ven đường, bên cạnh là quả bầu khô khốc rỗng tuếch và cây gậy chống dài thòng. Một sự tĩnh lặng bóp nghẹt bủa vây bốn bề và đổ ụp từ trên xuống. Thỉnh thoảng vào một đêm thanh vắng, vẳng lại nhịp trống dồn từ nơi xa xăm, trầm bổng đan xen, một thứ thanh âm ngân vang mà le lói; một điệu trống ma mị, gọi mời, đầy sức gợi tả và cuồng dã-mà có lẽ nó cũng mang một hàm ý sâu sa linh thiêng tựa hồ như tiếng chuông nhà thờ ở một quốc gia Cơ đốc giáo. Có bận, tôi tình cờ đụng độ một tay da trắng mặc đồng phục không thèm cài cúc, đang dựng trại ngay giữa đường cùng một đội cận vệ vũ trang toàn những gã Zanzibari14 gầy giơ xương, anh ta tỏ ra cực kỳ hiếu khách và hoạt bát-nếu không muốn nói là đang ngà ngà say. Anh ta ba hoa rằng mình đang làm nhiệm vụ tu bổ đường sá. Nói thật là tôi chẳng thấy bóng dáng con đường hay công trình tu bổ nào sất, trừ phi cái xác của gã đàn ông da đen trung niên, với lỗ đạn xuyên táo trên trán mà tôi vừa vấp phải cách đó ba dặm đường, được coi là một công trình cải tạo dài hạn. Đồng hành cùng tôi còn có một gã da trắng, hắn cũng chẳng phải phường tồi tệ gì, chỉ tội mập mạp quá mức và mắc cái tật ngất xỉu giữa mấy sườn đồi rực lửa, cách bóng râm và nguồn nước cả dặm đường dài. Thật phiền toái hết sức, các anh biết đấy, khi cứ phải cầm áo khoác che nắng thay ô cho gã trong lúc chờ gã hồi tỉnh. Một lần, tôi không nhịn được bèn hỏi gã lặn lội đến cái xứ sở này để làm cái quái gì. 'Tất nhiên là để kiếm tiền rồi. Anh nghĩ cái gì?' gã đáp lại bằng một giọng đầy mỉa mai khinh bỉ. Sau đó gã lên cơn sốt, buộc tôi phải cho người khiêng gã trên chiếc võng mắc tòng teng dưới một thân sào. Vác một gã nặng tới mười sáu stone15 đúng là cực hình nên tôi đã không ít lần lời qua tiếng lại với đám phu khuân vác. Bọn họ cứng đầu, giở trò bỏ trốn, rồi nửa đêm lén lút cuỗm luôn đống hàng hóa mà trốn mất-suýt chút nữa thì có binh biến. Thế nên, vào một buổi tối, tôi phải dùng tiếng Anh kết hợp cả mớ ngôn ngữ tay chân để thuyết giáo cho chúng một chặp, mà tuyệt nhiên sáu mươi cặp mắt láo liên trước mặt tôi không bỏ sót một cử chỉ nào, và đến sáng hôm sau tôi yên ổn cho chiếc võng đi trước dẫn đường. Một giờ sau đó, tôi tình cờ phát hiện ra toàn bộ mọi thứ đã tan tành mây khói trong một bụi rậm-cả người gã đàn ông, chiếc võng, tiếng rên rỉ, đống chăn mền, cả những nỗi kinh hoàng vương vãi khắp nơi. Thanh sào nặng trịch đã quẹt xước cái mũi đáng thương của gã. Gã nằng nặc đòi tôi giết một kẻ nào đó để xả hận, nhưng xung quanh tuyệt nhiên chẳng còn mống phu trạm nào. Tôi chợt nhớ tới lời dặn dò của tay bác sĩ già-'Sẽ rất có giá trị cho khoa học nếu quan sát được những biến đổi tâm lý của các cá nhân ngay tại hiện trường.' Tôi có linh cảm bản thân mình cũng đang dần trở thành một mẫu vật thú vị cho khoa học rồi. Dẫu vậy, mọi nỗ lực ấy cũng chẳng đi đến đâu. Vào ngày thứ mười lăm, con sông lớn lại hiện ra trước mắt tôi, và tôi lê lết bước khập khiễng tiến vào Trạm Trung tâm. Trạm nằm lọt thỏm giữa một vũng nước đọng, vây quanh là bụi rậm rạp và rừng cây, với một đường viền toàn bùn nhão bốc mùi xú uế bao bọc một mặt, ba mặt còn lại được rào chắn bằng những bức tường cỏ sậy ọp ẹp. Một khoảng trống bị bỏ quên tình cờ đóng vai trò làm cổng ra vào, và chỉ một cái nhìn lướt qua cái chốn này cũng đủ để các anh mường tượng ra con quỷ nhão nhoét đang trị vì nơi đây. Vài gã da trắng lăm lăm những cây gậy dài lững thững bước ra từ các dãy nhà, thả bộ đến ngó nghiêng tôi một chặp, rồi lại lùi về một góc nào đó khuất dạng. Một kẻ trong số đó, một gã to béo, dễ kích động với bộ ria mép đen nhánh, thông báo với tôi bằng một tràng liến thoắng vòng vo tam quốc, ngay khi tôi vừa xưng danh, rằng chiếc tàu hơi nước của tôi hiện đang nằm gọn dưới đáy sông. Tôi như bị sét đánh ngang tai. Cái gì cơ, làm sao, tại sao lại thế? Ồ, nó 'hoàn toàn ổn.' Chính 'viên quản lý trưởng' đã tận mắt chứng kiến. Mọi thứ hoàn toàn bình thường. 'Mọi người đã xử trí thật tuyệt vời! tuyệt vời!'-'anh phải,' gã gào lên một cách phấn khích, 'đi gặp viên quản lý trưởng ngay tắp lự. Ngài ấy đang đợi anh đấy!'

"Ngay lúc ấy, tôi chẳng hề nhận ra ý nghĩa thực sự đằng sau vụ đắm tàu. Giờ đây, khi hồi tưởng lại, tôi cứ ngỡ mình đã nhìn thấu tất thảy, nhưng thật ra vẫn chẳng dám chắc-hoàn toàn không chắc. Dĩ nhiên, nếu ngẫm nghĩ kỹ, sự vụ ấy thật quá đỗi xuẩn ngốc để có thể coi là một tai nạn tự nhiên. Dù vậy... vào thời điểm đó, nó đơn thuần chỉ là một nỗi phiền toái chết tiệt. Chiếc tàu hơi nước đã chìm nghỉm. Họ đã vội vã nhổ neo ngược dòng sông từ hai ngày trước, mang theo tay quản lý bến tàu, dưới sự lèo lái của một gã thuyền trưởng tình nguyện ất ơ nào đó. Và chỉ trong vòng chưa đầy ba giờ xuất phát, bọn họ đã kịp cạo nát đáy tàu vào một rặng đá ngầm, khiến nó chìm nghỉm gần bờ nam. Tôi tự hỏi mình còn ở lại cái chốn này làm gì, khi con tàu của tôi đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông. Thế nhưng thực tế là, tôi lại có quá đỗi việc phải làm để trục vớt con tàu bạc mệnh ấy lên khỏi mặt nước. Ngay ngày hôm sau, tôi đã phải xắn tay vào việc. Riêng công đoạn trục vớt, cộng thêm những sửa chữa cần thiết khi tôi lôi được cái đống sắt vụn ấy về trạm, đã ngốn đứt của tôi vài tháng trời ròng rã.

"Cuộc chạm trán đầu tiên giữa tôi và tay quản lý bến lại diễn ra khá kỳ cục. Dù tôi đã phải cuốc bộ suốt hai mươi dặm vào sáng hôm đó, ông ta chẳng mảy may mời tôi lấy một chỗ ngồi. Ông ta hoàn toàn nhạt nhẽo-từ nước da, đường nét khuôn mặt, phong thái cho đến cả chất giọng. Vóc dáng ông ta tầm thước, thân hình cũng chẳng có gì nổi bật. Đôi mắt màu xanh lơ của ông ta, tuy thế, lại mang một vẻ lạnh lùng đáng kinh ngạc; và chắc chắn, ông ta có thừa khả năng găm ánh nhìn sắc lẹm, trĩu nặng như một lưỡi rìu vào đối phương. Nhưng kỳ lạ thay, ngay cả trong những khoảnh khắc ấy, toàn bộ phần còn lại trên cơ thể ông ta dường như lại phủ nhận sự sắc bén đó. Ngoài ra, trên đôi môi ông ta luôn phảng phất một biểu cảm nhàn nhạt, khó nắm bắt-một thứ gì đó mờ ám-một nụ cười-mà cũng không hẳn là một nụ cười-tôi vẫn nhớ rõ, nhưng chẳng tài nào diễn tả được. Đó là một nụ cười vô thức, dù rằng mỗi khi ông ta dứt lời, nó lại bừng lên dữ dội trong một sát na. Nó thường xuất hiện ở cuối mỗi câu nói như một con dấu đóng ấn lên ngôn từ, biến ý nghĩa của những cụm từ thông thường nhất trở nên hoàn toàn mờ mịt. Ông ta đích thị là một tay lái buôn hạng bét, từ thuở thanh niên đã được thuê mướn để lăn lộn ở cái xứ này-chỉ có thế, không hơn không kém. Ông ta vẫn được người ta tuân lệnh, dẫu chẳng hề khơi gợi được tình yêu thương, nỗi sợ hãi, hay thậm chí là chút tôn trọng cỏn con nào. Thứ duy nhất ông ta gieo rắc, chính là sự bất an. Đúng vậy! Bất an. Chẳng phải là sự ngờ vực hiển hiện-chỉ là sự bất an-vậy thôi. Các anh không biết một cái khả năng... một cái khả năng như thế lại có thể phát huy tác dụng đến nhường nào đâu. Ông ta chẳng có tài tổ chức, chẳng có óc sáng kiến, cũng chẳng buồn thiết lập trật tự. Điều đó hiện rõ mồn một qua cái tình trạng tồi tàn đến thảm hại của khu trạm. Ông ta vô học, lại chẳng lấy gì làm thông minh. Thế nhưng, làm sao ông ta có thể leo lên được vị trí này? Có lẽ vì ông ta chẳng bao giờ đổ bệnh... Ông ta đã cắm rễ ngoài này suốt ba nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ kéo dài ba năm... Bởi lẽ, việc giữ được một sức khỏe dẻo dai giữa sự suy kiệt chung của mọi thể trạng, bản thân nó đã là một thứ quyền lực đáng gờm. Mỗi khi được về nhà nghỉ phép, ông ta lại ăn chơi trác táng, vung tiền qua cửa sổ một cách khoa trương. Cứ như một gã thủy thủ bước lên bờ-chỉ khác ở cái vỏ bọc bề ngoài mà thôi. Người ta có thể dễ dàng rút ra kết luận ấy qua dăm ba câu chuyện phiếm ngẫu nhiên của ông ta. Ông ta chẳng bao giờ là người khởi xướng điều gì, ông ta chỉ giỏi duy trì những thói quen cũ mèm-chỉ có vậy. Nhưng, ông ta lại vô cùng vĩ đại. Sự vĩ đại của ông ta nằm ở một điểm nhỏ nhặt này: chẳng ai dám chắc điều gì có thể kìm cương được một kẻ như ông ta. Ông ta chưa từng để lộ cái bí mật ấy. Hoặc cũng có thể, bên trong con người ông ta thực chất rỗng tuếch, chẳng có gì cả. Một sự ngờ vực như thế đủ khiến người ta phải chùn bước-bởi vì ở ngoài này, lấy đâu ra những chế tài kiểm soát từ thế giới văn minh. Có một bận, khi đủ thứ dịch bệnh nhiệt đới đã quật ngã gần như toàn bộ lũ 'đặc vụ' trong trạm, người ta nghe thấy ông ta buông thõng một câu: 'Đám đàn ông ra cái chốn này thì tốt nhất là đừng mang theo ruột gan làm gì.' Rồi ông ta lại đóng dấu ấn cho câu nói ấy bằng nụ cười quen thuộc, tựa như đang hé mở một cánh cửa dẫn vào cõi tăm tối mà ông ta hằng cất giấu. Các anh cứ ngỡ mình đã thấu tỏ mọi sự-nhưng con dấu ấy lại phập xuống, đóng sầm cánh cửa lại. Bị làm phiền trong những bữa ăn bởi những trận cãi vã triền miên của lũ người da trắng chỉ vì chuyện tranh giành chỗ ngồi, ông ta đã ra lệnh đóng một chiếc bàn tròn khổng lồ, to đến mức người ta phải dựng hẳn một ngôi nhà đặc biệt để chứa nó. Đó chính là nhà ăn tập thể của trạm. Và nơi ông ta ngồi chễm chệ, nghiễm nhiên là vị trí trung tâm-những kẻ còn lại, chẳng là cái thá gì. Người ta cảm nhận được đó là niềm kiêu hãnh bất di bất dịch của ông ta. Ông ta chẳng thô lỗ, cũng chẳng lấy gì làm lịch sự. Ông ta rất kiệm lời. Ông ta mặc kệ cho thằng 'hầu cận' của mình-một gã thanh niên da đen đẫy đà được mang đến từ bờ biển-đối xử với những người đàn ông da trắng bằng một thái độ xấc xược đầy khiêu khích, ngay trước mũi ông ta.

"Ông ta bắt đầu tuôn một tràng ngay khi vừa thấy mặt tôi. Rằng tôi đã mất quá nhiều thời gian trên đường đi. Rằng ông ta không thể chờ đợi thêm được nữa. Rằng ông ta đã buộc phải khởi hành mà không có tôi. Các trạm ở thượng nguồn cần phải được giải tỏa gấp. Đã có quá nhiều sự chậm trễ đến mức ông ta chẳng rõ ai còn ai mất, và những kẻ sống sót đã bám víu vào đâu để tồn tại-vân vân và mây mây. Ông ta bỏ ngoài tai mọi lời giải thích của tôi, và trong lúc tay vẫn vân vê thỏi sáp niêm phong, ông ta liên tục lặp đi lặp lại rằng tình hình đang 'rất nghiêm trọng, vô cùng nghiêm trọng.' Có tin đồn rằng một trạm giao thương trọng yếu đang bị đe dọa, và người đứng đầu nơi đó, ông Kurtz, đang lâm bệnh nặng. Ông ta hy vọng điều đó không phải là sự thật. Ông Kurtz là... Lúc ấy, tôi cảm thấy mệt mỏi và rã rời. 'Mặc xác gã Kurtz,' tôi thầm nghĩ. Tôi bèn ngắt lời, lạnh nhạt thông báo rằng tôi đã nghe danh ông Kurtz từ hồi còn ở bờ biển. 'À! Vậy ra ở dưới đó người ta cũng bàn tán về ông ấy,' ông ta lẩm bẩm trong miệng. Rồi ông ta lại tiếp tục điệp khúc thao thao bất tuyệt, một mực cam đoan với tôi rằng ông Kurtz là tay đặc vụ xuất sắc nhất mà ông ta có, một nhân tài kiệt xuất, giữ một tầm ảnh hưởng sống còn đối với Công ty; do đó, tôi hẳn phải thấu hiểu được nỗi lòng cồn cào của ông ta. Ông ta, theo như lời ông ta tự nói, đang 'vô cùng, vô cùng bất an.' Rõ ràng là ông ta đã nhấp nhổm không yên trên ghế, bật thốt lên, 'Ôi, ông Kurtz!', rồi vô tình bẻ gãy thỏi sáp niêm phong và dường như chết lặng vì cái tai nạn nhỏ nhoi ấy. Điều tiếp theo mà ông ta muốn biết là 'sẽ phải mất bao lâu để'... Tôi lại ngắt lời ông ta thêm lần nữa. Cơn đói đang cào xé, các anh biết đấy, lại còn phải đứng chôn chân nãy giờ. Cơn giận dữ man rợ đang dần xâm chiếm lấy tôi. 'Làm sao tôi có thể biết được cơ chứ?' tôi đáp gắt gỏng. 'Tôi thậm chí còn chưa được tận mắt nhìn thấy cái xác tàu đắm đó nữa kìa-nhưng chắc chắn là phải mất vài tháng.' Mọi lời qua tiếng lại này đối với tôi lúc ấy nghe thật phù phiếm làm sao. 'Vài tháng,' ông ta trầm ngâm. 'Chà, cứ cho là ba tháng đi, trước khi chúng ta có thể nhổ neo. Phải. Bấy nhiêu thời gian là quá đủ để giải quyết cho trót lọt cái vụ này.' Tôi hầm hầm lao ra khỏi cái túp lều của ông ta (ông ta sống cô độc trong một căn lều đất sét, phía trước có một cái thứ gì đó tạm bợ giống như mái hiên), lầm bầm rủa xả những đánh giá của tôi về con người này. Một gã ngốc lắm điều không hơn không kém. Nhưng rồi, tôi đã phải vội vã rút lại ý nghĩ đó, khi sửng sốt nhận ra rằng, ông ta đã dự tính thời gian cần thiết cho 'cái vụ này' với một sự chính xác đến lạnh người.

"Hôm sau, tôi cắm cúi lao vào công việc, nói đúng hơn là, quay lưng lại hẳn với cái trạm nhảm nhí đó. Chỉ có làm như vậy, tôi mới cảm thấy mình còn đang níu giữ được những sự thật cứu rỗi của cuộc sống này. Thế nhưng, thỉnh thoảng người ta vẫn phải ngẩng đầu lên mà nhìn ngó xung quanh; và rồi đập vào mắt tôi là cái trạm này, là những gã đàn ông đang lững thững bước đi vô định dưới ánh nắng chói chang giữa sân trạm. Đôi khi tôi tự hỏi, rốt cuộc thì tất cả những thứ nhố nhăng này có ý nghĩa gì. Họ cứ lang thang vất vưởng khắp nơi, tay lăm lăm những cây gậy dài nực cười, trông chẳng khác nào một đám hành hương thiếu vắng đức tin đang bị dính lời nguyền ma quỷ, mắc kẹt bên trong một bờ rào mục nát. Hai tiếng 'ngà voi' vương vấn trong không trung, được thầm thì sùng kính, được thở than khát khao. Các anh hẳn sẽ nghĩ rằng bọn họ đang chắp tay cầu nguyện cho cái thứ đó. Một sự thối rữa của lòng tham ngu xuẩn thổi qua vạn vật, nồng nặc và tởm lợm hệt như mùi hôi thối bốc lên từ một cái xác trương phình nào đó. Lạy Chúa tôi! Cả đời này tôi chưa từng chứng kiến thứ gì phi thực tế đến vậy. Và ở ngoài kia, vùng hoang dã câm lặng ôm trọn lấy cái đốm nhỏ bé vừa được phát quang trên bề mặt trái đất này, dội thẳng vào tâm trí tôi như một thực thể vĩ đại và bất khả chiến bại, như một cái ác thuần túy hay một sự thật hiển nhiên, kiên nhẫn phục kích chờ đợi ngày lụi tàn của cuộc xâm lăng đầy kỳ quái này.

"Ôi, những tháng ngày ròng rã đó! Chà, đừng bận tâm làm gì. Có biết bao nhiêu chuyện đã xảy ra. Một buổi tối nọ, một cái lán lợp cỏ ranh-nơi chất đầy vải calico, vải bông in hoa, hạt cườm, và có trời mới biết còn những thứ hổ lốn gì ở trong đó nữa-bất ngờ bùng cháy dữ dội. Ngọn lửa liếm lên hung hãn đến mức các anh sẽ ngỡ rằng mặt đất vừa nứt toác ra, giải phóng một ngọn lửa báo thù nhằm thiêu rụi toàn bộ mớ rác rưởi ô uế kia. Tôi vẫn đang lặng lẽ rít tẩu thuốc bên cạnh chiếc tàu hơi nước đã bị tháo tung của mình, trơ mắt nhìn tất cả bọn họ nhảy nhót hoảng loạn trong biển lửa chói lòa, hai tay vung vẩy trên không. Bỗng nhiên, cái gã to béo với bộ ria mép rậm rạp chạy ầm ầm xuống bờ sông, tay xách lủng lẳng một cái xô thiếc. Gã hổn hển cam đoan với tôi rằng mọi người đang 'cư xử vô cùng, vô cùng tuyệt vời', rồi vội vàng múc được chừng một phần tư lít nước và lại ba chân bốn cẳng lao ngược lên đồi. Tôi tinh mắt nhận ra dưới đáy cái xô của gã có một lỗ thủng to tổ chảng.

"Tôi tản bộ lên đồi. Chẳng việc gì phải vội vàng. Các anh thấy đấy, ngọn lửa đã bén rễ và bốc lên dữ dội chẳng khác nào một bao diêm khổng lồ. Mọi nỗ lực cứu chữa đều đã trở nên vô vọng ngay từ những giây phút đầu tiên. Ngọn lửa bùng lên kiêu hãnh, xua đuổi tất thảy lùi lại phía sau, thắp sáng rực rỡ vạn vật xung quanh-và rồi sụp đổ trong kiệt quệ. Căn lán giờ đây chỉ còn là một đống than hồng đang hậm hực đỏ lửa. Một gã da đen đang bị đánh đập dã man ở ngay gần đó. Bọn họ lu loa rằng chính gã, bằng một cách thần bí nào đó, đã châm ngòi cho vụ hỏa hoạn; bất luận sự tình ra sao, gã ta đang gào thét một cách man dại và thảm thương nhất. Mấy ngày sau, tôi vô tình bắt gặp gã đang ngồi co ro trong một khoảng bóng râm, trông ốm yếu tàn tạ, dường như đang gắng gượng giành giật lại chút hơi tàn; rồi gã lảo đảo đứng lên, bước ra ngoài-và vùng hoang dã câm lặng lại một lần nữa dang tay đón gã vào lòng. Khi tôi tiến từ màn đêm đen kịt về phía quầng sáng rực rỡ của đám cháy, tôi nhận ra mình đang đứng ngay sát lưng hai gã đàn ông đang to nhỏ bàn tán. Tôi loáng thoáng nghe thấy cái tên Kurtz trượt ra khỏi môi họ, rồi nối tiếp bằng mấy từ đại loại như, 'nhân cơ hội của cái tai nạn đáng tiếc này'. Một trong hai kẻ đó chính là tên quản lý bến. Tôi cất tiếng chào ông ta. 'Anh đã bao giờ chứng kiến thứ gì tồi tệ đến thế này chưa-hả? Thật không thể tin nổi,' ông ta nói vội rồi rảo bước đi thẳng. Gã đàn ông còn lại nán chân. Anh ta là một tay đặc vụ hạng nhất, tuổi đời còn trẻ, điệu bộ nhã nhặn, hơi dè dặt, với chòm râu chẻ đôi và chiếc mũi khoằm sắc nét. Anh ta dường như luôn giữ khoảng cách với những đặc vụ khác; và về phần họ, bọn họ xì xào rằng anh ta đích thị là con chó săn được tên quản lý bến cài cắm để giám sát. Về phần tôi, tôi hầu như chưa từng hé răng lấy nửa lời với anh ta trước đây. Chúng tôi bắt đầu dăm ba câu chuyện phiếm, và chẳng mấy chốc, cả hai đã tản bộ rời xa khỏi đống đổ nát đang xèo xèo bốc khói. Sau đó, anh ta nhã nhặn mời tôi nán lại phòng mình, nằm sâu trong khu nhà chính của trạm. Anh ta quẹt một que diêm, và chao ôi, tôi lập tức nhận ra vị quý tộc trẻ tuổi này không chỉ sở hữu một hộp đồ trang điểm nạm bạc sang trọng, mà còn có cả một cây nến cho riêng mình. Tại cái thời điểm chết tiệt đó, người duy nhất được trao cái đặc quyền thắp nến chính là tên quản lý bến. Những tấm thảm sặc sỡ của thổ dân phủ kín các bức tường đất sét; một bộ sưu tập lỉnh kỉnh giáo mác, lao, khiên và dao nhọn được treo lủng lẳng như những chiến lợi phẩm kiêu hãnh. Công việc được giao cho cái gã này, theo như tôi được thông báo, là thợ làm gạch; thế nhưng tuyệt nhiên chẳng có lấy một mảnh gạch vụn nào hiện diện ở bất cứ xó xỉnh nào trong cái trạm này, và anh ta thì đã nằm ì ở đây suốt hơn một năm trời-chỉ để chờ đợi. Có vẻ như anh ta không tài nào nặn ra được gạch nếu thiếu đi một thứ gì đó, tôi cũng chẳng tường tận là thứ gì-có lẽ là rơm rạ chăng. Dù sao đi nữa, người ta cũng chẳng thể đào đâu ra thứ đó ở chốn này, và vì nó cũng chẳng có khả năng được vận chuyển từ tận châu Âu xa xôi đến, nên đối với tôi, thật là một bí ẩn khi không hiểu anh ta đang mỏi mòn chờ đợi điều gì. Có lẽ là một phép màu sáng tạo siêu phàm nào đó chăng. Cơ mà, tất cả bọn họ đều đang chờ đợi-cả mười sáu hay hai mươi gã hành hương trong số họ-chờ đợi một thứ gì đó vô hình; và thề có Chúa, đó dường như chẳng phải là một công việc nhọc nhằn gì cho cam, nếu cứ nhìn cái cách bọn họ nhơn nhơn đón nhận nó, dẫu cho thứ duy nhất từng gõ cửa thăm viếng bọn họ chỉ là bệnh tật-theo như những gì tôi quan sát được. Bọn họ giết thời gian bằng cách rỉa rói, đâm thọc sau lưng và ấp ủ mưu đồ chống lại nhau theo một cách ngớ ngẩn nhất. Một bầu không khí sặc mùi âm mưu bao trùm lấy cái trạm đó, nhưng hiển nhiên là chẳng có kết quả gì sất. Nó cũng phi thực tế hệt như mọi thứ khác-như cái lớp vỏ ngụy trang từ thiện đầy đạo đức giả của toàn bộ doanh nghiệp này, như những lời lẽ phù phiếm của bọn họ, như cái chính quyền thối nát của bọn họ, như cái màn kịch làm việc rởm đời của bọn họ. Cảm xúc chân thực duy nhất ngự trị nơi đây chính là cơn khát khao cuồng dại được bổ nhiệm đến một trạm giao thương màu mỡ, nơi ngà voi chất cao như núi, để bọn họ có thể nhét đầy túi những đồng phần trăm béo bở. Bọn họ giăng bẫy, vu khống và căm ghét nhau đến tận xương tủy cũng chỉ vì cái lý do trần trụi đó-nhưng bảo bọn họ thực sự nhấc một ngón tay lên để làm việc thì-ồ, không bao giờ. Lạy Chúa tôi! Xét cho cùng thì trên cái thế gian này, luôn tồn tại một nghịch lý cho phép kẻ này thản nhiên dắt trộm một con ngựa, trong khi kẻ khác lại chẳng được phép đánh mắt ngó lơ cái dây cương. Trực tiếp đánh cắp một con ngựa. Quá giỏi. Hắn ta đã làm được. Có lẽ hắn ta còn có thể ung dung cưỡi nó. Nhưng có một cách liếc nhìn cái dây cương lại đủ sức chọc điên vị thánh nhân từ nhất, khiến ngài phải tung ra một cú đá trời giáng.

"Tôi chẳng có lấy một ý niệm mường tượng nào về lý do tại sao anh ta lại đột nhiên muốn tỏ ra thân thiện, nhưng khi chúng tôi nán lại trò chuyện ở trong phòng, tôi chợt nhận ra rằng gã đang cố gắng đào xới một điều gì đó-đúng hơn là, đang lân la moi móc thông tin từ tôi. Anh ta liên tục buông lời bóng gió về châu Âu, về những nhân vật quyền thế mà tôi được cho là có mối quan hệ thân thiết ở đó-đưa ra hàng loạt câu hỏi thăm dò về những người quen của tôi tại cái thành phố mồ mả kia, vân vân và mây mây. Đôi mắt ti hí của anh ta lóe lên như hai phiến mica-ngập tràn sự tò mò-dù anh ta vẫn cố nặn ra một vẻ kiêu ngạo giả tạo. Thoạt đầu tôi có đôi chút ngạc nhiên, nhưng rồi rất nhanh chóng, tôi lại đâm ra tò mò đến tột độ, háo hức muốn xem anh ta sẽ moi được cái quái gì từ cái vỏ bọc vô dụng này. Tôi chẳng thể nào tưởng tượng nổi, trên người mình lại có thứ gì đó đáng để anh ta phải bận tâm đến vậy. Thật là một vở kịch tuyệt hảo khi chứng kiến anh ta tự mua dây buộc mình, tự làm khó bản thân ra sao, bởi sự thật trần trụi là cơ thể tôi lúc này chỉ chứa đựng những cơn ớn lạnh đến rợn gáy, còn tâm trí tôi thì trống rỗng, chẳng có gì ngoài những lo toan trĩu nặng về cái xác tàu hơi nước khốn khổ kia. Rõ ràng anh ta coi tôi là một tên điêu ngoa, một kẻ dối trá không biết ngượng mồm. Cuối cùng, anh ta phát cáu, và để che giấu đi một cái cựa mình khó chịu đến phát điên, anh ta vờ ngáp dài một cái. Tôi lững thững đứng dậy. Chính lúc đó, ánh mắt tôi va phải một bức phác thảo nhỏ bằng sơn dầu, vẽ trên một tấm ván, khắc họa hình ảnh một người phụ nữ được quấn trong lớp rèm cửa và bị bịt mắt, trên tay rước một ngọn đuốc đang bốc cháy hừng hực. Phông nền của bức tranh u ám-gần như đen kịt một màu tăm tối. Dáng điệu của người phụ nữ toát lên vẻ trang nghiêm kỳ lạ, và hiệu ứng của ánh sáng hắt ra từ ngọn đuốc lên khuôn mặt thật sự khiến người ta phải rùng mình ớn lạnh.

"Bức tranh đã hoàn toàn thu hút sự chú ý của tôi, và anh ta nhã nhặn đứng ngay bên cạnh, tay cầm một cái vỏ chai sâm panh cỡ nửa pint (được ngụy trang bằng cái mác tiện nghi y tế) với một ngọn nến cắm chênh vênh trên miệng chai. Trả lời câu hỏi của tôi, anh ta nói ông Kurtz đã tự tay vẽ nên bức tranh này-tại chính cái trạm này, hơn một năm về trước-trong những chuỗi ngày mòn mỏi chờ đợi phương tiện để đi đến trạm giao thương của mình. 'Làm ơn nói cho tôi biết,' tôi hỏi, 'rốt cuộc ông Kurtz này là ai?'

"'Là tay quản lý trưởng của Trạm Nội Địa,' anh ta đáp lại bằng một chất giọng cộc lốc, ánh mắt lảng đi nơi khác. 'Vô cùng cảm ơn,' tôi nói, nhếch mép cười. 'Và anh chính là thợ làm gạch của Trạm Trung tâm. Mọi người đều tỏ tường điều đó.' Anh ta im bặt một thoáng. 'Ông ấy là một thần đồng,' cuối cùng anh ta cất lời. 'Ông ấy là một sứ giả của lòng thương xót, của khoa học và sự tiến bộ, và có trời mới biết là của ti tỉ những thứ cao siêu nào khác nữa. Chúng ta cần,' anh ta đột ngột cao giọng hùng biện, 'để dẫn dắt cho cái sự nghiệp thiêng liêng mà châu Âu đã ủy thác cho chúng ta, có thể nói như vậy, một trí tuệ siêu việt hơn, những sự đồng cảm bao la, một mục đích duy nhất và kiên định.' 'Ai nói điều đó?' tôi vặn lại. 'Rất nhiều người trong số họ,' anh ta đáp. 'Vài người thậm chí còn chắp bút viết ra điều đó; và chính vì thế ông ấy mới hiện diện ở đây, như một thực thể phi thường, mà anh đáng lẽ phải biết.' 'Tại sao tôi lại đáng lẽ phải biết?' tôi ngắt ngang, lòng đầy kinh ngạc. Anh ta chẳng thèm mảy may bận tâm. 'Phải. Hôm nay ông ấy là người đứng đầu trạm xuất sắc nhất, sang năm ông ấy sẽ chễm chệ ở vị trí trợ lý quản lý, hai năm nữa và... nhưng tôi dám cá là anh đã biết tỏng ông ấy sẽ làm ông vương bà tướng gì trong vòng hai năm tới rồi. Anh vốn thuộc về băng đảng mới-cái băng đảng của đức hạnh. Những kẻ đã đặc phái ông ấy đến đây cũng chính là những người đã ném anh vào cái chốn này. Ồ, đừng vội chối bay chối biến. Tôi có đôi mắt của riêng mình để mà tin tưởng.' Một tia sáng bỗng lóe lên trong đầu tôi. Những mối quan hệ quyền thế của người dì tuyệt vời của tôi đang tạo ra một tác động không ngờ đối với cái gã thanh niên này. Tôi suýt nữa thì bật cười thành tiếng. 'Anh có hay đọc trộm thư từ bảo mật của Công ty không đấy?' tôi hỏi móc. Anh ta cứng họng, chẳng rặn ra được một lời nào. Thật là một màn hài kịch tuyệt thú. 'Khi ông Kurtz,' tôi tiếp tục, bằng một giọng điệu lạnh lùng và nghiêm khắc, 'chính thức trở thành Tổng Quản Lý, anh sẽ vĩnh viễn chẳng còn cái cơ hội đó nữa đâu.'

"Anh ta đột ngột thổi phụt cây nến, và chúng tôi bước ra ngoài. Mặt trăng đã lên cao. Vài bóng đen lững thững đi lại một cách uể oải, hắt nước lên đống than hồng, làm bốc lên một tiếng xèo xèo nghẹn ngào; những dải hơi nước lượn lờ vấn vít dưới ánh trăng lạnh lẽo, trong khi gã da đen bị đánh đập vẫn đang rên rỉ đau đớn ở một xó xỉnh nào đó. 'Thằng khốn đó mới ồn ào làm sao!' gã đàn ông mang bộ ria mép không biết mệt mỏi thốt lên, bất thần xuất hiện ngay sát chúng tôi. 'Đáng đời hắn. Vi phạm nguyên tắc-trừng phạt-đoàng! Tàn nhẫn, tàn nhẫn vô cùng. Nhưng đó là cách duy nhất. Sự nghiêm khắc này sẽ dập tắt mọi ý định hỏa hoạn trong tương lai. Tôi vừa mới bẩm báo với viên quản lý trưởng...' Gã chợt chú ý đến người bạn đồng hành của tôi, và thái độ hùng hổ bỗng xìu xuống như một quả bóng xì hơi. 'Vẫn chưa nghỉ ngơi à,' gã nói, mang theo một kiểu nhiệt tình đầy vẻ xum xoe phục tùng; 'âu cũng là lẽ tự nhiên. Ha! Nguy hiểm-kích động mà.' Rồi gã chuồn mất hút. Tôi cất bước tiến về phía bờ sông, gã kia lầm lũi bám theo. Bên tai tôi vẳng lên một tiếng thì thầm gay gắt, 'Một lũ vô dụng-mặc xác chúng.' Có thể lờ mờ nhìn thấy đám người hành hương đang tụm năm tụm ba, khoa tay múa chân tranh luận sôi nổi. Vài kẻ vẫn lăm lăm nắm chặt những cây gậy dài thượt trên tay. Tôi thực sự tin rằng bọn họ đã ôm khư khư mấy cái gậy chết tiệt đó đi ngủ cùng. Phía bên kia hàng rào, khu rừng già hiện lên lờ mờ như những bóng ma quỷ dưới ánh trăng nhợt nhạt, và xuyên qua sự chuyển động mờ ảo đó, xuyên qua những thanh âm yếu ớt vẳng lại từ cái khoảng sân thảm hại kia, sự tĩnh lặng sâu thẳm của vùng đất đã từ từ rỉ vào tận cõi lòng con người-sự bí ẩn của nó, sự vĩ đại của nó, cái thực tại đáng kinh ngạc của một mầm sống đang giấu mình. Gã da đen bị thương vẫn yếu ớt rên rỉ ở một nơi nào đó ngay gần đó, và rồi buông thõng một tiếng thở dài thườn thượt, não nuột đến mức tôi phải vội vã rảo bước rời xa. Tôi bỗng cảm thấy một bàn tay luồn vào dưới cánh tay mình. 'Thưa anh,' gã thợ làm gạch khẩn khoản cất lời, 'tôi không muốn bị hiểu lầm, và đặc biệt là bởi anh, người sẽ được diện kiến ông Kurtz rất lâu trước khi tôi có thể có được cái vinh hạnh lớn lao đó. Tôi thật lòng không muốn ông ấy mang một ý nghĩ sai lệch về khuynh hướng của tôi....'

"Tôi cứ để mặc cho gã ba hoa xảo ngữ, cái gã ác quỷ Mephistopheles16 bằng giấy bồi này. Tôi có cảm giác rằng nếu mình thử chọc ngón trỏ xuyên qua lớp vỏ bọc ấy, bên trong chắc hẳn rỗng tuếch, chẳng có gì ngoài một ít bụi bẩn bám hờ, có lẽ thế. Các anh không thấy sao, anh ta đang rắp tâm bày mưu tính kế để dần dà leo lên chiếc ghế trợ lý dưới quyền tên quản lý hiện tại, và tôi có thể tinh ý nhận ra rằng sự xuất hiện của Kurtz đã khiến cả hai kẻ đó không khỏi gai mắt khó chịu. Anh ta nói liến thoắng như một cái máy, và tôi cũng chẳng buồn ngắt lời anh ta làm gì. Tôi tựa lưng vào cái xác tàn tạ của chiếc tàu hơi nước, bị kéo lê lên dốc trông chẳng khác nào xác chết trương sình của một loài thủy quái khổng lồ nào đó. Mùi bùn, cái thứ bùn lầy nguyên thủy ấy, lạy Chúa tôi! đang xộc thẳng vào lỗ mũi, trong khi sự tĩnh lặng cao vời vợi của khu rừng nguyên sinh đang giăng mắc ngay trước mắt tôi; có những vệt lấp lánh phản chiếu trên mặt lạch đen ngòm. Mặt trăng đã phủ lên vạn vật một lớp bạc mỏng tang-lên đám cỏ dại mọc um tùm, lên đống bùn lầy nhơ nhớp, lên bức tường thảm thực vật chằng chịt vươn cao hơn cả bức tường thành của một ngôi đền thiêng, lên dòng sông lớn mà tôi có thể loáng thoáng nhìn thấy qua một khe hở u ám đang lấp lánh, lấp lánh, khi nó mở rộng lòng mình mà không buông lấy một tiếng rì rầm. Tất cả những điều này vĩ đại xiết bao, đầy sức nặng của sự chờ mong, câm lặng đến rợn ngợp, trong khi gã đàn ông vẫn đang lải nhải về bản thân mình. Tôi tự hỏi liệu sự tĩnh lặng ngự trị trên khuôn mặt của sự bao la đang đăm đăm nhìn hai chúng tôi kia, mang ý nghĩa như một lời vẫy gọi hay là một sự đe dọa. Chúng tôi là ai mà lại đi lạc vào cái cõi hoang sơ này? Liệu chúng tôi có thể chế ngự được thứ câm lặng đó, hay chính nó sẽ chế ngự và nuốt chửng chúng tôi? Tôi cảm thấy cái thứ vô ngôn đó, và có lẽ còn điếc đặc nữa, to lớn đến nhường nào, to lớn đến mức chết tiệt. Có cái gì đang rình rập ở trong đó? Tôi có thể thấy một số lượng ngà voi tuôn ra từ đó, và tôi nghe nói ông Kurtz đang ở sâu trong đó. Tôi cũng đã nghe quá đủ về cái điều đó rồi-có Chúa mới thấu! Thế nhưng bằng một cách nào đó, cái tên ấy lại chẳng hề mang đến bất kỳ một hình dung cụ thể nào kèm theo-không hơn gì so với việc tôi được kể rằng có một thiên thần hay một con quỷ đang trú ngụ trong đó. Tôi tin điều đó theo cùng một cái cách mà một người trong số các anh có thể tin rằng có những cư dân đang sinh sống trên sao Hỏa. Tôi từng quen một người thợ làm buồm gốc Scotland, người đã tin chắc, tin chắc như đinh đóng cột, rằng có con người sống ở trên sao Hỏa. Nếu các anh yêu cầu ông ta đưa ra một vài phác họa về việc họ trông như thế nào và cư xử ra sao, ông ta sẽ trở nên lúng túng, xấu hổ và lẩm bẩm điều gì đó về việc 'đi bằng cả bốn chân.' Nếu các anh chỉ cần nhếch mép mỉm cười, ông ta sẽ-mặc dù đã là một ông lão sáu mươi tuổi-chồm lên đòi ăn thua đủ với các anh. Tôi sẽ không đi xa đến mức thượng cẳng chân hạ cẳng tay vì Kurtz, nhưng tôi đã tiến đến gần cái viễn cảnh ấy vì ông ấy, gần như là vì một lời nói dối. Các anh biết tôi căm ghét, tởm lợm, và không thể nào chịu đựng nổi một lời nói dối, không phải vì tôi thẳng thắn hay thanh cao hơn những người còn lại, mà đơn giản vì nó làm tôi kinh hãi đến tột độ. Có một sự thối rữa của cái chết, một hương vị của sự tử vong lẩn khuất trong những lời nói dối-đó chính xác là những gì tôi ghê tởm và căm hận trên cái thế giới này-những gì tôi muốn gạt bỏ đi cho khuất mắt. Nó khiến tôi cảm thấy khốn khổ và phát buồn nôn, giống hệt như việc cắn nhầm phải một thứ gì đó đã thiu thối mục nát vậy. Là do tính khí chăng, tôi cho là vậy. Chà, tôi đã tiến đến đủ gần với nó bằng cách để cho cái gã ngốc trẻ tuổi ở đó tin vào bất cứ điều gì gã thích huyễn hoặc về cái gọi là sức ảnh hưởng của tôi ở châu Âu. Trong một khoảnh khắc tồi tệ, tôi đã biến chất thành một kẻ giả tạo, y hệt như đám người hành hương bị phù phép còn lại. Đơn giản chỉ vì trong đầu tôi le lói một ý nghĩ rằng bằng một cách nào đó, điều này sẽ giúp ích cho người đàn ông mang tên Kurtz đó, người mà vào cái thời điểm ấy tôi chưa từng vinh hạnh gặp mặt-các anh hiểu chứ. Đối với tôi, ông ấy chỉ là một cái tên trống rỗng. Tôi không nhìn thấu được con người đằng sau cái tên đó nhiều hơn các anh là bao. Các anh có nhìn thấy ông ấy không? Các anh có nhìn thấu được câu chuyện này không? Các anh có thấy được bất cứ điều gì không? Đối với tôi, dường như tôi đang cố tuyệt vọng kể cho các anh nghe một giấc mơ-thực hiện một nỗ lực vô ích, bởi vì không một sự kể lại nào về một giấc mơ lại có thể truyền tải trọn vẹn được cái cảm giác của giấc mơ đó, cái sự pha trộn kỳ quái của sự ngớ ngẩn, sự ngạc nhiên, và sự hoang mang tột độ trong một tiếng rùng mình của sự phản kháng, cái nhận thức bị giam cầm bởi những điều tưởng chừng như không thể tin được, thứ vốn dĩ chính là bản chất của những giấc mơ...."

Ông im lặng một lúc.

"... Không, không thể nào; không thể nào truyền tải trọn vẹn được cái cảm giác được sống của bất kỳ một thời kỳ nhất định nào trong sự tồn tại của một con người-thứ tạo nên chân lý của nó, ý nghĩa sâu xa của nó-bản chất tinh tế và xuyên thấu của nó. Không thể nào. Chúng ta sống, cũng hệt như cách chúng ta mơ-cô độc một mình...."

Ông lại chững lại như thể đang miên man suy ngẫm, rồi nói thêm:

"Tất nhiên là trong câu chuyện này các anh tường tận nhiều điều hơn những gì tôi có thể thấu rõ lúc đó. Các anh đang nhìn thấy tôi, người mà các anh đã quen biết...."

Trời đã sập tối mịt mùng đến mức những thính giả như chúng tôi hầu như chẳng thể nhìn rõ mặt nhau. Trong một khoảng thời gian dài, ông, ngồi cách biệt hoàn toàn, không còn hiện hữu đối với chúng tôi bằng một hình hài nào khác ngoài một giọng nói. Chẳng có lấy nửa lời cất lên từ bất kỳ ai. Những người khác có lẽ đã thiếp đi, nhưng riêng tôi vẫn trằn trọc thao thức. Tôi dỏng tai lắng nghe, tôi lắng nghe với sự cảnh giác cao độ để chớp lấy một câu nói, một từ ngữ, thứ sẽ cung cấp cho tôi manh mối về sự bất an lờ mờ được khơi dậy bởi lời kể này, dường như đang tự nhào nặn thành hình mà chẳng cần đến đôi môi của con người trong bầu không khí ban đêm trĩu nặng của dòng sông.

"... Vâng-tôi đã để mặc cho anh ta ba hoa," Marlow lại cất lời, "và tự huyễn hoặc những gì gã thích về những thế lực khổng lồ đang chống lưng cho tôi. Tôi đã làm vậy đấy! Mặc dù sự thật là chẳng có thế lực quái nào sau lưng tôi cả! Chẳng có gì khác ngoài chiếc tàu hơi nước tồi tàn, mục nát, rách bươm mà tôi đang mỏi mệt tựa vào, trong khi gã ta vẫn đang trơn tru diễn thuyết về 'sự cần thiết sống còn của mỗi người đàn ông là phải tiến lên.' 'Và khi một người đã lặn lội ra ngoài này, anh hình dung xem, chắc chắn không phải chỉ để ngắm trăng thưởng nguyệt.' Ông Kurtz quả thực là một 'thiên tài toàn năng,' nhưng ngay cả một vị thiên tài cũng sẽ dễ thở hơn khi được làm việc với 'những công cụ thích hợp-những người đàn ông thông tuệ.' Anh ta không thể làm gạch-tại sao ư, bởi vì có một trở ngại bất khả thi về mặt vật lý ngáng đường-như tôi đã nhận thức quá rõ; và nếu anh ta phải tạm hạ mình làm công việc thư ký cho viên quản lý trưởng, thì đó là bởi vì 'không một kẻ có lý trí nào lại đi từ chối một cách hàm hồ sự tín nhiệm của cấp trên.' Tôi có sáng mắt ra không? Có, tôi đã sáng mắt ra. Tôi còn đòi hỏi gì hơn nữa? Thề có Chúa, những gì tôi thực sự khao khát lúc này chỉ là những chiếc đinh tán! Những chiếc đinh tán gỉ sét. Để tôi có thể tiếp tục công việc của mình-để bịt cái lỗ thủng chết tiệt kia lại. Những chiếc đinh tán chính xác là thứ tôi khao khát. Có những thùng đinh tán khổng lồ nằm la liệt ở dưới bờ biển-những chiếc thùng-chất đống-vỡ toác-nứt nẻ! Anh có thể vô tình đá văng một chiếc đinh tán lỏng lẻo ở mỗi bước chân thứ hai trong cái sân trạm nằm chênh vênh trên sườn đồi đó. Những chiếc đinh tán vô tri đã thi nhau lăn tuột vào khu rừng chết chóc. Anh hoàn toàn có thể lót đầy túi áo mình bằng những chiếc đinh tán nếu chịu khó khom lưng cúi xuống-vậy mà trớ trêu thay, lại chẳng đào đâu ra lấy một chiếc đinh tán còm cõi nào ở ngay cái nơi mà người ta đang đỏ mắt tìm kiếm nó. Chúng tôi sở hữu những tấm thép phẳng lì có thể dùng được, nhưng lại chẳng có lấy một vật dụng nào để gắn chặt chúng lại với nhau. Và thế là cứ mỗi tuần, một gã đưa tin, một gã da đen cao lêu nghêu, mang theo túi thư trĩu nặng trên vai và cây gậy gộc trên tay, lại lầm lũi rời trạm của chúng tôi để cuốc bộ ra bờ biển. Và vài lần mỗi tuần, một đoàn lữ hành từ bờ biển lại rồng rắn kéo vào, mang theo đủ thứ hàng hóa thương mại-loại vải calico tráng men khủng khiếp đến mức khiến anh phải rùng mình ớn lạnh khi vừa liếc nhìn, những hạt cườm thủy tinh rẻ mạt trị giá loe ngoe khoảng một xu một quart, những chiếc khăn tay bằng vải bông lốm đốm màu mè chết tiệt. Ấy vậy mà không hề có đinh tán. Chỉ cần ba người phu khuân vác là đã có thể gánh vác trọn vẹn tất cả những gì cần thiết để làm cho chiếc tàu hơi nước tàn tạ đó nổi lềnh bềnh trên mặt nước.

"Giờ đây gã đang cố tỏ ra là một kẻ tâm phúc, nhưng tôi mường tượng rằng thái độ dửng dưng không đáp trả của tôi cuối cùng chắc hẳn đã chọc tức gã, vì gã cho rằng cần thiết phải thông báo cho tôi biết gã chẳng ngán sợ Chúa mà cũng chẳng chùn bước trước quỷ dữ, huống hồ gì là bất kỳ một sinh linh trần tục nào. Tôi bình thản đáp rằng tôi có thể nhìn thấu điều đó rất rõ, nhưng những gì tôi mỏi mòn ao ước bây giờ chỉ là một số lượng đinh tán nhất định-và đinh tán cũng chính là thứ mà ông Kurtz thực sự thèm khát, giá như ông ấy tỏ tường được cơ sự này. Giờ đây những phong thư vẫn đều đặn được chuyển ra bờ biển mỗi tuần.... 'Thưa anh,' anh ta thé lên, 'tôi chỉ viết theo đúng những lời đọc chính tả.' Tôi gằn giọng yêu cầu đinh tán. Luôn có một cách thức nào đó-dành cho một kẻ thông minh. Gã thoắt cái thay đổi thái độ; trở nên lạnh lùng một cách đáng sợ, và đột ngột chuyển hướng sang câu chuyện về một con hà mã; thắc mắc liệu việc ngủ trên chiếc tàu hơi nước (bởi tôi bám riết lấy công việc trục vớt của mình không kể ngày đêm) có khiến tôi bị quấy rầy hay không. Có một con hà mã già khú đế mang cái thói xấu là hay lạch bạch bò lên bờ và đi lang thang trăng hoa vào ban đêm trên khu đất của trạm. Đám người hành hương thường tụ tập lại với nhau và trút sạch bách đạn dược từ mọi khẩu súng trường mà họ có thể vớ được vào người con thú khốn khổ. Một vài kẻ thậm chí đã thức trắng cả đêm vì nó. Tuy nhiên, mọi nỗ lực và sức lực này đều bị ném qua cửa sổ một cách hoang phí. 'Con vật gớm ghiếc đó mang trong mình một sinh mệnh đã được yểm bùa,' gã nói; 'nhưng anh chỉ có thể dùng cái lý lẽ này để nói về những con thú hoang ở cái xứ sở quỷ ám này. Chẳng có một người đàn ông nào-anh hiểu ý tôi chứ?-chẳng có một gã đàn ông nào ở đây mang một sinh mệnh được yểm bùa chống đạn cả.' Gã đứng sừng sững ở đó một lúc lâu dưới ánh trăng với chiếc mũi khoằm thanh tú hơi lệch sang một bên, và đôi mắt mica của gã lấp lánh hung tợn mà không thèm chớp lấy một cái, sau đó, ném lại một lời Chúc ngủ ngon cộc lốc, gã sải những bước dài bỏ đi. Tôi có thể nhìn thấu gã đang vô cùng bối rối và hoang mang tột độ, điều này lạ lùng thay lại nhen nhóm trong tôi niềm hy vọng rực rỡ hơn bao giờ hết trong suốt những ngày qua. Thật là một sự an ủi lớn lao khi quay lưng lại với cái gã đó để trở về với người bạn quyền lực và thế lực của tôi, chiếc tàu hơi nước bẹp dúm, vặn vẹo, tàn tạ, và rẻ tiền. Tôi trèo lên boong tàu. Nó rền vang dưới từng bước chân tôi giống hệt như một hộp bánh quy Huntley & Palmer17 trống rỗng bị ai đó thẳng cẳng đá lăn lông lốc dọc theo một máng xối; nó vốn dĩ không được chế tác một cách vững chãi cho lắm, và hình dáng của nó cũng kém phần xinh xẻo, nhưng tôi đã đổ đủ mồ hôi và tâm huyết vào nó để tự cho phép mình được yêu mến nó. Chẳng có lấy một người bạn quyền lực nào có thể phụng sự tôi trung thành và tận tụy hơn nó. Nó đã ban cho tôi một cơ hội vàng để thể hiện bản thân đôi chút-để khám phá xem tôi thực sự có thể làm được những gì. Không, bản thân tôi chẳng hề đam mê công việc. Tôi thà nằm dài lười biếng và vẽ ra trong đầu tất thảy những điều tốt đẹp có thể được thực hiện. Tôi không yêu thích công việc-chẳng có gã đàn ông nào trên đời này lại đi thích điều đó cả-nhưng tôi yêu thích những giá trị tiềm ẩn bên trong công việc-cái cơ hội quý báu để tìm thấy chính bản ngã của mình. Thực tại cốt lõi của riêng anh-cho chính bản thân anh, không phải cho bất kỳ ai khác-những gì không một người đàn ông nào khác có thể từng thấu hiểu được. Bọn họ chỉ có thể nhìn thấy cái vỏ bọc bề ngoài, và sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ có thể thẩm thấu được ý nghĩa sâu xa thực sự của nó.

"Tôi chẳng mảy may ngạc nhiên khi bắt gặp một bóng người đang chễm chệ ngồi phía sau, ngay trên boong tàu, đôi chân đung đưa hờ hững trên bãi bùn lầy lội. Các anh thấy đấy, tôi khá thân thiết với vài tay thợ máy trong cái trạm đó, những kẻ mà đám người hành hương khác nghiễm nhiên coi khinh như mẻ-tôi đoán chừng là bởi phong thái cư xử thiếu vắng sự hào nhoáng của họ. Người này chính là tay quản đốc-một tay thợ làm nồi hơi lão luyện-một người thợ cần mẫn. Anh ta là một gã đàn ông gầy nhom, dong dỏng cao, với khuôn mặt vàng vọt, điểm xuyết đôi mắt to tròn, sáng rực vẻ mãnh liệt. Bộ dạng anh ta lúc nào cũng toát lên vẻ âu lo khôn tả, và cái đầu thì hói nhẵn thín chẳng khác nào lòng bàn tay tôi; nhưng kỳ lạ thay, mớ tóc rụng dường như đã tìm được cách bấu víu vào cằm anh ta, rồi đâm chồi nảy lộc một cách mạnh mẽ ở mảnh đất mới này, khiến cho bộ râu của anh ta dài thượt xuống tận thắt lưng. Anh ta là một kẻ góa vợ tội nghiệp với một nách sáu đứa con thơ (anh ta đã phải cắn răng gửi gắm chúng cho một người chị gái chăm nom để lặn lội ra tận chốn khỉ ho cò gáy này), và niềm đam mê rực cháy nhất trong cuộc đời anh ta chính là việc nuôi chim bồ câu. Anh ta là một gã si tình thực thụ và là một chuyên gia sành sỏi trong lĩnh vực đó. Anh ta có thể thao thao bất tuyệt cả ngày trời về bầy chim bồ câu của mình. Thỉnh thoảng, sau những giờ lao động rã rời, anh ta thường lững thững rời khỏi túp lều của mình để tìm đến dốc bầu tâm sự về những đứa trẻ nheo nhóc và bầy chim bồ câu thân thương; mỗi khi vào việc, những lúc phải oằn mình bò lê bò càng trong lớp bùn nhơ nhớp dưới đáy chiếc tàu hơi nước, anh ta cẩn thận cuộn bộ râu đồ sộ của mình vào một loại khăn ăn màu trắng tinh tươm mà anh ta luôn mang theo bên mình vì mục đích đó. Nó được gắn thêm những cái vòng tiện lợi để móc qua tai anh ta. Đêm đêm buông xuống, người ta lại thấy anh ta khom lưng ngồi xổm trên bờ, tỉ mẩn giặt giũ chiếc khăn bọc quý giá đó dưới dòng lạch nhỏ, rồi trịnh trọng vắt ngang lên một bụi cây để hong khô.

"Tôi vỗ nhẹ vào lưng anh ta và reo lên sung sướng, 'Chúng ta sắp có đinh tán rồi!' Anh ta lồm cồm bò dậy, bật thốt lên, 'Không! Đinh tán ư!' cứ như thể anh ta chẳng dám tin vào chính đôi tai mình. Sau đó, bằng một giọng trầm đục, anh ta thì thầm, 'Anh... hả?' Tôi cũng chẳng hiểu tại sao lúc đó chúng tôi lại cư xử như những kẻ mất trí. Tôi đặt một ngón tay lên bên cánh mũi và gật đầu đầy vẻ bí ẩn. 'Thật tuyệt cho anh!' anh ta reo lên, búng tay tanh tách trên đỉnh đầu, phấn khích co một chân lên. Tôi liền hưởng ứng bằng cách nhảy thử một điệu jig18 sôi động. Cứ thế, chúng tôi nhún nhảy cuồng nhiệt trên boong tàu bằng sắt. Một chuỗi những tiếng lạch cạch khủng khiếp dội ra từ cái xác tàu tàn tạ đó, và khu rừng nguyên sinh tĩnh mịch ở bờ bên kia con lạch đã đáp trả lại bằng một tiếng gầm vang như sấm sét, giáng thẳng vào cái trạm đang chìm trong giấc ngủ say. Tiếng ồn ào ấy chắc hẳn đã dựng đầu không ít gã hành hương dậy trong những căn lều tồi tàn của họ. Một cái bóng đen ngòm bỗng choáng lấy ngưỡng cửa đang leo lét ánh đèn từ túp lều của viên quản lý trưởng, biến mất trong tích tắc, để rồi một giây sau đó, bản thân cái ngưỡng cửa cũng chìm vào bóng tối. Chúng tôi sững lại, và sự tĩnh mịch vừa bị tiếng dậm chân thình thịch xua đuổi lại lẳng lặng ùa về từ những ngóc ngách khuất lấp của vùng đất hoang vu. Bức tường thảm thực vật khổng lồ, một khối hỗn mang rậm rạp và chằng chịt của những thân cây, cành cây, lá cây, nhánh cây cùng những dải dây leo vươn dài, đứng bất động dưới ánh trăng nhợt nhạt, hệt như một cuộc xâm lăng câm lặng của một sự sống vô ngôn, một làn sóng cuộn trào của vạn vật thảo mộc, chất chồng, nhô cao, lăm le đổ ập xuống con lạch, sẵn sàng quét sạch mọi sinh linh nhỏ bé hèn mọn trong chúng ta ra khỏi cái sự tồn tại mong manh của mình. Nhưng nó không hề nhúc nhích. Một tràng những tiếng vỗ nước bì bõm và tiếng khịt mũi mạnh mẽ nhưng bị nghẹn lại vẳng đến chúng tôi từ cõi xa xăm, nghe như thể một con thằn lằn cá thời tiền sử đang ngụp lặn tắm gội trong vệt sáng lấp lánh trên dòng sông lớn. 'Mà xét cho cùng thì,' tay thợ làm nồi hơi cất giọng đầy lý trí, 'tại sao chúng ta lại không nên có đinh tán chứ?' Tại sao không cơ chứ, thực sự là như vậy! Tôi chẳng tìm ra bất kỳ lý do gì giải thích tại sao chúng tôi lại không thể có được chúng. 'Chúng sẽ cập bến trong ba tuần nữa,' tôi dõng dạc nói với đầy vẻ tự tin.

"Nhưng chúng đã bặt vô âm tín. Thay vì những chiếc đinh tán hằng mong đợi, lại là một cuộc xâm lăng ập đến, một tai ương thảm khốc, một đòn giáng chí mạng từ trên trời rơi xuống. Nó kéo đến thành từng đợt rải rác trong suốt ba tuần tiếp theo, mỗi đợt đều được dọn đường bởi một con lừa cõng trên lưng một gã da trắng đóng bộ quần áo mới toanh và đi đôi giày màu nâu nhạt bảnh chọe, kẻ đang ngạo nghễ cúi chào từ trên cao ban phát sang cả hai phía tả hữu cho đám hành hương đang trố mắt vì ấn tượng. Lẵng nhẵng bám gót con lừa là một bầy người da đen hung hăng hay gây gổ, chân cẳng rướm máu, mặt mày sưng sỉa nhăn nhó; hằng hà sa số lều bạt, ghế đẩu cắm trại, hộp thiếc, thùng trắng, kiện hàng màu nâu bị ném bừa phứa xuống sân trạm, khiến cho cái bầu không khí bí ẩn lại càng đặc quánh thêm một chút giữa mớ hỗn độn ngổn ngang của cái chốn này. Năm đợt càn quét như vậy đã kéo tới, khoác trên mình cái vẻ tháo chạy vô trật tự lố lăng cùng vô số những chiến lợi phẩm vơ vét từ hàng loạt cửa tiệm tạp hóa và cửa hàng thực phẩm, mà nếu nhìn qua, người ta sẽ đinh ninh rằng, bọn họ đang hồ hởi kéo theo sau một cuộc đột kích đẫm máu vào tận vùng hoang dã để xâu xé phân chia chiến lợi phẩm. Đó quả thực là một mớ bòng bong không tài nào gỡ rối nổi của những vật dụng vốn dĩ hết sức tử tế, nhưng chính cái sự xuẩn ngốc vô độ của con người đã khoác lên chúng cái vẻ ngoài nhơ nhuốc của những món đồ ăn cắp.

"Đội quân được cho là tận tụy cống hiến này tự xưng danh là Đoàn Thám Hiểm Eldorado19, và tôi có cơ sở để tin rằng bọn họ đã thề thốt sống để dạ chết mang theo những bí mật mờ ám. Tuy nhiên, những lời lẽ tuôn ra từ cửa miệng bọn họ, lại rặt một giọng điệu của những quân cướp biển đê tiện hèn hạ: chúng liều lĩnh manh động nhưng lại thiếu vắng sự can đảm, chúng tham lam vô độ nhưng lại chẳng có lấy một tấc táo bạo, và chúng tàn nhẫn máu lạnh nhưng lại không có sự dũng cảm; chẳng thể tìm mót ra dù chỉ là một hạt sạn của sự cẩn trọng hay một ý định nghiêm túc đàng hoàng nào trong toàn bộ cái đám ô hợp đó, và bọn chúng dường như hoàn toàn mù tịt trước cái chân lý rằng những phẩm chất đó mới chính là thứ thiết yếu để duy trì bộ máy vận hành của thế giới này. Moi móc cho kỳ cùng khối kho báu béo bở giấu sâu trong ruột gan của vùng đất tăm tối này là khát vọng duy nhất của bọn chúng, mang theo một thứ mục đích đạo đức mỏng dính chẳng khá khẩm hơn là bao so với lũ trộm cắp đang hì hục đục phá một cái két sắt. Kẻ nào đã hào phóng bao nuôi mọi chi phí cho cái doanh nghiệp cao cả đó thì tôi chịu, chẳng tài nào tường tận; thế nhưng ngài chú ruột kính mến của viên quản lý trưởng của chúng tôi lại chính là thủ lĩnh khét tiếng của đám người ô hợp đó.

"Xét về ngoại hình, ông ta trông chẳng khác nào một lão đồ tể thô lỗ trong một khu phố tồi tàn nghèo nàn, và cặp mắt của ông ta luôn thường trực một cái nhìn xảo quyệt, ranh ma nhưng lại đờ đẫn buồn ngủ. Ông ta mang theo cái bụng béo phệ ục ịch của mình một cách đầy phô trương trên đôi chân ngắn cũn cỡn, và trong suốt khoảng thời gian băng đảng của ông ta tràn vào như vũ bão và vây hãm cái trạm, ông ta chẳng thèm hé răng lấy nửa lời với bất kỳ ai ngoại trừ đứa cháu trai quý hóa của mình. Các anh có thể dễ dàng bắt gặp cảnh tượng hai kẻ này lững thững đi lang thang suốt cả ngày dài với hai cái đầu lúc nào cũng chụm sát sạt vào nhau trong những cuộc trò chuyện rỉ rả không hồi kết.

"Tôi đã vứt bỏ cái mớ bận tâm lo lắng về những chiếc đinh tán quỷ quái ấy. Khả năng chịu đựng cái thứ xuẩn ngốc tột độ đó của một con người vốn dĩ hạn hẹp hơn những gì các anh có thể mường tượng. Tôi buông xuôi bật thốt lên 'Mặc xác!'-và nhắm mắt để mặc cho mọi chuyện trôi tuột đi. Dẫu sao thì tôi cũng có hàng đống thời gian rảnh rỗi để chìm đắm trong suy tư, và đôi lúc tôi lại dành đôi chút tâm trí để nhớ về Kurtz. Tôi chẳng mảy may hứng thú gì với ông ta. Không. Tuy nhiên, một sự tò mò mãnh liệt lại thôi thúc tôi muốn xem thử liệu người đàn ông này, kẻ đã hiên ngang bước ra ngoài chốn hoang dã này với hành trang là một loại lý tưởng đạo đức cao siêu nào đó, rốt cuộc có thể dùng chính lý tưởng ấy để leo lên được đỉnh cao quyền lực hay không, và ông ta sẽ bắt tay vào triển khai công việc của mình ra sao một khi đã đặt chân đến cái vị trí tối thượng đó."



  1. Một thị trấn cổ ở nước Anh, nằm ở cửa sông Thames. Trong lịch sử, đây là bến cảng cuối cùng mà tàu bè đi qua trước khi tiến ra đại dương mênh mông. 

  2. Một nhà thám hiểm và thuyền trưởng nổi tiếng người Anh sống ở thế kỷ 16. Ông là người Anh đầu tiên đi thuyền vòng quanh thế giới. 

  3. Một nhà thám hiểm người Anh ở thế kỷ 19. Ông và toàn bộ thủy thủ đoàn đã mất tích trong một chuyến thám hiểm đầy bi thảm ở vùng Bắc Cực. 

  4. Chiếc tàu lừng danh của thuyền trưởng Francis Drake, từng chất đầy châu báu thu được sau chuyến hải trình vòng quanh thế giới. 

  5. Đây là tên các cảng biển lịch sử và xưởng đóng tàu lớn dọc sông Thames, nơi xuất phát của nhiều chuyến thám hiểm lẫy lừng của nước Anh. 

  6. Đội tàu hùng hậu của Công ty Đông Ấn Anh, một tổ chức thương mại quyền lực từng kiểm soát việc buôn bán và cai trị nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn ở châu Á. 

  7. Người dân sống ở vùng Gaul (chủ yếu là lãnh thổ nước Pháp ngày nay) vào thời cổ đại, từng bị đế chế La Mã chinh phục. 

  8. Một loại rượu vang hảo hạng, nổi tiếng và đắt đỏ bậc nhất thời La Mã cổ đại. 

  9. Một thành phố lớn ở Ý, từng là một trong những căn cứ hải quân quan trọng và sầm uất nhất của đế chế La Mã. 

  10. Trang phục truyền thống của đàn ông trưởng thành thời La Mã cổ đại, tượng trưng cho thân phận công dân tự do và quyền quý. 

  11. Một câu nói nổi tiếng bằng tiếng Latinh, vốn là câu chào đầy ám ảnh của các võ sĩ giác đấu La Mã dành cho hoàng đế trước khi bước vào trận chiến sinh tử. 

  12. Nhà triết học vĩ đại của Hy Lạp cổ đại, người có nhiều tư tưởng quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ thế giới phương Tây. 

  13. Tên của các khu định cư và trạm giao thương ven biển ở Tây Phi thời xưa, nay thuộc các nước Bờ Biển Ngà và Togo. 

  14. Người dân đến từ đảo Zanzibar ở châu Phi. Vào thế kỷ 19, họ thường được người châu Âu thuê làm lính gác hoặc phu khuân vác cho các chuyến thám hiểm. 

  15. 'Stone' là đơn vị đo cân nặng cũ của nước Anh. Mười sáu stone tương đương với hơn 100 kg, cho thấy nhân vật này rất to béo và nặng nề. 

  16. Tên một con quỷ xảo quyệt trong truyền thuyết phương Tây, đại diện cho sự dối trá và cám dỗ con người bán linh hồn. 

  17. Tên một thương hiệu bánh quy rất nổi tiếng của nước Anh thời bấy giờ, bánh thường được bán trong các hộp bằng thiếc cứng cáp. 

  18. Một điệu nhảy dân gian có nhịp điệu rất nhanh, vui nhộn và đòi hỏi sự nhún nhảy liên tục, thường thấy ở Scotland và Ireland. 

  19. Eldorado là thành phố vàng huyền thoại. Tên gọi này được tác giả dùng để mỉa mai lòng tham mù quáng và khát vọng làm giàu bằng mọi giá của đoàn người thám hiểm. 

  20. Tên hai con tàu thám hiểm của Ngài John Franklin, đã vĩnh viễn nằm lại dưới lớp băng tuyết của Bắc Cực.