III

"Tôi sững sờ nhìn anh ta. Đứng ngay trước mắt tôi, trong bộ đồ sặc sỡ chắp vá, anh ta trông như gã hề vừa tẩu thoát khỏi một gánh xiếc rong-toát lên vẻ cuồng nhiệt và hoang đường đến lạ. Sự tồn tại của anh ta ở chốn này thật phi lý, chẳng thể lý giải nổi và hoàn toàn gây hoang mang. Một bài toán khuyết lời giải. Không tài nào hiểu nổi làm cách nào anh ta sống sót, bằng cách nào anh ta đặt chân được tới tận chốn này, và làm sao có thể xoay sở bám trụ-đúng ra anh ta đã phải bỏ mạng từ lâu rồi mới phải. 'Tôi cứ đi xa hơn một chút,' anh kể, 'rồi lại xa hơn một chút nữa-cho đến khi nhận ra mình đã đi quá sâu, chẳng còn biết đường nào để quay về. Nhưng không sao cả. Vẫn còn nhiều thời gian. Tôi tự lo liệu được. Nhưng anh phải đưa ngài Kurtz đi thật nhanh-nhanh lên-tôi tha thiết khẩn cầu anh đấy.' Sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ như một thứ ánh hào quang bao trùm lấy mớ giẻ rách đủ màu nhuốm bụi trần, khỏa lấp đi sự túng quẫn, nỗi cô độc bủa vây, và cả sự hoang vắng thấu xương từ những chuyến lang bạt vô định. Trong suốt nhiều tháng-thậm chí nhiều năm trời-mạng sống của anh ta mong manh như ngàn cân treo sợi tóc; ấy vậy mà anh ta vẫn đứng đó, sống sót một cách can trường, vô tư lự, dường như chẳng sức mạnh nào quật ngã nổi nhờ vào thanh xuân phơi phới và cái can đảm đến mức liều lĩnh, chẳng buồn toan tính. Tôi đã bị cuốn hút đến mức phải thầm ngưỡng mộ-thậm chí là ghen tị. Một mị lực vô hình đã hối thúc và che chở anh ta bình an vô sự. Rõ ràng anh ta chẳng đòi hỏi gì ở chốn hoang vu này, ngoại trừ một chút không khí để thở và một con đường để bước tiếp. Mục đích duy nhất của anh là sinh tồn, dấn bước về phía trước để đương đầu với những rủi ro nghiệt ngã nhất, trong một hoàn cảnh cùng cực nhất. Nếu từng có một tinh thần phiêu lưu thuần túy, thoát ly khỏi mọi sự tính toán hay tư lợi, từng ngự trị trong hình hài một con người, thì thứ tinh thần ấy đang dẫn lối cho gã trai chắp vá này. Tôi gần như đố kỵ với ngọn lửa sống bé nhỏ mà rực rỡ và thuần khiết trong anh. Dường như nó đã thiêu rụi mọi ý niệm về cái tôi cá nhân một cách trọn vẹn, đến mức ngay cả khi anh đang thao thao bất tuyệt, người ta cũng quên bẵng đi rằng chính anh-người đàn ông đang đứng sờ sờ trước mặt-mới là kẻ đã kinh qua ngần ấy sóng gió. Dẫu vậy, tôi tuyệt nhiên chẳng mảy may ghen tị với sự sùng bái mù quáng mà anh dành cho Kurtz. Anh ta tận hiến mà chẳng hề đong đếm. Nó tìm đến anh, và anh giang tay đón nhận bằng một thái độ cam chịu đầy hân hoan. Phải thừa nhận rằng, đối với tôi, đó mới chính là hiểm họa khôn lường nhất mà anh ta từng vướng phải từ trước đến nay.

"Cuộc kỳ ngộ giữa họ âu cũng là duyên số khó tránh, tựa như hai chiếc thuyền buồm rũ gió lờ đờ dạt vào nhau giữa biển khơi tĩnh lặng, rồi vô tình cọ xát mạn thuyền. Tôi ngờ rằng Kurtz đang khao khát một thính giả, bởi lẽ có lần, khi cắm trại giữa rừng sâu, họ đã thức trắng đêm rủ rỉ trò chuyện-hay đúng hơn, chỉ mình Kurtz lên tiếng. 'Chúng tôi đã đàm đạo về mọi thứ trên đời,' anh kể, chìm sâu vào cõi hồi tưởng miên man. 'Tôi quên bẵng cả cơn buồn ngủ. Màn đêm trôi qua tựa hồ chưa trọn một canh giờ. Mọi thứ! Mọi thứ!... Cả về tình yêu nữa.' 'Ồ, ông ấy còn giảng giải cho anh về tình yêu cơ đấy!' tôi thốt lên, cảm thấy vô cùng thú vị. 'Không phải kiểu tình yêu anh đang nghĩ đâu,' anh ta vội vàng phân bua, giọng gần như say sưa. 'Đó là tình yêu nhân loại. Ngài ấy đã khai sáng cho tôi thấy được nhiều điều-rất nhiều điều.'

"Anh ta dang rộng hai tay vung lên nền trời. Bấy giờ, chúng tôi đang đứng trên boong tàu, còn gã cai đội đốn củi của tôi thì cứ thơ thẩn quanh quẩn gần đó, chốc chốc lại đưa cặp mắt trĩu nặng mà sắc lẹm liếc nhìn anh ta. Tôi đưa mắt nhìn quanh, và chẳng hiểu sao, tôi dám quả quyết với anh rằng chưa có khoảnh khắc nào, chưa từng có khoảnh khắc nào, dải đất này, dòng sông này, cánh rừng này, và cả vòm trời rực lửa cuồn cuộn trên kia lại hiện lên trước mắt tôi tăm tối và tuyệt vọng đến thế. Một cõi hoang sơ bất khả xâm phạm trước trí tuệ con người, lạnh lùng và tàn nhẫn trước sự yếu hèn của kiếp nhân sinh. 'Và từ dạo đó, anh luôn theo sát ông ấy, đúng chứ?' tôi dò hỏi.

"Ngược lại thì có. Có vẻ như mối thâm giao giữa họ thường xuyên bị gián đoạn vì đủ loại nguyên nhân. Theo như lời anh hãnh diện khoe, anh đã tận tình chạy chữa cho Kurtz qua hai cơn bạo bệnh (giọng điệu ngập tràn niềm tự hào, cứ như anh đang thuật lại một chiến công hiển hách nào đó), nhưng phần lớn thời gian, Kurtz vẫn quen thói độc hành, dấn thân vào tận chốn rừng thiêng nước độc. 'Nhiều bận về tới trạm này, tôi phải đợi ròng rã suốt nhiều ngày ngài ấy mới ló mặt,' anh kể. 'Chao ôi, thật bõ công mòn mỏi ngóng trông!-ít ra thì thỉnh thoảng là vậy.' 'Ông ấy làm gì? Đi thám hiểm ư?' tôi gặng hỏi. 'Ồ, vâng, hẳn nhiên rồi'; ông ấy đã lần ra nhiều bản làng mới, cả một vùng hồ nước rộng lớn-dù anh ta mù tịt về phương hướng; việc chọc ngoáy quá sâu vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro-nhưng mục đích cốt lõi trong những chuyến viễn du của ông ấy là lùng sục ngà voi. 'Nhưng khi đó ông ấy làm gì còn hàng hóa để trao đổi nữa,' tôi bắt bẻ. 'Nhưng ngài ấy vẫn còn cả kho đạn dược,' anh đáp, ánh mắt lảng tránh. 'Nói thẳng tuột ra là ông ấy đã cướp bóc khắp cái vùng này,' tôi kết luận. Anh gật đầu cái rụp. 'Rõ ràng ông ấy chẳng thể tự mình làm nổi!' Anh ta lúng búng đôi câu gì đó về đám thổ dân ở các làng quanh hồ. 'Kurtz đã dụ dỗ bộ lạc đó đi theo mình, có phải không?' tôi mớm lời. Anh tỏ vẻ bứt rứt, bồn chồn. 'Họ sùng bái ngài ấy,' anh nói. Giọng điệu thốt ra nghe kỳ quái đến nỗi tôi phải nhíu mày dò xét. Thật lạ lùng khi chứng kiến thái độ vừa háo hức lại vừa e dè của anh mỗi bận nhắc đến Kurtz. Con người ấy như một bóng ma choáng ngợp lấy cuộc đời anh, chiếm đoạt trọn vẹn tâm trí anh, thao túng mọi xúc cảm trong anh. 'Thế anh mong chờ điều gì?' anh bỗng nổi đóa; 'ngài ấy đã giáng sấm sét xuống đầu họ, anh hiểu không-một thứ quyền uy họ chưa từng được chứng kiến bao giờ-và nó vô cùng khủng khiếp. Ngài ấy có thể trở nên cực kỳ khủng khiếp. Anh không thể lấy thước đo của một người trần mắt thịt mà áp lên ngài Kurtz. Không, không, không thể nào! Này nhé-tôi lấy cho anh một ví dụ xem-tôi chẳng giấu giếm gì anh đâu, có bận ngài ấy tí nữa thì nã súng vào tôi-nhưng tôi chẳng hề oán trách ngài.' 'Bắn anh á!' tôi kinh hãi thốt lên. 'Vì cái cớ gì?' 'Chuyện là thế này, tôi có được chút ngà voi do một vị trưởng làng gần nhà biếu tặng. Anh thấy đấy, tôi vẫn hay đi săn phụ họ. Chà, ngài ấy lại nhắm trúng số ngà đó, và gạt phắt mọi lời lẽ phải trái. Ngài ấy dọa sẽ bắn tôi nếu tôi không nôn số ngà ấy ra và cút xéo khỏi vùng này, chỉ bởi ngài ấy có quyền làm vậy, ngài ấy thích thế, và chẳng thế lực nào trên cõi đời này cản nổi ngài ấy đoạt mạng bất kỳ kẻ nào ngài ấy muốn. Và sự thực đúng là như vậy. Tôi đã phải giao nộp số ngà. Quan tâm làm gì dăm ba cái thứ đồ vô tri ấy! Nhưng tôi quyết không chịu rời đi. Không, không đời nào. Tôi không thể bỏ rơi ngài ấy. Tất nhiên, tôi phải giữ khoảng cách an toàn, chờ đến lúc hai người lại thân thiết như xưa. Đó cũng là lúc ngài ấy ngã bệnh lần thứ hai. Sau bận ấy, tôi đành phải chủ động tránh mặt; nhưng tôi cũng chẳng bận tâm. Ngài ấy dành phần lớn thời gian tá túc ở mấy bản làng quanh hồ. Mỗi lần xuôi dòng xuống sông, có lúc ngài ấy đối đãi với tôi rất nồng hậu, nhưng cũng có lúc tốt hơn hết là tôi cứ nên cảnh giác. Con người này đã phải gánh chịu quá nhiều thương tổn. Ngài ấy căm phẫn tất thảy những thứ này, vậy mà chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, ngài ấy không tài nào dứt ra nổi. Dịp nọ, nhân lúc thuận lợi, tôi đã van nài ngài ấy hãy tìm cách rời đi khi thời gian hãy còn thong thả; tôi nguyện ý tháp tùng ngài ấy trở về. Và ngài ấy gật đầu ưng thuận, nhưng rồi lại nán lại; lại dấn thân vào một chuyến săn ngà voi mới; lại lặn mất tăm suốt nhiều tuần lễ liền; đánh mất chính mình giữa đám người này-đánh mất cả nhân tính-anh hiểu không.' 'Trời đất! Ông ấy hóa điên mất rồi,' tôi cảm thán. Anh ta lập tức phản ứng đầy phẫn nộ. Ngài Kurtz không thể nào điên được. Nếu anh được trực tiếp nghe ngài ấy chuyện trò, mới cách đây đôi ba hôm thôi, anh sẽ chẳng bao giờ dám buông lời xúc phạm như thế.... Trong lúc vãn chuyện, tôi đã tiện tay với lấy chiếc ống nhòm và chĩa về phía bờ, đảo mắt quét dọc theo đường viền mép rừng bao quanh hai bên và cả khoảng không phía sau túp lều. Cảm giác gai lạnh ập đến khi nhận ra có những cặp mắt đang rình rập trong bụi rậm, im lìm, tĩnh lặng-một sự tĩnh lặng câm điếc hệt như căn nhà hoang tàn đang ngự trên đỉnh đồi kia-khiến ruột gan tôi như bị thiêu đốt. Tạo hóa chẳng hề mảy may để lộ chút manh mối nào trước câu chuyện sửng sốt này, một câu chuyện không được tường thuật trọn vẹn mà chỉ được hé lộ qua những tiếng kêu than thảng thốt đầy hoang vắng, chắp vá bằng những cái nhún vai đầy ẩn ý, vỡ vụn trong những câu chữ đứt đoạn, và bỏ lửng bằng những tiếng thở dài thườn thượt buông thõng. Cánh rừng tĩnh mịch, dửng dưng như một chiếc mặt nạ-nặng nề, kín mít như cánh cửa sắt của chốn lao tù-chúng trừng mắt nhìn với vẻ am tường đầy huyền bí, kiên nhẫn phục kích, câm lặng và bất khả xâm phạm. Người Nga giải thích thêm rằng ngài Kurtz chỉ vừa mới xuôi dòng xuống đây, kéo theo tất thảy chiến binh của bộ lạc ven hồ ấy. Ngài ấy đã vắng bóng suốt mấy tháng trời-có lẽ để củng cố sự sùng bái của đám người đó-rồi bất thình lình hạ trại xuống sông, với ý đồ mười mươi là tổ chức một cuộc đột kích tràn sang bờ bên kia hoặc đánh dọc theo hạ lưu. Rõ ràng, cơn khao khát ngà voi vô độ đã lấn át hoàn toàn những khát vọng-tôi nên diễn đạt thế nào nhỉ?-những khát vọng thanh cao và bớt sặc mùi vật chất hơn. Dẫu vậy, sức khỏe ngài ấy bỗng chốc suy sụp trầm trọng. 'Tôi nghe phong phanh ngài ấy đang nằm liệt giường, nên đành nhắm mắt đưa chân-tôi đánh liều mò tới đây,' người Nga ngậm ngùi. 'Chao ôi, ngài ấy nguy kịch lắm rồi, tồi tệ vô cùng.' Tôi chĩa thẳng ống nhòm vào căn nhà. Chẳng có lấy một dấu hiệu của sự sống, chỉ rặt một mái nhà đổ nát xập xệ, bức tường vách đất trải dài nhấp nhô lấp ló giữa đám cỏ dại um tùm, điểm xuyết bằng ba ô cửa sổ vuông vức trổ lệch xẹo, to nhỏ chẳng đều; tất cả dường như phơi bày ngay trước mũi tôi. Bất giác, tay tôi khẽ run lên, và một trong những chiếc cột gỗ sót lại của hàng rào đã tiêu điều đó thình lình lọt vào tầm ngắm ống nhòm. Chắc anh còn nhớ tôi đã từng đề cập đến chuyện, khi nhìn từ xa, tôi đã khá ấn tượng trước những nỗ lực trang trí có phần kỳ công giữa khung cảnh hoang tàn đổ nát của nơi này. Bấy giờ, tôi bỗng dưng nhìn rõ mồn một mọi thứ, và phản xạ đầu tiên của tôi là giật nảy mình ngửa đầu ra sau như thể vừa ăn trọn một cú đấm trời giáng. Ngay sau đó, tôi cẩn thận rê ống nhòm soi xét từng chiếc cột gỗ một, và tôi rụng rời nhận ra mình đã nhầm to. Những khối tròn tròn ngự trên đầu cột ấy nào phải đồ trang trí mang tính biểu tượng xa xôi gì; chúng lột tả một sự thật trần trụi và man rợ, gây sốc và ám ảnh tột cùng-đó là bữa tiệc thịnh soạn cho những ý nghĩ rợn người và cho lũ kền kền háu đói nếu có con nào đang sải cánh lượn lờ chốn này; nhưng suy cho cùng, đó vẫn là phần thưởng xứng đáng cho lũ kiến chăm chỉ không quản công leo lên tận đỉnh cột. Lũ đầu lâu bị cắm phập trên cọc ấy sẽ còn gieo rắc nỗi kinh hoàng dữ dội hơn nữa, nếu khuôn mặt chúng không quay ngược về phía căn nhà. Chỉ có duy nhất một cái đầu, cái đầu tiên đập vào mắt tôi, là đang hướng mặt về phía này. Tôi không hề bị sốc đến mức mất trí như anh lầm tưởng đâu. Cú giật mình ban nãy thực chất chỉ là một phản xạ sinh lý của cơ thể. Anh biết đấy, tâm trí tôi lúc đó đinh ninh sẽ nhìn thấy một khối gỗ tròn xoe được đẽo gọt. Tôi lấy lại bình tĩnh và chủ động đưa mắt nhìn thẳng vào cái đầu tiên tôi chạm phải-và nó kia rồi, đen nhẻm, khô quắt queo, hốc hác dị dạng, đôi mắt nhắm nghiền-một cái đầu lâu tưởng chừng đang an giấc ngàn thu trên đỉnh cột, nhưng hỡi ôi, với đôi môi khô nứt nẻ nhếch lên để lộ ra một hàm răng trắng mỏng tang, nó như thể đang nhoẻn miệng cười, một nụ cười dai dẳng, ma quái xen lẫn chút mỉa mai dành cho một giấc mộng vô tận trong cõi tử.

"Tôi không hề có ý vạch trần bất cứ bí mật làm ăn nào. Trên thực tế, gã quản lý bến về sau đã thẳng thừng phán rằng các phương thức hành động của ngài Kurtz đã tàn phá tan hoang cả khu vực này. Tôi chẳng màng bình phẩm về vấn đề đó, nhưng tôi muốn anh thấu tỏ một điều rằng: sự hiện diện của những cái đầu lâu ấy hoàn toàn không mang lại lợi lộc thực tiễn nào. Chúng chỉ là minh chứng trần trụi cho thấy ngài Kurtz đã đánh mất mọi khả năng kiềm chế trước những dục vọng đen tối của bản thân, rằng tận sâu thẳm tâm hồn con người ấy đã có một lỗ hổng vỡ vụn-một khiếm khuyết nhỏ nhoi mà, giữa cơn bão táp của những khát khao nhục dục đê hèn, chẳng thể nào dùng cái vỏ bọc hùng biện tài hoa để lấp liếm hay cứu vãn. Liệu chính bản thân ông ta có nhận thức được sự tha hóa của mình hay không, tôi chẳng dám chắc. Dẫu vậy, tôi linh cảm rằng, vào phút lâm chung, cuối cùng thì sự thật cũng đã giáng xuống đầu ông ta-đúng vào khoảnh khắc hấp hối cuối cùng. Nhưng chốn hoang dã u linh này đã sớm nhìn thấu bản chất của ông ta, và nó đã thực thi một màn trả thù tàn khốc, không khoan nhượng cho cuộc xâm lăng ngông cuồng này. Tôi ngờ rằng nó đã rỉ tai ông ta những sự thật trần trụi về chính bản ngã của ông, những phần con ác quỷ mà ông ta chưa từng hay biết, những điều mà ông ta hoàn toàn mù tịt cho đến khi tự mình dấn bước vào chốn cô liêu vĩ đại này để tìm kiếm lời giải đáp-và lời thì thầm ấy đã chứng tỏ sức quyến rũ chết người của nó. Nó dội vang ầm ĩ và gầm gào trong ông, bởi sâu thẳm cõi lòng ông, chỉ là một khoảng trống rỗng rợn ngợp.... Tôi từ từ hạ chiếc ống nhòm xuống, và cái đầu lâu ban nãy còn tưởng như cận kề sát bên đến mức có thể với tay ra bắt chuyện, bỗng chốc lùi tít vào một khoảng không xa xăm, bất khả chạm tới.

"Gã tín đồ sùng bái ngài Kurtz bỗng chốc ỉu xìu như bánh đa nhúng nước. Bằng một chất giọng líu ríu, đứt quãng, anh ta cuống cuồng thanh minh với tôi rằng anh chưa bao giờ dám to gan hạ những thứ kia-thôi thì cứ tạm gọi là biểu tượng đi-xuống khỏi cọc. Anh ta hoàn toàn không e sợ đám thổ dân bản địa; họ sẽ chẳng dám hé răng xê dịch nửa bước nếu chưa có lệnh của ngài Kurtz. Quyền uy của ngài ấy thật sự quá đỗi siêu nhiên. Lều trại của đám người ấy giăng kín bao quanh khu vực này, và các vị thủ lĩnh bộ lạc ngày ngày đều đặn đến bái kiến ngài. Họ phải trườn bò trên mặt đất.... 'Tôi cóc cần biết mấy cái nghi lễ rườm rà bọn họ bày vẽ ra khi đến yết kiến ngài Kurtz,' tôi rống lên. Thật nực cười, cái cảm giác sởn gai ốc ập đến bóp nghẹt tôi, rằng những chi tiết dị hợm như thế có khi còn kinh tởm và khó dung thứ hơn cả cái cảnh tượng những chiếc đầu lâu khô quắt đang bị bêu trên cọc ngay dưới khung cửa sổ của ngài Kurtz. Suy cho cùng, bạo lực rùng rợn cũng chỉ là một khía cạnh của sự man rợ, trong khi đó, tôi lại có cảm giác như mình đang bị ném thẳng vào một vương quốc tăm tối của những nỗi kinh hoàng tinh vi và xảo quyệt, nơi mà sự tàn bạo thuần túy, trần trụi và không cần che đậy lại được xem như một sự giải thoát nhẹ nhõm, bởi chí ít nó là một thực thể có quyền ngang nhiên tồn tại-rõ mười mươi là thế-dưới ánh sáng mặt trời. Chàng thanh niên trố mắt nhìn tôi trân trân, vẻ mặt đầy sửng sốt. Tôi đồ rằng trong não trạng của anh ta chưa bao giờ xuất hiện ý niệm ngài Kurtz không phải là thần tượng tối cao của tôi. Anh ta quên khuấy mất rằng tôi chưa từng được vinh hạnh lắng nghe bất cứ bài hùng biện tuyệt luân nào về tình yêu, công lý, về lẽ sống ở đời-hay đại loại những thứ cao siêu như thế. Nếu bắt buộc phải hạ mình trườn bò trước ngài Kurtz, thì chắc chắn anh ta cũng sẽ ngoan ngoãn bò lết nhiệt tình chẳng kém bất kỳ gã thổ dân man rợ nào trong bọn chúng. Anh ta thanh minh rằng tôi chưa hiểu rõ ngọn ngành: những cái đầu bêu trên cọc kia là đầu của quân phiến loạn. Lời giải thích ấy khiến tôi sốc đến mức bật cười chua chát. Quân phiến loạn ư! Tôi sắp sửa phải nghe thêm thứ định nghĩa quái gở nào nữa đây? Trong từ điển của họ đã từng có những từ như kẻ thù, tội phạm, lao công-và giờ thì lại lòi ra lũ phiến quân. Nhưng trong mắt tôi, những chiếc đầu lâu của bè lũ nổi loạn ấy trông hiền lành và ngoan ngoãn lạ thường khi ngoan ngoãn nằm yên trên những chiếc cọc của chúng. 'Anh không tài nào mường tượng nổi một cuộc đời như thế đã bào mòn và thử thách một vĩ nhân như ngài Kurtz khắc nghiệt đến nhường nào đâu,' môn đồ cuối cùng của Kurtz nức nở kêu gào. 'Vậy còn anh thì sao?' tôi vặn lại. 'Tôi á! Tôi! Tôi chỉ là một gã khờ đơn giản. Tôi chẳng ấp ủ tư tưởng nào lớn lao. Tôi cũng chẳng thiết tha cầu xin điều gì từ bất cứ ai. Sao anh có thể đem tôi ra so bì với...?' Xúc cảm trào dâng nghẹn đắng nơi cổ họng lấn át những lời anh định nói, và đột nhiên, anh ta đổ gục xuống như một cái cây bị đốn ngã. 'Tôi không hiểu nổi,' anh rền rĩ trong tuyệt vọng. 'Tôi đã dốc hết tâm can để giữ cho ngài ấy thoi thóp sống sót, và đối với tôi thế là quá đủ rồi. Tôi thề có Chúa là tôi không hề nhúng tay vào mấy chuyện tàn bạo này. Tôi chẳng có tài cán gì sất. Suốt mấy tháng trời đằng đẵng kẹt lại chốn này, chẳng đào đâu ra được một giọt thuốc men hay lấy một mẩu thức ăn tử tế cho người ốm. Ngài ấy bị đám người đó hắt hủi và bỏ rơi một cách nhẫn tâm. Một con người vĩ đại nhường ấy, với những tư tưởng cao cả nhường ấy. Thật đáng kinh tởm! Thật nhục nhã ê chề! Tôi-tôi-đã thao thức suốt mười đêm ròng rã rồi...'

"Giọng nói của anh chìm nghỉm, vỡ vụn rồi tan loãng vào không gian tĩnh mịch quạnh quẽ của buổi hoàng hôn. Trong lúc chúng tôi chuyện trò, cái bóng đen khổng lồ và ma mị của cánh rừng đã từ từ trườn xuống sườn đồi, từ lâu đã vươn dài nuốt trọn túp lều hoang tàn xập xệ, vượt qua cả hàng rào cọc gỗ biểu tượng kia. Vạn vật xung quanh đều chìm sâu vào màn đêm đặc quánh, trong khi hai gã đàn ông chúng tôi đứng dưới này vẫn còn đang đắm mình trong vạt nắng rớt lại cuối ngày. Dải sông uốn lượn vắt ngang qua bãi đất trống rực sáng lấp lánh trong một vẻ đẹp huy hoàng, chói lọi mà tĩnh lặng đến gai người, bị kẹp giữa hai khúc quanh u ám, bóng tối phủ trùm dầy đặc ở cả thượng nguồn lẫn hạ lưu. Tuyệt nhiên không có lấy một bóng người lai vãng dọc hai bên bờ sông. Ngay đến những bụi cây cũng đứng im lìm, không mảy may xào xạc.

"Đột nhiên, ngay tại góc nhà, một toán người chợt hiện ra như thể vừa trồi lên từ lòng đất. Họ lội qua đám cỏ ngập ngang ngực, rảo bước sát cạnh nhau, khiêng theo một chiếc cáng tạm bợ ở giữa. Tức thì, xé toạc sự trống trải của không gian, một tiếng thét chói tai rạch ngang bầu không khí tĩnh lặng, tựa hồ mũi tên buốt sắc găm thẳng vào trái tim của vùng hoang dã; và rồi, như có phép thuật gọi mời, từng dòng người-những thân hình trần trụi-tay lăm lăm giáo mác, cung nỏ và khiên mộc, với ánh nhìn hoang dại cùng những cử động man rợ, từ chốn rừng sâu sẫm màu và u tịch cuồn cuộn tuôn ra bãi đất trống. Những khóm bụi rung lên bần bật, cỏ rạp mình đung đưa trong chốc lát, trước khi tất cả chìm vào một trạng thái bất động, im lìm đến đáng sợ.

"'Lúc này, nếu ngài ấy không thốt ra đúng những lời cần nói, chúng ta tiêu đời,' anh chàng người Nga khẽ thì thào bên tai tôi. Toán người khiêng cáng cũng đã khựng lại, chôn chân giữa chừng lối ra tàu, tựa hồ bị hóa đá. Từ trên cáng, tôi thấy người đàn ông ấy gượng ngồi dậy, thân hình gầy guộc, vươn một cánh tay lên khỏi vai những kẻ đang khiêng mình. 'Mong sao cái kẻ vẫn hay rêu rao những mỹ từ về tình yêu thương nhân loại sẽ tìm được một lý do đặc biệt nào đó để tha mạng cho chúng ta lần này,' tôi đáp lời. Lòng tôi trào dâng một nỗi phẫn uất cay đắng trước mối hiểm nguy thật lố bịch mà chúng tôi đang phải đối mặt, cứ như thể việc giao phó mạng sống của mình cho cái bóng ma tàn bạo kia là một sự tất yếu đáng tủi hổ. Tôi chẳng nghe thấy một âm thanh nào, nhưng qua ống nhòm, tôi thấy cánh tay khẳng khiu ấy đang vươn ra thị uy, quai hàm mấp máy, và đôi mắt của bóng ma đó hắt ra thứ ánh sáng leo lét từ sâu thẳm hốc mắt trên cái đầu khô khốc đang gật gù từng nhịp giật cục kỳ quái. Kurtz-Kurtz-trong tiếng Đức có nghĩa là ngắn1-đúng không nhỉ? Chà, cái tên ấy quả là một sự mỉa mai hoàn hảo cho mọi thứ trong cuộc đời ông ta-và cả cái chết của ông nữa. Trông ông ta phải dài đến bảy feet là ít. Tấm chăn phủ đã trượt xuống, phơi bày một cơ thể thảm hại và rùng rợn như vừa chui ra từ tấm vải liệm. Tôi có thể nhìn rõ lồng ngực trơ xương phập phồng, cùng khúc xương cánh tay đang vung vẩy. Cảnh tượng ấy trông hệt như một hiện thân sống động của tử thần, được tạc nên từ khối ngà voi rệu rã, đang vung tay đe dọa đám đông bất động của những gã đàn ông mang làn da màu đồng sẫm bóng nhẫy. Tôi thấy ông ta há hốc miệng-một vẻ ngấu nghiến dị hợm, tựa như muốn nuốt trọn cả không khí, cả mặt đất, lẫn tất thảy những kẻ đang đứng trước mặt. Một âm vang trầm đục thoảng qua tai tôi. Hẳn là ông ta đang gào thét. Đột nhiên, ông ta ngã bật ngửa ra sau. Chiếc cáng chao đảo khi những gã khiêng loạng choạng bước tiếp, và gần như cùng lúc, tôi nhận ra đám đông man rợ kia đang tự động tan biến mà chẳng hề có một động thái rút lui nào rõ rệt, cứ như thể cánh rừng hoang vu vừa nhổ toẹt ra những sinh linh này lại đột ngột hút ngược chúng vào trong, tựa một luồng hơi bị nuốt chửng bởi một tiếng thở dài thườn thượt.

"Vài gã hành hương đi theo sau chiếc cáng, vác theo mớ vũ khí của ông ta-hai khẩu súng săn, một khẩu súng trường hạng nặng và một khẩu súng lục lai carbine nhỏ thó-tựa như những tia sét của một vị thần Jupiter2 thật thảm hại. Viên quản lý bến cúi xuống lầm bầm điều gì đó khi bước ngang đầu ông. Họ đặt ông nằm xuống một khoang nhỏ-nơi chỉ vừa vặn kê một chỗ ngả lưng và dăm ba chiếc ghế gấp. Chúng tôi đã mang theo đống thư từ dồn ứ của ông, và giờ đây, một mớ phong bì bị xé toạc cùng những bức thư đã mở tung nằm vương vãi khắp mặt giường. Bàn tay ông quờ quạng yếu ớt giữa mớ giấy lộn xộn. Tôi sững sờ trước ngọn lửa rực cháy trong đôi mắt ông, tương phản hoàn toàn với vẻ uể oải điềm nhiên trên nét mặt. Trông không giống sự vắt kiệt của bệnh tật. Dường như ông không còn cảm thấy đau đớn. Bóng ma ấy hiện ra no nê và bình thản, như thể ngay trong khoảnh khắc đó, ông đã kinh qua mọi hỉ nộ ái ố của cõi đời.

"Ông ta xột xoạt vò nát một bức thư, rồi chĩa ánh nhìn thẳng vào mặt tôi và cất tiếng: 'Tôi rất hân hạnh.' Chắc hẳn ai đó đã nhắc đến tôi trong thư. Lại là những lời giới thiệu đặc biệt ấy. Âm lượng mà ông phát ra dường như chẳng hề tiêu tốn một chút sức lực nào, thậm chí đôi môi kia gần như bất động, điều đó khiến tôi sửng sốt. Một giọng nói! Ôi, một giọng nói! Nó trầm hùng, sâu thẳm, và dội vang, dẫu cho hình hài tàn tạ trước mặt tưởng chừng chẳng thể thốt nổi một lời thì thầm. Ấy thế mà, sâu thẳm bên trong, ông ta vẫn dư sức-dù chắc chắn đó chỉ là một sự giả tạo-để xém chút nữa đưa tất cả chúng tôi vào chỗ chết, như anh sẽ nghe ngay sau đây.

"Viên quản lý lặng lẽ lấp ló ở ngưỡng cửa; tôi liền lập tức lách mình bước ra, và ông ta kéo phắt tấm rèm lại sau lưng tôi. Chàng người Nga, lúc này đang là tâm điểm tò mò của đám hành hương, cứ đăm đăm dán mắt về phía bờ sông. Tôi nương theo ánh nhìn của anh ta.

"Ở tít đằng xa, những bóng người đen đúa lờ mờ hiện bóng, lượn lờ dật dờ trên cái nền tối sẫm của bìa rừng. Ngay sát bờ sông, hai hình nhân màu đồng, tựa mình vào những ngọn giáo dài, đứng sừng sững dưới ánh mặt trời rực rỡ, đầu đội những chiếc mũ lông thú lốm đốm kỳ dị, toát lên vẻ hiếu chiến bừng bừng nhưng lại bất động như tượng đá. Và rồi, dọc theo dải bờ sông ngập nắng, từ phải sang trái, bóng dáng một người phụ nữ hoang dại và kiêu sa chầm chậm lướt qua.

"Nàng rảo bước khoan thai, khoác trên mình những thớ vải sọc viền tua rua, giẫm lên mặt đất với một vẻ kiêu hãnh ngút ngàn, xen lẫn âm thanh leng keng khe khẽ và những tia sáng lóe lên từ mớ trang sức man rợ. Nàng ngẩng cao đầu; mái tóc được bới tót lên tựa một chiếc mũ trụ kiên cố. Từ đầu gối trở xuống, nàng quấn những dải băng bằng đồng, đeo đôi găng tay bện từ dây đồng ôm trọn đến tận khuỷu, một vết son đỏ thẫm hằn trên đôi gò má bánh mật, cùng vô số vòng cổ hạt thủy tinh trĩu nặng trên cổ. Những vật thể kỳ quái, những bùa chú, những món cống phẩm của các pháp sư lủng lẳng quanh người, lấp lánh và rung lên bần bật theo từng nhịp bước. Hẳn mớ trang sức trên người nàng phải đáng giá đến vài chiếc ngà voi. Nàng man dại và tuyệt mỹ, ánh mắt toát lên sự hoang tàn mà tráng lệ; phảng phất một điềm gở và uy nghi trong từng bước chân thong dong. Và rồi, giữa sự tĩnh mịch đột ngột giáng xuống vùng đất đẫm thương đau này, chốn hoang dã bao la, cái cơ thể khổng lồ của sự sống phồn sinh và đầy bí ẩn kia dường như đang trầm ngâm chiêm ngưỡng nàng, tựa hồ đang ngắm nhìn hình bóng phản chiếu của chính linh hồn u tối và cuồng say của nó.

"Nàng tiến tới sát mép nước, ngang tầm với chiếc tàu hơi nước, dừng bước và đăm đăm nhìn chúng tôi. Cái bóng đổ dài của nàng liếm xuống tận dòng sông. Khuôn mặt nàng hằn lên vẻ bi thương và dữ dội của một nỗi u hoài hoang dã, của một nỗi đau câm lặng, cuộn trào cùng nỗi sợ hãi về một quyết tâm đang thành hình trong dằn vặt. Nàng đứng trân trân nhìn chúng tôi, không mảy may nhúc nhích, hệt như chính chốn hoang dã đang đăm chiêu nghiền ngẫm một ẩn đích khôn dò. Tròn một phút trôi qua, rồi nàng dấn bước về phía trước. Một tiếng leng keng sắc gọn vang lên, ánh kim vàng lóe sáng, những dải tua rua đung đưa trong gió, và nàng chợt khựng lại, như thể con tim vừa lỡ một nhịp đập. Gã thanh niên đứng cạnh tôi khẽ gầm gừ. Đám hành hương râm ran bàn tán sau lưng. Nàng lia ánh mắt bao quát tất cả chúng tôi, như thể mạng sống của nàng đang treo lơ lửng vào sự kiên định sắt đá ẩn chứa trong ánh nhìn ấy. Rồi, đột ngột, nàng dang rộng đôi cánh tay trần, vươn vút lên không trung thành một đường thẳng tắp trên đỉnh đầu, tựa hồ đang bị thôi thúc bởi khát khao khôn cùng muốn chạm đến bầu trời. Đúng khoảnh khắc ấy, những cái bóng lướt nhanh trên mặt đất, quét dọc dòng sông, và ôm trọn con tàu vào vòng tay tăm tối. Một sự tĩnh mịch rợn người trùm lấy vạn vật.

"Nàng chậm rãi quay mặt đi, bước tiếp dọc theo triền sông, rồi lẩn khuất vào um tùm bụi rậm phía tả ngạn. Chỉ duy nhất một lần cuối, ánh mắt nàng lóe lên nhìn chúng tôi giữa bóng chạng vạng của những lùm cây trước khi hoàn toàn tan biến.

"'Nếu cô ả định bước lên tàu, tôi thề là sẽ xả súng bắn ả,' gã đàn ông ăn mặc chắp vá thì thào trong vẻ đầy hoảng sợ. 'Hai tuần nay, ngày nào tôi cũng phải đặt cược mạng sống của mình để cản ả lẻn vào nhà. Một hôm, ả lọt được vào trong và làm mình làm mẩy chỉ vì mấy mảnh giẻ rách thảm hại mà tôi lượm lặt trong kho để vá lại quần áo. Tôi trông chẳng ra hồn người. Ít nhất thì ả nghĩ vậy, bởi ả đã xổ ra một tràng giận dữ với Kurtz suốt cả tiếng đồng hồ, chốc chốc lại chỉ tay thẳng mặt tôi. Tôi mù tịt ngôn ngữ của cái bộ lạc này. Phúc tổ cho tôi, hôm đó Kurtz có lẽ ốm thập tử nhất sinh nên chẳng buồn đoái hoài, bằng không thì to chuyện rồi. Tôi chịu không hiểu nổi... Không-vượt quá sức chịu đựng của tôi rồi. Mà thôi, giờ thì mọi chuyện cũng đã ngã ngũ.'

"Đúng lúc đó, từ sau bức rèm, tôi nghe thấy chất giọng ồm ồm của Kurtz vọng ra: 'Cứu tôi!-cứu mớ ngà voi thì có. Đừng có giở giọng lừa phỉnh tôi. Cứu tôi sao! Chà, chính tôi mới là kẻ phải cứu rỗi các người. Bọn người các người đang phá nát mọi kế hoạch của tôi. Ốm à! Ốm à! Không có chuyện ốm liệt giường liệt chiếu như bọn người mơ tưởng đâu. Chẳng hề hấn gì. Tôi sẽ tiếp tục thực thi những lý tưởng của mình-tôi sẽ quay lại. Tôi sẽ cho các người rửa mắt mà xem những gì tôi có thể làm được. Cái đám tiểu nhân bán rong hèn mọn các người-chính các người đang kỳ đà cản mũi tôi. Tôi sẽ trở lại. Tôi....'

"Viên quản lý lững thững bước ra. Ông ta dành cho tôi cái vinh hạnh bằng cách khoác lấy tay và kéo tôi ra một góc. 'Ông ấy đã kiệt quệ lắm rồi, kiệt quệ thực sự,' ông ta nói. Lão ta tỏ ra cần phải buông một tiếng thở dài, nhưng lại lười biếng phớt lờ việc giả vờ xót thương cho trọn vẹn. 'Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể cho ông ấy-phải vậy không? Nhưng có một sự thật không thể chối cãi rằng, ngài Kurtz mang lại mầm họa cho Công ty nhiều hơn là lợi ích. Ông ta không chịu hiểu rằng thời cơ cho những động thái quyết liệt vẫn chưa chín muồi. Cẩn trọng, cẩn trọng-đó là tôn chỉ làm việc của tôi. Chúng ta luôn phải đặt sự cẩn trọng lên hàng đầu. Lãnh địa này coi như tạm thời bị phong tỏa với chúng ta. Tiếc thay! Nhìn chung, guồng quay thương mại sẽ chịu tổn thất lớn. Tôi không phủ nhận đã có một khối lượng ngà voi khổng lồ được khai thác-nhưng đa phần đều là ngà hóa thạch. Bằng mọi giá chúng ta vẫn phải giải cứu chỗ ngà voi ấy-nhưng anh xem, vị thế hiện tại của chúng ta mong manh đến nhường nào-và nguyên do là vì đâu? Ấy là bởi những phương pháp thiếu cơ sở.' 'Ông,' tôi lầm bầm, mắt hướng về phía bờ sông, 'ông gọi đó là "những phương pháp thiếu cơ sở" ư?' 'Tuyệt nhiên là vậy,' ông ta kêu lên một cách đầy kích động. 'Bộ anh không nhận ra sao?'... 'Làm quái gì có cái phương pháp nào,' tôi lầm rầm sau một chốc. 'Chí lý,' lão ta hỉ hả. 'Tôi đã lường trước cơ sự này rồi. Thật là một sự yếu kém toàn diện trong năng lực phán đoán. Bổn phận của tôi là phải đệ trình mọi việc lên cấp có thẩm quyền.' 'Ồ,' tôi mỉa mai, 'cái gã-tên hắn là gì nhỉ?-cái gã thợ nặn gạch ấy, ắt hẳn sẽ chắp bút cho ông một bản báo cáo êm tai thôi.' Ông ta thoáng chút bối rối. Có lẽ chưa bao giờ trong đời, tôi lại phải hít thở một bầu không khí đê hèn đến tởm lợm nhường này, và tôi đành phải bám víu tâm trí mình về phía Kurtz hòng tìm kiếm chút an ủi-như một lối thoát thực sự. 'Dẫu có ra sao, tôi vẫn tin ngài Kurtz là một con người xuất chúng,' tôi gằn giọng. Lão ta giật thót, phóng về phía tôi một ánh nhìn u ám, rồi cất giọng nhè nhẹ, 'ông ta đã từng,' trước khi quay ngoắt lưng rời đi. Vậy là đặc ân dành cho tôi cũng đã cạn; tôi biết mình đã bị gộp chung bè phái với Kurtz, bị gán mác là kẻ dung túng cho những phương pháp mà thời cơ chưa chín muồi: Tôi cũng là một kẻ thiếu cơ sở! Chà! Dù sao đi nữa, có được quyền lựa chọn giữa những cơn ác mộng cũng coi như là một đặc ân rồi.

"Kỳ thực, tâm trí tôi lúc ấy đang xoáy chặt vào vùng hoang dã, chứ chẳng phải ngài Kurtz, người mà tôi sẵn sàng mặc nhiên coi như đã yên vị dưới ba tấc đất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác chính mình cũng đang bị vùi lấp dưới một nấm mồ khổng lồ, chất chứa những bí ẩn không thốt nên lời. Một sức nặng nghẹt thở đè nghiến lên lồng ngực, quyện lẫn mùi đất ẩm ương, bóng dáng lẩn khuất của một sự mục rữa đang đắc thắng, và cái màn sương đặc quánh của một đêm đen bất khả xâm phạm.... Gã người Nga khẽ vỗ vai tôi. Tôi nghe tiếng anh ta thì thầm, lúng búng nói điều gì đó về tình 'anh em đi biển-không thể che giấu-biết được những bí mật sẽ phương hại đến thanh danh của ngài Kurtz.' Tôi lẳng lặng chờ đợi. Hiển nhiên, trong tâm trí anh ta, ngài Kurtz vẫn chưa đặt chân xuống mồ; thậm chí tôi còn ngờ vực rằng, với anh ta, ngài Kurtz mang dáng dấp của những đấng bất tử. 'Thôi được!' rốt cuộc tôi cũng lên tiếng, 'nói ra đi. Có điều, tôi là bạn của ngài Kurtz-theo một nghĩa nào đó.'

"Anh ta trang nghiêm tuyên bố rằng, giả dụ chúng tôi không phải những kẻ 'cùng hội cùng thuyền', anh ta sẽ cắn răng mang theo bí mật này xuống mồ, mặc kệ hậu quả. 'Ông ấy ngờ rằng có một sự thù hằn ác liệt đang nhắm thẳng vào mình từ phía những gã da trắng kia-' 'Anh nói có lý,' tôi đáp, chợt nhớ lại một đoạn hội thoại mà mình tình cờ nghe lỏm. 'Lão quản lý cho rằng anh đáng bị treo cổ.' Anh ta lộ rõ vẻ quan ngại trước thông tin này, khiến tôi thoáng thấy buồn cười. 'Thế thì tôi nên lẳng lặng chuồn êm thì hơn,' anh ta nói với vẻ mặt cực kỳ nghiêm túc. 'Giờ tôi chẳng thể giúp ích gì thêm cho Kurtz, và họ cũng sẽ sớm mượn cớ sinh sự thôi. Có gì cản nổi bước họ cơ chứ? Cách đây chừng ba trăm dặm có một đồn bốt quân sự đấy.' 'Chà, tôi cam đoan với anh,' tôi nói, 'rằng anh nên cao chạy xa bay đi, nếu như anh có kết giao với bất kỳ người bạn nào trong đám dân man rợ quanh đây.' 'Nhiều lắm,' anh đáp. 'Họ là những con người thật thà-và tôi thì chẳng đòi hỏi gì cao sang, anh biết mà.' Anh ta đứng cắn chặt môi, rồi tiếp lời: 'Tôi không mong có điều gì tồi tệ giáng xuống đầu những gã da trắng ở đây, nhưng dĩ nhiên, tâm trí tôi luôn canh cánh về danh tiếng của ngài Kurtz-ngặt nỗi anh là một người anh em đi biển và-' 'Thôi được rồi,' tôi cắt ngang sau một thoáng chần chừ. 'Danh tiếng của ngài Kurtz sẽ được an toàn trong tay tôi.' Chẳng rõ lúc ấy lòng tôi thực sự thành tâm đến độ nào.

"Anh ta hạ giọng thì thào, tiết lộ rằng chính Kurtz là kẻ đã giật dây cuộc tập kích nhắm vào tàu hơi nước. 'Nhiều khi ngài ấy tỏ ra căm ghét cái viễn cảnh bị đem đi-để rồi sau đó lại.... Nhưng những thứ cao siêu đó tôi nào có hiểu. Tôi chỉ là một gã chân chất. Ngài ấy đinh ninh rằng việc làm đó sẽ dọa anh hồn xiêu phách lạc mà bỏ chạy-rằng anh sẽ sớm đầu hàng vì đinh ninh ngài ấy đã bỏ mạng. Tôi chẳng có cách nào cản nổi ngài ấy. Ôi, nguyên một tháng qua, tôi đã phải sống trong chuỗi ngày rùng rợn đến nhường nào.' 'Được rồi,' tôi ngắt lời. 'Giờ thì ông ấy đã bình an vô sự.' 'Vâ-â-âng,' anh ta lúng búng, nghe có vẻ chẳng mấy thuyết phục. 'Cảm ơn anh,' tôi nói; 'tôi sẽ để mắt trông chừng.' 'Nhưng nhớ giữ mồm giữ miệng nhé?' anh ta sốt sắng nài nỉ. 'Sẽ là một thảm họa cho thanh danh của ngài ấy nếu đám người ở đây-' Tôi trịnh trọng thề thốt sẽ kín như bưng. 'Tôi có một chiếc xuồng cùng ba gã da đen đang chờ cách đây không xa. Tôi phải lên đường thôi. Anh liệu có thể san sẻ cho tôi vài viên đạn Martini-Henry3 không?' Đương nhiên là được, và tôi đã làm thế, trong sự lén lút cần thiết. Anh ta tự tiện bốc lấy một nắm thuốc lá của tôi, nháy mắt ranh mãnh. 'Chuyện giữa những gã thủy thủ mà-anh biết đó-thuốc lá Anh xịn đấy.' Vừa ra đến cửa buồng lái, anh ta bỗng quay ngoắt lại-'Này, anh không còn đôi giày cũ nào có thể bố thí cho tôi sao?' Anh ta giơ một chân lên. 'Này, xem đi.' Áp sát lòng bàn chân trần trụi của anh ta là một mảnh đế giày được buộc chằng chịt bằng những sợi dây thắt nút tựa hồ một chiếc dép sandal rách nát. Tôi bới móc ra được một đôi cũ kỹ, anh ta chiêm ngưỡng nó bằng một ánh mắt sùng bái tột độ trước khi kẹp chặt dưới nách trái. Một bên túi áo (màu đỏ tươi) của anh ta cộm lên vì đạn dược, bên túi kia (màu xanh thẫm) để lộ cuốn 'Cuộc điều tra của Towson,' và vân vân... Trông anh ta có vẻ đắc ý, ngỡ như mình đã được vũ trang đến tận răng để sẵn sàng cho một cuộc đương đầu mới với chốn hoang dã. 'Chà! Cả phần đời còn lại, tôi sẽ chẳng bao giờ, chẳng bao giờ có diễm phúc hội ngộ một con người nào vĩ đại như ngài ấy nữa. Đáng ra anh phải được nghe ngài ấy ngâm thơ-những vần thơ do chính ngài ấy chắp bút, ngài ấy đã bảo với tôi như vậy. Thơ đấy!' Anh ta đưa mắt nhìn xa xăm, đắm chìm trong hồi ức về những thú vui tao nhã ấy. 'Ôi, ngài ấy đã khai sáng cho tâm hồn tôi!' 'Bảo trọng,' tôi cất lời. Anh ta bắt tay tôi, rồi lẩn khuất vào màn đêm sâu thẳm. Thi thoảng, tôi lại tự hỏi lòng mình, không biết có phải tôi đã từng thực sự nhìn thấy anh ta hay không-liệu giữa chốn này, có tồn tại một hiện tượng kỳ dị đến nhường ấy!...

"Lúc choàng tỉnh giấc không lâu sau nửa đêm, lời cảnh báo của anh ta bỗng dội về trong tâm trí, phác họa nên một mối họa rình rập, hiển hiện sống động ngay giữa màn đêm đầy sao, đủ sức thôi thúc tôi phải chồm dậy thăm dò xung quanh. Tít trên ngọn đồi, một đống lửa khổng lồ rực cháy, chốc chốc lại phơi bày một góc ngoằn ngoèo của nhà ga. Một gã đặc vụ cùng dăm ba tay da đen lăm lăm vũ khí đang đứng gác đống ngà voi; nhưng thẳm sâu trong rừng, những luồng sáng đỏ rực cứ nhấp nháy, lúc chìm nghỉm lúc lại trồi lên từ mặt đất giữa muôn vàn hình khối đen sẫm, cao lêu nghêu hệt như những chiếc cột, phơi bày rõ mồn một vị trí khu trại nơi những tín đồ sùng bái ngài Kurtz đang chong mắt trắng đêm không ngủ. Nhịp gõ đều đặn của một chiếc trống lớn tràn ngập không gian bằng những thanh âm trầm đục và một sự rung chấn miên man. Một tràng rì rầm đều đều từ vô vàn giọng nói đang lầm rầm tụng niệm một câu thần chú dị thường nào đó hắt ra từ bức tường rừng phẳng lì, đen đặc tựa tiếng ong vỡ tổ vo ve, gieo rắc một hiệu ứng gây tê liệt kỳ quái lên những giác quan còn đang chếnh choáng nửa tỉnh nửa mê của tôi. Tôi tin chắc mình đã thiếp đi khi đang tựa người vào lan can, cho đến khi một tràng la hét xé toạc màn đêm dội tới, một sự bùng nổ dữ dội của cơn cuồng loạn bí ẩn và dồn nén bấy lâu, kéo tuột tôi thức giấc trong một sự bàng hoàng tột độ. Âm thanh ấy bị bóp nghẹt đột ngột, và tiếng rì rầm lại trỗi dậy, mang đến một cảm giác im lìm đầy vỗ về và chân thực. Tôi buông một ánh nhìn thờ ơ vào khoang tàu nhỏ. Bên trong vẫn sáng đèn, nhưng ngài Kurtz đã không còn ở đó.

"Đáng lẽ tôi đã thét lên nếu như chịu tin vào mắt mình. Nhưng thoạt tiên tôi chẳng hề tin-sự tình có vẻ quá đỗi hoang đường. Sự thực là tôi hoàn toàn bị quật ngã bởi một nỗi khiếp đảm rỗng tuếch, một nỗi kinh hoàng thuần túy trừu tượng, chẳng mảy may dính dáng đến bất kỳ hình hài rõ rệt nào của những hiểm nguy xác thịt. Điều khiến cho cái cảm giác này trở nên mang tính hủy diệt đến vậy chính là-tôi nên gọi tên nó thế nào đây nhỉ?-một cú sốc tột độ về luân thường đạo lý giáng thẳng vào tôi, hệt như có một thứ gì đó vô cùng quái đản, một điều bất khả dung thứ cho lý trí và gớm ghiếc tột cùng đối với linh hồn, đã bất thình lình ập xuống. Lẽ dĩ nhiên, tình trạng ấy chỉ kéo dài trong một phần tư của tích tắc, và ngay sau đó, cái cảm giác quen thuộc về một mối họa chí mạng nhãn tiền, về viễn cảnh của một cuộc phục kích hay thảm sát bất thình lình, hoặc đại loại những thứ sắp sửa ập đến, lại trở thành hiện thực sống động và dễ bề đón nhận hơn cả. Trớ trêu thay, chính nó lại xoa dịu tôi đến mức tôi chẳng thèm bận tâm đến việc gióng lên hồi chuông báo động.

"Có một gã đặc vụ đang cuộn tròn mình trong chiếc áo choàng và say sưa ngủ trên chiếc ghế đặt ngoài boong tàu, cách tôi chưa đầy ba bước chân. Tràng la hét khi nãy chẳng hề đánh thức được hắn; hắn cứ khe khẽ ngáy; tôi mặc kệ hắn chìm trong giấc điệp và nhảy vọt lên bờ. Tôi không hề phản bội ngài Kurtz-số phận đã an bài rằng tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ phản bội ông ấy-như thể số kiếp đã định sẵn tôi phải một lòng trung thành với cơn ác mộng mà chính mình đã gánh lấy. Tôi khao khát được tự tay đối đầu với cái bóng ma này-và cho mãi đến tận ngày nay, tôi vẫn chẳng hiểu cớ sao mình lại có sự ích kỷ lạ lùng đến vậy, khi không mảy may muốn san sẻ với bất kỳ ai sự tăm tối quái gở của cái trải nghiệm ấy.

"Chân vừa chạm bờ, tôi lập tức phát hiện một manh mối-một lối mòn rộng hoác rẽ ngang qua đám cỏ. Tôi nhớ lại cái cảm giác hả hê khôn tả khi tự nhủ thầm: 'Ông ta sức mấy mà đi được-ông ta đang phải bò bằng cả bốn chân-mình nắm thóp được ông ta rồi.' Cỏ ướt đẫm sương đêm. Tôi rảo bước thật nhanh, hai bàn tay nắm chặt thành nắm đấm. Tôi đồ rằng mình đã nhen nhóm một ý đồ mơ hồ là sẽ lao tới nện cho ông ta một trận nhừ tử. Tôi cũng chẳng rõ nữa. Trong đầu tôi lở vởn rặt những ý nghĩ phù phiếm. Hình bóng người đàn bà luống tuổi đang ngồi đan len cạnh chú mèo chợt hiện về trong ký ức, hệt như một nhân vật vô cùng lạc lõng khi bị ném vào cái kết cục của một sự vụ nhường này. Tôi mường tượng ra viễn cảnh một hàng dài những kẻ hành hương đang chĩa mũi súng Winchester4 kẹp bên hông mà vãi đạn lên trời. Tôi đinh ninh mình sẽ chẳng bao giờ đặt chân trở lại chiếc tàu hơi nước ấy nữa, và mường tượng đến cảnh mình sống vạ vật, đơn độc và tay trắng giữa chốn rừng sâu này cho tới lúc sức tàn lực kiệt. Toàn những điều ngớ ngẩn-anh hiểu mà. Và tôi nhớ mình đã lú lẫn đến mức nhầm lẫn nhịp trống tà thuật với chính nhịp đập nơi con tim mình, thậm chí còn thấy tự mãn về sự đều đặn đầy tĩnh tại của nó.

"Tôi cứ thế miết theo dấu vết-rồi khựng lại vểnh tai lắng nghe. Đêm vô cùng quang đãng; một vùng không gian mang sắc xanh đen lung linh màn sương mờ và ánh sao trời, nơi những vật thể đen đặc đứng câm lặng bất động. Tôi ngỡ như mình vừa bắt gặp một sự dịch chuyển nào đó ở phía trước. Tôi cảm thấy tự tin một cách lạ lùng về mọi thứ trong đêm đen đó. Thực tình, tôi đã rời khỏi lối mòn và chạy vòng qua một đường bán nguyệt rộng hoác (tôi dám cá là lúc đó mình đang cười thầm trong bụng) cốt để chặn đầu cái sự chuyển động, cái sự nhúc nhích mà tôi vừa nhác thấy-nếu quả thực tôi không bị ảo giác. Tôi đang chơi trò vờn chuột với Kurtz nhẹ nhàng tựa hồ một trò tiêu khiển của trẻ con.

"Tôi đã đuổi kịp ông ta, và nếu ông không tình cờ nghe thấy bước chân tôi tới gần, ắt hẳn tôi đã vấp ngã đè lên người ông, may thay ông đã kịp lảo đảo gượng dậy. Ông chới với vươn mình lên, thân hình cao lêu nghêu, trắng bệch và nhòa đi như một luồng hơi ngùn ngụt bốc lên từ mặt đất, khẽ lay động, mịt mờ và câm lặng ngay trước mắt tôi; trong khi đó, ở phía sau lưng tôi, những ngọn lửa vẫn nhảy múa giữa các tán cây, và tiếng xầm xì của vô số giọng nói không ngừng vọng ra từ chốn rừng sâu. Tôi đã tính kế chặn đầu ông ta vô cùng khôn ngoan; nhưng khi thực sự giáp mặt ông, tôi bỗng như sực tỉnh, tôi đo lường được quy mô thực sự của mối nguy này. Mọi chuyện chưa hề kết thúc. Ngộ nhỡ ông ta cất tiếng thét lên thì sao? Dù cho cơ thể ông hầu như chẳng thể đứng vững, thì chất giọng ấy vẫn chất chứa một nguồn nội lực kinh hồn. 'Đi đi-hãy lẩn trốn đi,' ông thốt lên bằng cái âm sắc trầm đục ấy. Thật đáng sợ. Tôi liếc mắt nhìn lại phía sau. Chúng tôi cách ngọn lửa gần nhất chừng ba mươi yard. Một bóng đen sừng sững đứng lên, sải đôi chân dài ngoẵng đen đúa, hai cánh tay cũng dài ngoẵng và đen đúa quơ quào ngang qua dải ánh sáng bập bùng. Hắn có sừng-chắc là sừng linh dương-đội trên đầu. Đích thị là một gã phù thủy, một tay pháp sư nào đó: trông hắn ta cũng đủ tà ác hệt như quỷ dữ. 'Ông có nhận thức được mình đang làm gì không?' tôi khẽ rít lên. 'Hoàn toàn biết,' ông đáp lời, cố đẩy cao giọng ở hai từ ngắn gọn ấy: lọt vào tai tôi, nó nghe xa xăm nhưng lại dội vang, tựa như một tiếng gọi vọng qua loa phóng thanh. 'Nếu ông ta mà làm ầm lên, thì đờ-i-đời chúng ta đi tong,' tôi nhủ thầm. Rõ rệt hơn bao giờ hết, đây không phải là lúc để vung nắm đấm, thậm chí tôi còn phải ném sang một bên cái sự gớm ghiếc rất đỗi bản năng của mình đối với việc phải thượng cẳng chân hạ cẳng tay với Cái Bóng đó-với cái sinh linh vất vưởng và bị đày đọa này. 'Ông sẽ mất trắng,' tôi gằn giọng-'mất sạch sành sanh.' Đôi khi, con người ta bỗng nhiên đón nhận được một tia sáng lóe lên từ trực giác, anh biết đấy. Quả thực tôi đã nói trúng phóc, dẫu rằng ông ta chẳng thể nào lún sâu vào vực thẳm tuyệt vọng hơn cái hiện thực lúc bấy giờ, cái khoảnh khắc mà viên gạch đầu tiên cho sự gắn kết giữa chúng tôi đang được đặt xuống-để gồng mình chịu đựng-để cam chịu-thậm chí cho đến hơi thở cuối cùng-và thậm chí còn vươn xa hơn thế.

"'Tôi đã vạch ra những mưu đồ vĩ đại,' ông rền rĩ trong sự ngập ngừng. 'Vâng,' tôi đáp lại; 'nhưng nếu ông ngoan cố hét lên, tôi sẽ nện vỡ sọ ông bằng-' Khốn nỗi, chung quanh chẳng bói đâu ra một cành cây hay hòn đá nào. 'Tôi sẽ bóp cổ ông đến chết mới thôi,' tôi đành chữa lại lời hăm dọa. 'Tôi đang mấp mé ở bờ vực của những thành tựu lẫy lừng,' ông rên rỉ van lơn, bằng một thứ giọng thèm khát, xen lẫn âm điệu luyến tiếc khiến máu trong huyết quản tôi như đông cứng lại. 'Ấy vậy mà giờ đây, chỉ vì cái gã vô lại ngu xuẩn này-' 'Thế nào đi chăng nữa, vinh quang của ông ở tận trời Âu cũng đã được khắc ghi vững chắc rồi,' tôi quả quyết trấn an. Thực lòng tôi nào có muốn đoạt mạng ông ta, anh hiểu chứ-và làm vậy cũng chẳng mang lại lợi lộc gì cho những mục đích thực tiễn cả. Tôi chỉ đang dốc sức để phá vỡ thứ bùa ngải-lời nguyền câm lặng, ngột ngạt của chốn rừng thiêng nước độc-thứ ma lực dường như đang ra sức níu kéo ông về phía bầu ngực tàn bạo của nó bằng cách thức tỉnh những bản năng dã man đã chìm vào quên lãng, bằng việc khơi gợi lại ký ức về những đam mê bệnh hoạn từng được thỏa mãn. Tôi đoan chắc rằng, chính thế lực này đã dẫn dụ ông loanh quanh ở ven rừng, lách qua những bụi rậm, hướng thẳng về phía ánh lửa bập bùng, tiếng trống liên hồi, và tiếng rì rầm tụng niệm của những lời nguyền ma quái; chính nó đã mê hoặc linh hồn lầm lạc của ông bước qua ranh giới của những khát vọng lẽ ra chỉ nên dừng lại ở ranh giới cho phép. Và anh không nhận ra sao, cái nỗi kinh hoàng tột độ của tình cảnh này chẳng nằm ở việc bị đập vỡ sọ-dù rằng tôi cũng ý thức rất rõ về thứ hiểm nguy ấy-mà nằm ở chỗ, tôi đang phải đánh vật với một sinh linh mà tôi chẳng thể dùng bất cứ lẽ phải cao thượng hay hèn mọn nào để khuất phục. Thậm chí tôi đã phải, giống như những đám người da đen rồ dại, cầu xin ông ấy-chính ông ấy-được soi rọi bởi sự băng hoại tột độ và kinh tởm khôn tả của bản thân. Phía trên ông hay dưới chân ông đều là cõi hư vô, và tôi thấu tận tâm can điều đó. Ông đã tự hất cẳng mình khỏi mặt đất. Chó chết thật! ông ta đã đạp nát bấy cả trần gian. Ông ta trơ trọi một mình, và tôi đứng đối diện ông mà chẳng mường tượng nổi mình đang bám trụ trên mặt đất hay lơ lửng bồng bềnh giữa không trung. Tôi đang thuật lại cho anh nghe những gì chúng tôi đã đối đáp-tái hiện từng câu từng chữ mà chúng tôi đã buông ra-nhưng phỏng có ích gì? Đó chỉ là những ngôn từ vụn vặt, đời thường-những thanh âm nhạt nhẽo, mơ hồ vẫn được người ta quăng quật cho nhau trong những ngày tháng tỉnh táo của cuộc đời. Nhưng như thế thì đã sao? Đối với cá nhân tôi, ẩn sâu sau những ngôn từ ấy là một sức gợi hình khủng khiếp về những lời phán truyền vang dội trong cõi mộng, về những câu chữ thốt ra từ giữa một cơn ác mộng kinh hoàng. Tâm hồn! Nếu có ai đó từng phải trần thân vật lộn với một tâm hồn, thì kẻ đó chính là tôi đây. Và tôi cũng chẳng hề cãi cọ với một tên điên. Tin tôi hay không thì tùy, nhưng trí óc ông ta lúc đó hoàn toàn minh mẫn-sự thực là nó đang cuộn trào nhắm vào chính ông ta với một cường độ tàn khốc, nhưng nó vẫn giữ được sự tỉnh táo; và đó là tia hy vọng duy nhất của tôi-dĩ nhiên, ngoại trừ cái giải pháp triệt hạ ông ta ngay tại chỗ, một hành động chẳng lấy gì làm hay ho, bởi khó lòng mà tránh khỏi việc gây ra tiếng động. Trái lại, linh hồn ông ta thì đã hoàn toàn phát rồ. Đơn độc giữa chốn hoang vu tận cùng, nó đã tự soi chiếu vào chính mình, và, lạy Chúa tôi! tôi nói cho anh hay, nó đã hóa rồ hóa dại. Tôi đã phải-có lẽ đây là sự đền tội cho những lỗi lầm của chính mình-kinh qua cái thử thách là tự lặn ngụp vào trong cái đáy sâu điên loạn ấy. Chẳng có lời ngụy biện nào đủ sức tàn phá niềm tin vào cái nhân tính nghiệt ngã bằng sự trần trụi bùng phát vào những khoảnh khắc cuối đời của ông. Ông ta cũng đang cấu xé với chính mình. Tôi đã tận mắt chứng kiến-tôi đã tự tai nghe thấy. Tôi đã chứng nghiệm sự bí ẩn ngoài sức tưởng tượng của một linh hồn đứt tung xiềng xích kiềm tỏa, sạch trơn đức tin, và chẳng còn mảy may sợ hãi, nhưng lại mù quáng giày vò chính mình. Dù vậy, tôi vẫn giữ cho đầu óc mình được tương đối tỉnh táo; nhưng khi rốt cuộc cũng vứt được ông ta nằm vật ra băng ghế, tôi phải lau vội giọt mồ hôi trên trán, trong lúc hai đầu gối run bần bật hệt như thể vừa cõng nửa tấn hàng trên lưng mà ròng rã trèo xuống dốc đồi. Ấy thế mà tôi chỉ đang dìu ông, với cánh tay khẳng khiu của ông vắt vẻo qua cổ tôi-và trọng lượng của ông ta thì chẳng nhỉnh hơn một đứa trẻ là bao.

"Đến khi chúng tôi nhổ neo rời đi vào quá trưa hôm sau, cái đám đông kia, những kẻ mà tôi đã ý thức quá rõ sự hiện diện lẩn khuất sau bức rèm cây cỏ ngay từ lúc đầu, lại một lần nữa ồ ạt tuôn ra khỏi rừng, ken đặc bãi đất trống, và lấp kín cả sườn dốc bằng một khối khổng lồ những thân hình ngực trần màu đồng hun, đang thở dốc và run rẩy bần bật. Tôi mớm thêm chút tốc độ, bẻ lái cho con tàu xuôi dòng, và hàng nghìn đôi mắt cứ thế dõi theo từng cử động của con thủy quái dữ tợn đang nện những nhịp thình thịch, quật mặt nước bằng cái đuôi kinh hoàng của nó và nhả những luồng khói đen kịt lên bầu không trung. Ở vị trí hàng đầu, rải rác dọc theo bờ sông, ba gã đàn ông, trét đầy thứ đất sét đỏ tươi từ đầu chí chân, đang đi đi lại lại trong một sự bồn chồn khó tả. Ngay khoảnh khắc chúng tôi lướt ngang qua, họ quay mặt hướng ra sông, giậm chân rầm rập, gật gù cái đầu cắm đầy sừng, và đung đưa những thân hình đỏ rực như máu; họ thi nhau vung vẩy về phía con thủy quái hung tợn một túm lông đen ngòm, một mảnh da mang cá với cái đuôi lủng lẳng-trông từa tựa như một quả bầu khô khốc; chốc chốc, họ lại đồng thanh rú lên những tràng ngôn từ quái đản, khác xa mọi thanh âm ngôn ngữ loài người; và tiếng rì rầm u trầm của đám đông, bỗng chốc bị cắt ngang cái rụp, tựa hồ tiếng tụng niệm đáp trả của một bản kinh cầu hồn ma quỷ.

"Chúng tôi đã khiêng Kurtz vào hẳn buồng lái: ở đó không khí thoáng đãng hơn. Nằm ẹp trên băng ghế, ông ném ánh nhìn đăm đăm qua khung cửa chớp đang mở toang. Khối người bên dưới chợt cuộn xoáy trào dâng, và người phụ nữ với mái tóc tựa chiếc mũ trụ cùng đôi gò má rám nắng bất ngờ lao vụt tới sát mép nước. Nàng vươn tay ra, thét lên điều gì đó, và lập tức, toàn bộ đám đông hoang dại ấy đã hưởng ứng tiếng thét bằng một điệp khúc gầm vang của những ngôn từ rành rọt, dồn dập, hòa lẫn những hơi thở dốc.

"'Ông có thấu hiểu được điều này chăng?' tôi khẽ hỏi.

"Ông ta cứ trân trân nhìn xuyên qua tôi bằng đôi mắt rực lửa, khao khát khôn cùng, với một nét biểu cảm nhào nặn giữa sự nuối tiếc khôn nguôi và lòng oán hận ngút ngàn. Ông không buồn đáp lời, nhưng tôi bắt gặp một nụ cười, một nụ cười mang ẩn ý khó lòng diễn tả, thoáng hiện trên đôi môi nhợt nhạt của ông, và một chốc sau, đôi môi ấy bắt đầu co giật bần bật. 'Làm sao tôi lại không hiểu cho được?' ông thốt ra chậm rãi, đứt quãng, hệt như từng ngôn từ đang bị xé toạc khỏi lồng ngực bởi một thế lực siêu nhiên nào đó.

"Tôi giật mạnh sợi dây còi, phần vì tôi đã thấy đám hành hương trên boong đang rục rịch lôi súng trường ra, mặt mũi tỏ rõ vẻ thèm khát đón đợi một màn giải trí thú vị. Tiếng rít vang lên xé toạc không gian, phóng một luồng kinh hoàng tột độ xuyên thấu khối cơ thể đang ken đặc ấy. 'Đừng! đừng có làm chúng hoảng loạn mà bỏ chạy mất,' một gã nào đó trên boong cất tiếng gào lên đầy tiếc nuối. Tôi giật dây còi liên hồi, hết lần này tới lần khác. Đám người vỡ trận và tán loạn tháo chạy, chúng nhảy chồm lên, cúi gập người, lảo đảo chao nghiêng, cuống cuồng lẩn trốn trước nỗi khiếp đảm vô hình đang réo rắt trong không trung. Ba gã trét đất đỏ đã ngã rạp xuống, úp mặt sát xuống bờ sông, hệt như những cái xác đã bị đạn kết liễu. Chỉ duy nhất người phụ nữ man dại và tuyệt mỹ kia là không hề suy suyển, nàng bi thương vươn đôi cánh tay trần hướng về phía chúng tôi, sừng sững giữa dòng sông lấp lánh và u hoài.

"Và rồi cái đám người xuẩn ngốc trên boong tàu cũng bắt đầu tiến hành cái trò tiêu khiển ti tiện của bọn chúng, và tôi chẳng còn nhìn thấy gì khác ngoài một màn khói bụi mịt mù.

"Dòng chảy nâu sẫm cuồn cuộn đổ ra khỏi trái tim của bóng tối, cuốn chúng tôi xuôi về biển khơi với tốc độ gấp đôi khi đi ngược dòng. Trớ trêu thay, sự sống của Kurtz cũng đang lao nhanh như thế. Sinh lực cứ thế cạn kiệt, rút dần khỏi trái tim ông để vĩnh viễn hòa vào đại dương của thời gian tàn nhẫn. Lão quản lý bến giờ đây hết mực điềm nhiên; ông ta chẳng còn bận tâm đến chuyện sống chết nữa. Ông ta chĩa ánh mắt thấu suốt và đầy mãn nguyện về phía hai chúng tôi: vụ 'áp phe'5 này quả nhiên đã trót lọt như dự tính. Tôi lờ mờ nhận ra khoảnh khắc mình bị bỏ rơi giữa đám người tôn thờ thứ 'phương pháp vô căn cứ' đang đến rất gần. Đám hành hương nhìn tôi bằng ánh mắt thù địch. Thậm chí, có thể nói tôi đã bị gạch tên, bị ném vào danh sách của những kẻ đã khuất. Thật kỳ lạ khi tôi lại cam tâm chấp nhận sự đồng lõa ngoài dự kiến này, một sự lựa chọn giữa những cơn ác mộng bị ép buộc đè nặng lên tôi nơi vùng đất u ám, nơi mà những bóng ma đê hèn và tham lam đang bủa vây chiếm đóng.

"Kurtz hùng biện. Ôi, một giọng nói! Một giọng nói! Nó vẫn cất lên trầm hùng cho tới tận hơi thở cuối cùng. Nó vượt khỏi chút sức tàn nơi ông, cố lấp liếm sự tăm tối cằn cỗi trong tâm hồn dưới những nếp gấp hoa mỹ tuyệt luân của nghệ thuật hùng biện. Chao ôi, ông đã vật vã khôn cùng! Những vùng hoang phế trong tâm trí mệt nhoài của ông giờ đây ngập tràn những ảo ảnh-những hình ảnh về tiền tài và danh vọng đang khúm núm quẩn quanh thứ tài năng diễn đạt cao quý, thanh tao chưa bao giờ tắt ấy. Hôn thê của tôi, trạm gác của tôi, sự nghiệp của tôi, lý tưởng của tôi-đó là nguồn cơn cho những đợt bùng nổ của bao cảm xúc cao thượng. Linh hồn của một Kurtz nguyên bản vẫn đang lảng vảng bên giường bệnh, lượn lờ quanh cái vỏ bọc dối trá nay đã định sẵn số kiếp nằm lại dưới lớp nấm mốc nguyên thủy của trần gian. Thế nhưng, cả thứ tình yêu ma quỷ lẫn nỗi căm hờn siêu phàm về những bí ẩn mà ông từng dấn sâu vào, tất cả đang giằng xé nhau để chiếm đoạt lấy tâm hồn chán chê thứ cảm xúc hoang dã. Đó là tâm hồn luôn khao khát thứ danh vọng dối trá, sự dị biệt giả tạo, cùng vô vàn vẻ hào nhoáng của sự thành công và quyền lực.

"Đôi lúc, ông tỏ ra trẻ con đến mức đáng khinh. Ông khát khao viễn cảnh được các bậc đế vương đích thân nghênh đón tại sân ga trong ngày trở về từ một Vùng Đất Hư Vô kinh hoàng, nơi ông hằng ấp ủ làm nên những điều vĩ đại. 'Anh chỉ cần cho họ thấy anh đang nắm giữ thứ gì đó thực sự sinh lời, thì sẽ chẳng còn giới hạn nào cho sự tôn vinh tài năng của anh,' ông thường rầm rì như thế. 'Tất nhiên, anh phải luôn để tâm đến các động cơ-những động cơ đúng đắn-luôn là vậy.' Những khúc sông dài lê thê tưởng chừng giống hệt nhau, những ngã rẽ đơn điệu đến nghẹt thở cứ thế lướt qua con tàu hơi nước. Dọc hai bên bờ, vô vàn cây cổ thụ kiên nhẫn dõi theo mảnh vỡ nhơ nhớp lọt thỏm từ một thế giới khác-kẻ báo hiệu cho sự xoay vần, cho những cuộc chinh phạt, cho nhịp đập thương mại, cho những vụ thảm sát và cả những ơn phước thánh thần. Tôi nhìn thẳng về phía trước-tập trung bẻ lái. 'Đóng cửa sổ lại,' một ngày nọ, Kurtz bất thần gắt lên; 'Tôi không thể chịu nổi cảnh tượng này thêm phút nào nữa.' Tôi lẳng lặng làm theo. Cả không gian chìm vào tĩnh lặng. 'Ôi, rồi ta sẽ bóp nát trái tim mi!' ông gào lên về phía vùng hoang dã vô hình.

"Chiếc tàu bị hỏng máy-đúng như tôi đã tiên liệu-buộc chúng tôi phải thả neo sửa chữa tại phần mũi của một hòn đảo. Sự chậm trễ này chính là đòn đầu tiên giáng mạnh vào sự ngạo nghễ của Kurtz. Một buổi sáng, ông trao cho tôi một tệp tài liệu cùng một bức ảnh-tất cả được thắt chặt bằng một sợi dây giày. 'Giữ cái này cho tôi,' ông thều thào. 'Gã ngu ngốc thâm hiểm ấy' (ông ám chỉ lão quản lý) 'chắc chắn sẽ lục lọi rương của tôi những lúc tôi lơ là.' Chiều hôm đó, tôi quay lại tìm ông. Ông nằm ngửa, đôi mắt nhắm nghiền. Vừa định lặng lẽ rút lui, tôi chợt nghe ông lẩm bẩm: 'Sống đúng đắn, chết, chết...' Tôi nán lại lắng nghe. Nhưng chẳng có thêm âm thanh nào nữa. Phải chăng ông đang dượt lại một bài hùng biện trong giấc ngủ, hay đó chỉ là một mảnh vụn trích đoạn từ một bài báo xa xôi nào đó? Ông từng viết báo, và ông vẫn ấp ủ ý định viết tiếp, 'để lan tỏa những lý tưởng của tôi. Đó là một sứ mệnh.'

"Bên trong ông là một màn đêm đặc quánh, bất khả xâm phạm. Nhìn ông lúc ấy, tôi ngỡ mình đang cúi đầu dõi theo một thân xác nằm sâu dưới đáy vực thẳm, nơi ánh dương chẳng bao giờ chạm tới. Thế nhưng, tôi không rảnh rỗi để bận tâm quá nhiều về ông, bởi tôi còn phải xắn tay phụ gã thợ máy tháo dỡ mấy cái xi-lanh rò rỉ, nắn cho thẳng lại trục truyền động bị cong vẹo, cùng vô vàn công việc không tên khác. Tôi bị đày đọa giữa một bãi lầy địa ngục của rỉ sét, mạt sắt, đai ốc, bu lông, cờ lê, búa tạ và cả những chiếc khoan quay tay-toàn những thứ tôi tột cùng ghê tởm bởi vốn dĩ chẳng quen đụng tới. Tôi hì hục sửa sang chiếc lò rèn nhỏ nhoi may mắn còn sót lại trên tàu; tôi vắt kiệt sức lực giữa mớ phế liệu tàn tạ, cho đến khi những cơn run rẩy ập đến dữ dội làm tôi không sao đứng vững.

"Một tối nọ, khi vừa bước vào khoang với ngọn nến trên tay, tôi giật thót mình khi nghe thấy giọng ông run rẩy cất lên: 'Tôi đang nằm đây, giữa màn đêm tĩnh mịch, để đợi chờ cái chết.' Đáng sợ thay, ánh sáng lúc đó chỉ cách đôi mắt ông chừng một tấc. Lấy hết bình tĩnh, tôi khẽ khàng lẩm bẩm: 'Ồ, nói nhảm!', rồi đứng chết trân, nhìn chằm chằm vào cơ thể ông.

"Tôi chưa từng chứng kiến bất kỳ nét biến đổi nào trên khuôn mặt ông giống như khoảnh khắc ấy, và cũng nguyện cầu sẽ chẳng bao giờ phải nhìn thấy lại. Ôi không, tôi chẳng hề mủi lòng hay xúc động. Đúng hơn là tôi bị cuốn hút đến ngạt thở. Cứ như thể một bức màn đen tối vừa bị xé toạc. Hiện lên trên khuôn mặt màu ngà vỡ nát ấy là sự đan xen của lòng kiêu hãnh u ám, của thứ quyền lực tàn nhẫn, của nỗi sợ hãi hèn mọn-và của cả một nỗi tuyệt vọng cùng cực, không lối thoát. Liệu có phải ông đang sống lại từng khoảnh khắc của đời mình, kinh qua mọi cung bậc của dục vọng, cám dỗ và sự quy hàng trong giây phút tối thượng của sự thấu thị toàn vẹn? Ông đang thầm gọi tên một ảo ảnh nào đó, hay một viễn cảnh nào đó chăng? Ông thốt lên hai tiếng, một tiếng kêu khẽ khàng mỏng manh như hơi thở:

"'Kinh hoàng thay! Kinh hoàng thay!'

"Tôi lặng lẽ thổi tắt ngọn nến và rời khỏi khoang thuyền. Đám người hành hương đang quây quần dùng bữa trong phòng ăn chung. Tôi tìm chỗ ngồi đối diện lão quản lý. Lão ngước mắt lên, phóng về phía tôi một ánh nhìn dò xét, nhưng tôi đã thành công lờ đi sự xoi mói ấy. Lão ngả lưng ra sau ghế, vẻ vô cùng thanh thản, trên môi vẫn vương nụ cười đặc trưng-một nụ cười niêm phong kín bưng những toan tính đê tiện tột cùng khó cất thành lời. Một cơn mưa ruồi muỗi liên tục xà xuống ngọn đèn, bâu kín khăn trải bàn, đậu cả lên tay và mặt chúng tôi. Đột nhiên, thằng hầu trai của lão quản lý ló cái đầu đen bóng đầy xấc xược qua ngưỡng cửa, cất giọng the thé đầy mỉa mai, cay độc:

"'Ngài Kurtz-ông ta chết rồi.'

"Đám hành hương lập tức đổ xô ra ngoài để hóng chuyện. Chỉ mình tôi nán lại và tiếp tục bữa tối của mình. Tôi dám chắc đám người ấy hẳn coi tôi là một kẻ máu lạnh, tàn nhẫn tột cùng. Tuy vậy, tôi cũng chẳng nhét nổi bao nhiêu thức ăn vào bụng. Trong khoang là ánh sáng ngọn đèn rọi chiếu, anh hiểu chứ? Còn bên ngoài cửa kia, bóng tối đặc quánh đang bao trùm lấy không gian, kinh hoàng và nghẹt thở. Từ khoảnh khắc đó, tôi chẳng bao giờ bước đến gần người đàn ông xuất chúng ấy thêm một lần nào nữa-người vừa tự tay buông lời phán quyết cuối cùng cho cuộc phiêu lưu kỳ dị của linh hồn mình trên thế gian này. Giọng nói trầm hùng ấy đã vĩnh viễn tắt lịm. Vậy rốt cuộc còn lại thứ gì? Nhưng tất nhiên tôi biết, vào ngay ngày hôm sau, bọn hành hương đã chôn cất một thứ gì đó xuống một cái hố sình lầy nhớp nháp.

"Và rồi, họ cũng suýt nữa đã chôn luôn cả tôi xuống đó.

"Thế nhưng, như anh thấy đấy, tôi đã không nằm chung hố với Kurtz vào thời khắc ấy. Tôi đã không bỏ cuộc. Tôi đã trụ lại để đi cho trọn cơn ác mộng đến phút cuối cùng, và để chứng thực lòng trung thành với Kurtz thêm một lần nữa. Định mệnh. Than ôi định mệnh của đời tôi! Đời người quả là một trò hề-một sự an bài đầy bí ẩn của thứ logic nghiệt ngã nhằm phục vụ một mục đích vô nghĩa tận cùng. Điều lớn lao nhất mà anh có thể trông cậy vào nó chỉ là chút thấu hiểu về bản ngã của chính mình-nhưng trớ trêu thay, sự thấu hiểu ấy lại luôn đến quá đỗi muộn màng-để lại một mùa màng rực rỡ toàn những tiếc nuối không sao dập tắt nổi. Tôi đã từng giáp lá cà với tử thần. Quả tình, đó là cuộc tỉ thí tẻ nhạt nhất mà anh có thể hình dung ra. Nó diễn ra giữa một khoảng không xám xịt vô hình, không có lấy một điểm tựa dưới chân, không có gì bám víu xung quanh, chẳng có khán giả, chẳng có tiếng hò reo, không vinh quang chói lọi, không có khát khao chiến thắng sôi sục, và cũng chẳng vướng bận nỗi sợ hãi thất bại đè nặng. Tất cả chìm lỉm trong bầu không khí ốm yếu của một sự hoài nghi hờ hững, khi bản thân chẳng màng đặt nhiều niềm tin vào quyền sống của chính mình, và lại càng ít bận tâm đến sức mạnh của kẻ thù đối diện. Nếu đó thực sự là cảnh giới tối cao của trí tuệ, thì cuộc đời hẳn là một bài toán hóc búa hơn sức tưởng tượng của rất nhiều người trong chúng ta. Tôi từng đứng trước lằn ranh sinh tử, khoảnh khắc cuối cùng để tuyên xưng một điều gì đó với thế giới, và rồi bẽ bàng nhận ra rằng, có lẽ, tôi sẽ chẳng có gì để trăn trối. Đó chính là lý do tôi luôn kiên định rằng Kurtz là một cá nhân xuất chúng vượt bậc. Ông ấy thực sự có điều gì đó để nói. Và ông ấy đã dõng dạc nói ra. Bởi tôi cũng từng một lần ngó mặt xuống mép vực thẳm, nên tôi hiểu tận cùng ý nghĩa ánh nhìn trừng trừng của ông. Ánh nhìn mù lòa không thể nhận ra ánh nến le lói ngay trước mắt, nhưng lại đủ bao la để ôm trọn cả vũ trụ, và đủ sắc lạnh để xuyên thủng mọi trái tim đang thoi thóp đập giữa bóng đêm. Ông ấy đã đúc kết-ông ấy đã phán quyết: 'Kinh hoàng thay!' Phải, ông ấy là một con người phi thường. Xét cho cùng, tiếng thét ấy chính là sự bộc bạch của một loại đức tin sâu thẳm; nó chứa đựng sự trực diện, sự xác quyết, nó mang âm hưởng rung động của một cuộc nổi loạn len lỏi trong từng tiếng thì thầm. Nó hiện diện với khuôn mặt kinh hoàng của một sự thật vừa được lướt qua-một sự pha trộn đầy kỳ quái giữa nhục dục và thù hận. Giờ đây, thứ in đậm trong ký ức tôi không phải là khoảnh khắc cận kề cái chết của chính mình-thứ ảo ảnh màu xám xịt, vô định, nhung nhúc đớn đau thể xác, hòa lẫn với sự khinh mạn hờ hững trước thói vô thường của vạn vật, kể cả chính nỗi đau tột cùng ấy. Không! Mà đó chính là khoảnh khắc của ông ấy, khoảnh khắc mà tôi ngỡ như mình đã từng trải qua. Đúng vậy, ông ta đã cất bước tiến cuối cùng, ông ta đã dũng cảm vượt qua bờ vực thẳm, trong khi tôi lại hèn nhát rụt lại đôi chân đang ngập ngừng chới với. Và biết đâu chừng, toàn bộ sự khác biệt lại nằm ở ngay ranh giới mong manh đó; biết đâu mọi trí tuệ, mọi chân lý, mọi sự chân thành đều bị nén chặt vào khoảnh khắc không thể đong đếm ấy, khoảnh khắc ta bước chân qua ngưỡng cửa của thế giới vô hình. Có lẽ là thế thật! Tôi luôn tự huyễn hoặc bản thân rằng, lời trăn trối của mình sẽ không bao giờ là một ngôn từ khinh bạc dửng dưng. Tiếng kêu cứu của ông ta dẫu sao cũng tốt hơn-tốt hơn gấp vạn lần. Đó là một lời khẳng định đanh thép, một chiến thắng vang dội của đạo đức, dẫu phải đánh đổi bằng muôn trùng thất bại, bằng vô vàn nỗi kinh hoàng rợn gáy, bằng những sự thỏa mãn nhục dục đáng ghê tởm. Nhưng sau cùng, đó vẫn là một chiến thắng! Chính vì lẽ đó, tôi vẫn giữ trọn lòng trung thành với Kurtz cho đến tận phút cuối cùng, và thậm chí mãi mãi về sau. Khi rất lâu sau này, tôi lại loáng thoáng nghe thấy-không phải chính giọng nói thực sự của ông-mà là âm vang dội lại từ tài hùng biện kiệt xuất của ông, vọng về phía tôi từ một tâm hồn trong trẻo tựa vách đá pha lê.

"Không, bọn họ đã chẳng kịp chôn tôi, dù có một khoảng thời gian tôi chỉ nhớ được lờ mờ, đi kèm là một nỗi kinh ngạc rùng mình. Nó giống hệt như một cuộc hành trình lướt qua thế giới vô thực, nơi chẳng hề tồn tại thứ gọi là hy vọng hay khát khao. Tôi thấy mình lê bước trở lại cái thành phố trông hệt như một bãi tha ma ấy, trong lòng sục sôi sự phẫn nộ trước cảnh người đời hối hả chen chúc trên đường chỉ để rình rập lừa lọc của nhau vài đồng bạc lẻ. Bọn họ ngấu nghiến những món ăn tồi tàn, nốc ừng ực những cốc bia độc hại, chỉ để nuôi dưỡng những giấc mộng con con, ngớ ngẩn. Họ đã ngang nhiên xâm phạm vào tâm trí tôi. Bọn họ đích thị là những kẻ xâm nhập trái phép, mà thứ triết lý sống của họ đối với tôi chỉ là một màn kịch giả tạo gây bực dọc. Bởi tôi biết chắc một điều: bọn họ sẽ chẳng bao giờ thấu được những gì tôi đã tận mắt chứng kiến. Dáng vẻ của đám người ấy-thứ dáng vẻ tất bật, lo toan của những kẻ tầm thường được bao bọc trong sự an toàn tuyệt đối-với tôi, nó chướng mắt tựa như lời huênh hoang trơ trẽn của một kẻ ngu muội đang đứng trước mối hiểm nguy tột cùng mà bản thân hắn chẳng mảy may hay biết. Tôi chẳng hề ôm mộng phải khai sáng cho họ, nhưng quả thực, tôi đã phải cố gồng mình để khỏi bật cười vào những khuôn mặt vênh váo ngốc nghếch ấy. Tôi đồ rằng, dạo đó tâm trí tôi có phần bất ổn. Tôi lảo đảo bước dọc con phố-dẫu còn cả đống chuyện phải lo liệu-miệng cười nhăn nhở một cách đầy mỉa mai vào mặt những quý ngài đáng kính. Tôi tự thú nhận hành vi của mình đúng là khó dung thứ, nhưng những ngày ấy, thân nhiệt tôi hiếm khi duy trì ở mức bình thường. Những nỗ lực của dì tôi nhằm 'bồi bổ sức khỏe' dường như đã hoàn toàn chệch hướng. Trí tưởng tượng của tôi mới là thứ cần được xoa dịu, chứ chẳng phải thể xác này. Tôi khư khư giữ chặt xấp tài liệu mà Kurtz giao lại, dẫu chẳng biết chính xác phải làm gì với nó. Nghe đâu mẹ ông vừa mới qua đời, vị hôn thê của ông đã túc trực chăm sóc bà những ngày cuối. Một ngày nọ, một gã đàn ông nhẵn nhụi, khoác trên mình dáng dấp của một viên công chức, mắt vắt cặp kính gọng vàng, tìm đến gõ cửa nhà tôi. Mở đầu bằng sự vòng vo, rồi sau đó chuyển sang nài nỉ đầy xảo quyệt, lão ta cố moi móc thứ mà lão gọi mỹ miều là 'những tài liệu quan trọng'. Tôi chẳng chút ngạc nhiên, bởi ngoài đó tôi cũng đã đôi co nảy lửa với viên quản lý về vấn đề này. Tôi từ chối giao nộp dù chỉ là một mẩu giấy rách từ gói đồ ấy, và tôi vẫn kiên định với lão đeo kính. Cuối cùng, lão ta giở giọng hăm dọa đầy ẩn ý, dõng dạc lập luận rằng Công ty có quyền sở hữu mọi thông tin về 'lãnh thổ' của mình. Lão ta lên giọng: 'Kiến thức của ngài Kurtz về những vùng đất chưa từng được khai phá chắc chắn phải vô cùng rộng lớn và độc đáo-nhờ vào trí tuệ kiệt xuất và cả những gian truân tồi tệ mà ngài ấy đã kinh qua: do đó-' Tôi dập tắt hy vọng của lão khi cam đoan rằng, kiến thức của ngài Kurtz, dù có vĩ đại đến đâu, cũng chẳng mảy may dính dáng đến các vấn đề thương mại hay hành chính. Lão liền đổi bài, lôi danh nghĩa khoa học ra làm bình phong: 'Sẽ là một tổn thất không thể đo đếm được nếu,' v.v... Tôi đành vứt cho lão bản báo cáo về việc 'Trấn áp Phong tục Man rợ,' phần tái bút đã được xé bỏ cẩn thận. Lão ta vồ lấy một cách hau háu, nhưng rốt cuộc lại hếch mũi, ném một cái nhìn đầy khinh bỉ. 'Đây chẳng phải là thứ chúng tôi có quyền kỳ vọng,' lão càu nhàu. 'Cũng đừng mong đợi thêm thứ gì khác,' tôi đáp trả. 'Chỉ toàn là thư từ cá nhân thôi.' Lão hậm hực rút lui, không quên ném lại lời đe dọa kiện cáo, và tôi cũng chẳng bao giờ gặp lại lão nữa; nhưng hai ngày sau, một gã khác, tự xưng là anh họ của Kurtz lại mò đến, lòng nóng như lửa đốt muốn nghe tường tận từng chi tiết về những giờ khắc cuối cùng của người anh em thân yêu. Trong lúc trò chuyện, hắn vô tình tiết lộ cho tôi biết Kurtz, về bản chất, là một nhạc sĩ vĩ đại. 'Đó mới là tố chất tạo nên một thành công khổng lồ,' gã đàn ông quả quyết-mà tôi đồ rằng lão là một tay chơi đại phong cầm, với mái tóc xám xõa dài quá nếp áo cáu bẩn. Tôi chẳng có lý do gì để hoài nghi lời lão; và cho đến tận ngày hôm nay, tôi vẫn không thể nói chắc Kurtz thực sự làm nghề gì, liệu ông có từng làm nghề gì chăng-và đâu mới là tài năng kiệt xuất nhất của ông. Tôi từng mặc định ông là một họa sĩ vẽ cho tòa soạn, hoặc một nhà báo có chút khiếu hội họa-nhưng ngay cả gã anh họ (người không ngừng hít thuốc lá bột6 sột soạt suốt buổi gặp mặt) cũng chẳng thể cho tôi một đáp án rõ ràng. Rằng ông là một bậc kỳ tài toàn năng-điều đó tôi đồng ý với lão già, người ngay sau đó đã hỉ mũi rõ to vào một chiếc khăn tay lớn bằng cotton, rồi ngượng nghịu rút lui với cái vẻ bối rối của tuổi già, tay cầm theo vài bức thư gia đình và dăm ba bản ghi chép vụn vặt. Cuối cùng, một tay nhà báo tò mò về số phận của 'người đồng nghiệp chí cốt' cũng tìm đến tận nơi. Vị khách này quả quyết với tôi rằng, chính trị 'theo phe bình dân' mới là mảnh đất thuộc về Kurtz. Hắn sở hữu một cặp chân mày rậm rạp, mái tóc cắt ngắn lởm chởm, đeo chiếc kính một tròng gắn trên dải ruy băng to bản, và, mở lòng đôi chút, hắn thú thật rằng Kurtz thực ra chẳng biết viết lách gì sất-'nhưng lạy trời! cái cách gã đó hùng biện mới tuyệt diệu làm sao. Cậu ta có thể khuấy động cả một biển người. Cậu ta có niềm tin-anh hiểu chứ?-cậu ta tràn đầy niềm tin. Cậu ta có thể khiến bản thân tin sái cổ vào bất cứ điều gì-bất cứ điều gì trên đời. Lẽ ra cậu ta đã trở thành một nhà lãnh đạo xuất chúng cho một đảng phái cực đoan.' 'Đảng phái nào?' tôi gặng hỏi. 'Bất kỳ đảng phái nào,' gã kia dửng dưng đáp. 'Cậu ta là một-một-kẻ cực đoan đích thực.' Tôi không thấy vậy sao? Tôi chỉ biết gật gù đồng ý. Rồi với một ánh mắt lóe lên sự tò mò tột độ, hắn gạn hỏi liệu tôi có biết, 'điều gì đã lôi kéo cậu ta ra tận ngoài đó không?' 'Có chứ,' tôi đáp gọn lỏn, rồi lập tức dí vào tay hắn Bản Báo Cáo lừng danh kia, cho phép hắn tùy ý xuất bản nếu thấy cần. Hắn lật lướt qua, miệng lầm bầm không ngớt, phán một câu xanh rờn 'cũng được đấy,' rồi vội vã rời đi cùng mớ chiến lợi phẩm của mình.

"Thế là cuối cùng, tôi bị bỏ lại với một xấp thư mỏng và bức chân dung của cô gái. Cô ấy khiến tôi ấn tượng bởi vẻ đẹp đằm thắm-hay đúng hơn, bởi một biểu cảm tuyệt mỹ. Tôi biết ánh mặt trời cũng có thể dối lừa, nhưng người ta vẫn cảm nhận được rằng chẳng có bất kỳ kỹ xảo ánh sáng hay tư thế bài trí nào lột tả trọn vẹn được sắc thái tinh tế của sự chân thực đọng trên những nét mặt ấy. Cô dường như luôn sẵn sàng lắng nghe mà chẳng hề giữ lại chút dè dặt nào trong tâm trí, không một mảy may hoài nghi, cũng chẳng màng nghĩ cho bản thân mình. Tôi tự nhủ rằng mình sẽ đích thân tìm đến và trao trả lại bức chân dung cùng những lá thư kia cho cô. Vì tò mò chăng? Có lẽ thế; và cũng có thể còn bởi một thứ xúc cảm nào khác nữa. Mọi thứ từng thuộc về Kurtz đều đã tuột khỏi tay tôi: linh hồn ông, thân xác ông, trạm thu mua của ông, những kế hoạch mưu đồ, những khối ngà voi và cả sự nghiệp của ông. Giờ đây, chỉ còn trơ lại ký ức về ông và vị hôn thê của ông-và theo một cách nào đó, tôi cũng muốn trao trả nốt điều ấy về lại quá khứ-để tự tay giao nộp tất cả những gì còn sót lại của ông đang ở bên tôi cho sự lãng quên, như một tiếng nói cuối cùng về số phận chung của chúng ta. Tôi không có ý định bào chữa cho bản thân. Tôi cũng chẳng nhận thức rõ ràng về điều mình thực sự muốn. Có lẽ đó là sự thôi thúc của một lòng trung thành vô thức, hay sự an bài của một trong những tất yếu trớ trêu luôn rình rập giữa muôn vàn biến cố trong kiếp nhân sinh. Tôi không rõ nữa. Tôi không thể nói chắc được. Nhưng tôi đã bước đi.

"Tôi cứ ngỡ ký ức về ông cũng sẽ giống như những ký ức khác về những người đã khuất dần tích tụ trong cuộc đời của mỗi con người-một dấu vết lờ mờ in hằn trong tâm trí về những cái bóng đã lướt qua ta trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và định mệnh; thế nhưng, khi đứng trước cánh cửa cao lớn và nặng nề, nằm lọt thỏm giữa những tòa nhà đồ sộ trên một con phố tĩnh lặng và trang nghiêm tựa như lối đi được cắt tỉa cẩn thận trong nghĩa trang, tôi chợt thấy lại hình bóng ông trên chiếc cáng nọ. Cái miệng ông há rộng ngấu nghiến, như thể chực chờ nuốt trọn cả thế giới và toàn bộ nhân loại. Ông lại sống dậy trước mắt tôi; ông hiện hình rõ rệt như cách ông từng sống-một cái bóng vĩnh viễn không bao giờ thỏa mãn với những lớp vỏ bọc hào nhoáng hay những thực tại kinh hoàng; một cái bóng còn tăm tối hơn cả màn đêm, kiêu hãnh khoác lên mình những nếp gấp của thứ nghệ thuật hùng biện hoa mỹ. Ảo ảnh ấy dường như cùng tôi bước vào căn nhà-chiếc cáng, những bóng ma khiêng cáng, đám đông cuồng tín của những kẻ phục tùng ngoan ngoãn, sự u ám của chốn rừng sâu, ánh lấp lánh của đoạn sông giữa những khúc quanh mờ đục, và nhịp trống, nhịp trống đều đặn trầm đục như nhịp đập của một trái tim-trái tim của một cõi tối tăm đầy quyền uy chinh phục. Đó là khoảnh khắc chiến thắng dành cho vùng hoang dã, một cuộc đổ bộ nhuốm màu hận thù, mà đối với tôi, tôi dường như phải đơn độc chống chọi chỉ để cứu rỗi một linh hồn khác. Và rồi, ký ức về những lời tôi nghe ông nói vọng lại từ xa xăm, quyện cùng những hình bóng sừng sững di chuyển đằng sau trong ánh lửa bập bùng, giữa khu rừng tĩnh lặng kiên nhẫn; những cụm từ đứt đoạn ấy lại dội về, vang lên với sự giản đơn đầy đe dọa và rùng rợn. Tôi nhớ lại những lời nài nỉ thảm thiết, những lời đe dọa thê lương của ông, quy mô khổng lồ của những dục vọng đê hèn, sự hèn mọn, nỗi dằn vặt, và cả cơn thống khổ bão táp quặn thắt trong tâm hồn ông. Và sau đó, tôi dường như lại thấy điệu bộ uể oải điềm tĩnh của ông, như cái ngày ông thốt lên: 'Đống ngà voi này giờ thực sự là của tôi. Công ty không hề trả tiền cho nó. Tôi đã tự mình thu thập nó bằng một rủi ro cá nhân vô cùng lớn. Tôi e rằng họ sẽ cố cướp lấy nó làm của riêng. Hừm. Thật là một tình thế khó khăn. Anh nghĩ tôi nên làm gì-chống trả chứ? Hả? Tôi chẳng mong gì hơn ngoài sự công bằng.'... Ông chẳng mong gì hơn ngoài sự công bằng-không gì hơn ngoài sự công bằng. Tôi bấm chuông trước cánh cửa gỗ gụ trên tầng một, và trong lúc đứng chờ, ông dường như đang trừng trừng nhìn tôi xuyên qua tấm kính-bằng cái nhìn sâu hoắm và bao la ấy, cái nhìn ôm trọn, kết án, và căm hờn cả vũ trụ. Tôi dường như nghe thấy tiếng thì thầm vang vọng: 'Kinh hoàng thay! Kinh hoàng thay!'

"Trời đang sầm tối. Tôi phải ngồi đợi trong một căn phòng khách có trần cao với ba ô cửa sổ kéo dài từ sàn lên tận trần nhà, trông tựa như ba chiếc cột lấp lánh được rủ rèm. Những chiếc chân và tựa lưng mạ vàng uốn cong của đồ nội thất tỏa ra ánh sáng mờ ảo. Lò sưởi bằng đá cẩm thạch vươn cao ngất mang một sắc trắng đồ sộ và lạnh lẽo. Một cây đại dương cầm khổng lồ sừng sững ở một góc; bề mặt phẳng lặng của nó hắt lên những tia sáng tối tăm, hệt như một cỗ quan tài được đánh bóng đầy u sầu. Một cánh cửa cao mở ra-rồi khép lại. Tôi đứng dậy.

"Cô bước tới, toàn thân vận đồ đen, với mái đầu nhợt nhạt, bồng bềnh lướt về phía tôi trong bóng hoàng hôn. Cô đang mặc tang phục. Đã hơn một năm trôi qua kể từ cái chết của ông, hơn một năm kể từ khi hung tin truyền đến; nhưng dường như cô muốn ghi nhớ và để tang ông mãi mãi. Cô nắm lấy cả hai tay tôi và thì thầm: 'Tôi có nghe nói anh sẽ đến.' Tôi nhận ra cô không còn quá trẻ-ý tôi là cô không còn mang vẻ rạng rỡ của một thiếu nữ. Cô chất chứa một dung lượng trưởng thành dành cho lòng thủy chung, cho niềm tin, và cho cả sự chịu đựng. Căn phòng dường như chìm vào bóng tối sâu hơn, như thể mọi tia sáng buồn bã của buổi chiều vương mây đều đậu lại trên vầng trán cô. Mái tóc vàng óng, khuôn mặt nhợt nhạt, và vầng trán thanh khiết ấy dường như được bao bọc bởi một quầng sáng màu tro, từ đó đôi mắt sẫm màu ngước nhìn tôi. Ánh mắt cô ngây thơ, sâu thẳm, đầy tự tin và ngập tràn niềm tin cậy. Cô mang vác nỗi buồn bã hệt như thể cô tự hào về sự đau thương ấy, như thể đang muốn thốt lên: 'Tôi-chỉ mình tôi mới biết cách để tang ông ấy sao cho xứng đáng.' Nhưng khi chúng tôi vẫn đang nắm tay nhau, một nét hoang tàn kinh khủng thoáng lướt qua khuôn mặt cô, khiến tôi nhận ra cô là một trong những sinh thể không bị thời gian đùa bỡn. Đối với cô, ông dường như mới vừa nằm xuống ngày hôm qua. Và, lạy Chúa! ấn tượng đó mạnh mẽ đến mức, đối với tôi, ông dường như cũng chỉ mới nhắm mắt hôm qua-không, ngay phút giây này đây. Tôi nhìn thấy cô và ông trong cùng một khoảnh khắc-cái chết của ông và nỗi đau của cô-tôi nhìn thấy nỗi đau thấu tận tâm can của cô ngay trong chính giây phút ông trút hơi thở cuối cùng. Anh có hiểu không? Tôi đã nhìn thấy họ đi cùng nhau-tôi đã nghe thấy họ hòa làm một. Bằng một tiếng nấc nghẹn ngào, cô vừa cất giọng: 'Tôi vẫn sống sót,' trong khi đôi tai căng mọng của tôi dường như vẫn nghe rõ mồn một-xen lẫn với giọng điệu nuối tiếc tuyệt vọng của cô-tiếng thì thầm đúc kết bản án vĩnh hằng của ông. Tôi tự hỏi mình đang làm cái quái gì ở đây, mang theo một nỗi hoảng loạn dâng lên trong lồng ngực, như thể tôi vừa bước nhầm vào một chốn chứa đầy những bí ẩn tàn nhẫn và lố bịch, không dành cho sự chứng kiến của con người. Cô ra hiệu mời tôi ngồi. Chúng tôi cùng ngồi xuống. Tôi nhẹ nhàng đặt gói đồ lên chiếc bàn nhỏ, và cô đặt tay lên đó.... 'Anh biết rất rõ về ông ấy,' cô thì thầm, sau một khoảnh khắc tĩnh lặng tang thương.

"'Ngoài đó, sự thân thiết nảy nở rất nhanh,' tôi đáp lời. 'Tôi hiểu ông ấy ở mức độ sâu sắc nhất mà một người đàn ông có thể thấu hiểu một người đàn ông khác.'

"'Và anh ngưỡng mộ ông ấy,' cô nói. 'Không ai quen biết ông ấy mà lại không đem lòng ngưỡng mộ. Có đúng vậy không?'

"'Ông ấy là một con người xuất chúng,' tôi ngập ngừng lên tiếng. Rồi trước ánh mắt chăm chú khẩn khoản của cô, dường như đang khao khát những lời lẽ khác cất lên từ môi tôi, tôi nói tiếp: 'Thật không thể không-'

"'Yêu ông ấy,' cô háo hức điền nốt câu nói, khiến tôi chết lặng trong nỗi bàng hoàng. 'Thật đúng làm sao! Thật đúng! Nhưng anh nghĩ xem, làm gì có ai hiểu ông ấy bằng tôi! Tôi đã có trọn vẹn mọi niềm tin cao quý của ông ấy. Tôi là người hiểu ông ấy nhất.'

"'Cô hiểu ông ấy nhất,' tôi lặp lại. Và có lẽ cô đã đúng. Nhưng sau mỗi từ được thốt ra, căn phòng lại như chìm sâu hơn vào tăm tối, và chỉ còn vầng trán cô, nhẵn nhụi và trắng bóc, vẫn được thắp sáng bởi thứ ánh sáng rực rỡ không thể dập tắt của niềm tin và tình yêu.

"'Anh là bạn của ông ấy,' cô nói tiếp. 'Bạn của ông ấy,' cô nhắc lại, giọng cao hơn một chút. 'Hẳn là vậy, nếu không ông ấy đã chẳng giao cho anh thứ này và cử anh đến gặp tôi. Tôi cảm thấy mình có thể giãi bày cùng anh-và ôi! tôi phải nói ra. Tôi muốn anh-người đã nghe những lời trăng trối của ông ấy-biết rằng tôi đã sống xứng đáng với ông ấy.... Đó không phải là sự tự kiêu.... Vâng! Tôi tự hào khi biết rằng tôi thấu hiểu ông ấy hơn bất kỳ ai trên cõi đời này-chính ông ấy đã nói với tôi như vậy. Và từ khi mẹ ông mất, tôi chẳng còn ai-chẳng còn một ai-để-để-'

"Tôi ngồi im lắng nghe. Bóng tối ngày càng đặc quánh. Tôi thậm chí không còn dám chắc liệu ông có đưa đúng bó tài liệu cho tôi hay không. Tôi thà tin rằng ông muốn tôi giữ một tập tài liệu khác, thứ mà sau khi ông mất, tôi thấy gã quản lý đang lén lút xem xét dưới ánh đèn. Và cô gái cứ thế tiếp lời, tìm kiếm sự xoa dịu nỗi đau trong niềm tin chắc chắn vào lòng cảm thông của tôi; cô nói như một kẻ khát khao dòng nước mát. Tôi từng nghe phong thanh rằng việc cô đính hôn với Kurtz bị gia đình kịch liệt phản đối. Ông không đủ giàu có hay đại loại thế. Và thực sự tôi cũng không rõ liệu có phải ông đã sống một cuộc đời bần hàn hay không. Ông đã cho tôi một số lý do để mường tượng ra rằng, chính sự bất mãn trước cảnh nghèo túng tương đối đã đẩy ông trôi dạt ra ngoài đó.

"'... Ai từng nghe ông ấy nói một lần mà lại không trở thành bạn của ông ấy cơ chứ?' cô nói. 'Ông ấy lôi cuốn mọi người đến bên mình bằng những gì tốt đẹp nhất ngự trị trong họ.' Cô nhìn tôi bằng ánh mắt mãnh liệt. 'Đó là món quà của một nhân cách vĩ đại,' cô tiếp tục, và âm sắc trầm ấm từ giọng nói của cô dường như được đệm thêm bởi muôn vàn âm thanh khác, đầy rẫy sự bí ẩn, hoang vắng, và nỗi u buồn mà tôi từng nghe-tiếng nước vỗ bờ của dòng sông, tiếng rì rào của rặng cây oằn mình trong gió, tiếng rầm rì của đám đông, tiếng vang mờ nhạt của những lời lẽ khó hiểu kêu gào từ xa xăm, và tiếng thì thầm của một giọng nói cất lên từ ngưỡng cửa của màn đêm vĩnh cửu. 'Nhưng anh đã nghe thấy ông ấy! Anh biết mà!' cô bật khóc nức nở.

"'Vâng, tôi biết,' tôi đáp lại với một cảm giác gần như tuyệt vọng chẹn ngang lồng ngực, nhưng vẫn cúi đầu trước niềm tin thiêng liêng ở trong cô, trước ảo ảnh vĩ đại mang tính cứu rỗi đang tỏa sáng kỳ lạ giữa màn đêm, trong thứ bóng tối chiến thắng mà tôi không tài nào bảo vệ cô khỏi nó-thứ bóng tối mà ngay cả bản thân mình tôi cũng chẳng thể chở che.

"'Thật là một sự mất mát lớn lao đối với tôi-đối với chúng ta!'-cô sửa lời bằng một sự hào hiệp tuyệt đẹp; rồi thì thầm thêm: 'Và đối với cả thế giới.' Nhờ những tia hoàng hôn thoi thóp, tôi có thể thấy ánh lấp lánh ngấn lệ trong mắt cô-những giọt nước mắt kiên quyết không chịu tuôn rơi.

"'Tôi đã từng rất hạnh phúc-rất may mắn-rất tự hào,' cô nói tiếp. 'Quá đỗi may mắn. Quá đỗi hạnh phúc trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Và giờ đây, tôi phải gánh chịu sự bất hạnh cả-cả một đời.'

"Cô đứng dậy; mái tóc vàng óng của cô dường như đang gom nhặt mọi chút ánh sáng còn sót lại để dệt nên một vầng hào quang lấp lánh. Tôi cũng đứng lên theo.

"'Và từ tất cả những điều này,' cô tiếp tục trong đau khổ, 'từ tất cả những lời hứa hẹn, tất cả sự vĩ đại, trí tuệ hào hiệp, và trái tim cao thượng của ông ấy, chẳng còn lại gì-không còn gì ngoài một ký ức. Anh và tôi-'

"'Chúng ta sẽ mãi luôn nhớ về ông ấy,' tôi vội vàng tiếp lời.

"'Không!' cô bật khóc. 'Thật không thể nào mọi thứ lại tàn lụi đi như thế-một cuộc đời vĩ đại như vậy lại phải hy sinh để rồi chẳng để lại gì-ngoài sự khổ đau. Anh biết những kế hoạch lớn lao mà ông ấy ấp ủ. Tôi cũng biết chúng-có thể tôi không hiểu hết-nhưng nhiều người khác cũng biết. Phải có thứ gì đó còn lại chứ. Ít nhất là những lời nói của ông ấy không thể nào chết đi.'

"'Những lời nói của ông ấy sẽ còn mãi,' tôi nói.

"'Và cả tấm gương của ông ấy,' cô tự thì thầm với chính mình. 'Mọi người đã luôn kính trọng ông ấy-sự tử tế của ông tỏa sáng rạng ngời trong từng hành động. Tấm gương của ông ấy-'

"'Đúng vậy,' tôi nói; 'cả tấm gương của ông ấy nữa. Đúng, tấm gương của ông ấy. Tôi đã quên mất điều đó.'

"'Nhưng tôi thì không. Tôi không thể-tôi không thể tin-chưa phải lúc này. Tôi không thể tin rằng tôi sẽ không bao giờ được nhìn thấy ông ấy nữa, rằng không một ai có thể nhìn thấy ông ấy nữa, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ.'

"Cô vươn tay ra như thể đang tuyệt vọng cố níu lấy một bóng hình vừa lùi xa, dang rộng cánh tay và đan chặt đôi bàn tay nhợt nhạt qua ánh sáng mờ dần từ khung cửa sổ hẹp. Không bao giờ nhìn thấy ông! Ngay lúc đó, tôi đã thấy ông ấy quá đỗi rõ ràng. Tôi sẽ còn nhìn thấy ảo ảnh hùng biện này chừng nào tôi còn sống, và tôi cũng sẽ thấy cô, một Cái Bóng bi tráng và thân thuộc, ở cử chỉ này lại gợi nhớ đến một bóng ma khác, cũng nhuốm màu bi kịch, tô điểm bằng những thứ bùa ngải vô dụng, đang giương đôi tay trần rám nắng trên mặt dòng sông địa ngục lấp lánh, dòng sông của bóng tối. Bất chợt, cô cất giọng thật khẽ: 'Ông ấy đã chết đúng như cách ông đã sống.'

"'Cái kết của ông ấy,' tôi nói, với một cơn giận âm ỉ đang cựa quậy trong huyết quản, 'về mọi mặt đều hoàn toàn xứng đáng với cuộc đời của ông.'

"'Và tôi đã không ở bên ông ấy,' cô thì thầm. Cơn giận của tôi bỗng chốc lắng xuống trước một niềm thương cảm vô bờ bến.

"'Mọi thứ có thể làm-' tôi lầm bầm.

"'À, nhưng tôi đã tin vào ông ấy hơn bất cứ ai trên cõi đời này-hơn cả mẹ đẻ ông, hơn cả-chính bản thân ông ấy. Ông ấy cần tôi! Tôi! Tôi lẽ ra đã phải trân trọng từng tiếng thở dài, từng lời nói, từng cử chỉ, từng ánh nhìn.'

"Tôi cảm thấy như có một bàn tay lạnh lẽo bóp nghẹt lồng ngực mình. 'Đừng,' tôi nói, với giọng nghẹn đắng.

"'Xin hãy tha thứ cho tôi. Tôi-tôi đã để tang quá lâu trong im lặng-trong sự câm lặng tột cùng.... Anh đã ở bên ông ấy-đến tận giây phút cuối cùng ư? Tôi nghĩ về sự cô độc của ông ấy. Chẳng có ai bên cạnh hiểu ông ấy như cách tôi đã thấu hiểu. Có lẽ cũng chẳng có ai để lắng nghe....'

"'Đến tận phút cuối,' tôi run rẩy đáp lời. 'Tôi đã nghe thấy những lời trăng trối cuối cùng của ông ấy....' Tôi dừng lại trong nỗi kinh sợ.

"'Xin hãy nhắc lại chúng đi,' cô thì thầm bằng một chất giọng xé lòng. 'Tôi muốn-tôi muốn-điều gì đó-điều gì đó-để-để sống cùng.'

"Tôi suýt buột miệng gắt lên với cô: 'Cô không nghe thấy sao?' Bóng tối của buổi hoàng hôn đang lặp lại những lời ấy qua một tiếng thì thầm dai dẳng bủa vây quanh chúng tôi, trong một âm thanh dường như phình to đầy đe dọa như tiếng rít đầu tiên của một cơn gió vừa nổi lên. 'Kinh hoàng thay! Kinh hoàng thay!'

"'Lời cuối cùng của ông ấy-để sống cùng,' cô khăng khăng nài nỉ. 'Anh không hiểu sao, tôi yêu ông ấy-tôi yêu ông ấy-tôi yêu ông ấy!'

"Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh và nói từng lời chậm rãi.

"'Từ cuối cùng mà ông ấy thốt lên là-tên của cô.'

"Tôi nghe thấy một tiếng thở dài nhẹ bẫng, và rồi tim tôi ngừng đập, chết lặng trước một tiếng khóc hân hoan và khủng khiếp, tiếng khóc của một sự đắc thắng vượt ngoài sức tưởng tượng và một nỗi đau không lời nào diễn tả xiết. 'Tôi biết mà-tôi chắc chắn vậy!'... Cô đã biết. Cô đã chắc chắn. Tôi nghe tiếng cô nức nở; cô gục mặt vào đôi bàn tay. Đối với tôi, dường như ngôi nhà này sẽ sụp đổ trước khi tôi kịp trốn thoát, rằng bầu trời kia sẽ giáng thẳng xuống đầu tôi. Nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Bầu trời không sụp đổ chỉ vì những chuyện vặt vãnh như thế. Liệu chúng có sụp đổ không, tôi tự hỏi, nếu tôi đã trả cho Kurtz sự công bằng vốn thuộc về ông? Chẳng phải ông đã từng nói rằng ông chỉ mong mỏi sự công bằng sao? Nhưng tôi không thể. Tôi không thể nói cho cô ấy biết sự thật. Điều đó sẽ quá đỗi tăm tối-hoàn toàn quá tăm tối...."

Marlow ngừng lời, và ngồi thinh lặng sang một bên, lờ mờ như một bóng mây, trong tư thế của một vị Phật đang tọa thiền7. Không một ai cựa quậy trong thoáng chốc. "Chúng ta đã bỏ lỡ đợt thủy triều rút đầu tiên," viên Giám đốc chợt lên tiếng. Tôi ngẩng đầu lên. Phía chân trời bị chặn đứng bởi một dải mây đen kịt, và con đường thủy tĩnh lặng dẫn đến những vùng xa xôi nhất của trái đất chảy âm u dưới một bầu trời xám xịt-dường như đang dẫn thẳng vào trái tim của một bóng tối bao la.



  1. Tên 'Kurtz' trong tiếng Đức mang nghĩa là 'ngắn' (kurz). Chi tiết này là một sự mỉa mai chua chát về hình hài thực tế cao lêu nghêu (bảy feet) của ông ta, cũng như sự sụp đổ nhanh chóng của những tham vọng vĩ cuồng. 

  2. Jupiter là chúa tể các vị thần và thần sấm sét trong thần thoại La Mã. Tác giả ví súng đạn hiện đại của Kurtz như 'những tia sét', mỉa mai việc ông ta tự phong mình thành thần thánh cai trị thổ dân bản địa. 

  3. Martini-Henry là loại súng trường nạp đạn bằng khóa nòng, từng là vũ khí tiêu chuẩn của quân đội Đế quốc Anh vào cuối thế kỷ 19, thường được sử dụng trong các cuộc chiến tranh thuộc địa. 

  4. Winchester là một loại súng trường lặp đạn bằng đòn bẩy nổi tiếng của Mỹ, rất phổ biến vào cuối thế kỷ 19. 

  5. Từ mượn tiếng Pháp (affaire), thường dùng để chỉ một phi vụ làm ăn, giao dịch thương mại, đôi khi mang sắc thái mờ ám hoặc trục lợi. 

  6. Thuốc lá bột (snuff) là loại thuốc lá được nghiền mịn để hít trực tiếp qua đường mũi, một thói quen rất phổ biến của giới trung lưu và thượng lưu châu Âu thế kỷ 19. 

  7. Hình ảnh lặp lại xuyên suốt tác phẩm, ví Marlow như một nhà hiền triết phương Đông đang chiêm nghiệm về những chân lý tăm tối của nhân loại, tương phản với bối cảnh bạo lực và lòng tham của chủ nghĩa thực dân.