Chương V. Nỗi nhọc nhằn của dây cương và đường mòn

Ba mươi ngày sau khi rời Dawson, Đội thư tín Nước Mặn1 - với Buck cùng đồng đội dẫn đầu - đã tiến vào Skaguay. Cả bầy hiện ra trong một bộ dạng thê thảm đến nhói lòng: kiệt quệ, rệu rã, chỉ còn là những cái bóng của chính mình. Buck, vốn nặng một trăm bốn mươi pound, giờ chỉ còn một trăm mười lăm. Những đồng đội của nó - dù nhẹ cân hơn - lại sụt mất nhiều trọng lượng hơn nó. Pike, kẻ giảo hoạt suốt một đời lừa dối với trò vờ đau chân, giờ đây khập khiễng thật sự. Sol-leks cũng đang tập tễnh bước đi, còn Dub thì quằn quại với cái xương bả vai bị trật khớp.

Tất cả bọn chúng đều đau chân khủng khiếp. Chẳng còn chút sức bật nào trong cơ thể, chẳng còn chút đàn hồi nào trong từng bước chạy. Bàn chân chúng nện thình thịch xuống mặt đường, từng cú đập giội ngược lên khung xương và nhân đôi nỗi mệt nhọc của một ngày hành xác. Bọn chúng chẳng mắc bệnh gì cả - ngoại trừ việc chúng đã mệt lả đến tận xương tủy. Và đây không phải là cái mệt của một cố gắng ngắn ngủi, dữ dội - thứ mà chỉ vài giờ nghỉ ngơi là có thể hồi phục. Đây là thứ mệt mỏi chầm chậm bào mòn, rút cạn sinh lực qua hàng tháng trời lao lực triền miên. Chẳng còn gì để tái tạo, chẳng còn chút sức dự trữ nào để kêu gọi. Tất cả đã bị vắt kiệt đến giọt cuối cùng. Từng thớ cơ, từng sợi gân, từng tế bào - tất cả đều mệt lả, rũ rượi. Và điều đó có lý do của nó. Trong vòng chưa đầy năm tháng, bọn chúng đã quất qua hai ngàn năm trăm dặm đường, và trong một ngàn tám trăm dặm cuối cùng, chúng chỉ được nghỉ vỏn vẹn năm ngày. Khi đặt chân đến Skaguay, bầy chó rõ ràng đã ở bờ vực kiệt quệ. Chúng hầu như không thể giữ nổi dây cương cho thẳng, và trên những con dốc đổ xuống, cả bầy chỉ còn biết cố mà tránh đường cho chiếc xe trượt tuyết lao tới.

“Đi nào, những cái chân đau nghiệp chướng,” người đánh xe cất lời động viên khi bầy chó lảo đảo lê bước dọc con phố chính của Skaguay. “Đây là chặng cuối rồi. Xong việc tụi mày sẽ được nghỉ một giấc thật dài. Hả? Chắc chắn rồi. Một giấc nghỉ dài tuyệt vời.”

Những người đánh xe tự tin mong đợi một kỳ nghỉ dài. Chính họ cũng đã cày qua mười hai trăm dặm chỉ với hai ngày nghỉ, và theo lẽ thường tình cùng sự công bằng, họ xứng đáng có một khoảng thời gian thảnh thơi. Nhưng Klondike2 đã hút quá nhiều người đổ xô đến, và cũng có quá nhiều người yêu, người vợ, người thân không đến được nơi ấy, khiến cho núi thư từ ứ đọng đang phình ra như một ngọn Alps3 đồ sộ. Chưa kể, còn có những mệnh lệnh từ chính quyền nữa. Những tốp chó mới từ Vịnh Hudson4 sẽ thế chỗ cho những con chó đã hết giá trị trên đường mòn. Lũ chó vô dụng thì bị loại bỏ, và vì chó chẳng đáng giá là bao so với đô la, người ta đem bán chúng đi.

Ba ngày trôi qua, Buck và đồng đội mới thấm thía được mình đã thực sự mệt mỏi và yếu ớt đến nhường nào. Rồi vào buổi sáng ngày thứ tư, hai gã đàn ông từ Nước Mỹ tìm đến và mua rẻ cả bầy lẫn toàn bộ dây cương. Hai gã gọi nhau là “Hal” và “Charles”. Charles là một gã trung niên, nước da hơi nhợt nhạt, với đôi mắt yếu ớt lúc nào cũng như ngấn nước. Bộ ria mép của gã cong vút lên một cách dữ dội và mạnh mẽ, như một lời dối trá trắng trợn nhằm che đậy đôi môi trễ xuống nhu nhược bên dưới. Hal là một thanh niên mười chín đôi mươi, thắt lưng đeo khẩu súng lục Colt5 to bản cùng con dao đi săn trên chiếc nịt nạm đầy đạn. Chính chiếc thắt lưng ấy là thứ nổi bật nhất ở gã - nó rao bán sự non nớt của gã một cách rành rành, một sự non nớt lộ liễu đến mức không thể chối cãi. Cả hai gã đàn ông đều toát lên vẻ lạc lõng không sao che giấu nổi, và tại sao những kẻ như bọn họ lại mon men lên miền Bắc hoang dã này, thì đó vẫn là một phần trong bí mật của những điều vượt quá tầm hiểu biết của con người.

Buck nghe tiếng mặc cả và chứng kiến tiền được trao tay giữa gã đàn ông và viên nhân viên Chính phủ. Nó hiểu rằng người lai Scotland cùng những người đánh xe chở thư đang bước ra khỏi cuộc đời nó, nối gót Perrault, François và tất cả những người đã ra đi trước đó. Khi bị lùa cùng đồng đội đến khu cắm trại của những ông chủ mới, Buck chỉ thấy một cảnh tượng cẩu thả và lôi thôi: lều dựng dở dang, bát đĩa chưa rửa, mọi thứ ngổn ngang bề bộn. Và ở đó, nó còn thấy một người đàn bà. Hai gã đàn ông gọi thị là “Mercedes”. Thị là vợ của Charles, là chị gái của Hal - một gia đình êm ấm.

Buck thấp thỏm dõi theo bọn họ khi họ bắt tay vào dỡ lều và chất đồ lên xe trượt tuyết. Bọn họ tỏ ra rất ra sức, nhưng chẳng có lấy một chút phương pháp thực tế nào. Chiếc lều được cuộn thành một mớ cồng kềnh to gấp ba lần kích thước đáng lẽ phải có. Những chiếc đĩa thiếc bị cất đi khi vẫn còn nguyên dầu mỡ. Mercedes thì liên tục lăng xăng cản đường những gã đàn ông của thị, miệng không ngớt lải nhải những lời quở trách và khuyên răn. Khi bọn họ đặt một bao quần áo lên phía trước xe, thị lại bảo nên để nó ở phía sau; và khi họ đã đặt nó ở phía sau cùng mấy bọc đồ khác chồng lên trên, thị lại sực nhớ ra những món đồ bỏ quên chẳng thể nhét vào đâu ngoài chính cái bao ấy - thế là họ lại phải dỡ hết đồ xuống.

Ba người đàn ông từ một căn lều gần đó bước ra theo dõi, vừa cười nhăn nhở vừa nháy mắt với nhau.

“Các anh có một đống đồ khá là hoành tráng đấy,” một người lên tiếng; “và tôi không có quyền can thiệp vào chuyện của các anh, nhưng nếu là các anh thì tôi sẽ không mang theo cái lều đó đâu.”

“Không thể tưởng tượng nổi!” Mercedes kêu lên, hai tay vung lên trong vẻ hoảng hốt đầy điệu bộ. “Làm sao tôi có thể sống nổi trên đời này mà không có lều cơ chứ?”

“Mùa xuân đến rồi, các anh sẽ chẳng gặp thời tiết lạnh giá nào nữa đâu,” người đàn ông đáp lời.

Thị lắc đầu kiên quyết, còn Charles và Hal thì tiếp tục chất những món đồ lặt vặt cuối cùng lên đỉnh của cái khối đồ sộ như quả núi.

“Nghĩ nó sẽ chạy được chứ?” một người khác hỏi.

“Tại sao lại không?” Charles hỏi vặn một cách cộc cằn.

“Ồ, được thôi, không sao cả,” người đàn ông này vội vã xuống giọng ngoan ngoãn. “Tôi chỉ thắc mắc vậy thôi. Trông nó có vẻ hơi nặng phần ngọn đấy.”

Charles quay lưng đi và cố hết sức xiết chặt những sợi dây buộc - mà thực chất thì chẳng chặt được chút nào.

“Và tất nhiên là bầy chó có thể lê bước suốt cả ngày với cái đống hành lý đó đằng sau,” người đàn ông thứ hai buông một câu khẳng định mỉa mai.

“Chắc chắn rồi,” Hal đáp, giọng lạnh tanh đầy trịch thượng. Một tay gã nắm chặt cọc lái, tay kia giương roi. “Đi nào!” gã thét. “Đi tới đi nào!”

Cả bầy chó chồm lên, căng mình vào dây đai ngực, ráng sức trong vài khoảnh khắc, rồi buông thõng. Chúng không thể nào lay chuyển nổi chiếc xe trượt tuyết.

“Lũ súc vật lười biếng, tao sẽ cho tụi mày biết tay,” gã gầm lên và vung roi định quất xuống.

Nhưng Mercedes đã can thiệp. “Ôi, Hal, em không được làm thế,” thị vừa khóc vừa túm lấy chiếc roi, giằng nó khỏi tay gã. “Những con vật tội nghiệp! Giờ em phải hứa với chị là em sẽ không đối xử thô bạo với bọn chúng trong suốt phần còn lại của chuyến đi, nếu không chị sẽ không bước thêm một bước nào nữa.”

“Chị thì biết cái quái gì về chó cơ chứ,” em trai thị chế nhạo; “và em mong chị để cho em yên. Chúng nó lười biếng, em nói cho chị biết, và phải quất roi thì mới bắt chúng làm việc được. Đó là cách của bọn chúng. Chị cứ hỏi bất kỳ ai mà xem. Hỏi mấy người đàn ông đằng kia kìa.”

Mercedes nhìn họ với ánh mắt van lơn, nỗi ghê tởm tột cùng khi phải chứng kiến cảnh đau đớn hiện rõ trên khuôn mặt xinh đẹp của thị.

“Chúng yếu như bún rồi, nếu cô muốn biết,” một người lên tiếng đáp. “Kiệt sức hoàn toàn, đó mới là vấn đề. Chúng cần được nghỉ ngơi.”

“Nghỉ ngơi cái quái gì,” Hal buông lời, đôi môi nhẵn nhụi chưa một sợi râu của gã cong lên đầy khinh miệt; và Mercedes “Ôi!” lên một tiếng, vừa đau đớn vừa buồn bã trước lời chửi thề ấy.

Nhưng rồi bản năng bênh vực người nhà của thị lập tức trỗi dậy. “Đừng bận tâm đến cái ông đó,” thị nói, giọng sắc lẹm. “Em đang điều khiển chó của chúng ta, và em cứ làm những gì em cho là tốt nhất với chúng.”

Một lần nữa, roi của Hal lại vun vút giáng xuống bầy chó. Bọn chúng lao mình vào dây đai ngực, quặp móng xuống nền tuyết nén chặt, hạ thấp thân mình, rồi dồn hết sức lực còn sót lại. Chiếc xe trượt tuyết đứng trơ như bị neo chặt xuống đất. Sau hai lần cố gắng bất thành, bầy chó đứng ỳ ra, thở hổn hển. Chiếc roi lại rít lên man rợ, thì một lần nữa Mercedes lại can thiệp. Thị quỳ sụp xuống trước mặt Buck, mắt long lanh ngấn lệ, rồi vòng tay ôm lấy cổ nó.

“Cưng tội nghiệp, tội nghiệp quá,” thị nức nở trong niềm thương cảm, “sao cưng không kéo mạnh lên? - thì cưng sẽ không bị đánh nữa.” Buck chẳng ưa gì thị, nhưng lúc này nó đang quá khốn khổ để kháng cự, và nó chấp nhận điều đó như một phần của cái công việc khốn khổ trong ngày.

Một trong những người đứng xem, nãy giờ vẫn nghiến răng để kìm những lời nóng nảy, cuối cùng cũng lên tiếng:-

“Không phải là tôi quan tâm cái quái gì đến việc các cậu ra sao đâu, nhưng vì bầy chó thì tôi chỉ muốn nói điều này: các cậu có thể giúp chúng rất nhiều bằng cách bẻ gãy chiếc xe ra. Hai thanh trượt đã bị đóng băng cứng ngắc rồi. Hãy dồn hết trọng lượng của các cậu vào cọc lái, lắc qua phải rồi qua trái, và bẩy nó ra.”

Lần thứ ba, một nỗ lực mới được thực hiện. Nhưng lần này, nghe theo lời khuyên, Hal ra sức bẩy hai thanh trượt vốn đã bị đông cứng dính chặt vào tuyết. Chiếc xe trượt quá tải và cồng kềnh chồm tới phía trước, còn Buck cùng đồng đội vùng vẫy điên cuồng dưới cơn mưa roi trút xuống. Một trăm thước phía trước, con đường mòn ngoặt gấp và dốc đứng xuống phố chính. Giữ cho chiếc xe nặng ngọn khỏi lật ở khúc cua ấy là việc cần đến một bàn tay dày dạn kinh nghiệm - và Hal thì không phải là người như thế. Khi cả đoàn vòng qua khúc cua, chiếc xe trượt tuyết lật nhào, hất tung một nửa tải trọng qua những sợi dây buộc lỏng lẻo. Bầy chó vẫn không chịu dừng lại. Chiếc xe nay đã nhẹ hẳn đi, nảy chồm chồm và nghiêng ngả phía sau lũ chó. Bọn chúng phát điên lên vì sự đối xử tồi tệ và cái khối hàng hóa bất công kia. Buck nổi cơn thịnh nộ. Nó lao đi như một mũi tên, và cả đàn chạy theo sự dẫn dắt của nó. Hal thét lên “Whoa! whoa!” nhưng chẳng con nào thèm đoái hoài. Gã vấp ngã và bị kéo lê trên mặt đất. Chiếc xe lật nhào nghiến thẳng qua người gã, còn bầy chó thì phóng như bay lên phố, trút thêm náo nhiệt cho Skaguay khi chúng rải vãi nốt phần còn lại của đống hành lý dọc theo con phố sầm uất nhất thị trấn.

Những công dân tốt bụng đã giúp tóm bầy chó lại và thu gom đống đồ đạc vung vãi. Họ cũng không quên kèm theo lời khuyên. Giảm một nửa đồ đạc và nhân đôi số chó - nếu bọn họ còn mong đến được Dawson - đó là những gì người ta nói. Hal cùng chị gái và anh rể miễn cưỡng nghe theo. Họ dựng lều lên và bắt đầu kiểm kê lại hành lý. Đồ hộp được lôi ra khiến tất cả những người chứng kiến phải phá lên cười, bởi đồ hộp trên Chặng đường Dài6 là một thứ xa xỉ chỉ tồn tại trong giấc mơ. “Chăn đệm như cho một khách sạn,” một người đàn ông vừa cười vừa buông lời châm biếm khi phụ giúp. “Một nửa chỗ này cũng là quá nhiều rồi; vứt bớt đi. Vứt luôn cái lều ấy đi, và cả đống bát đĩa kia nữa - dù sao thì ai sẽ là người rửa chúng chứ? Lạy Chúa, các người tưởng mình đang đi du lịch trên toa Pullman7 à?”

Và thế là cuộc thanh lọc tàn nhẫn những thứ dư thừa bắt đầu. Mercedes khóc khi những túi quần áo của thị bị quăng xuống đất và từng món, từng món một bị vứt bỏ không thương tiếc. Thị khóc vì tất thảy mọi thứ, và thị khóc cho từng món đồ bị ruồng bỏ. Thị ôm gối, lắc lư người tới lui trong nỗi đau khổ tột cùng. Thị thề thốt rằng thị sẽ không nhúc nhích dù chỉ một tấc, cho dù có cả tá Charles đi chăng nữa. Thị van nài tất cả mọi người và mọi thứ trên đời, rồi cuối cùng cũng lau khô nước mắt và bắt đầu ném đi cả những món quần áo vốn là nhu yếu phẩm thiết thân. Và trong cơn hăng say tột độ, khi đã xong việc với đồ đạc của chính mình, thị chuyển mục tiêu sang đồ đạc của những gã đàn ông của mình và xới tung chúng lên như một cơn lốc xoáy.

Sau khi hoàn tất, khối hành trang dù đã bị cắt giảm một nửa vẫn còn là một đống đồ sộ đáng gờm. Charles và Hal đi ra ngoài vào buổi tối và mua về sáu con chó Bên Ngoài8. Những con chó này, cộng với sáu con thuộc đội ban đầu, cùng Teek và Koona - hai con husky kiếm được ở Rink Rapids trong chuyến đi phá kỷ lục trước đó - đã nâng tổng số chó lên mười bốn con. Nhưng lũ chó Bên Ngoài, dù đã bị bẻ gãy ý chí từ khi cập bến, chẳng làm nên trò trống gì. Ba con là giống chó săn lông ngắn, một con Newfoundland, và hai con chó lai không rõ dòng giống. Lũ lính mới này dường như chẳng biết gì hết. Buck và đồng đội nhìn chúng bằng ánh mắt khinh bỉ, và mặc dù nó nhanh chóng dạy cho lũ này biết vị trí của mình và những thứ không được phép làm, nó không thể dạy chúng những gì cần phải làm. Chúng không hề thích nghi được với dây cương và đường mòn. Ngoại trừ hai con chó lai, tất cả đều hoang mang và suy sụp tinh thần - bởi môi trường hoang dã xa lạ mà chúng bất ngờ bị ném vào, và bởi sự đối xử tàn tệ mà chúng phải hứng chịu. Hai con chó lai thì chẳng còn chút nhuệ khí nào sót lại; xương cốt là thứ duy nhất người ta có thể bẻ gãy ở chúng.

Với đám lính mới thảm hại và vô vọng ấy, cùng đội chó cũ đã rã rời sau hai ngàn năm trăm dặm đường mòn liên tục, viễn cảnh chẳng có lấy một tia sáng. Thế nhưng, hai gã đàn ông lại khá hồ hởi. Và bọn họ cũng đầy tự hào nữa. Bọn họ đang làm mọi thứ thật phong cách, hẳn hoi, với mười bốn con chó. Bọn họ đã thấy những chiếc xe trượt tuyết khác khởi hành qua Đèo9 hướng về Dawson, hoặc từ Dawson trở về, nhưng chưa bao giờ bọn họ thấy một cỗ xe nào có đến mười bốn con chó kéo. Trong bản chất của việc di chuyển ở Bắc Cực, có một lý do hiển nhiên khiến mười bốn con chó không nên kéo một chiếc xe - đó là vì một cỗ xe đơn độc không thể chở đủ lương thực cho mười bốn con chó. Nhưng Charles và Hal không biết điều này. Bọn họ đã tính toán chuyến đi bằng bút chì: ngần này cho một con chó, ngần này con chó, ngần này ngày - Quá Rõ Ràng. Mercedes nhìn qua vai họ và gật gù thấu hiểu. Mọi thứ thật quá đơn giản.

Sáng hôm sau, khi mặt trời đã lên cao, Buck dẫn đầu đoàn chó dài nối đuôi nhau tiến lên con phố chính. Chẳng còn chút sinh khí nào trong đội ngũ. Nơi Buck và đồng bọn không còn vẻ lanh lẹ, xông xáo của những ngày trước nữa. Cả bọn lê bước khởi hành trong cơn mệt mỏi thấu tận xương tủy. Đã bốn lần Buck vượt qua cung đường giữa Nước Mặn và Dawson, và giờ đây, khi nhận ra mình lại phải đối diện với con đường mòn ấy một lần nữa - dù thân xác đã rã rời, kiệt quệ - lòng nó trào lên một nỗi cay đắng khôn nguôi. Trái tim nó không còn đặt vào công việc nữa. Mà trái tim của bất kỳ con chó nào trong đội cũng vậy. Những con chó Bên Ngoài thì rụt rè, hoảng sợ. Còn lũ chó Bên Trong thì đã đánh mất hoàn toàn niềm tin vào đám chủ nhân của mình.

Buck lờ mờ cảm nhận được rằng chẳng thể nào trông cậy vào hai gã đàn ông và người đàn bà này. Bọn họ chẳng biết làm việc gì ra hồn. Và ngày này qua ngày khác, sự thật phũ phàng càng lộ rõ: bọn họ cũng chẳng thể học nổi điều gì. Mọi việc bọn họ làm đều nhuốm màu lười biếng, không trật tự, không kỷ luật. Bọn họ mất nửa đêm chỉ để dựng nên một cái trại lôi thôi, lếch thếch. Rồi lại mất thêm nửa buổi sáng để nhổ trại và chất đồ lên xe. Việc chất đồ thì cẩu thả đến nỗi suốt phần còn lại của ngày, bọn họ liên tục phải dừng xe để sắp xếp lại đống hành lý lung tung. Có những ngày bọn họ không đi nổi mười dặm. Lại có những ngày bọn họ thậm chí chẳng thể nào khởi hành nổi. Và tuyệt nhiên chưa từng có một ngày nào bọn họ đi được quá nửa quãng đường mà hai gã đàn ông đã lấy làm cơ sở để tính toán khẩu phần lương thực cho đàn chó.

Việc thiếu hụt thức ăn cho chó là điều không sao tránh khỏi. Nhưng bọn họ còn tự tay đẩy nhanh thảm họa đó. Bằng cách cho chó ăn no nê quá mức, bọn họ kéo cái ngày bắt đầu thiếu đói đến gần hơn bao giờ hết. Những con chó Bên Ngoài, với dạ dày chưa từng được tôi luyện qua những cơn đói khát triền miên để biết cách tận dụng tối đa từng chút thức ăn ít ỏi, mang trong mình một cơn thèm ăn gần như phàm phu. Thêm vào đó, khi lũ husky mệt mỏi kéo xe một cách yếu ớt, Hal lại quyết định rằng khẩu phần tiêu chuẩn là quá ít. Gã tăng gấp đôi khẩu phần ăn. Và tệ hại hơn cả, khi Mercedes không thể dỗ dành gã cho bầy chó ăn thêm, với nước mắt lăn dài trên đôi má xinh đẹp và giọng nói nghẹn ngào, thị đã lẻn trộm từ những bao cá khô và lén lút cho chúng ăn vụng. Nhưng thức ăn không phải là thứ Buck và lũ husky cần. Chúng cần được nghỉ ngơi. Và dù chúng di chuyển rất chậm, cái tải trọng nặng nề chúng phải kéo đã bào mòn sức lực của chúng một cách tàn nhẫn.

Rồi những ngày thiếu ăn thực sự ập đến. Một ngày nọ, Hal thức dậy và chợt nhận ra thức ăn cho chó đã vơi đi một nửa, trong khi quãng đường mới chỉ vượt qua được một phần tư. Và giờ đây, dù bằng tình cảm hay tiền bạc, cũng chẳng thể nào kiếm thêm được dù chỉ một chút thức ăn cho chó. Thế là gã cắt giảm ngay cả khẩu phần tiêu chuẩn, đồng thời cố tăng quãng đường di chuyển mỗi ngày lên. Chị gái và anh rể gã hùa theo kế hoạch ấy. Nhưng chính khối lượng hành lý nặng nề cùng sự bất tài cố hữu đã cản trở bọn họ. Cho bầy chó ăn ít đi thì dễ. Nhưng bắt chúng di chuyển nhanh hơn là điều bất khả thi. Còn sự bất lực của chính bọn họ trong việc khởi hành sớm hơn vào mỗi buổi sáng đã triệt tiêu mọi cơ hội đi được thêm giờ. Bọn họ không chỉ không biết cách điều khiển chó. Bọn họ còn không biết cách bắt chính mình phải làm việc.

Kẻ đầu tiên ra đi là Dub. Dù nó chỉ là một tên trộm vụng về đáng thương, luôn bị bắt quả tang và bị trừng phạt, nhưng nó vẫn là một kẻ lao động trung thành. Cái xương bả vai bị trật của nó, không được chữa trị, không được nghỉ ngơi, ngày càng trở nên tồi tệ. Cho đến một hôm, Hal rút khẩu súng lục Colt cỡ lớn ra và bắn chết nó. Ở vùng đất này có một câu nói: một con chó Bên Ngoài sẽ chết đói nếu chỉ được ăn bằng khẩu phần của một con husky. Vậy nên sáu con chó Bên Ngoài dưới sự dẫn dắt của Buck, khi chỉ được hưởng nửa khẩu phần của husky, thì chẳng còn con đường nào khác ngoài cái chết. Con chó Newfoundland là giống Bên Ngoài đầu tiên ngã xuống. Tiếp sau đó là ba con chó săn lông ngắn. Hai con chó lai bám víu vào sự sống gan lì hơn đôi chút, nhưng rồi cuối cùng cũng lần lượt ra đi.

Đến lúc này, mọi vẻ nhã nhặn và dịu dàng của miền Nam đã hoàn toàn lìa xa ba con người ấy. Bị lột trần khỏi lớp vỏ hào nhoáng và lãng mạn, chuyến phiêu lưu Bắc Cực giờ đây phơi bày một thực tại tàn nhẫn, vượt quá sức chịu đựng của những người đàn ông và người đàn bà như bọn họ. Mercedes thôi khóc vì lũ chó - thị giờ quá bận rộn khóc cho chính mình và gây gổ với chồng cùng em trai. Cãi vã là thứ duy nhất bọn họ chưa từng thấy mệt. Sự cáu bẳn của họ nảy mầm từ chính nỗi khốn khổ của bản thân, rồi lớn lên cùng nó, nhân lên gấp bội, và cuối cùng vượt xa cả nó. Cái lòng kiên nhẫn kỳ diệu của chốn đường mòn - thứ thuộc về những con người lao lực đến tận xương tủy và chịu đựng những cơn đau không kể xiết, vậy mà vẫn giữ được lời ăn tiếng nói dịu dàng và nhân hậu - chưa từng một lần ghé thăm hai gã đàn ông và người phụ nữ này. Họ không hề có lấy một mảy may ý niệm về sự kiên nhẫn ấy. Người họ cứng đơ và rã rời; cơ bắp đau nhức, xương cốt đau nhức, đến tận trái tim cũng đau nhức; và chính vì thế, lời lẽ của họ trở nên chua chát, những câu nói hằn học luôn thường trực trên đầu môi từ tờ mờ sáng cho đến tận khuya.

Charles và Hal cãi nhau bất cứ khi nào Mercedes tạo cho họ cơ hội. Mỗi người đều ôm khư khư một niềm tin thiêng liêng rằng mình làm nhiều hơn cái phần đáng lẽ phải làm, và chẳng ai chịu nhịn mà không thốt ra niềm tin ấy vào bất kỳ dịp nào có thể. Có khi Mercedes đứng về phía chồng, có khi thị lại bênh vực em trai. Kết quả là một màn cãi vã gia đình tuyệt hảo và bất tận. Khởi đầu từ chuyện tranh luận xem ai sẽ là kẻ đi chặt mấy cành củi để nhóm lửa - một cuộc tranh luận vốn chỉ liên quan đến Charles và Hal - thì ngay sau đó, từng thành viên còn lại trong gia đình sẽ lần lượt bị kéo vào: cha, mẹ, chú bác, anh em họ, những kẻ cách xa hàng ngàn dặm, và thậm chí một vài người trong số họ đã khuất núi. Rằng quan điểm của Hal về nghệ thuật, hay cái thể loại kịch xã hội mà ông cậu bên ngoại của gã từng viết, thì có liên quan quái gì đến chuyện chặt mấy que củi, quả là điều vượt ngoài tầm hiểu biết; vậy mà cuộc cãi vã vẫn có thể rẽ ngoặt sang hướng ấy chẳng khác gì việc nó chĩa mũi dùi vào những định kiến chính trị của Charles. Và cái lưỡi lắm chuyện của bà chị gái Charles thì dính dáng gì đến việc nhóm một đống lửa nơi đất Yukon, chỉ mình Mercedes là thấu tỏ - kẻ đã tuôn ra hằng hà sa số những ý kiến về đề tài ấy, và nhân tiện điểm thêm đôi ba nét về mấy đặc điểm khó ưa khác thuộc riêng về dòng họ nhà chồng. Trong lúc đó, ngọn lửa vẫn chưa được nhóm, lều trại mới dựng được một nửa, và lũ chó thì vẫn chưa được đút cho miếng nào.

Mercedes nuôi dưỡng một mối uất hận rất riêng - mối uất hận của phái yếu. Thị xinh đẹp và mềm mại, và suốt những tháng ngày trước đó đã quen được đối xử theo lối hiệp sĩ. Nhưng cách chồng và em trai đối xử với thị lúc này thì chẳng hề có chút hiệp sĩ nào. Thói quen của thị là tỏ ra yếu đuối. Bọn họ càm ràm than phiền. Bị chạm đến điều mà đối với thị là đặc quyền thiêng liêng nhất của giới tính mình, thị liền biến cuộc sống của bọn họ thành không thể nào chịu đựng nổi. Thị không còn đoái hoài đến lũ chó nữa, và vì đang đau đớn mỏi mệt, thị kiên quyết ngồi lên xe trượt tuyết. Thị xinh đẹp và mềm mại, nhưng thị nặng tới một trăm hai mươi pound - một cọng rơm to tướng đầy sức sống đè thêm lên cái tải trọng mà những con vật hấp hối và đói lả đang phải kéo lê. Thị ngồi lì trên xe suốt nhiều ngày, cho đến khi lũ chó gục xuống trên dây cương và chiếc xe khựng hẳn. Charles và Hal van nài thị xuống mà đi bộ, cầu xin thị, khẩn khoản thị, trong lúc thị than khóc réo tên ông Trời mà kể lể về sự tàn ác của bọn họ.

Có một lần, bọn họ đã dùng sức mạnh để kéo thị ra khỏi xe. Nhưng họ không bao giờ làm thế thêm lần nào nữa. Thị buông thõng hai chân như một đứa trẻ được nuông chiều, rồi ngồi phịch xuống ngay giữa đường mòn. Bọn họ bỏ đi tiếp, nhưng thị không hề nhúc nhích. Đi được ba dặm, họ buộc phải dỡ hàng khỏi xe, quay đầu trở lại đón thị, và lại một lần nữa phải dùng sức mạnh mà nhấc thị lên xe.

Trong nỗi thống khổ tột cùng của chính mình, bọn họ hoá ra nhẫn tâm trước nỗi đau của những con vật. Lý thuyết của Hal - thứ gã đem áp dụng lên người khác - là người ta phải biết chai sạn. Gã đã bắt đầu rao giảng điều ấy cho chị gái và anh rể. Thất bại ở chỗ đó, gã bèn nện thẳng nó vào lũ chó bằng một cây gậy. Nơi Five Fingers10, lương thực cho chó đã hết sạch, và một mụ da đỏ già móm mém ngỏ ý muốn đổi vài pound da ngựa đông lạnh lấy khẩu súng lục Colt luôn sánh đôi cùng con dao săn to bự đeo bên hông Hal. Tấm da ấy quả là một thứ thay thế thảm hại cho thức ăn, đúng như cái cách nó bị lột ra từ những con ngựa đã chết đói của mấy kẻ chăn gia súc hồi sáu tháng trước. Trong trạng thái đóng băng, nó trông như những dải sắt mạ kẽm, và khi lọt vào dạ dày một con chó đang quằn quại, nó tan rã thành những sợi dai nhách, mỏng dính, chẳng chút dinh dưỡng, cùng một mớ lông ngắn gây kích ứng và khó lòng tiêu hoá.

Và trải qua tất thảy những điều ấy, Buck vẫn lảo đảo lê bước ở vị trí dẫn đầu, như thể trong một cơn ác mộng triền miên. Nó kéo khi còn có thể; lúc không thể kéo nổi nữa, nó đổ ập xuống và nằm bẹp ở đó cho đến khi roi quất hay gậy đập buộc nó phải lồm cồm đứng dậy. Toàn bộ vẻ cứng cáp và sự bóng mượt đã biến mất khỏi bộ lông tuyệt đẹp của nó. Lông rủ xuống, rũ rượi và lôi thôi, hoặc bết cứng lại bởi máu khô nơi cây gậy của Hal đã giáng xuống làm nó bầm dập. Cơ bắp nó teo tóp thành những dải gân xơ cứng, và mọi lớp mỡ đã tan biến, để lộ ra từng chiếc xương sườn, từng đốt xương trên khung sườn qua lớp da nhăn nheo, chùng nhão vì rỗng tuếch. Một cảnh tượng nhói lòng, nhưng trái tim Buck thì chưa thể bị bẻ gãy. Gã đàn ông mặc áo len đỏ đã chứng minh điều đó.

Tình trạng của Buck ra sao, thì lũ đồng đội của nó cũng y hệt như vậy. Chúng chỉ là những bộ xương biết đi. Cả thảy bảy con, tính cả nó. Trong cơn khốn cùng tột độ, chúng đã trở nên tê dại trước những vết cắn của roi da hay những vết bầm tím từ gậy gộc. Nỗi đau từ những trận đòn trở nên xa xăm và đờ đẫn, cũng giống như những gì mắt chúng còn thấy và tai chúng còn nghe cũng trở nên xa xăm và đờ đẫn. Chúng không còn sống được một nửa, hay thậm chí một phần tư nữa. Chúng đơn giản chỉ là những túi xương đựng những đốm lửa sống leo lét yếu ớt. Khi có lệnh dừng, chúng đổ ập xuống dây cương như những con chó đã chết, và đốm lửa ấy mờ dần, nhợt nhạt đi, tưởng như sắp tắt hẳn. Rồi khi gậy hay roi giáng xuống, đốm lửa lại thoi thóp bùng lên, và chúng loạng choạng đứng dậy, lảo đảo bước tiếp.

Rồi cũng đến cái ngày Billee, con chó lành hiền, ngã xuống và không sao gượng dậy nổi nữa. Hal đã đổi mất khẩu súng lục, nên gã vung rìu giáng thẳng vào đầu Billee khi nó đang nằm trên dây cương, rồi cắt xác nó khỏi bộ yên cương và kéo lê sang một bên. Buck trông thấy, và đồng đội của nó cũng trông thấy, và chúng biết rằng điều ấy đang đến rất gần với chính mình. Ngày hôm sau, Koona ra đi, và chỉ còn sót lại năm con: Joe, đã quá kiệt quệ để có thể hung dữ; Pike, tàn phế và khập khiễng, chỉ còn lờ mờ nhận thức và chẳng đủ tỉnh táo để mà giả vờ đau; Sol-leks, kẻ chột mắt, vẫn trung thành với cái nhọc nhằn của dây cương và đường mòn, và đau đáu vì còn quá ít sức để mà kéo; Teek, kẻ chưa từng đi quá xa trong mùa đông năm ấy, và giờ bị đòn roi nhiều hơn lũ khác vì nó vẫn còn sung sức hơn đôi chút; và Buck, vẫn ở vị trí dẫn đầu đoàn, nhưng không còn áp đặt kỷ luật hay buồn áp đặt kỷ luật nữa, phân nửa thời gian nó bị mù loà vì kiệt sức và chỉ còn giữ được đường mòn nhờ vào những bóng hình nhoè nhoẹt cùng cái cảm giác lờ mờ dưới đôi bàn chân.

Ấy thế mà thời tiết mùa xuân lại đẹp đến nao lòng, dẫu chẳng con chó nào hay con người nào còn tâm trí mà nhận ra. Mỗi ngày mặt trời mọc sớm hơn và lặn muộn hơn. Bình minh loé lên từ lúc ba giờ sáng, và ánh hoàng hôn vương vấn đến tận chín giờ đêm. Suốt một ngày dài tràn ngập nắng rực rỡ. Sự tĩnh mịch ma quái của mùa đông đã nhường chỗ cho âm vang mùa xuân vĩ đại của sự sống đang trỗi dậy. Tiếng thì thầm ấy cất lên từ khắp mặt đất, mang theo niềm hân hoan của sự tồn tại. Nó đến từ muôn vạn vật đã sống lại và chuyển động, những thứ tưởng chừng đã chết và nằm bất động suốt những tháng ngày dài băng giá. Nhựa sống đang dâng lên trong những thân thông. Liễu và bạch dương đang bung nở những chồi non tơ. Bụi rậm và dây leo khoác lên mình tấm áo xanh mướt. Dế kêu rả rích trong đêm, và ban ngày, đủ mọi loài leo trèo, bò trườn sột soạt tiến ra dưới ánh mặt trời. Gà gô trắng và chim gõ kiến vang vọng tiếng kêu cùng tiếng mổ trong rừng. Sóc lanh lảnh gọi nhau, chim chóc ríu rít hót ca, và trên cao, những đàn chim hoang từ phương nam bay lên cắt ngang bầu trời, cất tiếng kêu vang và xếp thành những đội hình chữ V tinh xảo xé toạc không trung.

Từ mọi triền đồi vọng lại tiếng róc rách của nước chảy, khúc nhạc của những dòng suối vô hình. Vạn vật đang tan chảy, đang uốn mình, đang vỡ ra. Sông Yukon gồng mình phá tan lớp băng đang kìm kẹp nó. Nước gặm mòn từ bên dưới; mặt trời gặm mòn từ phía trên. Những túi khí hình thành, những vết nứt xuất hiện rồi nứt toác ra, trong khi những mảng băng mỏng đổ sập hoàn toàn xuống dòng nước. Và giữa tất cả những tiếng nứt vỡ, xé toang, rung chuyển của sự sống đang bừng thức, bên dưới ánh mặt trời chói chang và xuyên qua những cơn gió thoảng dịu dàng, tựa như những lữ khách trên con đường đi về cõi chết, hai gã đàn ông, người đàn bà, cùng những con husky vẫn lảo đảo bước đi.

Bầy chó gục ngã la liệt. Mercedes ngồi chễm chệ trên xe, nước mắt tuôn như suối. Hal thì chửi rủa vô hồi, chẳng buồn đếm xỉa đến trời đất. Còn Charles, đôi mắt ầng ậng nước, chất chứa nỗi ngao ngán tận cùng. Cả bọn lảo đảo tiến vào khu trại của John Thornton nơi cửa sông White trong bộ dạng thảm hại hết mức. Vừa dừng lại, lũ chó đổ ập xuống như thể đã chết hết cả rồi. Mercedes gạt nước mắt, đưa mắt nhìn John Thornton. Charles đổ phịch xuống một khúc gỗ để nghỉ. Y hạ người xuống thật chậm, thật nhọc, bởi từng khớp xương đã cứng đờ như gỗ mục. Hal xung phong đứng ra nói chuyện.

John Thornton đang vót nốt những đường cuối cùng trên cái cán rìu ông làm từ một khúc bạch dương. Ông vừa vót vừa lắng nghe, đáp trả bằng những tiếng cộc lốc, và khi được hỏi thì ban phát vài lời khuyên ngắn gọn. Ông quá hiểu cái giống người này rồi - và ông đưa ra lời khuyên với niềm xác tín rằng nó sẽ chẳng bao giờ được làm theo.

"Ở trên kia người ta bảo tụi tôi rằng đáy đường mòn đang sụp hết rồi, tốt nhất là nên cắm trại lại," Hal lên tiếng, nhằm đáp lại lời cảnh báo của Thornton rằng đừng có dại mà giỡn mặt với lớp băng mục thêm nữa. "Họ còn bảo tụi tôi không thể nào đến được sông White, thế mà giờ thì tụi tôi đang đứng ở đây." Câu cuối cùng gã thốt ra với giọng chế nhạo đầy đắc thắng.

"Và họ đã nói đúng với cậu đấy," John Thornton đáp. "Đáy sông có thể sụp bất kỳ lúc nào. Chỉ có lũ ngu, với cái may mù quáng của lũ ngu, mới mò được tới tận đây. Tôi nói thẳng với cậu, tôi thà không lấy toàn bộ số vàng ở Alaska chứ không đem mạng mình ra đánh cược trên lớp băng đó đâu."

"Chắc tại ông đâu có ngu," Hal nói. "Nhưng dù sao thì tụi tôi vẫn sẽ đi tiếp tới Dawson." Gã tháo cuộn roi ra khỏi thắt lưng. "Đứng dậy, Buck! Hi! Đứng dậy coi! Đi tới!"

Thornton vẫn mải miết vót cán rìu. Ông biết, chen vào giữa một kẻ ngu và sự ngu xuẩn của chính hắn là điều vô ích; với lại, thêm hay bớt dăm ba kẻ ngu thì cũng chẳng thể nào lay chuyển nổi trật tự của vạn vật.

Nhưng bầy chó không đứng dậy theo lệnh. Chúng đã qua từ lâu cái giai đoạn mà những cú đòn là cần thiết để lay tỉnh chúng. Chiếc roi quất tới tấp, chỗ này, chỗ kia, thi hành sứ mệnh tàn nhẫn của nó. John Thornton bặm chặt môi. Sol-leks là đứa đầu tiên bò dậy. Teek làm theo. Joe vùng lên kế tiếp, ăng ẳng vì đau đớn. Pike cố gượng dậy trong đớn đau. Hai lần nó vừa nhổm được nửa người đã lại đổ gục xuống, và đến lần thứ ba mới vật vã đứng lên nổi. Buck thì không hề nhúc nhích. Nó nằm yên lặng ngay tại nơi nó đã ngã. Ngọn roi cắn phập vào thân nó hết lằn này đến lằn khác, nhưng nó không rên rỉ, cũng chẳng phản kháng. Đôi lần Thornton giật nảy mình, như thể định thốt lên điều gì, rồi lại đổi ý. Một màng sương mỏng giăng ngang mắt ông, và khi trận đòn vẫn tiếp diễn, ông bật dậy, đi tới đi lui đầy lưỡng lự.

Đây là lần đầu tiên Buck gục ngã, và chỉ riêng điều đó thôi đã quá đủ để Hal nổi cơn điên cuồng. Gã ném chiếc roi sang một bên, vớ lấy cây gậy quen thuộc. Buck vẫn từ chối nhúc nhích dưới cơn mưa đòn ngày một nặng hơn đang dội xuống người nó. Cũng như các bạn đồng hành, nó gần như không còn sức mà đứng lên nữa, nhưng, không giống như chúng, nó đã hạ quyết tâm sẽ không đứng lên. Nó mang trong mình một linh cảm mơ hồ về thảm họa đang cận kề. Cảm giác ấy đã dâng lên mãnh liệt ngay từ lúc nó kéo xe lên tới bờ, và vẫn chưa hề rời bỏ nó. Qua lớp băng mỏng và mục nát mà nó đã cảm nhận được dưới chân suốt cả ngày, dường như nó thấu thị được tai ương đang ở rất gần, ngay phía trước mặt, trên chính lớp băng nơi gã chủ đang cố xua nó lao tới. Nó nhất quyết không nhúc nhích. Nó đã chịu đựng quá nhiều, và nó đã kiệt quệ đến nỗi những cú đòn chẳng còn mấy đau đớn nữa. Và khi chúng tiếp tục giáng xuống, tia sống le lói bên trong nó lay lắt rồi lịm dần. Gần như đã tắt hẳn. Một cảm giác tê dại lạ lùng lan tỏa. Như thể từ một nơi rất xa, nó nhận thức được rằng mình đang bị đánh. Những cảm giác đau đớn cuối cùng đã rời bỏ nó. Nó chẳng còn cảm thấy gì, dẫu rằng rất mơ hồ, nó vẫn nghe thấy tiếng cây gậy va chạm vào thân mình. Nhưng đó không còn là thân xác của nó nữa - nó dường như đang ở tận một chốn xa xăm nào đó.

Và rồi, đột ngột, không một lời cảnh báo, một tiếng kêu khàn đục vang lên - một âm thanh không rõ ràng, giống tiếng gầm của một con thú hơn là tiếng người - John Thornton lao thẳng vào gã đàn ông đang vung gậy. Hal bị hất tung về phía sau, như thể gã vừa bị một thân cây đổ đập trúng. Mercedes thét lên. Charles đờ đẫn nhìn, lau đôi mắt nhòe nước, nhưng chẳng thể đứng dậy vì thân mình cứng đờ như khúc gỗ của y.

John Thornton đứng che chắn trước Buck, gồng mình kìm nén cơn giận, quá điên tiết đến mức không thốt nên lời.

"Nếu mày còn đánh con chó đó một roi nữa, tao sẽ giết mày," cuối cùng ông cũng rặn ra được từng chữ, giọng nghẹn lại.

"Nó là chó của tao," Hal đáp, quệt vệt máu rỉ ra trên miệng khi gã bước tới. "Tránh đường cho tao, không thì tao sẽ xử lý mày. Tao sẽ đi Dawson."

Thornton đứng sừng sững giữa gã và Buck, và chẳng hề tỏ ý định tránh đường. Hal rút con dao săn dài của gã ra. Mercedes gào thét, khóc lóc, cười sằng sặc, để mặc cho cơn cuồng loạn hỗn độn bùng phát không thể kiểm soát. Thornton nện cán rìu vào đốt ngón tay Hal, hất văng con dao xuống đất. Ông lại nện thêm một cú nữa vào chính những đốt ngón tay ấy khi gã cố cúi xuống nhặt dao. Rồi ông cúi người, tự mình nhặt nó lên, và chỉ với hai nhát cắt dứt khoát, ông cắt đứt dây cương của Buck.

Hal chẳng còn chút ý chí phản kháng nào nữa. Hơn nữa, hai bàn tay gã - hay nói đúng hơn là hai cánh tay - đã bận bịu với chị gái mình; trong khi Buck thì đã kề cận cái chết đến mức chẳng còn chút hữu dụng nào cho việc kéo xe. Vài phút sau, cả bọn kéo xe rời bờ, tiến thẳng xuống dòng sông. Buck nghe tiếng họ rời đi, ngẩng đầu lên nhìn. Pike dẫn đầu, Sol-leks giữ vị trí cận xe, Joe và Teek lảo đảo ở giữa. Tất cả đang đi khập khiễng và loạng choạng. Mercedes ngồi vắt vẻo trên chiếc xe chất đầy hành lý. Hal tì chặt cọc lái để điều hướng, còn Charles lết từng bước nặng nề phía sau.

Trong lúc Buck dõi theo bóng họ, Thornton quỳ gối bên cạnh nó, và với đôi bàn tay thô ráp nhưng nhân từ, ông nhẹ nhàng tìm kiếm những chiếc xương gãy. Cuộc tìm kiếm của ông chẳng phát hiện ra điều gì ngoài vô số vết bầm tím và một tình trạng chết đói thê thảm, thì chiếc xe trượt tuyết đã cách xa đến một phần tư dặm. Chó và người cùng nhìn nó đang trườn lên mặt băng. Đột nhiên, họ trông thấy phần đuôi xe chúi xuống, như thể rơi tõm vào một cái rãnh, và cái cọc lái - cùng với Hal đang bám chặt lấy nó - giật nảy bổng lên không trung. Tiếng thét xé lòng của Mercedes lọt vào tai họ. Họ thấy Charles quay ngoắt lại và lùi đi một bước, và rồi toàn bộ một mảng băng khổng lồ vỡ tan tành, kéo theo chó và người biến mất trong nháy mắt. Chẳng còn lại gì ngoài một cái hố ngoác rộng, há hốc. Đáy của đường mòn đã sụp xuống.

John Thornton và Buck nhìn nhau.

"Mày thật tội nghiệp," John Thornton khẽ nói, và Buck liếm bàn tay ông.



  1. Nước Mặn (Salt Water) là cách những người ở vùng trung tâm Alaska gọi vùng bờ biển Thái Bình Dương. Đội thư tín Nước Mặn làm nhiệm vụ chuyển phát thư từ giữa vùng mỏ sâu trong đất liền và các thành phố cảng ven biển. 

  2. Klondike là vùng đất thuộc lãnh thổ Yukon, tây bắc Canada. Nơi đây nổi tiếng với Cơn sốt vàng Klondike khởi phát vào cuối thế kỷ 19, thu hút hàng chục nghìn người từ khắp nơi đổ về với giấc mộng đổi đời. 

  3. Alps (An-pơ) là dãy núi lớn và cao nhất châu Âu. Tác giả dùng hình ảnh này để cường điệu hóa khối lượng thư từ khổng lồ đang chất đống như một ngọn núi. 

  4. Vịnh Hudson là vùng biển lớn ở đông bắc Canada. Trong bối cảnh này, nó ám chỉ Công ty Vịnh Hudson (Hudson's Bay Company), một tập đoàn thương mại lông thú lâu đời và cũng là nguồn cung cấp những đàn chó kéo xe dẻo dai nhất thời bấy giờ. 

  5. Colt là một thương hiệu súng nổi tiếng của Mỹ. Việc đeo khẩu súng to bản cùng nịt đầy đạn cho thấy Hal đang cố tình phô trương vẻ ngoài của một kẻ phiêu lưu dạn dày sương gió, nhưng thực chất lại bộc lộ sự non nớt và màu mè. 

  6. Chặng đường Dài (the Long Trail) là cách gọi hành trình gian nan khắc nghiệt trên băng tuyết bằng xe chó kéo. Đồ hộp tuy tiện lợi nhưng lại chứa nhiều nước nên rất nặng, hoàn toàn không phù hợp với việc di chuyển đòi hỏi hành lý phải cực kỳ gọn nhẹ này. 

  7. Toa tàu Pullman là loại toa khách sang trọng (đặc biệt là toa giường nằm) do công ty Pullman sản xuất tại Mỹ thời bấy giờ. Việc mang nhiều chăn đệm lên xe trượt tuyết bị mỉa mai là giống như đang đi du lịch xa xỉ trên loại toa tàu này. 

  8. Thuật ngữ của người dân vùng Yukon/Alaska dùng để chỉ những giống chó được mang từ phương Nam (Mỹ hoặc nam Canada) lên, trái ngược với giống chó bản địa (như Husky) vốn đã quen thuộc với băng tuyết và công việc kéo xe. 

  9. Ám chỉ đèo Chilkoot hoặc đèo White, hai con đèo hiểm trở nằm trên biên giới giữa Alaska và Canada, là thử thách gian nan đầu tiên mà người tìm vàng phải vượt qua trên đường tới vùng mỏ Dawson. 

  10. Five Finger Rapids (Thác Năm Ngón) là một đoạn thác ghềnh nổi tiếng nguy hiểm trên dòng sông Yukon, đồng thời là một cột mốc quan trọng trên tuyến đường thủy tiến vào vùng mỏ vàng Klondike.