Đã hiệu đính

CHƯƠNG II.

Năm ấy, mùa đông ập đến sớm hơn thường lệ, mang theo cái lạnh thấu xương. Ammi ít chạm mặt Nahum hơn trước, nhưng anh nhận thấy người hàng xóm của mình bắt đầu lộ rõ vẻ âu lo. Sự lầm lì dường như cũng dần lây lan sang cả gia đình bác; họ vắng bóng trong những buổi lễ nhà thờ hay các dịp hội hè quanh vùng. Chẳng ai hiểu rõ ngọn nguồn của nét ưu tư và sự khép kín đó, dù thỉnh thoảng, họ cũng thú nhận về thể trạng sa sút cùng một nỗi bất an mông lung. Chính miệng Nahum từng đưa ra lời giải thích rõ ràng nhất: bác bồn chồn không yên trước những vết chân lạ hằn trên nền tuyết trắng. Đáng lẽ ra, đó chỉ là dấu tích quen thuộc của lũ sóc đỏ, thỏ tuyết hay cáo hoang dạo bước giữa ngày đông. Thế nhưng, người nông dân với vẻ mặt rầu rĩ kia lại khăng khăng cho rằng hình dáng và khoảng cách giữa các bước chân có gì đó không ổn. Bác chẳng bao giờ chỉ đích danh sự dị thường ấy, mà chỉ ngầm ám chỉ rằng chúng mang một cấu trúc xương cốt và tập tính xa lạ, vượt ngoài bản chất của những sinh vật quen thuộc kia. Ban đầu, Ammi vốn gạt ngoài tai chuyện này, cho đến một đêm trăng sáng nọ. Trên đường từ Clark's Corners đánh xe trượt tuyết trở về, anh tình cờ đi ngang trang trại của Nahum. Chợt một con thỏ vọt ngang qua đường, tung mình bằng những cú nhảy dài đến mức cả Ammi lẫn con ngựa anh đang cưỡi đều không mấy dễ chịu. Thực tình, nếu anh không giật mạnh dây cương, con ngựa đã hoảng loạn lồng lên mà cắm đầu bỏ chạy. Kể từ đêm đó, Ammi bắt đầu bận tâm hơn đến những lời Nahum kể. Anh thầm thắc mắc, cớ sao lũ chó nhà Gardner mỗi độ bình minh lại co rúm người lại, không ngừng run rẩy. Hóa ra, chúng đã sợ hãi đến mức chẳng còn dũng khí để sủa vang như trước nữa.

Bước sang tháng Hai, mấy cậu con trai nhà McGregor từ Meadow Hill vác súng đi săn chồn đất. Ngay gần trang trại nhà Gardner, chúng tóm được một sinh vật kỳ dị đến rợn người. Cấu trúc cơ thể con vật dường như bị bóp méo đôi chút, tạo nên một tỉ lệ dị thường khó tả, còn khuôn mặt nó lại mang một nét biểu cảm chưa từng hiện diện ở bất kỳ loài chồn nào. Lũ trẻ kinh khiếp tột độ, vội vàng quẳng thứ sinh vật gớm ghiếc ấy đi, hệ quả là người dân quanh vùng chỉ còn được nghe kể lại qua những lời đồn đại đầy ám ảnh. Dẫu vậy, chuyện những con ngựa cứ đi ngang qua nhà Nahum lại lồng lên hoảng loạn đã trở thành sự thật hiển nhiên ai cũng phải thừa nhận. Đó chính là manh nha cho vô số những truyền thuyết ma mị, râm ran lan truyền khắp các ngõ ngách.

Người ta quả quyết rằng tuyết quanh khu vực nhà Nahum tan chảy nhanh hơn hẳn bất cứ nơi nào khác. Tới đầu tháng Ba, một cuộc bàn tán nhuốm màu sợ hãi đã nổ ra ngay tại cửa hàng bách hóa Potter ở Clark's Corners. Sáng hôm ấy, Stephen Rice đánh xe ngang qua nhà Gardner và sững sờ khi thấy những cây bắp cải hôi1 đội bùn mọc lên bên bìa rừng đối diện. Xưa nay, chưa một ai từng chứng kiến những thân cây to lớn đến ngần ấy, khoác lên mình những sắc độ dị thường vượt ngoài khả năng miêu tả của con người. Hình dáng chúng vặn xoắn quái gở, và con ngựa của Stephen liên tục khịt mũi, bồn chồn trước một thứ mùi nồng nặc chưa từng ngửi thấy bao giờ. Ngay chiều hôm đó, vài người vì tò mò đã tự mình đánh xe qua để tận mắt chứng kiến sự sinh sôi dị dạng kia. Tất cả đều đồng tình rằng: những thứ thực vật thế này vĩnh viễn không nên đâm chồi trong một thế giới an lành. Những trái cây thối rữa của mùa thu năm ngoái nhanh chóng được đem ra bàn tán, làm dấy lên lời đồn đại rằng thứ đất quanh nhà Nahum đã nhiễm độc tố. Căn nguyên, tất nhiên là do mảnh thiên thạch kia gieo rắc. Nhớ lại thái độ bối rối của mấy vị học giả đại học trước sự kỳ dị của khối đá, vài nông dân bèn tìm đến họ để kể lại mọi chuyện.

Một ngày nọ, các học giả đã cất công đến thăm Nahum. Vốn dĩ chẳng mấy mặn mà với những câu chuyện dân gian đầy màu sắc huyễn hoặc, họ trở nên vô cùng cẩn trọng trong từng lời phán đoán. Quả thực, đám bắp cải kia trông có phần kỳ lạ, nhưng xét cho cùng, bất kỳ cây bắp cải hôi nào cũng mang sẵn vẻ quái dị về cả hình dáng lẫn sắc màu. Họ cho rằng, rất có thể một nguyên tố khoáng chất nào đó từ khối đá đã rỉ ra và ngấm vào lòng đất, nhưng dĩ nhiên, chúng sẽ sớm bị những cơn mưa rửa trôi. Về phần những dấu chân dị dạng hay bầy ngựa hoảng loạn-ấy hẳn chỉ là những lời thêu dệt vặt vãnh chốn đồng quê, một hệ quả tất yếu sau sự xuất hiện của vệt thiên thạch sa. Những trí thức nghiêm túc như họ chẳng việc gì phải nhọc lòng bận tâm đến mớ tin đồn nhảm nhí, bởi lũ nông phu mê tín vốn dĩ luôn tin và truyền miệng đủ thứ chuyện trên đời. Cứ thế, trong suốt chuỗi ngày kỳ quái tiếp nối, các vị giáo sư chọn cách giữ khoảng cách, nhìn đám người quê mùa bằng ánh mắt khinh miệt. Mãi đến tận hơn một năm rưỡi sau, khi tiếp nhận hai lọ bụi cần giám định cho một vụ án hình sự, một vị giáo sư trong đoàn mới bàng hoàng sực nhớ lại. Thứ màu sắc kỳ dị vấy trên đám bắp cải hôi dạo nọ hoàn toàn trùng khớp với một trong những dải quang phổ bất thường mà khối thiên thạch từng phát ra tại phòng thí nghiệm đại học, và cũng giống hệt như khối cầu giòn xốp bí ẩn nằm kẹt giữa lớp đá đến từ nơi vực thẳm vũ trụ kia. Mấy mẫu vật trong cuộc phân tích sau này, lúc ban đầu, cũng ánh lên những dải màu tương tự, dù rằng đặc tính đó đã phai nhạt và biến mất ngay sau đó.

Xung quanh trang trại nhà Nahum, cây cối đua nhau đâm chồi sớm hơn hẳn mọi nơi. Đêm đến, chúng ngả nghiêng đung đưa trong gió, mang theo một dự cảm chẳng lành. Thaddeus, cậu con trai mười lăm tuổi của Nahum, từng thề thốt rằng đám cây ấy thậm chí vẫn không ngừng lay động ngay cả khi chẳng có lấy một luồng gió nào thổi qua. Lời khẳng định này hoang đường đến nỗi ngay cả những kẻ lê la đưa chuyện ác ý nhất cũng chẳng thèm tin. Tuy nhiên, rõ ràng có một sự bồn chồn, nghẹt thở đang âm thầm len lỏi vào từng ngóc ngách của không gian. Gia đình Gardner dần sinh ra một thói quen kỳ quái: họ thường hay lén lút vểnh tai nghe ngóng vạn vật, dẫu chẳng để ý tìm kiếm một âm thanh cụ thể nào mà ý thức có thể gọi tên. Thực chất, hành động lắng nghe ấy giống như tàn dư của những khoảnh khắc nửa tỉnh nửa mê, khi lý trí chực chờ tuột khỏi tầm kiểm soát. Thật bất hạnh thay, những khoảnh khắc quái gở như thế cứ ngày một thường xuyên hơn qua mỗi tuần lễ, cho đến khi cụm từ "nhà Nahum có chuyện rồi" trở thành câu cửa miệng của dân quanh vùng. Hoa tai hùm cũng bừng nở sớm, khoác lên mình một lớp màu xa lạ khác biệt; không hẳn trùng khớp với màu của đám bắp cải hôi, nhưng chắc chắn là có chút dây dưa và hoàn toàn nằm ngoài hiểu biết của bất kỳ ai từng tận mắt chứng kiến. Nahum đã thử ngắt vài bông hoa mang tới Arkham để trình diện ngài tổng biên tập tờ Gazette. Thế nhưng, vị chức sắc đáng kính kia lại đáp lại bằng việc xuất bản một bài viết mỉa mai, qua đó dùng những câu từ lịch thiệp để giễu cợt nỗi sợ hãi mông lung của những người nông phu. Đó quả là một sai lầm cay đắng của Nahum khi trót dại đem kể cho một gã thị dân lãnh cảm nghe chuyện lũ bướm áo choàng tang2 khổng lồ, phát triển quá lố, đã có những biểu hiện điên loạn ra sao mỗi khi bâu vào đám hoa tai hùm nhầy nhụa kia.

Tháng Tư gõ cửa mang theo một cơn điên loạn lan tỏa khắp chốn thôn dã. Con đường cắt ngang qua nhà Nahum thưa thớt dần, để rồi bị bỏ hoang hoàn toàn. Kế đó là sự biến dị của thảm thực vật. Khắp khu vườn, mọi nụ hoa đều bung nở bằng những gam màu quái đản, và len lỏi qua tầng đất đá của khoảng sân lẫn đồng cỏ lân cận, một thảm thực vật ghê rợn trồi lên - thứ mà có lẽ chỉ những nhà thực vật học mới dám miễn cưỡng gán ghép với hệ sinh thái địa phương. Khắp chốn, chẳng còn sót lại bóng dáng của một sắc độ bình thường, khỏe mạnh nào, ngoại trừ chút xanh vớt vát của cỏ và lá cây. Thế nhưng, bao trùm lên tất thảy lại là những đốm sáng lập lòe, loạn sắc của một tông màu chủ đạo thối rữa, một thứ ánh sáng bệnh hoạn ẩn mình từ sâu thẳm, hoàn toàn nằm ngoài quang phổ từng được biết đến trên Trái đất. Những bụi "quần đùi Hà Lan"3 biến chất thành thứ cỏ mang một mối hiểm họa ngầm, trong khi đám rễ máu4 lại ngang ngược mọc lên, phô bày sự méo mó tột cùng về hình thái. Ammi và nhà Gardner đều rùng mình nhận ra một sự quen thuộc đáng sợ trong những gam màu ấy; họ thầm chắc mẩm rằng chúng chính là hiện thân của khối cầu giòn xốp bên trong mảnh thiên thạch nọ. Nahum vẫn cần mẫn cày xới và gieo hạt trên đồng cỏ rộng mười mẫu cùng mảnh nương trên khu đất cao, nhưng đành buông xuôi, bỏ hoang phần đất bao quanh nhà. Bác thừa hiểu mọi cố gắng giờ đây đều vô vọng, chỉ đành tự an ủi rằng đám thực vật kỳ quái của mùa hè sẽ hút kiệt chất độc khỏi mảnh đất quê hương. Bác giờ đây đã chai lỳ, sẵn sàng đối diện với vạn sự, dần quen thuộc với cảm giác luôn có một thứ vô hình chực chờ vây quanh, đòi hỏi sự lắng nghe. Đương nhiên, cảnh xóm giềng xa lánh ít nhiều cũng gặm nhấm tâm trí bác; nhưng chính vợ bác mới là người gánh chịu tổn thương sâu sắc hơn cả. Bọn trẻ trông có vẻ khá khẩm hơn nhờ ngày ngày được cắp sách đến trường; tuy vậy, những lời đồn đại râm ran vẫn gieo rắc vào tâm hồn chúng nỗi kinh hoàng dai dẳng. Thaddeus, một thiếu niên sinh ra với bản tính nhạy cảm bẩm sinh, trở thành người hứng chịu nhiều dằn vặt thầm kín nhất.

Vào tháng Năm, bầy côn trùng ồ ạt kéo đến, biến trang trại nhà Nahum thành một cơn ác mộng rùng rợn tràn ngập tiếng vo ve và những sinh vật bò lúc nhúc. Hầu hết lũ côn trùng này đều mang những hình thù và cử động hết sức dị thường, trong khi thói quen hoạt động về đêm của chúng thì hoàn toàn đi ngược lại mọi quy luật tự nhiên từng biết. Gia đình Gardner bắt đầu thức canh thâu đêm-đưa mắt dáo dác nhìn quanh để tìm kiếm một thứ gì đó vô hình, không thể gọi tên. Chính vào lúc ấy, mọi người đều phải thừa nhận rằng Thaddeus đã đúng về những cái cây. Vợ bác Nahum là người tiếp theo chứng kiến hiện tượng kỳ lạ ấy qua khung cửa sổ, khi bà nhìn chằm chằm vào những nhánh phong sưng phù in bóng đen kịt trên nền trời ngập ánh trăng. Chắc chắn những cành cây ấy đang cử động, dù đêm đó trời lặng gió. Có lẽ là do nhựa cây chăng. Giờ đây, sự biến đổi quái gở này đã ăn sâu vào mọi sinh vật đang phát triển. Thế nhưng, người tiếp theo phát hiện ra điều bất thường lại chẳng phải là thành viên nào trong gia đình Nahum. Chính sự quen thuộc đã che mắt họ. Những thứ gia đình bác không còn nhận ra lại lọt thẳng vào mắt một người bán cối xay gió rụt rè đến từ Bolton. Gã lái xe đi ngang qua khu vực này vào một đêm nọ, hoàn toàn mù tịt về những lời đồn đại kỳ quái ở vùng quê. Những gì gã kể lại ở Arkham chỉ được đăng vỏn vẹn trong một bản tin vắn trên tờ Gazette; và đó cũng là lần đầu tiên những người nông dân, kể cả bác Nahum, biết đến chuyện này. Hôm ấy, màn đêm buông xuống tối đen như mực và ánh đèn xe ngựa thì leo lét, nhưng quanh khu trang trại nằm lọt thỏm dưới thung lũng-mà ai đọc bài báo cũng thừa biết là nhà Nahum-bóng tối dường như loãng ra phần nào. Một thứ ánh sáng lờ mờ nhưng hiển hiện rõ rệt dường như toát ra từ mọi loài cây cỏ, từ ngọn cỏ, tán lá cho đến những bông hoa. Thậm chí có khoảnh khắc, một mảng lân quang tách rời dường như khẽ khàng cựa quậy đầy mờ ám ngay trong khoảng sân gần nhà kho.

Đến thời điểm đó, những bãi cỏ có vẻ như vẫn chưa bị ảnh hưởng. Đàn bò vẫn được chăn thả tự do trên mảnh đất quanh nhà, nhưng khi tháng Năm sắp cạn ngày, sữa của chúng bắt đầu ôi thiu một cách khó hiểu. Bác Nahum đành lùa bầy bò lên những vùng đất cao hơn, và quả nhiên hiện tượng sữa hỏng cũng chấm dứt. Thế nhưng không lâu sau, sự biến đổi của thảm cỏ và lá cây ngày càng phơi bày rõ rệt trước mắt. Sắc xanh tươi tắn dần phai nhạt, nhường chỗ cho một màu xám xịt, úa tàn, đồng thời cỏ cây cũng trở nên giòn xốp đến độ dị thường. Anh Ammi giờ đây là vị khách duy nhất còn lai vãng tới trang trại, nhưng những chuyến ghé thăm của anh cũng thưa thớt dần. Kể từ khi trường học đóng cửa, gia đình Gardner gần như hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài. Đôi khi, họ đành nhờ anh Ammi đi mua giúp vài món đồ lặt vặt ngoài thị trấn. Cả gia đình đang suy sụp một cách lạ lùng, héo mòn cả về thể xác lẫn tinh thần. Bởi vậy, chẳng ai mấy ngạc nhiên khi những lời xì xầm về sự điên loạn của vợ bác Nahum bắt đầu lan truyền khắp vùng.

Thảm kịch thực sự ập đến vào tháng Sáu, đúng vào khoảng thời điểm tròn một năm ngày dị vật từ trên trời rơi xuống. Người vợ tội nghiệp của bác Nahum bắt đầu gào thét về những thứ trôi nổi lơ lửng trong không trung mà bà chẳng tài nào diễn tả nổi. Trong những cơn mê sảng điên dại ấy, bà không thốt ra được một danh từ cụ thể nào; tất cả chỉ là những động từ và đại từ chắp vá. Bà gào lên rằng mọi thứ đều đang chuyển động, biến đổi và rung bần bật, rằng màng nhĩ bà đang nhói buốt vì những luồng chấn động kỳ quái, chẳng hẳn là âm thanh. Có thứ gì đó đã bị tước đoạt-bà đang bị rút cạn sinh lực-có một thứ gì đó không thuộc về thế giới này đang bám chặt lấy bà-ai đó hãy xua đuổi nó đi-chẳng có thứ gì chịu đứng yên trong màn đêm-những bức tường và khung cửa sổ đều đang xê dịch. Bác Nahum không nỡ đưa vợ vào trại thương điên của quận. Bác để bà tha thẩn quanh nhà, miễn là bà không tự làm hại bản thân hay tấn công người khác. Thậm chí, ngay cả khi nét mặt bà bắt đầu biến đổi, bác cũng chẳng hề làm gì. Thế nhưng, khi bầy trẻ con bắt đầu khiếp sợ mẹ mình, và Thaddeus suýt ngất lịm trước nụ cười nhăn nhở quái gở của bà, bác đành cắn răng nhốt vợ trên căn gác xép. Bước sang tháng Bảy, bà đã hoàn toàn câm lặng và bắt đầu bò lê lết bằng bốn chân. Trước khi tháng Bảy khép lại, trong đầu bác Nahum nảy sinh một ý nghĩ điên rồ: dường như cơ thể bà đang phát ra một thứ ánh sáng mờ ảo trong bóng tối, y hệt như quầng sáng dị thường mà bác giờ đây có thể nhìn thấy rõ rệt trên đám cây cỏ quanh nhà.

Một thời gian ngắn trước sự việc đó, bầy ngựa đã trở nên hoảng loạn và bỏ chạy tán loạn. Có thứ gì đó đã đánh thức chúng giữa đêm khuya; tiếng ngựa hí cuồng loạn xen lẫn những cú đá phá chuồng tạo nên một thứ âm thanh kinh hoàng. Không ai có thể làm gì để xoa dịu chúng. Khi bác Nahum vừa hé mở cửa chuồng, tất cả bầy ngựa liền lao vọt ra ngoài, lồng lên như những con hươu hoang dại đang bị truy đuổi. Phải mất ròng rã cả tuần lễ người ta mới lùng bắt lại được đủ bốn con. Nhưng khi được đưa về, lũ ngựa đã trở nên hoàn toàn vô dụng, không tài nào điều khiển nổi nữa. Dường như có thứ gì đó đã vỡ nát trong não bộ chúng. Cuối cùng, để giải thoát bầy ngựa khỏi cơn điên loạn, người ta đành phải bắn hạ từng con một. Bác Nahum mượn tạm một con ngựa của anh Ammi để kéo chiếc xe chở cỏ khô, nhưng con vật nhất quyết không chịu bước tới gần nhà kho. Nó lồng lộn chồm hai chân trước lên cao, lùi bước và hí vang thảm thiết. Bất lực, bác Nahum đành lùa con ngựa vào sân, để rồi tự mình cùng những người đàn ông khác hì hục dùng sức người kéo chiếc xe kéo nặng nề tiến sát vựa cỏ khô. Trong suốt quãng thời gian thảm khốc ấy, thảm thực vật quanh nhà vẫn không ngừng héo rũ, chuyển sang màu xám xịt và giòn tan. Thậm chí, những nụ hoa từng mang màu sắc lố lăng dị hợm giờ đây cũng phai tàn thành màu tro xám. Trái cây trên cành thì còi cọc, xam xám và nhạt thếch. Cúc tây và cúc hoàng anh đua nhau bung nở những cánh hoa xám ngoét, méo mó. Những bụi hồng, cúc bách nhật cùng hoa thục quỳ mọc ngoài sân trước nay khoác lên mình một vẻ ngoài báng bổ, dị hợm đến mức Zenas-cậu con trai lớn của bác Nahum-đã phải tự tay chặt bỏ tất cả. Đám côn trùng với thân hình phình to quái gở cũng bắt đầu chết la liệt vào khoảng thời gian đó, và ngay cả bầy ong cũng rủ nhau bỏ tổ, trốn bặt vào tận rừng sâu.

Bước sang tháng Chín, mọi thảm thực vật thi nhau mủn ra thành thứ bột xám xịt. Nahum nơm nớp lo sợ cây cối sẽ chết đứng trước khi chất độc kịp tan khỏi nền đất. Vợ bác lúc này thi thoảng lại rú lên những tràng la hét kinh hoàng, đẩy tâm trí bác và lũ trẻ vào tình trạng căng thẳng tột độ. Cả gia đình bắt đầu xa lánh mọi người; thậm chí khi trường học mở cửa, lũ trẻ cũng chẳng buồn đến lớp. Trong một dịp ghé thăm hiếm hoi, chính Ammi là người đầu tiên nhận ra nước giếng không còn dùng được nữa. Nó bốc lên một mùi vị kinh tởm, chẳng hẳn là tanh tưởi nhưng cũng không ra vị mặn chát. Anh khuyên bạn mình nên đào một cái giếng mới ở khu đất cao hơn để xài tạm cho đến khi đất đai phục hồi. Thế nhưng, Nahum lại bỏ ngoài tai lời cảnh báo ấy, bởi lẽ lúc bấy giờ, bác đã trở nên trơ lì trước muôn vàn điều kỳ dị và ngột ngạt bao trùm. Bác cùng bọn trẻ vẫn tiếp tục sử dụng nguồn nước ô nhiễm, ngửa cổ uống một cách đờ đẫn, máy móc, hệt như cái cách họ nhai nuốt những bữa ăn đạm bạc, nấu nướng qua quýt và lặp đi lặp lại những công việc vặt vãnh, vô vị qua chuỗi ngày tháng mông lung. Tất cả bọn họ dường như chìm trong một sự cam chịu đến vô hồn, tựa những bóng ma đang mải miết bước đi giữa một thế giới xa lạ, bị kẹp giữa hai hàng lính canh vô hình, lầm lũi tiến về phía một tấn bi kịch đã được định đoạt từ trước.

Tháng Chín u ám ấy, Thaddeus bỗng hóa điên sau một lần ra giếng gánh nước. Cậu mang theo cái xô nhưng lại trở về tay không, vừa la hét vừa quờ quạng đôi tay loạn xạ. Thỉnh thoảng, cậu lại bật cười rúc rích một cách vô hồn, miệng thì thầm lảm nhảm về "những màu sắc chuyển động dưới đó". Hai người hóa điên trong cùng một mái nhà quả là một tình cảnh tồi tệ, vậy mà Nahum vẫn dũng cảm đối mặt với nó. Bác để cậu con trai điên dại chạy nhảy tự do suốt cả một tuần, mãi cho đến khi Thaddeus vấp ngã và tự gây thương tích đầy mình, bác mới đành nhốt cậu vào căn phòng trên gác xép, nằm đối diện với phòng mẹ cậu qua một hành lang hẹp. Âm thanh hai mẹ con gào thét đáp trả nhau từ phía sau những cánh cửa khóa kín thật sự là nỗi kinh hoàng tột độ. Điều đó đặc biệt ám ảnh với cậu bé Merwin, người luôn huyễn hoặc rằng mẹ và anh trai đang giao tiếp bằng một thứ tử ngữ ghê rợn nào đó không thuộc về thế giới loài người. Trí tưởng tượng của Merwin ngày càng trở nên phong phú đến mức đáng sợ, và sự hoảng loạn bồn chồn trong cậu càng bị đẩy lên đỉnh điểm sau khi người anh trai - cũng là người bạn đồng hành thân thiết nhất của cậu - bị giam cầm.

Gần như cùng thời điểm đó, cái chết bắt đầu giáng xuống đàn gia súc. Lũ gia cầm nhanh chóng ngả sang màu xám ngoét rồi lăn ra chết hàng loạt; thịt của chúng khi mổ ra khô khốc và bốc mùi hôi thối nồng nặc. Bầy lợn thì bỗng chốc phình to dị thường, để rồi đột ngột trải qua những đợt biến đổi hình hài gớm ghiếc mà không một ai có thể lý giải nổi. Chẳng cần phải nói, thịt của chúng đã biến thành thứ phế phẩm kinh tởm, và Nahum chỉ biết đứng nhìn trong sự bất lực tột cùng. Chẳng một tay bác sĩ thú y miệt vườn nào chịu bén mảng đến trang trại của bác, còn vị bác sĩ thú y trên tỉnh lặn lội từ Arkham tới cũng đành công khai thừa nhận sự bó tay. Đám lợn bắt đầu hóa xám, toàn thân giòn xốp rồi lở lói, vỡ vụn ra thành từng mảnh ngay khi còn thoi thóp thở, trong lúc đôi mắt và phần mõm của chúng lại có những biến đổi khác thường. Thật là một điều bí ẩn khó hiểu, bởi lũ lợn chưa từng nuốt lấy một ngọn cỏ nào từ thảm thực vật ô nhiễm ngoài kia. Sau đó, một thứ tai ương vô hình lại ập xuống bầy bò. Có những bộ phận, hoặc đôi khi là cả thân hình đồ sộ của chúng, đột nhiên teo tóp hay xẹp lép một cách quái đản, kéo theo vô số những ca suy sụp và tan rã thảm khốc. Ở những giai đoạn cuối cùng-và cái chết luôn là kết cục không thể tránh khỏi-cơ thể chúng lại bị bao phủ bởi lớp da xám xịt và vỡ vụn, hệt như những gì đã ăn mòn đàn lợn trước đó. Chắc chắn không thể là do chất độc, bởi mọi ca tử vong đều diễn ra bên trong một khu nhà kho luôn được khóa trái và chưa từng bị ai đột nhập. Cũng không thể đổ lỗi cho vết cắn của loài dã thú rình rập nào đó mang mầm bệnh tới, vì liệu có sinh vật sống nào trên cõi đời này đủ sức đi xuyên qua những bức tường kiên cố nhường ấy? Lời giải thích duy nhất chỉ có thể là một loại dịch bệnh tự nhiên-nhưng thứ dịch bệnh quái ác nào lại mang sức tàn phá khủng khiếp đến thế thì hoàn toàn nằm ngoài trí tưởng tượng của bất kỳ bộ óc con người nào. Khi mùa thu hoạch gõ cửa, trang trại không còn sót lại lấy một sinh mệnh nào, bởi lẽ toàn bộ gia cầm, gia súc đều đã chết sạch, còn bầy chó thì rủ nhau bỏ trốn. Cả ba con chó săn ấy đã đồng loạt biến mất không sủi tăm vào một đêm thanh vắng, và từ đó chẳng ai còn nghe thấy tung tích gì về chúng nữa. Năm con mèo cũng đã bặt vô âm tín từ trước, nhưng sự biến mất của chúng dường như chẳng hề gợi sự chú ý. Bởi lẽ giờ đây, lũ chuột bọ cũng đã tuyệt tích, và trong cả gia đình, chỉ có duy nhất vợ Nahum là còn đoái hoài coi những sinh vật duyên dáng ấy như thú cưng.


Vào ngày mười chín tháng Mười, Nahum loạng choạng bước vào nhà Ammi, mang theo một hung tin kinh hoàng. Cái chết đã tìm đến Thaddeus tội nghiệp trong chính căn phòng bị khóa kín trên gác xép, và nó ập đến theo một cách thức kinh tởm đến mức chẳng thể cất thành lời. Nahum đành đào một huyệt mộ trong khu nghĩa trang gia đình có hàng rào bao quanh phía sau trang trại, và chôn cất những gì còn sót lại mà bác tìm thấy. Rõ ràng không một thứ gì từ bên ngoài có thể lọt vào trong, bởi ô cửa sổ nhỏ có chấn song và cánh cửa ra vào bị khóa kín vẫn còn nguyên vẹn; thế nhưng tình trạng thi thể lại hệt như những gì từng xảy ra với lũ gia súc trong nhà kho. Ammi cùng vợ đã cố gắng hết sức để an ủi người đàn ông đang chìm trong hố sâu tuyệt vọng ấy, dẫu chính bản thân họ cũng không ngừng run rẩy. Một nỗi khiếp đảm tột cùng dường như đang bủa vây lấy gia đình Gardner cùng tất cả những gì họ chạm vào. Giờ đây, chỉ riêng sự hiện diện của một người trong gia đình đó cũng mang theo hơi thở của một cõi vô danh, một nơi chốn không thể gọi tên.

Với sự miễn cưỡng đến cực điểm, Ammi đi cùng Nahum về lại trang trại, cố gắng làm mọi cách để xoa dịu tiếng nức nở đầy cuồng loạn của cậu bé Merwin. Zenas thì lại chẳng cần ai dỗ dành. Dạo gần đây, thằng bé không làm gì khác ngoài việc buông ánh nhìn vô hồn vào cõi hư vô, ngoan ngoãn làm theo mọi mệnh lệnh của cha như một cỗ máy; và Ammi thầm nghĩ, có lẽ số phận đã quá đỗi nhân từ với cậu bé ấy rồi. Thỉnh thoảng, những tiếng gào thét của Merwin lại nhận được lời đáp trả yếu ớt vọng xuống từ gác xép. Trước ánh mắt dò hỏi của Ammi, Nahum xót xa bộc bạch rằng vợ bác đang yếu đi rất nhiều. Khi màn đêm buông xuống, Ammi rốt cuộc cũng tìm được cớ để thoát khỏi nơi đó. Dù tình bạn có sâu nặng đến mấy, anh cũng chẳng thể ép mình nán lại cái chốn quỷ dị này thêm nữa, nhất là khi lớp ánh sáng nhờ nhờ lân tinh từ đám thảm thực vật bắt đầu hiện rõ, và những tán cây như thể đang đung đưa mà chẳng có lấy một luồng gió nào. Quả là một sự may mắn khôn cùng khi Ammi không phải là một kẻ có trí tưởng tượng phong phú. Trước mọi sự lạ lùng, tâm trí anh cũng chỉ vương đôi chút hoảng loạn; nhưng giá mà anh có khả năng chắp nối và nghiền ngẫm vạn điềm báo dị thường đang bủa vây quanh mình, chắc chắn anh đã hóa thành một gã điên hoàn toàn. Dưới ánh hoàng hôn nhập nhoạng, Ammi vội vã cắm cúi bước về nhà, nhưng tiếng gào thét của người đàn bà điên dại cùng tiếng khóc hoảng loạn của đứa trẻ vẫn vang vọng khủng khiếp, mãi ám ảnh trong màng nhĩ.

Ba ngày sau, từ lúc tờ mờ sáng, Nahum đã lao xộc vào gian bếp nhà Ammi. Nhân lúc chủ nhà đi vắng, bác lại run rẩy lắp bắp kể ra một bi kịch tuyệt vọng mới, trong khi bà Pierce chỉ biết bấu chặt lấy bất cứ thứ gì trong tầm tay, toàn thân cứng đờ vì kinh hãi khi lắng nghe. Lần này, tai ương giáng xuống đầu cậu bé Merwin. Thằng bé đã mất tích. Nửa đêm hôm đó, nó xách theo chiếc đèn lồng cùng một cái xô ra ngoài múc nước, và chẳng bao giờ quay lại nữa. Tinh thần nó vốn đã suy sụp suốt nhiều ngày ròng, đến mức chẳng còn ý thức được những gì mình đang làm. Nó gào thét hoảng loạn với bất cứ thứ gì lọt vào tầm mắt. Trong đêm tối, có một tiếng thét chói tai, rợn ngợp điên dại xé toạc bầu không khí tĩnh mịch ngoài sân, nhưng trước khi người cha kịp lao đến ngưỡng cửa, thằng bé đã hoàn toàn bốc hơi. Không một tia sáng nào phát ra từ chiếc đèn lồng mà nó mang theo, và bản thân đứa trẻ cũng không để lại dù chỉ là một dấu vết nhỏ bé nhất.

Lúc bấy giờ, Nahum còn ngỡ rằng cả chiếc đèn lồng lẫn cái xô cũng đã chịu chung số phận bốc hơi; thế nhưng khi bình minh ló rạng, và người cha khốn khổ lết tấm thân tàn tạ trở về sau một đêm trắng lùng sục khắp các khu rừng cùng đồng cỏ, bác bất chợt phát hiện ra vài vật thể kỳ dị nằm lăn lóc gần miệng giếng. Có một khối sắt bẹp rúm và dường như hơi tan chảy - chắc chắn đó là phần còn lại của chiếc đèn lồng; nằm cạnh đó là một cái tay cầm méo mó cùng những chiếc vòng sắt xoắn tít, cả hai đều đã bị nung chảy một nửa, như ngầm khẳng định đó chính là tàn tích của chiếc xô gỗ. Mọi thứ chỉ có vậy. Nahum lúc này đã hoàn toàn cạn kiệt khả năng tưởng tượng, bà Pierce thì vẫn đang chìm trong cơn đờ đẫn, và ngay cả Ammi, khi trở về nhà và nghe kể lại toàn bộ sự tình, cũng chẳng thể phỏng đoán được bất cứ điều gì. Merwin đã mất tích. Chuyện đem chuyện này đi báo với những người láng giềng xung quanh giờ đây phỏng có ích gì, bởi tất thảy bọn họ đều đã lánh xa gia đình Gardner như tránh tà. Lại càng vô ích hơn nếu đem kể cho những cư dân thành thị ở Arkham, những kẻ chỉ biết cười bỡn cợt trước mọi thứ. Thaddeus đã ra đi, và giờ đến lượt Merwin. Có một thứ gì đó vẫn đang trườn bò, âm thầm trườn bò trong bóng tối, chờ đợi thời khắc để lộ diện và cất tiếng. Nahum cảm nhận rằng cái chết sẽ sớm tìm đến mình, và bác cầu xin Ammi hãy thay mình chăm sóc cho vợ và Zenas, nếu như họ có thể sống thọ hơn bác. Trong cơn bế tắc, người đàn ông ấy tin rằng tất cả những thảm kịch này hẳn là một sự trừng phạt nào đó; dẫu bác không tài nào hình dung nổi nguyên do, bởi theo những gì bác tự biết, bác luôn gìn giữ một cuộc đời ngay thẳng và trung thành trên con đường của Chúa.

Suốt hơn hai tuần liền, Ammi không hề thấy tăm hơi Nahum; và rồi, vì nỗi âu lo về những thảm kịch có thể đã xảy ra, anh vượt qua nỗi sợ hãi để cất bước đến thăm trang trại nhà Gardner. Không có lấy một gợn khói vương lên từ ống khói lớn, và trong một khoảnh khắc, vị khách nhói lòng vì dự cảm tồi tệ nhất. Vẻ bề ngoài của toàn bộ khu trang trại hiện lên thật kinh hoàng-cỏ và lá úa tàn xám xịt rải rác trên mặt đất, những dây leo giòn xốp rũ xuống thành từng đống đổ nát quanh các bức tường và đầu hồi cổ kính, còn những thân cây lớn trơ trụi thì vươn nhánh cào xé bầu trời xám xịt tháng Mười một với một sự ác ý có chủ đích mà Ammi không khỏi cảm thấy là bắt nguồn từ một sự đổi thay quái gở nào đó trong độ nghiêng của các cành cây. Nhưng rốt cuộc, Nahum vẫn còn sống. Bác rất yếu, đang nằm thoi thóp trên chiếc ghế dài trong căn bếp trần thấp, song, bác hoàn toàn tỉnh táo và có thể thốt ra những mệnh lệnh đơn giản cho Zenas. Căn phòng lạnh lẽo đến thấu xương; và khi thấy Ammi run rẩy bần bật, người chủ nhà liền gào lên bằng chất giọng khàn đặc, sai Zenas đi lấy thêm củi. Chỗ củi ấy, quả thực, đang vô cùng cần thiết; bởi cái lò sưởi sâu hoắm như hang động vẫn lạnh ngắt trống không, hắt ra những đám bồ hóng bay mù mịt theo từng cơn gió buốt giá lùa xuống từ ống khói. Một lúc sau, Nahum hỏi anh xem đống củi mới thêm vào có làm anh thấy ấm áp hơn chút nào không, và lúc đó Ammi mới sững sờ nhận ra chuyện gì đã xảy ra. Sợi dây thừng dai dẳng nhất cuối cùng cũng đứt lìa, và tâm trí của người nông dân bất hạnh đã hoàn toàn khép lại vĩnh viễn trước những nỗi đau thương quá đỗi lớn lao.

Dò hỏi một cách khéo léo, Ammi vẫn không tài nào nắm được chút manh mối rõ ràng nào về sự biến mất của Zenas. "Dưới giếng-nó sống dưới giếng-" là tất cả những gì người cha với tâm trí ngập chìm trong sương mù ấy chịu nói. Rồi một ý nghĩ bất ngờ về người vợ hóa điên chợt lóe lên trong đầu vị khách, và anh bèn chuyển hướng điều tra. "Nabby ư? Sao cơ, bà ấy ở ngay đây mà!" là câu trả lời ngạc nhiên đến ngây dại của Nahum tội nghiệp, và Ammi sớm nhận ra rằng anh sẽ phải tự mình tìm kiếm. Bỏ lại người đàn ông lải nhải vô hại trên chiếc ghế dài, anh nhấc chùm chìa khóa từ chiếc đinh cạnh cửa rồi nặng nề lê bước lên những bậc cầu thang cọt kẹt dẫn lên gác xép. Trên đó vô cùng ngột ngạt và bốc mùi hôi thối nồng nặc, tĩnh lặng đến mức không một tiếng động nào vang lên từ bất kỳ hướng nào. Trong số bốn cánh cửa hiện ra trước mắt, chỉ có một cánh bị khóa kín, và anh đã phải thử nhiều chiếc chìa khác nhau trên chùm khóa vừa lấy. Chiếc chìa thứ ba tỏ ra là chìa đúng, và sau một hồi lóng ngóng, Ammi đã tung mở cánh cửa gỗ thấp màu trắng.

Bên trong vô cùng tối tăm, bởi ô cửa sổ nhỏ bé đã bị che khuất một nửa bởi những song sắt bằng gỗ thô kệch; và Ammi chẳng thể nhìn thấy gì trên mặt sàn ghép bằng những tấm ván rộng. Mùi xú uế bốc lên kinh tởm vượt quá sức chịu đựng, và trước khi kịp bước vào sâu hơn, anh buộc phải lùi vội sang một căn phòng khác, hít lấy hít để bầu không khí trong lành rồi mới dám quay lại. Khi bước vào trong, anh lờ mờ thấy một khối đen ngòm thu lu trong góc phòng, và khi nhìn rõ hơn, anh thét lên kinh hãi. Trong lúc vẫn đang thét lên, anh ngỡ như có một đám mây đen thoáng qua che khuất ô cửa sổ, và ngay giây tiếp theo anh cảm thấy mình bị lướt qua bởi một luồng hơi nước sặc mùi thù hận. Những màu sắc quái dị nhảy múa điên cuồng trước mắt anh; và nếu không vì nỗi kinh hoàng tột độ đang làm tê liệt tâm trí, hẳn anh đã nghĩ đến khối cầu nấp trong thiên thạch mà chiếc búa của nhà địa chất từng đập nát, và nghĩ đến thứ thực vật bệnh hoạn đã đâm chồi vào mùa xuân. Nhưng trong khoảnh khắc đó, anh chỉ nghĩ đến cái sinh vật báng bổ đang hiện diện ngay trước mắt mình, thứ mà quá rõ ràng là đã chia sẻ chung một số phận vô danh với Thaddeus trẻ tuổi và bầy gia súc. Nhưng điều kinh khủng nhất về sự kinh hoàng này là nó đang di chuyển-rất chậm chạp và có thể nhìn thấy rõ ràng-ngay cả khi nó vẫn đang tiếp tục vỡ vụn và rã rời.



  1. Bắp cải hôi (Skunk cabbage - Symplocarpus foetidus) là một loài thực vật bản địa ở Bắc Mỹ, mọc ở vùng đất ngập nước. Chúng có mùi hôi thối nồng nặc đặc trưng giống mùi chồn hôi, và có khả năng tự sinh nhiệt để làm tan tuyết xung quanh khi đâm chồi vào đầu mùa xuân. ↩

  2. Bướm áo choàng tang (Mourning cloak - Nymphalis antiopa) là một loài bướm phổ biến ở Bắc Mỹ. Tên gọi này xuất phát từ màu cánh nâu sẫm viền vàng nhạt của chúng, trông giống như chiếc áo choàng truyền thống được mặc trong các tang lễ thời xưa. ↩

  3. Tên gọi một loài hoa dại bản địa của Bắc Mỹ (Dutchman's breeches - Dicentra cucullaria). Sở dĩ có tên gọi kỳ lạ này vì bông hoa của chúng có hình dáng độc đáo, chẻ đôi màu trắng, trông giống hệt như những chiếc quần đùi rộng thùng thình của người Hà Lan đang được phơi trên dây. ↩

  4. Một loài thực vật có hoa bản địa ở Bắc Mỹ (Bloodroot - Sanguinaria canadensis). Tên gọi này bắt nguồn từ việc rễ và thân ngầm của cây có chứa một loại nhựa màu đỏ rực như máu, thường được người Mỹ bản địa dùng làm thuốc nhuộm. ↩