Đã hiệu đính

2. CÂU CHUYỆN CỦA THANH TRA LEGRASSE

Những sự kiện xa xưa đã khiến giấc mơ và bức phù điêu của chàng điêu khắc trẻ mang một ý nghĩa lớn lao đến vậy đối với Giáo sư Angell - chúng chính là chủ đề của nửa sau bản thảo dài mà ông để lại. Hóa ra, trước đó một lần, ông chú của tôi đã từng nhìn thấy những đường nét địa ngục của con quái vật vô danh ấy. Ông từng trăn trở trước những chữ tượng hình bí ẩn, từng nghe thấy những âm tiết rùng rợn mà chỉ có thể diễn đạt bằng từ "Cthulhu". Tất cả những điều này liên kết với nhau trong một mối quan hệ chấn động và kinh hoàng đến mức chẳng có gì lạ khi ông ráo riết bám theo cậu thanh niên Wilcox bằng hết câu hỏi này đến yêu cầu cung cấp dữ liệu khác.

Trải nghiệm trước đó này diễn ra vào năm 1908, mười bảy năm về trước, khi Hiệp hội Khảo cổ học Hoa Kỳ tổ chức cuộc họp thường niên tại St. Louis. Giáo sư Angell, đúng với vị thế một người có uy tín và thành tựu, đã giữ vai trò nổi bật trong toàn bộ các cuộc thảo luận. Ông cũng là một trong những người đầu tiên được tiếp cận bởi một vài vị khách ngoài hội nghị - những người đã tận dụng cơ hội này để đưa ra những câu hỏi mong được giải đáp chính xác và những vấn đề cần chuyên gia tháo gỡ.

Người đáng chú ý nhất trong số những vị khách ấy, và chẳng bao lâu sau trở thành tâm điểm chú ý của toàn bộ hội nghị, là một người đàn ông trung niên có vẻ ngoài bình thường. Ông ta đã lặn lội đường xa từ New Orleans đến đây chỉ để tìm kiếm một vài thông tin đặc biệt - những thông tin không thể moi ra được từ bất kỳ nguồn địa phương nào. Tên ông là John Raymond Legrasse, và nghề nghiệp của ông là thanh tra cảnh sát. Cùng với mình, ông mang theo chủ đề của chuyến viếng thăm: một bức tượng đá nhỏ kỳ dị, gớm ghiếc và dường như rất cổ xưa - thứ mà ông hoàn toàn không thể xác định được nguồn gốc.

Đừng tưởng rằng Thanh tra Legrasse có chút hứng thú nào với khảo cổ học. Trái lại, mong muốn làm sáng tỏ vấn đề của ông xuất phát hoàn toàn từ những cân nhắc nghề nghiệp. Bức tượng nhỏ - tượng thần, vật tổ, hay bất cứ thứ gì người ta gọi nó - đã bị thu giữ vài tháng trước trong những đầm lầy rậm rạp phía nam New Orleans, trong một cuộc đột kích vào nơi bị nghi là tụ điểm của tà thuật voodoo. Những nghi lễ gắn liền với nó kỳ dị và gớm ghiếc đến mức cảnh sát không thể không nhận ra rằng họ đã tình cờ phát hiện ra một giáo phái hắc ám - một giáo phái hoàn toàn xa lạ với họ, và thâm độc hơn gấp vạn lần so với ngay cả những vòng tròn voodoo1 châu Phi đen tối nhất. Về nguồn gốc của nó, ngoài những câu chuyện thất thường và khó tin mà cảnh sát moi ra được từ các thành viên bị bắt, hoàn toàn không có gì được phát hiện. Chính vì thế, cảnh sát mới khao khát bất kỳ kiến thức khảo cổ nào có thể giúp họ định vị được biểu tượng đáng sợ này, và thông qua nó, lần theo dấu vết của giáo phái về tận cội nguồn.

Thanh tra Legrasse hầu như không chuẩn bị gì cho cơn chấn động mà vật ông mang tới đã gây ra. Chỉ một cái nhìn vào thứ đó thôi đã đủ để khiến toàn bộ các nhà khoa học đang tụ tập rơi vào một trạng thái phấn khích tột độ. Họ không lãng phí thời gian, lập tức xúm lại quanh ông để ngắm nhìn hình nhân nhỏ bé ấy - một tạo vật mà sự xa lạ tuyệt đối cùng vẻ ngoài thuộc về một thời kỳ cổ đại sâu thẳm đã gợi lên mạnh mẽ những viễn cảnh cổ kính và chưa từng được khai mở. Không một trường phái điêu khắc nào từng được công nhận đã thổi hồn vào vật thể khủng khiếp này, thế nhưng hàng thế kỷ - thậm chí hàng ngàn năm - dường như đã in dấu lên bề mặt mờ ảo và nhuốm màu xanh lục của loại đá không thể xác định kia.

Bức tượng, cuối cùng được chuyền tay từ người này sang người khác một cách chậm rãi để nghiên cứu cẩn thận và tỉ mỉ, cao khoảng từ bảy đến tám inch và mang một tay nghề nghệ thuật tinh xảo tuyệt đẹp. Nó khắc họa một con quái vật mang dáng vóc thô sơ của loài vượn người, nhưng với cái đầu giống bạch tuộc - khuôn mặt là một khối đầy những xúc tu. Thân thể nó phủ đầy vảy, trông tựa như cao su, với những móng vuốt khổng lồ ở cả chân trước lẫn chân sau, và sau lưng là những đôi cánh dài, hẹp. Thứ sinh vật này dường như toát lên một sự tàn ác đáng sợ và phi tự nhiên. Nó mang một vẻ béo phệ hơi sưng phù, và ngồi chồm hổm một cách tà ác trên một khối hình chữ nhật - hay một bệ tảng - được bao phủ bởi những ký tự không thể giải mã. Những đầu cánh chạm vào mép sau của khối đá, chỗ ngồi chiếm phần trung tâm, trong khi những móng vuốt dài cong của hai chân sau co gập lại, kẹp chặt mép trước và vươn dài một phần tư đường xuống phía dưới đáy bệ. Cái đầu tựa bạch tuộc cúi gập về phía trước, sao cho những đầu xúc tu trên khuôn mặt quét nhẹ lên lưng của những bàn chân trước khổng lồ - những bàn chân đang ôm lấy đầu gối nhô cao của con quái vật đang thu mình nọ. Diện mạo của toàn bộ thực thể này sống động một cách lạ thường, và càng trở nên đáng sợ một cách tinh vi hơn bởi nguồn gốc của nó hoàn toàn nằm trong bóng tối. Sự cổ kính, đáng kinh ngạc và không thể tính toán được của nó là điều không thể nhầm lẫn; thế nhưng không một mối liên kết nào có thể được tìm thấy giữa nó với bất kỳ loại hình nghệ thuật nào từng được biết đến thuộc về thời kỳ bình minh của nền văn minh - hay thực sự là bất kỳ thời kỳ nào khác.

Hoàn toàn tách biệt, ngay chính chất liệu của bức tượng cũng đã là một bí ẩn. Loại đá xà phòng mang màu xanh đen với những đốm và vằn vàng hoặc óng ánh này không hề giống với bất cứ thứ gì quen thuộc trong địa chất học hay khoáng vật học. Những ký tự dọc theo phần đế cũng gây bối rối không kém. Không một thành viên nào có mặt tại đó, bất chấp việc họ đại diện cho một nửa giới chuyên môn toàn cầu trong lĩnh vực này, có thể mường tượng ra được chút khái niệm nhỏ nhất nào về gốc gác ngôn ngữ của chúng. Những ký tự ấy, cũng giống như chủ đề và chất liệu của bức tượng, thuộc về một thứ gì đó khủng khiếp, xa xôi và tách biệt khỏi nhân loại như chúng ta vẫn biết - một thứ gì đó gợi lên một cách đáng sợ về những chu kỳ sống cổ xưa và bất kính mà thế giới của chúng ta cùng những khái niệm của chúng ta không có bất cứ phần nào trong đó.

Và rồi, khi các thành viên lần lượt lắc đầu và thú nhận thất bại trước vấn đề của thanh tra, có một người đàn ông trong buổi tụ họp đó đã thoáng thấy một nét quen thuộc kỳ lạ trong hình dạng và nét chữ quái dị kia, và ngay sau đó, ông đã kể lại với đôi chút dè dặt về một mẩu chuyện kỳ quặc mà mình biết. Người này chính là cố giáo sư William Channing Webb, giáo sư nhân chủng học tại Đại học Princeton, và cũng là một nhà thám hiểm không kém phần danh tiếng.

Giáo sư Webb đã tham gia, cách đây bốn mươi tám năm, vào một chuyến thám hiểm khảo cổ đến Greenland và Iceland để tìm kiếm một số bản khắc Runic2 mà giáo sư không thể khai quật được. Khi đang ở trên vùng cao thuộc bờ biển Tây Greenland, giáo sư đã chạm trán với một bộ lạc hoặc giáo phái kỳ dị - những người Eskimo đã suy đồi - mà tôn giáo của họ, một hình thức thờ cúng quỷ dữ lạ lùng, khiến giáo sư phải lạnh gáy bởi sự khát máu và gớm ghiếc đầy chủ đích của nó. Đó là một tín ngưỡng mà những người Eskimo khác hầu như không hay biết gì, và mỗi khi nhắc đến, họ chỉ khẽ rùng mình mà bảo rằng nó đã lưu truyền từ những thời đại cổ xưa khủng khiếp, trước cả khi thế giới này được tạo ra. Ngoài những nghi lễ không tên và các cuộc hiến tế con người, còn tồn tại một số nghi thức truyền đời quái dị nhằm tôn thờ một ác quỷ tối cao hay còn gọi là tornasuk3. Về điều này, Giáo sư Webb đã sao chép lại một cách tỉ mỉ bằng ký âm từ miệng một vị angekok - tức pháp sư kiêm thầy cúng - lớn tuổi, cố gắng diễn đạt tốt nhất có thể những âm thanh ấy bằng ký tự La Mã. Nhưng ngay lúc này đây, điều quan trọng bậc nhất chính là vật tổ mà giáo phái này sùng kính, thứ mà họ vẫn nhảy múa xung quanh khi ánh cực quang vút lên cao vời vợi trên những vách băng. Theo lời giáo sư, đó là một bức phù điêu bằng đá hết sức thô sơ, mang một hình ảnh gớm ghiếc cùng vài dòng chữ viết bí ẩn. Và trong chừng mực những gì giáo sư có thể nhận định, bức phù điêu ấy là một phiên bản thô nhám na ná với hầu hết mọi đặc điểm chính yếu của thứ thú vật hiện đang nằm ngay trước cuộc họp này.

Những dữ kiện ấy, được các thành viên cuộc họp đón nhận trong trạng thái hồi hộp lẫn kinh ngạc, lại càng khiến Thanh tra Legrasse hứng thú gấp bội. Thanh tra liền lập tức dồn dập chất vấn người đã cung cấp thông tin cho mình. Vì đã từng ghi chép và sao chép một nghi thức truyền miệng từ chính những kẻ thờ cúng giáo phái vùng đầm lầy mà người của thanh tra đã bắt giữ, nên Legrasse tha thiết đề nghị giáo sư cố nhớ lại chính xác nhất có thể những âm tiết mà giáo sư đã ghi lại giữa đám Eskimo thờ quỷ kia. Sau đó là một cuộc đối chiếu kỹ lưỡng và toàn diện, để rồi một khoảnh khắc im lặng thực sự kính sợ bao trùm khi cả viên thám tử lẫn nhà khoa học cùng đồng thuận về sự trùng khớp gần như tuyệt đối của cụm từ xuất hiện trong cả hai nghi lễ địa ngục cách nhau hằng bao thế giới. Về bản chất, thứ mà những pháp sư Eskimo lẫn các tu sĩ vùng đầm lầy Louisiana đã tụng niệm trước những thần tượng giống hệt nhau ấy chính là một câu đại loại thế này - sự phân tách từ ngữ được phỏng đoán dựa trên những điểm dừng ngắt truyền thống trong cụm từ khi được xướng lên thành tiếng:

"Ph'nglui mglw'nafh Cthulhu R'lyeh wgah'nagl fhtagn."

Thanh tra Legrasse có một lợi thế đi trước Giáo sư Webb, bởi lẽ một vài trong số những tên tù nhân lai tạp của thanh tra đã thuật lại cho ông những gì mà các kẻ hành lễ cao niên hơn đã truyền đạt cho chúng về ý nghĩa của những từ ấy. Nội dung văn bản, theo như được ghi nhận, phỏng chừng như sau:

"Trong ngôi nhà của mình tại R'lyeh, Cthulhu đã chết vẫn mải miết chờ đợi trong giấc mộng."

Và giờ đây, trước lời kêu gọi khẩn thiết chung của hội trường, Thanh tra Legrasse đã thuật lại cặn kẽ nhất có thể về trải nghiệm của mình với lũ tà giáo vùng đầm lầy - một câu chuyện mà tôi có thể thấy ông chú quá cố của mình đã gán cho nó một tầm ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Nó nhuốm đẫm hương vị của những cơn mơ hoang đường nhất từng được thêu dệt nên bởi những kẻ tạo thần thoại hay những nhà thông thiên học, và phơi bày một mức độ tưởng tượng vũ trụ đáng sửng sốt ngay giữa lòng những kẻ pha tạp nòi giống và hạ đẳng - những hạng người mà người ta vốn chẳng mấy mong đợi họ sở hữu được trí tưởng tượng nhường ấy.

Vào ngày mùng 1 tháng Mười Một năm 1907, Sở Cảnh sát New Orleans nhận được một cuộc cầu cứu điên cuồng từ vùng đầm lầy và phá nước phía nam. Những cư dân ở đó, phần lớn là con cháu nguyên thủy nhưng hiền lành của dòng họ Lafitte, đang chìm trong nỗi kinh hoàng tột độ trước một thứ gì đó vô danh đã lẻn vào giữa họ trong màn đêm. Rành rành là tà thuật voodoo, nhưng là một thứ voodoo ghê tởm hơn tất thảy những gì họ từng biết đến; bởi lẽ đã có không ít phụ nữ và trẻ con mất tích kể từ khi tiếng trống tom-tom độc địa bắt đầu vang lên nhịp đập không ngơi nghỉ từ sâu thẳm những cánh rừng ma quái đen ngòm - nơi chẳng một cư dân nào dám cả gan đặt chân tới. Những tiếng gào thét dại cuồng và những tiếng la hét xé lòng vọng ra; những bài tụng ca buốt lạnh tâm hồn và những đốm lửa ác quỷ nhảy múa giữa bóng cây; và, người đưa tin hoảng loạn bổ sung thêm, dân chúng không tài nào chịu đựng nổi thêm nữa.

Thế là một toán hai mươi cảnh sát, chất đầy hai cỗ xe ngựa và một chiếc ô tô, khởi hành vào lúc xế chiều với người định cư kia run lẩy bẩy làm người dẫn đường. Đến nơi con đường không thể đi tiếp được nữa, họ xuống xe, rồi lội bộ hàng dặm trong im lặng xuyên qua những cánh rừng bách khủng khiếp, nơi ánh sáng ban ngày chẳng bao giờ rọi tới. Những bộ rễ cây xấu xí và những sợi dây rêu Tây Ban Nha lòng thòng buông xuống đầy ác ý vây hãm họ tứ phía; và thỉnh thoảng một đống đá ẩm mốc hay những mảnh tường mục nát sót lại khiến mức độ trầm uất càng thêm khắc nghiệt - bởi chúng gợi lên ý niệm về một nơi cư trú bệnh hoạn, một nỗi tuyệt vọng mà mỗi gốc cây dị dạng cùng mỗi ụ đất đầy nấm mốc góp phần tạo nên. Để rồi cuối cùng, khu định cư lậu - một mớ hỗn độn thảm hại những túp lều xiêu vẹo - hiện ra trong tầm mắt; và những cư dân cuồng loạn ùa chạy ra tụ tập quanh nhóm những chiếc đèn lồng đung đưa. Nhịp trống tom-tom nghẹt thở giờ đã có thể nghe thấy lờ mờ từ rất, rất xa phía trước; và một tiếng thét rợn người xé toạc bầu không khí theo những quãng nghỉ thất thường mỗi khi cơn gió đảo chiều. Một vầng sáng đỏ rực, dường như cũng len lỏi qua lớp cây bụi thấp nhợt nhạt phía sau những đại lộ bất tận của màn đêm rừng thẳm. Chẳng kẻ định cư sợ hãi nào dám liều mình tiến thêm dù chỉ một tấc về phía hiện trường của cuộc thờ phượng tội lỗi ấy - từng người một thẳng thừng từ chối, dù họ cũng chẳng muốn bị bỏ lại một mình thêm lần nữa - và thế là Thanh tra Legrasse cùng mười chín đồng nghiệp của mình đành lao thẳng vào những hành lang kinh dị đen tối mà chưa một ai trong số họ từng đặt chân đến trước đó.

Khu vực mà giờ đây cảnh sát đang tiến vào vốn mang tiếng xấu từ lâu đời, về cơ bản chưa từng có người da trắng nào biết tới hay đặt chân qua. Người ta đồn đại về một hồ nước khuất lấp chưa từng được mắt phàm soi tới, nơi trú ngụ của một thực thể khổng lồ, vô định hình, trắng nhởn và đầy xúc tu với đôi mắt rực sáng; và những kẻ định cư thì rỉ tai nhau rằng lũ quỷ mang cánh dơi bay vụt lên từ những hang sâu trong lòng đất để thờ phượng nó vào lúc nửa đêm. Họ bảo rằng nó đã ở đó từ trước cả thời D'Iberville, trước cả La Salle4, trước cả người da đỏ, và thậm chí trước cả những loài thú lành và chim chóc của cánh rừng. Chính bản thân nó là cơn ác mộng thuần khiết, và nhìn thấy nó là chết. Nhưng nó khiến con người ta mộng mị, và vì thế họ đủ khôn để tránh thật xa. Cuộc truy hoan voodoo lần này, trên thực tế, chỉ diễn ra ở rìa của khu vực ghê tởm đó, nhưng vị trí ấy cũng đã đủ tệ lắm rồi; bởi vậy có lẽ chính cái địa điểm thờ cúng này đã khiến bọn định cư lậu khiếp vía còn hơn cả những âm thanh và những sự kiện gây sốc.

Chỉ có thơ ca hoặc cơn điên loạn mới mong lột tả cho đúng mức những âm thanh mà người của Thanh tra Legrasse đã nghe thấy khi họ lội bì bõm qua những vũng bùn đen ngòm tiến về phía ánh sáng đỏ rực và nhịp trống tom-tom dồn dập. Ở đó hiện hữu những âm sắc giọng riêng của loài người, và những âm sắc giọng riêng của loài dã thú; và thật khủng khiếp làm sao khi tai nghe thấy giọng của loài này lại phát ra từ sinh vật lẽ ra phải mang giọng của loài kia. Cơn thịnh nộ thú tính và sự phóng túng hoan lạc tại nơi đây đã bị đẩy lên tới những đỉnh điểm ma quái bằng những tiếng tru tréo và những tiếng rít gào xé toạc màn đêm, vang vọng khắp những cánh rừng thẳm như những cơn bão ôn dịch từ tận vực sâu địa ngục. Đôi khi, những tiếng gào rú hỗn độn kia chợt lắng xuống, và từ một nơi tựa hồ như một dàn hợp xướng được huấn luyện bài bản gồm toàn những giọng ca khản đặc, vẳng lên câu hát hay nghi thức gớm ghiếc sau đây:

"Ph'nglui mglw'nafh Cthulhu R'lyeh wgah'nagl fhtagn."

Thế rồi những người cảnh sát, lúc đến được nơi cây cối thưa dần, đột ngột đối diện thẳng với chính cảnh tượng ấy. Bốn người trong số họ lảo đảo, một người ngất xỉu, và hai kẻ bị chấn động đến mức buột bật ra một tiếng kêu điên dại - may thay, thứ tạp âm cuồng loạn của cuộc truy hoan đã bóp nghẹt chúng. Thanh tra Legrasse hất nước đầm lầy vào mặt viên cảnh sát đang bất tỉnh, và tất cả đứng run lẩy bẩy, gần như bị thôi miên bởi cơn kinh hoàng.

Giữa một khoảnh rừng thưa tự nhiên của vùng đầm lầy, hiện ra một hòn đảo đầy cỏ rộng chừng một mẫu Anh, quang đãng cây cối và khá khô ráo. Và trên hòn đảo ấy, đang nhảy múa cuồng loạn và vặn vẹo thân mình là một bầy đàn quái dị gồm toàn những sinh thể người lai tạp - thứ mà chẳng ngôn từ nào có thể diễn tả nổi, chỉ có những họa sĩ như Sime hay Angarola5 mới mong phác họa ra được. Trần truồng không mảnh vải che thân, đám con lai vô danh này đang rống lên và quằn quại quanh một đống lửa khổng lồ cháy theo hình vòng cung; ở chính tâm của nó, lộ ra qua những khe hở thỉnh thoảng mở ra trong bức màn lửa, là một tảng đá granite nguyên khối cao chừng tám feet, và trên đỉnh khối đá, lạc lõng trong sự nhỏ bé của chính mình, an vị bức tượng điêu khắc độc địa. Chung quanh khối đá nguyên khối được bao bọc bởi ngọn lửa làm trung tâm ấy, mười đoạn giá treo được dựng lên cách quãng đều đặn thành một vòng tròn rộng, và trên những giá treo ấy, đầu chúc xuống dưới, lủng lẳng treo những thi hài bị biến dạng kỳ quặc của những kẻ định cư bất lực đã mất tích. Và chính bên trong vòng tròn ấy, đám tín đồ nhảy múa và gào rú, chuyển động chung là từ trái sang phải trong một cuộc truy hoan bất tận giữa vòng tròn thi thể và vòng tròn lửa.

Có lẽ chỉ là trí tưởng tượng và có lẽ cũng chỉ là tiếng vọng đã khiến một trong những người cảnh sát - một gã Tây Ban Nha dễ bị kích động - ảo tưởng rằng mình nghe thấy những lời đáp trả vọng về từ một nơi xa xôi và không ánh sáng sâu hơn bên trong cánh rừng của truyền thuyết và kinh hoàng cổ xưa. Gã này, Joseph D. Galvez, sau đó tôi đã gặp và thẩm vấn; và lão tỏ ra giàu trí tưởng tượng đến mức đáng lo ngại. Lão thậm chí còn đi xa đến nỗi ám chỉ về nhịp đập mờ nhạt của những đôi cánh lớn, về một thoáng nhìn đôi mắt sáng rực và một khối trắng khổng lồ như núi lờ mờ phía sau những hàng cây xa nhất - nhưng tôi cho rằng lão đã nghe quá nhiều chuyện mê tín dị đoan của dân bản địa rồi.

Trên thực tế, quãng dừng chân kinh hoàng của những viên cảnh sát không kéo dài lâu. Nhiệm vụ được đặt lên trên hết; và dẫu hẳn phải có đến gần một trăm kẻ hành lễ lai tạp trong đám đông, cảnh sát đã dựa vào súng ống của mình và dứt khoát xông thẳng vào cái đám hỗn tạp buồn nôn ấy. Trong vòng năm phút tiếp theo, sự ồn ào và hỗn loạn là không sao tả xiết. Những cú đánh điên cuồng giáng xuống, những phát súng nổ vang, và những kẻ tẩu thoát tháo chạy tứ phía; nhưng cuối cùng Thanh tra Legrasse cũng đếm được chừng bốn mươi bảy tù binh lầm lì, những kẻ mà thanh tra buộc phải mặc quần áo vội vã rồi xếp thành hàng giữa hai dãy cảnh sát. Năm kẻ thờ cúng nằm chết tại chỗ, và hai tên bị thương nặng được chính bạn tù của mình khiêng đi trên những chiếc cáng tự chế. Bức tượng trên khối đá nguyên khối, tất nhiên, đã được Thanh tra Legrasse cẩn thận gỡ xuống và mang về.

Qua kiểm tra tại trụ sở sau một chuyến đi căng thẳng và mệt nhoài tột độ, toàn bộ tù nhân đều được chứng minh là thuộc hạng người cực kỳ thấp kém, lai tạp và mang nét lệch lạc tâm thần. Phần lớn là thủy thủ, xen lẫn một số ít người da đen và người lai, chủ yếu đến từ Tây Ấn hoặc người Brava Bồ Đào Nha từ quần đảo Cape Verde, tạo nên một sắc thái voodoo cho cái giáo phái hỗn tạp này. Nhưng khi những câu hỏi bắt đầu được đặt ra, người ta sớm nhận thấy rõ rằng có một thứ gì đó sâu xa hơn và cổ xưa hơn rất nhiều so với nạn thờ vật tổ của người da đen đang len lỏi bên trong. Dẫu suy đồi và dốt nát đến đâu, những sinh thể này lại bám giữ một cách đáng kinh ngạc vào ý tưởng trung tâm của cái đức tin gớm guốc của chúng.

Chúng thờ phượng, như chúng nói, những Cổ Thần Vĩ Đại - những thực thể đã tồn tại từ hàng triệu triệu năm trước khi con người xuất hiện, những kẻ đã từ bầu trời giáng xuống thế giới non trẻ này. Giờ đây, những Cổ Thần ấy đã rời đi, chìm vào lòng đất và xuống tận đáy biển sâu; thế nhưng thi hài đã chết của chúng đã thì thầm những bí mật của mình trong giấc mộng cho con người đầu tiên, kẻ đã sáng lập nên một giáo phái chưa bao giờ thực sự lụi tàn. Và đây chính là giáo phái đó. Những tù nhân khai rằng nó đã luôn tồn tại và sẽ luôn tồn tại, ẩn náu trong những miền hoang vu xa xôi và những nơi tối tăm nhất trên khắp hành tinh này, cho đến ngày mà vị đại tư tế Cthulhu, từ căn phòng tăm tối của mình trong thành phố hùng vĩ R'lyeh chìm sâu dưới lòng biển, sẽ trỗi dậy và một lần nữa đưa trái đất trở về dưới ách thống trị của ngài. Một ngày kia ngài sẽ cất tiếng gọi, khi các vì sao đã thẳng hàng sẵn sàng, và giáo phái bí mật sẽ mãi luôn chờ đợi để giải phóng ngài.

Trong lúc chờ đợi, không thể moi thêm được điều gì nữa. Có một bí mật mà ngay cả tra tấn cũng không thể cạy ra. Nhân loại không hề đơn độc hoàn toàn giữa những sinh thể có ý thức trên địa cầu này, bởi những hình bóng hư ảo đã bước ra từ bóng tối để viếng thăm một số ít những kẻ trung thành. Nhưng đây không phải là những Cổ Thần Vĩ Đại. Chưa một ai từng nhìn thấy những Cổ Thần. Bức tượng được tạc là đại Cthulhu, nhưng chẳng ai có thể nói liệu những thực thể khác có hình dạng giống hệt như ngài hay không. Chẳng ai còn đọc được thứ chữ viết cổ xưa ấy nữa, nhưng tất cả đều đã được truyền tụng qua lời nói. Bài tụng niệm không phải là bí mật - cái đó thì không bao giờ được nói to, chỉ thì thầm mà thôi. Bài tụng niệm chỉ mang ý nghĩa như thế này: "Trong ngôi nhà của mình tại R'lyeh, Cthulhu đã chết vẫn đang nằm mộng chờ đợi."



  1. Voodoo: Một hệ thống tín ngưỡng có nguồn gốc từ Tây Phi, kết hợp với các yếu tố tôn giáo tại châu Mỹ. Trong văn học, voodoo thường được nhắc đến như một tà thuật bí ẩn, mang đậm sắc thái rùng rợn và tăm tối. ↩

  2. Chữ Runic (hay chữ Rune): Hệ thống bảng chữ cái cổ của các dân tộc Bắc Âu (như người Viking) trước khi chuyển sang dùng chữ Latinh. Việc khắc chữ Runic thường mang thêm ý nghĩa ma thuật hoặc nghi lễ. ↩

  3. Tornasuk: Trong thần thoại của người Inuit (Eskimo), Tornasuk thường được coi là linh hồn hộ mệnh tối cao hoặc người cai quản các tinh linh ở thế giới bên kia, truyền sức mạnh cho các pháp sư (angekok). ↩

  4. D'Iberville và La Salle: René-Robert Cavelier, Sieur de La Salle và Pierre Le Moyne d'Iberville là những nhà thám hiểm người Pháp vĩ đại thế kỷ 17. La Salle khám phá ra lưu vực sông Mississippi, còn D'Iberville thiết lập thuộc địa đầu tiên của Pháp tại Louisiana. ↩

  5. Sime hay Angarola: Sidney Sime (1865-1941) và Anthony Angarola (1893-1929) là những họa sĩ vẽ minh họa nổi tiếng cùng thời với Lovecraft, được biết đến qua các tác phẩm mang phong cách kỳ quái, rùng rợn. ↩