Chương V. Nỗi nhọc nhằn của dây cương và đường mòn
Ba mươi ngày sau khi rời Dawson, Đội thư tín Nước Mặn1 - với Buck cùng đồng đội dẫn đầu - đã tiến vào Skaguay. Cả bầy hiện ra trong một bộ dạng thê thảm đến nhói lòng: kiệt quệ, rệu rã, chỉ còn là những cái bóng của chính mình. Buck, vốn nặng một trăm bốn mươi pound, giờ chỉ còn một trăm mười lăm. Những đồng đội của nó - dù nhẹ cân hơn - lại sụt mất nhiều trọng lượng hơn nó. Pike, kẻ giảo hoạt suốt một đời lừa dối với trò vờ đau chân, giờ đây khập khiễng thật sự. Sol-leks cũng đang tập tễnh bước đi, còn Dub thì quằn quại với cái xương bả vai bị trật khớp.
Tất cả bọn chúng đều đau chân khủng khiếp. Chẳng còn chút sức bật nào trong cơ thể, chẳng còn chút đàn hồi nào trong từng bước chạy. Bàn chân chúng nện thình thịch xuống mặt đường, từng cú đập giội ngược lên khung xương và nhân đôi nỗi mệt nhọc của một ngày hành xác. Bọn chúng chẳng mắc bệnh gì cả - ngoại trừ việc chúng đã mệt lả đến tận xương tủy. Và đây không phải là cái mệt của một cố gắng ngắn ngủi, dữ dội - thứ mà chỉ vài giờ nghỉ ngơi là có thể hồi phục. Đây là thứ mệt mỏi chầm chậm bào mòn, rút cạn sinh lực qua hàng tháng trời lao lực triền miên. Chẳng còn gì để tái tạo, chẳng còn chút sức dự trữ nào để kêu gọi. Tất cả đã bị vắt kiệt đến giọt cuối cùng. Từng thớ cơ, từng sợi gân, từng tế bào - tất cả đều mệt lả, rũ rượi. Và điều đó có lý do của nó. Trong vòng chưa đầy năm tháng, bọn chúng đã quất qua hai ngàn năm trăm dặm đường, và trong một ngàn tám trăm dặm cuối cùng, chúng chỉ được nghỉ vỏn vẹn năm ngày. Khi đặt chân đến Skaguay, bầy chó rõ ràng đã ở bờ vực kiệt quệ. Chúng hầu như không thể giữ nổi dây cương cho thẳng, và trên những con dốc đổ xuống, cả bầy chỉ còn biết cố mà tránh đường cho chiếc xe trượt tuyết lao tới.
“Đi nào, những cái chân đau nghiệp chướng,” người đánh xe cất lời động viên khi bầy chó lảo đảo lê bước dọc con phố chính của Skaguay. “Đây là chặng cuối rồi. Xong việc tụi mày sẽ được nghỉ một giấc thật dài. Hả? Chắc chắn rồi. Một giấc nghỉ dài tuyệt vời.”
Những người đánh xe tự tin mong đợi một kỳ nghỉ dài. Chính họ cũng đã cày qua mười hai trăm dặm chỉ với hai ngày nghỉ, và theo lẽ thường tình cùng sự công bằng, họ xứng đáng có một khoảng thời gian thảnh thơi. Nhưng Klondike2 đã hút quá nhiều người đổ xô đến, và cũng có quá nhiều người yêu, người vợ, người thân không đến được nơi ấy, khiến cho núi thư từ ứ đọng đang phình ra như một ngọn Alps3 đồ sộ. Chưa kể, còn có những mệnh lệnh từ chính quyền nữa. Những tốp chó mới từ Vịnh Hudson4 sẽ thế chỗ cho những con chó đã hết giá trị trên đường mòn. Lũ chó vô dụng thì bị loại bỏ, và vì chó chẳng đáng giá là bao so với đô la, người ta đem bán chúng đi.
Ba ngày trôi qua, Buck và đồng đội mới thấm thía được mình đã thực sự mệt mỏi và yếu ớt đến nhường nào. Rồi vào buổi sáng ngày thứ tư, hai gã đàn ông từ Nước Mỹ tìm đến và mua rẻ cả bầy lẫn toàn bộ dây cương. Hai gã gọi nhau là “Hal” và “Charles”. Charles là một gã trung niên, nước da hơi nhợt nhạt, với đôi mắt yếu ớt lúc nào cũng như ngấn nước. Bộ ria mép của gã cong vút lên một cách dữ dội và mạnh mẽ, như một lời dối trá trắng trợn nhằm che đậy đôi môi trễ xuống nhu nhược bên dưới. Hal là một thanh niên mười chín đôi mươi, thắt lưng đeo khẩu súng lục Colt5 to bản cùng con dao đi săn trên chiếc nịt nạm đầy đạn. Chính chiếc thắt lưng ấy là thứ nổi bật nhất ở gã - nó rao bán sự non nớt của gã một cách rành rành, một sự non nớt lộ liễu đến mức không thể chối cãi. Cả hai gã đàn ông đều toát lên vẻ lạc lõng không sao che giấu nổi, và tại sao những kẻ như bọn họ lại mon men lên miền Bắc hoang dã này, thì đó vẫn là một phần trong bí mật của những điều vượt quá tầm hiểu biết của con người.
Buck nghe tiếng mặc cả và chứng kiến tiền được trao tay giữa gã đàn ông và viên nhân viên Chính phủ. Nó hiểu rằng người lai Scotland cùng những người đánh xe chở thư đang bước ra khỏi cuộc đời nó, nối gót Perrault, François và tất cả những người đã ra đi trước đó. Khi bị lùa cùng đồng đội đến khu cắm trại của những ông chủ mới, Buck chỉ thấy một cảnh tượng cẩu thả và lôi thôi: lều dựng dở dang, bát đĩa chưa rửa, mọi thứ ngổn ngang bề bộn. Và ở đó, nó còn thấy một người đàn bà. Hai gã đàn ông gọi thị là “Mercedes”. Thị là vợ của Charles, là chị gái của Hal - một gia đình êm ấm.
Buck thấp thỏm dõi theo bọn họ khi họ bắt tay vào dỡ lều và chất đồ lên xe trượt tuyết. Bọn họ tỏ ra rất ra sức, nhưng chẳng có lấy một chút phương pháp thực tế nào. Chiếc lều được cuộn thành một mớ cồng kềnh to gấp ba lần kích thước đáng lẽ phải có. Những chiếc đĩa thiếc bị cất đi khi vẫn còn nguyên dầu mỡ. Mercedes thì liên tục lăng xăng cản đường những gã đàn ông của thị, miệng không ngớt lải nhải những lời quở trách và khuyên răn. Khi bọn họ đặt một bao quần áo lên phía trước xe, thị lại bảo nên để nó ở phía sau; và khi họ đã đặt nó ở phía sau cùng mấy bọc đồ khác chồng lên trên, thị lại sực nhớ ra những món đồ bỏ quên chẳng thể nhét vào đâu ngoài chính cái bao ấy - thế là họ lại phải dỡ hết đồ xuống.
Ba người đàn ông từ một căn lều gần đó bước ra theo dõi, vừa cười nhăn nhở vừa nháy mắt với nhau.
“Các anh có một đống đồ khá là hoành tráng đấy,” một người lên tiếng; “và tôi không có quyền can thiệp vào chuyện của các anh, nhưng nếu là các anh thì tôi sẽ không mang theo cái lều đó đâu.”
“Không thể tưởng tượng nổi!” Mercedes kêu lên, hai tay vung lên trong vẻ hoảng hốt đầy điệu bộ. “Làm sao tôi có thể sống nổi trên đời này mà không có lều cơ chứ?”
“Mùa xuân đến rồi, các anh sẽ chẳng gặp thời tiết lạnh giá nào nữa đâu,” người đàn ông đáp lời.
Thị lắc đầu kiên quyết, còn Charles và Hal thì tiếp tục chất những món đồ lặt vặt cuối cùng lên đỉnh của cái khối đồ sộ như quả núi.
“Nghĩ nó sẽ chạy được chứ?” một người khác hỏi.
“Tại sao lại không?” Charles hỏi vặn một cách cộc cằn.
“Ồ, được thôi, không sao cả,” người đàn ông này vội vã xuống giọng ngoan ngoãn. “Tôi chỉ thắc mắc vậy thôi. Trông nó có vẻ hơi nặng phần ngọn đấy.”
Charles quay lưng đi và cố hết sức xiết chặt những sợi dây buộc - mà thực chất thì chẳng chặt được chút nào.
“Và tất nhiên là bầy chó có thể lê bước suốt cả ngày với cái đống hành lý đó đằng sau,” người đàn ông thứ hai buông một câu khẳng định mỉa mai.
“Chắc chắn rồi,” Hal đáp, giọng lạnh tanh đầy trịch thượng. Một tay gã nắm chặt cọc lái, tay kia giương roi. “Đi nào!” gã thét. “Đi tới đi nào!”
Cả bầy chó chồm lên, căng mình vào dây đai ngực, ráng sức trong vài khoảnh khắc, rồi buông thõng. Chúng không thể nào lay chuyển nổi chiếc xe trượt tuyết.
“Lũ súc vật lười biếng, tao sẽ cho tụi mày biết tay,” gã gầm lên và vung roi định quất xuống.
Nhưng Mercedes đã can thiệp. “Ôi, Hal, em không được làm thế,” thị vừa khóc vừa túm lấy chiếc roi, giằng nó khỏi tay gã. “Những con vật tội nghiệp! Giờ em phải hứa với chị là em sẽ không đối xử thô bạo với bọn chúng trong suốt phần còn lại của chuyến đi, nếu không chị sẽ không bước thêm một bước nào nữa.”
“Chị thì biết cái quái gì về chó cơ chứ,” em trai thị chế nhạo; “và em mong chị để cho em yên. Chúng nó lười biếng, em nói cho chị biết, và phải quất roi thì mới bắt chúng làm việc được. Đó là cách của bọn chúng. Chị cứ hỏi bất kỳ ai mà xem. Hỏi mấy người đàn ông đằng kia kìa.”
Mercedes nhìn họ với ánh mắt van lơn, nỗi ghê tởm tột cùng khi phải chứng kiến cảnh đau đớn hiện rõ trên khuôn mặt xinh đẹp của thị.
“Chúng yếu như bún rồi, nếu cô muốn biết,” một người lên tiếng đáp. “Kiệt sức hoàn toàn, đó mới là vấn đề. Chúng cần được nghỉ ngơi.”
“Nghỉ ngơi cái quái gì,” Hal buông lời, đôi môi nhẵn nhụi chưa một sợi râu của gã cong lên đầy khinh miệt; và Mercedes “Ôi!” lên một tiếng, vừa đau đớn vừa buồn bã trước lời chửi thề ấy.
Nhưng rồi bản năng bênh vực người nhà của thị lập tức trỗi dậy. “Đừng bận tâm đến cái ông đó,” thị nói, giọng sắc lẹm. “Em đang điều khiển chó của chúng ta, và em cứ làm những gì em cho là tốt nhất với chúng.”
Một lần nữa, roi của Hal lại vun vút giáng xuống bầy chó. Bọn chúng lao mình vào dây đai ngực, quặp móng xuống nền tuyết nén chặt, hạ thấp thân mình, rồi dồn hết sức lực còn sót lại. Chiếc xe trượt tuyết đứng trơ như bị neo chặt xuống đất. Sau hai lần cố gắng bất thành, bầy chó đứng ỳ ra, thở hổn hển. Chiếc roi lại rít lên man rợ, thì một lần nữa Mercedes lại can thiệp. Thị quỳ sụp xuống trước mặt Buck, mắt long lanh ngấn lệ, rồi vòng tay ôm lấy cổ nó.
“Cưng tội nghiệp, tội nghiệp quá,” thị nức nở trong niềm thương cảm, “sao cưng không kéo mạnh lên? - thì cưng sẽ không bị đánh nữa.” Buck chẳng ưa gì thị, nhưng lúc này nó đang quá khốn khổ để kháng cự, và nó chấp nhận điều đó như một phần của cái công việc khốn khổ trong ngày.
Một trong những người đứng xem, nãy giờ vẫn nghiến răng để kìm những lời nóng nảy, cuối cùng cũng lên tiếng:-
“Không phải là tôi quan tâm cái quái gì đến việc các cậu ra sao đâu, nhưng vì bầy chó thì tôi chỉ muốn nói điều này: các cậu có thể giúp chúng rất nhiều bằng cách bẻ gãy chiếc xe ra. Hai thanh trượt đã bị đóng băng cứng ngắc rồi. Hãy dồn hết trọng lượng của các cậu vào cọc lái, lắc qua phải rồi qua trái, và bẩy nó ra.”
Lần thứ ba, một nỗ lực mới được thực hiện. Nhưng lần này, nghe theo lời khuyên, Hal ra sức bẩy hai thanh trượt vốn đã bị đông cứng dính chặt vào tuyết. Chiếc xe trượt quá tải và cồng kềnh chồm tới phía trước, còn Buck cùng đồng đội vùng vẫy điên cuồng dưới cơn mưa roi trút xuống. Một trăm thước phía trước, con đường mòn ngoặt gấp và dốc đứng xuống phố chính. Giữ cho chiếc xe nặng ngọn khỏi lật ở khúc cua ấy là việc cần đến một bàn tay dày dạn kinh nghiệm - và Hal thì không phải là người như thế. Khi cả đoàn vòng qua khúc cua, chiếc xe trượt tuyết lật nhào, hất tung một nửa tải trọng qua những sợi dây buộc lỏng lẻo. Bầy chó vẫn không chịu dừng lại. Chiếc xe nay đã nhẹ hẳn đi, nảy chồm chồm và nghiêng ngả phía sau lũ chó. Bọn chúng phát điên lên vì sự đối xử tồi tệ và cái khối hàng hóa bất công kia. Buck nổi cơn thịnh nộ. Nó lao đi như một mũi tên, và cả đàn chạy theo sự dẫn dắt của nó. Hal thét lên “Whoa! whoa!” nhưng chẳng con nào thèm đoái hoài. Gã vấp ngã và bị kéo lê trên mặt đất. Chiếc xe lật nhào nghiến thẳng qua người gã, còn bầy chó thì phóng như bay lên phố, trút thêm náo nhiệt cho Skaguay khi chúng rải vãi nốt phần còn lại của đống hành lý dọc theo con phố sầm uất nhất thị trấn.
Những công dân tốt bụng đã giúp tóm bầy chó lại và thu gom đống đồ đạc vung vãi. Họ cũng không quên kèm theo lời khuyên. Giảm một nửa đồ đạc và nhân đôi số chó - nếu bọn họ còn mong đến được Dawson - đó là những gì người ta nói. Hal cùng chị gái và anh rể miễn cưỡng nghe theo. Họ dựng lều lên và bắt đầu kiểm kê lại hành lý. Đồ hộp được lôi ra khiến tất cả những người chứng kiến phải phá lên cười, bởi đồ hộp trên Chặng đường Dài6 là một thứ xa xỉ chỉ tồn tại trong giấc mơ. “Chăn đệm như cho một khách sạn,” một người đàn ông vừa cười vừa buông lời châm biếm khi phụ giúp. “Một nửa chỗ này cũng là quá nhiều rồi; vứt bớt đi. Vứt luôn cái lều ấy đi, và cả đống bát đĩa kia nữa - dù sao thì ai sẽ là người rửa chúng chứ? Lạy Chúa, các người tưởng mình đang đi du lịch trên toa Pullman7 à?”
Và thế là cuộc thanh lọc tàn nhẫn những thứ dư thừa bắt đầu. Mercedes khóc khi những túi quần áo của thị bị quăng xuống đất và từng món, từng món một bị vứt bỏ không thương tiếc. Thị khóc vì tất thảy mọi thứ, và thị khóc cho từng món đồ bị ruồng bỏ. Thị ôm gối, lắc lư người tới lui trong nỗi đau khổ tột cùng. Thị thề thốt rằng thị sẽ không nhúc nhích dù chỉ một tấc, cho dù có cả tá Charles đi chăng nữa. Thị van nài tất cả mọi người và mọi thứ trên đời, rồi cuối cùng cũng lau khô nước mắt và bắt đầu ném đi cả những món quần áo vốn là nhu yếu phẩm thiết thân. Và trong cơn hăng say tột độ, khi đã xong việc với đồ đạc của chính mình, thị chuyển mục tiêu sang đồ đạc của những gã đàn ông của mình và xới tung chúng lên như một cơn lốc xoáy.
Sau khi hoàn tất, khối hành trang dù đã bị cắt giảm một nửa vẫn còn là một đống đồ sộ đáng gờm. Charles và Hal đi ra ngoài vào buổi tối và mua về sáu con chó Bên Ngoài8. Những con chó này, cộng với sáu con thuộc đội ban đầu, cùng Teek và Koona - hai con husky kiếm được ở Rink Rapids trong chuyến đi phá kỷ lục trước đó - đã nâng tổng số chó lên mười bốn con. Nhưng lũ chó Bên Ngoài, dù đã bị bẻ gãy ý chí từ khi cập bến, chẳng làm nên trò trống gì. Ba con là giống chó săn lông ngắn, một con Newfoundland, và hai con chó lai không rõ dòng giống. Lũ lính mới này dường như chẳng biết gì hết. Buck và đồng đội nhìn chúng bằng ánh mắt khinh bỉ, và mặc dù nó nhanh chóng dạy cho lũ này biết vị trí của mình và những thứ không được phép làm, nó không thể dạy chúng những gì cần phải làm. Chúng không hề thích nghi được với dây cương và đường mòn. Ngoại trừ hai con chó lai, tất cả đều hoang mang và suy sụp tinh thần - bởi môi trường hoang dã xa lạ mà chúng bất ngờ bị ném vào, và bởi sự đối xử tàn tệ mà chúng phải hứng chịu. Hai con chó lai thì chẳng còn chút nhuệ khí nào sót lại; xương cốt là thứ duy nhất người ta có thể bẻ gãy ở chúng.
Với đám lính mới thảm hại và vô vọng ấy, cùng đội chó cũ đã rã rời sau hai ngàn năm trăm dặm đường mòn liên tục, viễn cảnh chẳng có lấy một tia sáng. Thế nhưng, hai gã đàn ông lại khá hồ hởi. Và bọn họ cũng đầy tự hào nữa. Bọn họ đang làm mọi thứ thật phong cách, hẳn hoi, với mười bốn con chó. Bọn họ đã thấy những chiếc xe trượt tuyết khác khởi hành qua Đèo9 hướng về Dawson, hoặc từ Dawson trở về, nhưng chưa bao giờ bọn họ thấy một cỗ xe nào có đến mười bốn con chó kéo. Trong bản chất của việc di chuyển ở Bắc Cực, có một lý do hiển nhiên khiến mười bốn con chó không nên kéo một chiếc xe - đó là vì một cỗ xe đơn độc không thể chở đủ lương thực cho mười bốn con chó. Nhưng Charles và Hal không biết điều này. Bọn họ đã tính toán chuyến đi bằng bút chì: ngần này cho một con chó, ngần này con chó, ngần này ngày - Quá Rõ Ràng. Mercedes nhìn qua vai họ và gật gù thấu hiểu. Mọi thứ thật quá đơn giản.
Sáng hôm sau, khi mặt trời đã lên cao, Buck dẫn đầu đoàn chó dài nối đuôi nhau tiến lên con phố chính. Chẳng còn chút sinh khí nào trong đội ngũ. Nơi Buck và đồng bọn không còn vẻ lanh lẹ, xông xáo của những ngày trước nữa. Cả bọn lê bước khởi hành trong cơn mệt mỏi thấu tận xương tủy. Đã bốn lần Buck vượt qua cung đường giữa Nước Mặn và Dawson, và giờ đây, khi nhận ra mình lại phải đối diện với con đường mòn ấy một lần nữa - dù thân xác đã rã rời, kiệt quệ - lòng nó trào lên một nỗi cay đắng khôn nguôi. Trái tim nó không còn đặt vào công việc nữa. Mà trái tim của bất kỳ con chó nào trong đội cũng vậy. Những con chó Bên Ngoài thì rụt rè, hoảng sợ. Còn lũ chó Bên Trong thì đã đánh mất hoàn toàn niềm tin vào đám chủ nhân của mình.
Buck lờ mờ cảm nhận được rằng chẳng thể nào trông cậy vào hai gã đàn ông và người đàn bà này. Bọn họ chẳng biết làm việc gì ra hồn. Và ngày này qua ngày khác, sự thật phũ phàng càng lộ rõ: bọn họ cũng chẳng thể học nổi điều gì. Mọi việc bọn họ làm đều nhuốm màu lười biếng, không trật tự, không kỷ luật. Bọn họ mất nửa đêm chỉ để dựng nên một cái trại lôi thôi, lếch thếch. Rồi lại mất thêm nửa buổi sáng để nhổ trại và chất đồ lên xe. Việc chất đồ thì cẩu thả đến nỗi suốt phần còn lại của ngày, bọn họ liên tục phải dừng xe để sắp xếp lại đống hành lý lung tung. Có những ngày bọn họ không đi nổi mười dặm. Lại có những ngày bọn họ thậm chí chẳng thể nào khởi hành nổi. Và tuyệt nhiên chưa từng có một ngày nào bọn họ đi được quá nửa quãng đường mà hai gã đàn ông đã lấy làm cơ sở để tính toán khẩu phần lương thực cho đàn chó.
Việc thiếu hụt thức ăn cho chó là điều không sao tránh khỏi. Nhưng bọn họ còn tự tay đẩy nhanh thảm họa đó. Bằng cách cho chó ăn no nê quá mức, bọn họ kéo cái ngày bắt đầu thiếu đói đến gần hơn bao giờ hết. Những con chó Bên Ngoài, với dạ dày chưa từng được tôi luyện qua những cơn đói khát triền miên để biết cách tận dụng tối đa từng chút thức ăn ít ỏi, mang trong mình một cơn thèm ăn gần như phàm phu. Thêm vào đó, khi lũ husky mệt mỏi kéo xe một cách yếu ớt, Hal lại quyết định rằng khẩu phần tiêu chuẩn là quá ít. Gã tăng gấp đôi khẩu phần ăn. Và tệ hại hơn cả, khi Mercedes không thể dỗ dành gã cho bầy chó ăn thêm, với nước mắt lăn dài trên đôi má xinh đẹp và giọng nói nghẹn ngào, thị đã lẻn trộm từ những bao cá khô và lén lút cho chúng ăn vụng. Nhưng thức ăn không phải là thứ Buck và lũ husky cần. Chúng cần được nghỉ ngơi. Và dù chúng di chuyển rất chậm, cái tải trọng nặng nề chúng phải kéo đã bào mòn sức lực của chúng một cách tàn nhẫn.
Rồi những ngày thiếu ăn thực sự ập đến. Một ngày nọ, Hal thức dậy và chợt nhận ra thức ăn cho chó đã vơi đi một nửa, trong khi quãng đường mới chỉ vượt qua được một phần tư. Và giờ đây, dù bằng tình cảm hay tiền bạc, cũng chẳng thể nào kiếm thêm được dù chỉ một chút thức ăn cho chó. Thế là gã cắt giảm ngay cả khẩu phần tiêu chuẩn, đồng thời cố tăng quãng đường di chuyển mỗi ngày lên. Chị gái và anh rể gã hùa theo kế hoạch ấy. Nhưng chính khối lượng hành lý nặng nề cùng sự bất tài cố hữu đã cản trở bọn họ. Cho bầy chó ăn ít đi thì dễ. Nhưng bắt chúng di chuyển nhanh hơn là điều bất khả thi. Còn sự bất lực của chính bọn họ trong việc khởi hành sớm hơn vào mỗi buổi sáng đã triệt tiêu mọi cơ hội đi được thêm giờ. Bọn họ không chỉ không biết cách điều khiển chó. Bọn họ còn không biết cách bắt chính mình phải làm việc.
Kẻ đầu tiên ra đi là Dub. Dù nó chỉ là một tên trộm vụng về đáng thương, luôn bị bắt quả tang và bị trừng phạt, nhưng nó vẫn là một kẻ lao động trung thành. Cái xương bả vai bị trật của nó, không được chữa trị, không được nghỉ ngơi, ngày càng trở nên tồi tệ. Cho đến một hôm, Hal rút khẩu súng lục Colt cỡ lớn ra và bắn chết nó. Ở vùng đất này có một câu nói: một con chó Bên Ngoài sẽ chết đói nếu chỉ được ăn bằng khẩu phần của một con husky. Vậy nên sáu con chó Bên Ngoài dưới sự dẫn dắt của Buck, khi chỉ được hưởng nửa khẩu phần của husky, thì chẳng còn con đường nào khác ngoài cái chết. Con chó Newfoundland là giống Bên Ngoài đầu tiên ngã xuống. Tiếp sau đó là ba con chó săn lông ngắn. Hai con chó lai bám víu vào sự sống gan lì hơn đôi chút, nhưng rồi cuối cùng cũng lần lượt ra đi.
Đến lúc này, mọi vẻ nhã nhặn và dịu dàng của miền Nam đã hoàn toàn lìa xa ba con người ấy. Bị lột trần khỏi lớp vỏ hào nhoáng và lãng mạn, chuyến phiêu lưu Bắc Cực giờ đây phơi bày một thực tại tàn nhẫn, vượt quá sức chịu đựng của những người đàn ông và người đàn bà như bọn họ. Mercedes thôi khóc vì lũ chó - thị giờ quá bận rộn khóc cho chính mình và gây gổ với chồng cùng em trai. Cãi vã là thứ duy nhất bọn họ chưa từng thấy mệt. Sự cáu bẳn của họ nảy mầm từ chính nỗi khốn khổ của bản thân, rồi lớn lên cùng nó, nhân lên gấp bội, và cuối cùng vượt xa cả nó. Cái lòng kiên nhẫn kỳ diệu của chốn đường mòn - thứ thuộc về những con người lao lực đến tận xương tủy và chịu đựng những cơn đau không kể xiết, vậy mà vẫn giữ được lời ăn tiếng nói dịu dàng và nhân hậu - chưa từng một lần ghé thăm hai gã đàn ông và người phụ nữ này. Họ không hề có lấy một mảy may ý niệm về sự kiên nhẫn ấy. Người họ cứng đơ và rã rời; cơ bắp đau nhức, xương cốt đau nhức, đến tận trái tim cũng đau nhức; và chính vì thế, lời lẽ của họ trở nên chua chát, những câu nói hằn học luôn thường trực trên đầu môi từ tờ mờ sáng cho đến tận khuya.
Charles và Hal cãi nhau bất cứ khi nào Mercedes tạo cho họ cơ hội. Mỗi người đều ôm khư khư một niềm tin thiêng liêng rằng mình làm nhiều hơn cái phần đáng lẽ phải làm, và chẳng ai chịu nhịn mà không thốt ra niềm tin ấy vào bất kỳ dịp nào có thể. Có khi Mercedes đứng về phía chồng, có khi thị lại bênh vực em trai. Kết quả là một màn cãi vã gia đình tuyệt hảo và bất tận. Khởi đầu từ chuyện tranh luận xem ai sẽ là kẻ đi chặt mấy cành củi để nhóm lửa - một cuộc tranh luận vốn chỉ liên quan đến Charles và Hal - thì ngay sau đó, từng thành viên còn lại trong gia đình sẽ lần lượt bị kéo vào: cha, mẹ, chú bác, anh em họ, những kẻ cách xa hàng ngàn dặm, và thậm chí một vài người trong số họ đã khuất núi. Rằng quan điểm của Hal về nghệ thuật, hay cái thể loại kịch xã hội mà ông cậu bên ngoại của gã từng viết, thì có liên quan quái gì đến chuyện chặt mấy que củi, quả là điều vượt ngoài tầm hiểu biết; vậy mà cuộc cãi vã vẫn có thể rẽ ngoặt sang hướng ấy chẳng khác gì việc nó chĩa mũi dùi vào những định kiến chính trị của Charles. Và cái lưỡi lắm chuyện của bà chị gái Charles thì dính dáng gì đến việc nhóm một đống lửa nơi đất Yukon, chỉ mình Mercedes là thấu tỏ - kẻ đã tuôn ra hằng hà sa số những ý kiến về đề tài ấy, và nhân tiện điểm thêm đôi ba nét về mấy đặc điểm khó ưa khác thuộc riêng về dòng họ nhà chồng. Trong lúc đó, ngọn lửa vẫn chưa được nhóm, lều trại mới dựng được một nửa, và lũ chó thì vẫn chưa được đút cho miếng nào.
Mercedes nuôi dưỡng một mối uất hận rất riêng - mối uất hận của phái yếu. Thị xinh đẹp và mềm mại, và suốt những tháng ngày trước đó đã quen được đối xử theo lối hiệp sĩ. Nhưng cách chồng và em trai đối xử với thị lúc này thì chẳng hề có chút hiệp sĩ nào. Thói quen của thị là tỏ ra yếu đuối. Bọn họ càm ràm than phiền. Bị chạm đến điều mà đối với thị là đặc quyền thiêng liêng nhất của giới tính mình, thị liền biến cuộc sống của bọn họ thành không thể nào chịu đựng nổi. Thị không còn đoái hoài đến lũ chó nữa, và vì đang đau đớn mỏi mệt, thị kiên quyết ngồi lên xe trượt tuyết. Thị xinh đẹp và mềm mại, nhưng thị nặng tới một trăm hai mươi pound - một cọng rơm to tướng đầy sức sống đè thêm lên cái tải trọng mà những con vật hấp hối và đói lả đang phải kéo lê. Thị ngồi lì trên xe suốt nhiều ngày, cho đến khi lũ chó gục xuống trên dây cương và chiếc xe khựng hẳn. Charles và Hal van nài thị xuống mà đi bộ, cầu xin thị, khẩn khoản thị, trong lúc thị than khóc réo tên ông Trời mà kể lể về sự tàn ác của bọn họ.
Có một lần, bọn họ đã dùng sức mạnh để kéo thị ra khỏi xe. Nhưng họ không bao giờ làm thế thêm lần nào nữa. Thị buông thõng hai chân như một đứa trẻ được nuông chiều, rồi ngồi phịch xuống ngay giữa đường mòn. Bọn họ bỏ đi tiếp, nhưng thị không hề nhúc nhích. Đi được ba dặm, họ buộc phải dỡ hàng khỏi xe, quay đầu trở lại đón thị, và lại một lần nữa phải dùng sức mạnh mà nhấc thị lên xe.
Trong nỗi thống khổ tột cùng của chính mình, bọn họ hoá ra nhẫn tâm trước nỗi đau của những con vật. Lý thuyết của Hal - thứ gã đem áp dụng lên người khác - là người ta phải biết chai sạn. Gã đã bắt đầu rao giảng điều ấy cho chị gái và anh rể. Thất bại ở chỗ đó, gã bèn nện thẳng nó vào lũ chó bằng một cây gậy. Nơi Five Fingers10, lương thực cho chó đã hết sạch, và một mụ da đỏ già móm mém ngỏ ý muốn đổi vài pound da ngựa đông lạnh lấy khẩu súng lục Colt luôn sánh đôi cùng con dao săn to bự đeo bên hông Hal. Tấm da ấy quả là một thứ thay thế thảm hại cho thức ăn, đúng như cái cách nó bị lột ra từ những con ngựa đã chết đói của mấy kẻ chăn gia súc hồi sáu tháng trước. Trong trạng thái đóng băng, nó trông như những dải sắt mạ kẽm, và khi lọt vào dạ dày một con chó đang quằn quại, nó tan rã thành những sợi dai nhách, mỏng dính, chẳng chút dinh dưỡng, cùng một mớ lông ngắn gây kích ứng và khó lòng tiêu hoá.
Và trải qua tất thảy những điều ấy, Buck vẫn lảo đảo lê bước ở vị trí dẫn đầu, như thể trong một cơn ác mộng triền miên. Nó kéo khi còn có thể; lúc không thể kéo nổi nữa, nó đổ ập xuống và nằm bẹp ở đó cho đến khi roi quất hay gậy đập buộc nó phải lồm cồm đứng dậy. Toàn bộ vẻ cứng cáp và sự bóng mượt đã biến mất khỏi bộ lông tuyệt đẹp của nó. Lông rủ xuống, rũ rượi và lôi thôi, hoặc bết cứng lại bởi máu khô nơi cây gậy của Hal đã giáng xuống làm nó bầm dập. Cơ bắp nó teo tóp thành những dải gân xơ cứng, và mọi lớp mỡ đã tan biến, để lộ ra từng chiếc xương sườn, từng đốt xương trên khung sườn qua lớp da nhăn nheo, chùng nhão vì rỗng tuếch. Một cảnh tượng nhói lòng, nhưng trái tim Buck thì chưa thể bị bẻ gãy. Gã đàn ông mặc áo len đỏ đã chứng minh điều đó.
Tình trạng của Buck ra sao, thì lũ đồng đội của nó cũng y hệt như vậy. Chúng chỉ là những bộ xương biết đi. Cả thảy bảy con, tính cả nó. Trong cơn khốn cùng tột độ, chúng đã trở nên tê dại trước những vết cắn của roi da hay những vết bầm tím từ gậy gộc. Nỗi đau từ những trận đòn trở nên xa xăm và đờ đẫn, cũng giống như những gì mắt chúng còn thấy và tai chúng còn nghe cũng trở nên xa xăm và đờ đẫn. Chúng không còn sống được một nửa, hay thậm chí một phần tư nữa. Chúng đơn giản chỉ là những túi xương đựng những đốm lửa sống leo lét yếu ớt. Khi có lệnh dừng, chúng đổ ập xuống dây cương như những con chó đã chết, và đốm lửa ấy mờ dần, nhợt nhạt đi, tưởng như sắp tắt hẳn. Rồi khi gậy hay roi giáng xuống, đốm lửa lại thoi thóp bùng lên, và chúng loạng choạng đứng dậy, lảo đảo bước tiếp.
Rồi cũng đến cái ngày Billee, con chó lành hiền, ngã xuống và không sao gượng dậy nổi nữa. Hal đã đổi mất khẩu súng lục, nên gã vung rìu giáng thẳng vào đầu Billee khi nó đang nằm trên dây cương, rồi cắt xác nó khỏi bộ yên cương và kéo lê sang một bên. Buck trông thấy, và đồng đội của nó cũng trông thấy, và chúng biết rằng điều ấy đang đến rất gần với chính mình. Ngày hôm sau, Koona ra đi, và chỉ còn sót lại năm con: Joe, đã quá kiệt quệ để có thể hung dữ; Pike, tàn phế và khập khiễng, chỉ còn lờ mờ nhận thức và chẳng đủ tỉnh táo để mà giả vờ đau; Sol-leks, kẻ chột mắt, vẫn trung thành với cái nhọc nhằn của dây cương và đường mòn, và đau đáu vì còn quá ít sức để mà kéo; Teek, kẻ chưa từng đi quá xa trong mùa đông năm ấy, và giờ bị đòn roi nhiều hơn lũ khác vì nó vẫn còn sung sức hơn đôi chút; và Buck, vẫn ở vị trí dẫn đầu đoàn, nhưng không còn áp đặt kỷ luật hay buồn áp đặt kỷ luật nữa, phân nửa thời gian nó bị mù loà vì kiệt sức và chỉ còn giữ được đường mòn nhờ vào những bóng hình nhoè nhoẹt cùng cái cảm giác lờ mờ dưới đôi bàn chân.
Ấy thế mà thời tiết mùa xuân lại đẹp đến nao lòng, dẫu chẳng con chó nào hay con người nào còn tâm trí mà nhận ra. Mỗi ngày mặt trời mọc sớm hơn và lặn muộn hơn. Bình minh loé lên từ lúc ba giờ sáng, và ánh hoàng hôn vương vấn đến tận chín giờ đêm. Suốt một ngày dài tràn ngập nắng rực rỡ. Sự tĩnh mịch ma quái của mùa đông đã nhường chỗ cho âm vang mùa xuân vĩ đại của sự sống đang trỗi dậy. Tiếng thì thầm ấy cất lên từ khắp mặt đất, mang theo niềm hân hoan của sự tồn tại. Nó đến từ muôn vạn vật đã sống lại và chuyển động, những thứ tưởng chừng đã chết và nằm bất động suốt những tháng ngày dài băng giá. Nhựa sống đang dâng lên trong những thân thông. Liễu và bạch dương đang bung nở những chồi non tơ. Bụi rậm và dây leo khoác lên mình tấm áo xanh mướt. Dế kêu rả rích trong đêm, và ban ngày, đủ mọi loài leo trèo, bò trườn sột soạt tiến ra dưới ánh mặt trời. Gà gô trắng và chim gõ kiến vang vọng tiếng kêu cùng tiếng mổ trong rừng. Sóc lanh lảnh gọi nhau, chim chóc ríu rít hót ca, và trên cao, những đàn chim hoang từ phương nam bay lên cắt ngang bầu trời, cất tiếng kêu vang và xếp thành những đội hình chữ V tinh xảo xé toạc không trung.
Từ mọi triền đồi vọng lại tiếng róc rách của nước chảy, khúc nhạc của những dòng suối vô hình. Vạn vật đang tan chảy, đang uốn mình, đang vỡ ra. Sông Yukon gồng mình phá tan lớp băng đang kìm kẹp nó. Nước gặm mòn từ bên dưới; mặt trời gặm mòn từ phía trên. Những túi khí hình thành, những vết nứt xuất hiện rồi nứt toác ra, trong khi những mảng băng mỏng đổ sập hoàn toàn xuống dòng nước. Và giữa tất cả những tiếng nứt vỡ, xé toang, rung chuyển của sự sống đang bừng thức, bên dưới ánh mặt trời chói chang và xuyên qua những cơn gió thoảng dịu dàng, tựa như những lữ khách trên con đường đi về cõi chết, hai gã đàn ông, người đàn bà, cùng những con husky vẫn lảo đảo bước đi.
Bầy chó gục ngã la liệt. Mercedes ngồi chễm chệ trên xe, nước mắt tuôn như suối. Hal thì chửi rủa vô hồi, chẳng buồn đếm xỉa đến trời đất. Còn Charles, đôi mắt ầng ậng nước, chất chứa nỗi ngao ngán tận cùng. Cả bọn lảo đảo tiến vào khu trại của John Thornton nơi cửa sông White trong bộ dạng thảm hại hết mức. Vừa dừng lại, lũ chó đổ ập xuống như thể đã chết hết cả rồi. Mercedes gạt nước mắt, đưa mắt nhìn John Thornton. Charles đổ phịch xuống một khúc gỗ để nghỉ. Y hạ người xuống thật chậm, thật nhọc, bởi từng khớp xương đã cứng đờ như gỗ mục. Hal xung phong đứng ra nói chuyện.
John Thornton đang vót nốt những đường cuối cùng trên cái cán rìu ông làm từ một khúc bạch dương. Ông vừa vót vừa lắng nghe, đáp trả bằng những tiếng cộc lốc, và khi được hỏi thì ban phát vài lời khuyên ngắn gọn. Ông quá hiểu cái giống người này rồi - và ông đưa ra lời khuyên với niềm xác tín rằng nó sẽ chẳng bao giờ được làm theo.
"Ở trên kia người ta bảo tụi tôi rằng đáy đường mòn đang sụp hết rồi, tốt nhất là nên cắm trại lại," Hal lên tiếng, nhằm đáp lại lời cảnh báo của Thornton rằng đừng có dại mà giỡn mặt với lớp băng mục thêm nữa. "Họ còn bảo tụi tôi không thể nào đến được sông White, thế mà giờ thì tụi tôi đang đứng ở đây." Câu cuối cùng gã thốt ra với giọng chế nhạo đầy đắc thắng.
"Và họ đã nói đúng với cậu đấy," John Thornton đáp. "Đáy sông có thể sụp bất kỳ lúc nào. Chỉ có lũ ngu, với cái may mù quáng của lũ ngu, mới mò được tới tận đây. Tôi nói thẳng với cậu, tôi thà không lấy toàn bộ số vàng ở Alaska chứ không đem mạng mình ra đánh cược trên lớp băng đó đâu."
"Chắc tại ông đâu có ngu," Hal nói. "Nhưng dù sao thì tụi tôi vẫn sẽ đi tiếp tới Dawson." Gã tháo cuộn roi ra khỏi thắt lưng. "Đứng dậy, Buck! Hi! Đứng dậy coi! Đi tới!"
Thornton vẫn mải miết vót cán rìu. Ông biết, chen vào giữa một kẻ ngu và sự ngu xuẩn của chính hắn là điều vô ích; với lại, thêm hay bớt dăm ba kẻ ngu thì cũng chẳng thể nào lay chuyển nổi trật tự của vạn vật.
Nhưng bầy chó không đứng dậy theo lệnh. Chúng đã qua từ lâu cái giai đoạn mà những cú đòn là cần thiết để lay tỉnh chúng. Chiếc roi quất tới tấp, chỗ này, chỗ kia, thi hành sứ mệnh tàn nhẫn của nó. John Thornton bặm chặt môi. Sol-leks là đứa đầu tiên bò dậy. Teek làm theo. Joe vùng lên kế tiếp, ăng ẳng vì đau đớn. Pike cố gượng dậy trong đớn đau. Hai lần nó vừa nhổm được nửa người đã lại đổ gục xuống, và đến lần thứ ba mới vật vã đứng lên nổi. Buck thì không hề nhúc nhích. Nó nằm yên lặng ngay tại nơi nó đã ngã. Ngọn roi cắn phập vào thân nó hết lằn này đến lằn khác, nhưng nó không rên rỉ, cũng chẳng phản kháng. Đôi lần Thornton giật nảy mình, như thể định thốt lên điều gì, rồi lại đổi ý. Một màng sương mỏng giăng ngang mắt ông, và khi trận đòn vẫn tiếp diễn, ông bật dậy, đi tới đi lui đầy lưỡng lự.
Đây là lần đầu tiên Buck gục ngã, và chỉ riêng điều đó thôi đã quá đủ để Hal nổi cơn điên cuồng. Gã ném chiếc roi sang một bên, vớ lấy cây gậy quen thuộc. Buck vẫn từ chối nhúc nhích dưới cơn mưa đòn ngày một nặng hơn đang dội xuống người nó. Cũng như các bạn đồng hành, nó gần như không còn sức mà đứng lên nữa, nhưng, không giống như chúng, nó đã hạ quyết tâm sẽ không đứng lên. Nó mang trong mình một linh cảm mơ hồ về thảm họa đang cận kề. Cảm giác ấy đã dâng lên mãnh liệt ngay từ lúc nó kéo xe lên tới bờ, và vẫn chưa hề rời bỏ nó. Qua lớp băng mỏng và mục nát mà nó đã cảm nhận được dưới chân suốt cả ngày, dường như nó thấu thị được tai ương đang ở rất gần, ngay phía trước mặt, trên chính lớp băng nơi gã chủ đang cố xua nó lao tới. Nó nhất quyết không nhúc nhích. Nó đã chịu đựng quá nhiều, và nó đã kiệt quệ đến nỗi những cú đòn chẳng còn mấy đau đớn nữa. Và khi chúng tiếp tục giáng xuống, tia sống le lói bên trong nó lay lắt rồi lịm dần. Gần như đã tắt hẳn. Một cảm giác tê dại lạ lùng lan tỏa. Như thể từ một nơi rất xa, nó nhận thức được rằng mình đang bị đánh. Những cảm giác đau đớn cuối cùng đã rời bỏ nó. Nó chẳng còn cảm thấy gì, dẫu rằng rất mơ hồ, nó vẫn nghe thấy tiếng cây gậy va chạm vào thân mình. Nhưng đó không còn là thân xác của nó nữa - nó dường như đang ở tận một chốn xa xăm nào đó.
Và rồi, đột ngột, không một lời cảnh báo, một tiếng kêu khàn đục vang lên - một âm thanh không rõ ràng, giống tiếng gầm của một con thú hơn là tiếng người - John Thornton lao thẳng vào gã đàn ông đang vung gậy. Hal bị hất tung về phía sau, như thể gã vừa bị một thân cây đổ đập trúng. Mercedes thét lên. Charles đờ đẫn nhìn, lau đôi mắt nhòe nước, nhưng chẳng thể đứng dậy vì thân mình cứng đờ như khúc gỗ của y.
John Thornton đứng che chắn trước Buck, gồng mình kìm nén cơn giận, quá điên tiết đến mức không thốt nên lời.
"Nếu mày còn đánh con chó đó một roi nữa, tao sẽ giết mày," cuối cùng ông cũng rặn ra được từng chữ, giọng nghẹn lại.
"Nó là chó của tao," Hal đáp, quệt vệt máu rỉ ra trên miệng khi gã bước tới. "Tránh đường cho tao, không thì tao sẽ xử lý mày. Tao sẽ đi Dawson."
Thornton đứng sừng sững giữa gã và Buck, và chẳng hề tỏ ý định tránh đường. Hal rút con dao săn dài của gã ra. Mercedes gào thét, khóc lóc, cười sằng sặc, để mặc cho cơn cuồng loạn hỗn độn bùng phát không thể kiểm soát. Thornton nện cán rìu vào đốt ngón tay Hal, hất văng con dao xuống đất. Ông lại nện thêm một cú nữa vào chính những đốt ngón tay ấy khi gã cố cúi xuống nhặt dao. Rồi ông cúi người, tự mình nhặt nó lên, và chỉ với hai nhát cắt dứt khoát, ông cắt đứt dây cương của Buck.
Hal chẳng còn chút ý chí phản kháng nào nữa. Hơn nữa, hai bàn tay gã - hay nói đúng hơn là hai cánh tay - đã bận bịu với chị gái mình; trong khi Buck thì đã kề cận cái chết đến mức chẳng còn chút hữu dụng nào cho việc kéo xe. Vài phút sau, cả bọn kéo xe rời bờ, tiến thẳng xuống dòng sông. Buck nghe tiếng họ rời đi, ngẩng đầu lên nhìn. Pike dẫn đầu, Sol-leks giữ vị trí cận xe, Joe và Teek lảo đảo ở giữa. Tất cả đang đi khập khiễng và loạng choạng. Mercedes ngồi vắt vẻo trên chiếc xe chất đầy hành lý. Hal tì chặt cọc lái để điều hướng, còn Charles lết từng bước nặng nề phía sau.
Trong lúc Buck dõi theo bóng họ, Thornton quỳ gối bên cạnh nó, và với đôi bàn tay thô ráp nhưng nhân từ, ông nhẹ nhàng tìm kiếm những chiếc xương gãy. Cuộc tìm kiếm của ông chẳng phát hiện ra điều gì ngoài vô số vết bầm tím và một tình trạng chết đói thê thảm, thì chiếc xe trượt tuyết đã cách xa đến một phần tư dặm. Chó và người cùng nhìn nó đang trườn lên mặt băng. Đột nhiên, họ trông thấy phần đuôi xe chúi xuống, như thể rơi tõm vào một cái rãnh, và cái cọc lái - cùng với Hal đang bám chặt lấy nó - giật nảy bổng lên không trung. Tiếng thét xé lòng của Mercedes lọt vào tai họ. Họ thấy Charles quay ngoắt lại và lùi đi một bước, và rồi toàn bộ một mảng băng khổng lồ vỡ tan tành, kéo theo chó và người biến mất trong nháy mắt. Chẳng còn lại gì ngoài một cái hố ngoác rộng, há hốc. Đáy của đường mòn đã sụp xuống.
John Thornton và Buck nhìn nhau.
"Mày thật tội nghiệp," John Thornton khẽ nói, và Buck liếm bàn tay ông.
-
Nước Mặn (Salt Water) là cách những người ở vùng trung tâm Alaska gọi vùng bờ biển Thái Bình Dương. Đội thư tín Nước Mặn làm nhiệm vụ chuyển phát thư từ giữa vùng mỏ sâu trong đất liền và các thành phố cảng ven biển. ↩
-
Klondike là vùng đất thuộc lãnh thổ Yukon, tây bắc Canada. Nơi đây nổi tiếng với Cơn sốt vàng Klondike khởi phát vào cuối thế kỷ 19, thu hút hàng chục nghìn người từ khắp nơi đổ về với giấc mộng đổi đời. ↩
-
Alps (An-pơ) là dãy núi lớn và cao nhất châu Âu. Tác giả dùng hình ảnh này để cường điệu hóa khối lượng thư từ khổng lồ đang chất đống như một ngọn núi. ↩
-
Vịnh Hudson là vùng biển lớn ở đông bắc Canada. Trong bối cảnh này, nó ám chỉ Công ty Vịnh Hudson (Hudson's Bay Company), một tập đoàn thương mại lông thú lâu đời và cũng là nguồn cung cấp những đàn chó kéo xe dẻo dai nhất thời bấy giờ. ↩
-
Colt là một thương hiệu súng nổi tiếng của Mỹ. Việc đeo khẩu súng to bản cùng nịt đầy đạn cho thấy Hal đang cố tình phô trương vẻ ngoài của một kẻ phiêu lưu dạn dày sương gió, nhưng thực chất lại bộc lộ sự non nớt và màu mè. ↩
-
Chặng đường Dài (the Long Trail) là cách gọi hành trình gian nan khắc nghiệt trên băng tuyết bằng xe chó kéo. Đồ hộp tuy tiện lợi nhưng lại chứa nhiều nước nên rất nặng, hoàn toàn không phù hợp với việc di chuyển đòi hỏi hành lý phải cực kỳ gọn nhẹ này. ↩
-
Toa tàu Pullman là loại toa khách sang trọng (đặc biệt là toa giường nằm) do công ty Pullman sản xuất tại Mỹ thời bấy giờ. Việc mang nhiều chăn đệm lên xe trượt tuyết bị mỉa mai là giống như đang đi du lịch xa xỉ trên loại toa tàu này. ↩
-
Thuật ngữ của người dân vùng Yukon/Alaska dùng để chỉ những giống chó được mang từ phương Nam (Mỹ hoặc nam Canada) lên, trái ngược với giống chó bản địa (như Husky) vốn đã quen thuộc với băng tuyết và công việc kéo xe. ↩
-
Ám chỉ đèo Chilkoot hoặc đèo White, hai con đèo hiểm trở nằm trên biên giới giữa Alaska và Canada, là thử thách gian nan đầu tiên mà người tìm vàng phải vượt qua trên đường tới vùng mỏ Dawson. ↩
-
Five Finger Rapids (Thác Năm Ngón) là một đoạn thác ghềnh nổi tiếng nguy hiểm trên dòng sông Yukon, đồng thời là một cột mốc quan trọng trên tuyến đường thủy tiến vào vùng mỏ vàng Klondike. ↩
Chapter V. The Toil of Trace and Trail
Thirty days from the time it left Dawson, the Salt Water Mail, with Buck and his mates at the fore, arrived at Skaguay. They were in a wretched state, worn out and worn down. Buck’s one hundred and forty pounds had dwindled to one hundred and fifteen. The rest of his mates, though lighter dogs, had relatively lost more weight than he. Pike, the malingerer, who, in his lifetime of deceit, had often successfully feigned a hurt leg, was now limping in earnest. Sol-leks was limping, and Dub was suffering from a wrenched shoulder-blade.
They were all terribly footsore. No spring or rebound was left in them. Their feet fell heavily on the trail, jarring their bodies and doubling the fatigue of a day’s travel. There was nothing the matter with them except that they were dead tired. It was not the dead-tiredness that comes through brief and excessive effort, from which recovery is a matter of hours; but it was the dead-tiredness that comes through the slow and prolonged strength drainage of months of toil. There was no power of recuperation left, no reserve strength to call upon. It had been all used, the last least bit of it. Every muscle, every fibre, every cell, was tired, dead tired. And there was reason for it. In less than five months they had travelled twenty-five hundred miles, during the last eighteen hundred of which they had had but five days’ rest. When they arrived at Skaguay they were apparently on their last legs. They could barely keep the traces taut, and on the down grades just managed to keep out of the way of the sled.
“Mush on, poor sore feets,” the driver encouraged them as they tottered down the main street of Skaguay. “Dis is de las’. Den we get one long res’. Eh? For sure. One bully long res’.”
The drivers confidently expected a long stopover. Themselves, they had covered twelve hundred miles with two days’ rest, and in the nature of reason and common justice they deserved an interval of loafing. But so many were the men who had rushed into the Klondike, and so many were the sweethearts, wives, and kin that had not rushed in, that the congested mail was taking on Alpine proportions; also, there were official orders. Fresh batches of Hudson Bay dogs were to take the places of those worthless for the trail. The worthless ones were to be got rid of, and, since dogs count for little against dollars, they were to be sold.
Three days passed, by which time Buck and his mates found how really tired and weak they were. Then, on the morning of the fourth day, two men from the States came along and bought them, harness and all, for a song. The men addressed each other as “Hal” and “Charles.” Charles was a middle-aged, lightish-colored man, with weak and watery eyes and a mustache that twisted fiercely and vigorously up, giving the lie to the limply drooping lip it concealed. Hal was a youngster of nineteen or twenty, with a big Colt’s revolver and a hunting-knife strapped about him on a belt that fairly bristled with cartridges. This belt was the most salient thing about him. It advertised his callowness-a callowness sheer and unutterable. Both men were manifestly out of place, and why such as they should adventure the North is part of the mystery of things that passes understanding.
Buck heard the chaffering, saw the money pass between the man and the Government agent, and knew that the Scotch half-breed and the mail-train drivers were passing out of his life on the heels of Perrault and François and the others who had gone before. When driven with his mates to the new owners’ camp, Buck saw a slipshod and slovenly affair, tent half stretched, dishes unwashed, everything in disorder; also, he saw a woman. “Mercedes” the men called her. She was Charles’s wife and Hal’s sister-a nice family party.
Buck watched them apprehensively as they proceeded to take down the tent and load the sled. There was a great deal of effort about their manner, but no businesslike method. The tent was rolled into an awkward bundle three times as large as it should have been. The tin dishes were packed away unwashed. Mercedes continually fluttered in the way of her men and kept up an unbroken chattering of remonstrance and advice. When they put a clothes-sack on the front of the sled, she suggested it should go on the back; and when they had put it on the back, and covered it over with a couple of other bundles, she discovered overlooked articles which could abide nowhere else but in that very sack, and they unloaded again.
Three men from a neighboring tent came out and looked on, grinning and winking at one another.
“You’ve got a right smart load as it is,” said one of them; “and it’s not me should tell you your business, but I wouldn’t tote that tent along if I was you.”
“Undreamed of!” cried Mercedes, throwing up her hands in dainty dismay. “However in the world could I manage without a tent?”
“It’s springtime, and you won’t get any more cold weather,” the man replied.
She shook her head decidedly, and Charles and Hal put the last odds and ends on top the mountainous load.
“Think it’ll ride?” one of the men asked.
“Why shouldn’t it?” Charles demanded rather shortly.
“Oh, that’s all right, that’s all right,” the man hastened meekly to say. “I was just a-wonderin’, that is all. It seemed a mite top-heavy.”
Charles turned his back and drew the lashings down as well as he could, which was not in the least well.
“An’ of course the dogs can hike along all day with that contraption behind them,” affirmed a second of the men.
“Certainly,” said Hal, with freezing politeness, taking hold of the gee-pole with one hand and swinging his whip from the other. “Mush!” he shouted. “Mush on there!”
The dogs sprang against the breast-bands, strained hard for a few moments, then relaxed. They were unable to move the sled.
“The lazy brutes, I’ll show them,” he cried, preparing to lash out at them with the whip.
But Mercedes interfered, crying, “Oh, Hal, you mustn’t,” as she caught hold of the whip and wrenched it from him. “The poor dears! Now you must promise you won’t be harsh with them for the rest of the trip, or I won’t go a step.”
“Precious lot you know about dogs,” her brother sneered; “and I wish you’d leave me alone. They’re lazy, I tell you, and you’ve got to whip them to get anything out of them. That’s their way. You ask any one. Ask one of those men.”
Mercedes looked at them imploringly, untold repugnance at sight of pain written in her pretty face.
“They’re weak as water, if you want to know,” came the reply from one of the men. “Plum tuckered out, that’s what’s the matter. They need a rest.”
“Rest be blanked,” said Hal, with his beardless lips; and Mercedes said, “Oh!” in pain and sorrow at the oath.
But she was a clannish creature, and rushed at once to the defence of her brother. “Never mind that man,” she said pointedly. “You’re driving our dogs, and you do what you think best with them.”
Again Hal’s whip fell upon the dogs. They threw themselves against the breast-bands, dug their feet into the packed snow, got down low to it, and put forth all their strength. The sled held as though it were an anchor. After two efforts, they stood still, panting. The whip was whistling savagely, when once more Mercedes interfered. She dropped on her knees before Buck, with tears in her eyes, and put her arms around his neck.
“You poor, poor dears,” she cried sympathetically, “why don’t you pull hard?-then you wouldn’t be whipped.” Buck did not like her, but he was feeling too miserable to resist her, taking it as part of the day’s miserable work.
One of the onlookers, who had been clenching his teeth to suppress hot speech, now spoke up:-
“It’s not that I care a whoop what becomes of you, but for the dogs’ sakes I just want to tell you, you can help them a mighty lot by breaking out that sled. The runners are froze fast. Throw your weight against the gee-pole, right and left, and break it out.”
A third time the attempt was made, but this time, following the advice, Hal broke out the runners which had been frozen to the snow. The overloaded and unwieldy sled forged ahead, Buck and his mates struggling frantically under the rain of blows. A hundred yards ahead the path turned and sloped steeply into the main street. It would have required an experienced man to keep the top-heavy sled upright, and Hal was not such a man. As they swung on the turn the sled went over, spilling half its load through the loose lashings. The dogs never stopped. The lightened sled bounded on its side behind them. They were angry because of the ill treatment they had received and the unjust load. Buck was raging. He broke into a run, the team following his lead. Hal cried “Whoa! whoa!” but they gave no heed. He tripped and was pulled off his feet. The capsized sled ground over him, and the dogs dashed on up the street, adding to the gayety of Skaguay as they scattered the remainder of the outfit along its chief thoroughfare.
Kind-hearted citizens caught the dogs and gathered up the scattered belongings. Also, they gave advice. Half the load and twice the dogs, if they ever expected to reach Dawson, was what was said. Hal and his sister and brother-in-law listened unwillingly, pitched tent, and overhauled the outfit. Canned goods were turned out that made men laugh, for canned goods on the Long Trail is a thing to dream about. “Blankets for a hotel” quoth one of the men who laughed and helped. “Half as many is too much; get rid of them. Throw away that tent, and all those dishes,-who’s going to wash them, anyway? Good Lord, do you think you’re travelling on a Pullman?”
And so it went, the inexorable elimination of the superfluous. Mercedes cried when her clothes-bags were dumped on the ground and article after article was thrown out. She cried in general, and she cried in particular over each discarded thing. She clasped hands about knees, rocking back and forth broken-heartedly. She averred she would not go an inch, not for a dozen Charleses. She appealed to everybody and to everything, finally wiping her eyes and proceeding to cast out even articles of apparel that were imperative necessaries. And in her zeal, when she had finished with her own, she attacked the belongings of her men and went through them like a tornado.
This accomplished, the outfit, though cut in half, was still a formidable bulk. Charles and Hal went out in the evening and bought six Outside dogs. These, added to the six of the original team, and Teek and Koona, the huskies obtained at the Rink Rapids on the record trip, brought the team up to fourteen. But the Outside dogs, though practically broken in since their landing, did not amount to much. Three were short-haired pointers, one was a Newfoundland, and the other two were mongrels of indeterminate breed. They did not seem to know anything, these newcomers. Buck and his comrades looked upon them with disgust, and though he speedily taught them their places and what not to do, he could not teach them what to do. They did not take kindly to trace and trail. With the exception of the two mongrels, they were bewildered and spirit-broken by the strange savage environment in which they found themselves and by the ill treatment they had received. The two mongrels were without spirit at all; bones were the only things breakable about them.
With the newcomers hopeless and forlorn, and the old team worn out by twenty-five hundred miles of continuous trail, the outlook was anything but bright. The two men, however, were quite cheerful. And they were proud, too. They were doing the thing in style, with fourteen dogs. They had seen other sleds depart over the Pass for Dawson, or come in from Dawson, but never had they seen a sled with so many as fourteen dogs. In the nature of Arctic travel there was a reason why fourteen dogs should not drag one sled, and that was that one sled could not carry the food for fourteen dogs. But Charles and Hal did not know this. They had worked the trip out with a pencil, so much to a dog, so many dogs, so many days, Q.E.D. Mercedes looked over their shoulders and nodded comprehensively, it was all so very simple.
Late next morning Buck led the long team up the street. There was nothing lively about it, no snap or go in him and his fellows. They were starting dead weary. Four times he had covered the distance between Salt Water and Dawson, and the knowledge that, jaded and tired, he was facing the same trail once more, made him bitter. His heart was not in the work, nor was the heart of any dog. The Outsides were timid and frightened, the Insides without confidence in their masters.
Buck felt vaguely that there was no depending upon these two men and the woman. They did not know how to do anything, and as the days went by it became apparent that they could not learn. They were slack in all things, without order or discipline. It took them half the night to pitch a slovenly camp, and half the morning to break that camp and get the sled loaded in fashion so slovenly that for the rest of the day they were occupied in stopping and rearranging the load. Some days they did not make ten miles. On other days they were unable to get started at all. And on no day did they succeed in making more than half the distance used by the men as a basis in their dog-food computation.
It was inevitable that they should go short on dog-food. But they hastened it by overfeeding, bringing the day nearer when underfeeding would commence. The Outside dogs, whose digestions had not been trained by chronic famine to make the most of little, had voracious appetites. And when, in addition to this, the worn-out huskies pulled weakly, Hal decided that the orthodox ration was too small. He doubled it. And to cap it all, when Mercedes, with tears in her pretty eyes and a quaver in her throat, could not cajole him into giving the dogs still more, she stole from the fish-sacks and fed them slyly. But it was not food that Buck and the huskies needed, but rest. And though they were making poor time, the heavy load they dragged sapped their strength severely.
Then came the underfeeding. Hal awoke one day to the fact that his dog-food was half gone and the distance only quarter covered; further, that for love or money no additional dog-food was to be obtained. So he cut down even the orthodox ration and tried to increase the day’s travel. His sister and brother-in-law seconded him; but they were frustrated by their heavy outfit and their own incompetence. It was a simple matter to give the dogs less food; but it was impossible to make the dogs travel faster, while their own inability to get under way earlier in the morning prevented them from travelling longer hours. Not only did they not know how to work dogs, but they did not know how to work themselves.
The first to go was Dub. Poor blundering thief that he was, always getting caught and punished, he had none the less been a faithful worker. His wrenched shoulder-blade, untreated and unrested, went from bad to worse, till finally Hal shot him with the big Colt’s revolver. It is a saying of the country that an Outside dog starves to death on the ration of the husky, so the six Outside dogs under Buck could do no less than die on half the ration of the husky. The Newfoundland went first, followed by the three short-haired pointers, the two mongrels hanging more grittily on to life, but going in the end.
By this time all the amenities and gentlenesses of the Southland had fallen away from the three people. Shorn of its glamour and romance, Arctic travel became to them a reality too harsh for their manhood and womanhood. Mercedes ceased weeping over the dogs, being too occupied with weeping over herself and with quarrelling with her husband and brother. To quarrel was the one thing they were never too weary to do. Their irritability arose out of their misery, increased with it, doubled upon it, outdistanced it. The wonderful patience of the trail which comes to men who toil hard and suffer sore, and remain sweet of speech and kindly, did not come to these two men and the woman. They had no inkling of such a patience. They were stiff and in pain; their muscles ached, their bones ached, their very hearts ached; and because of this they became sharp of speech, and hard words were first on their lips in the morning and last at night.
Charles and Hal wrangled whenever Mercedes gave them a chance. It was the cherished belief of each that he did more than his share of the work, and neither forbore to speak this belief at every opportunity. Sometimes Mercedes sided with her husband, sometimes with her brother. The result was a beautiful and unending family quarrel. Starting from a dispute as to which should chop a few sticks for the fire (a dispute which concerned only Charles and Hal), presently would be lugged in the rest of the family, fathers, mothers, uncles, cousins, people thousands of miles away, and some of them dead. That Hal’s views on art, or the sort of society plays his mother’s brother wrote, should have anything to do with the chopping of a few sticks of firewood, passes comprehension; nevertheless the quarrel was as likely to tend in that direction as in the direction of Charles’s political prejudices. And that Charles’s sister’s tale-bearing tongue should be relevant to the building of a Yukon fire, was apparent only to Mercedes, who disburdened herself of copious opinions upon that topic, and incidentally upon a few other traits unpleasantly peculiar to her husband’s family. In the meantime the fire remained unbuilt, the camp half pitched, and the dogs unfed.
Mercedes nursed a special grievance-the grievance of sex. She was pretty and soft, and had been chivalrously treated all her days. But the present treatment by her husband and brother was everything save chivalrous. It was her custom to be helpless. They complained. Upon which impeachment of what to her was her most essential sex-prerogative, she made their lives unendurable. She no longer considered the dogs, and because she was sore and tired, she persisted in riding on the sled. She was pretty and soft, but she weighed one hundred and twenty pounds-a lusty last straw to the load dragged by the weak and starving animals. She rode for days, till they fell in the traces and the sled stood still. Charles and Hal begged her to get off and walk, pleaded with her, entreated, the while she wept and importuned Heaven with a recital of their brutality.
On one occasion they took her off the sled by main strength. They never did it again. She let her legs go limp like a spoiled child, and sat down on the trail. They went on their way, but she did not move. After they had travelled three miles they unloaded the sled, came back for her, and by main strength put her on the sled again.
In the excess of their own misery they were callous to the suffering of their animals. Hal’s theory, which he practised on others, was that one must get hardened. He had started out preaching it to his sister and brother-in-law. Failing there, he hammered it into the dogs with a club. At the Five Fingers the dog-food gave out, and a toothless old squaw offered to trade them a few pounds of frozen horse-hide for the Colt’s revolver that kept the big hunting-knife company at Hal’s hip. A poor substitute for food was this hide, just as it had been stripped from the starved horses of the cattlemen six months back. In its frozen state it was more like strips of galvanized iron, and when a dog wrestled it into his stomach it thawed into thin and innutritious leathery strings and into a mass of short hair, irritating and indigestible.
And through it all Buck staggered along at the head of the team as in a nightmare. He pulled when he could; when he could no longer pull, he fell down and remained down till blows from whip or club drove him to his feet again. All the stiffness and gloss had gone out of his beautiful furry coat. The hair hung down, limp and draggled, or matted with dried blood where Hal’s club had bruised him. His muscles had wasted away to knotty strings, and the flesh pads had disappeared, so that each rib and every bone in his frame were outlined cleanly through the loose hide that was wrinkled in folds of emptiness. It was heartbreaking, only Buck’s heart was unbreakable. The man in the red sweater had proved that.
As it was with Buck, so was it with his mates. They were perambulating skeletons. There were seven all together, including him. In their very great misery they had become insensible to the bite of the lash or the bruise of the club. The pain of the beating was dull and distant, just as the things their eyes saw and their ears heard seemed dull and distant. They were not half living, or quarter living. They were simply so many bags of bones in which sparks of life fluttered faintly. When a halt was made, they dropped down in the traces like dead dogs, and the spark dimmed and paled and seemed to go out. And when the club or whip fell upon them, the spark fluttered feebly up, and they tottered to their feet and staggered on.
There came a day when Billee, the good-natured, fell and could not rise. Hal had traded off his revolver, so he took the axe and knocked Billee on the head as he lay in the traces, then cut the carcass out of the harness and dragged it to one side. Buck saw, and his mates saw, and they knew that this thing was very close to them. On the next day Koona went, and but five of them remained: Joe, too far gone to be malignant; Pike, crippled and limping, only half conscious and not conscious enough longer to malinger; Sol-leks, the one-eyed, still faithful to the toil of trace and trail, and mournful in that he had so little strength with which to pull; Teek, who had not travelled so far that winter and who was now beaten more than the others because he was fresher; and Buck, still at the head of the team, but no longer enforcing discipline or striving to enforce it, blind with weakness half the time and keeping the trail by the loom of it and by the dim feel of his feet.
It was beautiful spring weather, but neither dogs nor humans were aware of it. Each day the sun rose earlier and set later. It was dawn by three in the morning, and twilight lingered till nine at night. The whole long day was a blaze of sunshine. The ghostly winter silence had given way to the great spring murmur of awakening life. This murmur arose from all the land, fraught with the joy of living. It came from the things that lived and moved again, things which had been as dead and which had not moved during the long months of frost. The sap was rising in the pines. The willows and aspens were bursting out in young buds. Shrubs and vines were putting on fresh garbs of green. Crickets sang in the nights, and in the days all manner of creeping, crawling things rustled forth into the sun. Partridges and woodpeckers were booming and knocking in the forest. Squirrels were chattering, birds singing, and overhead honked the wild-fowl driving up from the south in cunning wedges that split the air.
From every hill slope came the trickle of running water, the music of unseen fountains. All things were thawing, bending, snapping. The Yukon was straining to break loose the ice that bound it down. It ate away from beneath; the sun ate from above. Air-holes formed, fissures sprang and spread apart, while thin sections of ice fell through bodily into the river. And amid all this bursting, rending, throbbing of awakening life, under the blazing sun and through the soft-sighing breezes, like wayfarers to death, staggered the two men, the woman, and the huskies.
With the dogs falling, Mercedes weeping and riding, Hal swearing innocuously, and Charles’s eyes wistfully watering, they staggered into John Thornton’s camp at the mouth of White River. When they halted, the dogs dropped down as though they had all been struck dead. Mercedes dried her eyes and looked at John Thornton. Charles sat down on a log to rest. He sat down very slowly and painstakingly what of his great stiffness. Hal did the talking. John Thornton was whittling the last touches on an axe-handle he had made from a stick of birch. He whittled and listened, gave monosyllabic replies, and, when it was asked, terse advice. He knew the breed, and he gave his advice in the certainty that it would not be followed.
“They told us up above that the bottom was dropping out of the trail and that the best thing for us to do was to lay over,” Hal said in response to Thornton’s warning to take no more chances on the rotten ice. “They told us we couldn’t make White River, and here we are.” This last with a sneering ring of triumph in it.
“And they told you true,” John Thornton answered. “The bottom’s likely to drop out at any moment. Only fools, with the blind luck of fools, could have made it. I tell you straight, I wouldn’t risk my carcass on that ice for all the gold in Alaska.”
“That’s because you’re not a fool, I suppose,” said Hal. “All the same, we’ll go on to Dawson.” He uncoiled his whip. “Get up there, Buck! Hi! Get up there! Mush on!”
Thornton went on whittling. It was idle, he knew, to get between a fool and his folly; while two or three fools more or less would not alter the scheme of things.
But the team did not get up at the command. It had long since passed into the stage where blows were required to rouse it. The whip flashed out, here and there, on its merciless errands. John Thornton compressed his lips. Sol-leks was the first to crawl to his feet. Teek followed. Joe came next, yelping with pain. Pike made painful efforts. Twice he fell over, when half up, and on the third attempt managed to rise. Buck made no effort. He lay quietly where he had fallen. The lash bit into him again and again, but he neither whined nor struggled. Several times Thornton started, as though to speak, but changed his mind. A moisture came into his eyes, and, as the whipping continued, he arose and walked irresolutely up and down.
This was the first time Buck had failed, in itself a sufficient reason to drive Hal into a rage. He exchanged the whip for the customary club. Buck refused to move under the rain of heavier blows which now fell upon him. Like his mates, he was barely able to get up, but, unlike them, he had made up his mind not to get up. He had a vague feeling of impending doom. This had been strong upon him when he pulled in to the bank, and it had not departed from him. What of the thin and rotten ice he had felt under his feet all day, it seemed that he sensed disaster close at hand, out there ahead on the ice where his master was trying to drive him. He refused to stir. So greatly had he suffered, and so far gone was he, that the blows did not hurt much. And as they continued to fall upon him, the spark of life within flickered and went down. It was nearly out. He felt strangely numb. As though from a great distance, he was aware that he was being beaten. The last sensations of pain left him. He no longer felt anything, though very faintly he could hear the impact of the club upon his body. But it was no longer his body, it seemed so far away.
And then, suddenly, without warning, uttering a cry that was inarticulate and more like the cry of an animal, John Thornton sprang upon the man who wielded the club. Hal was hurled backward, as though struck by a falling tree. Mercedes screamed. Charles looked on wistfully, wiped his watery eyes, but did not get up because of his stiffness.
John Thornton stood over Buck, struggling to control himself, too convulsed with rage to speak.
“If you strike that dog again, I’ll kill you,” he at last managed to say in a choking voice.
“It’s my dog,” Hal replied, wiping the blood from his mouth as he came back. “Get out of my way, or I’ll fix you. I’m going to Dawson.”
Thornton stood between him and Buck, and evinced no intention of getting out of the way. Hal drew his long hunting-knife. Mercedes screamed, cried, laughed, and manifested the chaotic abandonment of hysteria. Thornton rapped Hal’s knuckles with the axe-handle, knocking the knife to the ground. He rapped his knuckles again as he tried to pick it up. Then he stooped, picked it up himself, and with two strokes cut Buck’s traces.
Hal had no fight left in him. Besides, his hands were full with his sister, or his arms, rather; while Buck was too near dead to be of further use in hauling the sled. A few minutes later they pulled out from the bank and down the river. Buck heard them go and raised his head to see, Pike was leading, Sol-leks was at the wheel, and between were Joe and Teek. They were limping and staggering. Mercedes was riding the loaded sled. Hal guided at the gee-pole, and Charles stumbled along in the rear.
As Buck watched them, Thornton knelt beside him and with rough, kindly hands searched for broken bones. By the time his search had disclosed nothing more than many bruises and a state of terrible starvation, the sled was a quarter of a mile away. Dog and man watched it crawling along over the ice. Suddenly, they saw its back end drop down, as into a rut, and the gee-pole, with Hal clinging to it, jerk into the air. Mercedes’s scream came to their ears. They saw Charles turn and make one step to run back, and then a whole section of ice give way and dogs and humans disappear. A yawning hole was all that was to be seen. The bottom had dropped out of the trail.
John Thornton and Buck looked at each other.
“You poor devil,” said John Thornton, and Buck licked his hand.