1. NỖI KINH HOÀNG BẰNG ĐẤT SÉT

Điều nhân từ nhất trên thế gian này, tôi nghĩ, chính là việc tâm trí con người không thể liên kết mọi thứ nó chứa đựng. Ta đang sống trên một hòn đảo bình yên giữa biển đen vô tận, và ngay từ thuở ban sơ, tạo hóa vốn không định cho ta phiêu lưu quá xa. Khoa học, mỗi ngành mải miết theo đuổi một hướng riêng, cho đến nay vẫn chưa gây hại cho ta là bao. Nhưng rồi sẽ có một ngày, việc chắp nối những mảnh tri thức rời rạc ấy lại với nhau sẽ mở toang ra những viễn cảnh thực tại kinh hoàng, phơi bày vị trí khủng khiếp của chúng ta trong đó - đến nỗi ta hoặc sẽ phát điên trước khám phá ấy, hoặc sẽ chạy trốn khỏi thứ ánh sáng chết chóc kia, tìm về sự bình yên và an toàn của một thời kỳ đen tối mới.

Các nhà Thông thiên học1 từng suy đoán về sự vĩ đại đáng kinh ngạc của những chu kỳ vũ trụ - nơi mà thế giới cùng toàn bộ nền văn minh nhân loại chỉ là những biến cố thoáng qua. Họ đã bóng gió về những thực thể sinh tồn kỳ lạ bằng thứ ngôn từ có thể làm đông cứng máu, nếu như nó không được che đậy bởi một thứ lạc quan giả tạo. Nhưng không phải từ họ mà tôi có được cái nhìn thoáng qua duy nhất về những kỷ nguyên cấm kỵ - cái nhìn khiến tôi ớn lạnh mỗi khi nghĩ đến, và phát điên mỗi khi nó xuất hiện trong giấc mơ. Cảnh tượng thoáng qua ấy, giống như mọi cái nhìn kinh hoàng khác về sự thật, đã lóe lên từ việc vô tình chắp vá những mảnh rời rạc lại với nhau - mà trong trường hợp này, là một mẩu tin trên tờ báo cũ cùng với những ghi chép của một vị giáo sư đã khuất. Tôi hy vọng rằng sẽ không có ai khác thực hiện việc chắp vá này. Chắc chắn rồi, nếu tôi còn sống, tôi sẽ không bao giờ chủ tâm cung cấp thêm bất kỳ mắt xích nào vào một chuỗi xích đáng sợ như thế. Tôi nghĩ rằng vị giáo sư cũng đã có ý định giữ im lặng về phần mà ông biết - và hẳn là ông đã tiêu hủy những ghi chép của mình, nếu như cái chết không đột ngột ập đến.

Sự hiểu biết của tôi về sự việc này bắt đầu vào mùa đông năm 1926-27, với cái chết của ông chú của tôi - George Gammell Angell, Giáo sư Danh dự về Ngôn ngữ Semitic2 tại Đại học Brown, Providence, Rhode Island.3 Giáo sư Angell nổi tiếng rộng rãi như một chuyên gia về các bản khắc cổ, và ông thường xuyên được các giám đốc của những bảo tàng danh tiếng tìm đến thỉnh giáo. Vì thế, sự ra đi của ông ở tuổi chín mươi hai hẳn đã được nhiều người nhớ đến. Ngay tại địa phương, mối quan tâm càng dâng cao bởi chính nguyên nhân cái chết đầy mờ ám. Giáo sư đã bị đột quỵ trong lúc đang trên đường trở về từ chuyến tàu Newport. Ông ngã xuống đột ngột - như lời các nhân chứng kể lại - sau khi bị một gã da đen trông như thủy thủ xô đẩy. Gã này chui ra từ một trong những khoảng sân tối tăm và kỳ dị nằm trên sườn đồi dốc đứng, vốn là lối đi tắt từ bến cảng dẫn đến ngôi nhà của người quá cố trên phố Williams. Các bác sĩ không thể tìm ra bất kỳ tổn thương nào có thể nhìn thấy, nhưng sau một hồi tranh luận bối rối, họ kết luận rằng một tổn thương ngầm nào đó ở tim - gây ra bởi việc leo lên ngọn đồi quá dốc của một người cao tuổi như vậy - chính là nguyên nhân dẫn đến cái chết. Vào thời điểm đó, tôi không thấy có lý do gì để phản đối phán quyết ấy. Nhưng gần đây, tôi bắt đầu thắc mắc - và còn hơn cả thắc mắc.

Với tư cách là người thừa kế kiêm người thi hành di chúc của ông chú - vì ông mất đi mà không có con cái - tôi được giao nhiệm vụ xem xét cẩn thận toàn bộ giấy tờ của ông. Vì mục đích đó, tôi đã chuyển tất cả hồ sơ và hộp đựng của ông về nơi ở của mình tại Boston. Phần lớn tài liệu mà tôi tổng hợp được sẽ do Hiệp hội Khảo cổ học Hoa Kỳ công bố sau này. Nhưng có một chiếc hộp khiến tôi vô cùng khó hiểu, và tôi cảm thấy rất không muốn cho người khác xem. Nó đã bị khóa, và tôi không thể tìm thấy chìa khóa - cho đến khi tôi nghĩ đến việc kiểm tra chùm chìa khóa cá nhân mà giáo sư luôn mang theo trong túi. Rồi thì, tôi đã thực sự thành công trong việc mở nó ra. Nhưng khi làm thế, dường như tôi chỉ đang đối mặt với một chướng ngại vật còn lớn hơn và bị khóa chặt hơn mà thôi. Bởi vì, đâu là ý nghĩa của bức phù điêu bằng đất sét kỳ lạ, cùng với những ghi chép, những dòng chữ ngoệch ngoạc và những mẩu giấy cắt rời rời rạc mà tôi tìm thấy? Phải chăng ông chú, trong những năm tháng cuối đời, đã trở nên nhẹ dạ cả tin trước những trò lừa đảo hời hợt nhất? Tôi quyết định tìm cho ra kẻ điêu khắc kỳ quặc đã chịu trách nhiệm cho việc rõ ràng là đã quấy rầy sự bình yên trong tâm trí của một ông lão.

Bức phù điêu là một hình chữ nhật thô ráp, dày chưa tới một inch và có diện tích khoảng năm nhân sáu inch. Nó rõ ràng có nguồn gốc hiện đại. Tuy nhiên, các hoa văn trên đó lại khác xa với sự hiện đại về cả không khí lẫn ý nghĩa. Bởi vì, dù những ý tưởng bất chợt của trường phái lập thể và vị lai4 có rất nhiều và hoang dại, chúng hiếm khi tái hiện lại được sự đều đặn bí ẩn vốn ẩn nấp trong những văn tự thời tiền sử. Và phần lớn những hoa văn này dường như chắc chắn là một loại chữ viết nào đó. Dẫu vậy, trí nhớ của tôi - bất chấp việc rất quen thuộc với các giấy tờ và bộ sưu tập của ông chú - hoàn toàn không thể nhận diện được loại chữ viết cụ thể này, thậm chí cũng không thể gợi ra dù chỉ là những mối liên hệ xa xôi nhất của nó.

Phía trên những ký tự có vẻ như là chữ tượng hình này, là một hình vẽ rõ ràng mang mục đích minh họa - mặc dù cách thực hiện theo trường phái ấn tượng của nó đã ngăn cản việc hình thành một ý tưởng thực sự rõ ràng về bản chất của nó. Nó dường như là một loại quái vật, hoặc một biểu tượng đại diện cho một con quái vật, mang một hình hài mà chỉ có trí tưởng tượng bệnh hoạn mới có thể nghĩ ra. Nếu tôi nói rằng trí tưởng tượng có phần phóng đại của tôi đã đồng thời gợi lên hình ảnh của một con bạch tuộc, một con rồng và một bức tranh biếm họa về con người, thì tôi sẽ không phản bội lại tinh thần của thứ đó. Một cái đầu mềm nhũn, đầy xúc tu, ngự trị trên một thân hình kỳ cục, phủ đầy vảy cùng những đôi cánh chưa phát triển hoàn thiện. Nhưng chính đường nét tổng thể của toàn bộ thứ đó mới làm cho nó trở nên đáng sợ đến kinh hoàng. Đằng sau hình vẽ, là một sự gợi ý mơ hồ về một bối cảnh kiến trúc kiểu Cyclopean.5

Chữ viết đi kèm với món đồ kỳ lạ này - ngoại trừ một xấp những mẩu báo cắt ra - đều là nét chữ gần đây nhất của Giáo sư Angell, và chẳng hề giả vờ mang phong cách văn chương. Phần có vẻ như là tài liệu chính được đặt tiêu đề "GIÁO PHÁI CTHULHU" bằng những ký tự in cẩn thận, nhằm tránh việc đọc sai một từ ngữ quá đỗi lạ lẫm. Bản thảo này được chia thành hai phần. Phần đầu mang tiêu đề: "1925 - Giấc mơ và Tác phẩm trong Mơ của H. A. Wilcox, 7 Thomas St., Providence, R. I." Phần thứ hai: "Lời kể của Thanh tra John R. Legrasse, 121 Bienville St., New Orleans, La., tại Cuộc họp A. A. S. năm 1908 - Ghi chú về cùng một vấn đề, & Tường thuật của Giáo sư Webb." Những tờ bản thảo khác đều là những ghi chép ngắn gọn. Một số là lời kể về những giấc mơ kỳ lạ của nhiều người khác nhau. Một số là những đoạn trích dẫn từ các sách và tạp chí Thông thiên học - đáng chú ý là cuốn Atlantis and the Lost Lemuria của W. Scott-Eliott6. Phần còn lại là những bình luận về các hội kín đã tồn tại từ lâu và những giáo phái ẩn dật, cùng với các tham chiếu đến những đoạn văn trong các cuốn sách nguồn về thần thoại và nhân chủng học, như Golden Bough của Frazer7Witch-Cult in Western Europe của cô Murray8. Những mẩu báo cắt ra phần lớn đều ám chỉ đến những căn bệnh tâm thần kỳ quặc, cùng những vụ bùng phát điên loạn hoặc cuồng loạn tập thể vào mùa xuân năm 1925.


Nửa đầu bản thảo của ông chú thuật lại một câu chuyện hết sức kỳ quái. Dường như vào ngày mồng 1 tháng Ba năm 1925, có một thanh niên gầy gò, nước da sạm đen, gương mặt hằn lên vẻ căng thẳng đến kiệt quệ thần kinh, đã tìm đến gặp Giáo sư Angell, trên tay mang theo một bức phù điêu bằng đất sét kỳ dị - lúc ấy vẫn còn ươn ướt và còn thơm mùi đất mới nhào. Tấm danh thiếp của anh ta đề tên Henry Anthony Wilcox, và ông chú tôi nhận ra đó chính là con trai út của một gia đình gia giáo mà ông có đôi chút quen biết. Cậu con trai ấy gần đây đang theo học ngành điêu khắc tại Trường Thiết kế Rhode Island và sống đơn độc tại tòa nhà Fleur-de-Lys, cách khuôn viên học viện không xa. Wilcox là một kẻ chín sớm - thiên tài đã được công nhận, nhưng cũng lập dị đến mức cực đoan. Từ thuở nhỏ, cậu ta đã thu hút sự chú ý của mọi người bằng những câu chuyện lạ lùng cùng những cơn mộng mị quái đản vẫn thường hay kể vanh vách. Cậu tự xưng mình là "kẻ quá mẫn cảm về mặt tâm linh", nhưng đám thị dân đứng đắn chốn thành phố thương mại cổ kính này chỉ gọi cậu một cách đơn giản là "gã kỳ quặc". Chẳng mấy khi giao du với những hạng người giống mình, cậu ta cứ thế chìm dần vào lãng quên trong xã hội, và vào lúc này đây chỉ còn được một nhúm những tâm hồn yêu nghệ thuật đến từ các thị trấn xa lạ biết đến. Ngay cả Câu lạc bộ Nghệ thuật Providence - vốn luôn khao khát giữ mình trong vòng bảo thủ - cũng thấy cậu ta đã hoàn toàn hết thuốc chữa.

Vào dịp người thanh niên ấy ghé thăm, theo ghi chép trong bản thảo của giáo sư, nhà điêu khắc trẻ bỗng nhiên đòi hỏi được hưởng lợi từ vốn kiến thức khảo cổ học uyên thâm của chủ nhà để nhận diện những ký tự tượng hình khắc trên bức phù điêu. Cậu ta cất tiếng với một thái độ mơ hồ, gượng gạo, gợi cảm giác giả tạo và khiến người nghe mất thiện cảm; và ông chú tôi đã đáp trả khá gay gắt, bởi vẻ mới toanh của tấm bảng đất sét kia khó mà gợi nhắc đến bất kỳ thứ gì liên quan đến khảo cổ học. Lời đáp của chàng Wilcox trẻ tuổi - điều đã gây ấn tượng đủ mạnh để ông chú buộc phải khắc ghi vào ký ức và chép lại nguyên văn - mang một sắc thái thơ ca kỳ ảo, chắc hẳn là đặc trưng cho toàn bộ cuộc trò chuyện của cậu ta, và sau này tôi nhận thấy nó quả thực rất tiêu biểu cho con người cậu. Cậu ta nói:

- Nó quả là mới, vì chính tôi đã nặn ra nó vào đêm qua trong một giấc mơ về những thành phố kỳ lạ; và những giấc mơ còn già nua hơn cả thành Tyre trầm tư9, hơn cả tượng Nhân sư lặng câm, hay Babylon với những khu vườn treo lơ lửng.10

Chính vào lúc ấy, cậu ta bắt đầu câu chuyện dài dòng ấy - câu chuyện đã đột ngột đánh thức một ký ức đang say ngủ và thu hút toàn bộ sự chú ý đầy phấn khích của ông chú. Đêm hôm trước đã xảy ra một trận động đất nhẹ - trận động đất đáng kể nhất mà vùng New England từng cảm nhận được trong suốt nhiều năm qua; và trí tưởng tượng của Wilcox đã bị tác động một cách dữ dội. Khi lên giường đi ngủ, cậu ta đã chìm vào một giấc mơ chưa từng có tiền lệ: những thành phố Cyclopean đồ sộ ngất trời, kết bằng những khối đá Titan và những phiến đá nguyên khối đâm thẳng lên bầu trời, tất cả đều ứa ra một thứ chất nhầy màu xanh lục và mang một vẻ nham hiểm đượm đầy kinh hoàng tiềm ẩn. Những chữ tượng hình phủ kín các bức tường và cột trụ, và từ một điểm không xác định bên dưới lòng đất đã vọng lên một thứ không phải giọng nói; một cảm giác hỗn độn mà chỉ có trí tưởng tượng mới có khả năng chuyển hóa thành âm thanh, nhưng cậu ta đã cố gắng diễn đạt nó bằng một mớ chữ cái gần như không thể phát âm nổi: "Cthulhu fhtagn".

Cái mớ từ ngữ hỗn độn ấy chính là chiếc chìa khóa mở tung ký ức đã kích động và làm xáo trộn tâm trí Giáo sư Angell. Ông tra hỏi nhà điêu khắc với tất cả sự tỉ mỉ của giới khoa học; và nghiên cứu bức phù điêu - thứ mà cậu thanh niên nhận ra mình đang tạc trong lúc lạnh cóng, chỉ mặc độc mỗi bộ đồ ngủ, khi cơn tỉnh giấc bất thần đánh lừa cậu một cách đầy bối rối - với một cường độ gần như điên cuồng. Ông chú tôi đã đổ lỗi cho tuổi già của mình, Wilcox về sau kể lại như thế, về sự chậm chạp của ông trong việc nhận diện cả chữ tượng hình lẫn hình ảnh minh họa. Nhiều câu hỏi của ông đường như hoàn toàn lạc điệu đối với vị khách của mình, đặc biệt là những câu hỏi cố gắng kết nối cậu ta với những giáo phái hay hội kín lạ lùng nào đó; và Wilcox hoàn toàn không thể hiểu nổi những lời hứa giữ im lặng lặp đi lặp lại mà cậu ta được đề nghị, để đổi lấy việc thừa nhận mình là thành viên của một tổ chức tôn giáo đa thần hay một hội thần bí rộng khắp nào đấy. Một khi Giáo sư Angell đã tin chắc rằng nhà điêu khắc thực sự chẳng biết gì về bất kỳ giáo phái hay hệ thống tri thức bí ẩn nào, ông liền vây hãm vị khách của mình bằng những lời yêu cầu phải báo cáo về những giấc mơ trong tương lai. Việc này mang lại kết quả đều đặn, bởi lẽ sau cuộc phỏng vấn đầu tiên, bản thảo ghi chép lại những lần ghé thăm mỗi ngày của chàng trai trẻ, trong đó cậu ta kể lại những mảnh vỡ chấn động của ảo ảnh ban đêm - mà gánh nặng của chúng luôn luôn là một viễn cảnh Cyclopean kinh khủng nào đó về những tảng đá tối đen và ứa nhựa, cùng với một giọng nói hay trí tuệ từ dưới lòng đất đang gào thét đều đều bằng những tác động giác quan bí ẩn, không thể ghi chép lại được ngoài việc coi đó như những lời vô nghĩa. Hai âm thanh được lặp lại thường xuyên nhất là những âm thanh được diễn đạt bằng các chữ cái "Cthulhu" và "R'lyeh".

Đến ngày 23 tháng Ba, bản thảo ghi tiếp, Wilcox đã không xuất hiện; và những cuộc dò hỏi tại nơi cư trú của cậu ta tiết lộ rằng cậu ta đã bị tấn công bởi một loại sốt mờ ám và được đưa về nhà của gia đình cậu trên phố Waterman. Cậu ta đã gào thét suốt đêm, đánh thức một vài nghệ sĩ khác cùng sống trong tòa nhà, và kể từ đó chỉ biểu hiện những trạng thái luân phiên giữa bất tỉnh và mê sảng. Ông chú tôi lập tức gọi điện cho gia đình cậu ta, và từ đấy về sau luôn bám sát tình trạng của người bệnh; thường xuyên ghé qua phòng mạch của Bác sĩ Tobey trên phố Thayer - người mà ông biết là đang phụ trách ca bệnh. Tâm trí đang sốt của chàng thanh niên, rõ ràng là, đang tập trung vào những điều kỳ dị; và đôi lúc vị bác sĩ lại rùng mình khi ông nhắc đến chúng. Những điều ấy không chỉ bao gồm sự lặp lại của những gì cậu ta từng mơ thấy trước đây, mà còn nhắc đến một cách hoang dại về một thứ khổng lồ "cao hàng dặm" đang sải bước hay lê lết một cách nặng nề. Cậu ta chưa bao giờ miêu tả trọn vẹn về vật thể này, nhưng thỉnh thoảng những từ ngữ điên cuồng, theo lời Bác sĩ Tobey thuật lại, đã thuyết phục giáo sư rằng nó chắc chắn đồng nhất với con quái vật vô danh mà cậu ta đã tìm cách khắc họa trong tác phẩm điêu khắc trong mơ của mình. Việc nhắc đến vật thể này, vị bác sĩ nói thêm, bao giờ cũng là hồi chuông mở màn cho việc chàng thanh niên chìm vào trạng thái hôn mê. Thân nhiệt của cậu ta, kỳ lạ thay, không hề cao hơn mức bình thường là bao; nhưng toàn bộ tình trạng, về mọi mặt khác, lại gợi ra hình ảnh của một cơn sốt thực sự, hơn là một chứng rối loạn tâm thần.

Vào ngày mồng 2 tháng Tư, lúc khoảng ba giờ chiều, mọi dấu vết của căn bệnh quái ác nơi Wilcox đột nhiên biến mất sạch sẽ. Cậu ta bật thẳng người dậy trên giường, kinh ngạc tột độ khi thấy mình đang ở nhà và hoàn toàn không hề hay biết bất cứ chuyện gì đã diễn ra - trong mơ hay trong hiện thực - kể từ đêm ngày 22 tháng Ba. Được bác sĩ tuyên bố là đã khỏe mạnh, cậu ta trở về nơi cư trú của mình trong vòng ba ngày; nhưng đối với Giáo sư Angell, cậu ta chẳng còn giúp ích được gì thêm nữa. Mọi dấu vết của những giấc mơ kỳ lạ đã tan biến cùng với sự hồi phục của cậu ta, và ông chú tôi không còn lưu giữ bất kỳ ghi chép nào về những suy nghĩ trong đêm của cậu sau một tuần với toàn những lời kể vô nghĩa và không liên quan về những ảo giác hoàn toàn bình thường.


Phần đầu của bản thảo khép lại tại đây, thế nhưng những dẫn chiếu đến một vài ghi chép rải rác đã cung cấp cho tôi vô vàn tư liệu để nghiền ngẫm - nhiều đến nỗi chỉ có thứ chủ nghĩa hoài nghi đã ăn sâu vào máu, thứ đang hun đúc nên toàn bộ triết lý sống của tôi thời bấy giờ, mới có thể cắt nghĩa nổi vì sao tôi cứ khăng khăng ngờ vực người nghệ sĩ trẻ. Những ghi chép ấy là những bản tường thuật về giấc mơ đến từ rất nhiều con người khác nhau, tất cả đều rơi vào cùng một khoảng thời gian mà chàng Wilcox trẻ tuổi đã trải qua những cuộc viếng thăm kỳ quái của mình. Ông chú, dường như, đã nhanh chóng thiết lập một mạng lưới điều tra hết sức rộng khắp, bao gồm gần như toàn bộ những người bạn mà ông có thể tra hỏi mà không đến nỗi đường đột, yêu cầu họ báo cáo hàng đêm về những giấc mơ, cùng ngày tháng của bất kỳ ảo giác đáng chú ý nào mà họ đã trải qua trong thời gian gần đây. Mức độ hưởng ứng lời đề nghị của ông xem ra hết sức đa dạng; nhưng ít nhất thì ông cũng đã thu về nhiều phản hồi hơn hẳn những gì một người bình thường có thể xử lý nếu thiếu bàn tay thư ký. Bức thư gốc không còn được lưu giữ, song những ghi chép của ông đã kết tinh thành một bản tóm lược đầy đủ, kỹ lưỡng và thực sự mang ý nghĩa. Những con người bình thường trong xã hội và thương trường - những "hạt muối của Đất"11 kiểu mẫu của vùng New England - đã đem lại kết quả gần như hoàn toàn phủ định, mặc dù đây đó vẫn xuất hiện lác đác những trường hợp kể về ấn tượng về đêm khó chịu nhưng không có hình thù rõ rệt, tất cả đều nhất loạt nằm trong quãng thời gian từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 2 tháng 4 - chính là khoảng thời gian mê sảng của chàng Wilcox trẻ tuổi. Giới khoa học gia cũng chẳng khá khẩm hơn là bao, dẫu có bốn trường hợp đưa ra những mô tả lờ mờ gợi đến những cảnh quan kỳ dị, và một trường hợp trong đó có nhắc đến nỗi sợ hãi trước một điều gì đó bất thường.

Chính từ những nghệ sĩ và thi nhân, những câu trả lời xác đáng mới tìm đến, và tôi biết rằng cơn hoảng loạn hẳn đã bùng phát dữ dội nếu như họ có thể đối chiếu ghi chép của nhau. Song thực tế là, vì thiếu đi những bức thư gốc, tôi đã nửa nghi ngờ rằng chính vị biên soạn đã chủ động đặt ra những câu hỏi đầy tính gợi mở, hoặc đã nhào nặn thư từ để xác nhận điều mà ông đã âm thầm quyết tâm muốn thấy. Đó là lý do tôi vẫn bám chặt lấy ý nghĩ rằng Wilcox, bằng một cách nào đó đã biết được những dữ liệu cũ mà ông chú đang nắm giữ, đã và đang giăng bẫy vị học giả cao niên. Những phản hồi từ những tâm hồn yêu nghệ thuật này đã kể lại một câu chuyện đầy bất an. Từ ngày 28 tháng 2 cho đến ngày 2 tháng 4, một phần lớn trong số họ đã mơ thấy những điều vô cùng kỳ quái, và cường độ của những cơn mơ ấy tăng lên gấp bội trong suốt thời kỳ mê sảng của nhà điêu khắc. Hơn một phần tư những người có báo cáo bất cứ điều gì, đều kể về những khung cảnh và âm thanh nửa vời không khác gì những gì Wilcox đã miêu tả; và không ít người nằm mơ đã thú nhận một nỗi kinh hoàng tột cùng trước thực thể khổng lồ vô danh hiện ra vào phút cuối. Có một trường hợp - được nhấn mạnh trong ghi chép - vô cùng thương tâm. Người ấy, một kiến trúc sư nổi danh với khuynh hướng nghiêng về Thông thiên học và thuyết huyền bí, đã phát điên dữ dội vào đúng ngày Wilcox lên cơn co giật, rồi qua đời chỉ vài tháng sau trong những tràng la hét không dứt đòi được cứu thoát khỏi một thực thể vừa trốn thoát khỏi địa ngục. Giá như ông chú nhắc đến những trường hợp này bằng tên thay vì chỉ bằng những con số, tôi hẳn đã cố gắng tiến hành một vài cuộc xác minh và điều tra cá nhân; nhưng thực tại là, tôi chỉ thành công trong việc lần ra dấu vết của một vài người. Tất cả những người này, tuy nhiên, đều xác nhận hoàn toàn khớp với ghi chép. Tôi đã thường xuyên tự hỏi phải chăng tất thảy những ai từng là đối tượng thẩm vấn của vị giáo sư đều sẽ cảm thấy bối rối như nhóm nhỏ này. Có lẽ tốt nhất là không nên để bất kỳ lời giải thích nào lọt đến tai họ.

Những mẩu báo cắt ra, như tôi đã nói bóng gió, đã chạm đến những ca hoảng loạn, cuồng loạn và những hành vi lập dị nằm trong khoảng thời gian nhất định. Giáo sư Angell hẳn đã thuê một cơ quan chuyên cắt dán báo chí, bởi khối lượng những trích đoạn quả là đồ sộ, và các nguồn tin thì nằm rải rác khắp địa cầu. Nơi này là một vụ tự tử trong đêm ở London, khi một kẻ đang say ngủ một mình đã lao qua cửa sổ sau một tiếng thét kinh hoàng. Chỗ kia là một bức thư dông dài gửi cho biên tập viên của một tờ báo Nam Mỹ, trong đó một kẻ cuồng tín suy diễn ra một tương lai thảm khốc từ những ảo ảnh mà hắn đã trông thấy. Một bản tin phát đi từ California miêu tả cảnh một thuộc địa của những tín đồ Thông thiên học đồng loạt khoác lên mình những chiếc áo choàng trắng để đón chờ một cuộc "ứng nghiệm huy hoàng" nào đó rồi mãi mãi chẳng bao giờ đến, trong khi những bài báo từ Ấn Độ rụt rè nhắc đến tình trạng bất ổn nghiêm trọng trong dân bản xứ vào quãng cuối tháng 3. Những cuộc truy hoan tà thuật Voodoo bùng phát dữ dội ở Haiti, và các tiền đồn châu Phi báo về những tiếng lẩm bẩm đầy đe dọa. Giới sĩ quan Mỹ ở Philippines nhận thấy một số bộ lạc nhất định trở nên bất trị trong suốt thời kỳ này, còn cảnh sát New York thì bị tấn công bởi những kẻ Levantine quá khích vào đêm 22 rạng ngày 23 tháng 3. Miền tây Ireland cũng tràn ngập tin đồn và những truyền thuyết hoang dại, và một họa sĩ quái đản mang tên Ardois-Bonnot đã treo một bức tranh mang tên Dream Landscape đầy báng bổ tại triển lãm mùa xuân Paris năm 1926. Rồi vô số những rối loạn được ghi nhận trong các trại thương điên, nhiều đến nỗi chỉ có phép lạ mới có thể ngăn cản giới y khoa nhận ra những mối tương đồng quái dị và rút ra những kết luận đầy bối rối. Gộp tất cả lại, đó là một mớ bòng bong những mẩu báo cắt ra hết sức kỳ quặc; và giờ đây tôi khó lòng hình dung nổi thứ chủ nghĩa duy lý tàn nhẫn đã cho phép tôi hất chúng sang một bên như thế nào. Nhưng vào lúc đó, tôi đã tin chắc rằng Wilcox đã biết được những sự việc cũ hơn mà vị giáo sư đã từng nhắc đến.



  1. Thông thiên học (Theosophy): Một phong trào tôn giáo và triết học bí ẩn thịnh hành vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, pha trộn giữa thuyết huyền bí phương Tây và tôn giáo phương Đông. Họ tin vào những chu kỳ vũ trụ vĩ đại và các nền văn minh tiền sử đã mất (như Atlantis hay Lemuria). 

  2. Ngôn ngữ Semitic: Một ngữ hệ bao gồm tiếng Do Thái, tiếng Ả Rập, tiếng Aramaic... Việc Giáo sư Angell là chuyên gia về ngôn ngữ này nhấn mạnh khả năng giải mã các văn tự cổ xưa và kỳ bí. 

  3. Đại học Brown, Providence, Rhode Island: Một trong những trường đại học thuộc nhóm Ivy League danh giá của Mỹ. Providence cũng chính là quê hương của tác giả H.P. Lovecraft và thường xuyên là bối cảnh trung tâm trong các tác phẩm của ông. 

  4. Trường phái lập thể (Cubism) và vị lai (Futurism): Hai trào lưu nghệ thuật đầu thế kỷ 20 phá vỡ các quy tắc không gian và hình khối truyền thống. 

  5. Kiến trúc kiểu Cyclopean: Kiểu kiến trúc xây bằng các khối đá khổng lồ không cần vữa, thường thấy ở nền văn minh Mycenae cổ đại. Trong thần thoại Hy Lạp, người ta tin rằng chỉ có những gã khổng lồ một mắt Cyclops mới đủ sức xê dịch những tảng đá này. Thuật ngữ này thường được dùng để miêu tả những công trình ngoại cỡ, phi nhân loại. 

  6. Atlantis and the Lost Lemuria: Một cuốn sách Thông thiên học xuất bản năm 1904 của W. Scott-Elliot, miêu tả chi tiết về các lục địa và nền văn minh tiền sử được cho là đã chìm dưới đáy biển. 

  7. Golden Bough: "Cành vàng" - Công trình nghiên cứu nhân chủng học và thần thoại học nổi tiếng của Sir James George Frazer (1890). Cuốn sách khảo sát các nghi lễ ma thuật, tôn giáo nguyên thủy và tục hiến tế trên toàn thế giới. 

  8. Witch-Cult in Western Europe: "Giáo phái Phù thủy ở Tây Âu" - Cuốn sách xuất bản năm 1921 của nhà nhân chủng học Margaret Murray, đưa ra giả thuyết rằng phù thủy châu Âu thực chất là những người thực hành một tôn giáo ngoại giáo cổ đại. 

  9. Thành Tyre: Một thành phố cổ đại phồn vinh của người Phoenicia, nay thuộc Lebanon, biểu tượng của sự lâu đời và huy hoàng trong thế giới cổ đại. 

  10. Vườn treo Babylon: Một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại thuộc vương quốc Babylon ở Lưỡng Hà. Việc so sánh giấc mơ với Tyre và Babylon nhằm miêu tả sự cổ kính vượt ngoài sức tưởng tượng của nhân loại. 

  11. Hạt muối của Đất (Salt of the Earth): Một thành ngữ tiếng Anh có nguồn gốc từ Kinh Thánh, dùng để chỉ những người lương thiện, thực tế và là nền tảng vững chắc của xã hội.