NGƯỜI BẠN CHÂN THÀNH
Một buổi sớm mai, lão Chuột Nước già nua thò đầu ra khỏi hang. Lão sở hữu đôi mắt long lanh tựa những hạt cườm sáng, bộ ria xám cứng quèo và cái đuôi dài ngoằng chẳng khác nào một khúc cao su đen. Dưới mặt hồ, đàn vịt con đang bơi lội tung tăng, trông y hệt một bầy chim hoàng yến vàng óng, còn vịt mẹ - trắng muốt với đôi chân đỏ tươi - đang kiên nhẫn dạy các con nghệ thuật đứng lộn đầu dưới nước.
"Các con sẽ chẳng bao giờ lọt được vào giới thượng lưu nếu không biết đứng lộn đầu đâu," mẹ vịt cứ nhắc đi nhắc lại với bầy con; và thỉnh thoảng chị lại làm mẫu cho chúng xem. Nhưng lũ vịt con chẳng mảy may để tâm. Chúng hãy còn quá bé để hiểu được gia nhập giới thượng lưu thì có ích lợi gì.
"Đúng là lũ trẻ hư đốn đáng chết đuối!" lão Chuột Nước già buột miệng.
"Không đời nào," Vịt mẹ đáp, "ai mà chẳng phải bắt đầu, và cha mẹ thì không thể quá mất kiên nhẫn được."
"Á à! Ta có biết gì về tình cảm cha mẹ đâu," Chuột Nước nói; "ta đâu phải hạng người của gia đình. Nói thật nhé, ta chưa từng kết hôn, và cũng chẳng bao giờ có ý định ấy. Tình yêu ư, cũng hay đấy, nhưng tình bạn còn cao quý hơn bội phần. Quả thực, ta chẳng biết trên cõi đời này có thứ gì đẹp đẽ hay hiếm hoi hơn một tình bạn tận tụy."
"Vậy xin bác cho biết," một chú Chim Hồng Tước lên tiếng. Cậu đang đậu trên cành liễu rủ gần đó và đã vô tình nghe lỏm được cả cuộc trò chuyện, "theo bác, bổn phận của một người bạn tận tụy là gì?"
"Đúng đấy, chị cũng đang muốn biết đây," Vịt mẹ nói; rồi chị bơi ra tận cuối hồ, lộn đầu xuống nước để làm gương tốt cho đàn con.
"Một câu hỏi ngớ ngẩn hết sức!" Chuột Nước kêu lên. "Ta đương nhiên kỳ vọng người bạn tận tụy của ta phải tận tụy với ta chứ còn gì nữa."
"Thế bác sẽ đáp lại ra sao?" chú chim nhỏ hỏi, vừa đu đưa trên một nhánh cây bàng bạc vừa khẽ vỗ đôi cánh bé xíu.
"Ta không hiểu ngươi muốn nói gì," Chuột Nước đáp.
"Vậy để ta kể cho bác một câu chuyện về đề tài này nhé," Chim Hồng Tước gợi ý.
"Câu chuyện có liên quan đến ta không?" Chuột Nước hỏi. "Nếu có thì ta sẽ nghe, vì ta cực kỳ mê truyện hư cấu."
"Nó có thể áp dụng được cho bác đấy," Chim Hồng Tước đáp; rồi cậu sà xuống, đậu trên bờ hồ và bắt đầu kể câu chuyện về Người Bạn Tận Tụy.
"Ngày xửa ngày xưa," Chim Hồng Tước cất lời, "có một chàng trai lương thiện tên là Hans."
"Anh ta có xuất chúng lắm không?" Chuột Nước ngắt lời.
"Không," Chim Hồng Tước đáp, "ta không nghĩ chú ấy có gì xuất chúng, ngoại trừ trái tim nhân hậu và khuôn mặt tròn trĩnh, hóm hỉnh dễ thương. Chú Hans nhỏ sống lẻ loi một mình trong căn nhà tí hon, ngày ngày cặm cụi chăm bón khu vườn của mình. Trong khắp vùng ấy, chẳng có khu vườn nào sánh được với khu vườn của chú. Nào là hoa cẩm nhung, hoa păng-xê, hoa tề thái và mao lương đua nhau khoe sắc. Những đóa hồng nhung đỏ thắm, hồng vàng rực rỡ, nghệ tây nghệ tây màu hoa cà, cùng hoa violet đủ sắc vàng, tím, trắng dịu dàng. Hoa bồ câu, hoa cải đắng, kinh giới ô và húng quế dại, hoa anh thảo và diên vĩ, thủy tiên cùng cẩm chướng - hết loài này đến loài khác lần lượt đâm chồi nảy lộc theo từng tháng trôi qua, loài hoa trước nhường chỗ cho loài hoa sau, để lúc nào cũng có những vẻ đẹp mê hồn để mà ngắm nhìn và những hương thơm dịu ngọt để mà hít hà.
"Chú Hans nhỏ có rất nhiều bạn, nhưng người bạn tận tụy nhất trong số đó chính là bác Hugh Miller to béo. Quả thực, bác Miller giàu có tận tụy với chú Hans nhỏ đến mức, chẳng bao giờ bác đi ngang qua khu vườn mà lại không tựa vào tường rào hái một bó hoa thật lớn, hoặc vơ một nắm đầy thảo mộc thơm, hay nhét căng túi mận với anh đào mỗi khi vào mùa trái chín.
"'Bạn bè thực sự thì phải chia sẻ mọi thứ cho nhau,' bác Miller thường tuyên bố như vậy, và chú Hans nhỏ lại gật gù mỉm cười, lòng tràn đầy tự hào vì có được một người bạn với những tư tưởng cao đẹp đến thế.
"Đôi khi, đám hàng xóm cũng thấy khó hiểu khi bác Miller giàu nứt đố đổ vách mà chẳng bao giờ cho lại chú Hans nhỏ thứ gì, dù bác có đến cả trăm bao bột mì chất trong cối xay, sáu con bò sữa béo tốt và một đàn cừu len đông đúc; nhưng chú Hans nhỏ thì chẳng bao giờ bận tâm đến những chuyện cỏn con ấy, và không điều gì mang lại cho chú niềm vui lớn hơn việc được lắng nghe tất thảy những lời lẽ tuyệt diệu mà bác Miller thường thốt ra về sự vị tha của tình bạn đích thực.
"Thế là chú Hans nhỏ cứ miệt mài làm việc trong khu vườn. Suốt mùa xuân, mùa hạ rồi mùa thu, chú sống trong hạnh phúc ngập tràn, nhưng khi mùa đông kéo tới, chẳng còn trái cây hay bông hoa nào để mang ra chợ, chú phải chịu đựng cái rét buốt thấu xương và cơn đói cồn cào giày vò, và thường xuyên lên giường đi ngủ mà chẳng có gì trong bụng ngoài vài quả lê khô hay mấy hạt dẻ cứng ngắc. Mùa đông cũng là lúc chú rất đỗi cô đơn, bởi bác Miller chẳng bao giờ ghé thăm chú vào những tháng ngày ấy.
"'Có đến thăm chú Hans nhỏ khi tuyết vẫn còn rơi thì cũng vô ích thôi,' bác Miller thường nói với vợ, 'bởi vì khi người ta gặp khó khăn thì nên để họ được yên thân, đừng quấy rầy họ bằng những cuộc viếng thăm. Đó ít ra cũng là quan điểm của ông về tình bạn, và ông tin chắc mình đúng. Thế nên ông sẽ đợi đến khi mùa xuân về, rồi ông sẽ xuống thăm chú ấy, và chú ấy sẽ có thể tặng ông một giỏ đầy hoa anh thảo, điều ấy hẳn sẽ khiến chú ấy vui lắm.'
"'Ông đúng là người lúc nào cũng nghĩ cho người khác,' vợ bác Miller xuýt xoa khi đang ngồi trên chiếc ghế bành êm ái bên lò sưởi đốt củi thông cháy rực; 'thực sự quá biết nghĩ. Được nghe ông nói về tình bạn quả là một điều tuyệt vời. Mình dám chắc ngay cả ngài mục sư cũng không thể thốt ra những lời hay đến thế, mặc dù ngài sống trong căn nhà ba tầng và đeo nhẫn vàng nơi ngón út.'
"'Nhưng cha mẹ không thể mời chú Hans nhỏ lên đây được sao?' cậu con trai út nhà Miller cất tiếng. 'Nếu chú Hans tội nghiệp đang gặp khó khăn, con sẽ chia cho chú ấy một nửa phần cháo của con và cho chú ấy ngắm mấy con thỏ trắng của con nữa.'
"'Con đúng là đồ ngốc!' bác Miller quát mắng; 'cha thực sự không hiểu cho con đi học để làm gì. Có vẻ như con chẳng học được cái gì ra hồn cả. Nghe đây, nếu chú Hans nhỏ lên đây, nhìn thấy ngọn lửa ấm áp của chúng ta, bữa tối thịnh soạn của chúng ta, và thùng rượu vang đỏ lớn của chúng ta, chú ấy rất có thể sẽ nảy sinh lòng ganh tị, mà ganh tị thì là thứ tồi tệ nhất trên đời, nó sẽ làm hỏng hết bản tính của bất kỳ ai. Cha nhất quyết không cho phép bản tính của Hans bị hỏng. Cha là bạn tốt nhất của chú ấy, và cha sẽ luôn trông chừng chú ấy, đảm bảo chú ấy không bị cám dỗ vào bất cứ điều gì. Hơn nữa, nếu Hans lên đây, chú ấy có thể sẽ xin cha mua chịu ít bột mì, mà điều đó thì cha không thể làm. Bột mì là một chuyện, còn tình bạn là một chuyện khác, không nên nhập nhằng chúng với nhau. Rõ ràng là chúng được viết khác hẳn nhau và mang nghĩa hoàn toàn khác nhau. Ai mà chẳng thấy điều đó.'
"'Ông nói hay quá!' vợ bác Miller thốt lên, vừa rót cho mình một cốc bia ấm thật lớn; 'mình thực sự thấy hơi buồn ngủ rồi đây. Cứ như đang ở trong nhà thờ vậy.'
"'Nhiều người hành động thì giỏi,' bác Miller đáp; 'nhưng rất ít người ăn nói giỏi, điều đó chứng tỏ nói khó hơn làm rất nhiều, và cũng là một công việc cao đẹp hơn rất nhiều'; rồi bác nghiêm khắc nhìn cậu con trai út qua bên kia bàn, khiến cậu bé xấu hổ đến mức gục đầu xuống, mặt đỏ bừng lên và bắt đầu khóc, nước mắt rơi lã chã vào tách trà. Nhưng dù sao, cậu bé còn quá nhỏ nên chắc hẳn bạn sẽ lượng thứ cho cậu."
"Thế là hết truyện rồi à?" Chuột Nước hỏi.
"Chắc chắn là chưa," Chim Hồng Tước đáp, "đó mới chỉ là phần mở đầu."
"Thế thì ngươi đúng là lạc hậu quá rồi," Chuột Nước nói. "Người kể chuyện giỏi thời nay ai cũng bắt đầu từ phần kết, rồi sau đó mới quay ngược về phần mở đầu, và kết luận bằng phần giữa. Đó mới là phương pháp mới. Ta đã được nghe tất tần tật về chuyện này hôm nọ từ một nhà phê bình đang tản bộ dạo quanh hồ cùng một anh chàng trẻ tuổi. Ông ta đã nói về đề tài này rất lâu, và ta tin chắc ông ta đúng, bởi ông ta đeo kính râm màu xanh và có một cái đầu hói, và mỗi lần anh chàng trẻ kia đưa ra ý kiến gì, ông ta chỉ đáp gọn lỏn 'Pooh!' Nhưng thôi, ngươi cứ tiếp tục câu chuyện đi. Ta cực kỳ thích bác Miller. Ta cũng có đủ mọi thứ tình cảm tốt đẹp, thế nên giữa ta và bác ấy có một sự đồng cảm sâu sắc."
"Vâng," Chim Hồng Tước nói, vừa nhảy lò cò hết chân này sang chân kia, "ngay khi mùa đông khép lại, và những đóa hoa anh thảo bắt đầu hé nở những ngôi sao vàng nhạt đầu mùa, bác Miller liền bảo vợ rằng bác sẽ xuống đồi thăm chú Hans nhỏ.
"'Chà, ông có trái tim nhân hậu quá!' người vợ reo lên; 'lúc nào ông cũng nghĩ đến người khác. Và nhớ mang theo chiếc giỏ lớn để đựng hoa đấy nhé.'
"Thế là bác Miller cột chặt những cánh quạt cối xay gió bằng một sợi dây xích sắt thật chắc, rồi xách giỏ xuống đồi.
"'Chào buổi sáng, chú Hans nhỏ,' bác Miller lên tiếng.
"'Chào buổi sáng,' Hans đáp lời, chú đang tì người vào chiếc thuổng, cười tươi rói đến tận mang tai.
"'Suốt mùa đông vừa rồi chú sống thế nào?' bác Miller hỏi.
"'Dạ, thực tình,' Hans rạng rỡ, 'bác hỏi thăm thì tốt quá, thực sự rất tốt. Cháu e rằng mình đã có một quãng thời gian khá vất vả, nhưng giờ mùa xuân đã về, cháu hoàn toàn hạnh phúc, và tất cả hoa của cháu đều đang phát triển tuyệt vời.'
"'Chúng ta đã thường xuyên nhắc đến chú suốt mùa đông đấy, Hans ạ,' bác Miller nói, 'và tự hỏi không biết dạo này chú ra sao.'
"'Bác thật tốt quá,' Hans đáp; 'cháu đã hơi lo là bác quên mất cháu rồi.'
"'Hans này, ta rất ngạc nhiên về chú đấy,' bác Miller nói; 'tình bạn không bao giờ quên lãng. Đó chính là phép màu của nó, nhưng ta e rằng chú chưa hiểu được chất thơ của cuộc sống. À nhân tiện, những bông hoa anh thảo của chú trông mới đẹp làm sao!'
"'Dạ đúng là chúng rất đẹp,' Hans nói, 'và cháu thực sự may mắn vì có nhiều hoa đến vậy. Cháu định mang chúng ra chợ bán cho con gái ngài Thị trưởng, rồi lấy tiền mua lại chiếc xe cút kít của mình.'
"'Mua lại xe cút kít của chú ư? Chú đừng nói với ta là chú đã bán nó đi nhé? Đúng là đồ ngốc hết chỗ nói!'
"'Dạ, sự thật là,' Hans thú nhận, 'cháu buộc phải làm vậy. Bác thấy đấy, mùa đông là khoảng thời gian rất khắc nghiệt với cháu, và cháu thực sự chẳng còn đồng nào để mua bánh mì. Vậy nên trước tiên cháu bán những chiếc cúc bạc trên áo khoác diện Chủ nhật, rồi cháu bán sợi dây chuyền bạc, tiếp đến là chiếc tẩu lớn, và cuối cùng cháu đành bán nốt chiếc xe cút kít. Nhưng giờ cháu sẽ mua lại tất cả.'
"'Hans à,' bác Miller nói, 'ta sẽ cho chú chiếc xe cút kít của ta. Nó chẳng còn tốt lành gì nữa đâu; thực ra, một bên thành xe đã rụng mất rồi, và mấy cái nan hoa cũng có vấn đề gì đó; nhưng dù thế nào ta vẫn sẽ cho chú. Ta biết ta rất hào phóng, và nhiều người sẽ bảo ta cực kỳ ngốc nghếch khi chia tay nó, nhưng ta đâu có giống những kẻ tầm thường khác trên đời. Ta cho rằng hào phóng chính là bản chất của tình bạn, và hơn nữa, ta đã sắm cho mình một chiếc xe cút kít mới rồi. Đúng vậy, chú cứ yên tâm, ta sẽ cho chú chiếc xe cút kít của ta.'
"'Dạ, thực sự, bác quá đỗi hào phóng,' chú Hans nhỏ thốt lên, và khuôn mặt tròn trĩnh hóm hỉnh của chú bừng sáng niềm vui sướng. 'Cháu có thể dễ dàng sửa lại nó thôi, vì cháu có sẵn một tấm ván gỗ trong nhà.'
"'Một tấm ván gỗ!' bác Miller kêu lên; 'chà, đó đúng là thứ ta đang cần cho mái nhà kho của ta. Có một cái lỗ thủng to tướng trên đó, và lúa mì sẽ bị ẩm hết nếu ta không bịt nó lại. Thật may làm sao khi chú nhắc tới! Thật đáng kinh ngạc khi một hành động đẹp luôn nảy nở ra một hành động đẹp khác. Ta đã cho chú chiếc xe cút kít của ta, và giờ chú sẽ cho ta tấm ván của chú. Dĩ nhiên, chiếc xe cút kít đáng giá hơn tấm ván nhiều, nhưng tình bạn đích thực thì có bao giờ để ý đến mấy thứ đó đâu. Chú làm ơn mang nó ra ngay nhé, rồi ta sẽ bắt tay vào sửa nhà kho ngay trong ngày hôm nay.'
"'Dạ chắc chắn rồi,' chú Hans nhỏ reo lên, rồi chạy vào lán và kéo tấm ván ra.
"'Tấm ván này cũng không lớn lắm nhỉ,' bác Miller nhận xét khi liếc nhìn tấm ván, 'và ta e là sau khi ta sửa mái nhà kho xong thì sẽ chẳng còn thừa miếng nào cho chú sửa xe cút kít đâu; nhưng, dĩ nhiên, đó đâu phải lỗi của ta. Còn bây giờ, vì ta đã cho chú chiếc xe cút kít của ta, ta chắc rằng chú cũng muốn tặng lại ta vài bông hoa để đáp lễ. Giỏ đây này, và nhớ đổ cho thật đầy vào nhé.'
"'Thật đầy ạ?' chú Hans nhỏ ngập ngừng, thoáng chút buồn bã, vì đó quả là một chiếc giỏ rất lớn, và chú biết nếu lấp đầy nó thì mình sẽ chẳng còn bông hoa nào để mang ra chợ bán, mà chú thì đang rất nóng lòng chuộc lại những chiếc cúc bạc.
"'Chà, thực tình,' bác Miller đáp, 'vì ta đã cho chú chiếc xe cút kít của ta, ta không nghĩ việc xin chú vài bông hoa lại là quá đáng. Ta có thể sai, nhưng ta vẫn luôn tin rằng tình bạn, tình bạn đích thực, thì hoàn toàn không vương chút ích kỷ nào.'
"'Bạn thân yêu của cháu, bạn quý nhất của cháu,' chú Hans nhỏ kêu lên, 'bác cứ lấy bao nhiêu hoa trong vườn cháu cũng được hết. Cháu thà nhận được lời khen ngợi của bác còn hơn là chuộc lại mấy chiếc cúc bạc kia, bất cứ lúc nào'; rồi chú chạy đi hái tất cả những bông hoa anh thảo xinh đẹp của mình, đổ đầy ắp chiếc giỏ cho bác Miller.
"'Tạm biệt, chú Hans nhỏ,' bác Miller nói, rồi bác đi lên đồi với tấm ván vác trên vai và chiếc giỏ lớn xách trên tay.
"'Tạm biệt,' chú Hans nhỏ đáp, rồi chú bắt đầu cuốc đất một cách vui vẻ, lòng tràn đầy mãn nguyện về chiếc xe cút kít.
"Ngày hôm sau, khi chú đang đóng đinh mấy nhánh hoa kim ngân lên hiên nhà, chú chợt nghe tiếng bác Miller gọi mình từ ngoài đường. Chú liền nhảy xuống khỏi thang, chạy băng qua khu vườn và nhìn qua bức tường.
"Bác Miller đang đứng đó, lưng vác một bao bột mì lớn.
"'Chú Hans nhỏ thân mến,' bác Miller nói, 'chú có phiền mang giúp ta bao bột mì này ra chợ không?'
"'Ôi, cháu rất tiếc,' Hans nói, 'nhưng hôm nay cháu thực sự rất bận. Cháu phải đóng đinh tất cả đám dây leo lên tường, tưới nước cho toàn bộ hoa, và lăn phẳng bãi cỏ của mình.'
"'Chà, thực sự thì,' bác Miller nói, 'ta nghĩ rằng, xét việc ta sẽ tặng cho chú chiếc xe cút kít của ta, chú từ chối thế này thì hơi thiếu tình bạn đấy.'
"'Ôi, xin bác đừng nói vậy,' chú Hans nhỏ thốt lên, 'cháu không muốn trở thành kẻ thiếu tình bạn vì bất cứ giá nào đâu'; rồi chú chạy vào nhà lấy chiếc mũ lưỡi trai, và lê bước với bao bột mì lớn trên vai.
"Hôm ấy trời nắng như đổ lửa, con đường thì đầy bụi mù mịt, và trước khi Hans đi qua phiến đá chỉ đường thứ sáu, chú đã mệt lử đến mức phải ngồi phịch xuống nghỉ. Nhưng rồi chú vẫn dũng cảm đi tiếp, và cuối cùng cũng tới được khu chợ. Sau khi đợi một lúc, chú bán được bao bột mì với giá khá hời, rồi lập tức quay về nhà, vì chú sợ nếu nán lại quá muộn, chú có thể gặp phải bọn cướp trên đường.
"'Hôm nay đúng là một ngày vất vả,' chú Hans nhỏ tự nhủ khi leo lên giường đi ngủ, 'nhưng ta rất vui vì đã không từ chối bác Miller, bởi bác ấy là người bạn tốt nhất của ta, và hơn nữa, bác ấy còn sắp tặng ta chiếc xe cút kít của bác ấy nữa.'
"Sáng sớm hôm sau, bác Miller xuống núi để nhận tiền bán bao bột mì, nhưng chú Hans nhỏ mệt đến mức vẫn còn nằm trên giường.
"'Ta thề có trời đất,' bác Miller nói, 'chú thật là lười biếng. Thực sự, xét việc ta sẽ tặng cho chú chiếc xe cút kít của ta, ta nghĩ chú nên làm việc chăm chỉ hơn mới phải. Lười biếng là một tội lỗi lớn, và ta chắc chắn không ưa bất kỳ người bạn nào của mình lười nhác hay chậm chạp cả. Chú đừng bận tâm khi ta nói thẳng với chú như vậy. Dĩ nhiên ta sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện ấy nếu ta không phải là bạn của chú. Nhưng tình bạn thì có ích gì nếu người ta không thể nói chính xác những gì mình nghĩ? Bất cứ ai cũng có thể thốt ra những lời đường mật và tìm cách làm hài lòng, tâng bốc kẻ khác, thế nhưng một người bạn thực sự thì luôn nói ra những điều khó nghe, và chẳng bận tâm đến việc gây đau đớn. Thậm chí, nếu anh ta là bạn thực sự, anh ta sẽ thích làm điều đó, vì anh ta biết rằng lúc ấy mình đang làm một việc tốt.'
"'Cháu rất xin lỗi,' chú Hans nhỏ vừa dụi mắt vừa kéo chiếc mũ ngủ ra, 'nhưng cháu mệt quá nên cháu định nằm trên giường thêm một lát nữa, và nghe tiếng chim hót. Bác có biết là cháu luôn làm việc tốt hơn sau khi nghe chim hót không?'
"'Chà, ta rất vui vì điều đó,' bác Miller vỗ vào lưng chú Hans nhỏ, 'vì ta muốn chú lên cối xay ngay khi thay đồ xong và sửa mái nhà kho cho ta.'
"Chú Hans nhỏ tội nghiệp đang rất nóng lòng muốn ra làm việc trong vườn, bởi hoa của chú đã hai ngày không được tưới nước, nhưng chú không đành lòng từ chối bác Miller, vì bác là một người bạn tốt của chú.
"'Bác có nghĩ cháu sẽ là kẻ thiếu tình bạn nếu cháu nói cháu đang bận không ạ?' chú hỏi bằng giọng rụt rè, nhút nhát.
"'Chà, thực tình thì,' bác Miller đáp, 'ta không nghĩ việc nhờ chú một chút lại là quá đáng, xét việc ta sẽ tặng cho chú chiếc xe cút kít của ta; nhưng tất nhiên nếu chú từ chối, ta sẽ đi tự làm lấy.'
"'Ôi! Không đời nào,' chú Hans nhỏ kêu lên rồi nhảy ra khỏi giường, thay quần áo, và đi lên nhà kho.
"Chú làm việc ở đó suốt cả ngày dài, cho đến tận khi mặt trời lặn, và lúc mặt trời lặn, bác Miller ghé qua xem chú đã làm đến đâu.
"'Chú đã sửa xong cái lỗ trên mái nhà chưa, chú Hans nhỏ?' bác Miller hỏi bằng giọng vui vẻ.
"'Đã sửa xong hoàn toàn rồi ạ,' chú Hans nhỏ đáp khi bước xuống khỏi thang.
"'Á à!' bác Miller nói, 'không có công việc gì thú vị bằng công việc mình làm vì người khác.'
"'Được nghe bác nói quả là một đặc ân lớn,' chú Hans nhỏ đáp, vừa ngồi xuống vừa lau mồ hôi trán, 'một đặc ân rất lớn. Nhưng cháu e rằng cháu sẽ chẳng bao giờ có được những ý nghĩ cao đẹp như bác.'
"'Ồ! Rồi chúng sẽ đến với chú thôi,' bác Miller nói, 'nhưng chú phải chịu khó nhiều hơn. Hiện tại chú mới chỉ có thực hành của tình bạn; một ngày nào đó chú sẽ có cả lý thuyết nữa.'
"'Bác thực sự nghĩ cháu sẽ làm được sao?' chú Hans nhỏ hỏi.
"'Ta không nghi ngờ gì về điều đó,' bác Miller đáp, 'nhưng bây giờ chú đã sửa xong mái nhà rồi, chú nên về nhà và nghỉ ngơi đi, vì ta muốn chú lùa đàn cừu của ta lên núi vào ngày mai.'
"Chú Hans nhỏ tội nghiệp không dám hé răng nói tiếng nào phản đối, và sáng sớm hôm sau, bác Miller lùa đàn cừu đi ngang qua nhà chú, và Hans bắt đầu cùng chúng lên núi. Chú mất trọn cả ngày để lên núi rồi trở về; và khi về tới nhà, chú mệt đến mức ngủ thiếp đi trên ghế, không thức dậy cho đến tận khi trời sáng bạch.
"'Ta sẽ có một khoảng thời gian thật tuyệt vời trong vườn đây,' chú tự nhủ, rồi lập tức bắt tay vào việc.
"Nhưng không hiểu sao chú chẳng bao giờ có đủ thời gian chăm sóc những bông hoa của mình, bởi người bạn thân thiết của chú, bác Miller, luôn luôn chạy đến và sai chú đi những chuyến chạy vặt xa xôi, hoặc bắt chú giúp việc ở cối xay. Chú Hans nhỏ đôi khi cảm thấy vô cùng khổ tâm, vì chú sợ hoa của mình sẽ nghĩ chú đã bỏ rơi chúng, nhưng chú luôn tự an ủi mình bằng ý nghĩ rằng bác Miller là người bạn tốt nhất của chú. 'Với lại,' chú thường tự nhủ, 'bác ấy còn sắp tặng ta chiếc xe cút kít của bác ấy, và đó là một hành động hào phóng thuần túy.'
"Thế là chú Hans nhỏ tiếp tục làm việc cho bác Miller, và bác Miller cứ liên tục thốt ra đủ mọi điều hay ho về tình bạn, mà Hans đã cần mẫn ghi chép vào một cuốn sổ tay và thường đem ra đọc lại vào ban đêm, vì chú vốn là một học trò rất ngoan ngoãn.
"Thế rồi, chuyện xảy ra là vào một buổi tối nọ, khi chú Hans nhỏ đang ngồi bên lò sưởi thì vang lên tiếng gõ cửa dồn dập. Bên ngoài là một cơn bão đêm kinh hoàng, gió rít gào quật vào căn nhà nhỏ dữ dội đến nỗi thoạt đầu chú tưởng đó chỉ là tiếng bão. Nhưng rồi lại có tiếng gõ thứ hai, rồi tiếng thứ ba, tiếng sau mỗi lúc một to hơn tiếng trước.
"'Chắc hẳn là một khách lữ hành tội nghiệp nào đó,' chú Hans nhỏ tự nhủ, rồi chú chạy vội ra mở cửa.
"Đứng ngoài đó là bác Miller, một tay cầm chiếc đèn lồng, tay kia cầm một cây gậy lớn.
"'Chú Hans nhỏ thân mến,' bác Miller hét lên, 'ta đang gặp rắc rối to rồi. Thằng con trai nhỏ của ta bị ngã từ trên thang xuống và bị thương, và ta phải đi mời Bác sĩ. Nhưng nhà ông ấy thì xa quá, mà đêm nay thời tiết lại tệ thế này, nên ta chợt nảy ra ý hay hơn nhiều là để chú đi thay ta. Chú biết đấy, ta sẽ tặng chú chiếc xe cút kít của ta, và vì thế, công bằng mà nói thì chú nên làm gì đó cho ta để đáp lễ.'
"'Dạ, chắc chắn rồi,' chú Hans nhỏ reo lên, 'cháu coi việc bác tìm đến cháu là một niềm vinh hạnh, và cháu sẽ lên đường ngay lập tức. Nhưng bác phải cho cháu mượn chiếc đèn lồng của bác, bởi đêm nay tối quá, cháu sợ mình có thể ngã xuống mương mất.'
"'Ta rất tiếc,' bác Miller đáp, 'nhưng đó là chiếc đèn lồng mới của ta, và sẽ là một tổn thất lớn cho ta nếu có chuyện gì xảy ra với nó.'
"'Dạ, không sao đâu ạ, cháu sẽ đi mà không cần đèn,' chú Hans nhỏ kêu lên, rồi chú lấy chiếc áo khoác lông thú to sụ của mình xuống, cùng chiếc mũ len đỏ ấm áp, quấn thêm một chiếc khăn choàng quanh cổ, và lao ra ngoài trời.
"Thật là một cơn bão khủng khiếp! Đêm đen đến mức chú Hans nhỏ hầu như chẳng nhìn thấy gì, và gió mạnh đến nỗi chú khó lòng đứng vững. Dẫu vậy, chú vẫn hết sức dũng cảm, và sau khi lội bộ khoảng ba tiếng đồng hồ, chú đã đến được nhà Bác sĩ, rồi gõ cửa.
"'Ai đấy?' Bác sĩ hét lên, thò đầu ra khỏi cửa sổ phòng ngủ.
"'Là chú Hans nhỏ đây, thưa Bác sĩ.'
"'Chú bé Hans, chú muốn gì?'
"'Con trai bác Miller bị ngã từ thang xuống và bị thương, và bác Miller muốn bác sĩ đến ngay lập tức ạ.'
"'Được rồi!' Bác sĩ nói; rồi ông sai người thắng ngựa, xỏ đôi bốt lớn, cầm chiếc đèn lồng của mình, bước xuống cầu thang, và phóng ngựa lao đi theo hướng nhà bác Miller, trong khi chú Hans nhỏ lê bước theo sau.
"Nhưng cơn bão mỗi lúc một tồi tệ hơn, mưa trút xuống như thác đổ, và chú Hans nhỏ không tài nào nhìn thấy mình đang đi về đâu, cũng chẳng thể theo kịp con ngựa. Cuối cùng chú bị lạc đường, và lang thang trên một bãi hoang - một nơi vô cùng nguy hiểm, vì nó đầy rẫy những cái hố sâu hun hút, và tại đó, chú Hans nhỏ tội nghiệp đã chết đuối. Thi thể chú được mấy người chăn dê tìm thấy vào sáng hôm sau, đang nổi lềnh bềnh trên một vũng nước lớn, và được họ mang về căn nhà nhỏ của chú.
"Tất cả mọi người đều đến dự đám tang của chú Hans nhỏ, bởi chú được hết thảy mọi người yêu mến, và bác Miller là người chịu tang chính.
"'Vì ta là bạn tốt nhất của chú ấy,' bác Miller nói, 'nên công bằng mà nói, ta xứng đáng có chỗ tốt nhất'; vậy là bác bước đi ở vị trí dẫn đầu đoàn người, trong bộ áo choàng đen dài, và thỉnh thoảng lại rút một chiếc khăn tay thật lớn ra lau mắt.
"'Chú Hans nhỏ quả thực là một mất mát lớn cho bà con mình,' bác Thợ Rèn lên tiếng khi tang lễ đã xong và tất cả bọn họ đang ngồi thư thả trong quán rượu, nhấp rượu gia vị và nhâm nhi bánh ngọt.
"'Mất mát lớn cho riêng ta thì có,' bác Miller đáp; 'này nhé, ta coi như đã tặng chú ấy chiếc xe cút kít của ta, và giờ ta thực sự chẳng biết phải làm gì với nó. Nó chỉ tổ vướng víu trong nhà, mà lại hỏng hóc nhiều đến mức có bán cũng chẳng được đồng nào. Chắc chắn là từ nay ta sẽ cẩn thận, không cho đi bất cứ thứ gì nữa. Người hào phóng lúc nào cũng phải chịu thiệt thòi.'
"Thế nào?" Chuột Nước hỏi, sau một khoảng lặng dài.
"Chà, đó là phần kết đấy," Chim Hồng Tước đáp.
"Nhưng còn chuyện gì đã xảy ra với bác Miller?" Chuột Nước hỏi tiếp.
"Ồ! Ta thực sự không biết," Chim Hồng Tước trả lời; "và ta cũng dám chắc là mình không hề quan tâm."
"Vậy thì rõ ràng là trong bản tính của ngươi chẳng có lấy một chút đồng cảm nào," Chuột Nước nói.
"Ta e rằng bác không hoàn toàn nhận ra bài học của câu chuyện," Chim Hồng Tước nhận xét.
"Cái gì cơ?" Chuột Nước hét lên.
"Bài học ấy."
"Ý ngươi là câu chuyện này có bài học á?"
"Chắc chắn rồi," Chim Hồng Tước nói.
"Chà, thực sự đấy," Chuột Nước nói với vẻ vô cùng tức giận, "ta nghĩ lẽ ra ngươi phải nói cho ta biết điều đó trước khi bắt đầu mới phải. Nếu ngươi làm thế, ta đã chẳng bao giờ thèm nghe ngươi kể rồi; thực tế, ta đã nói 'Pooh,' y hệt như ông nhà phê bình kia. Nhưng thôi, ta vẫn có thể nói bây giờ"; và thế là lão hét lên "Pooh!" bằng tất cả sức lực của mình, quẫy đuôi đánh đét một cái, rồi chui tọt vào hang.
"Thế cậu nghĩ sao về bác Chuột Nước?" Vịt mẹ hỏi khi chị bơi lại gần vài phút sau đó. "Bác ấy có nhiều điểm tốt đấy chứ, nhưng về phần mình, chị mang cảm xúc của một người mẹ, và chị không bao giờ có thể nhìn một gã độc thân thâm căn cố đế mà không rơi nước mắt."
"Tôi hơi lo là mình đã làm bác ấy bực mình," Chim Hồng Tước đáp. "Sự thật là, tôi đã kể cho bác ấy nghe một câu chuyện có bài học."
"Á à! Kể chuyện có bài học luôn luôn là một việc rất nguy hiểm," Vịt mẹ nói.
Và tôi hoàn toàn đồng ý với chị.
The Devoted Friend.
One morning the old Water-rat put his head out of his hole. He had bright beady eyes and stiff grey whiskers and his tail was like a long bit of black india-rubber. The little ducks were swimming about in the pond, looking just like a lot of yellow canaries, and their mother, who was pure white with real red legs, was trying to teach them how to stand on their heads in the water.
“You will never be in the best society unless you can stand on your heads,” she kept saying to them; and every now and then she showed them how it was done. But the little ducks paid no attention to her. They were so young that they did not know what an advantage it is to be in society at all.
“What disobedient children!” cried the old Water-rat; “they really deserve to be drowned.”
“Nothing of the kind,” answered the Duck, “every one must make a beginning, and parents cannot be too patient.”
“Ah! I know nothing about the feelings of parents,” said the Water-rat; “I am not a family man. In fact, I have never been married, and I never intend to be. Love is all very well in its way, but friendship is much higher. Indeed, I know of nothing in the world that is either nobler or rarer than a devoted friendship.”
“And what, pray, is your idea of the duties of a devoted friend?” asked a Green Linnet, who was sitting in a willow-tree hard by, and had overheard the conversation.
“Yes, that is just what I want to know,” said the Duck; and she swam away to the end of the pond, and stood upon her head, in order to give her children a good example.
“What a silly question!” cried the Water-rat. “I should expect my devoted friend to be devoted to me, of course.”
“And what would you do in return?” said the little bird, swinging upon a silver spray, and flapping his tiny wings.
“I don’t understand you,” answered the Water-rat.
“Let me tell you a story on the subject,” said the Linnet.
“Is the story about me?” asked the Water-rat. “If so, I will listen to it, for I am extremely fond of fiction.”
“It is applicable to you,” answered the Linnet; and he flew down, and alighting upon the bank, he told the story of The Devoted Friend.
“Once upon a time,” said the Linnet, “there was an honest little fellow named Hans.”
“Was he very distinguished?” asked the Water-rat.
“No,” answered the Linnet, “I don’t think he was distinguished at all, except for his kind heart, and his funny round good-humoured face. He lived in a tiny cottage all by himself, and every day he worked in his garden. In all the country-side there was no garden so lovely as his. Sweet-william grew there, and Gilly-flowers, and Shepherds’-purses, and Fair-maids of France. There were damask Roses, and yellow Roses, lilac Crocuses, and gold, purple Violets and white. Columbine and Ladysmock, Marjoram and Wild Basil, the Cowslip and the Flower-de-luce, the Daffodil and the Clove-Pink bloomed or blossomed in their proper order as the months went by, one flower taking another flower’s place, so that there were always beautiful things to look at, and pleasant odours to smell.
“Little Hans had a great many friends, but the most devoted friend of all was big Hugh the Miller. Indeed, so devoted was the rich Miller to little Hans, that he would never go by his garden without leaning over the wall and plucking a large nosegay, or a handful of sweet herbs, or filling his pockets with plums and cherries if it was the fruit season.
“‘Real friends should have everything in common,’ the Miller used to say, and little Hans nodded and smiled, and felt very proud of having a friend with such noble ideas.
“Sometimes, indeed, the neighbours thought it strange that the rich Miller never gave little Hans anything in return, though he had a hundred sacks of flour stored away in his mill, and six milch cows, and a large flock of woolly sheep; but Hans never troubled his head about these things, and nothing gave him greater pleasure than to listen to all the wonderful things the Miller used to say about the unselfishness of true friendship.
“So little Hans worked away in his garden. During the spring, the summer, and the autumn he was very happy, but when the winter came, and he had no fruit or flowers to bring to the market, he suffered a good deal from cold and hunger, and often had to go to bed without any supper but a few dried pears or some hard nuts. In the winter, also, he was extremely lonely, as the Miller never came to see him then.
“‘There is no good in my going to see little Hans as long as the snow lasts,’ the Miller used to say to his wife, ‘for when people are in trouble they should be left alone, and not be bothered by visitors. That at least is my idea about friendship, and I am sure I am right. So I shall wait till the spring comes, and then I shall pay him a visit, and he will be able to give me a large basket of primroses and that will make him so happy.’
“‘You are certainly very thoughtful about others,’ answered the Wife, as she sat in her comfortable armchair by the big pinewood fire; ‘very thoughtful indeed. It is quite a treat to hear you talk about friendship. I am sure the clergyman himself could not say such beautiful things as you do, though he does live in a three-storied house, and wear a gold ring on his little finger.’
“‘But could we not ask little Hans up here?’ said the Miller’s youngest son. ‘If poor Hans is in trouble I will give him half my porridge, and show him my white rabbits.’
“‘What a silly boy you are!’ cried the Miller; ‘I really don’t know what is the use of sending you to school. You seem not to learn anything. Why, if little Hans came up here, and saw our warm fire, and our good supper, and our great cask of red wine, he might get envious, and envy is a most terrible thing, and would spoil anybody’s nature. I certainly will not allow Hans’ nature to be spoiled. I am his best friend, and I will always watch over him, and see that he is not led into any temptations. Besides, if Hans came here, he might ask me to let him have some flour on credit, and that I could not do. Flour is one thing, and friendship is another, and they should not be confused. Why, the words are spelt differently, and mean quite different things. Everybody can see that.’
“‘How well you talk!’ said the Miller’s Wife, pouring herself out a large glass of warm ale; ‘really I feel quite drowsy. It is just like being in church.’
“‘Lots of people act well,’ answered the Miller; ‘but very few people talk well, which shows that talking is much the more difficult thing of the two, and much the finer thing also’; and he looked sternly across the table at his little son, who felt so ashamed of himself that he hung his head down, and grew quite scarlet, and began to cry into his tea. However, he was so young that you must excuse him.”
“Is that the end of the story?” asked the Water-rat.
“Certainly not,” answered the Linnet, “that is the beginning.”
“Then you are quite behind the age,” said the Water-rat. “Every good story-teller nowadays starts with the end, and then goes on to the beginning, and concludes with the middle. That is the new method. I heard all about it the other day from a critic who was walking round the pond with a young man. He spoke of the matter at great length, and I am sure he must have been right, for he had blue spectacles and a bald head, and whenever the young man made any remark, he always answered ‘Pooh!’ But pray go on with your story. I like the Miller immensely. I have all kinds of beautiful sentiments myself, so there is a great sympathy between us.”
“Well,” said the Linnet, hopping now on one leg and now on the other, “as soon as the winter was over, and the primroses began to open their pale yellow stars, the Miller said to his wife that he would go down and see little Hans.
“‘Why, what a good heart you have!’ cried his Wife; ‘you are always thinking of others. And mind you take the big basket with you for the flowers.’
“So the Miller tied the sails of the windmill together with a strong iron chain, and went down the hill with the basket on his arm.
“‘Good morning, little Hans,’ said the Miller.
“‘Good morning,’ said Hans, leaning on his spade, and smiling from ear to ear.
“‘And how have you been all the winter?’ said the Miller.
“‘Well, really,’ cried Hans, ‘it is very good of you to ask, very good indeed. I am afraid I had rather a hard time of it, but now the spring has come, and I am quite happy, and all my flowers are doing well.’
“‘We often talked of you during the winter, Hans,’ said the Miller, ‘and wondered how you were getting on.’
“‘That was kind of you,’ said Hans; ‘I was half afraid you had forgotten me.’
“‘Hans, I am surprised at you,’ said the Miller; ‘friendship never forgets. That is the wonderful thing about it, but I am afraid you don’t understand the poetry of life. How lovely your primroses are looking, by-the-bye!”
“‘They are certainly very lovely,’ said Hans, ‘and it is a most lucky thing for me that I have so many. I am going to bring them into the market and sell them to the Burgomaster’s daughter, and buy back my wheelbarrow with the money.’
“‘Buy back your wheelbarrow? You don’t mean to say you have sold it? What a very stupid thing to do!’
“‘Well, the fact is,’ said Hans, ‘that I was obliged to. You see the winter was a very bad time for me, and I really had no money at all to buy bread with. So I first sold the silver buttons off my Sunday coat, and then I sold my silver chain, and then I sold my big pipe, and at last I sold my wheelbarrow. But I am going to buy them all back again now.’
“‘Hans,’ said the Miller, ‘I will give you my wheelbarrow. It is not in very good repair; indeed, one side is gone, and there is something wrong with the wheel-spokes; but in spite of that I will give it to you. I know it is very generous of me, and a great many people would think me extremely foolish for parting with it, but I am not like the rest of the world. I think that generosity is the essence of friendship, and, besides, I have got a new wheelbarrow for myself. Yes, you may set your mind at ease, I will give you my wheelbarrow.’
“‘Well, really, that is generous of you,’ said little Hans, and his funny round face glowed all over with pleasure. ‘I can easily put it in repair, as I have a plank of wood in the house.’
“‘A plank of wood!’ said the Miller; ‘why, that is just what I want for the roof of my barn. There is a very large hole in it, and the corn will all get damp if I don’t stop it up. How lucky you mentioned it! It is quite remarkable how one good action always breeds another. I have given you my wheelbarrow, and now you are going to give me your plank. Of course, the wheelbarrow is worth far more than the plank, but true, friendship never notices things like that. Pray get it at once, and I will set to work at my barn this very day.’
“‘Certainly,’ cried little Hans, and he ran into the shed and dragged the plank out.
“‘It is not a very big plank,’ said the Miller, looking at it, ‘and I am afraid that after I have mended my barn-roof there won’t be any left for you to mend the wheelbarrow with; but, of course, that is not my fault. And now, as I have given you my wheelbarrow, I am sure you would like to give me some flowers in return. Here is the basket, and mind you fill it quite full.’
“‘Quite full?’ said little Hans, rather sorrowfully, for it was really a very big basket, and he knew that if he filled it he would have no flowers left for the market and he was very anxious to get his silver buttons back.
“‘Well, really,’ answered the Miller, ‘as I have given you my wheelbarrow, I don’t think that it is much to ask you for a few flowers. I may be wrong, but I should have thought that friendship, true friendship, was quite free from selfishness of any kind.’
“‘My dear friend, my best friend,’ cried little Hans, ‘you are welcome to all the flowers in my garden. I would much sooner have your good opinion than my silver buttons, any day’; and he ran and plucked all his pretty primroses, and filled the Miller’s basket.
“‘Good-bye, little Hans,’ said the Miller, as he went up the hill with the plank on his shoulder, and the big basket in his hand.
“‘Good-bye,’ said little Hans, and he began to dig away quite merrily, he was so pleased about the wheelbarrow.
“The next day he was nailing up some honeysuckle against the porch, when he heard the Miller’s voice calling to him from the road. So he jumped off the ladder, and ran down the garden, and looked over the wall.
“There was the Miller with a large sack of flour on his back.
“‘Dear little Hans,’ said the Miller, ‘would you mind carrying this sack of flour for me to market?’
“‘Oh, I am so sorry,’ said Hans, ‘but I am really very busy to-day. I have got all my creepers to nail up, and all my flowers to water, and all my grass to roll.’
“‘Well, really,’ said the Miller, ‘I think that, considering that I am going to give you my wheelbarrow, it is rather unfriendly of you to refuse.’
“‘Oh, don’t say that,’ cried little Hans, ‘I wouldn’t be unfriendly for the whole world’; and he ran in for his cap, and trudged off with the big sack on his shoulders.
“It was a very hot day, and the road was terribly dusty, and before Hans had reached the sixth milestone he was so tired that he had to sit down and rest. However, he went on bravely, and as last he reached the market. After he had waited there some time, he sold the sack of flour for a very good price, and then he returned home at once, for he was afraid that if he stopped too late he might meet some robbers on the way.
“‘It has certainly been a hard day,’ said little Hans to himself as he was going to bed, ‘but I am glad I did not refuse the Miller, for he is my best friend, and, besides, he is going to give me his wheelbarrow.’
“Early the next morning the Miller came down to get the money for his sack of flour, but little Hans was so tired that he was still in bed.
“‘Upon my word,’ said the Miller, ‘you are very lazy. Really, considering that I am going to give you my wheelbarrow, I think you might work harder. Idleness is a great sin, and I certainly don’t like any of my friends to be idle or sluggish. You must not mind my speaking quite plainly to you. Of course I should not dream of doing so if I were not your friend. But what is the good of friendship if one cannot say exactly what one means? Anybody can say charming things and try to please and to flatter, but a true friend always says unpleasant things, and does not mind giving pain. Indeed, if he is a really true friend he prefers it, for he knows that then he is doing good.’
“‘I am very sorry,’ said little Hans, rubbing his eyes and pulling off his night-cap, ‘but I was so tired that I thought I would lie in bed for a little time, and listen to the birds singing. Do you know that I always work better after hearing the birds sing?’
“‘Well, I am glad of that,’ said the Miller, clapping little Hans on the back, ‘for I want you to come up to the mill as soon as you are dressed, and mend my barn-roof for me.’
“Poor little Hans was very anxious to go and work in his garden, for his flowers had not been watered for two days, but he did not like to refuse the Miller, as he was such a good friend to him.
“‘Do you think it would be unfriendly of me if I said I was busy?’ he inquired in a shy and timid voice.
“‘Well, really,’ answered the Miller, ‘I do not think it is much to ask of you, considering that I am going to give you my wheelbarrow; but of course if you refuse I will go and do it myself.’
“‘Oh! on no account,’ cried little Hans and he jumped out of bed, and dressed himself, and went up to the barn.
“He worked there all day long, till sunset, and at sunset the Miller came to see how he was getting on.
“‘Have you mended the hole in the roof yet, little Hans?’ cried the Miller in a cheery voice.
“‘It is quite mended,’ answered little Hans, coming down the ladder.
“‘Ah!’ said the Miller, ‘there is no work so delightful as the work one does for others.’
“‘It is certainly a great privilege to hear you talk,’ answered little Hans, sitting down, and wiping his forehead, ‘a very great privilege. But I am afraid I shall never have such beautiful ideas as you have.’
“‘Oh! they will come to you,’ said the Miller, ‘but you must take more pains. At present you have only the practice of friendship; some day you will have the theory also.’
“‘Do you really think I shall?’ asked little Hans.
“‘I have no doubt of it,’ answered the Miller, ‘but now that you have mended the roof, you had better go home and rest, for I want you to drive my sheep to the mountain to-morrow.’
“Poor little Hans was afraid to say anything to this, and early the next morning the Miller brought his sheep round to the cottage, and Hans started off with them to the mountain. It took him the whole day to get there and back; and when he returned he was so tired that he went off to sleep in his chair, and did not wake up till it was broad daylight.
“‘What a delightful time I shall have in my garden,’ he said, and he went to work at once.
“But somehow he was never able to look after his flowers at all, for his friend the Miller was always coming round and sending him off on long errands, or getting him to help at the mill. Little Hans was very much distressed at times, as he was afraid his flowers would think he had forgotten them, but he consoled himself by the reflection that the Miller was his best friend. ‘Besides,’ he used to say, ‘he is going to give me his wheelbarrow, and that is an act of pure generosity.’
“So little Hans worked away for the Miller, and the Miller said all kinds of beautiful things about friendship, which Hans took down in a note-book, and used to read over at night, for he was a very good scholar.
“Now it happened that one evening little Hans was sitting by his fireside when a loud rap came at the door. It was a very wild night, and the wind was blowing and roaring round the house so terribly that at first he thought it was merely the storm. But a second rap came, and then a third, louder than any of the others.
“‘It is some poor traveller,’ said little Hans to himself, and he ran to the door.
“There stood the Miller with a lantern in one hand and a big stick in the other.
“‘Dear little Hans,’ cried the Miller, ‘I am in great trouble. My little boy has fallen off a ladder and hurt himself, and I am going for the Doctor. But he lives so far away, and it is such a bad night, that it has just occurred to me that it would be much better if you went instead of me. You know I am going to give you my wheelbarrow, and so, it is only fair that you should do something for me in return.’
“‘Certainly,’ cried little Hans, ‘I take it quite as a compliment your coming to me, and I will start off at once. But you must lend me your lantern, as the night is so dark that I am afraid I might fall into the ditch.’
“‘I am very sorry,’ answered the Miller, ‘but it is my new lantern, and it would be a great loss to me if anything happened to it.’
“‘Well, never mind, I will do without it,’ cried little Hans, and he took down his great fur coat, and his warm scarlet cap, and tied a muffler round his throat, and started off.
“What a dreadful storm it was! The night was so black that little Hans could hardly see, and the wind was so strong that he could scarcely stand. However, he was very courageous, and after he had been walking about three hours, he arrived at the Doctor’s house, and knocked at the door.
“‘Who is there?’ cried the Doctor, putting his head out of his bedroom window.
“‘Little Hans, Doctor.’
“’What do you want, little Hans?’
“‘The Miller’s son has fallen from a ladder, and has hurt himself, and the Miller wants you to come at once.’
“‘All right!’ said the Doctor; and he ordered his horse, and his big boots, and his lantern, and came downstairs, and rode off in the direction of the Miller’s house, little Hans trudging behind him.
“But the storm grew worse and worse, and the rain fell in torrents, and little Hans could not see where he was going, or keep up with the horse. At last he lost his way, and wandered off on the moor, which was a very dangerous place, as it was full of deep holes, and there poor little Hans was drowned. His body was found the next day by some goatherds, floating in a great pool of water, and was brought back by them to the cottage.
“Everybody went to little Hans’ funeral, as he was so popular, and the Miller was the chief mourner.
“‘As I was his best friend,’ said the Miller, ‘it is only fair that I should have the best place’; so he walked at the head of the procession in a long black cloak, and every now and then he wiped his eyes with a big pocket-handkerchief.
“‘Little Hans is certainly a great loss to every one,’ said the Blacksmith, when the funeral was over, and they were all seated comfortably in the inn, drinking spiced wine and eating sweet cakes.
“‘A great loss to me at any rate,’ answered the Miller; ‘why, I had as good as given him my wheelbarrow, and now I really don’t know what to do with it. It is very much in my way at home, and it is in such bad repair that I could not get anything for it if I sold it. I will certainly take care not to give away anything again. One always suffers for being generous.’”
“Well?” said the Water-rat, after a long pause.
“Well, that is the end,” said the Linnet.
“But what became of the Miller?” asked the Water-rat.
“Oh! I really don’t know,” replied the Linnet; “and I am sure that I don’t care.”
“It is quite evident then that you have no sympathy in your nature,” said the Water-rat.
“I am afraid you don’t quite see the moral of the story,” remarked the Linnet.
“The what?” screamed the Water-rat.
“The moral.”
“Do you mean to say that the story has a moral?”
“Certainly,” said the Linnet.
“Well, really,” said the Water-rat, in a very angry manner, “I think you should have told me that before you began. If you had done so, I certainly would not have listened to you; in fact, I should have said ‘Pooh,’ like the critic. However, I can say it now”; so he shouted out “Pooh” at the top of his voice, gave a whisk with his tail, and went back into his hole.
“And how do you like the Water-rat?” asked the Duck, who came paddling up some minutes afterwards. “He has a great many good points, but for my own part I have a mother’s feelings, and I can never look at a confirmed bachelor without the tears coming into my eyes.”
“I am rather afraid that I have annoyed him,” answered the Linnet. “The fact is, that I told him a story with a moral.”
“Ah! that is always a very dangerous thing to do,” said the Duck.
And I quite agree with her.

