Chương III. Con Thú Hoang Dã Thống Trị

Bản năng hoang dã thống trị đã bén rễ rất sâu trong Buck, và dưới những điều kiện khắc nghiệt của cuộc sống trên đường mòn, nó càng lúc càng trỗi dậy mạnh mẽ. Dẫu vậy, đó là một sự phát triển âm thầm, kín đáo. Sự ranh mãnh mới nảy nở đem lại cho nó vẻ điềm tĩnh cùng khả năng tự chủ đáng nể. Nó mải mê thích nghi với kiếp sống mới đến nỗi chẳng còn tâm trí đâu mà cảm thấy thoải mái, và thay vì kiếm chuyện gây gổ, nó còn tìm mọi cách lảng tránh những cuộc ẩu đả. Một thứ thận trọng lạ lùng nhuốm lên mọi thái độ của nó. Nó chẳng dễ gì hành động bồng bột hay vội vàng; và trong mối thù hằn chua xót giữa nó và Spitz, nó chưa từng một lần để lộ sự thiếu kiên nhẫn, khéo léo né tránh hết thảy mọi hành vi khiêu khích.

Ngược lại, có lẽ vì đã nhận ra Buck là một kẻ thù hiểm nguy, Spitz chẳng bao giờ bỏ phí cơ hội nhe nanh dọa dẫm. Hắn còn cố tình bắt nạt Buck, không ngừng tìm cách châm ngòi cho một trận chiến - thứ chỉ có thể khép lại bằng cái chết của một trong hai bên. Ngay từ thuở đầu chuyến đi, trận đánh ấy hẳn đã nổ ra rồi, nếu không có một sự cố bất ngờ chen vào. Cuối ngày hôm ấy, họ dựng trại trong cảnh lạnh lẽo thảm thương bên bờ Hồ Le Barge. Bão tuyết gào thét, những cơn gió buốt như lưỡi dao nung trắng cứa vào da thịt, và bóng tối bao trùm buộc họ phải lần mò tìm một chỗ cắm trại. Hoàn cảnh của họ chẳng thể nào tệ hơn. Sau lưng họ là vách đá dựng đứng sừng sững, còn Perrault và François đành phải nhóm lửa rồi trải chăn đắp ngay trên mặt băng của hồ. Họ đã bỏ lại lều ở Dyea để hành trang được nhẹ nhàng hơn. Vài thanh gỗ trôi dạt ven bờ cung cấp cho họ một ngọn lửa, làm tan chảy lớp băng bên dưới và giúp họ dùng bữa tối giữa màn đêm tối mịt.

Nép mình sát dưới vách đá che chở, Buck đào cho mình một cái ổ. Cái ổ ấm áp và êm ái đến độ nó chẳng buồn rời đi khi François phân phát mẻ cá mà ông đã rã đông bên đống lửa trước đó. Thế nhưng, khi Buck vừa ăn hết phần của mình và quay về, nó phát hiện ra cái ổ đã có kẻ chiếm mất. Một tiếng gầm gừ cảnh cáo lập tức cho nó biết kẻ xâm nhập ấy chính là Spitz. Cho đến tận giây phút này, Buck vẫn luôn tránh đụng độ với kẻ thù của mình, nhưng đến nước này thì thật quá quắt. Bản năng hoang dã trong nó gầm rống lên. Nó lao thẳng vào Spitz với một cơn cuồng nộ khiến cả hai cùng sửng sốt - và đặc biệt là Spitz, bởi toàn bộ kinh nghiệm trước nay của hắn với Buck đều cho thấy đối thủ của hắn chỉ là một con chó nhút nhát lạ thường, cố tồn tại chẳng qua nhờ vào thân hình to lớn và trọng lượng vượt trội của mình.

François cũng há hốc kinh ngạc khi thấy chúng lao ra từ cái ổ bị xới tung trong một mớ hỗn độn, và ông lập tức đoán ra nguyên nhân của vụ rắc rối. "A-a-ah!" ông gầm lên với Buck. "Đánh nó đi, lạy Chúa! Đánh nó đi, thằng ăn cắp bẩn thỉu!"

Spitz cũng chẳng kém phần sẵn sàng. Hắn rít lên với cơn thịnh nộ và niềm háo hức tột bậc khi hắn chạy vòng quanh, tới lui săn tìm cơ hội để chồm đến. Buck cũng háo hức chẳng thua kém, và cũng thận trọng không kém, khi nó cũng men theo những vòng tròn, luồn lách tới lui để tìm ra thế thượng phong. Nhưng chính vào lúc ấy, một điều bất ngờ đã ập đến - điều đã đẩy cuộc chiến tranh giành ngôi bá chủ của chúng vào một tương lai xa vời tít tắp, vượt qua biết bao nhiêu dặm đường mòn mệt mỏi và nhọc nhằn phía trước.

Một tiếng chửi thề bật ra từ miệng Perrault, tiếp đó là âm thanh chát chúa của chiếc gậy quất vào khung xương, rồi một tiếng rít đau đớn chói tai - tất cả báo hiệu cho sự bùng nổ của một mớ hỗn độn kinh hoàng. Khu trại bỗng chốc tràn ngập những bóng dáng đầy lông lá lén lút - lũ chó husky chết đói, chừng bốn năm chục con, đã đánh hơi thấy khu trại từ một ngôi làng da đỏ nào đó. Chúng lẻn vào ngay lúc Buck và Spitz đang giao chiến, và khi hai người đàn ông lao vào giữa bầy thú với những cây gậy chắc chắn, chúng liền nhe răng đánh trả. Mùi thức ăn đã khiến chúng phát cuồng. Perrault trông thấy một con đang vùi đầu vào hộp lương thực. Cây gậy của ông giáng thật mạnh xuống những chiếc xương sườn gầy guộc, và chiếc hộp lật úp xuống đất. Ngay tức khắc, hai chục con thú đói khát lao vào tranh giành bánh mì và thịt ba chỉ. Những cây gậy giáng xuống chúng chẳng còn được đoái hoài. Chúng ré lên, tru lên dưới cơn mưa đòn roi, thế nhưng vẫn tranh giành điên cuồng không kém cho đến tận khi mẩu vụn cuối cùng bị nuốt chửng.

Trong lúc đó, bầy chó kéo xe sửng sốt lao ra khỏi ổ chỉ để bị đám xâm lược hung dữ tấn công ngay tức thì. Chưa bao giờ Buck thấy những con chó như thế này. Xương của chúng dường như sắp đâm thủng da. Chúng chỉ là những bộ xương, được khoác lỏng lẻo trong những lớp da bẩn thỉu, với đôi mắt rực lửa và những chiếc nanh rỏ dãi. Nhưng cơn điên cuồng vì đói khát đã biến chúng thành lũ thú đáng sợ không thể ngăn cản. Chẳng có cách nào chống lại chúng được. Ngay trong đợt tấn công đầu tiên, đội chó kéo xe đã bị quét dạt về phía vách đá. Buck bị ba con husky bao vây, và chỉ trong nháy mắt, đầu và vai nó đã bị cào rách, chém nát tơi tả. Tiếng hỗn chiến thật kinh hoàng. Billee vẫn kêu khóc như mọi khi. Dave và Sol-leks, máu chảy ròng ròng từ hàng chục vết thương, đang chiến đấu dũng cảm sát cánh bên nhau. Joe cắn xé như một con ác quỷ. Có lúc, răng nó găm vào chân trước của một con husky và nhai nghiến xuyên qua tận xương. Pike, gã hay giả vờ, chồm lên con vật đã tàn phế, bẻ gãy cổ nó bằng một cú đớp nanh chớp nhoáng và một cú giật dứt khoát. Buck tóm được một kẻ thù đang sùi bọt mép ngay giữa cổ họng, và máu phun tung tóe khi răng nó cắm xuyên qua tĩnh mạch cảnh. Vị ấm nóng của máu trong miệng kích thích nó trở nên hung hãn hơn. Nó lao mình vào một con khác, và ngay cùng lúc ấy cảm thấy những chiếc răng cắm phập vào chính cổ họng mình. Đó là Spitz, đang tấn công hiểm độc từ bên hông.

Perrault và François, sau khi quét sạch phần trại của mình, vội vã chạy đến giải cứu bầy chó kéo xe. Làn sóng thú dữ đói khát cuộn trào lùi lại trước mặt họ, và Buck vùng vẫy thoát ra được. Nhưng tình thế chỉ tạm lắng trong chốc lát. Hai người đàn ông buộc phải chạy quay lại để cứu lương thực, và bầy husky lại quay sang tấn công đội chó. Billee, vì khiếp sợ đến tột cùng mà hóa thành dũng cảm, đã phóng vọt qua vòng vây hoang dại và chạy trốn trên mặt băng. Pike và Dub bám sát gót chú chó, rồi toàn bộ phần còn lại của đội chó chạy theo sau. Khi Buck thu mình chuẩn bị tung mình chạy theo chúng, khóe mắt nó thoáng thấy Spitz đang lao thẳng vào mình với ý đồ quật ngã nó một cách rõ ràng. Một khi ngã xuống và bị đè dưới bầy husky kia, nó sẽ chẳng còn tia hy vọng nào. Nhưng nó đã trụ vững trước cú sạc của Spitz, rồi nhập vào đoàn chó đang bỏ chạy ra ngoài mặt hồ.

Sau đó, chín con chó kéo xe tập hợp lại và tìm nơi trú ẩn trong rừng. Dù không bị truy đuổi, chúng vẫn ở trong một tình cảnh thê thảm vô cùng. Chẳng một con nào không bị thương ở bốn hay năm chỗ, trong khi một số con bị thương rất nặng. Dub bị thương nặng ở một chân sau; Dolly, cô chó husky cuối cùng được bổ sung vào đội ở Dyea, bị rách toạc cổ họng; Joe đã mất một mắt; trong khi Billee, chú chó hiền lành, với một bên tai bị nhai nát và xé thành từng mảnh, khóc lóc rên rỉ suốt đêm. Lúc rạng đông, chúng thận trọng tập tễnh quay lại khu trại, chỉ để thấy lũ cướp bóc đã bỏ đi và hai người đàn ông đang trong một tâm trạng hết sức tồi tệ. Hơn một nửa lượng lương thực dự trữ của họ đã biến mất. Lũ husky đã nhai đứt dây buộc xe trượt tuyết và những tấm bạt che. Sự thật là chẳng có thứ gì, dù chỉ hơi có thể ăn được, thoát khỏi hàm răng của chúng. Chúng đã ăn sạch một đôi giày da nai sừng tấm của Perrault, những mảnh vụn từ dây kéo bằng da, và thậm chí cả hai feet dây roi tuột khỏi đầu roi của François. Ông dứt khỏi việc ngắm nghía nó một cách sầu thảm để đưa mắt nhìn qua bầy chó bị thương của mình.

"Chao ôi, những người bạn của tôi," ông khẽ nói, "có khi những vết cắn này sẽ khiến các bạn hóa thành chó dại mất thôi. Rất có thể tất cả đều thành chó dại, khỉ thật! Ông nghĩ sao, hả Perrault?"

Người đưa thư lắc đầu đầy nghi hoặc. Với bốn trăm dặm đường mòn vẫn còn nằm giữa ông và Dawson, ông khó lòng để bệnh dại bùng phát giữa bầy chó của mình. Hai giờ chửi rủa và gắng sức đã đưa các bộ dây cương trở lại hình dạng ban đầu, và đội chó cứng đờ vì vết thương lại lên đường, khó nhọc chật vật vượt qua đoạn đường mòn hiểm trở nhất mà họ từng gặp, và cũng là đoạn khó khăn nhất giữa họ và Dawson.

Sông Thirty Mile trải rộng mênh mông. Dòng nước hoang dại của nó thách thức cả băng giá, và chỉ ở những khúc xoáy cùng những vùng nước tĩnh lặng, băng mới có thể bám víu mà thành hình. Phải mất sáu ngày lao động đến kiệt quệ mới vượt qua nổi ba mươi dặm đường khốn khổ ấy. Quả thực chúng khốn khổ vô cùng, vì mỗi bước chân đều đánh đổi bằng chính mạng sống của cả chó lẫn người. Cả tá lần, Perrault, trong lúc dò đường, đã làm sụt những cây cầu băng dưới chân mình, và ông thoát chết chỉ nhờ cây sào dài ông luôn mang theo - thứ mà ông cầm ngang sao cho mỗi lần sụt xuống, nó lại vắt ngang qua cái hố do cơ thể ông khoét thủng. Nhưng rồi một đợt rét buốt ập đến bất thần, nhiệt kế tụt xuống âm năm mươi độ, và mỗi lần sụt băng, ông lại buộc phải nhóm lửa hong khô quần áo để giữ lấy mạng mình.

Chẳng điều gì khiến ông chùn bước. Chính vì chẳng điều gì khiến ông chùn bước, nên ông mới được tuyển chọn làm người đưa thư cho chính phủ. Ông đón nhận mọi hiểm nguy, kiên gan rướn khuôn mặt nhỏ bé nhăn nheo của mình vào cái rét căm căm, rồi vật lộn từ tinh mơ cho đến tối mịt. Ông đi men theo bờ trên những mảng băng viền cong queo và nứt nẻ dưới từng bước chân, nơi họ không dám dừng lại. Một lần, cỗ xe trượt tuyết sụt xuống cùng với Dave và Buck, và cả hai suýt chết cóng, suýt chết đuối khi được kéo lên. Lại phải nhóm lửa như mọi khi để cứu chúng. Cả thân mình chúng bị bọc trong lớp băng cứng ngắc, và hai người đàn ông bắt chúng chạy vòng quanh đống lửa, đổ mồ hôi và rã băng, gần đến mức lông chúng bị cháy sém vì ngọn lửa.

Một lần khác, Spitz sụt xuống, kéo theo cả dàn chó phía sau lao theo cho đến tận Buck. Nó ra sức ghì lại bằng tất cả sức lực, hai chân trước bấu trên mép băng trơn trượt trong khi mặt băng run rẩy và nứt toác quanh nó. Nhưng ngay sau nó là Dave, cũng đang ra sức ghì lại, và phía sau cỗ xe là François, đang kéo đến mức gân cốt tưởng chừng sắp đứt tung.

Lại thêm một lần nữa, mép băng sụt vỡ cả phía trước lẫn phía sau, và chẳng còn đường thoát nào ngoài việc trèo lên vách đá dựng đứng. Perrault đã trèo lên đó bằng một phép màu, trong khi François nguyện cầu cho chính phép màu ấy; rồi với mọi sợi dây da, dây chằng xe và cả phần cuối cùng của bộ dây cương được nối thành một sợi thừng dài, bầy chó được kéo lên, từng con một, tới tận đỉnh vách đá. François lên cuối cùng, sau cỗ xe trượt tuyết và đống hành lý. Rồi sau đó lại là cuộc tìm kiếm một lối để xuống, và cuối cùng việc đi xuống cũng được thực hiện với sự trợ giúp của sợi dây thừng; màn đêm buông xuống khi họ về lại được bên dòng sông, với vỏn vẹn một phần tư dặm được thêm vào lộ trình của ngày hôm ấy.

Khi họ đến được Hootalinqua và tìm thấy lớp băng tốt, Buck đã hoàn toàn kiệt sức. Phần còn lại của bầy chó cũng trong tình trạng tương tự; nhưng Perrault, để bù lại khoảng thời gian đã mất, bắt chúng phải đi từ sớm tinh mơ đến tận khuya muộn. Ngày đầu tiên họ đi được ba mươi lăm dặm đến Big Salmon; ngày tiếp theo, thêm ba mươi lăm dặm nữa đến Little Salmon; ngày thứ ba, bốn mươi dặm, đưa họ đến khá gần Five Fingers.

Đôi chân của Buck không săn chắc và cứng cáp như chân của lũ husky. Suốt bao thế hệ kể từ khi tổ tiên hoang dã cuối cùng của nó được thuần hóa bởi một người tiền sử hay một kẻ sống ven sông, chân nó đã trở nên mềm yếu. Suốt ngày nó tập tễnh trong đau đớn, và mỗi khi trại được dựng lên, nó liền nằm gục xuống như một con chó đã chết. Dù đói đến đâu, nó cũng chẳng buồn nhúc nhích để lấy phần cá của mình, và François phải mang đến tận miệng cho nó. Ngoài ra, người đánh xe còn xoa bóp chân cho Buck suốt nửa giờ mỗi tối sau bữa ăn, rồi hy sinh phần cổ của đôi giày da đanh của chính mình để làm cho Buck bốn chiếc tất chân. Đây quả là một sự giải thoát diệu kỳ, và Buck thậm chí còn khiến khuôn mặt nhăn nheo của Perrault phải vặn mình thành một nụ cười toe toét vào một buổi sáng nọ, khi François quên mang tất chân, Buck liền nằm ngửa ra, bốn chân vẫy vẫy trong không trung đầy cầu khẩn, và kiên quyết không nhúc nhích nếu thiếu chúng. Sau này, chân nó dần cứng cáp hơn với đường mòn, và những miếng bảo vệ chân mòn vẹt ấy đã bị quẳng đi.

Vào một buổi sớm mai ở Pelly, lúc họ đang thắt dây cương, Dolly - cô chó trước nay chưa từng nổi trội về bất cứ điều gì - bỗng dưng phát dại. Cô chó báo hiệu cơn cuồng của mình bằng một tiếng hú dài, nghe như tiếng sói rú, thê lương đến nhức nhối khiến lông toàn bộ bầy chó dựng đứng lên vì kinh hãi, rồi cô lao thẳng về phía Buck. Nó chưa từng thấy một con chó nào phát dại, cũng chẳng có lý do gì để sợ căn bệnh ấy; nhưng nó biết đây là một điều khủng khiếp, và hoảng loạn bỏ chạy. Nó phóng đi ngay tức khắc, Dolly bám sát phía sau chỉ cách một bước nhảy, vừa thở hổn hển vừa sùi bọt mép trắng xóa. Cô chó không tài nào tóm được nó, bởi nỗi kinh hoàng của nó lớn quá, mà nó cũng chẳng thể nào cắt đuôi được cô chó, vì cơn điên của cô ghê gớm quá. Nó lao băng qua khu rừng rậm trên hòn đảo, phóng xuống tận mũi đất thấp nhất, vượt qua một con lạch phụ đầy những tảng băng lởm chởm để sang một hòn đảo khác, rồi sang hòn đảo thứ ba, vòng ngược trở lại dòng sông chính, và trong cơn tuyệt vọng, bắt đầu lao mình băng qua dòng nước. Suốt cả chặng đường ấy, dù chẳng hề ngoái nhìn, nó vẫn nghe thấy tiếng gầm gừ của cô chó vang lên ngay sau lưng, chỉ cách đúng một bước nhảy. François gọi nó từ khoảng cách một phần tư dặm, và nó quay ngoắt lại, vẫn dẫn trước đúng một bước nhảy, thở dốc đau đớn để hớp lấy từng ngụm không khí, đặt trọn niềm tin rằng François sẽ cứu mình. Người đánh xe chó đã cầm sẵn lưỡi rìu trong tay, và ngay khi Buck phóng vụt qua ông, lưỡi rìu giáng mạnh xuống đầu cô chó Dolly điên dại.

Buck lảo đảo ngã gục bên chiếc xe trượt tuyết, kiệt quệ, vừa thở vừa nấc lên từng hồi, bất lực hoàn toàn. Đây chính là cơ hội của Spitz. Hắn chồm lên Buck, hai lần liên tiếp cắm phập hàm răng vào kẻ thù không còn sức kháng cự, xé toạc da thịt đến tận xương. Rồi roi của François quất xuống, và Buck được mãn nguyện khi chứng kiến Spitz lãnh một trận đòn thậm tệ nhất mà bất kỳ con chó nào trong đội từng phải nhận.

"Một con ác quỷ, thằng Spitz đó," Perrault nhận xét. "Rồi một ngày chết tiệt nào đó ông sẽ thấy hắn giết thằng Buck cho xem."

"Thằng Buck đó còn bằng hai con ác quỷ ấy chứ," François đáp trả. "Lúc nào tôi cũng để mắt tới thằng Buck đó, tôi biết chắc mà. Nghe này: một ngày đẹp trời nào đó nó sẽ nổi điên lên và rồi nó sẽ nhai nát thằng Spitz kia rồi nhổ toẹt hắn ra trên tuyết. Chắc chắn đấy. Tôi biết mà."

Kể từ đó, giữa chúng là chiến tranh. Spitz, với tư cách là con chó dẫn đầu và là thủ lĩnh được cả bầy công nhận, cảm thấy quyền tối thượng của mình bị đe dọa bởi con chó miền Nam xa lạ này. Và Buck quả thực là một kẻ xa lạ đối với hắn, bởi trong số bao nhiêu con chó miền Nam hắn từng biết, chưa từng có con nào chứng tỏ được mình xứng đáng ở nơi trại đóng lẫn trên đường mòn. Tất thảy chúng đều quá mềm yếu, gục chết dưới sức nặng của lao lực, băng giá và cơn đói. Buck là một ngoại lệ. Chỉ mình nó là chịu đựng nổi và ngày càng vươn lên, sánh ngang với bầy husky về sức mạnh, sự hung dữ và cả mưu mô xảo quyệt. Hơn thế, nó còn là một con chó mang tố chất chỉ huy, và điều khiến nó trở nên nguy hiểm chính là sự thật rằng cây gậy của gã áo len đỏ đã đánh bật mọi sự liều lĩnh mù quáng và thiếu suy nghĩ ra khỏi khát khao thống trị trong nó. Nó xảo quyệt đến mức tột bậc, và có thể chờ đợi thời cơ với một sự kiên nhẫn không kém phần man dại nguyên sơ.

Cuộc đụng độ để tranh giành quyền lãnh đạo là điều tất yếu sẽ đến. Buck khao khát điều đó. Nó khao khát vì đó là bản năng của nó, vì nó đã bị siết chặt bởi cái niềm kiêu hãnh vô danh, khó nắm bắt của con đường mòn và bộ dây kéo - chính cái niềm kiêu hãnh đã níu giữ những con chó trong lao lực cho đến hơi thở cuối cùng, dụ dỗ chúng chết đi một cách vui vẻ trong bộ cương, và bẻ gãy trái tim chúng nếu chúng bị tháo khỏi vòng dây. Đây là niềm kiêu hãnh của Dave khi làm con chó kéo sát xe, của Sol-leks khi lão dốc hết sức lực vào sợi dây kéo; niềm kiêu hãnh đã xâm chiếm chúng vào giờ nhổ trại, biến chúng từ những sinh vật ủ rũ cau có thành những cỗ máy căng tràn sức mạnh, hăm hở và đầy tham vọng; niềm kiêu hãnh thúc đẩy chúng suốt cả ngày dài rồi quăng trả chúng lại nơi trại đóng lúc đêm về, để chúng chìm sâu vào nỗi bất an và bất mãn u tối. Đây là niềm kiêu hãnh đã nâng đỡ Spitz, khiến hắn trừng phạt những con chó kéo xe vụng về lười biếng hoặc lén lút trốn việc vào giờ thắt dây cương buổi sáng. Cũng chính cái niềm kiêu hãnh ấy khiến hắn sợ Buck có thể trở thành con chó dẫn đầu. Và đây cũng chính là niềm kiêu hãnh của Buck.

Nó bắt đầu công khai thách thức quyền thủ lĩnh của kẻ kia. Nó chen vào giữa hắn và những kẻ trốn việc lẽ ra phải chịu trừng phạt. Và nó làm điều đó một cách đầy toan tính. Một đêm nọ tuyết rơi dày, và sáng hôm sau Pike, gã chuyên giả vờ, không thấy xuất hiện. Gã đã ẩn mình kỹ lưỡng trong ổ, bên dưới một lớp tuyết dày cả foot. François réo tên gã và lùng sục vô vọng. Spitz cuồng lên vì phẫn nộ. Hắn rảo khắp trại, đánh hơi và bới tung mọi ngóc ngách, gầm gừ dữ dội đến nỗi Pike nghe thấy mà run bần bật trong chỗ nấp của mình.

Nhưng khi cuối cùng gã cũng bị lôi ra, và Spitz lao vào trừng phạt, Buck cũng phóng tới, với cơn thịnh nộ không hề kém cạnh, chắn ngang giữa hai bên. Đòn tấn công quá bất ngờ và được tính toán tinh vi đến mức Spitz bị hất văng ra sau và ngã ngửa. Pike, kẻ trước đó còn đang run rẩy một cách hèn hạ, chợt lấy lại can đảm trước màn binh biến công khai này, bèn chồm lên tên thủ lĩnh đã ngã ngựa của mình. Buck, khi mà tinh thần thượng võ từ lâu đã là một quy tắc bị lãng quên, cũng lao vào Spitz. Nhưng François, vừa cười thầm trước cảnh tượng vừa kiên quyết thi hành công lý, đã quất roi xuống Buck bằng tất cả sức mạnh của mình. Việc ấy cũng chẳng đuổi được Buck khỏi cái xác đối thủ đang nằm sóng soài, và cán roi đã phải được mang ra dùng. Choáng váng một nửa vì cú giáng, Buck bị quất ngửa ra sau, hết đòn này đến đòn khác giáng xuống, trong khi Spitz trừng phạt Pike - kẻ phạm tội đã quá nhiều lần - một cách đích đáng.

Trong những ngày sau đó, khi Dawson mỗi lúc một gần hơn, Buck vẫn tiếp tục xen vào giữa Spitz và những kẻ đáng tội; nhưng nó làm việc ấy một cách xảo quyệt hơn, chỉ khi François vắng mặt. Với cuộc binh biến ngầm của Buck, một làn sóng bất tuân đã bùng lên và lan rộng. Dave và Sol-leks thì không bị ảnh hưởng, nhưng cả đám chó còn lại ngày càng trở nên tồi tệ. Mọi sự chẳng còn suôn sẻ nữa. Tiếng cãi vã và xô xát triền miên không dứt. Rắc rối luôn lùng sục rình rập, và mầm mống của nó chính là Buck. Nó khiến François bận rộn tối mắt tối mũi, bởi người đánh xe chó luôn sống trong nỗi lo canh cánh về cuộc tử chiến giữa hai con chó mà ông biết sớm muộn gì cũng phải bùng nổ; và nhiều đêm, tiếng động của những vụ cãi cọ và va chạm giữa đám chó đã kéo bật ông ra khỏi túi ngủ, tim thót lại vì sợ rằng Buck và Spitz đã lao vào nhau.

Thế nhưng cơ hội vẫn chưa đến, và họ tiến vào Dawson trong một buổi chiều xám xịt với trận đại chiến vẫn còn ở phía trước. Nơi đây đông nghẹt người, cùng vô số những con chó, và Buck trông thấy tất cả bọn chúng đều đang lao động. Dường như một trật tự đã được định sẵn rằng loài chó sinh ra là để làm việc. Suốt ngày chúng lắc lư lên xuống con phố chính thành từng đội dài, và trong đêm tiếng chuông leng keng của chúng vẫn vang lên qua lại. Chúng kéo gỗ dựng lều và củi đốt, chở hàng tiếp tế cho các mỏ, gánh vác đủ thứ công việc mà ngựa từng làm ở Thung lũng Santa Clara ngày trước. Thỉnh thoảng Buck bắt gặp vài con chó miền Nam, nhưng phần đông đều là giống husky lai sói hoang dã. Cứ đều đặn mỗi đêm, vào lúc chín giờ, mười hai giờ, ba giờ, chúng cất lên một khúc ca bóng đêm, một bài tụng ca kỳ lạ và rùng rợn mà Buck vô cùng thích thú được tham gia.

Dưới vòm trời bắc cực quang rực cháy lạnh lẽo trên đầu, hay những vì sao nhảy múa trong điệu vũ băng giá, và mặt đất tê cóng, đóng băng bên dưới tấm màn tuyết phủ, bài ca này của loài husky lẽ ra có thể là một lời thách thức của sự sống, chỉ có điều nó được tấu lên ở giọng thứ1 - với những tiếng rên kéo dài và những hồi nấc nghẹn ngào - nghe giống một lời van nài của sự sống hơn, một nỗi thống khổ của tồn tại được phát thành âm thanh. Đó là một bài ca cổ xưa, già nua như chính nòi giống của chúng - một trong những khúc ca đầu tiên của thế giới còn non trẻ, thuở mà những lời ca đều tràn ngập nỗi buồn. Nó được dệt bằng nỗi bi ai của vô vàn thế hệ, và lời than vãn ấy đã khuấy động Buck một cách lạ kỳ. Khi nó rên rỉ và thổn thức, nó mang trong mình nỗi đau của sự sống, cái nỗi đau vốn là nỗi đau của những người cha hoang dã xa xưa của nó, cùng nỗi sợ hãi và sự huyền bí của cái lạnh cùng bóng tối mà đối với tổ tiên nó cũng từng là nỗi sợ cùng sự huyền bí. Và việc nó bị bài ca ấy khuấy động đã đánh dấu sự trọn vẹn trong hành trình quay ngược trở lại của nó, xuyên qua những thời đại của lửa và mái nhà, để trở về với thuở hồng hoang của sự sống trong kỷ nguyên tru tréo.

Bảy ngày sau khi tiến vào Dawson, họ đổ dốc xuống bờ đứng cạnh Doanh trại, ra tới Đường mòn Yukon, rồi quay mũi xe về phía Dyea và vùng Nước Mặn2. Perrault đang mang theo những công văn có lẽ còn khẩn cấp hơn cả những gì ông đã mang đến; hơn nữa, niềm kiêu hãnh của kẻ chinh phục đường dài đã ngấm vào máu ông, và ông quyết tâm lập nên chuyến đi kỷ lục của năm. Vài điều kiện thuận lợi đã đứng về phía ông. Một tuần nghỉ ngơi đã giúp bầy chó hồi phục hoàn toàn và đưa chúng vào trạng thái sung mãn nhất. Con đường mòn họ từng khai phá lúc vào đất này giờ đã được nén chặt bởi những đoàn lữ khách theo sau. Thêm vào đó, cảnh sát đã bố trí sẵn hai hoặc ba kho dự trữ lương thực cho cả người lẫn chó, vậy nên ông đang di chuyển vô cùng nhẹ nhàng.

Họ tới Sixty Mile, chặng đường dài năm mươi dặm, ngay trong ngày đầu tiên; và ngày thứ hai chứng kiến họ lao vun vút dọc theo dòng Yukon phủ băng để tiến về Pelly. Nhưng chuyến đi thần tốc ấy không đến mà không kèm theo phiền toái lớn lao và nỗi bực dọc tột cùng từ phía François. Cuộc nổi dậy ngấm ngầm do Buck cầm đầu đã phá tan sự đoàn kết của cả đội. Đội chó không còn là một thể thống nhất khi lao đi trong dây cương nữa. Sự cổ vũ của Buck dành cho những kẻ nổi loạn đã xui khiến chúng phạm đủ mọi trò vô kỷ luật vụn vặt. Spitz không còn là một thủ lĩnh đáng sợ nữa. Nỗi kính sợ ngày trước đã tan biến, và lũ chó giờ đây ngang nhiên thách thức quyền uy của hắn. Pike cướp mất của hắn nửa con cá vào một đêm nọ, rồi nuốt chửng ngay trước mũi hắn dưới sự che chở của Buck. Một đêm khác, Dub và Joe cùng đánh trả Spitz, buộc hắn phải từ bỏ những trận đòn trừng phạt mà lẽ ra hai kẻ kia phải nhận. Và ngay cả Billee, chú chó hiền lành, cũng trở nên bớt hiền đi, tiếng rên rỉ của nó chẳng còn mang chút ý xoa dịu nào so với thuở trước. Buck không bao giờ đến gần Spitz mà không gầm gừ và xù lông đe dọa. Thực tế, hành vi của nó chẳng khác nào một kẻ bắt nạt chính hiệu, và nó quen thói nghênh ngang đi tới đi lui ngay trước mũi Spitz.

Sự sụp đổ kỷ luật còn lan sang cả cách lũ chó đối xử với nhau. Chúng cãi vã và gây gổ nhiều hơn bao giờ hết, đến mức thỉnh thoảng cả khu trại biến thành một mớ hỗn độn ầm ĩ. Chỉ có Dave và Sol-leks là không thay đổi, dù chúng cũng trở nên cáu kỉnh hơn vì những cuộc cãi cọ không dứt. François buông ra những câu chửi thề kỳ quái và độc địa, dậm chân xuống nền tuyết trong cơn thịnh nộ vô ích, rồi bứt tóc mình. Cây roi của ông luôn vun vút quất giữa bầy chó, nhưng chẳng mang lại mấy tác dụng. Ngay khi ông vừa quay lưng, chúng lại lao vào nhau như cũ. Ông dùng roi bảo vệ Spitz, trong khi Buck lại ra sức bảo vệ phần còn lại. François biết nó chính là kẻ đứng sau mọi rắc rối, và Buck biết ông đã biết điều đó; nhưng Buck quá thông minh để có thể bị bắt quả tang thêm một lần nữa. Nó làm việc trung thành trong bộ dây cương, vì sự cực nhọc giờ đã trở thành một niềm vui đối với nó; ấy thế nhưng việc ngấm ngầm xúi giục một cuộc ẩu đả giữa đồng loại và khiến những sợi dây kéo rối tung lên lại là một niềm vui lớn lao hơn thế.

Tại cửa sông Tahkeena, một đêm nọ sau bữa tối, Dub phát hiện ra một con thỏ tuyết. Nó vồ hụt, và con thỏ vuột mất. Trong phút chốc, cả đội chó đồng loạt sủa vang truy đuổi. Cách đó một trăm thước là trại của Cảnh sát Tây Bắc3, với năm mươi con chó husky, tất cả cùng nhập hội vào cuộc săn. Con thỏ lao xuống sông, rẽ vào một con lạch nhỏ, rồi phóng đều đều trên lòng lạch đóng băng. Nó chạy nhẹ tênh trên mặt tuyết, trong khi lũ chó phải cày xới bằng chính sức mạnh cơ bắp của mình. Buck dẫn đầu bầy chó, lúc này đã đông tới sáu chục con, vòng qua hết khúc quanh này đến khúc quanh khác, nhưng nó không sao thu hẹp được khoảng cách. Nó nhoài mình sát xuống cho cuộc đua, rên lên đầy háo hức, thân hình tuyệt mỹ của nó vút lên phía trước, từng bước nhảy một, dưới ánh trăng trắng bệch và ảm đạm. Và từng bước nhảy một, tựa một bóng ma sương giá nhợt nhạt, con thỏ tuyết vẫn vút bay lên phía trước.

Tất thảy những trỗi dậy của bản năng nguyên thủy - thứ mà vào những thời khắc nhất định đã xua con người rời bỏ các thành phố náo nhiệt để tiến vào rừng sâu và đồng bằng, hòng giết chóc bằng những viên đạn chì đẩy bằng hóa chất - cơn khát máu, niềm vui giết chóc, tất cả đều là của Buck, chỉ có điều đối với nó, những thứ ấy thân mật hơn gấp ngàn lần. Nó đang lao đi ở vị trí dẫn đầu bầy đàn, truy đuổi sinh vật hoang dã, miếng thịt sống, để rồi kết liễu con mồi bằng chính những chiếc răng của mình và gột rửa mõm đến tận mắt bằng dòng máu ấm nóng.

Có một trạng thái xuất thần đánh dấu đỉnh cao của sự sống - vượt qua ngưỡng ấy, sự sống không thể nào vươn cao hơn được nữa. Và nghịch lý của cuộc sống nằm ở chỗ, trạng thái xuất thần này chỉ đến khi con người ta tràn trề nhựa sống nhất, nhưng nó lại đến như một sự lãng quên hoàn toàn rằng mình đang được sống. Cái trạng thái xuất thần này, sự lãng quên việc đang sống này, nó đến với người nghệ sĩ, khi họ bị cuốn đi và thoát ly khỏi chính mình trong một biển lửa; nó đến với người lính, điên cuồng vì máu chiến trên một trận địa đẫm máu và nhất quyết không chịu đầu hàng; và nó đã đến với Buck lúc này đây, khi nó dẫn đầu bầy đàn, cất lên tiếng hú sói cổ xưa, vươn mình đuổi theo con mồi đang sống và đang tẩu thoát nhanh đến chóng mặt ngay trước mắt nó dưới ánh trăng. Nó đang thấu thị đến tận cùng bản ngã của chính mình, và chạm tới những phần bản ngã thẳm sâu hơn cả chính nó, quay ngược dòng về tận tử cung của Thời gian. Nó bị chi phối bởi dòng tuôn trào thuần khiết của sự sống, cơn sóng thần của hiện thể, niềm vui hoàn hảo trong từng bó cơ, từng khớp xương và từng thớ gân độc lập; trong khoảnh khắc ấy, nó là tất thảy mọi thứ, ngoại trừ cái chết. Nó rực sáng và bùng nổ, thể hiện chính mình qua những chuyển động, bay bổng hoan hỉ dưới ánh sao và lướt bay trên bề mặt của vạn vật vô tri bất động.

Thế nhưng Spitz, lạnh lùng và toan tính ngay cả trong những khoảnh khắc thăng hoa nhất, đã tách khỏi bầy và băng qua một doi đất hẹp ở chỗ con lạch uốn một đường cua rộng. Buck không hề hay biết điều này, và khi nó vòng qua khúc quanh, lúc bóng ma sương giá của con thỏ vẫn còn đang vụt bay trước mặt mình, nó thấy một bóng ma sương giá khác, to lớn hơn, chồm từ bờ đất nhô cao xuống chắn ngay đường chạy của con thỏ. Đó là Spitz. Con thỏ không còn đường quay lại, và khi những chiếc răng trắng nhởn cắn gãy sống lưng nó giữa không trung, nó ré lên một tiếng thất thanh, to đến mức nghe như con người trúng đòn. Vừa nghe thấy âm thanh ấy - tiếng thét của Sự Sống lao xuống từ đỉnh cao của Sự Sống vào trong nanh vuốt của Cái Chết - toàn bộ bầy chó nối gót Buck đã đồng loạt cất lên một dàn hợp xướng địa ngục của sự cuồng hỉ.

Buck không sủa. Nó không hề kiềm chế bản thân, mà lao thẳng vào Spitz, vai chọi vai, mạnh đến nỗi nó chỉ suýt soát ngoạm trúng cổ họng đối thủ. Chúng lăn lộn hết vòng này đến vòng khác trên nền tuyết bột xốp. Spitz bật dậy lấy lại thăng bằng, nhanh như thể hắn chưa từng bị quật ngã, rồi ngoạm một nhát xuống vai Buck trước khi nhảy tránh ra xa. Hai lần, răng hắn táp vào nhau như hai hàm thép của chiếc bẫy, khi hắn lùi lại tìm chỗ đứng vững hơn, với đôi môi mỏng nhếch lên nhăn nhúm và tiếng gầm gừ cuồn cuộn trong cổ họng.

Chỉ trong một chớp mắt, Buck đã thấu tỏ tất cả. Thời khắc ấy đã điểm. Trận này là trận tử chiến. Khi chúng vòng quanh nhau, gầm gừ, tai cụp sát, từng giác quan sắc lạnh dò xét lợi thế, khung cảnh hiện ra trước mắt Buck với một cảm giác thân thuộc đến lạ lùng. Nó dường như nhớ lại tất thảy - khu rừng trắng xóa, mặt đất, ánh trăng, và sự rùng mình kích động của trận chiến. Phủ lên trên sắc trắng và sự im lặng ấy là một bầu tĩnh lặng như ma quái. Chẳng có lấy một tiếng xì xào yếu ớt nào của không khí - chẳng có gì lay động, chẳng một chiếc lá rung rinh; hơi thở hiện hình của bầy chó bốc lên chầm chậm và vấn vương mãi trong bầu không khí giá buốt. Chúng đã xử gọn con thỏ tuyết, những con chó vốn dĩ là sói chưa được thuần hóa này; và giờ đây chúng xếp thành một vòng tròn đầy mong chờ. Chúng cũng im lặng, chỉ có ánh mắt là chớp sáng và hơi thở là trôi chầm chậm lên cao. Với Buck, cảnh tượng thời viễn cổ này chẳng có gì mới mẻ hay xa lạ. Cứ như thể nó đã luôn luôn như vậy - cách vận hành quen thuộc của vạn vật.

Spitz là một võ sĩ lão luyện. Từ Spitzbergen băng qua vùng Bắc Cực, xuyên qua Canada và những vùng đất Barrens, hắn đã giữ vững vị thế của mình trước đủ mọi giống chó và giành được quyền thống trị tất thảy. Cơn thịnh nộ của hắn là cơn thịnh nộ cay đắng, nhưng chưa bao giờ là mù quáng. Giữa cơn khát khao xé xác và tiêu diệt, hắn chẳng bao giờ quên rằng kẻ thù của mình cũng mang cùng một nỗi khát khao xé xác và tiêu diệt ấy. Hắn không bao giờ lao vào cho đến khi đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận một cú lao vào; hắn không bao giờ tấn công cho đến khi đã phòng thủ xong trước chính đòn tấn công đó.

Buck đã cố gắng trong vô vọng để cắm ngập răng vào cổ con chó trắng to lớn. Bất cứ khi nào nanh của nó nhắm vào một phần thịt mềm hơn, chúng đều lập tức bị nanh của Spitz phản đòn. Nanh va vào nanh, môi rách toạc và máu rỉ ra, nhưng Buck không tài nào xuyên thủng được lớp phòng thủ của kẻ thù. Sau đó nó nổi máu nóng và lao vào bao vây Spitz trong một cơn lốc của những cú xông tới. Hết lần này đến lần khác, nó nhắm vào cái cổ trắng tựa tuyết kia, nơi sự sống đang tuôn chảy sùng sục ngay sát bề mặt da, và lần nào cũng vậy, Spitz đều kịp ngoạm trả rồi nhảy thoát. Buck bèn chuyển sang chiến thuật giả vờ xông thẳng vào, như thể nhắm vào cổ họng, rồi bất ngờ rụt đầu lại và lượn vào từ bên hông, hòng giáng thẳng vai mình vào vai Spitz như một nhát búa tạ để quật ngã hắn. Nhưng thay vào đó, mỗi lần như vậy, vai của Buck lại hứng trọn một nhát ngoạm trong khi Spitz nhẹ nhàng nhảy né sang một bên.

Spitz gần như chẳng hề hấn gì, trong khi máu đã chảy ròng ròng khắp người Buck và nó đang thở hồng hộc. Trận chiến đang trở nên tuyệt vọng. Và trong suốt khoảng thời gian đó, vòng tròn sói im lặng vẫn chờ đợi để kết liễu bất cứ con chó nào ngã xuống. Khi Buck bắt đầu hụt hơi, Spitz chuyển sang thế tấn công, và hắn khiến đối thủ lảo đảo tìm chỗ bấu víu. Có một lần Buck ngã quỵ, và toàn bộ vòng tròn sáu chục con chó đồng loạt chồm dậy; nhưng nó đã bật dậy gần như ngay trên không trung, và vòng tròn lại hạ mình xuống, chờ đợi.

Thế nhưng Buck sở hữu một phẩm chất làm nên sự vĩ đại - đó là trí tưởng tượng. Nó chiến đấu bằng bản năng, nhưng nó cũng biết chiến đấu bằng cái đầu. Nó xông lên, như thể định lặp lại chiêu đòn vai cũ, nhưng vào khoảnh khắc cuối cùng, nó đột ngột lướt sát xuống mặt tuyết và lao thẳng vào trong. Răng nó ngoạm chặt lấy chân trước bên trái của Spitz. Một tiếng rắc vang lên - tiếng xương gãy - và con chó trắng giờ chỉ còn đứng đối diện với nó trên ba cái chân. Ba lần Buck tìm cách quật ngã hắn, rồi nó lặp lại ngón đòn và bẻ gãy nốt chân trước bên phải. Bất chấp cơn đau đớn và sự bất lực, Spitz vẫn vùng vẫy điên cuồng để đứng vững. Hắn nhìn thấy vòng tròn im lặng, với những đôi mắt rực sáng, những chiếc lưỡi thè dài, và hơi thở mang màu bạc trôi lên trên, đang dần khép lại quanh hắn - giống hệt như những vòng tròn mà hắn từng chứng kiến đã khép lại quanh những đối thủ bị đánh bại trong quá khứ. Chỉ khác một điều: lần này, chính hắn mới là kẻ bại trận.

Chẳng còn chút hy vọng nào cho hắn nữa. Buck tàn nhẫn và không hề khoan nhượng. Lòng thương xót là thứ dành cho những miền khí hậu ôn hòa hơn. Nó dồn lực cho đòn lao tới cuối cùng. Vòng tròn đã siết chặt đến mức nó có thể cảm nhận được hơi thở của lũ husky phả vào sườn mình. Nó có thể thấy chúng, phía sau Spitz và ở hai bên, đang nửa thu mình sẵn sàng chồm lên, ánh mắt chúng dán chặt vào nó. Dường như một khoảng lặng đã buông xuống. Mọi con vật đều bất động như thể hóa đá. Chỉ riêng Spitz run rẩy và dựng đứng lông khi hắn lảo đảo bước tới lui, gầm gừ bằng một niềm đe dọa kinh hoàng, như thể muốn xua đuổi cái chết đang chực chờ ngay trước mặt. Rồi Buck chồm tới và nhảy vào; nhưng khi nó đã vào được bên trong, cú va vai cuối cùng đã chọi thẳng vào vai đối thủ. Vòng tròn đen lập tức khép lại thành một chấm nhỏ trên nền tuyết ngập ánh trăng khi Spitz hoàn toàn biến mất khỏi tầm nhìn. Buck đứng đó và nhìn theo - kẻ chiến thắng, con thú hoang dã thống trị đã hạ gục con mồi và cảm thấy trọn vẹn sự thỏa mãn.



  1. Thuật ngữ âm nhạc (minor key) chỉ các âm giai thường tạo ra cảm giác u buồn, bi thương. Tác giả dùng từ này để miêu tả tiếng hú của bầy chó như một bản nhạc đầy khắc nghiệt và ám ảnh của vùng cực. 

  2. Trong văn cảnh của những người đào vàng, 'Nước Mặn' (Salt Water) dùng để chỉ vùng ven biển Thái Bình Dương, nơi có các cảng biển xuất phát, đối lập với vùng nội địa sâu trong đất liền đóng băng của khu vực sông Yukon. 

  3. Lực lượng Cảnh sát Kỵ binh Tây Bắc (North-West Mounted Police) của Canada. Đây là lực lượng hành pháp của chính phủ có nhiệm vụ thiết lập trật tự tại các vùng hoang dã hẻo lánh trong thời kỳ Đổ xô đi tìm vàng ở Klondike.