RIP VAN WINKLE

Bất cứ lữ khách nào từng ngược dòng Hudson hẳn đều chẳng thể quên dãy núi Kaatskill. Vốn là một nhánh tách rời từ rặng Appalachian đồ sộ, dãy Kaatskill sừng sững tít tắp phía bờ tây con sông, vươn mình đến một độ cao hùng vĩ và choán ngợp cả vùng sơn dã bao quanh. Mỗi khoảnh khắc giao mùa, mỗi lúc tiết trời biến chuyển, hay thậm chí từng giờ trôi qua trong ngày, lại khắc họa thêm những đường nét và sắc độ diệu kỳ lên diện mạo của ngọn núi. Với những bà nội trợ đảm đang khắp vùng, núi non tĩnh tại kia chẳng khác nào một chiếc phong vũ biểu hoàn hảo. Những ngày trời quang mây tạnh, núi khoác lên mình tấm áo choàng xanh lam pha lẫn sắc tím kiêu kỳ, in hằn những đường viền sắc sảo lên nền trời chiều trong vắt. Thế nhưng đôi khi, dẫu cả không gian xung quanh chẳng gợn chút mây, đỉnh núi lại tự gom lấy một chiếc mũ trùm xám xịt dệt từ hơi nước. Để rồi khi những tia nắng rớt lại của buổi hoàng hôn buông xuống, chiếc mũ ấy bỗng rực sáng và bừng lên tựa một chiếc vương miện vinh quang chói lọi.
Ngay dưới chân dãy núi nhuốm màu cổ tích ấy, khách bộ hành thi thoảng lại thoáng thấy những dải khói lam mỏng manh cuộn lên từ một nếp làng, nơi những mái nhà lợp ván gỗ thấp thoáng lấp lánh giữa rặng cây xanh. Đó là điểm giao thoa tuyệt mỹ, nơi sắc xanh lam huyền ảo của chốn non cao dần tan chảy vào màu xanh lục mướt mát của vùng bình địa. Ngôi làng nhỏ bé, mang đậm vẻ bùi ngùi của sương gió thời gian, do những di dân Hà Lan đầu tiên lập nên từ thuở vùng đất này mới được khai phá, trúng vào thời kỳ ngài Peter Stuyvesant1 nhân hậu (cầu mong ngài được yên nghỉ!) bắt đầu nắm quyền cai trị. Cách đây vài năm, người ta vẫn còn thấy dăm ba ngôi nhà của lớp cư dân tiên phong ấy trụ vững cùng năm tháng. Chúng được xây bằng những viên gạch vàng nhỏ xíu chở từ tận xứ Hà Lan xa xôi, mang nét đặc trưng với khung cửa sổ bọc lưới cáo, mái hiên hình tam giác dốc đứng và những chiếc chong chóng đo hướng gió ngạo nghễ xoay tít trên nóc nhà.
Chính tại ngôi làng đó, bên trong một căn nhà (thành thực mà nói, đã bị thời gian gặm nhấm và mưa sương vùi dập đến thảm hại), nhiều năm về trước khi mảnh đất này còn là một tỉnh thuộc Vương quốc Anh, có một gã đàn ông giản dị, tốt bụng tên là Rip Van Winkle sinh sống. Gã vốn là hậu duệ của gia tộc Van Winkle trứ danh, những người từng sát cánh đầy quả cảm bên ngài Peter Stuyvesant trong những tháng ngày oai hùng, và từng theo chân ngài trong cuộc vây ráp Pháo đài Christina2 lịch sử. Đáng buồn thay, gã lại chẳng mảy may thừa hưởng chút cốt cách thượng võ nào từ tổ tiên. Qua quan sát, tôi nhận thấy gã là một người bộc trực, hiền lành; một người láng giềng tử tế, và hơn hết, một ông chồng ngoan ngoãn, nhất mực nể sợ vợ. Quả thực, chính sự phục tùng vô điều kiện ấy đã góp phần nhào nặn nên bản tính nhu mì giúp gã chiếm trọn cảm tình của những người xung quanh; bởi lẽ, những gã đàn ông hễ ra đường là xun xoe, dĩ hòa vi quý, thường lại là nạn nhân của sự thiết quân luật từ các bà vợ chằn lửa chốn khuê phòng. Chẳng cần phải bàn cãi, tính khí của họ đã được tôi luyện cho mềm mỏng và dễ bề uốn nắn trong cái lò nung hừng hực của những muộn phiền gia đạo. Và một bài ca càm ràm sau bức rèm cửa có khi còn hiệu nghiệm hơn vạn bài thuyết pháp trên đời trong việc rèn giũa đức tính nhẫn nhịn và sức chịu đựng dẻo dai. Chiếu theo khía cạnh đó, một cô vợ đanh đá cũng có thể xem là một thứ phước lành dẫu hơi khó nuốt; và nếu đúng là thế, thì Rip Van Winkle hẳn đã được hưởng phước đến tận ba lần.
Có một sự thật hiển nhiên: gã là nhân vật vô cùng được lòng các bà nội trợ lương thiện trong làng. Đúng như thói thường của phái đẹp, họ luôn đứng về phe gã trong mọi vụ lục đục gia đình; và chẳng lần nào họ quên đổ rịt mọi tội lỗi lên đầu bà Van Winkle, mỗi lúc lôi chuyện nhà gã ra làm quà trong những buổi lê la tán gẫu lúc chập tối. Lũ trẻ con trong làng thì hễ thấy bóng dáng gã thấp thoáng là y như rằng nhảy cẫng lên hò reo sung sướng. Gã bày trò cho chúng chơi, tự tay đẽo gọt đồ chơi, dạy chúng thả diều, gảy bi, và kể rỉ rả những truyền thuyết dài dằng dặc về ma quỷ, phù thủy, cùng những thổ dân da đỏ kỳ bí. Cứ mỗi bận gã la cà dạo bước quanh làng, là cả một bầy trẻ con lẵng nhẵng vây quanh, đứa níu vạt áo, đứa leo tót lên lưng gã, mặc sức bày ra cả ngàn trò nghịch ngợm dở khóc dở cười mà chẳng hề e sợ đòn roi. Ngay đến lũ chó trong khắp thôn xóm cũng chẳng buồn cất tiếng sủa mỗi khi gã đi ngang.

“Bò của gã sẽ đi lạc hoặc lọt thỏm giữa những luống bắp cải.”

“Con cái gã thì rách rưới và hoang dã như thể chúng chẳng thuộc về ai.”

“Diện trên người một chiếc quần chẽn cũ mèm của cha, thứ mà thằng bé phải đánh vật mới giữ được chẳng khác nào một quý cô túm vạt váy dài trong những ngày mưa gió.”

Những truyền thuyết dài dằng dặc về ma quỷ, phù thủy, cùng những thổ dân da đỏ kỳ bí.
Khiếm khuyết trí mạng nhất trong bản tính của Rip là sự ác cảm tận xương tủy đối với mọi công việc sinh ra tiền. Lý do tuyệt nhiên chẳng phải gã thiếu kiên nhẫn hay lười nhác; bởi gã thừa sức ngồi thu lu trên một tảng đá ẩm ướt, lăm lăm chiếc cần câu vừa dài vừa nặng tựa ngọn giáo của chiến binh Tartar, và kiên nhẫn buông câu cả ngày trời mà chẳng nửa lời ca thán, dẫu cho phao câu chẳng mảy may nhúc nhích. Gã có thể vác khẩu súng săn nằng nặng trên vai, ròng rã hàng giờ liền lê bước lội qua những khu rừng rậm rạp và đầm lầy lầy lội, trèo đèo lội suối, cốt chỉ để hạ gục dăm ba con sóc hay lũ bồ câu hoang. Gã cũng chưa bao giờ ngoảnh mặt làm ngơ trước lời nhờ vả của xóm giềng, dẫu đó là công việc tay chân cực nhọc đến mấy. Gã luôn xông xáo đi đầu trong mọi hội hè chốn đồng quê, từ những buổi xúm xít bóc vỏ ngô cho đến việc khuân đá xây hàng rào. Các bà, các cô trong làng cũng thường xuyên sai gã chạy vặt, cậy nhờ gã làm dăm ba việc lặt vặt mà những ông chồng kém chiều chuộng của họ nhất quyết từ chối. Nói tóm lại, Rip luôn hăm hở xắn tay áo lo liệu chuyện thiên hạ, thế nhưng, hễ động đến bổn phận gia đình hay việc chăm nom trang trại nhà mình cho tươm tất, thì với gã, đó lại là một nhiệm vụ bất khả thi.
Thực tình mà nói, gã luôn chống chế rằng có cày cuốc trên mảnh ruộng nhà mình cũng bằng thừa; bởi đó là khoảnh đất đen đủi và tai ương nhất khắp vùng; mọi thứ dính dáng đến nó đều cứ trật nhịp và đổ bể, bất chấp gã có cố gắng thế nào. Hàng rào quanh nhà thì rệu rã rồi đổ sụp hết lần này tới lần khác; bò của gã nếu không đi lạc thì cũng lọt thỏm giữa những luống bắp cải. Cỏ dại mọc trên đồng nhà gã thì lúc nào cũng vươn lên mơn mởn và dai dẳng hơn bất kỳ nơi đâu. Những cơn mưa dường như luôn rình rập, chực chờ đổ ụp xuống ngay lúc gã vừa xắn tay áo định làm việc ngoài trời. Thành thử, dù cho khối di sản thừa kế của gã đã cứ thế teo tóp dần dưới bàn tay quản lý của chủ nhân, sứt mẻ từng mẫu một, cho đến khi chỉ còn trơ trọi một khoảnh nhỏ trồng ngô và khoai tây, thì đó vẫn là cái trang trại điêu tàn và thảm hại nhất trong xóm.
Con cái gã thì nhếch nhác, rách rưới và hoang dã như thể chúng chẳng thuộc về ai. Thằng nhóc Rip, con trai gã, y xì đúc như một bản sao hoàn hảo của cha nó, hứa hẹn sẽ kế thừa trọn vẹn mọi thói hư tật xấu, cùng với những bộ quần áo cũ sờn của ông bô. Người ta vẫn thường bắt gặp thằng nhóc lũn cũn chạy lẽo đẽo như một chú ngựa con bám gót mẹ, diện trên người chiếc quần chẽn lùng bùng của cha. Thứ trang phục quá khổ ấy khiến thằng bé phải chật vật dùng một tay xốc lên không ngừng, điệu bộ buồn cười chẳng khác nào một quý cô đang chật vật túm vạt váy dài trong những ngày mưa bão.
Mặc dù vậy, Rip Van Winkle lại đích thị là một trong những kẻ phàm phu tục tử mang số hưởng, sở hữu một cái tính khí hồn nhiên, nhơn nhơn, những kẻ luôn coi mọi sự trên đời nhẹ tựa lông hồng. Gã sẵn sàng gặm bánh mì trắng hay bánh mì đen, ăn bất cứ thứ gì kiếm được mà tốn ít mồ hôi và tâm sức nhất. Với gã, thà chết đói với một xu dính túi còn hơn vắt kiệt sức lao động để kiếm về một bảng. Nếu được mặc tình tự xoay xở, gã hẳn đã huýt sáo rong chơi suốt cả cuộc đời trong sự mãn nguyện tột cùng. Đằng này, bà vợ gã lại liên hồi the thé bên tai về thói biếng nhác, tính cẩu thả của gã, và cái viễn cảnh điêu tàn mà gã đang giáng xuống mái ấm gia đình. Sáng, trưa, rồi tối, cái lưỡi sắc lẻm của người đàn bà ấy hoạt động bền bỉ không ngưng nghỉ, và bất kể gã có mở miệng hay nhúc nhích làm gì cũng nắm chắc phần lãnh trọn một tràng diễn thuyết hùng hồn của bậc nội trợ. Trước những bài ca bất tận ấy, Rip chỉ có duy nhất một chiêu bài đối phó, và nhờ sử dụng đến mòn cả ra, nó đã nghiễm nhiên trở thành một thói quen vô thức. Gã chỉ khẽ nhún vai, lắc đầu, chớp mắt ngước nhìn lên trần nhà, và tuyệt nhiên không hé nửa lời. Khốn nỗi, sự im lặng ấy lại như châm ngòi nổ cho một tràng đại bác điếc tai mới từ vợ gã. Để rồi gã đành vui vẻ thu quân, rút lui êm thấm ra bên ngoài ngôi nhà-vùng lãnh thổ duy nhất, nói chẳng ngoa, thực sự thuộc về một ông chồng sợ vợ.

“Để rồi gã đành vui vẻ thu quân, rút lui êm thấm ra bên ngoài ngôi nhà-vùng lãnh thổ duy nhất, nói chẳng ngoa, thực sự thuộc về một ông chồng sợ vợ.”
Trong nhà, tín đồ trung thành duy nhất của Rip là con chó tên Sói. Con vật cũng khốn khổ với hội chứng sợ vợ y hệt ông chủ của nó; bởi lẽ bà Van Winkle luôn coi một người một chó kia là cặp bài trùng trong sự lười biếng. Bà thậm chí còn ném về phía Sói những cái lườm rách mặt, coi nó là mầm mống tội lỗi xúi giục chủ nhân thường xuyên trót dại lêu lổng. Sự thật là, xét trên mọi phẩm chất tinh thần của một giống chó danh giá, Sói là một trong những con thú dũng mãnh nhất từng sục sạo săn mồi chốn rừng sâu. Thế nhưng thử hỏi, trên đời này có thứ lòng dũng cảm nào đủ sức chống chọi lại những lời cay độc và nỗi kinh hoàng trút xuống từ cái lưỡi không xương của một người đàn bà chanh chua? Chẳng thế mà mỗi bận đặt chân vào nhà, ngực Sói lại rúm ró xẹp lép, đuôi cụp rủ xuống đất hoặc kẹp chặt giữa hai chân đùi. Nó rón rén cất từng bước với cái điệu bộ hãi hùng như một phạm nhân chờ lên giá treo cổ, mắt cứ len lén liếc chừng bà Van Winkle. Chỉ cần nghe thấy một tiếng vung vẩy nhẹ nhất của cán chổi hay cái muôi múc canh thôi, là y như rằng nó sẽ phóng thẳng ra cửa, vừa chạy trối chết vừa sủa ăng ẳng thảm thiết.

Những năm tháng hôn nhân cứ thế qua đi, mang theo bão táp ngày một tồi tệ hơn giội xuống đầu Rip Van Winkle. Một bản tính chua ngoa thì dẫu có bào mòn bởi tuổi tác cũng chẳng mảy may dịu đi chút nào, và một cái lưỡi sắc bén vốn là món vũ khí duy nhất trên đời lại càng được mài giũa cho thêm phần sắc lẹm sau những lần phóng túng không ngưng nghỉ. Đã từ độ rất lâu rồi, mỗi bận bị vợ tống cổ khỏi nhà, gã thường tự tìm niềm an ủi bằng cách lui tới một chốn tụ hội thường trực của các bậc hiền triết, triết gia và những thành phần vô công rỗi nghề khác trong làng. Họ thường nhóm họp trên một chiếc ghế dài kê trước mặt tiền của một quán trọ nhỏ xíu, nơi được đánh dấu bằng bức chân dung đỏ au của Đức vua George đệ Tam3. Tại chốn này, họ có thể rề rà ngồi trốn nắng suốt cả một ngày hè dài đằng đẵng, lười biếng buông những lời tầm phào về đủ thứ chuyện vặt vãnh trong làng, hoặc lải nhải kể đi kể lại những câu chuyện vô bổ buồn ngủ đến tận cùng. Dẫu vậy, thi thoảng nơi đây vẫn nổ ra những cuộc đàm đạo sâu sắc, thứ đáng giá bằng cả gia tài kếch xù của một tay chính khách nào đó, mỗi khi có một tờ báo ố vàng do người lữ khách quá bộ đánh rơi lọt vào tay họ. Ôi, cái cách mà đám đông ấy trang nghiêm vểnh tai nghe ngóng nội dung mới thật nực cười làm sao, khi ngài giáo làng Derrick Van Bummel-một gã đàn ông nhỏ thó, bóng bẩy và hay chữ-cất giọng ngân nga đọc to những dòng tin tức, chẳng hề tỏ ra nao núng dẫu phải đối mặt với những từ vựng đồ sộ nhất trong từ điển. Và rồi cái cách mà họ thông thái nghiền ngẫm, cân nhắc mổ xẻ các sự kiện chính trị xã hội vừa xảy ra từ... vài tháng trước, mới thật là uyên thâm mẫn tiệp làm sao!
Quan điểm và lập trường của toàn bộ cái hội nhóm rỗi việc này hoàn toàn bị chi phối bởi Nicholas Vedder, bậc trưởng lão của làng, đồng thời cũng là ông chủ quán trọ. Ngay trước cửa quán, ông lão kiên định an tọa trên chiếc ghế bành của mình từ tinh mơ cho đến lúc chạng vạng tối, chỉ khẽ khàng nhích người vừa đủ để nép mình vào bóng râm che chở của tán cây cổ thụ to lớn, rũ bỏ ánh nắng mặt trời gắt gao. Chuẩn xác đến độ, những người hàng xóm chỉ cần liếc nhìn vị trí xê dịch của ông lão là đoán ngay được giờ giấc hệt như đang xem một chiếc đồng hồ mặt trời vậy. Quả thực, hiếm khi nào người ta nghe thấy ông thốt ra nửa lời, nhưng cái tẩu thuốc trên môi thì lúc nào cũng đỏ lửa sòng sọc hút nhả không ngừng. Dẫu vậy, đám tín đồ trung thành của ông (bởi lẽ, phàm là vĩ nhân thì ắt hẳn phải có những môn đệ cho riêng mình) lại thấu hiểu ông rành rẽ đến chân tơ kẽ tóc, và luôn tỏ ra sành sỏi trong việc nắm bắt thánh ý. Bất cứ khi nào nghe đọc hay bàn luận về một vấn đề làm mình chướng tai gai mắt, người ta lập tức để ý thấy ông lão rít tẩu thuốc một cách hung bạo, phả ra những luồng khói ngắn, dồn dập, đậm sặc mùi giận dữ. Nhưng một khi đã trúng ý hài lòng, ông sẽ khoan thai hít vào những luồng khói thật chậm rãi và thanh thản, rồi từ tốn nhả ra thành những tầng mây mỏng tang, êm ái. Thậm chí có đôi bận, ông lão còn rút tẩu ra khỏi khóe miệng, đê mê tận hưởng làn hơi thuốc thơm lừng cuộn xoáy quanh chóp mũi, rồi trịnh trọng gật gù một cái đầy vẻ bề trên nhằm biểu thị sự tán đồng tuyệt đối.
Ấy thế mà, ngay cả từ cái thành lũy kiên cố nhường ấy, gã Rip tội nghiệp cuối cùng vẫn bị bà vợ chanh chua của mình đánh bật gốc rễ. Người đàn bà hung hãn nọ sẵn sàng xộc thẳng vào phá bĩnh sự tĩnh lặng của buổi tụ họp, gào thét mắng mỏ tất thảy các thành viên vô công rỗi nghề bằng những lời lẽ không ra gì. Ngay cả vị nhân vật đáng kính nhường ấy-chính là lão Nicholas Vedder-cũng chẳng thể nào bảo toàn danh dự trước cái lưỡi táo tợn và nanh nọc của bà. Bà ta huỵch toẹt công khai buộc tội ông lão vì cái tội dám tòng phạm dung túng và dung dưỡng cho thói lười biếng chảy thây của chồng bà.
Rip tội nghiệp cuối cùng cũng bị dồn đến bờ vực của sự tuyệt vọng; và lối thoát duy nhất của gã, cốt để chạy trốn khỏi gánh nặng đồng áng và những tràng la hét váng óc của cô vợ, là lẳng lặng vác súng lên vai rồi thả bộ lẩn khuất vào rừng sâu. Tại chốn thâm u này, thi thoảng gã lại ngồi thu mình dưới một gốc cây cổ thụ, sẻ chia chút lương khô cỏn con trong túi áo với chú chó Sói, đồng cảm sâu sắc với nó như một người bạn tri kỷ cùng chung số phận bị bạo hành. "Sói tội nghiệp," gã khẽ thở dài tâm sự, "bà chủ của mi bắt mi phải sống một cuộc sống của một con chó đúng nghĩa đen; nhưng chớ vội bận tâm, hỡi chàng trai của ta ơi, chừng nào ta đây còn thở thì mi sẽ không bao giờ thiếu vắng một người bạn sát cánh kề vai!" Đáp lại lời chủ, Sói khẽ vẫy vẫy cái đuôi ngoan ngoãn, ngước đôi mắt ươn ướt khát khao nhìn xoáy vào khuôn mặt buồn bã của gã; và, nếu quả thực loài chó cũng thấu cảm được nỗi xót thương, tôi tin chắc rằng sinh linh nhỏ bé ấy đã đáp đền lại thứ tình cảm của chủ nhân bằng trọn vẹn trái tim trung thành của mình.
Vào một ngày thu tuyệt đẹp, trong một chuyến đi rảo bước đường dài như thế, Rip vô tình leo lên tới một trong những đỉnh cao nhất của dãy Kaatskill. Anh đang mải mê theo đuổi thú vui bắn sóc yêu thích, để cho tiếng súng nổ vang rền rồi dội lại giữa chốn thâm sơn cùng cốc tĩnh lặng. Vào cuối buổi chiều, khi đã thấm mệt và thở hổn hển, anh gieo mình xuống một gò đất phủ đầy cỏ non, thứ tựa như chiếc vương miện xanh mướt ngự trên đỉnh vách đá. Qua một kẽ hở giữa những tán cây, anh có thể phóng tầm mắt bao quát cả một vùng nông thôn thấp trũng trải dài qua muôn dặm rừng rậm rạp. Từ tít tắp phía xa, con sông Hudson hùng vĩ hiện ra bên dưới, êm đềm nhưng oai vệ tuôn chảy. Điểm xuyết trên mặt nước phẳng lặng như gương là bóng dáng của một đám mây màu tía hay cánh buồm của một con thuyền đi lạc, tựa như đang chìm vào giấc ngủ say, để rồi cuối cùng hoàn toàn tan biến vào những vùng cao nguyên xanh thẳm.
Ngoái nhìn về phía bên kia, anh thấy một thung lũng sâu thẳm, hoang vu và lởm chởm đá. Dưới đáy lấp đầy những mảnh vỡ từ các vách núi cheo leo đổ xuống, nơi những tia nắng hiu hắt của buổi hoàng hôn cũng hiếm khi chạm tới. Rip nằm đó một lúc lâu, miên man chìm đắm vào cảnh vật. Bóng tối dần buông; những ngọn núi bắt đầu phủ cái bóng xanh thẫm, trải dài khắp các thung lũng. Anh sực nhận ra trời sẽ sập tối rất lâu trước khi mình kịp quay về làng, và bất giác buông một tiếng thở dài não nuột khi nghĩ tới viễn cảnh phải đối mặt với cơn thịnh nộ kinh hoàng của phu nhân Van Winkle.
Ngay lúc đang sửa soạn bước xuống, anh bỗng nghe thấy một giọng nói từ xa vọng lại, gọi lớn: “Rip Van Winkle! Rip Van Winkle!” Anh dáo dác nhìn quanh nhưng chẳng thấy gì ngoài một con quạ đang vỗ cánh đơn độc bay ngang qua ngọn núi. Anh tự nhủ hẳn trí tưởng tượng đã trêu đùa mình, rồi lại quay đi để tiếp tục xuống núi. Thế nhưng, tiếng gọi ấy lại một lần nữa xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi chạng vạng: “Rip Van Winkle! Rip Van Winkle!” Cùng lúc đó, Sói dựng ngược lông lưng, gầm gừ những tiếng trầm đục rồi rụt rè nấp vào bên cạnh chủ, ánh mắt sợ hãi rọi xuống thung lũng. Giờ đây, một nỗi e ngại mơ hồ bắt đầu len lỏi trong lòng Rip; anh ái ngại nhìn theo hướng chó cưng và phát hiện ra một bóng người kỳ lạ đang nhọc nhằn lết từng bước qua những mỏm đá, còng lưng cõng một vật gì đó trĩu nặng. Anh vô cùng kinh ngạc khi thấy bóng dáng con người ở một nơi hoang vu, hẻo lánh nhường này; nhưng đinh ninh đó là một người hàng xóm đang cần giúp đỡ, anh vội vàng chạy xuống để phụ một tay.

“Một nhóm những nhân vật có vẻ ngoài kỳ quái đang chơi ky4.”

Khi tiến đến gần, anh lại càng sửng sốt hơn trước vẻ ngoài dị thường của kẻ lạ mặt. Đó là một lão già thấp bé, tướng tá vuông vức, với mái tóc rậm rạp và bộ râu hoa râm. Lão ăn vận theo phong cách Hà Lan cổ xưa: một chiếc áo chẽn bằng vải thắt ngang lưng-cùng vài chiếc quần ống túm rủ xuống tận đầu gối, chiếc ngoài cùng thì rộng thùng thình và được điểm xuyết bằng những hàng khuy dọc hai bên. Lão vác trên vai một chiếc thùng phuy mập mạp, có vẻ như chứa đầy rượu, rồi ra hiệu cho Rip lại gần để san sẻ gánh nặng. Dù khá rụt rè và đầy hoài nghi với người quen mới này, Rip vẫn vâng lời với sự sốt sắng thường ngày; rồi cả hai cùng nhau gánh vác, leo lên một khe hẹp dường như là tàn tích cạn khô của một con suối trên núi. Dọc đường đi, thỉnh thoảng Rip lại nghe thấy những tràng âm thanh rền rĩ, kéo dài như tiếng sấm nổ đằng xa. Chúng dường như phát ra từ một khe núi sâu thẳm, hay đúng hơn là một hẻm núi nằm giữa những tảng đá cao chót vót ngay phía trước mặt, nơi con đường lởm chởm của họ đang dẫn tới. Anh khựng lại trong thoáng chốc, nhưng rồi gạt đi vì cho rằng đó chỉ là tiếng rầm rì của một cơn dông thoảng qua thường thấy trên đỉnh núi, và tiếp tục rảo bước. Băng qua khe núi, họ bước vào một vùng trũng tựa như một giảng đường thu nhỏ, được bao bọc bởi những vách đá dựng đứng. Trên mép vực cheo leo, cành lá vươn ra che khuất tầm nhìn, khiến người ta chỉ có thể lác đác bắt được những tia nhìn thoáng qua về bầu trời xanh thẳm và những đám mây chiều rực rỡ. Trong suốt quãng đường, Rip và người bạn đồng hành cứ thế nhọc nhằn lê bước trong câm lặng; bởi lẽ dẫu Rip vô cùng kinh ngạc chẳng hiểu mục đích của việc vác một thùng rượu lên ngọn núi hoang vu này là gì, nhưng dáng vẻ kỳ quái và bí hiểm của kẻ vô danh kia đã dấy lên trong anh sự kính sợ, ngăn cản mọi ý định lân la làm quen.


Vừa bước vào khoảng trũng, những điều kỳ dị mới lại tiếp tục phơi bày trước mắt anh. Trên một bãi đất phẳng lỳ ở giữa là một nhóm những nhân vật có vẻ ngoài kỳ quái đang chơi ky. Họ ăn mặc theo một phong cách dị thường, lạ lẫm; kẻ thì mặc áo khoác ngắn, người lại mặc áo chẽn với những con dao dài giắt ngay thắt lưng, và đa số đều diện những chiếc quần ống túm khổng lồ, mang kiểu dáng hệt như người dẫn đường của Rip. Diện mạo của họ cũng thật dị hợm; một gã có bộ râu rậm rạp, khuôn mặt to bè và đôi mắt ti hí như mắt lợn; khuôn mặt của gã khác lại như thể chỉ có mỗi chiếc mũi, đội chiếc mũ hình nón màu trắng điểm xuyết bằng cái đuôi gà trống đỏ chót. Tên nào tên nấy râu ria xồm xoàm, đủ mọi hình dáng và màu sắc. Trong số đó, có một người ra dáng thủ lĩnh. Đó là một lão già mập mạp, khuôn mặt hằn sâu sự dạn dày sương gió; lão khoác chiếc áo ngắn viền ren, đeo chiếc thắt lưng bản to nạm thanh kiếm cong, đầu đội chiếc mũ chóp cao điểm lông chim, đi tất đỏ và xỏ đôi giày gót cao đính hoa hồng. Cả đám người này gợi cho Rip nhớ đến những nhân vật trong một bức tranh Flemish cổ5 treo ở phòng khách của linh mục Van Shaick, vị cha xứ của ngôi làng-bức tranh đã được mang sang từ tận Hà Lan vào thời điểm làng mới được lập nên.

Điều khiến Rip cảm thấy đặc biệt kỳ quặc là đám người này rõ ràng đang vui chơi giải trí, nhưng ai nấy đều giữ một vẻ mặt nghiêm nghị tột độ cùng sự câm lặng đầy bí hiểm; chao ôi, đây hẳn là nhóm vui chơi sầu thảm nhất mà anh từng chứng kiến. Chẳng có gì phá vỡ sự tĩnh mịch của khung cảnh, ngoại trừ tiếng va chạm của những quả bóng ky; mỗi khi chúng lăn đi, âm thanh lại dội vào vách núi, rền rĩ như những tiếng sấm gầm.

“Họ giữ một vẻ mặt nghiêm nghị tột độ.”

“Họ trân trân nhìn anh bằng những ánh mắt bất động tựa tượng đá, khiến anh như thể thắt quặn ruột gan, hai đầu gối run bần bật đập cả vào nhau.”

“Thậm chí anh còn liều mạng nếm thử thứ đồ uống nọ, thứ mà anh nhận ra là sực nức hương vị của loại rượu Hà Lan hảo hạng.”

“Chắc chắn rồi,” anh thầm nghĩ, “Mình đã không ngủ ở đây cả đêm.... Ôi! Bình rượu đó! Bình rượu độc ác đó! Mình biết viện cớ gì với phu nhân Van Winkle đây?”
Khi Rip và người bạn đồng hành tiến đến gần, cả bọn đột nhiên ngừng chơi. Chúng trân trân nhìn anh bằng những ánh mắt bất động tựa tượng đá, với những khuôn mặt kỳ dị, thô kệch và vô hồn đến mức khiến trái tim anh thắt lại, hai đầu gối run bần bật đập cả vào nhau. Người bạn đồng hành lúc này trút sạch rượu trong thùng sang những chiếc bình lớn, rồi ra hiệu cho Rip hầu rượu đám người kia. Trong sự kinh hãi và run rẩy, anh răm rắp tuân lệnh; cả bọn nốc cạn thứ men say ấy trong sự im lặng đến rợn người, rồi lại thản nhiên quay về với trò chơi của mình.
Dần dà, nỗi sợ hãi và dè chừng trong Rip cũng nguôi ngoai. Thậm chí, nhân lúc không ai để ý, anh còn liều mạng nếm thử thứ đồ uống nọ, thứ mà anh nhận ra là sực nức hương vị của loại rượu Hà Lan hảo hạng. Vốn mang bản tính bợm nhậu, anh nhanh chóng bị cám dỗ mà nhấp thêm một ngụm nữa. Hương vị say đắm ấy cứ thế gọi mời, khiến anh liên tục lai vãng đến bên bình rượu. Anh uống nhiều đến mức, rốt cuộc mọi giác quan đều bị khuất phục; đôi mắt bỗng chốc hoa lên, đầu từ từ gục xuống, và anh lịm đi trong một giấc ngủ sâu.
Tỉnh giấc, Rip thấy mình đang nằm trên chính cái gò đất xanh mướt, nơi đầu tiên anh bắt gặp lão già kỳ lạ của thung lũng. Anh dụi mắt-đó là một buổi sáng chan hòa ánh nắng. Bầy chim đang chuyền cành ríu rít giữa những bụi cây, còn trên chín tầng không, một con đại bàng đang chao lượn, ưỡn ngực đón lấy luồng gió núi trong lành. "Chắc mẩm là," Rip thầm nghĩ, "mình đã không ngủ ở đây suốt cả đêm qua." Anh hồi tưởng lại những gì đã diễn ra trước khi thiếp đi. Người đàn ông kỳ dị với thùng rượu-hẻm núi-chốn hoang vu giữa điệp trùng rặng đá-nhóm người chơi ky ủ dột-bình rượu-"Ôi! Cái bình rượu đó! Cái bình rượu tai ác đó!" Rip than thầm,-"Giờ thì mình biết ăn nói ra sao với bà Van Winkle đây?"
Anh ngó quanh quất tìm khẩu súng, thế nhưng thay cho cây súng săn lúc nào cũng sạch sẽ và được bôi trơn kỹ lưỡng, anh lại thấy một khẩu hỏa mai cũ mèm nằm lăn lóc bên cạnh, nòng súng rỉ sét nhem nhuốc, khóa nòng long ra lỏng lẻo, còn báng súng thì đã bị mối mọt gặm nham nhở. Trong đầu anh bỗng nảy sinh nghi hoặc, hẳn là những gã tiệc tùng trang nghiêm trên núi kia đã bày trò chơi khăm mình, và sau khi chuốc anh say bí tỉ, họ đã nẫng mất khẩu súng. Con Sói cũng mất tăm mất tích, nhưng biết đâu nó chỉ mải đuổi theo một con sóc hay con gà gô nào đó. Anh huýt sáo gọi nó, rồi hét to tên nó, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích; chỉ có những tiếng vọng núi rừng nhại lại tiếng huýt sáo và tiếng hét của anh, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng con chó đâu.

"Tất cả họ đều trân trân nhìn anh với vẻ ngạc nhiên hệt như nhau, và cứ luôn tay vuốt cằm."

"Một đám trẻ con xa lạ chạy bám theo gót anh, la ó ầm ĩ và chỉ trỏ vào bộ râu xám xịt của anh."

"Lũ chó cũng vậy, chẳng một con nào trong số đó là người quen cũ, thi nhau sủa nhặng lên khi anh đi ngang qua."
Anh quyết định quay lại hiện trường vụ đùa cợt đêm qua, định bụng nếu bắt gặp bất kỳ gã nào trong nhóm, anh sẽ nhất quyết đòi lại chó và súng. Thế nhưng khi vừa cựa mình đứng dậy, anh cảm thấy các khớp xương rã rời, cứng ngắc, chẳng còn chút dẻo dai thường nhật. "Những chiếc giường trên núi này thật chẳng hợp với mình," Rip thầm nghĩ, "và nếu trò chơi khăm này khiến mình đổ bệnh thấp khớp nằm bẹp một chỗ, thì phước phần ở nhà với bà Van Winkle chắc hẳn sẽ 'tuyệt trần'." Vô cùng chật vật anh mới dò dẫm bước xuống được thung lũng: anh tìm thấy con lạch cạn mà anh cùng người bạn đồng hành kỳ dị đã leo lên vào tối hôm trước; nhưng trước sự sửng sốt của anh, giờ đây một con suối trên núi đang sủi bọt cuồn cuộn tuôn trào, nhảy nhót từ tảng đá này sang tảng đá khác, lấp đầy thung lũng bằng những tiếng róc rách miên man. Dù vậy, anh vẫn vất vả lần mò bám dọc theo đôi bờ suối, nhọc nhằn rẽ lối qua những lùm bạch dương, de vàng và cây phỉ. Thỉnh thoảng, anh lại lảo đảo vấp ngã hay vướng phải những đám nho dại, thứ dây leo bện xoắn từng vòng tua cuốn chằng chịt từ cây này sang cây khác, giăng ra một tấm lưới thiên la địa võng ngáng trở bước chân.
Cuối cùng anh cũng đến được chỗ hẻm núi rẽ qua vách đá để dẫn vào khu đất trống; nhưng mọi dấu vết của lối đi xưa kia nay đã biến mất tăm. Những tảng đá khổng lồ dựng đứng thành một bức tường cao vời vợi, bất khả xâm phạm. Ngay phía trên, dòng nước xối xả đổ xuống tạo thành một dải bọt trắng xóa nhẹ như lông chim, rồi trút thẳng xuống một hồ nước sâu thẳm, đen ngòm bởi bóng râm của khu rừng bao quanh. Chính tại nơi đây, Rip tội nghiệp đành chùn bước. Anh lại cất tiếng gọi và huýt sáo tìm chó; nhưng đáp lại chỉ có tiếng kêu quạ quạ của một bầy quạ nhàn rỗi, đang chao liệng trên cao quanh một thân cây khô chết đứng chênh vênh bên bờ vách đá ngập nắng. Từ trên độ cao an toàn, lũ chim dường như đang dòm xuống và hả hê nhạo báng sự luống cuống của kẻ khốn khổ. Phải làm sao đây? Buổi sáng đang dần trôi, và Rip cảm thấy lả đi vì đói meo. Lòng anh đau như cắt khi đành bỏ lại cả chó lẫn súng; anh cũng hoảng sợ khi nghĩ đến cảnh giáp mặt vợ; nhưng chết đói giữa chốn thâm sơn cùng cốc này thì phỏng có ích gì. Anh lắc đầu, vác khẩu hỏa mai rỉ sét lên vai, và với một trái tim trĩu nặng âu lo, lê bước trở về nhà.
Khi về đến gần làng, anh bắt gặp một số người, nhưng lại chẳng có ai là gương mặt thân quen, điều này khiến anh có đôi phần kinh ngạc, bởi anh từng đinh ninh rằng mình biết nhẵn mặt mọi người trong vùng. Thậm chí cách ăn mặc của họ cũng mang một lối lạ lẫm, khác hẳn với phong cách mà anh từng quen thuộc. Tất cả bọn họ đều trân trân nhìn anh với vẻ ngạc nhiên hệt như nhau, và cứ mỗi lần chạm mắt, họ lại bất giác đưa tay vuốt cằm. Sự lặp đi lặp lại liên tục của cử chỉ kỳ quặc này đã vô tình thôi thúc Rip làm theo. Thế rồi, trước sự kinh hoàng tột độ của chính mình, anh phát hiện ra bộ râu của mình đã mọc dài ra cả thước từ bao giờ!
Lúc này, anh đã bước đến khu vực ngoại ô của ngôi làng. Một đám trẻ con xa lạ chạy bám theo gót anh, la ó ầm ĩ và chỉ trỏ vào bộ râu xám xịt của anh. Lũ chó cũng vậy, chẳng một con nào trong số đó là người quen cũ, thi nhau sủa nhặng lên khi anh đi ngang qua. Ngay cả diện mạo ngôi làng cũng đổi thay khác lạ; nó rộng lớn và đông đúc hơn. Những dãy nhà lạ hoắc mọc lên, trong khi những chốn lui tới quen thuộc thuở nào nay đã hoàn toàn biến mất. Những cái tên xa lạ đề trên cửa-những khuôn mặt xa lạ ló ra từ ô cửa sổ-mọi thứ chốn này đều toát lên một vẻ lạ lùng. Phải chăng tâm trí anh đang dở chứng trêu đùa? Anh bắt đầu hoang mang tợn, tự hỏi liệu có phải cả bản thân lẫn thế giới xung quanh đều đã bị ma quỷ yểm bùa hay không. Nhưng rõ ràng đây vẫn là ngôi làng quê hương, nơi anh vừa mới rời đi ngay ngày hôm qua kia mà. Vẫn sừng sững Dãy núi Kaatskill đó-vẫn dòng Hudson lấp lánh ánh bạc chảy dài phía xa xa đó-từng ngọn đồi, từng thung lũng vẫn vẹn nguyên như muôn đời nay vẫn vậy. Rip hoang mang tột độ. "Cái bình rượu đêm qua," anh não nề nghĩ thầm, "quả thực đã làm cho cái đầu tội nghiệp của mình lú lẫn đến thảm hại!"

"Anh bàng hoàng nhận ra ngôi nhà đã rơi vào cảnh hoang tàn... 'Đến cả con chó của mình,' Rip tội nghiệp cất tiếng thở dài, 'cũng đã quên mình mất rồi.'"

"Họ xúm đen xúm đỏ quanh anh, săm soi anh từ đầu chí cuối với một nỗi tò mò vô hạn."
Khó khăn lắm anh mới lần mò ra được đường về chính ngôi nhà của mình. Anh rón rén lại gần với một nỗi nơm nớp lo sợ, cứ phấp phỏng chực chờ mảy may nghe thấy tiếng the thé chói tai của bà Van Winkle cất lên. Thế nhưng, anh bàng hoàng nhận ra ngôi nhà đã rơi vào cảnh hoang tàn-mái ngói sập xệ, những ô cửa sổ vỡ nát tung tóe, và mấy cánh cửa gỗ thì đã bung bật cả khỏi bản lề. Một con chó gầy giơ xương, nom từa tựa như con Sói, đang lén lút rình rập quanh quẩn đâu đó. Rip cất tiếng gọi tên, nhưng con chó lai chỉ gầm gừ, nhe nanh, rồi bỏ đi thẳng. Quả thực là một nhát dao chí mạng. "Đến cả con chó của mình," Rip tội nghiệp cất tiếng thở dài, "cũng đã quên mình mất rồi!"
Anh lê bước vào trong nhà, nơi mà, nói cho công bằng, thì xưa nay bà Van Winkle vẫn luôn dọn dẹp giữ gìn sạch sẽ, ngăn nắp. Nhưng giờ đây, nó chỉ còn lại một khoảng không trống hoác, hiu quạnh, và hiển nhiên là đã bị bỏ hoang từ thuở nào. Cảnh hoang tàn điêu tàn ấy đã lấn át cả nỗi khiếp sợ người vợ cằn nhằn muôn thuở-anh tuyệt vọng gọi lớn tên vợ và các con mình-những căn phòng trống trải hắt lại tiếng vọng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, rồi tất cả lại chìm nghỉm vào bầu không khí vắng lặng như tờ.
Anh vội vã hối hả chạy vụt ra ngoài, đâm bổ tới nơi chốn lui tới cũ-cái quán trọ của làng-nhưng hỡi ôi, nó cũng đã biến mất không tăm tích. Một tòa nhà gỗ to tướng, tồi tàn mọc lên thế chỗ, với những ô cửa sổ há hốc toang hoác. Một số ô kính vỡ nát còn được chắp vá tạm bợ bằng đủ loại nón mũ và váy lót cũ mèm. Ngay phía trên cửa là dòng chữ sơn lớn: "Khách sạn Liên minh, của Jonathan Doolittle." Chỗ của cây cổ thụ lớn từng rủ bóng che chở cho quán trọ Hà Lan nhỏ bé, yên ả năm xưa, giờ đây sừng sững một cây cột trọc lóc, cao chót vót, trên chóp có treo một vật gì đó trông giông giống chiếc mũ ngủ màu đỏ. Phấp phới tung bay từ cây cột ấy là một lá cờ mang đủ họa tiết sao sọc kỳ dị;-tất cả những cảnh tượng này đối với anh thật quá đỗi lạ lùng và chẳng thể nào lý giải nổi. Dù vậy, anh vẫn kịp nhận ra trên tấm biển hiệu khuôn mặt đỏ au của Vua George, nơi mà anh đã từng nhả khói biết bao điếu tẩu thanh bình. Tuy nhiên, ngay cả bức chân dung ấy cũng đã bị tô vẽ lại một cách kỳ quái. Chiếc áo khoác đỏ chót đã được thay thế bằng một sắc xanh dương và da bò; thay vì quyền trượng, nhân vật ấy lại cầm một thanh gươm vung lên tay; đầu đội một chiếc mũ lính có mào uy dũng, và ngay bên dưới bức vẽ là dòng chữ lớn: "Tướng Washington6."
Như lệ thường, có một đám đông bu quanh trước cửa, nhưng Rip tuyệt nhiên không nhận ra một khuôn mặt thân quen nào. Thậm chí, ngay cả cốt cách của con người nơi đây dường như cũng đã biến đổi. Thay cho sự điềm tĩnh và tĩnh lặng uể oải quen thuộc thuở nào, giờ đây là một tông giọng ồn ã, hối hả, rộn ràng những tiếng tranh luận sôi nổi. Anh đưa mắt dáo dác nhìn quanh, tuyệt vọng tìm kiếm hiền triết Nicholas Vedder, người mang khuôn mặt to bè, cằm nọng, với chiếc tẩu dài tuyệt đẹp luôn nhả ra những luồng khói thuốc thay cho những lời buôn chuyện nhàn rỗi; hay Van Bummel, ông thầy giáo làng vẫn thường thủng thẳng đọc cho mọi người nghe nội dung của một tờ báo cũ. Thay thế cho những bóng dáng xưa cũ ấy là một gã gầy gò, nom ốm yếu, hai bên túi nhét chật ních truyền đơn, đang huênh hoang diễn thuyết một cách máu lửa về các quyền của công dân-về bầu cử-các thành viên quốc hội-tự do-trận Bunker’s Hill7-những anh hùng của năm Bảy mươi sáu8-và đủ thứ từ ngữ khác, những thứ nghe như thể một thứ ngôn ngữ Babylon9 hỗn mang đối với một Van Winkle đang bàng hoàng, ngơ ngác tột độ.
Sự xuất hiện của Rip với chòm râu muối tiêu dài thượt, khẩu súng hỏa mai han gỉ, bộ dạng thô kệch, cùng cả một đạo quân đàn bà trẻ con bám gót, chẳng mấy chốc đã thu hút sự chú ý của cánh chính trị gia nơi quán rượu. Họ bu đen bu đỏ quanh anh ta, dò xét từ đầu đến chân với sự tò mò khôn tả. Gã diễn thuyết hối hả chạy tới, kéo anh ta lùi lại một chút rồi gặng hỏi: “Ông đã bầu cho phe nào?” Rip chỉ biết trố mắt nhìn bằng một vẻ ngốc nghếch, trống rỗng. Một gã thấp bé nhưng lăng xăng khác lại túm tay anh ta, kiễng chân lên thì thầm vào tai: “Ông thuộc phe Liên bang hay Dân chủ10?” Rip cũng đành bó tay, chẳng hiểu nổi câu hỏi ấy. Đúng lúc đó, một lão già bệ vệ, ra dáng thông thái, đội chiếc mũ có chóp nhọn, rẽ lối xuyên qua đám đông. Lão thúc cùi chỏ gạt người này người kia sang hai bên, rồi đứng cắm rễ ngay trước mặt Van Winkle. Một tay lão chống nạnh, tay kia tì lên gậy; đôi mắt sắc lẻm cùng chiếc mũ nhọn hoắt của lão dường như muốn nhìn thấu tận tâm can anh ta. Bằng một giọng nghiêm khắc, lão hạch sách: “Kẻ nào xui khiến ông vác súng đến cuộc bầu cử cùng cả đám đông bám gót thế này? Có phải ông định 19 gây bạo loạn trong làng không?” “Than ôi, thưa các ngài!” Rip thốt lên, có phần sửng sốt, “tôi chỉ là một người dân ôn hòa tội nghiệp, một người bản địa của vùng này, và là một thần dân trung thành của nhà vua, xin Chúa ban phước cho ngài!”

Con gái và cháu ngoại của Rip.
Ngay lập tức, một tiếng la hét chói tai bùng lên từ đám đông đứng xem: “Một tên bảo hoàng!11 Một tên bảo hoàng! Điệp viên! Kẻ tị nạn! Xô hắn ra! Đuổi cổ hắn đi!” Phải chật vật lắm, lão già bệ vệ đội mũ chóp nhọn mới vãn hồi được trật tự. Lão lại cau mày, nét mặt nghiêm khắc gấp mười lần ban nãy, tiếp tục tra vấn kẻ tội đồ vô danh xem ông ta đến đây làm gì và đang tìm kiếm ai. Người đàn ông tội nghiệp khúm núm đoan chắc rằng anh ta chẳng hề có ý định làm hại ai, mà chỉ đến đây để tìm vài người hàng xóm cũ thường hay lui tới quán rượu này.
“Thế-họ là ai?-xưng danh ra xem nào.”
Rip ngẫm nghĩ một lát, rồi dò hỏi: “Nicholas Vedder ở đâu?”
Một sự im lặng ngắn ngủi bao trùm, rồi một ông lão cất giọng the thé, mỏng manh đáp lời: “Nicholas Vedder ư! Ôi chao, ông ấy đã nhắm mắt xuôi tay mười tám năm nay rồi! Trước kia trong sân nhà thờ từng có một tấm bia mộ bằng gỗ ghi lại mọi thứ về ông ấy, nhưng giờ thì nó cũng đã mục nát và biến mất tự thuở nào.”
“Thế Brom Dutcher ở đâu?”
“Ồ, ông ấy đã tòng quân từ đầu cuộc chiến. Người ta bảo ông ấy đã tử trận trong cuộc tấn công vào Stony Point12-người khác lại nói ông ấy đã chết đuối trong một cơn bão ở chân núi Antony’s Nose13. Tôi cũng chẳng rõ-chỉ biết ông ấy không bao giờ trở lại nữa.”
“Thế còn Van Bummel, thầy giáo trường làng đâu rồi?”
“Ông ấy cũng ra trận rồi, từng làm đến chức tướng dân quân oai phong lẫm liệt, và giờ thì đang ngồi trong Quốc hội.”
Trái tim Rip như chết lặng khi hay tin về những biến cố đau buồn đã xảy đến với gia đình và bè bạn, đồng thời nhận ra mình đã trở nên cô độc trên thế gian này đến nhường nào. Mỗi câu trả lời đều khiến anh ta thêm phần hoang mang, bởi anh đang phải đối mặt với một sự đứt gãy 20 khổng lồ của thời gian, cùng những thứ mà bản thân không thể nào lý giải nổi: chiến tranh-Quốc hội-Stony Point. Anh ta chẳng còn dũng khí nào để hỏi thăm thêm bất cứ người bạn nào nữa, mà chỉ biết tuyệt vọng thốt lên: “Có ai ở đây biết Rip Van Winkle không?”
“Ồ, Rip Van Winkle!” hai ba người đồng thanh kêu lên. “Ồ, chắc chắn rồi! Rip Van Winkle đang đứng đằng kia kìa, cái người đang tựa lưng vào gốc cây ấy.”
Rip ngoảnh lại, và bàng hoàng nhìn thấy một bản sao y đúc của chính mình hồi mới lên núi: dáng vẻ rõ ràng cũng lười biếng, và quần áo chắc chắn cũng rách rưới y hệt. Gã đàn ông tội nghiệp giờ đây đã hoàn toàn hoảng loạn. Anh ta bắt đầu hoài nghi chính danh tính của mình, chẳng biết mình đang là mình hay là một kẻ nào khác nữa. Giữa lúc anh ta đang bấn loạn tột độ, lão già đội mũ chóp nhọn lại cất tiếng hạch sách xem anh ta là ai, và tên họ là gì.
“Chỉ có Chúa mới biết được!” anh ta bật khóc, lúc này đã hoàn toàn tuyệt vọng. “Tôi không phải là chính tôi-tôi là người khác-cái gã đằng kia mới là tôi-không-đó là một kẻ nào đó đã đánh tráo thân phận của tôi. Đêm qua tôi vẫn còn là chính mình cơ mà, nhưng tôi đã ngủ quên trên núi, rồi họ tráo mất khẩu súng của tôi. Mọi thứ đều đã thay đổi, tôi chẳng thể nói nổi tên mình là gì, hay mình là ai nữa!”
Những người đứng xem bắt đầu đưa mắt nhìn nhau, gật gù, nháy mắt đầy ẩn ý rồi gõ gõ ngón tay lên trán. Có những tiếng xì xào bàn tán về việc tước lấy khẩu súng, phòng trường hợp lão già giở trò điên rồ. Vừa nghe thấy lời đề nghị ấy, lão bệ vệ đội mũ chóp nhọn liền hốt hoảng lùi lại vài bước. Đúng vào cái thời khắc nguy ngập ấy, một người phụ nữ tươi tắn, xinh đẹp lách qua đám đông để ngó xem mặt mũi người đàn ông râu xám ra sao. Trên tay cô đang bế một đứa trẻ bụ bẫm; đứa bé, hoảng sợ trước bộ dạng của ông, liền khóc thét lên. “Suỵt, Rip,” cô dỗ dành, “suỵt nào, đồ ngốc bé nhỏ này; ông lão sẽ không làm con đau đâu.” Cái tên của đứa trẻ, vóc dáng của người mẹ, cùng giọng điệu của cô, tất cả đã đánh thức một chuỗi ký ức nằm sâu trong tâm trí ông. “Tên của cháu là gì, hỡi người phụ nữ hiền thục?” ông cất tiếng hỏi.21

Peter từng là cư dân cổ xưa nhất của ngôi làng (p. 24).
22
23 “Dạ, là Judith Gardenier.”
“Thế tên cha của cháu là gì?”
“À, người đàn ông tội nghiệp ấy, Rip Van Winkle chính là tên của cha cháu. Nhưng đã hai mươi năm đằng đẵng trôi qua kể từ ngày ông ấy xách súng rời khỏi nhà, rồi biệt tăm biệt tích. Con chó của ông ấy lủi thủi trở về nhà một mình; chẳng ai biết liệu ông ấy đã lỡ tay tự bắn mình, hay bị những người da đỏ bắt đi mất. Khi ấy, cháu vẫn chỉ là một đứa trẻ bé bỏng.”
Rip chỉ còn một câu hỏi cuối cùng muốn hỏi; ông cất lời bằng một giọng run rẩy:
“Thế mẹ của cháu đâu rồi?”
“Ồ, bà ấy cũng vừa mới qua đời cách đây ít lâu; bà ấy bị đứt mạch máu não trong một cơn thịnh nộ tột độ với một gã bán hàng rong đến từ New-England.”
Ít ra, thông tin này cũng mang lại đôi chút an ủi. Người đàn ông trung thực không thể kiềm chế được cảm xúc của mình thêm nữa. Ông ôm chầm lấy con gái và cháu ngoại vào lòng. “Cha chính là cha của con đây!” ông nức nở, “Rip Van Winkle thời trai trẻ thuở nào-giờ đã là Rip Van Winkle già nua của hiện tại!-Chẳng lẽ không một ai nhận ra Rip Van Winkle tội nghiệp này hay sao?”
Tất thảy mọi người đều đứng sững sờ, cho đến khi một bà cụ lảo đảo bước ra từ đám đông. Bà đưa tay lên trán che nắng, nheo mắt ngắm nghía khuôn mặt ông một chốc rồi thốt lên: “Đúng là như vậy rồi! Đây chính là Rip Van Winkle-thật sự là ông ấy rồi! Chào mừng ông đã trở lại quê nhà, người hàng xóm cũ của tôi. Ôi chao, ông đã lưu lạc ở chốn nao suốt hai mươi năm ròng rã vậy?”
Câu chuyện của Rip nhanh chóng được thuật lại, bởi trọn vẹn hăm mươi năm trời đằng đẵng đối với ông dường như chỉ là một giấc ngủ đêm. Những người hàng xóm không khỏi tròn mắt ngạc nhiên khi lắng nghe câu chuyện; thế nhưng, vài người lại lén nháy mắt với nhau và bĩu môi đầy hoài nghi. Về phần lão già bệ vệ đội mũ chóp nhọn, sau khi cơn hoảng hốt trôi qua, lão đã quay lại hiện trường, trễ khóe miệng xuống và khẽ lắc đầu-để rồi theo sau đó là một cái lắc đầu đồng loạt của cả đám đông.
24 Dẫu vậy, người ta vẫn quyết định tham khảo ý kiến của lão Peter Vanderdonk, người đang chậm rãi bước dạo trên đường. Lão là hậu duệ của nhà sử học cùng tên, người từng chắp bút viết nên một trong những ghi chép cổ xưa nhất về vùng này. Peter cũng là vị bô lão sống lâu năm nhất trong làng, vốn tường tận mọi sự kiện kỳ bí và truyền thuyết của vùng lân cận. Lão nhận ra Rip ngay tắp lự, và đứng ra làm chứng cho câu chuyện của ông một cách vô cùng thuyết phục. Lão đoan chắc với đám đông rằng những ngọn núi Kaatskill xưa nay vẫn luôn bị quỷ thần trêu ghẹo, đó là một sự thật hiển nhiên được truyền lại từ người tổ tiên làm sử học của lão. Lão kể rằng người ta vẫn đinh ninh ngài Hendrick Hudson14 vĩ đại, người đầu tiên khám phá ra con sông và vùng đất này, cứ mỗi hai mươi năm lại cùng với thủy thủ đoàn trên con tàu Half-moon15 tổ chức một cuộc hội hè nơi đây. Việc này cốt là để họ có dịp thăm lại chốn xưa nơi từng diễn ra cuộc phiêu lưu vĩ đại, đồng thời để mắt canh giữ con sông cùng thành phố bề thế mang tên ngài. Lão cam đoan rằng cha lão đã từng tận mắt trông thấy họ mặc những bộ trang phục Hà Lan cổ lỗ sĩ, đang chơi ném ky trong một hốc núi; và rằng chính bản thân lão, vào một buổi chiều mùa hè nọ, cũng từng nghe thấy âm thanh va chạm từ những quả bóng ky của họ vang dội hệt như những tràng sấm rền xa xa.
Nói tóm lại, đám đông dần giải tán và quay về với những mối bận tâm thiết thực hơn của cuộc bầu cử. Con gái của Rip đón ông về nhà phụng dưỡng. Cô có một ngôi nhà tươm tất, ấm cúng, cùng một người chồng nông dân khỏe mạnh, tính tình vui vẻ, mà Rip chợt nhận ra chính là một trong những thằng nhóc năm xưa vẫn thường hay leo lên lưng mình. Về phần cậu con trai kiêm người thừa kế của Rip, kẻ vốn là bản sao y đúc của ông, người ban nãy đang tựa lưng vào gốc cây, đã được thuê làm công cho một trang trại. Thế nhưng, cậu ta lại bộc lộ một bản tính di truyền trớ trêu: chuyên chú vào mọi thứ trên đời, ngoại trừ công việc của mình.
Rip giờ đây lại quay về với những chuyến tản bộ và nếp sống xưa cũ. Ông mau chóng tìm lại được nhiều người bạn cũ, dẫu ai nấy đều đã héo hon, tàn tạ trước sự bào mòn khắc nghiệt của thời gian. Thay vào đó, ông thích kết giao với thế hệ trẻ tuổi, những người mà ông nhanh chóng chiếm trọn được sự quý mến chân thành từ họ.

“Ông thích kết giao với thế hệ trẻ tuổi, những người mà ông nhanh chóng chiếm trọn được sự quý mến chân thành từ họ.”
25
Những ngọn núi Kaatskill xưa nay vẫn luôn bị quỷ thần trêu ghẹo.

“Dãy Kaatsberg hay núi Catskill vốn dĩ luôn là một vùng đất chìm đắm trong những câu chuyện ngụ ngôn.”
26
27 Chẳng màng đến chuyện nhà cửa, và cũng đã chạm đến cái độ tuổi sung sướng khi người ta có thể thảnh thơi nhàn rỗi mà chẳng sợ ai quở trách, ông lại một lần nữa chễm chệ ngồi trên chiếc ghế dài trước cửa quán trọ. Tại đây, ông được người ta sùng bái như một vị bô lão đáng kính của làng, một cuốn biên niên sử sống về những tháng ngày xưa cũ "trước cuộc chiến". Phải mất một thời gian, ông mới có thể bắt kịp nhịp độ của những câu chuyện phiếm thường nhật, cũng như thấu hiểu được những biến cố vĩ đại đã diễn ra trong suốt khoảng thời gian mình ngủ say. Rằng đã có một cuộc Chiến tranh Cách mạng nổ ra,-rằng đất nước đã rũ bỏ ách thống trị của mẫu quốc Anh,-và rằng, thay vì là một thần dân ngoan ngoãn của Đức vua George Đệ tam, ông giờ đây đã là một công dân tự do của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Thú thực thì Rip chẳng màng đến chính trị; sự thăng trầm của các tiểu bang hay các đế chế cũng chẳng đọng lại chút ấn tượng nào trong ông. Nhưng có một chế độ độc tài mà ông từng phải rên xiết phục tùng suốt một thời gian dài, đó chính là-chính phủ váy lót16. May mắn thay, triều đại ấy nay đã chấm dứt; ông đã dứt được cổ mình ra khỏi chiếc gông cùm của hôn nhân, để rồi có thể tự do đi sớm về khuya mà chẳng còn phải nơm nớp lo sợ sự bạo chúa của phu nhân Van Winkle nữa. Mặc dù vậy, cứ mỗi khi có ai nhắc đến tên bà, ông lại khẽ lắc đầu, nhún vai rồi ngước mắt lên trời; người ta có thể coi hành động ấy như một sự ngậm ngùi cam chịu số phận, hoặc cũng có thể là niềm hân hoan tột độ vì cuối cùng cũng được giải thoát.

Ông thường đem câu chuyện của mình ra kể cho bất cứ khách lạ nào ghé qua khách sạn của ông Doolittle. Thoạt đầu, người ta nhận thấy mỗi lần kể, ông lại thay đổi một vài tiểu tiết. Chắc mẩm điều này là do ông mới tỉnh giấc chưa lâu. Nhưng rồi, theo thời gian, câu chuyện dần đi vào khuôn khổ, chính xác như những gì tôi vừa thuật lại. Dần dà, khắp hang cùng ngõ hẻm vùng này, từ đàn ông, đàn bà cho chí trẻ con, chẳng ai là không thuộc nằm lòng câu chuyện ấy. Dĩ nhiên, vẫn có những kẻ luôn tỏ ra hoài nghi về tính xác thực của câu chuyện, một mực khăng khăng rằng Rip đã mất trí, 28 và rằng ông vốn đã dở hơi như vậy từ thuở nảo thuở nào. Tuy nhiên, những cư dân gốc Hà Lan lớn tuổi thì lại tin sái cổ. Thậm chí cho đến tận ngày nay, cứ mỗi độ nghe thấy tiếng sấm rền vang trong một buổi chiều mùa hè quanh vùng Kaatskill, họ lại bảo nhau rằng ngài Hendrick Hudson cùng thủy thủ đoàn đang say sưa với trò ném ky của mình. Và đối với tất thảy những gã chồng sợ vợ trong vùng, mỗi khi cuộc đời trở nên quá đỗi ngột ngạt, họ đều mang chung một niềm ước ao: giá mà có được một ngụm rượu an thần từ chiếc bình thần kỳ của lão Rip Van Winkle.
29
Họ bị cai trị bởi hồn ma của một mụ phù thủy già.
30
Rất dễ bị tác động bởi những sự kiện và hiện tượng kỳ diệu.
31
-
Peter Stuyvesant là Thống đốc người Hà Lan cuối cùng của thuộc địa Tân Hà Lan (nay là tiểu bang New York) trước khi thuộc địa này rơi vào tay người Anh năm 1664. Tác giả gọi ông là "nhân hậu" với hàm ý giễu nhại, vì ông thực chất nổi tiếng là một nhà cai trị vô cùng độc đoán và quân phiệt. ↩
-
Fort Christina là một khu định cư và là pháo đài đầu tiên của Thụy Điển ở Bắc Mỹ. Năm 1655, Peter Stuyvesant dẫn quân Hà Lan đến bao vây và chiếm lấy pháo đài này mà không gặp phải sự kháng cự đổ máu nào, qua đó chấm dứt sự tồn tại của thuộc địa Tân Thụy Điển. ↩
-
Vua George III (1738-1820) là quốc vương của Vương quốc Anh. Hình ảnh của ông trên biển hiệu quán trọ cho thấy thời điểm bắt đầu câu chuyện là khi nước Mỹ (đặc biệt là bang New York) vẫn đang là thuộc địa và chịu sự cai trị của Đế quốc Anh. ↩
-
Dịch từ "ninepins" (ném ky), một trò chơi truyền thống của châu Âu và là tiền thân của môn bowling hiện đại. Trong truyện, tiếng bóng lăn đập vào các con ky gỗ trên núi được người dân địa phương giải thích như là nguồn gốc của những âm thanh sấm rền xa xa. ↩
-
Flemish (thuộc xứ Flanders, khu vực nói tiếng Hà Lan ở Bỉ ngày nay) từng là một trung tâm nghệ thuật vĩ đại của châu Âu. Tranh Flemish cổ nổi tiếng với phong cách tả thực chi tiết, khắc họa đời sống sinh hoạt dân dã và những nhân vật có đặc điểm ngoại hình dị biệt hoặc trang phục rực rỡ. ↩
-
George Washington là Tổng tư lệnh của Lục quân Lục địa trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ và sau này là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Chi tiết bức chân dung Vua George III bị sửa thành Washington cho thấy khoảng thời gian Rip ngủ quên là lúc nước Mỹ trải qua cuộc cách mạng giành độc lập. ↩
-
Trận Bunker Hill (1775) là một trong những trận đánh lớn đầu tiên trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Dẫu quân Mỹ thất bại, trận đánh này đã chứng minh tinh thần quật cường của họ trước quân đội Hoàng gia Anh. ↩
-
Chỉ năm 1776, năm mà Mười ba thuộc địa Mỹ thông qua Tuyên ngôn Độc lập, chính thức tuyên bố ly khai khỏi Vương quốc Anh. "Những anh hùng của năm Bảy mươi sáu" là cách gọi tôn kính dành cho những người đã tham gia vào cuộc cách mạng này. ↩
-
Nguyên gốc tiếng Anh là "Babylonish jargon", ám chỉ điển tích Tháp Babel trong Kinh Thánh, nơi con người bị Chúa làm cho rối loạn ngôn ngữ khiến họ không thể hiểu nhau. Ở đây, nó thể hiện việc Rip hoàn toàn mù tịt trước những thuật ngữ chính trị mới mẻ của nước Mỹ độc lập. ↩
-
Ám chỉ hai đảng phái chính trị sơ khai của Hoa Kỳ sau khi giành độc lập. Phe Liên bang (Federalist) ủng hộ một chính phủ trung ương mạnh mẽ, còn phe Dân chủ-Cộng hòa (Democratic-Republican) ủng hộ quyền lực thuộc về các tiểu bang. Cụm từ này cho thấy sự chuyển mình rõ rệt của nước Mỹ sang nền chính trị dân chủ mà Rip hoàn toàn không hay biết. ↩
-
Được dịch từ "A tory!". Trong thời kỳ Cách mạng Mỹ, "tory" (bảo hoàng) là từ mang ý miệt thị dùng để chỉ những người dân thuộc địa vẫn trung thành với Vương quốc Anh. Việc Rip vô tình cầu nguyện cho nhà Vua đã khiến đám đông hiểu lầm ông là một kẻ phản quốc. ↩
-
Trận Stony Point (1779) là một trận chiến quan trọng trong Chiến tranh Cách mạng, nơi Tướng "Mad" Anthony Wayne dẫn đầu một cuộc tấn công bất ngờ vào ban đêm để chiếm lại pháo đài từ tay quân Anh. ↩
-
Một đỉnh núi nổi tiếng nằm trong vùng Cao nguyên Hudson ở bang New York, được đặt tên dựa trên hình dáng lồi ra đặc trưng giống một chiếc mũi khổng lồ. ↩
-
Henry Hudson (thường được người Hà Lan gọi là Hendrick) là một nhà thám hiểm người Anh được Công ty Đông Ấn Hà Lan thuê. Năm 1609, ông đã khám phá ra dòng sông mang tên ông ngày nay (sông Hudson) trên hành trình tìm kiếm một tuyến đường biển mới đến châu Á. ↩
-
Halve Maen (tiếng Hà Lan, nghĩa là Bán Nguyệt - Half Moon) là tên chiếc tàu của Henry Hudson trong chuyến thám hiểm Bắc Mỹ năm 1609, chuyến đi đã mở đường cho việc thành lập thuộc địa Tân Hà Lan. ↩
-
Dịch từ "petticoat government", một thành ngữ cổ ám chỉ việc người phụ nữ nắm quyền kiểm soát, thao túng người đàn ông trong gia đình hoặc cai trị chính quyền. Ở đây, tác giả dùng nó một cách hài hước để so sánh sự cai quản khắc nghiệt của bà vợ Van Winkle ngang với một chế độ độc tài. ↩
RIP VAN WINKLE

hoever has made a voyage up the Hudson must remember the Kaatskill mountains. They are a dismembered branch of the great Appalachian family, and are seen away to the west of the river, swelling up to a noble height, and lording it over the surrounding country. Every change of season, every change of weather, indeed, every hour of the day, produces some change in the magical hues and shapes of these mountains, and they are regarded by all the good wives, far and near, as perfect barometers. When the weather is fair and settled, they are clothed in blue and purple, and print their bold outlines on the clear evening sky; but sometimes, when the rest of the landscape is cloudless, they will gather a hood of grey vapours about their summits, which, in the last rays of the setting sun, will glow and light up like a crown of glory.
At the foot of these fairy mountains, the voyager may have descried the light smoke curling up from a village, whose shingle-roofs gleam among the trees, just where the blue tints of the upland melt away into the fresh green of the nearer landscape. It is a little village, of great antiquity, having been founded by some of the Dutch colonists in the early times of the province, just about the beginning of the government of the good Peter Stuyvesant (may he rest in peace!), and there were some of the houses of the original settlers standing within a few years, built of small yellow bricks brought from Holland, having latticed windows and gable fronts, surmounted with weathercocks.
In that same village and in one of these very houses (which, to tell the precise truth, was sadly time-worn and weather-beaten), there lived, many years since, while the country was yet a province of Great Britain, a simple, good-natured fellow, of the name of Rip Van Winkle. He was a descendant of the Van Winkles who figured so gallantly in the chivalrous days of Peter Stuyvesant, and accompanied him to the siege of Fort Christina. He inherited, however, but little of the martial character of his ancestors. I have observed that he was a simple, good-natured man; he was, moreover, a kind neighbour, and an obedient, hen-pecked husband. Indeed, to the latter circumstance might be owing that meekness of spirit which gained him such universal popularity; for those men are apt to be obsequious and conciliating abroad, who are under the discipline of shrews at home. Their tempers, doubtless, are rendered pliant and malleable in the fiery furnace of domestic tribulation; and a curtain-lecture is worth all the sermons in the world for teaching the virtues of patience and long-suffering. A termagant wife may, therefore, in some respects, be considered a tolerable blessing; and if so, Rip Van Winkle was thrice blessed.
Certain it is that he was a great favourite among all the good wives of the village, who, as usual with the amiable sex, took his part in all family squabbles; and never failed, whenever they talked those matters over in their evening gossipings, to lay all the blame on Dame Van Winkle. The children of the village, too, would shout with joy whenever he approached. He assisted at their sports, made their playthings, taught them to fly kites and shoot marbles, and told them long stories of ghosts, witches, and Indians. Whenever he went dodging about the village, he was surrounded by a troop of them, hanging on his skirts, clambering on his back, and playing a thousand tricks on him with impunity; and not a dog would bark at him throughout the neighbourhood.

“His cow would go astray or get among the cabbages.”

“His children were as ragged and wild as if they belonged to nobody.”

“Equipped in a pair of his father’s cast-off galligaskins, which he had as much ado to hold up as a fine lady does her train in bad weather.”

Long stories of ghosts, witches, and Indians.
The great error in Rip’s composition was an insuperable aversion to all kinds of profitable labour. It could not be for want of assiduity or perseverance; for he would sit on a wet rock, with a rod as long and heavy as a Tartar’s lance, and fish all day without a murmur, even though he should not be encouraged by a single nibble. He would carry a fowling-piece on his shoulder for hours together, trudging through woods and swamps, and up hill and down dale, to shoot a few squirrels or wild pigeons. He would never refuse to assist a neighbour even in the roughest toil, and was a foremost man in all country frolics for husking Indian corn, or building stone fences; the women of the village, too, used to employ him to run their errands, and to do such little odd jobs as their less obliging husbands would not do for them. In a word, Rip was ready to attend to anybody’s business but his own; but as to doing family duty, and keeping his farm in order, he found it impossible.
In fact, he declared it was of no use to work on his farm; it was the most pestilent little piece of ground in the whole country; everything about it went wrong, in spite of him. His fences were continually falling to pieces; his cow would either go astray, or get among the cabbages; weeds were sure to grow quicker in his fields than anywhere else; the rain always made a point of setting in just as he had some outdoor work to do; so that though his patrimonial estate had dwindled away under his management, acre by acre, until there was little more left than a mere patch of Indian corn and potatoes, yet it was the worst-conditioned farm in the neighbourhood.
His children, too, were as ragged and wild as if they belonged to nobody. His son Rip, an urchin begotten in his own likeness, promised to inherit the habits, with the old clothes, of his father. He was generally seen trooping like a colt at his mother’s heels, equipped in a pair of his father’s cast-off galligaskins, which he had much ado to hold up with one hand, as a fine lady does her train in bad weather.
Rip Van Winkle, however, was one of those happy mortals, of foolish, well-oiled dispositions, who take the world easy, eat white bread or brown, whichever can be got with least thought or trouble, and would rather starve on a penny than work for a pound. If left to himself, he would have whistled life away in perfect contentment; but his wife kept continually dinning in his ears about his idleness, his carelessness, and the ruin he was bringing on his family. Morning, noon, and night, her tongue was incessantly going, and everything he said or did was sure to produce a torrent of household eloquence. Rip had but one way of replying to all lectures of the kind, and that, by frequent use, had grown into a habit. He shrugged his shoulders, shook his head, cast up his eyes, but said nothing. This, however, always provoked a fresh volley from his wife; so that he was fain to draw off his forces, and take to the outside of the house-the only side which, in truth, belongs to a hen-pecked husband.

“So that he was fain to draw off his forces and take to the outside of the house-the only side which, in truth, belongs to a henpecked husband.”
Rip’s sole domestic adherent was his dog Wolf, who was as much hen-pecked as his master; for Dame Van Winkle regarded them as companions in idleness, and even looked upon Wolf with an evil eye, as the cause of his master’s going so often astray. True it is, in all points of spirit befitting an honourable dog, he was as courageous an animal as ever scoured the woods-but what courage can withstand the evil-doing and all-besetting terrors of a woman’s tongue? The moment Wolf entered the house his chest fell, his tail drooped to the ground or curled between his legs, he sneaked about with a gallows air, casting many a sidelong glance at Dame Van Winkle, and at the least flourish of a broomstick or ladle he would fly to the door with yelping precipitation.

Times grew worse and worse with Rip Van Winkle as years of matrimony rolled on; a tart temper never mellows with age, and a sharp tongue is the only edged tool that grows keener with constant use. For a long while he used to console himself, when driven from home, by frequenting a kind of perpetual club of the sages, philosophers and other idle personages of the village, which held its sessions on a bench before a small inn, designated by a rubicund portrait of His Majesty George the Third. Here they used to sit in the shade through a long, lazy summer’s day, talking listlessly over village gossip, or telling endless, sleepy stories about nothing. But it would have been worth any statesman’s money to have heard the profound discussions that sometimes took place, when by chance an old newspaper fell into their hands from some passing traveller. How solemnly they would listen to the contents, as drawled out by Derrick Van Bummel, the schoolmaster, a dapper, learned little man, who was not to be daunted by the most gigantic word in the dictionary; and how sagely they would deliberate upon public events some months after they had taken place.
The opinions of this junto were completely controlled by Nicholas Vedder, a patriarch of the village, and landlord of the inn, at the door of which he took his seat from morning till night, just moving sufficiently to avoid the sun and keep in the shade of a large tree; so that the neighbours could tell the hour by his movements as accurately as by a sun-dial. It is true he was rarely heard to speak, but smoked his pipe incessantly. His adherents, however (for every great man has his adherents), perfectly understood him, and knew how to gather his opinions. When anything that was read or related displeased him, he was observed to smoke his pipe vehemently, and to send forth short, frequent, and angry puffs; but when pleased, he would inhale the smoke slowly and tranquilly, and emit it in light and placid clouds; and sometimes, taking the pipe from his mouth, and letting the fragrant vapour curl about his nose, would gravely nod his head in token of perfect approbation.
From even this stronghold the unlucky Rip was at length routed by his termagant wife, who would suddenly break in upon the tranquillity of the assemblage and call the members all to naught; nor was that august personage, Nicholas Vedder himself, sacred from the daring tongue of this terrible virago, who charged him outright with encouraging her husband in habits of idleness.
Poor Rip was at last reduced almost to despair; and his only alternative, to escape from the labour of the farm and clamour of his wife, was to take gun in hand and stroll away into the woods. Here he would sometimes seat himself at the foot of a tree, and share the contents of his wallet with Wolf, with whom he sympathised as a fellow-sufferer in persecution. “Poor Wolf,” he would say, “thy mistress leads thee a dog’s life of it; but never mind, my lad, whilst I live thou shalt never want a friend to stand by thee!” Wolf would wag his tail, look wistfully in his master’s face; and, if dogs can feel pity, I verily believe he reciprocated the sentiment with all his heart.
In a long ramble of the kind on a fine autumnal day, Rip had unconsciously scrambled to one of the highest parts of the Kaatskill Mountains. He was after his favourite sport of squirrel shooting, and the still solitudes had echoed and re-echoed with the reports of his gun. Panting and fatigued, he threw himself, late in the afternoon, on a green knoll, covered with mountain herbage, that crowned the brow of a precipice. From an opening between the trees he could overlook all the lower country for many a mile of rich woodland. He saw at a distance the lordly Hudson, far, far below him, moving on its silent but majestic course, with the reflection of a purple cloud, or the sail of a lagging bark, here and there sleeping on its glassy bosom, and at last losing itself in the blue highlands.
On the other side he looked down into a deep mountain glen, wild, lonely, and shagged, the bottom filled with fragments from the impending cliffs, and scarcely lighted by the reflected rays of the setting sun. For some time Rip lay musing on this scene; evening was gradually advancing; the mountains began to throw their long blue shadows over the valleys; he saw that it would be dark long before he could reach the village, and he heaved a heavy sigh when he thought of encountering the terrors of Dame Van Winkle.
As he was about to descend, he heard a voice from a distance, hallooing: “Rip Van Winkle! Rip Van Winkle!” He looked round, but could see nothing but a crow winging its solitary flight across the mountain. He thought his fancy must have deceived him, and turned again to descend, when he heard the same cry ring through the still evening air: “Rip Van Winkle! Rip Van Winkle!” At the same time Wolf bristled up his back, and giving a low growl, skulked to his master’s side, looking fearfully down into the glen. Rip now felt a vague apprehension stealing over him; he looked anxiously in the same direction, and perceived a strange figure slowly toiling up the rocks, and bending under the weight of something he carried on his back. He was surprised to see any human being in this lonely and unfrequented place; but supposing it to be some one of the neighbourhood in need of his assistance, he hastened down to yield it.

“A company of odd-looking persons playing at ninepins.”

On nearer approach he was still more surprised at the singularity of the stranger’s appearance. He was a short, square-built old fellow, with thick bushy hair, and a grizzled beard. His dress was of the antique Dutch fashion: a cloth jerkin strapped round the waist-several pair of breeches, the outer one of ample volume, decorated with rows of buttons down the sides, and bunches at the knees. He bore on his shoulder a stout keg, that seemed full of liquor, and made signs for Rip to approach and assist him with the load. Though rather shy and distrustful of his new acquaintance, Rip complied with his usual alacrity; and mutually relieving one another, they clambered up a narrow gully, apparently the dry bed of a mountain torrent. As they ascended, Rip every now and then heard long, rolling peals, like distant thunder, that seemed to issue out of a deep ravine, or rather cleft, between lofty rocks, toward which their ragged path conducted. He paused for an instant, but supposing it to be the muttering of one of those transient thunder-showers which often take place in mountain heights, he proceeded. Passing through the ravine, they came to a hollow, like a small amphitheatre, surrounded by perpendicular precipices, over the brinks of which impending trees shot their branches, so that you only caught glimpses of the azure sky and the bright evening cloud. During the whole time Rip and his companion had laboured on in silence; for though the former marvelled greatly what could be the object of carrying a keg of liquor up this wild mountain, yet there was something strange and incomprehensible about the unknown, that inspired awe and checked familiarity.


On entering the amphitheatre, new objects of wonder presented themselves. On a level spot in the centre was a company of odd-looking personages playing at ninepins. They were dressed in a quaint, outlandish fashion; some wore short doublets, others jerkins, with long knives in their belts, and most of them had enormous breeches, of similar style with that of the guide’s. Their visages, too, were peculiar; one had a large beard, broad face, and small piggish eyes; the face of another seemed to consist entirely of nose, and was surmounted by a white sugar-loaf hat, set off with a little red cock’s tail. They all had beards, of various shapes and colours. There was one who seemed to be the commander. He was a stout old gentleman, with a weather-beaten countenance; he wore a laced doublet, broad belt and hanger, high-crowned hat and feather, red stockings, and high-heeled shoes, with roses in them. The whole group reminded Rip of the figures in an old Flemish painting, in the parlour of Dominie Van Shaick, the village parson, and which had been brought over from Holland at the time of the settlement.

What seemed particularly odd to Rip was, that these folks were evidently amusing themselves, yet they maintained the gravest faces, the most mysterious silence, and were, withal, the most melancholy party of pleasure he had ever witnessed. Nothing interrupted the stillness of the scene but the noise of the balls, which, whenever they were rolled, echoed along the mountains like rumbling peals of thunder.

“They maintained the gravest faces.”

“They stared at him with such fixed, statue-like gaze, that his heart turned within him and his knees smote together.”

“He even ventured to taste the beverage, which he found had much of the flavour of excellent Hollands.”

“Surely,” thought he, “I have not slept here all night.... Oh! that flagon! that wicked flagon! what excuse shall I make to Dame Van Winkle?”
As Rip and his companion approached them, they suddenly desisted from their play, and stared at him with such fixed, statue-like gaze, and such strange, uncouth, lack-lustre countenances, that his heart turned within him, and his knees smote together. His companion now emptied the contents of the keg into large flagons, and made signs to him to wait upon the company. He obeyed with fear and trembling; they quaffed the liquor in profound silence, and then returned to their game.
By degrees Rip’s awe and apprehension subsided. He even ventured, when no eye was fixed upon him, to taste the beverage, which he found had much of the flavour of excellent Hollands. He was naturally a thirsty soul, and was soon tempted to repeat the draught. One taste provoked another; and he reiterated his visits to the flagon so often that at length his senses were overpowered, his eyes swam in his head, his head gradually declined, and he fell into a deep sleep.
On waking, he found himself on the green knoll whence he had first seen the old man of the glen. He rubbed his eyes-it was a bright sunny morning. The birds were hopping and twittering among the bushes, and the eagle was wheeling aloft, and breasting the pure mountain breeze. “Surely,” thought Rip, “I have not slept here all night.” He recalled the occurrences before he fell asleep. The strange man with a keg of liquor-the mountain ravine-the wild retreat among the rocks-the woebegone party at ninepins-the flagon-“Oh! that flagon! that wicked flagon!” thought Rip,-“what excuse shall I make to Dame Van Winkle?”
He looked round for his gun, but in place of the clean, well-oiled fowling-piece, he found an old firelock lying by him, the barrel incrusted with rust, the lock falling off, and the stock worm-eaten. He now suspected that the grave roysterers of the mountains had put a trick upon him, and, having dosed him with liquor, had robbed him of his gun. Wolf, too, had disappeared, but he might have strayed away after a squirrel or partridge. He whistled after him, and shouted his name, but all in vain; the echoes repeated his whistle and shout, but no dog was to be seen.

“They all stared at him with equal marks of surprise and invariably stroked their chins.”

“A troop of strange children ran at his heels, hooting after him and pointing at his grey beard.”

“The dogs, too, not one of whom he recognised for an old acquaintance, barked at him as he passed.”
He determined to revisit the scene of the last evening’s gambol, and if he met with any of the party, to demand his dog and gun. As he rose to walk, he found himself stiff in the joints, and wanting in his usual activity. “These mountain beds do not agree with me,” thought Rip, “and if this frolic should lay me up with a fit of the rheumatism, I shall have a blessed time with Dame Van Winkle.” With some difficulty he got down into the glen: he found the gully up which he and his companion had ascended the preceding evening; but to his astonishment a mountain stream was now foaming down it, leaping from rock to rock, and filling the glen with babbling murmurs. He, however, made shift to scramble up its sides, working his toilsome way through thickets of birch, sassafras, and witch-hazel, and sometimes tripped up or entangled by the wild grape-vines that twisted their coils or tendrils from tree to tree, and spread a kind of network in his path.
At length he reached to where the ravine had opened through the cliffs to the amphitheatre; but no traces of such opening remained. The rocks presented a high, impenetrable wall, over which the torrent came tumbling in a sheet of feathery foam, and fell into a broad deep basin, black from the shadows of the surrounding forest. Here, then, poor Rip was brought to a stand. He again called and whistled after his dog; he was only answered by the cawing of a flock of idle crows, sporting high in the air about a dry tree that overhung a sunny precipice; and who, secure in their elevation, seemed to look down and scoff at the poor man’s perplexities. What was to be done? the morning was passing away, and Rip felt famished for want of his breakfast. He grieved to give up his dog and gun; he dreaded to meet his wife; but it would not do to starve among the mountains. He shook his head, shouldered the rusty firelock, and, with a heart full of trouble and anxiety, turned his steps homeward.
As he approached the village he met a number of people, but none whom he knew, which somewhat surprised him, for he had thought himself acquainted with every one in the country round. Their dress, too, was of a different fashion from that to which he was accustomed. They all stared at him with equal marks of surprise, and whenever they cast their eyes upon him, invariably stroked their chins. The constant recurrence of this gesture induced Rip, involuntarily, to do the same, when, to his astonishment, he found his beard had grown a foot long!
He had now entered the skirts of the village. A troop of strange children ran at his heels, hooting after him, and pointing at his grey beard. The dogs, too, not one of whom he recognised for an old acquaintance, barked at him as he passed. The very village was altered; it was larger and more populous. There were rows of houses which he had never seen before, and those which had been his familiar haunts had disappeared. Strange names were over the doors-strange faces at the windows-everything was strange. His mind now misgave him; he began to doubt whether both he and the world around him were not bewitched. Surely this was his native village, which he had left but the day before. There stood the Kaatskill Mountains-there ran the silver Hudson at a distance-there was every hill and dale precisely as it had always been. Rip was sorely perplexed. “That flagon last night,” thought he, “has addled my poor head sadly!”

“He found the house gone to decay.... ‘My very dog,’ sighed poor Rip, ‘has forgotten me.’”

“They crowded round him, eyeing him from head to foot with great curiosity.”
It was with some difficulty that he found the way to his own house, which he approached with silent awe, expecting every moment to hear the shrill voice of Dame Van Winkle. He found the house gone to decay-the roof had fallen in, the windows shattered, and the doors off the hinges. A half-starved dog that looked like Wolf was skulking about it. Rip called him by name, but the cur snarled, showed his teeth, and passed on. This was an unkind cut indeed. “My very dog,” sighed poor Rip, “has forgotten me!”
He entered the house, which, to tell the truth, Dame Van Winkle had always kept in neat order. It was empty, forlorn, and apparently abandoned. This desolateness overcame all his connubial fears-he called loudly for his wife and children-the lonely chambers rang for a moment with his voice, and then all again was silence.
He now hurried forth, and hastened to his old resort, the village inn-but it too was gone. A large rickety wooden building stood in its place, with great gaping windows, some of them broken and mended with old hats and petticoats, and over the door was painted, “The Union Hotel, by Jonathan Doolittle.” Instead of the great tree that used to shelter the quiet little Dutch inn of yore, there now was reared a tall, naked pole, with something on the top that looked like a red nightcap, and from it was fluttering a flag, on which was a singular assemblage of stars and stripes;-all this was strange and incomprehensible. He recognised on the sign, however, the ruby face of King George, under which he had smoked so many a peaceful pipe; but even this was singularly metamorphosed. The red coat was changed for one of blue and buff, a sword was held in the hand instead of a sceptre, the head was decorated with a cocked hat, and underneath was painted in large characters, “General Washington.”
There was, as usual, a crowd of folk about the door, but none that Rip recollected. The very character of the people seemed changed. There was a busy, bustling, disputatious tone about it, instead of the accustomed phlegm and drowsy tranquillity. He looked in vain for the sage Nicholas Vedder, with his broad face, double chin, and fair long pipe, uttering clouds of tobacco-smoke instead of idle speeches; or Van Bummel, the schoolmaster, doling forth the contents of an ancient newspaper. In place of these, a lean, bilious-looking fellow, with his pockets full of handbills, was haranguing vehemently about rights of citizens-elections-members of congress-liberty-Bunker’s Hill-heroes of seventy-six-and other words, which were a perfect Babylonish jargon to the bewildered Van Winkle.
The appearance of Rip, with his long, grizzled beard, his rusty fowling-piece, his uncouth dress, and an army of women and children at his heels, soon attracted the attention of the tavern politicians. They crowded round him, eyeing him from head to foot with great curiosity. The orator bustled up to him, and, drawing him partly aside, inquired “On which side he voted?” Rip stared in vacant stupidity. Another short but busy little fellow pulled him by the arm, and, rising on tiptoe, inquired in his ear, “Whether he was Federal or Democrat?” Rip was equally at a loss to comprehend the question; when a knowing, self-important old gentleman, in a sharp cocked hat, made his way through the crowd, putting them to the right and left with his elbows as he passed, and planting himself before Van Winkle, with one arm akimbo, the other resting on his cane, his keen eyes and sharp hat penetrating, as it were, into his very soul, demanded in an austere tone, “What brought him to the election with a gun on his shoulder, and a mob at his heels; and whether he meant to breed a riot in the village?” “Alas! gentlemen,” cried Rip, somewhat dismayed, “I am a poor quiet man, a native of the place, and a loyal subject of the king, God bless him!”

Rip’s daughter and grandchild.
Here a general shout burst from the bystanders-“A tory! a tory! a spy! a refugee! hustle him! away with him!” It was with great difficulty that the self-important man in the cocked hat restored order; and, having assumed a tenfold austerity of brow, demanded again of the unknown culprit, what he came there for, and whom he was seeking? The poor man humbly assured him that he meant no harm, but merely came there in search of some of his neighbours, who used to keep about the tavern.
“Well-who are they?-name them.”
Rip bethought himself a moment, and inquired: “Where’s Nicholas Vedder?”
There was a silence for a little while, when an old man replied, in a thin, piping voice, “Nicholas Vedder! why, he is dead and gone these eighteen years! There was a wooden tombstone in the churchyard that used to tell all about him, but that’s rotten and gone too.”
“Where’s Brom Dutcher?”
“Oh, he went off to the army in the beginning of the war; some say he was killed at the storming of Stony Point-others say he was drowned in a squall at the foot of Antony’s Nose. I don’t know-he never came back again.”
“Where’s Van Bummel, the schoolmaster?”
“He went off to the wars too, was a great militia general, and is now in congress.”
Rip’s heart died away at hearing of these sad changes in his home and friends, and finding himself thus alone in the world. Every answer puzzled him too, by treating of such enormous lapses of time, and of matters which he could not understand: war-congress-Stony Point;-he had no courage to ask after any more friends, but cried out in despair: “Does nobody here know Rip Van Winkle?”
“Oh, Rip Van Winkle!” exclaimed two or three, “oh, to be sure! that’s Rip Van Winkle yonder, leaning against the tree.”
Rip looked, and beheld a precise counterpart of himself, as he went up the mountain; apparently as lazy, and certainly as ragged. The poor fellow was now completely confounded. He doubted his own identity, and whether he was himself or another man. In the midst of his bewilderment, the man in the cocked hat demanded who he was, and what was his name.
“God knows!” exclaimed he, at his wit’s end; “I’m not myself-I’m somebody else-that’s me yonder-no-that’s somebody else got into my shoes-I was myself last night, but I fell asleep on the mountain, and they’ve changed my gun, and everything’s changed, and I can’t tell what’s my name, or who I am!”
The bystanders began now to look at each other, nod, wink significantly, and tap their fingers against their foreheads. There was a whisper, also, about securing the gun, and keeping the old fellow from doing mischief, at the very suggestion of which the self-important man in the cocked hat retired with some precipitation. At this critical moment a fresh, comely woman pressed through the throng to get a peep at the grey-bearded man. She had a chubby child in her arms, which, frightened at his looks, began to cry. “Hush, Rip,” cried she, “hush, you little fool; the old man won’t hurt you.” The name of the child, the air of the mother, the tone of her voice, all awakened a train of recollections in his mind. “What is your name, my good woman?” asked he.

Peter was the most ancient inhabitant of the village (p. 24).
"Judith Gardenier."
“And your father’s name?”
“Ah, poor man, Rip Van Winkle was his name, but it’s twenty years since he went away from home with his gun, and never has been heard of since,-his dog came home without him; but whether he shot himself, or was carried away by the Indians, nobody can tell. I was then but a little girl.”
Rip had but one question more to ask; but he put it with a faltering voice:
“Where’s your mother?”
“Oh, she too had died but a short time since; she broke a blood vessel in a fit of passion at a New-England pedler.”
There was a drop of comfort, at least, in this intelligence. The honest man could contain himself no longer. He caught his daughter and her child in his arms. “I am your father!” cried he-“Young Rip Van Winkle once-old Rip Van Winkle now!-Does nobody know poor Rip Van Winkle?”
All stood amazed, until an old woman, tottering out from among the crowd, put her hand to her brow, and peering under it in his face for a moment, exclaimed: “Sure enough! it is Rip Van Winkle-it is himself! Welcome home again, old neighbour. Why, where have you been these twenty long years?”
Rip’s story was soon told, for the whole twenty years had seemed to him as but one night. The neighbours stared when they heard it; some were seen to wink at each other, and put their tongues in their cheeks; and the self-important man in the cocked hat, who, when the alarm was over, had returned to the field, screwed down the corners of his mouth, and shook his head-upon which there was a general shaking of the head throughout the assemblage.
It was determined, however, to take the opinion of old Peter Vanderdonk, who was seen slowly advancing up the road. He was a descendant of the historian of that name, who wrote one of the earliest accounts of the province. Peter was the most ancient inhabitant of the village, and well versed in all the wonderful events and traditions of the neighbourhood. He recollected Rip at once, and corroborated his story in the most satisfactory manner. He assured the company that it was a fact, handed down from his ancestor the historian, that the Kaatskill mountains had always been haunted by strange beings. That it was affirmed that the great Hendrick Hudson, the first discoverer of the river and country, kept a kind of vigil there every twenty years, with his crew of the Half-moon; being permitted in this way to revisit the scenes of his enterprise, and keep a guardian eye upon the river and the great city called by his name. That his father had once seen them in their old Dutch dresses playing at ninepins in a hollow of the mountain; and that he himself had heard, one summer afternoon, the sound of their balls, like distant peals of thunder.
To make a long story short, the company broke up and returned to the more important concerns of the election. Rip’s daughter took him home to live with her; she had a snug, well-furnished house, and a stout, cheery farmer for a husband, whom Rip recollected for one of the urchins that used to climb upon his back. As to Rip’s son and heir, who was the ditto of himself, seen leaning against the tree, he was employed to work on the farm; but evinced an hereditary disposition to attend to anything else but his business.
Rip now resumed his old walks and habits; he soon found many of his former cronies, though all rather the worse for the wear and tear of time; and preferred making friends among the rising generation, with whom he soon grew into great favour.

“He preferred making friends among the rising generation, with whom he soon grew into great favour.”

The Kaatskill mountains had always been haunted by strange beings.

“The Kaatsberg or Catskill mountains have always been a region full of fable.”
Having nothing to do at home, and being arrived at that happy age when a man can be idle with impunity, he took his place once more on the bench at the inn-door, and was reverenced as one of the patriarchs of the village, and a chronicle of the old times “before the war.” It was some time before he could get into the regular track of gossip, or could be made to comprehend the strange events that had taken place during his torpor. How that there had been a revolutionary war,-that the country had thrown off the yoke of old England,-and that, instead of being a subject of his Majesty George the Third, he was now a free citizen of the United States. Rip, in fact, was no politician; the changes of states and empires made but little impression on him; but there was one species of despotism under which he had long groaned, and that was-petticoat government. Happily that was at an end; he had got his neck out of the yoke of matrimony, and could go in and out whenever he pleased, without dreading the tyranny of Dame Van Winkle. Whenever her name was mentioned, however, he shook his head, shrugged his shoulders, and cast up his eyes; which might pass either for an expression of resignation to his fate, or joy at his deliverance.

He used to tell his story to every stranger that arrived at Mr. Doolittle’s hotel. He was observed, at first, to vary on some points every time he told it, which was, doubtless, owing to his having so recently awaked. It at last settled down precisely to the tale I have related, and not a man, woman, or child in the neighbourhood but knew it by heart. Some always pretended to doubt the reality of it, and insisted that Rip had been out of his head, and that this was one point on which he always remained flighty. The old Dutch inhabitants, however, almost universally gave it full credit. Even to this day they never hear a thunder-storm of a summer afternoon about the Kaatskill, but they say Hendrick Hudson and his crew are at their game of ninepins; and it is a common wish of all hen-pecked husbands in the neighbourhood, when life hangs heavy on their hands, that they might have a quieting draught out of Rip Van Winkle’s flagon.

They were ruled by an old squaw spirit.

Very subject to marvellous events and appearances.