CHƯƠNG I.
Dưới đây là một câu chuyện hoàn toàn khác biệt mà chúng tôi có thể nhiệt liệt đề cử cho bạn. Chúng tôi xin dành những lời ngợi ca nồng nhiệt nhất, bởi đây chính là một trong những tác phẩm văn học xuất chúng nhất mà chúng tôi từng may mắn được thưởng thức. Chủ đề của tác phẩm vừa nguyên bản, lại vừa đủ độ kỳ ảo để vươn lên vượt trội hơn hẳn vô số những câu chuyện khoa học viễn tưởng đương thời. Đảm bảo rằng bạn sẽ chẳng bao giờ phải hối tiếc khi dấn bước vào câu chuyện tuyệt luân này.
Về phía tây Arkham1, những ngọn đồi nhô lên mang dáng vẻ hoang vu, với những thung lũng cùng những cánh rừng sâu thẳm chưa từng hằn vết rìu đốn hạ. Nơi đó có những khe hẻm chật hẹp, tối tăm, nơi những thân cây oằn mình vặn vẹo trong những tư thế quái gở, và những dòng suối cạn lững lờ róc rách mà chưa một lần được ánh dương soi rọi. Dọc theo những sườn dốc thoai thoải hơn là những trang trại chông chênh sỏi đá, với những mái nhà tranh thấp lùn, phủ đầy rêu phong, cứ mãi cưu mang những bí mật thuộc về một vùng New England2 cổ xưa dưới sự chở che của những vách đá đồ sộ. Nhưng giờ đây, tất cả chỉ còn là một cõi hoang tàn; những ống khói rộng ngoác đang chực chờ sụp đổ, và những mảng ván lợp phồng rộp lên đầy hiểm hoạ bên dưới những mái dốc trũng thấp.
Những người già cả đã bỏ đi từ lâu, và những kẻ mới đến cũng chẳng màng nương náu ở nơi này. Người Canada gốc Pháp đã thử sức, người Ý cũng vậy, và rồi người Ba Lan cũng đến để rồi lại vội vã rời đi. Chẳng phải vì bất kỳ mối nguy nào có thể tỏ tường bằng mắt thấy, tai nghe hay tay sờ nắn được, mà nỗi sợ ấy lại bắt nguồn từ một thứ gì đó sinh ra trong trí tưởng tượng. Chốn này chẳng lấy gì làm tốt đẹp cho tâm trí, và cũng chẳng mang lại những giấc mộng yên bình khi đêm xuống. Hẳn điều này đã xua những người ngoại lai rời đi, bởi lẽ ông lão Ammi Pierce chưa bao giờ kể cho họ nghe bất kỳ điều gì ông còn nhớ từ những ngày kỳ lạ thuở xưa. Ammi, dẫu tâm trí đã đôi phần lú lẫn theo năm tháng, lại là kẻ duy nhất cắm rễ ở chốn này, hoặc còn dám nhắc nhớ về những ngày kỳ lạ ấy. Và ông dám làm điều đó cũng chỉ vì căn nhà của ông nằm kề sát những cánh đồng trống trải cùng những nẻo đường tấp nập khách vãng lai quanh thị trấn Arkham.
Từng có một con đường mòn xuyên qua những ngọn đồi và thung lũng, chạy thẳng vắt ngang qua nơi hiện giờ là Vùng Đất Hoang Lụi Tàn; nhưng người ta không còn lui tới đó nữa, thay vào đó, họ mở một ngả đường mới uốn lượn tít tắp về phía nam. Dấu tích của con đường cũ kỹ thỉnh thoảng vẫn lộ diện giữa đám cỏ dại của khu rừng đang không ngừng bành trướng trở lại, và hẳn một vài mẩu tàn tích sẽ mãi mãi nằm lại ngay cả khi một nửa vùng trũng ấy bị ngập lụt để dọn chỗ cho hồ chứa mới. Khi lúc ấy đến, những cánh rừng u ám sẽ bị đốn hạ, và Vùng Đất Hoang Lụi Tàn sẽ nằm lại dưới làn nước trong xanh tĩnh lặng, nơi mặt nước sẽ làm tấm gương phản chiếu cả bầu trời và gợn sóng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Và rồi, những bí ẩn của những ngày kỳ lạ ấy sẽ hòa quyện làm một với vực thẳm muôn trùng; hòa làm một với truyền thuyết nguyên sơ của đại dương cổ đại, cùng toàn bộ những huyền bí của tinh cầu thuở ban sơ.
Khi tôi dấn bước vào những ngọn đồi và thung lũng ấy để tiến hành khảo sát cho hồ chứa mới, họ đã rỉ tai tôi rằng chốn này vô cùng tà ác. Các cụ già ở Arkham đã dặn dò tôi như thế, và bởi đây là một thị trấn cổ kính chìm đắm trong những truyền thuyết về phù thủy, tôi mường tượng cái ác hẳn chỉ là một điều gì đó mà các bà lão vẫn thường thầm thì kể suốt hàng thế kỷ. Cái tên "Vùng Đất Hoang Lụi Tàn" vang lên bên tai tôi với vẻ kỳ quái và đượm màu kịch tính; tôi cứ mãi băn khoăn làm thế nào một cái tên như vậy lại len lỏi được vào văn hóa dân gian của một cộng đồng Thanh giáo3. Thế nhưng, khi chính mắt tôi chứng kiến mớ hỗn độn của những khe núi và sườn dốc u tối quay mặt về hướng tây ấy, tôi chẳng còn kinh ngạc về điều gì ngoài bí ẩn cổ xưa toát ra từ chính nó. Lần đầu tôi chạm mặt nơi này là vào lúc bình minh, nhưng dường như bóng tối luôn chực chờ lẩn khuất. Rừng cây mọc chen chúc nghẹt thở, và thân cây nào cũng quá đỗi to lớn so với bất kỳ khu rừng New England khỏe mạnh nào. Sự câm lặng đè nặng lên những lối đi mờ mịt, và mặt đất chìm trong sự mềm nhão của lớp rêu ẩm ướt cùng thảm thực vật đã mục rữa qua vô lượng tháng năm.
Ở những khoảng đất trống trải, phần lớn nằm dọc theo tuyến đường mòn cũ, những trang trại nhỏ bé nằm rải rác trên sườn đồi; đôi khi toàn bộ cấu trúc vẫn còn đứng vững vàng, đôi khi chỉ trơ trọi một hay hai bức vách, và có khi chỉ còn lại một cái ống khói cô độc hay một hầm chứa đang dần bị vùi lấp. Cỏ dại cùng bụi rậm độc tôn chiếm giữ vạn vật, và những sinh linh hoang dã rình rập tạo nên những tiếng sột soạt đầy ám muội trong lùm cây. Trùm lấp lên tất thảy là một bầu không khí bồn chồn và ngột ngạt; một chút gì đó phi thực tế và méo mó, cứ như thể một yếu tố nền tảng nào đó của phối cảnh hay sự tương phản sáng tối đã bị sai lệch. Tôi chẳng mấy ngạc nhiên khi những kẻ ngoại lai không chịu nổi mà phải bỏ đi, bởi lẽ đây tuyệt nhiên không phải là một nơi để tìm kiếm giấc ngủ. Nó quá đỗi giống một bức họa phong cảnh đầy ma mị của Salvator Rosa4; quá giống một bản mộc khắc bị cấm đoán lôi ra từ một trang sách kinh dị.
Nhưng ngay cả tất cả những thứ kinh hoàng ấy cũng chẳng hề hấn gì khi đem so với Vùng Đất Hoang Lụi Tàn. Tôi nhận ra nó ngay khoảnh khắc bắt gặp ở dưới đáy một thung lũng trải rộng; bởi chẳng một cái tên nào khác có thể lột tả đúng bản chất của một nơi như vậy, hoặc chẳng có nơi nào khác trên thế gian có thể gánh vác một cái tên như thế. Cứ như thể nhà thơ đã khai sinh ra cụm từ này sau khi chứng kiến chính xác khung cảnh nơi đây. Khi dán mắt vào nó, tôi đã thầm nhủ hẳn đây là hậu quả để lại sau một cơn hỏa hoạn kinh hoàng; nhưng tại sao không một mầm sống mới nào chịu đâm chồi trên năm mẫu hoang tàn xám ngắt phơi mình dưới bầu trời như một vết lở loét khổng lồ bị axit ăn mòn giữa những khu rừng và cánh đồng? Dải đất ấy phần lớn ngả về phía bắc của con đường cổ, nhưng lại lấn nhẹ sang bên kia đường. Một sự phản kháng vô hình, một cảm giác cự tuyệt kỳ lạ trỗi dậy trong tôi khi phải tiến lại gần, và cuối cùng tôi chỉ đành cất bước vì công việc buộc phải đi ngang qua nó. Chẳng có bất kỳ một loại thảm thực vật nào tồn tại trên dải đất rộng lớn ấy, mà chỉ độc một lớp bụi hoặc tro xám mịn màng dường như chẳng bao giờ bị gió cuốn bay. Cây cối lân cận mọc lên ốm yếu và còi cọc, với nhiều thân cây chết khô sừng sững ghim chặt vào mặt đất hoặc nằm mục rữa ở rìa đất. Khi rảo bước thật nhanh, tôi nhìn thấy những viên gạch và đá nát vụn của một ống khói cùng căn hầm cũ nằm bên phải, cùng cái miệng đen ngòm há hốc của một giếng nước bị bỏ hoang, nơi những làn hơi nước ngưng đọng đang đùa giỡn với những màu sắc quái gở dưới ánh mặt trời. Ngay cả đoạn đường dốc dài ngoẵng, tăm tối xuyên qua rừng cây phía trước cũng trở thành một niềm an ủi đáng hoan nghênh khi đem ra so sánh, và tôi thôi kinh ngạc trước những lời thì thầm đầy khiếp đảm của cư dân Arkham. Chẳng có một mái nhà hay tàn tích nào quanh quẩn gần đó; hẳn ngay cả trong những ngày xa xưa, nơi này cũng vô cùng quạnh hiu và hẻo lánh. Và khi bóng chiều tà buông xuống, vì nỗi kinh hoàng không dám băng qua khu vực mang điềm gở đó một lần nữa, tôi đã chọn đường vòng trở về thị trấn theo ngả cong uốn lượn ở phía nam. Trong lòng tôi lờ mờ khao khát có vài đám mây đen kéo tới, bởi một nỗi khiếp sợ kỳ quặc về những khoảng không vô tận trên bầu trời thẳm sâu đã len lỏi vào tâm hồn tôi.
Đêm hôm đó, tôi gặng hỏi các cụ già ở Arkham về Vùng Đất Hoang Lụi Tàn, cùng ý nghĩa thực sự đằng sau cụm từ "những ngày kỳ lạ" mà nhiều người cứ lảng tránh lẩm bẩm. Thế nhưng, tôi chẳng nhận được bất cứ câu trả lời nào thỏa đáng, ngoại trừ một sự thật rằng toàn bộ màn sương bí ẩn ấy lại mới mẻ hơn nhiều so với những gì tôi tưởng tượng. Đó hoàn toàn không phải là một truyền thuyết xưa cũ phủ bụi thời gian, mà là một sự kiện có thật đã xảy ra ngay trong chính cuộc đời của những người đang trò chuyện. Chuyện ấy diễn ra vào những năm tám mươi, và một gia đình đã biến mất hoặc thiệt mạng. Những người kể chuyện đều né tránh không muốn đi vào chi tiết; và vì tất cả các cụ đều khuyên tôi đừng bận tâm đến những câu chuyện điên rồ của ông lão Ammi Pierce, ngay sáng hôm sau, tôi đã cất bước đi tìm ông khi hay tin ông đang sống cô độc trong một ngôi nhà tranh xập xệ, xiêu vẹo ngay nơi những tán cây bắt đầu trở nên rậm rạp. Đó là một chốn cũ kỹ đến rợn người, và đã bắt đầu phảng phất cái mùi ẩm mốc mục nát thường bám chặt vào những công trình đã chống chọi quá lâu với thời gian. Chỉ bằng những tràng gõ cửa kiên trì, tôi mới có thể đánh thức ông lão, và khi ông rụt rè lê từng bước chân ra mở cửa, tôi dễ dàng nhận ra ông chẳng lấy gì làm vui vẻ khi giáp mặt tôi. Ông không hề ốm yếu như tôi tưởng; nhưng đôi mắt ông sụp xuống một cách dị dạng, kết hợp cùng bộ quần áo lôi thôi và chòm râu bạc trắng khiến ông toát lên vẻ tiều tụy và u sầu đến não lòng.
Vì không biết làm cách nào để khơi gợi ông lão tuôn trào những câu chuyện của mình một cách tự nhiên nhất, tôi đành viện cớ công việc; kể lể cho ông nghe về chuyến khảo sát của tôi, rồi giả vờ buông những câu hỏi bâng quơ về khu vực này. Trái với những gì tôi được nghe đồn, ông lão minh mẫn và uyên bác hơn rất nhiều, và trước khi tôi kịp nhận ra, ông đã nắm bắt vấn đề chẳng thua kém bất kỳ gã đàn ông nào tôi từng trò chuyện ở Arkham. Ông hoàn toàn khác biệt so với những người nông dân tôi từng gặp gỡ tại các khu vực dự kiến xây dựng hồ chứa nước. Từ phía ông, tuyệt nhiên chẳng có bất kỳ sự chống đối nào trước viễn cảnh hàng dặm rừng già và đất canh tác màu mỡ sắp sửa bị xóa sổ vĩnh viễn, dù cho phản ứng ấy có lẽ đã xảy ra nếu ngôi nhà của ông không nằm ngoài ranh giới bản đồ của hồ nước trong tương lai. Sự nhẹ nhõm là điều duy nhất ông bộc lộ; một sự khuây khỏa trước sự biến mất của những thung lũng tăm tối, cổ xưa mà ông đã lang thang qua suốt cuộc đời. Chúng thà nằm vùi lấp dưới làn nước sâu thẳm còn hơn-tốt nhất là hãy cứ chìm sâu dưới làn nước kể từ những ngày kỳ lạ ấy. Và với lời dạo đầu ấy, chất giọng khàn đặc của ông chùng xuống, cơ thể gầy guộc ngả người về phía trước, và ngón trỏ trên bàn tay phải của ông bắt đầu chỉ trỏ một cách run rẩy đầy ám ảnh.
Chính vào lúc đó, tôi đã nghe được câu chuyện. Và khi giọng điệu lan man ấy cứ lầm rầm, thầm thì, tôi đã run rẩy hết lần này đến lần khác, dẫu cho đó là một ngày hè oi ả. Thường thì tôi phải cố kéo người kể chuyện ra khỏi mớ ký ức mông lung, kiên nhẫn chắp vá những chi tiết khoa học mà ông chỉ còn nhớ bập bõm qua lời giảng giải của các giáo sư năm xưa, hay lấp đầy những khoảng trống khi tư duy logic và mạch lạc của ông bỗng chốc đứt gãy. Tới khi ông kể xong, tôi chẳng còn lạ gì việc tâm trí ông có phần điên loạn, hay vì sao người dân Arkham lại chùn bước mỗi khi nhắc đến vùng đất hoang lụi tàn. Tôi vội vã tháo lui về khách sạn trước lúc hoàng hôn buông xuống, bởi tôi chẳng hề muốn thấy những vì tinh tú kia hiện ra trên đỉnh đầu mình giữa bãi đất hoang vu ấy. Và rồi, ngay ngày hôm sau, tôi trở lại Boston, dứt khoát từ bỏ luôn công việc đo đạc. Tôi không thể ép mình bước chân vào cái mớ hỗn độn u ám của khu rừng cổ xưa và sườn dốc nhô ra ấy thêm một lần nào nữa. Tôi cũng chẳng thể đối mặt thêm lần nào với khoảng đất trống xám xịt, cằn cỗi ấy, nơi cái giếng đen ngòm đang há ngoác một cái hố sâu hoắm bên cạnh đống gạch đá hoang tàn đổ nát. Hồ chứa nước rồi sẽ sớm được xây lên, và toàn bộ những bí mật ngàn năm đó sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi dưới muôn sải nước sâu thẳm, an toàn. Thế nhưng, ngay cả khi điều đó thành sự thật, tôi tin chắc mình cũng chẳng màng đặt chân đến nơi đây vào lúc đêm buông-chí ít là không phải khi những ánh sao mang điềm gở kia đang rình rập chực chờ. Hơn nữa, cũng sẽ chẳng có thứ gì trên đời này đủ sức mua chuộc tôi uống một ngụm từ nguồn nước máy mới của thành phố Arkham.
Mọi chuyện khởi nguồn, theo lời ông lão Ammi kể lại, là từ vụ thiên thạch rơi. Trước thời điểm đó, vùng đất này hoàn toàn không có lấy một truyền thuyết hoang đường nào kể từ sau những cuộc xét xử phù thủy5 tàn khốc. Ngay cả khi ấy, những khu rừng phía tây này cũng chẳng rùng rợn bằng một nửa hòn đảo nhỏ trên dòng sông Miskatonic, nơi ác quỷ mở phiên tòa phán xét ngay bên một bàn thờ đá nguyên thủy, mang niên đại còn xa xưa hơn cả sự xuất hiện của những người da đỏ bản địa. Rừng nơi đây vốn dĩ không hề bị ma ám, và buổi chạng vạng kỳ ảo cũng chưa bao giờ trở nên đáng sợ cho tới những ngày tháng kỳ dị ấy. Sau đó, một đám mây trắng xuất hiện vào lúc trưa trật, nối tiếp là hàng loạt tiếng nổ xé toạc không trung, và một cột khói bốc lên ngùn ngụt từ thung lũng tít sâu trong rừng thẳm. Đêm đến, cả thị trấn Arkham đều đã râm ran bàn tán về tảng đá khổng lồ vừa rơi từ trên trời xuống, ghim chặt vào lòng đất ngay cạnh cái giếng ở trang trại nhà Nahum Gardner. Vùng đất hoang tàn lụi bại sau này, trước đó chính là nơi tọa lạc của ngôi nhà màu trắng tinh tươm, ngăn nắp thuộc về Nahum Gardner, nằm lọt thỏm giữa những khu vườn và rặng cây ăn trái trù phú, màu mỡ.
Nahum đã cất công lên tận thị trấn để báo cho mọi người biết về tảng đá, tiện đường ghé luôn qua nhà Ammi Pierce. Lúc bấy giờ, Ammi mới bước sang tuổi bốn mươi, và mọi sự kiện kỳ dị ấy đã khắc sâu vào tâm trí ông không thể phai mờ. Ông cùng vợ tháp tùng ba vị giáo sư đến từ Đại học Miskatonic6-những người đã tức tốc đổ xô tới vào sáng hôm sau để mục sở thị vị khách lạ kỳ đến từ không gian tinh tú vô định. Họ không khỏi băn khoăn vì sao chỉ mới ngày hôm trước, Nahum lại khăng khăng rằng tảng đá to đến thế. Nahum chỉ tay vào đống đất nâu sẫm nhô lên giữa mảng sân bị xới tung và nền cỏ cháy xém cạnh cần giếng cũ kỹ trước nhà, quả quyết rằng tảng đá đã tự co lại. Nhưng các bậc trí giả chỉ đáp lời rằng đá thì không thể nào co rút được. Hơi nóng tỏa ra từ nó vẫn còn dai dẳng, và Nahum kiên quyết rằng chính mắt ông đã thấy nó phát ra một thứ ánh sáng mờ ảo trong đêm. Khi các giáo sư dùng búa địa chất gõ thử, họ kinh ngạc nhận ra tảng đá mềm một cách kỳ lạ. Thực sự thì nó mềm tới mức người ta gần như có thể dùng tay nhào nặn được. Vậy nên, thay vì đẽo, họ đã đục lấy một mẫu vật mang về trường đại học để tiến hành thử nghiệm. Mẫu đá được cất tạm trong một chiếc xô cũ mượn từ gian bếp của Nahum, bởi ngay cả một mảnh nhỏ xíu cũng nhất quyết không chịu nguội đi. Trên đường về, các học giả dừng chân tại nhà Ammi để nghỉ ngơi, và rồi tỏ ra đăm chiêu trầm mặc khi bà Pierce lên tiếng nhận xét rằng mảnh vỡ ấy dường như đang nhỏ dần đi, đồng thời nung cháy cả đáy chiếc xô. Thật vậy, mảnh đá ấy vốn không lớn, nhưng có lẽ phần họ lấy được còn ít hơn những gì họ lầm tưởng.
Ngày hôm sau-tất cả những biến cố này diễn ra vào tháng Sáu năm 82-các giáo sư lại rầm rập kéo tới trong một trạng thái hưng phấn tột độ. Lúc băng qua nhà Ammi, họ kể cho ông nghe những hiện tượng quái gở mà mẫu vật đã gây ra, và chuyện nó đã bốc hơi hoàn toàn ra sao khi được đặt vào trong một chiếc cốc thủy tinh. Bản thân chiếc cốc ấy cũng biến mất không sủi tăm, khiến các bậc hiền triết phải bàn luận xôn xao về sức hút kỳ lạ của tảng đá đối với chất silic. Mảnh thiên thạch đã phản ứng theo một cách vô cùng phi lý giữa không gian phòng thí nghiệm quy củ; nó hoàn toàn trơ ra, không hề giải phóng bất kỳ loại khí hấp thụ nào khi bị nung trên than củi, hoàn toàn âm tính khi thử với hạt borax7, và ngay sau đó, nó chứng tỏ bản thân tuyệt đối không bay hơi ở bất kỳ mức nhiệt độ nào mà con người có thể tạo ra, kể cả sức nóng rực lửa của đèn khò oxy-hydro. Khi bị đặt lên đe, nó bộc lộ tính dẻo đến kinh ngạc, còn trong bóng tối, thứ ánh sáng nó phát ra lại vô cùng rõ rệt. Vẫn ngoan cố không chịu nguội đi, nó đã nhanh chóng đẩy toàn bộ giới học thuật trong trường đại học vào một cơn chấn động thực sự. Khi bị nung nóng trước máy quang phổ, nó phô bày những dải sáng lấp lánh rực rỡ, nhưng lại chẳng hề giống với bất cứ màu sắc nào từng được biết đến trong quang phổ bình thường. Điều đó đã làm dấy lên vô số cuộc tranh luận nín thở về các nguyên tố mới, về những đặc tính quang học dị thường, và về vô vàn những thứ khác mà các nhà khoa học thường đưa ra mỗi khi phải đứng trước những màn sương mù mờ mịt của những điều chưa biết.
Dẫu nó nóng đến vậy, họ vẫn thử nghiệm nó trong chén nung với đủ loại thuốc thử chuyên dụng. Nước không có tác dụng gì. Axit clohydric cũng thế. Axit nitric, và thậm chí cả nước cường toan8 cũng chỉ xèo xèo rít lên và bắn tung tóe khi chạm vào lớp vỏ ngoài rực nóng và bất khả xâm phạm của nó. Ammi vốn dĩ rất chật vật mới nhớ lại được tất cả những cái tên này, nhưng khi tôi liệt kê chúng ra theo thứ tự sử dụng thông thường, ông đã nhận ra một số loại dung môi. Có cả amoniac, xút ăn da, cồn, ête, hợp chất cacbon disulfua với mùi hôi buồn nôn và hàng tá những chất hóa học khác. Thế nhưng, mặc cho trọng lượng của nó cứ giảm dần theo thời gian, và bản thân mảnh vỡ dường như cũng đang nguội đi đôi chút, vẫn không hề có sự biến đổi nào ở các dung môi chứng tỏ rằng chúng đã ăn mòn được vật chất đó. Dù vậy, chắc chắn không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một khối kim loại. Một phần là bởi nó có từ tính; và sau khi ngâm trong các loại dung môi axit, bề mặt nó lờ mờ hiện lên những dấu vết của các khối hình Widmänstätten9 thường thấy ở sắt thiên thạch. Khi nhiệt độ đã giảm xuống đáng kể, người ta tiến hành thử nghiệm bên trong tủ kính; và tất cả những mảnh vụn vỡ ra từ khối đá ban đầu trong quá trình đục đẽo đều được gom lại vào một chiếc cốc thủy tinh. Sáng hôm sau, cả những mảnh vụn lẫn chiếc cốc đều đã bốc hơi không còn một dấu vết, chỉ để lại một vết cháy sém đánh dấu vị trí trên chiếc kệ gỗ nơi chúng từng nằm đó.
Tất cả những chuyện này, các giáo sư đã tường thuật lại cho Ammi khi họ dừng chân trước cửa nhà ông. Một lần nữa, ông lại đi cùng họ đến xem bức thông điệp bằng đá mang theo bí ẩn của những vì sao, chỉ khác là lần này không có vợ ông đi cùng. Giờ thì nó chắc chắn đã co lại thật rồi, và ngay cả những vị giáo sư điềm đạm nhất cũng không thể nào chối bỏ sự thật hiển hiện ngay trước mắt mình. Xung quanh khối đất đá màu nâu đang teo nhỏ dần bên thành giếng là một khoảng trống hoác, ngoại trừ chỗ mà mặt đất đã lún sụp xuống. Mới hôm qua nó còn trải rộng tới bảy feet, vậy mà giờ đây chỉ còn chưa đầy năm feet. Khối thiên thạch vẫn còn phả hơi nóng, và các bậc hiền triết tò mò quan sát bề mặt của nó trong lúc dùng búa và đục tách thêm một mảng lớn hơn. Lần này họ đục xuống rất sâu, và khi cạy được khối đá nhỏ hơn ra, họ bàng hoàng nhận thấy lõi bên trong của vật thể đó hoàn toàn không hề đồng nhất.
Họ phát hiện ra thứ trông như một phần bề mặt của một khối cầu lớn nhuốm màu, nằm chìm khuất bên trong thứ vật chất kỳ dị kia. Thứ sắc độ này, dẫu mang dáng dấp của vài dải quang phổ quái gở từ khối thiên thạch, lại gần như trượt khỏi mọi ngôn từ mô tả; và chỉ bằng phép miễn cưỡng so sánh, người ta mới đành gọi nó là màu sắc. Bề mặt nó ánh lên vẻ bóng bẩy, nhưng khi gõ vào lại mang đến cảm giác giòn tan và rỗng tuếch. Một vị giáo sư đã giáng một búa thật mạnh xuống, và nó lập tức vỡ vụn với tiếng lách tách khẽ khàng, chất chứa đầy vẻ bất an. Chẳng có thứ gì rỉ ra, và mọi dấu vết của vật thể ấy cứ thế biến mất cùng với lỗ thủng. Nó để lại một khoang rỗng hình cầu có đường kính chừng ba inch, dấy lên trong tâm trí mọi người suy đoán rằng, rất có thể những khối tương tự sẽ dần lộ diện khi lớp vỏ vật chất bao bọc xung quanh tiếp tục phân rã.
Mọi đồn đoán rốt cuộc đều rơi vào bế tắc; thế nên, sau một nỗ lực khoan sâu hòng kiếm tìm thêm những viên tiểu thể nhưng chẳng thành, đoàn người lại rời đi, mang theo mẫu vật mới nhất-dù vậy, mảnh vật chất này cũng gieo rắc sự hoang mang trong phòng thí nghiệm chẳng kém gì kẻ tiền nhiệm của nó. Ngoài chuyện nó gần như dẻo quánh, tỏa nhiệt, ngậm từ tính và hắt ra một thứ ánh sáng mờ ảo, rồi đột ngột giảm nhiệt khi bị ngâm trong các dung dịch axit mạnh, sở hữu một dải quang phổ chưa từng được ghi nhận, bốc hơi giữa không trung và bào mòn các hợp chất silic để chuốc lấy sự hủy diệt lẫn nhau; ngoài những biểu hiện ấy ra, nó tuyệt nhiên không phơi bày bất kỳ đặc tính nhận dạng nào khác. Mọi bài kiểm tra dần khép lại, và giới khoa học của trường đại học đành ngậm ngùi thừa nhận sự bất lực trong việc giải mã nó. Dị vật này thực chất không thuộc về địa cầu, nó là mảnh vỡ đến từ một thế giới vĩ đại bên ngoài không gian; và với tư cách ấy, nó mang trong mình những đặc tính ngoại lai, tuân theo những dị luật nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta.
Đêm đó, một cơn dông kèm sấm sét giật dữ dội ập đến, để rồi khi các giáo sư quay trở lại trang trại của Nahum vào sáng hôm sau, thứ chờ đợi họ chỉ là nỗi thất vọng tràn trề. Tảng thiên thạch, bằng lượng từ tính dồi dào, hẳn đã dung chứa một dòng điện cực đoan nào đó; bởi nó đã "hút sét", đúng như lời Nahum kể lại, với một sức hút bền bỉ đến dị thường. Chỉ trong vòng một giờ đồng hồ, người nông dân nọ đã phải sáu lần chứng kiến những tia chớp giáng thẳng xuống luống cày nơi khoảng sân trước nhà. Và khi bão tan, nơi ấy chẳng còn lại gì ngoài một miệng hố lởm chởm nằm kề bên chiếc cần giếng hoang tàn, đất đá lở xói lấp đầy mất quá nửa. Mọi nỗ lực đào bới đều công cốc, và các nhà khoa học đành cay đắng xác nhận sự thật về một màn bốc hơi triệt để. Sự thất bại thật rõ ràng; họ không thể làm gì hơn ngoài việc quay về phòng thí nghiệm, tập trung vào việc thử nghiệm mảnh vỡ đang dần phân rã bên trong lớp chì bọc kín. Mảnh vỡ ấy cầm cự được đúng một tuần, rồi cuối cùng cũng tan biến trước khi người ta kịp chắt lọc được bất kỳ giá trị nào từ nó. Khi nó đã hoàn toàn bốc hơi, không một tàn dư nào vương lại, dần dà, ngay cả các giáo sư cũng bắt đầu hoài nghi chính ký ức của mình, chẳng dám chắc bản thân đã thực sự tận mắt chứng kiến di tích bí ẩn rớt xuống từ những vực thẳm khôn cùng; cái thông điệp kỳ quái, đơn độc gửi gắm từ những vũ trụ xa xăm và những cõi giới dị thường của vật chất, năng lượng và thực thể vô hình.
Lẽ dĩ nhiên, báo giới Arkham đã làm rùm beng mọi chuyện, cộng thêm cái mác bảo chứng từ trường đại học, họ thi nhau cử các phóng viên đến săn tin từ Nahum Gardner cùng gia đình. Chí ít cũng có một tờ nhật báo tận Boston phái hẳn một cây bút lặn lội đến đây, biến Nahum thành một kẻ nổi danh khắp vùng chỉ sau một đêm. Anh vốn là một người đàn ông trạc độ ngũ tuần, dáng người gầy gò nhưng tính tình xởi lởi, an cư cùng vợ và ba cậu con trai trong một trang trại khang trang nằm nép mình dưới thung lũng. Anh và Ammi vẫn thường xuyên lui tới nhà nhau, các bà vợ của họ cũng thế; và dù bao năm qua đi, Ammi vẫn luôn dành cho anh những lời có cánh. Nahum dường như có chút hãnh diện khi trang trại của mình bất ngờ thu hút sự chú ý đến vậy, và suốt những tuần tiếp theo, thiên thạch luôn là chủ đề cửa miệng của anh. Tháng Bảy và tháng Tám năm ấy, tiết trời oi ả lạ thường; Nahum vẫn oằn lưng ra cắt cỏ khô trên cánh đồng rộng mười mẫu Anh phía bên kia Suối Chapman. Cỗ xe ngựa cọc cạch của anh nghiến thành những vệt bánh lún sâu trên những lối mòn rợp bóng cây. Nhưng mùa vụ năm nay dường như vắt kiệt sức lực của Nahum hơn hẳn những năm trước, và anh lờ mờ cảm nhận gánh nặng tuổi tác đang dần đè nặng lên đôi vai.
Rồi cũng đến kỳ đơm hoa kết trái và thu hoạch. Lê và táo dần ngả màu chín mọng, Nahum thề thốt rằng vườn cây của anh chưa năm nào lại trĩu quả đến thế. Chúng phát triển đến một kích cỡ phi thường, lớp vỏ căng bóng đến ngỡ ngàng, và sản lượng bùng nổ tới mức anh phải vội vã đóng thêm hàng tá thùng gỗ để chứa cho bằng hết. Thế nhưng, đi cùng với vụ mùa bội thu lại là một nỗi thất vọng lớn, bởi ẩn sau vẻ ngoài tươi tốt, căng mọng ấy, tuyệt nhiên chẳng có thứ gì ăn được. Trộn lẫn vào hương vị ngọt ngào của từng trái táo, trái lê là một vị đắng ngắt, đi kèm một cảm giác buồn nôn lẩn khuất, ghê tởm đến mức chỉ gặm một miếng cũng đủ để lại thứ mùi vị khó chịu không thể gột sạch. Tình trạng tương tự cũng xảy ra với những luống dưa và cà chua, Nahum chỉ biết buồn bã nhìn toàn bộ công sức cày cuốc tiêu tan. Nhanh chóng xâu chuỗi mọi hiện tượng kỳ lạ, anh quả quyết rằng chính tảng thiên thạch kia đã gieo rắc độc tố vào lòng đất mẹ, và thầm tạ ơn Trời Đất vì phần lớn những luống hoa màu còn lại đều được gieo trồng trên dải đất cao nằm dọc theo phía mặt đường.
-
Một thị trấn giả tưởng do H.P. Lovecraft sáng tạo ra, tọa lạc tại bang Massachusetts. Đây là bối cảnh trung tâm trong 'Vũ trụ Lovecraft', nổi tiếng với bầu không khí u ám và những truyền thuyết rùng rợn. ↩
-
Một vùng nằm ở Đông Bắc Hoa Kỳ, nổi tiếng với lịch sử lâu đời từ thời thuộc địa, di sản của Thanh giáo và là bối cảnh quen thuộc trong các tác phẩm văn học kinh dị Gothic mang màu sắc u ám. ↩
-
Puritan (Thanh giáo) là một nhóm người theo đạo Tin Lành ở Anh và Bắc Mỹ thế kỷ 16-17, nổi tiếng với lối sống khắt khe, kỷ luật tôn giáo nghiêm ngặt và niềm tin cực đoan vào sự hiện diện của ma quỷ. ↩
-
Một họa sĩ và nhà thơ người Ý thời kỳ Baroque (1615-1673), nổi tiếng với những bức tranh phong cảnh hoang dã, dữ dội, ngột ngạt và mang đậm màu sắc kỳ bí, u ám. ↩
-
Ám chỉ đến các cuộc lùng bắt và xét xử phù thủy khét tiếng ở New England vào cuối thế kỷ 17 (tiêu biểu là sự kiện Salem năm 1692), nơi nhiều người vô tội bị kết án tử hình do niềm tin mê tín. ↩
-
Một ngôi trường đại học giả tưởng danh giá tọa lạc tại thị trấn Arkham, thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm của H.P. Lovecraft như một trung tâm nghiên cứu và lưu giữ những tri thức cổ xưa, huyền bí. ↩
-
Borax (hàn the) được sử dụng trong thử nghiệm hóa học phân tích ngọn lửa (borax bead test) để xác định sự hiện diện của một số kim loại nhất định dựa trên màu sắc tạo thành khi đun nóng. ↩
-
Aqua regia (vương thủy hay nước cường toan) là một hỗn hợp hóa học có tính ăn mòn cực mạnh, gồm axit nitric và axit clohydric, đủ sức hòa tan cả những kim loại quý hiếm khó phá hủy nhất như vàng hay bạch kim. ↩
-
Widmanstätten (hay cấu trúc Thomson) là những hoa văn hình học đặc trưng tạo bởi các tinh thể sắt và niken đan xen nhau, thường chỉ lộ ra trên bề mặt của các thiên thạch kim loại sau khi được xử lý bằng axit. ↩
CHAPTER I.
Here is a totally different story that we can
highly recommend to you. We could wax rhapsodical
in our praise, as the story is one of the finest
pieces of literature it has been our good fortune to
read. The theme is original, and yet fantastic
enough to make it rise head and shoulders above
many contemporary scientifiction stories. You will
not regret having read this marvellous tale.
West of Arkham the hills rise wild, and there are valleys with deep woods that no axe has ever cut. There are dark narrow glens where the trees slope fantastically, and where thin brooklets trickle without ever having caught the glint of sunlight. On the gentler slopes there are farms, ancient and rocky, with squat, moss-coated cottages brooding eternally over old New England secrets in the lee of great ledges; but these are all vacant now, the wide chimneys crumbling and the shingled sides bulging perilously beneath low gambrel roofs.
The old folk have gone away, and foreigners do not like to live there. French-Canadians have tried it, Italians have tried it, and the Poles have come and departed. It is not because of anything that can be seen or heard or handled, but because of something that is imagined. The place is not good for imagination, and does not bring restful dreams at night. It must be this which keeps the foreigners away, for old Ammi Pierce has never told them of anything he recalls from the strange days. Ammi, whose head has been a little queer for years, is the only one who still remains, or who ever talks of the strange days; and he dares to do this because his house is so near the open fields and the travelled roads around Arkham.
There was once a road over the hills and through the valleys, that ran straight where the blasted heath is now; but people ceased to use it and a new road was laid curving far toward the south. Traces of the old one can still be found amidst the weeds of a returning wilderness, and some of them will doubtless linger even when half the hollows are flooded for the new reservoir. Then the dark woods will be cut down and the blasted heath will slumber far below blue waters whose surface will mirror the sky and ripple in the sun. And the secrets of the strange days will be one with the deep's secrets; one with the hidden lore of old ocean, and all the mystery of primal earth.
When I went into the hills and vales to survey for the new reservoir they told me the place was evil. They told me this in Arkham, and because that is a very old town full of witch legends I thought the evil must be something which grandmas had whispered to children through centuries. The name "blasted heath" seemed to me very odd and theatrical, and I wondered how it had come into the folklore of a Puritan people. Then I saw that dark westward tangle of glens and slopes for myself, and ceased to wonder at anything besides its own elder mystery. It was morning when I saw it, but shadow lurked always there. The trees grew too thickly, and their trunks were too big for any healthy New England wood. There was too much silence in the dim alleys between them, and the floor was too soft with the dank moss and mattings of infinite years of decay.
In the open spaces, mostly along the line of the old road, there were little hillside farms; sometimes with all the buildings standing, sometimes with only one or two, and sometimes with only a lone chimney or fast-filling cellar. Weeds and briers reigned, and furtive wild things rustled in the undergrowth. Upon everything was a haze of restlessness and oppression; a touch of the unreal and the grotesque, as if some vital element of perspective or chiaroscuro were awry. I did not wonder that the foreigners would not stay, for this was no region to sleep in. It was too much like a landscape of Salvator Rosa; too much like some forbidden woodcut in a tale of terror.
But even all this was not so bad as the blasted heath. I knew it the moment I came upon it at the bottom of a spacious valley; for no other name could fit such thing, or any other thing fit such a name. It was as if the poet had coined the phrase from having seen this one particular region. It must, I thought as I viewed it, be the outcome of a fire; but why had nothing new ever grown over those five acres of grey desolation that sprawled open to the sky like a great spot eaten by acid in the woods and fields? It lay largely to the north of the ancient road line, but encroached a little on the other side. I felt an odd reluctance about approaching, and did so at last only because my business took me through and past it. There was no vegetation of any kind on that broad expanse, but only a fine grey dust or ash which no wind seemed ever to blow about. The trees near it were sickly and stunted, and many dead trunks stood or lay rotting at the rim. As I walked hurriedly by I saw the tumbled bricks and stones of an old chimney and cellar on my right, and the yawning black maw of an abandoned well whose stagnant vapours played strange tricks with the hues of the sunlight. Even the long, dark woodland climb beyond seemed welcome in contrast, and I marvelled no more at the frightened whispers of Arkham people. There had been no house or ruin near; even in the old days the place must have been lonely and remote. And at twilight, dreading to repass that ominous spot, I walked circuitously back to the town by the curving road on the south. I vaguely wished some clouds would gather, for an odd timidity about the deep skyey voids above had crept into my soul.
In the evening I asked old people in Arkham about the blasted heath, and what was meant by that phrase "strange days" which so many evasively muttered. I could not, however, get any good answers, except that all the mystery was much more recent than I had dreamed. It was not a matter of old legendry at all, but something within the lifetime of those who spoke. It had happened in the 'eighties, and a family had disappeared or was killed. Speakers would not be exact; and because they all told me to pay no attention to old Ammi Pierce's crazy tales, I sought him out the next morning, having heard that he lived alone in the ancient tottering cottage where the trees first begin to get very thick. It was a fearsomely ancient place, and had begun to exude the faint miasmal odour which clings about houses that have stood too long. Only with persistent knocking could I rouse the aged man, and when he shuffled timidly to the door I could tell he was not glad to see me. He was not so feeble as I had expected; but his eyes drooped in a curious way, and his unkempt clothing and white beard made him seem very worn and dismal.
Not knowing just how he could best be launched on his tales, I feigned a matter of business; told him of my surveying, and asked vague questions about the district. He was far brighter and more educated than I had been led to think, and before I knew it had grasped quite as much of the subject as any man I had talked with in Arkham. He was not like other rustics I had known in the sections where reservoirs were to be. From him there were no protests at the miles of old wood and farmland to be blotted out, though perhaps there would have been had not his home lain outside the bounds of the future lake. Relief was all that he showed; relief at the doom of the dark ancient valleys through which he had roamed all his life. They were better under water now-better under water since the strange days. And with this opening his husky voice sank low, while his body leaned forward and his right forefinger began to point shakily and impressively.
It was then that I heard the story, and as the rambling voice scraped and whispered on I shivered again and again despite the summer day. Often I had to recall the speaker from ramblings, piece out scientific points which he knew only by a fading parrot memory of professors' talk, or bridge over gaps, where his sense of logic and continuity broke down. When he was done I did not wonder that his mind had snapped a trifle, or that the folk of Arkham would not speak much of the blasted heath. I hurried back before sunset to my hotel, unwilling to have the stars come out above me in the open; and the next day returned to Boston to give up my position. I could not go into that dim chaos of old forest and slope again, or face another time that grey blasted heath where the black well yawned deep beside the tumbled bricks and stones. The reservoir will soon be built now, and all those elder secrets will lie safe forever under watery fathoms. But even then I do not believe I would like to visit that country by night-at least not when the sinister stars are out; and nothing could bribe me to drink the new city water of Arkham.
It all began, old Ammi said, with the meteorite. Before that time there had been no wild legends at all since the witch trials, and even then these western woods were not feared half so much as the small island in the Miskatonic where the devil held court beside a curious stone altar older than the Indians. These were not haunted woods, and their fantastic dusk was never terrible till the strange days. Then there had come that white noontide cloud, that string of explosions in the air, and that pillar of smoke from the valley far in the wood. And by night all Arkham had heard of the great rock that fell out of the sky and bedded itself in the ground beside the well at the Nahum Gardner place. That was the house which had stood where the blasted heath was to come-the trim white Nahum Gardner house amidst its fertile gardens and orchards.
Nahum had come to town to tell people about the stone, and had dropped in at Ammi Pierce's on the way. Ammi was forty then, and all the queer things were fixed very strongly in his mind. He and his wife had gone with the three professors from Miskatonic University who hastened out the next morning to see the weird visitor from unknown stellar space, and had wondered why Nahum had called it so large the day before. It had shrunk, Nahum said as he pointed out the big brownish mound above the ripped earth and charred grass near the archaic well-sweep in his front yard; but the wise men answered that stones do not shrink. Its heat lingered persistently, and Nahum declared it had glowed faintly in the night. The professors tried it with a geologist's hammer and found it was oddly soft. It was, in truth, so soft as to be almost plastic; and they gouged rather than chipped a specimen to take back to the college for testing. They took it in an old pail borrowed from Nahum's kitchen, for even the small piece refused to grow cool. On the trip back they stopped at Ammi's to rest, and seemed thoughtful when Mrs. Pierce remarked that the fragment was growing smaller and burning the bottom of the pail. Truly, it was not large, but perhaps they had taken less than they thought.
The day after that-all this was in June of '82-the professors had trooped out again in a great excitement. As they passed Ammi's they told him what queer things the specimen had done, and how it had faded wholly away when they put it in a glass beaker. The beaker had gone, too, and the wise men talked of the strange stone's affinity for silicon. It had acted quite unbelievably in that well-ordered laboratory; doing nothing at all and showing no occluded gases when heated on charcoal, being wholly negative in the borax bead, and soon proving itself absolutely non-volatile at any producible temperature, including that of the oxy-hydrogen blowpipe. On an anvil it appeared highly malleable, and in the dark its luminosity was very marked. Stubbornly refusing to grow cool, it soon had the college in a state of real excitement; and when upon heating before the spectroscope it displayed shining bands unlike any known colours of the normal spectrum there was much breathless talk of new elements, bizarre optical properties, and other things which puzzled men of science are wont to say when faced by the unknown.
Hot as it was, they tested it in a crucible with all the proper reagents. Water did nothing. Hydrochloric acid was the same. Nitric acid and even aqua regia merely hissed and spattered against its torrid invulnerability. Ammi had difficulty in recalling all these things, but recognized some solvents as I mentioned them in the usual order of use. There were ammonia and caustic soda, alcohol and ether, nauseous carbon disulphide and a dozen others; but although the weight grew steadily less as time passed, and the fragment seemed to be slightly cooling, there was no change in the solvents to show that they had attacked the substance at all. It was a metal, though, beyond a doubt. It was magnetic, for one thing; and after its immersion in the acid solvents there seemed to be faint traces of the Widmänstätten figures found on meteoric iron. When the cooling had grown very considerable, the testing was carried on in glass; and it was in a glass beaker that they left all the chips made of the original fragment during the work. The next morning both chips and beaker were gone without trace, and only a charred spot marked the place on the wooden shelf where they had been.
All this the professors told Ammi as they paused at his door, and once more he went with them to see the stony messenger from the stars, though this time his wife did not accompany him. It had now most certainly shrunk, and even the sober professors could not doubt the truth of what they saw. All around the dwindling brown lump near the well was a vacant space, except where the earth had caved in; and whereas it had been a good seven feet across the day before, it was now scarcely five. It was still hot, and the sages studied its surface curiously as they detached another and larger piece with hammer and chisel. They gouged deeply this time, and as they pried away the smaller mass they saw that the core of the thing was not quite homogeneous.
They had uncovered what seemed to be the side of a large coloured globule embedded in the substance. The colour, which resembled some of the bands in the meteor's strange spectrum, was almost impossible to describe; and it was only by analogy that they called it colour at all. Its texture was glossy, and upon tapping it appeared to promise both brittleness and hollowness. One of the professors gave it a smart blow with a hammer, and it burst with a nervous little pop. Nothing was emitted, and all trace of the thing vanished with the puncturing. It left behind a hollow spherical space about three inches across, and all thought it probable that others would be discovered as the enclosing substance wasted away.
Conjecture was vain; so after a futile attempt to find additional globules by drilling, the seekers left again with their new specimen-which proved, however, as baffling in the laboratory as its predecessor. Aside from being almost plastic, having heat, magnetism, and slight luminosity, cooling slightly in powerful acids, possessing an unknown spectrum, wasting away in air, and attacking silicon compounds with mutual destruction as a result, it presented no identifying features whatsoever; and at the end of the tests the college scientists were forced to own that they could not place it. It was nothing of this earth, but a piece of the great outside; and as such dowered with outside properties and obedient to outside laws.
That night there was a thunderstorm, and when the professors went out to Nahum's the next day they met with a bitter disappointment. The stone, magnetic as it had been, must have had some peculiar electrical property; for it had "drawn the lightning," as Nahum said, with a singular persistence. Six times within an hour the farmer saw the lightning strike the furrow in the front yard, and when the storm was over nothing remained but a ragged pit by the ancient well-sweep, half-chocked with caved-in earth. Digging had borne no fruit, and the scientists verified the fact of the utter vanishment. The failure was total; so that nothing was left to do but go back to the laboratory and test again the disappearing fragment left carefully cased in lead. That fragment lasted a week, at the end of which nothing of value had been learned of it. When it had gone, no residue was left behind, and in time the professors felt scarcely sure they had indeed seen with waking eyes that cryptic vestige of the fathomless gulfs outside; that lone, weird message from other universes and other realms of matter, force, and entity.
As was natural, the Arkham papers made much of the incident with its collegiate sponsoring, and sent reporters to talk with Nahum Gardner and his family. At least one Boston daily also sent a scribe, and Nahum quickly became a kind of local celebrity. He was a lean, genial person of about fifty, living with his wife and three sons on the pleasant farmstead in the valley. He and Ammi exchanged visits frequently, as did their wives; and Ammi had nothing but praise for him after all these years. He seemed slightly proud of the notice his place had attracted, and talked often of the meteorite in the succeeding weeks. That July and August were hot; and Nahum worked hard at his haying in the ten-acre pasture across Chapman's Brook; his rattling wain wearing deep ruts in the shadowy lanes between. The labour tired him more than it had in other years, and he felt that age was beginning to tell on him.
Then fell the time of fruit and harvest. The pears and apples slowly ripened, and Nahum vowed that his orchards were prospering as never before. The fruit was growing to phenomenal size and unwonted gloss, and in such abundance that extra barrels were ordered to handle the future crop. But with the ripening came sore disappointment, for of all that gorgeous array of specious lusciousness not one single jot was fit to eat. Into the fine flavour of the pears and apples had crept a stealthy bitterness and sickishness, so that even the smallest of bites induced a lasting disgust. It was the same with the melons and tomatoes, and Nahum sadly saw that his entire crop was lost. Quick to connect events, he declared that the meteorite had poisoned the soil, and thanked Heaven that most of the other crops were in the upland lot along the road.