VỤ ÁN BLACK PETER
Trong suốt những năm tháng quen biết, tôi chưa bao giờ thấy anh bạn của mình đạt phong độ sung mãn đến thế-cả về tinh thần lẫn thể chất-như vào năm 1895. Danh tiếng ngày một vang xa đã mang đến cho anh một lượng khách hàng khổng lồ. Và tôi e rằng mình sẽ mắc phải điều bất kính nếu tiết lộ danh tính của đôi ba vị khách lừng lẫy từng bước qua ngưỡng cửa khiêm tốn của chúng tôi ở phố Baker. Thế nhưng Holmes, giống như mọi nghệ sĩ vĩ đại, sống chỉ vì nghệ thuật của mình. Ngoại trừ vụ của Công tước Holdernesse, tôi hiếm khi thấy anh đòi hỏi một khoản thù lao nào xứng tầm với những cống hiến vô giá ấy. Anh thờ ơ với danh vọng-thậm chí có phần thất thường-đến mức thường xuyên từ chối giúp đỡ những kẻ quyền thế, giàu sang nếu vấn đề của họ không khơi gợi được chút đồng cảm nào trong anh. Ngược lại, anh sẵn sàng dành hàng tuần lao tâm khổ tứ cho vụ án của một thân chủ khiêm tốn, chỉ cần nó mang những đặc điểm kỳ lạ, kịch tính, đủ sức thu hút trí tưởng tượng và thách thức tài trí của anh.
Trong cái năm 1895 đáng nhớ này, một chuỗi những vụ án kỳ quặc và chẳng hề liên quan đến nhau đã liên tiếp thu hút sự chú ý của anh. Trải dài từ cuộc điều tra nổi tiếng về cái chết đột ngột của Hồng y Tosca-một cuộc điều tra được thực hiện theo yêu cầu minh thị của chính Đức Giáo hoàng-cho đến vụ bắt giữ Wilson, gã huấn luyện chim hoàng yến khét tiếng, qua đó xóa sổ một ổ nhức nhối ngay giữa khu East End1 của London. Tiếp ngay sau hai vụ án lừng lẫy ấy là thảm kịch ở Woodman's Lee, cùng những tình tiết hết sức bí ẩn bao quanh cái chết của Thuyền trưởng Peter Carey. Sẽ không một ghi chép nào về những chiến công của ngài Sherlock Holmes được coi là trọn vẹn, nếu thiếu đi câu chuyện về vụ án vô cùng kỳ lạ này.
Vào tuần đầu tiên của tháng Bảy, anh bạn tôi thường xuyên vắng mặt khỏi căn hộ của chúng tôi, và vắng rất lâu, đến mức tôi biết chắc anh đang bận bịu với một việc gì đó. Trong thời gian ấy, có vài gã đàn ông trông khá thô lỗ ghé đến tìm và hỏi thăm Thuyền trưởng Basil. Điều này khiến tôi hiểu rằng Holmes đang làm việc ở một nơi nào đó, dưới một trong vô vàn lớp ngụy trang và những cái tên giả mà anh vẫn dùng để che giấu thân phận đáng gờm của mình. Anh có ít nhất năm nơi ẩn náu nhỏ, rải rác ở những khu vực khác nhau của London, nơi anh có thể thay hình đổi dạng. Anh không hề nói gì với tôi về công việc của mình, và tôi cũng chẳng có thói quen ép buộc anh phải tâm sự. Dấu hiệu rõ ràng đầu tiên mà anh cho tôi thấy về hướng điều tra của mình lại là một điều hết sức kỳ quặc. Anh đã ra ngoài từ trước bữa sáng. Và khi tôi vừa ngồi vào bàn ăn thì anh sải những bước dài bước vào phòng, mũ vẫn đội trên đầu, còn dưới nách thì kẹp một cây lao móc khổng lồ, cứ như thể đang cầm một chiếc ô vậy.
"Lạy Chúa, Holmes!" tôi kêu lên. "Đừng nói với tôi là anh đã đi khắp London với thứ đó đấy nhé?"
"Tôi chỉ vừa lái xe đến chỗ người bán thịt rồi quay về thôi."
"Chỗ người bán thịt ư?"
"Và tôi trở về với một cơn đói cồn cào tuyệt vời. Watson thân mến, chắc chắn chẳng còn gì phải bàn cãi về giá trị của việc tập thể dục trước bữa sáng nữa. Nhưng tôi dám cá rằng anh sẽ không đoán nổi hình thức tập thể dục của tôi đâu."
"Tôi chẳng buồn đoán làm gì."
Anh cười khúc khích trong lúc rót cà phê.
"Nếu anh có thể nhìn vào căn phòng phía sau cửa hàng của Allardyce, anh sẽ thấy một con lợn đã chết đang bị treo lủng lẳng trên một cái móc ở trần nhà. Và một quý ông chỉ mặc độc chiếc áo sơ mi đang hì hục dùng thứ vũ khí này mà đâm nó túi bụi. Tôi chính là con người đầy năng lượng đó, và tôi đã tự thuyết phục được bản thân rằng, dù có dốc hết sức lực, tôi cũng chẳng thể nào đâm con lợn thủng một phát bằng một nhát duy nhất. Có lẽ anh cũng muốn thử một chút chứ?"
"Không đời nào. Nhưng tại sao anh lại làm thế?"
"Bởi vì, theo tôi, điều này có vẻ liên quan gián tiếp đến bí ẩn ở Woodman's Lee. À, Hopkins, tôi đã nhận được bức điện của anh đêm qua, và tôi vẫn đang đợi anh đây. Mời vào và dùng bữa với chúng tôi."
Vị khách của chúng tôi là một người đàn ông vô cùng lanh lợi, chừng ba mươi tuổi. Anh ta mặc một bộ đồ vải tuýt trông khá nhã nhặn, nhưng vóc dáng vẫn giữ được vẻ thẳng tắp của một người đã quen khoác quân phục. Tôi nhận ra anh ta ngay lập tức: Stanley Hopkins, một thanh tra cảnh sát trẻ tuổi mà Holmes đặt rất nhiều kỳ vọng. Về phần mình, Hopkins lại bày tỏ sự ngưỡng mộ và tôn kính của một người học trò đối với những phương pháp khoa học của vị thám tử nghiệp dư lừng danh. Vầng trán Hopkins nhíu lại đầy u ám, và anh ta ngồi xuống với vẻ mặt vô cùng chán nản.
"Không, cảm ơn ngài. Tôi đã ăn sáng trước khi đến đây rồi. Tôi đã qua đêm trong thị trấn, vì tôi đến từ hôm qua để báo cáo ạ."
"Và anh phải báo cáo điều gì?"
"Thất bại, thưa ngài. Một sự thất bại hoàn toàn."
"Anh không có chút tiến triển nào sao?"
"Chẳng có gì cả."
"Trời ạ! Tôi buộc phải xem xét vấn đề này mới được."
"Tôi cầu mong ngài sẽ làm thế, ngài Holmes. Đây là cơ hội lớn đầu tiên của tôi, và tôi đã hoàn toàn bế tắc rồi. Vì Chúa, xin ngài hãy đến và giúp tôi một tay."
"Chà, chà, thật tình cờ là tôi đã đọc kỹ mọi bằng chứng hiện có rồi, kể cả báo cáo khám nghiệm tử thi. Nhân tiện, anh nghĩ sao về cái túi đựng thuốc lá tìm thấy ở hiện trường? Không có manh mối nào từ đó sao?"
Hopkins tỏ vẻ ngạc nhiên.
"Đó là túi của chính nạn nhân, thưa ngài. Bên trong có thêu chữ viết tắt tên ông ta. Và nó làm bằng da hải cẩu-mà ông ta vốn là một tay săn hải cẩu lão luyện."
"Nhưng ông ta không có tẩu."
"Đúng vậy, thưa ngài. Chúng tôi không tìm thấy cái tẩu nào. Thực ra, ông ta rất ít khi hút thuốc, nhưng có thể ông ta vẫn giữ một ít thuốc lá cho bạn bè."
"Không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi chỉ nhắc đến nó bởi vì, nếu tôi xử lý vụ án này, tôi sẽ có khuynh hướng lấy đó làm điểm khởi đầu cho cuộc điều tra của mình. Tuy nhiên, anh bạn Bác sĩ Watson của tôi đây chưa biết gì về vấn đề này, và tôi sẽ không phiền nếu được nghe kể lại toàn bộ chuỗi sự kiện một lần nữa. Anh chỉ cần phác thảo vài nét ngắn gọn về những điểm chính yếu cho chúng tôi là được."
Stanley Hopkins rút từ trong túi ra một mảnh giấy.
"Tôi có ghi vài mốc ngày tháng ở đây; chúng sẽ cho ngài biết về sự nghiệp của người đàn ông đã chết-Thuyền trưởng Peter Carey. Ông ta sinh năm 1845-tức là năm mươi tuổi. Ông ta là một trong những tay săn hải cẩu và cá voi táo bạo và thành công nhất. Năm 1883, ông ta làm thuyền trưởng con tàu săn hải cẩu chạy bằng hơi nước Sea Unicorn, thuộc cảng Dundee. Lúc đó, ông ta đã liên tiếp gặt hái được vài chuyến đi thắng lợi. Và đến năm sau, 1884, ông ta nghỉ hưu. Sau đó, ông ta ngao du đây đó vài năm, rồi cuối cùng mua một trang trại nhỏ tên là Woodman's Lee, gần Forest Row, ở Sussex. Ông ta đã sống ở đó sáu năm, và đã chết cách đây đúng một tuần, tính đến ngày hôm nay.
"Có đôi ba điểm rất kỳ quặc về con người này. Trong đời sống thường nhật, ông ta là một tín đồ Thanh giáo2 nghiêm khắc-một kẻ ít lời, lầm lì và ủ rũ. Gia đình ông ta gồm có vợ, một cô con gái hai mươi tuổi, và hai cô hầu gái. Đám hầu gái này liên tục thay đổi, vì bầu không khí trong nhà chưa bao giờ là dễ chịu, và đôi lúc nó trở nên vượt quá sức chịu đựng. Lão ta là một kẻ nghiện rượu thất thường. Những khi lên cơn, lão hệt như một con quỷ thực sự. Người ta đồn rằng lão từng lôi vợ và con gái ra khỏi nhà giữa đêm hôm, rồi quất roi xua họ chạy băng qua khu vườn, khiến cả ngôi làng bên ngoài cổng thức giấc bởi những tiếng la hét thất thanh.
"Lão ta cũng từng bị triệu tập ra tòa vì một vụ hành hung dã man nhằm vào vị mục sư già, người đã đến thăm để khuyên nhủ về lối sống của lão. Nói tóm lại, thưa ngài Holmes, ngài sẽ phải tìm kiếm rất lâu mới gặp được một kẻ nguy hiểm hơn Peter Carey. Và tôi nghe đồn rằng lão ta cũng mang đúng cái tính khí ấy khi chỉ huy con tàu của mình. Trong giới đi biển, lão được biết đến với biệt danh Black Peter-tức Peter Đen. Cái tên ấy gán cho lão không chỉ bởi khuôn mặt ngăm đen và màu sắc bộ râu rậm rạp, mà còn vì những cơn thịnh nộ là nỗi khiếp sợ của mọi người xung quanh. Tôi chẳng cần phải nói thêm rằng lão bị tất cả láng giềng ghê tởm và xa lánh; và tôi chưa hề nghe thấy một lời thương xót nào dành cho cái chết khủng khiếp của lão ta.
"Chắc ngài đã đọc trong bản báo cáo khám nghiệm về cái túp lều của lão ta rồi, thưa ngài Holmes. Nhưng có lẽ anh bạn của ngài ở đây thì chưa được nghe tới. Lão ta đã tự tay dựng một cái nhà kho bằng gỗ-lão luôn gọi đó là 'túp lều'-cách ngôi nhà chính chừng vài trăm thước. Và lão ngủ ở đó mỗi đêm. Đó là một cái lều nhỏ, chỉ vỏn vẹn một phòng, rộng mười sáu nhân mười feet. Lão giữ chìa khóa trong túi, tự tay dọn giường, tự quét dọn, và không cho phép bất kỳ ai bước qua bậu cửa. Hai bên có những ô cửa sổ nhỏ, lúc nào cũng che rèm và không bao giờ mở ra. Một trong những ô cửa ấy hướng thẳng ra con đường lớn. Và mỗi khi ánh đèn bên trong bừng sáng lúc đêm về, người ta thường chỉ tay về phía đó và tự hỏi không biết Black Peter đang làm gì bên trong. Chính ô cửa sổ ấy, thưa ngài Holmes, đã cung cấp cho chúng ta một trong số ít những bằng chứng xác thực được đưa ra tại phiên khám nghiệm tử thi.
"Ngài hẳn còn nhớ, một người thợ xây đá tên là Slater, trên đường đi bộ từ Forest Row về vào khoảng một giờ sáng-hai ngày trước khi vụ án mạng xảy ra-đã dừng chân khi đi ngang qua khu đất và nhìn vào ô ánh sáng hình vuông vẫn đang hắt ra từ giữa những tán cây. Ông ta thề rằng mình đã nhìn thấy bóng một cái đầu người quay ngang in rõ trên tấm rèm. Và cái bóng này chắc chắn không phải của Peter Carey, một người mà ông ta biết rất rõ. Đó là bóng của một gã đàn ông cũng có râu, nhưng bộ râu ngắn hơn và chĩa ra phía trước, theo một kiểu rất khác với bộ râu của viên thuyền trưởng. Ông ta khai như vậy. Nhưng cũng cần nói thêm rằng ông ta đã ngồi trong quán rượu suốt hai tiếng đồng hồ trước đó, và khoảng cách từ con đường đến ô cửa sổ cũng khá xa. Hơn nữa, sự việc này diễn ra vào ngày thứ Hai, còn tội ác thì xảy ra vào ngày thứ Tư.
"Vào ngày thứ Ba, Peter Carey chìm trong một trong những cơn tăm tối nhất của mình. Mặt lão đỏ gay vì rượu, và lão hung dữ như một con thú hoang nguy hiểm. Lão lảo đảo đi quanh nhà, và đám đàn bà trong nhà cứ nghe tiếng lão là bỏ chạy tán loạn. Đến tối muộn, lão đi xuống cái túp lều của mình. Khoảng hai giờ sáng hôm sau, cô con gái của lão-người vốn ngủ với cửa sổ luôn mở-đã nghe thấy một tiếng thét vô cùng khủng khiếp vọng ra từ hướng ấy. Nhưng lão ta la hét, gào rống mỗi khi say xỉn vốn chẳng phải chuyện hiếm, nên chẳng ai mảy may bận tâm. Mãi đến bảy giờ sáng, khi một trong những người hầu gái thức dậy và nhận thấy cánh cửa túp lều đang mở toang, thì nỗi kinh hoàng mà lão ta gieo rắc vẫn lớn đến mức phải đến tận giữa trưa mới có người dám mon men xuống xem chuyện gì đã xảy ra. Họ nhìn qua cánh cửa rộng mở ấy và thấy một cảnh tượng khiến mặt mày cắt không còn giọt máu, họ hoảng hồn bạt vía chạy thục mạng về làng để cầu cứu. Trong vòng một giờ, tôi đã có mặt tại hiện trường và tiếp nhận vụ án.
"Chà, tôi vốn có một tinh thần khá vững vàng, như ngài đã biết đấy, thưa ngài Holmes. Nhưng tôi xin thề với ngài rằng, tôi đã rùng mình khi thò đầu vào trong cái ngôi nhà nhỏ bé ấy. Nó vo ve như một cây đàn gió, bởi lũ ruồi và nhặng xanh bu đầy. Còn sàn nhà và tường thì chẳng khác gì một lò mổ. Lão ta gọi nó là 'túp lều', và quả thực nó đúng là một cái túp lều-nhưng bước vào bên trong, ngài sẽ tưởng như mình đang đứng trên một con tàu. Ở một đầu là một cái giường tầng; có một cái rương thủy thủ; những tấm bản đồ và hải đồ; một bức tranh vẽ con tàu Sea Unicorn; một dãy sổ nhật ký hành trình trên kệ-tất cả mọi thứ cứ y hệt như những gì người ta hình dung về căn phòng của một vị thuyền trưởng. Và ở đó, ngay chính giữa căn phòng, chính là con người ấy-gương mặt lão vặn vẹo tựa một linh hồn lạc lối trong cơn đau đớn tột cùng, bộ râu lốm đốm vĩ đại của lão dựng ngược lên trong sự quằn quại. Một cây lao móc bằng thép đã bị đâm xuyên qua bộ ngực rộng của lão. Nó cắm sâu đến mức găm cả vào lớp gỗ của bức tường phía sau lưng lão. Lão bị ghim chặt vào đó-như một con bọ trên tấm bìa cứng. Tất nhiên, lão đã chết hẳn, và đã chết ngay từ lúc thốt ra tiếng thét đau đớn cuối cùng ấy.
"Tôi biết rõ các phương pháp của ngài, thưa ngài, và tôi đã áp dụng chúng. Trước khi cho phép bất kỳ ai động vào bất cứ thứ gì, tôi đã tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng nhất có thể mặt đất bên ngoài, cũng như sàn nhà bên trong căn phòng. Không hề có một dấu chân nào."
"Ý anh là anh không nhìn thấy dấu chân nào ư?"
"Tôi xin cam đoan với ngài, thưa ngài, là không có lấy một dấu vết nào."
"Hỡi Hopkins tốt bụng của tôi, tôi đã điều tra biết bao nhiêu vụ án, nhưng tôi chưa từng thấy vụ nào được thực hiện bởi một sinh vật biết bay cả. Chừng nào tên tội phạm còn đứng trên hai chân của hắn, thì chừng đó phải còn để lại một vết lõm, một vết xước, hay một sự dịch chuyển nhỏ nhoi nào đó mà con mắt của nhà điều tra khoa học có thể phát hiện ra. Thật không thể tin nổi rằng căn phòng đẫm máu ấy lại không chứa một dấu vết nào có thể giúp ích cho chúng ta. Nhưng dù sao, tôi cũng đã biết từ cuộc khám nghiệm rằng có một số đồ vật mà anh đã không bỏ qua?"
Vị thanh tra trẻ nhăn mặt trước những lời châm chọc mỉa mai của anh bạn tôi.
"Quả thật tôi đã thật ngu ngốc khi không mời ngài đến ngay lúc đó, ngài Holmes. Nhưng chuyện đó giờ đã qua rồi. Vâng, có vài món đồ trong phòng đáng được đặc biệt chú ý. Thứ nhất là cây lao móc đã được dùng để thực hiện hành vi giết người. Nó bị giật xuống từ một cái giá treo trên tường. Hai cái còn lại vẫn nằm nguyên đó, và có một chỗ trống dành cho cái thứ ba. Trên cán lao có khắc dòng chữ 'SS. Sea Unicorn, Dundee.' Điều này dường như cho thấy tội ác xảy ra trong một cơn bốc đồng-kẻ sát nhân đã chộp ngay lấy thứ vũ khí đầu tiên mà hắn vớ được. Việc vụ án mạng diễn ra vào lúc hai giờ sáng, cùng với bằng chứng Peter Carey đã mặc quần áo chỉnh tề, cho thấy ông ta có một cuộc hẹn với hung thủ. Điều này càng được củng cố thêm bởi sự hiện diện của một chai rượu rum cùng hai chiếc ly bẩn trên bàn."
"Đúng vậy," Holmes nói. "Tôi nghĩ cả hai suy luận ấy đều hợp lý. Trong phòng còn có loại rượu nào khác ngoài rum không?"
"Có ạ. Còn có một giá đựng rượu trên chiếc rương thủy thủ, gồm rượu brandy và whisky. Tuy nhiên điều này không mấy quan trọng với chúng ta, vì các chai đều còn đầy, chứng tỏ chúng chưa hề được đụng tới."
"Dù vậy, sự hiện diện của nó vẫn mang một ý nghĩa nào đó," Holmes nói. "Nhưng thôi, hãy kể cho chúng tôi nghe thêm về những món đồ mà anh cho là có liên quan mật thiết đến vụ án."
"Còn có cái túi đựng thuốc lá này, ở trên bàn."
"Nó nằm ở vị trí nào trên bàn?"
"Ở chính giữa ạ. Nó làm bằng da hải cẩu thô-loại da còn nguyên lông thẳng, với một sợi dây da để buộc lại. Bên trong nắp có thêu chữ 'P.C.'. Và bên trong đựng khoảng nửa ounce thuốc lá loại nồng của dân đi biển."
"Tuyệt vời! Còn gì nữa không?"
Stanley Hopkins rút từ trong túi ra một cuốn sổ tay bọc bìa màu xám nhạt. Bên ngoài cuốn sổ thô ráp và sờn cũ, những trang giấy thì đã ngả màu. Trên trang đầu tiên, người ta viết những chữ cái viết tắt "J.H.N." và con số "1883". Holmes đặt nó lên bàn và chăm chú kiểm tra một cách tỉ mỉ, trong khi Hopkins và tôi cùng nhìn qua vai anh. Ở trang thứ hai có in dòng chữ "C.P.R.", và sau đó là vài trang liệt kê các con số. Một tiêu đề khác là "Argentine", một tiêu đề nữa là "Costa Rica", rồi một cái khác là "San Paulo"-mỗi mục đều có các trang chứa đầy những ký hiệu và con số ở phía sau.
"Anh nghĩ gì về những thứ này?" Holmes hỏi.
"Chúng trông như là danh sách chứng khoán trên Sàn Giao dịch vậy. Tôi đoán 'J.H.N.' là chữ viết tắt của một nhà môi giới, còn 'C.P.R.' có thể là khách hàng của anh ta."
"Hãy thử ghép với Canadian Pacific Railway-Đường sắt Thái Bình Dương Canada-xem sao," Holmes nói.
Stanley Hopkins buột miệng chửi thề qua kẽ răng, rồi đập mạnh bàn tay đang nắm chặt xuống đùi mình.
"Tôi đúng là một thằng ngốc!" anh ta kêu lên. "Tất nhiên rồi, đúng như ngài nói. Vậy thì 'J.H.N.' chính là những chữ viết tắt duy nhất mà chúng ta còn phải xác định. Tôi đã lục tung những danh sách cũ của Sàn Giao dịch, nhưng không tìm ra bất kỳ ai-dù là thành viên chính thức hay nhà môi giới bên ngoài-trong năm 1883 có tên viết tắt tương ứng với những chữ cái này. Tuy nhiên, tôi vẫn có cảm giác đây chính là manh mối quan trọng nhất mà tôi đang nắm giữ. Ngài sẽ thừa nhận điều này chứ, ngài Holmes, rằng rất có khả năng những chữ viết tắt này thuộc về người thứ hai có mặt tại hiện trường-nói cách khác, thuộc về chính kẻ sát nhân. Tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm rằng việc một tài liệu liên quan đến khối lượng lớn chứng khoán có giá trị xuất hiện trong vụ án lần đầu tiên đã cung cấp cho chúng ta một vài manh mối về động cơ gây án."
Gương mặt của Sherlock Holmes lộ rõ vẻ hoàn toàn bất ngờ trước diễn biến mới mẻ này.
"Tôi phải thừa nhận cả hai điểm của anh," anh nói. "Tôi phải công nhận rằng cuốn sổ tay này-thứ đã không hề xuất hiện tại phiên khám nghiệm tử thi-đã làm đảo lộn mọi giả định mà tôi có thể đã hình thành. Tôi đã đi đến một lý thuyết về tội ác mà không hề có chỗ cho món đồ này. Anh đã cố gắng truy tìm bất kỳ chứng khoán nào được đề cập ở đây chưa?"
"Các cuộc điều tra hiện đang được tiến hành tại các văn phòng. Nhưng tôi e rằng sổ đăng ký đầy đủ các cổ đông của những công ty Nam Mỹ này vốn nằm ở tận Nam Mỹ, và phải mất vài tuần nữa chúng ta mới có thể truy ra được những cổ phiếu này."
Holmes đang kiểm tra phần bìa của cuốn sổ tay bằng chiếc kính lúp của mình.
"Rõ ràng ở đây có một vết đổi màu," anh nói.
"Vâng, thưa ngài, đó là một vết máu. Tôi đã nói với ngài rằng tôi nhặt cuốn sổ này trên sàn nhà mà."
"Vết máu nằm ở mặt trên hay mặt dưới?"
"Ở mặt tiếp xúc với sàn nhà gỗ ạ."
"Điều này đương nhiên chứng tỏ cuốn sổ đã bị đánh rơi sau khi tội ác xảy ra."
"Chính xác, ngài Holmes. Tôi đã đánh giá cao điểm đó. Tôi phỏng đoán rằng nó đã bị kẻ sát nhân đánh rơi trong lúc vội vã tẩu thoát. Nó nằm gần cửa."
"Tôi đoán là không có chứng khoán nào trong số này được tìm thấy trong số tài sản của người đã chết?"
"Không, thưa ngài."
"Anh có lý do nào để nghi ngờ đây là một vụ cướp của không?"
"Không, thưa ngài. Không có dấu hiệu gì cho thấy đồ đạc đã bị lục lọi hay xáo trộn."
"Trời ạ, đây quả thực là một vụ án hết sức thú vị. À, còn một con dao nữa, phải không?"
"Một con dao găm vẫn còn nằm trong vỏ. Nó nằm ngay dưới chân người chết. Bà Carey đã xác nhận đó là tài sản của chồng mình."
Holmes chìm vào suy tư một hồi lâu.
"Thôi được," cuối cùng anh lên tiếng. "Tôi nghĩ mình sẽ phải đích thân đến đó và xem xét một chuyến."
Stanley Hopkins buột miệng kêu lên một tiếng đầy vui sướng.
"Cảm ơn ngài. Làm vậy thực sự sẽ trút được một gánh nặng khỏi tâm trí tôi."
Holmes khẽ vẫy ngón tay về phía viên thanh tra.
"Đáng lẽ nhiệm vụ này sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu anh tìm đến tôi cách đây một tuần," anh nói. "Nhưng ngay cả lúc này, chuyến viếng thăm của tôi cũng có thể không hoàn toàn vô ích. Watson, nếu anh có thời gian rảnh, tôi sẽ rất vui nếu có anh đồng hành. Nếu anh gọi một chiếc xe ngựa bốn bánh, Hopkins, thì trong vòng mười lăm phút nữa chúng ta sẽ sẵn sàng khởi hành đến Forest Row."
Xuống xe nơi một ga nhỏ nép mình bên đường, chúng tôi đánh xe thêm vài dặm, băng qua những gì còn sót lại của cánh rừng đại ngàn xưa cũ - mảnh rừng từng che chở cho quân xâm lược Saxon3 thuở nào, khu "rừng hoang" bất khả xâm phạm suốt sáu mươi năm đã là thành lũy của nước Anh. Phần lớn diện tích giờ đã trọc trụi, bởi chính nơi đây từng đặt những lò luyện sắt đầu tiên trên đất nước, và người ta đã đốn sạch cây để nấu quặng. Về sau, những mỏ giàu có hơn ở miền Bắc thu hút toàn bộ ngành nghề này đi mất, để lại chẳng còn gì ngoài những lùm cây tiêu điều và những vết sẹo hằn sâu trên mặt đất - bằng chứng câm lặng của một thời đã qua. Ngay tại một khoảnh đất trống bên sườn đồi xanh mướt, sừng sững một ngôi nhà đá dài và thấp, lối vào uốn lượn vòng vèo băng qua những cánh đồng. Nằm gần con đường hơn, ba phía ôm trọn bởi bụi rậm, là một túp lều nhỏ với duy nhất một khung cửa sổ và cánh cửa quay mặt về phía chúng tôi. Đó chính là hiện trường vụ án mạng.
Stanley Hopkins dẫn chúng tôi đến ngôi nhà trước, nơi anh giới thiệu với chúng tôi một người đàn bà hốc hác, tóc hoa râm - góa phụ của kẻ bị sát hại. Khuôn mặt bà gầy guộc, chi chít những nếp nhăn sâu, và ánh mắt lén lút đầy sợ hãi tận đáy sâu đôi mắt đỏ hoe kể lại trọn vẹn những năm tháng khốn khổ cùng ngược đãi mà bà đã cam chịu. Cùng với bà là cô con gái - một thiếu nữ nhợt nhạt, tóc vàng hoe, đôi mắt ánh lên vẻ thách thức khi cô buông lời rằng mình mừng vì cha đã chết, và cô chúc phúc cho bàn tay nào đã quật ngã ông ta. Quả là một gia đình khủng khiếp mà Black Peter Carey đã gây dựng nên cho chính mình! Chúng tôi bước ra ngoài nắng với một cảm giác nhẹ nhõm thực sự, rồi men theo lối mòn đã bị giẫm nát băng qua cánh đồng - con đường hằn dấu chân của chính kẻ đã chết.
Túp lều là một chốn cư ngụ hết sức thô sơ: vách gỗ, mái lợp ván cong vênh, một ô cửa sổ kế bên cửa ra vào và một ô nữa ở phía xa hơn. Stanley Hopkins rút chìa khóa trong túi ra và đang cúi xuống tra vào ổ, thì anh khựng lại, nét mặt thoắt lộ vẻ tập trung xen lẫn ngỡ ngàng.
"Có kẻ đã cố cạy cái ổ khóa này," anh nói.
Sự thật ấy không còn gì để nghi ngờ. Lớp gỗ đã bị khoét, những vết xước hằn màu trắng lộ ra xuyên qua lớp sơn, như thể chúng vừa mới được tạo ra ngay lúc này. Holmes đã dời sang kiểm tra ô cửa sổ.
"Có kẻ cũng đã cố nạy luôn cả cái này. Nhưng dù là ai đi nữa, hắn cũng chẳng tài nào chui lọt vào được. Đích thị là một tên trộm vụng về hết mức."
"Chuyện này hết sức lạ lùng," viên thanh tra nhận xét. "Tôi dám thề rằng tối qua những vết này chưa hề có ở đây."
"Có lẽ là kẻ tò mò nào đó ngoài làng thôi," tôi đưa ra ý kiến.
"Khó mà có chuyện đó lắm. Rất ít kẻ trong số bọn họ dám đặt chân vào khu đất này, chứ đừng nói đến việc mò vào tận túp lều. Ngài thấy sao, ngài Holmes?"
"Tôi cho rằng vận may đang mỉm cười với chúng ta đấy."
"Ý ngài là kẻ đó sẽ còn quay lại?"
"Rất có khả năng. Hắn đến với hy vọng thấy cửa vẫn mở. Hắn đã định luồn lưỡi của một con dao nhíp rất nhỏ để mở. Nhưng bất thành. Vậy tiếp theo hắn sẽ làm gì?"
"Đêm mai quay lại với một dụng cụ tử tế hơn."
"Tôi cũng nghĩ đúng như vậy. Và sẽ là lỗi của chúng ta nếu không có mặt ở đây để tiếp đón hắn. Nhưng trong lúc chờ đợi, để tôi xem bên trong túp lều đã."
Những dấu vết của thảm kịch đã được xóa sạch, nhưng đồ đạc trong căn phòng nhỏ vẫn nằm nguyên chỗ cũ như đêm xảy ra vụ án. Suốt hai tiếng đồng hồ, với sự tập trung tột bậc, Holmes lần lượt xem xét từng đồ vật, thế nhưng nét mặt anh cho thấy cuộc lùng sục chẳng mang lại kết quả gì. Chỉ một lần duy nhất, anh dừng lại giữa cuộc khám xét kiên nhẫn của mình.
"Anh có lấy món gì trên chiếc kệ này không, Hopkins?"
"Không, tôi không hề động đến bất cứ thứ gì."
"Đã có thứ gì đó bị dời đi rồi. Ở góc kệ này, lớp bụi mỏng hơn hẳn những chỗ khác. Có thể là một cuốn sách đặt nằm nghiêng. Cũng có thể là một cái hộp. Thôi được, tôi chẳng thể làm gì thêm ở đây nữa. Đi dạo một vòng trong khu rừng xinh đẹp này đi, Watson, thưởng ngoạn chim chóc và hoa cỏ vài giờ cho thư thái. Chốc nữa chúng ta sẽ gặp lại anh ở đây, Hopkins, và xem thử liệu có thể đến gần hơn với vị khách quý đã ghé thăm trong đêm hay không."
Đã quá mười một giờ đêm khi chúng tôi thiết lập xong điểm mai phục nhỏ của mình. Hopkins muốn để ngỏ cửa túp lều, nhưng Holmes cho rằng làm thế sẽ khiến kẻ lạ mặt sinh nghi. Ổ khóa khá đơn sơ, chỉ cần một lưỡi dao cứng cáp là có thể bật nó ra. Holmes cũng đề nghị chúng tôi đừng nấp bên trong túp lều, mà hãy đợi ở ngoài, giữa những bụi cây rậm rạp mọc quanh khung cửa sổ phía xa. Bằng cách này, một khi hắn châm lửa, chúng tôi sẽ quan sát được rõ ràng, và biết được mục đích thực sự của chuyến viếng thăm lén lút giữa đêm khuya này là gì.
Đó là một phiên canh gác dài lê thê và ảm đạm, nhưng cũng mang đến cái cảm giác hồi hộp mà người thợ săn vẫn thường nếm trải khi nằm phục bên vũng nước, chờ đợi con thú săn mồi khát khô cổ xuất hiện. Sinh vật hung tợn nào sẽ len lỏi đến chỗ chúng tôi từ trong bóng tối đây? Liệu đó có phải là một con hổ dữ của tội ác, chỉ có thể bị khuất phục sau cuộc chiến ác liệt với nanh vuốt sáng loáng, hay nó sẽ tỏ ra chỉ là một con chó rừng lén lút, chỉ gây nguy hiểm cho những kẻ yếu đuối và không được che chở?
Trong sự im lặng tuyệt đối, chúng tôi thu mình giữa những bụi cây, chờ đợi bất kỳ điều gì có thể xảy ra. Lúc đầu, tiếng bước chân của vài người dân làng về muộn, hay âm thanh của những giọng nói vọng ra từ trong làng, khiến phiên canh gác của chúng tôi bớt phần nặng nề. Nhưng rồi từng tiếng động gián đoạn ấy cũng dần lịm tắt, và một sự tĩnh lặng tuyệt đối bao trùm lấy chúng tôi. Chỉ còn lại tiếng chuông nhà thờ xa xa điểm từng hồi, báo cho chúng tôi biết về dòng trôi của màn đêm, cùng tiếng xào xạc thì thầm của một cơn mưa phùn nhẹ rơi giữa những tán lá đang che chở cho chúng tôi.
Đồng hồ điểm hai giờ rưỡi, cái giờ tăm tối nhất trước bình minh, thì tất cả chúng tôi đều giật mình bởi một tiếng lách cách trầm nhưng sắc gọn vọng ra từ hướng cổng. Có ai đó đã bước vào lối đi rải sỏi dẫn vào nhà. Lại một khoảng lặng dài tiếp nối, và tôi bắt đầu lo rằng đó chỉ là một báo động giả, thì tai tôi bắt được tiếng bước chân lén lút ở phía bên kia túp lều. Một lát sau, vang lên tiếng kim loại cào cấu và lách cách. Kẻ đó đang tìm cách cạy ổ khóa. Lần này, kỹ năng của hắn đã khá hơn, hoặc công cụ của hắn tốt hơn, vì một tiếng "tách" bất ngờ vang lên, rồi đến tiếng cọt kẹt của bản lề. Ngay sau đó, một que diêm bật sáng, và khoảnh khắc kế tiếp, ánh nến ổn định tràn ngập bên trong túp lều. Xuyên qua tấm màn gạc mỏng, tất cả ánh mắt chúng tôi đều dán chặt vào cảnh tượng bên trong.
Vị khách ghé thăm đêm nay là một thanh niên trẻ tuổi, ốm yếu và gầy gò. Hàng ria mép đen của cậu ta càng làm tôn thêm vẻ nhợt nhạt như xác chết trên gương mặt. Cậu ta trông không thể hơn hai mươi tuổi là bao. Tôi chưa từng thấy ai hiện lên vẻ sợ hãi thảm hại đến thế - hàm răng cậu ta va vào nhau lập cập trông thấy rõ, và toàn thân run rẩy từng hồi. Cậu ta ăn vận như một quý ông, khoác ngoài chiếc áo Norfolk, quần knickerbocker4 ống rộng, đầu đội mũ vải. Chúng tôi nhìn cậu ta đảo đôi mắt hoảng hốt nhìn quanh quất khắp căn phòng. Rồi cậu ta đặt mẩu nến lên bàn, khuất khỏi tầm nhìn của chúng tôi, tiến vào một góc phòng. Khi quay lại, trên tay cậu ta là một cuốn sổ lớn - một trong những cuốn nhật ký hành trình xếp thành hàng trên kệ. Tựa người lên mặt bàn, cậu ta lật nhanh từng trang sổ cho đến khi tìm được mục mình cần. Rồi, với một cử chỉ giận dữ của bàn tay đang siết chặt, cậu ta đóng sầm cuốn sổ lại, đặt nó về chỗ cũ trong góc, và thổi tắt ngọn nến.
Cậu ta vừa quay người định rời khỏi túp lều, thì bàn tay Hopkins đã chộp lấy cổ áo. Tôi nghe thấy tiếng thở hổn hển đầy kinh hoàng của cậu ta khi nhận ra mình đã bị tóm. Ngọn nến lại được thắp lên, và kẻ tù nhân khốn khổ của chúng tôi đứng đó, run rẩy và co rúm trong vòng kìm kẹp của viên thám tử cảnh sát. Cậu ta ngồi sụp xuống chiếc rương đi biển, ánh mắt bất lực nhìn từ người này sang người khác.
"Nào, anh bạn trẻ của tôi," Stanley Hopkins lên tiếng, "anh là ai, và anh muốn gì ở đây?"
Người thanh niên trấn tĩnh lại, rồi đối mặt với chúng tôi bằng một nỗ lực lấy lại sự điềm tĩnh.
"Tôi đoán các ông là thám tử cảnh sát?" cậu ta nói. "Các ông đang nghĩ tôi có liên quan đến cái chết của Thuyền trưởng Peter Carey. Tôi xin cam đoan với các ông rằng tôi vô tội."
"Chúng ta sẽ xem xét điều đó," Hopkins đáp. "Trước hết, tên anh là gì?"
"Tôi là John Hopley Neligan."
Tôi nhận thấy Holmes và Hopkins trao nhau một ánh nhìn thật nhanh.
"Anh đang làm gì ở đây?"
"Tôi có thể nói chuyện riêng được không?"
"Không, chắc chắn là không."
"Vậy tại sao tôi phải nói cho các ông biết?"
"Nếu anh không có câu trả lời, điều đó sẽ rất bất lợi cho anh tại phiên tòa đấy."
Người thanh niên nhăn mặt.
"Thôi được, tôi sẽ kể cho các ông nghe," cậu ta nói. "Có gì mà tôi phải giấu cơ chứ? Nhưng quả thực tôi ghét phải nghĩ đến việc vụ bê bối cũ kỹ này lại có thêm một cơ hội sống dậy. Các ông đã bao giờ nghe nói về Dawson và Neligan chưa?"
Qua nét mặt Hopkins, tôi có thể thấy anh ta chưa từng nghe qua cái tên ấy, nhưng Holmes thì lại tỏ ra vô cùng thích thú.
"Ý anh là những nhân viên ngân hàng ở West Country5," Holmes nói. "Họ đã phá sản với số nợ một triệu bảng, làm tan nát một nửa số gia đình trong hạt Cornwall, và Neligan đã biến mất."
"Chính xác. Neligan là cha tôi."
Cuối cùng chúng tôi cũng nắm được điều gì đó có giá trị, nhưng quả thực còn một khoảng cách quá xa giữa hình ảnh một viên giám đốc ngân hàng đang lẩn trốn và Thuyền trưởng Peter Carey bị ghim chặt vào tường bằng chính một trong những chiếc lao móc của ông ta. Tất cả chúng tôi đều chăm chú lắng nghe những lời kể tiếp theo của người thanh niên.
"Cha tôi mới thực sự là người có liên quan. Dawson đã nghỉ hưu. Khi đó tôi mới chỉ mười tuổi, nhưng cũng đã đủ lớn để cảm nhận nỗi nhục nhã và kinh hoàng của toàn bộ sự việc. Người ta đồn rằng cha tôi đã đánh cắp toàn bộ số chứng khoán rồi bỏ trốn. Điều đó không đúng. Cha tôi tin rằng nếu có đủ thời gian để thanh lý chúng, mọi chuyện sẽ ổn thỏa và tất cả chủ nợ sẽ được thanh toán đầy đủ. Ông đã lên chiếc du thuyền nhỏ của mình đi Na Uy ngay trước khi lệnh bắt giữ ông được ban hành. Tôi vẫn còn nhớ cái đêm cuối cùng ấy, khi ông nói lời tạm biệt với mẹ tôi. Ông để lại cho chúng tôi một danh sách các chứng khoán ông đang mang theo, và ông thề rằng sẽ quay trở về với danh dự được gột rửa sạch sẽ, và không một ai đã tin tưởng ông sẽ phải chịu thiệt thòi. Nhưng rồi, chẳng ai còn nghe thấy tin tức gì từ ông nữa. Cả chiếc du thuyền lẫn con người ông đã hoàn toàn biến mất. Mẹ tôi và tôi tin rằng ông, cùng con tàu và những chứng khoán ông mang theo, đã nằm lại dưới đáy biển sâu. Tuy nhiên, chúng tôi có một người bạn trung thành, một doanh nhân, và chính chú ấy đã phát hiện ra cách đây không lâu rằng một số chứng khoán cha tôi từng mang theo đã xuất hiện trở lại trên thị trường London. Các ông hẳn có thể tưởng tượng được nỗi kinh ngạc của chúng tôi. Tôi đã dành nhiều tháng trời lần theo dấu vết của chúng, và cuối cùng, sau bao nghi ngờ và khó khăn, tôi phát hiện ra rằng người bán đầu tiên chính là Thuyền trưởng Peter Carey, chủ nhân của túp lều này.
Dĩ nhiên, tôi đã tiến hành một số cuộc điều tra về con người này. Tôi biết được rằng ông ta từng là thuyền trưởng của một con tàu săn cá voi, dự kiến cập bến trở về từ vùng biển Bắc Cực vào đúng thời điểm cha tôi đang băng qua Na Uy. Mùa thu năm ấy là một mùa thu đầy giông bão, với một chuỗi dài những cơn cuồng phong phương nam. Chiếc du thuyền của cha tôi rất có thể đã bị gió bão đẩy dạt lên phía bắc, và chạm trán với tàu của Thuyền trưởng Peter Carey ở đó. Nếu đúng là như vậy, thì chuyện gì đã xảy ra với cha tôi? Dù thế nào đi nữa, nếu tôi có thể tìm được bằng chứng từ chính Peter Carey về cách những chứng khoán này xuất hiện trên thị trường, thì đó sẽ là minh chứng cho thấy cha tôi đã không bán chúng, và rằng ông không hề có ý định trục lợi cá nhân khi mang chúng đi.
Tôi đến Sussex với ý định gặp vị thuyền trưởng, nhưng đúng lúc đó thì cái chết khủng khiếp của ông ta xảy ra. Tôi đã đọc được trong buổi khám nghiệm tử thi một đoạn mô tả về túp lều của ông ta, trong đó nhắc đến việc những cuốn nhật ký hành trình cũ của con tàu được cất giữ ở đây. Tôi chợt nghĩ, nếu tôi có thể xem chuyện gì đã diễn ra vào tháng Tám năm 1883 trên con tàu Sea Unicorn, thì biết đâu tôi sẽ giải đáp được bí ẩn về số phận của cha mình. Tối hôm qua, tôi đã cố gắng lấy những cuốn nhật ký này, nhưng không sao mở được cửa. Đêm nay tôi thử lại lần nữa và đã thành công, nhưng rồi lại phát hiện ra rằng những trang ghi chép về tháng đó đã bị xé khỏi cuốn sổ. Và đó cũng chính là lúc tôi thấy mình trở thành tù nhân trong tay các ông."
"Chỉ có vậy thôi sao?" Hopkins hỏi.
"Vâng, chỉ có vậy thôi." Đôi mắt cậu ta lảng tránh khi nói câu đó.
"Anh không còn điều gì khác muốn nói với chúng tôi sao?"
Cậu ta ngập ngừng.
"Không, không còn gì nữa ạ."
"Thế anh giải thích sao về cái này?" Hopkins quát lên, tay giơ cao cuốn sổ tay chết người - trên trang đầu tiên là những chữ cái viết tắt mang tên kẻ đang bị bắt giữ, và vết máu loang lổ trên bìa.
Người đàn ông khốn khổ như sụp đổ hoàn toàn. Cậu ta gục mặt vào hai lòng bàn tay, toàn thân run lên bần bật.
"Các ông lấy nó ở đâu ra vậy?" cậu ta rên rỉ. "Tôi không biết. Tôi cứ tưởng mình đã đánh mất nó ở khách sạn rồi."
"Thế là đủ rồi," Hopkins nghiêm giọng tuyên bố. "Nếu anh còn điều gì muốn nói, anh sẽ phải nói trước tòa. Còn bây giờ, anh sẽ đi cùng tôi xuống đồn cảnh sát. Vâng, thưa ngài Holmes, tôi vô cùng biết ơn ngài và bạn của ngài đã không quản ngại đường xá xa xôi xuống đây giúp đỡ tôi. Hóa ra sự hiện diện của ngài là không cần thiết, và tôi cũng đã có thể đưa vụ án này đến một kết quả thành công mà không cần đến ngài, nhưng dù sao đi nữa, tôi vẫn hết sức biết ơn. Phòng đã được đặt trước cho ngài tại Khách sạn Brambletye, vậy chúng ta hãy cùng nhau đi bộ xuống làng."
"Chà, Watson, anh nghĩ sao về chuyện này?" Holmes hỏi khi chúng tôi cùng quay trở về vào sáng hôm sau.
"Tôi thấy anh có vẻ không hài lòng lắm."
"Ồ, có chứ, Watson thân mến, tôi hoàn toàn hài lòng. Có điều, cách làm việc của Stanley Hopkins thì không khiến tôi tán thưởng chút nào. Tôi rất thất vọng về Stanley Hopkins. Tôi đã kỳ vọng nhiều hơn ở anh ta. Nguyên tắc đầu tiên trong điều tra tội phạm là phải luôn lường trước một khả năng khác và đề phòng nó."
"Vậy thì khả năng khác đó là gì?"
"Là hướng mà chính tôi đang theo đuổi. Có thể nó chẳng dẫn đến đâu cả. Tôi chưa thể nói trước được. Nhưng ít nhất tôi sẽ theo nó đến cùng."
Vài bức thư đang đợi Holmes ở phố Baker. Anh chộp lấy một bức, mở ra, rồi bật cười khúc khích đầy đắc thắng.
"Tuyệt vời, Watson! Khả năng kia đang tiến triển đây. Anh có sẵn mẫu điện tín không? Viết giúp tôi vài tin nhắn nhé: 'Sumner, Đại lý Vận tải biển, Đường Ratcliff Highway6. Cử ba người đến, mười giờ sáng mai.-Basil.' Đó là cái tên tôi dùng ở khu ấy. Còn tin này nữa: 'Thanh tra Stanley Hopkins, 46 Phố Lord, Brixton. Đến ăn sáng lúc chín rưỡi sáng mai. Quan trọng. Đánh điện nếu không đến được.-Sherlock Holmes.' Xong rồi, Watson. Cái vụ án quái quỷ này đã ám ảnh tôi suốt mười ngày trời. Bây giờ tôi tống khứ nó ra khỏi đầu hoàn toàn. Ngày mai, tôi tin là ta sẽ nghe được những tin tức cuối cùng về nó."
Đúng giờ hẹn, Thanh tra Stanley Hopkins xuất hiện, và chúng tôi cùng ngồi vào bữa sáng tuyệt vời mà bà Hudson đã chuẩn bị. Viên thanh tra trẻ đang vô cùng phấn chấn với thành công của mình.
"Anh thực sự cho rằng lời giải của anh là chính xác tuyệt đối sao?" Holmes hỏi.
"Tôi không thể hình dung ra một vụ án nào hoàn chỉnh hơn thế."
"Đối với tôi, nó dường như chưa đủ sức thuyết phục cho lắm."
"Ngài làm tôi ngạc nhiên đấy, ngài Holmes. Người ta còn có thể đòi hỏi gì hơn được nữa?"
"Cách giải thích của anh có bao quát hết mọi điểm không?"
"Chắc chắn rồi. Tôi đã phát hiện Neligan trẻ tuổi đến Khách sạn Brambletye vào đúng ngày xảy ra vụ án. Cậu ta lấy cớ là đi chơi gôn. Phòng của cậu ta nằm ở tầng trệt, muốn ra ngoài lúc nào cũng được. Chính đêm đó, cậu ta đã xuống Woodman's Lee, gặp Peter Carey trong túp lều, cãi vã với ông ta rồi giết ông ta bằng chiếc lao móc. Sau đó, hoảng sợ trước việc mình vừa làm, cậu ta bỏ chạy khỏi túp lều và đánh rơi cuốn sổ tay vốn mang theo để tra hỏi Peter Carey về mấy chứng khoán kia. Có lẽ ngài cũng để ý thấy một vài chứng khoán được đánh dấu tích, còn những cái khác-phần lớn-thì không. Những cái được đánh dấu tích đã bị truy tìm trên thị trường London, nhưng những cái còn lại, nhiều khả năng, vẫn thuộc về Carey. Còn Neligan trẻ tuổi, theo như chính cậu ta khai, thì rất khao khát lấy lại chúng để làm điều đúng đắn cho các chủ nợ của cha mình. Sau khi bỏ trốn, một thời gian cậu ta không dám mon men đến gần túp lều nữa, nhưng cuối cùng vẫn buộc phải quay lại để tìm thông tin cậu ta cần. Chẳng phải tất cả những điều đó đều đơn giản và rành mạch hay sao?"
Holmes mỉm cười rồi lắc đầu.
"Đối với tôi, nó chỉ có một nhược điểm duy nhất, Hopkins à, đó là xét về bản chất, nó bất khả thi. Anh đã bao giờ thử đâm một chiếc lao móc xuyên qua cơ thể người chưa? Chưa à? Chậc chậc, anh bạn thân mến ơi, anh thực sự phải chú ý đến những chi tiết này. Bạn Watson của tôi có thể kể cho anh nghe tôi đã dành trọn một buổi sáng để tập làm điều đó đấy. Đó không phải chuyện dễ dàng gì đâu, mà đòi hỏi một cánh tay vừa khỏe vừa điêu luyện. Thế mà cú đâm này lại tung ra với một sức mạnh hung bạo đến mức phần đầu của vũ khí cắm sâu tận vào tường. Anh tưởng tượng nổi không, một cậu thanh niên thiếu máu như thế mà có thể thực hiện một đòn tấn công khủng khiếp đến nhường ấy? Liệu cậu ta có phải là kẻ đã ngồi nhâm nhi rượu rum pha nước7 với Black Peter vào lúc nửa đêm không? Liệu cái bóng in trên tấm rèm hai đêm trước đó có phải là của cậu ta không? Không, không, Hopkins à, đó là một kẻ khác, một kẻ đáng gờm hơn nhiều, mới chính là đối tượng chúng ta phải truy tìm."
Suốt bài phát biểu của Holmes, gương mặt viên thám tử dần dà xị xuống. Những hy vọng và tham vọng của anh ta đang sụp đổ quanh mình. Nhưng anh ta sẽ không từ bỏ lập trường mà không tranh luận.
"Ngài không thể phủ nhận rằng Neligan đã có mặt ở đó vào đêm hôm ấy, ngài Holmes. Cuốn sổ tay sẽ chứng minh điều đó. Tôi cho rằng tôi có đủ bằng chứng để thuyết phục bồi thẩm đoàn, ngay cả khi ngài có thể bắt bẻ được đôi chỗ. Hơn nữa, ngài Holmes này, tôi đã tóm được kẻ tình nghi của tôi rồi. Còn cái kẻ khủng khiếp mà ngài nhắc đến, giờ hắn đang ở đâu?"
"Tôi có cảm giác là hắn đang ở ngay trên cầu thang kia," Holmes điềm nhiên nói. "Watson, tôi nghĩ tốt nhất anh nên để khẩu súng lục ở chỗ nào tiện tay thì hơn." Anh đứng dậy, đặt một tờ giấy viết tay lên chiếc bàn phụ. "Giờ thì chúng ta đã sẵn sàng rồi," anh nói.
Bên ngoài vọng vào tiếng vài ba giọng nói thô lỗ trò chuyện, rồi bà Hudson mở cửa báo rằng có ba người đàn ông muốn gặp Thuyền trưởng Basil.
"Hãy mời họ vào từng người một," Holmes nói.
Người đầu tiên bước vào là một gã đàn ông lùn tịt, tròn ủng như quả táo Ribston8, với đôi má hồng hào và chòm tóc mai trắng muốt bồng bềnh. Holmes rút một bức thư trong túi ra.
"Tên anh là gì?"
"James Lancaster."
"Tôi rất tiếc, Lancaster, nhưng vị trí đã kín rồi. Đây là nửa đồng sovereign9 đền bù cho anh. Phiền anh bước vào căn phòng đằng kia và đợi ở đó vài phút."
Người đàn ông thứ hai là một sinh vật cao lêu nghêu, khô héo, tóc tai xơ xác, hai má tái nhợt. Tên anh ta là Hugh Pattins. Anh ta cũng nhận được lời từ chối, nửa đồng sovereign, và lệnh phải chờ đợi.
Người ứng tuyển thứ ba là một gã đàn ông có ngoại hình đáng chú ý. Một khuôn mặt dữ tợn như chó bò lọt thỏm giữa mớ tóc và râu ria bù xù, cùng hai con mắt đen láo liên sáng rực sau cặp lông mày rậm rạp xủ xuống. Hắn ta chào theo kiểu thủy thủ và xoay xoay chiếc mũ trong tay.
"Tên anh?" Holmes hỏi.
"Patrick Cairns."
"Thợ phóng lao móc?"
"Vâng, thưa ngài. Hai mươi sáu chuyến đi biển."
"Ở Dundee, tôi đoán thế?"
"Vâng, thưa ngài."
"Và sẵn sàng lên đường cùng một con tàu thám hiểm?"
"Vâng, thưa ngài."
"Tiền công ra sao?"
"Tám bảng một tháng."
"Anh có thể khởi hành ngay được không?"
"Ngay khi tôi lấy đồ đạc xong."
"Anh có giấy tờ không?"
"Có, thưa ngài." Hắn rút trong túi ra một xấp giấy tờ nhàu nhĩ, lấm lem dầu mỡ. Holmes liếc qua rồi trả lại.
"Anh chính là người tôi cần," anh nói. "Đây là bản hợp đồng trên bàn phụ. Anh ký vào đó là mọi chuyện xong xuôi."
Người thủy thủ lảo đảo băng qua phòng và cầm lấy cây bút.
"Tôi ký ở đây phải không?" hắn hỏi, cúi xuống mặt bàn.
Holmes rướn người qua vai hắn, luồn cả hai tay vòng qua cổ hắn.
"Thế này là đủ rồi," anh nói.
Tôi nghe thấy một tiếng lách cách của thép và một tiếng rống giận dữ như bò tót. Khoảnh khắc kế tiếp, Holmes và gã thủy thủ đã lăn lộn trên sàn nhà. Gã là một kẻ có sức mạnh phi thường. Ngay cả khi đã bị Holmes khéo léo còng chặt một bên cổ tay, gã suýt nữa đã áp đảo được bạn tôi nếu Hopkins và tôi không lập tức lao vào giải cứu. Mãi đến khi tôi dí cái họng súng lục lạnh ngắt vào thái dương hắn, hắn mới hiểu rằng chống cự là vô ích. Chúng tôi trói chặt hai mắt cá chân hắn bằng dây thừng rồi đứng dậy, thở hổn hển sau màn vật lộn.
"Tôi thực sự phải xin lỗi anh, Hopkins," Sherlock Holmes nói. "Tôi e là món trứng bác đã nguội mất rồi. Nhưng anh sẽ thưởng thức phần còn lại của bữa sáng ngon lành hơn đấy, phải không, khi biết rằng mình đã đưa vụ án đến một kết thúc thắng lợi."
Stanley Hopkins đứng chết lặng, không thốt nên lời vì kinh ngạc.
"Tôi không biết phải nói gì, ngài Holmes," cuối cùng anh ta cũng bật ra, mặt đỏ bừng. "Tôi thấy mình đúng là một thằng ngốc ngay từ đầu. Giờ tôi mới hiểu ra-điều lẽ ra tôi không bao giờ nên quên-rằng tôi là học trò còn ngài mới là bậc thầy. Ngay lúc này, tận mắt thấy những gì ngài đã làm, nhưng tôi vẫn không biết ngài đã làm điều đó bằng cách nào, hay nó mang ý nghĩa gì."
"Chà, chà," Holmes vui vẻ nói. "Tất cả chúng ta đều học từ kinh nghiệm mà. Bài học lần này của anh là không bao giờ nên bỏ qua khả năng thay thế. Anh đã quá chú tâm vào Neligan trẻ tuổi đến mức không dành nổi một chút suy nghĩ nào cho Patrick Cairns-kẻ sát nhân thực sự của Peter Carey."
Giọng nói khàn khàn của gã thủy thủ cắt ngang cuộc trò chuyện của chúng tôi.
"Này, ngài," gã nói, "tao không phàn nàn gì chuyện bị đối xử thô bạo thế này, nhưng tao muốn bọn mày gọi mọi thứ bằng đúng tên của nó. Bọn mày bảo tao sát hại Peter Carey, còn tao nói tao giết Peter Carey, khác nhau là ở chỗ đó đấy. Có thể bọn mày không tin lời tao. Có thể bọn mày nghĩ tao chỉ đang bịa chuyện thôi."
"Không hề," Holmes đáp. "Cứ cho chúng tôi nghe những gì anh muốn nói."
"Kể nhanh thôi, và, lạy Chúa, không sót một lời nào là giả dối. Tao biết Black Peter, lúc lão rút dao ra thì tao phóng nhanh một nhát lao móc xuyên qua người lão, vì tao biết chỉ có lão hoặc tao thôi. Lão chết là vì thế. Bọn mày muốn gọi đó là sát hại cũng được. Nhưng dù sao đi nữa, tao thà chết với sợi dây thừng quanh cổ còn hơn dính con dao của Black Peter cắm vào tim."
"Làm sao anh lại đến được chỗ đó?" Holmes hỏi.
"Tao sẽ kể cho bọn mày nghe từ đầu. Đỡ tao ngồi dậy một chút để tao nói cho dễ. Mọi chuyện xảy ra vào năm 1883-hồi tháng Tám năm đó. Peter Carey làm thuyền trưởng tàu Sea Unicorn, còn tao là thợ phóng lao dự bị. Bọn tao đang thoát khỏi lớp băng dày để về nhà, gặp gió ngược với một cơn bão phương nam kéo dài cả tuần, thì vớt được một con thuyền nhỏ bị thổi dạt lên phía bắc. Trên đó có một người đàn ông-dân đất liền. Thủy thủ đoàn đoán là thuyền sắp chìm nên họ đã bỏ đi về phía bờ biển Na Uy bằng xuồng nhỏ. Tao đoán là tất cả bọn họ đều chết đuối hết rồi. Thế là bọn tao đưa gã đàn ông ấy lên tàu, và gã với thuyền trưởng đã có vài cuộc nói chuyện dài trong phòng riêng. Toàn bộ hành lý bọn tao vớt lên cùng gã chỉ vỏn vẹn có một cái hộp thiếc. Theo như tao biết thì tên của gã chẳng bao giờ được nhắc đến, và đến đêm thứ hai, gã đã biến mất như thể chưa từng có mặt trên đời. Người ta đồn rằng gã đã nhảy xuống biển tự vẫn, hoặc rơi xuống biển lúc thời tiết xấu mà bọn tao đang gặp. Nhưng chỉ có một người biết thực sự chuyện gì đã xảy ra với gã, và đó chính là tao. Bằng chính mắt mình, tao đã chứng kiến tay thuyền trưởng túm lấy gót chân gã rồi quẳng gã qua lan can ngay giữa ca trực của một đêm tối trời, chỉ hai ngày trước khi bọn tao nhìn thấy ngọn hải đăng Shetland. Tao đã giữ kín những gì mình biết, và chờ xem mọi sự sẽ ra sao. Về đến Scotland, chuyện đó dễ dàng bị ỉm đi, chẳng ai buồn đặt câu hỏi nào hết. Một người lạ chết vì tai nạn thì cũng chẳng ai có trách nhiệm phải điều tra làm gì. Ngay sau đó, Peter Carey bỏ nghề đi biển, và phải rất nhiều năm trôi qua tao mới lần ra được chỗ ở của lão. Tao đoán lão làm cái việc ấy là vì những thứ bên trong cái hộp thiếc kia, và giờ thì lão đã đủ khả năng trả cho tao một khoản kha khá để tao giữ mồm giữ miệng. Tao tìm ra nơi ở của lão qua một gã thủy thủ từng gặp lão ở London, rồi tao xuống đó để tống tiền lão. Đêm đầu tiên, lão khá biết điều, sẵn sàng dúi cho tao một ít tiền để tao cút đi. Nhưng lòng tham khiến tao quay lại đêm thứ hai, và lần này lão không còn dễ dãi nữa. Lão chửi rủa tao thậm tệ rồi rút dao ra. Tao nhanh tay hơn-tao vớ cây lao móc trên tường và đâm xuyên qua người lão. Lão chết ngay tại chỗ.
"Giờ thì tao sẽ kể cho bọn mày nghe phần kỳ lạ nhất trong toàn bộ câu chuyện. Tao vừa bước ra khỏi túp lều thì nghe tiếng chân có người đang đi tới. Tao liền trốn vào bụi cây. Một gã đàn ông lén lút mon men đến, bước vào túp lều, thốt lên một tiếng kêu như gặp ma, rồi co giò chạy thục mạng đến khi khuất dạng. Hắn là ai hay hắn muốn gì thì tao chịu, không thể nói được. Về phần tao, tao đi bộ mười dặm, đón tàu ở Tunbridge Wells, và thế là đến London, chẳng ai hay biết gì hết.
"Vậy mà khi tao mở cái hộp ra xem, trong đó chẳng có đồng tiền nào cả, toàn là giấy tờ mà tao không dám đem bán. Tao mất đi chỗ dựa từ Black Peter và mắc kẹt ở London không một xu dính túi. Chỉ còn mỗi cái nghề của mình. Tao thấy mấy mẩu quảng cáo tuyển thợ phóng lao móc, lương lại cao, nên tao đến mấy đại lý vận tải biển, và họ cử tao đến đây. Đó là tất cả những gì tao biết. Và tao xin nhắc lại, nếu tao có giết Black Peter thì luật pháp nên mang ơn tao mới phải, vì tao đã tiết kiệm cho họ khoản tiền mua một sợi dây thừng gai đấy."
"Một lời khai rất rành mạch," Holmes nói, đứng dậy và châm tẩu thuốc. "Tôi nghĩ, Hopkins à, anh không nên chậm trễ trong việc đưa tù nhân của mình đến nơi an toàn. Căn phòng này vốn không phải để làm phòng giam, và ngài Patrick Cairns đây đang chiếm một tỉ lệ hơi quá khổ trên tấm thảm của chúng ta."
"Ngài Holmes," Hopkins thốt lên, "tôi không biết phải bày tỏ lòng biết ơn thế nào. Ngay lúc này tôi vẫn chưa hiểu nổi làm sao ngài đạt được kết quả này."
"Đơn giản thôi, nhờ may mắn mà tôi nắm được đúng manh mối ngay từ đầu. Rất có thể nếu tôi biết đến cuốn sổ tay kia, nó đã làm chệch hướng suy nghĩ của tôi, giống như đã làm với anh. Nhưng tất cả những gì tôi nghe được đều đồng loạt chỉ về một hướng: sức mạnh phi thường, kỹ năng sử dụng lao móc điêu luyện, rượu rum pha nước, chiếc túi đựng thuốc lá bằng da hải cẩu với thứ thuốc lá thô nhám-tất cả những thứ ấy đều khắc họa chân dung một người đi biển, hơn nữa còn là một tay thợ săn cá voi. Tôi tin chắc chữ viết tắt 'P.C.' trên chiếc túi chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên, chứ không phải của Peter Carey, bởi ông ta hiếm khi hút thuốc và chẳng hề có tẩu thuốc nào trong túp lều. Anh còn nhớ tôi đã hỏi anh trong túp lều có rượu whisky và brandy không chứ? Anh bảo là có. Thử hỏi có mấy người sống trên đất liền lại đi uống rượu rum khi trong tay có sẵn những loại rượu mạnh hảo hạng ấy chứ? Đúng thế, tôi chắc chắn đó là một thủy thủ."
"Và ngài đã tìm ra hắn bằng cách nào?"
"Ôi, anh bạn thân mến, vấn đề sau đó trở nên hết sức đơn giản. Nếu đó là thủy thủ, thì chỉ có thể là một thủy thủ từng có mặt trên tàu Sea Unicorn cùng ông ta. Theo những gì tôi tra cứu được, ông ta chưa từng ra khơi trên con tàu nào khác. Tôi đã mất ba ngày đánh điện tín đến Dundee, và đến cuối ngày thứ ba, tôi đã có trong tay danh sách toàn bộ thủy thủ đoàn tàu Sea Unicorn năm 1883. Khi tìm thấy Patrick Cairns trong số các thợ phóng lao móc, cuộc điều tra của tôi coi như đã khép lại. Tôi lập luận rằng gã này có lẽ đang ở London, và hắn sẽ muốn rời khỏi đất nước một thời gian. Thế là tôi dành vài ngày ở khu East End, dựng lên một chuyến thám hiểm Bắc Cực giả tưởng, đưa ra những điều khoản hấp dẫn cho thợ phóng lao móc nào sẵn sàng phục vụ dưới quyền Thuyền trưởng Basil-và kết quả đây, anh thấy rồi đấy!"
"Tuyệt vời!" Hopkins thốt lên. "Thật tuyệt vời!"
"Anh phải thả tự do cho Neligan trẻ tuổi càng sớm càng tốt," Holmes nói. "Tôi thẳng thắn thừa nhận rằng tôi nghĩ anh nợ cậu ấy một lời xin lỗi. Cái hộp thiếc phải được trả lại cho cậu ấy, mặc dù tất nhiên những chứng khoán mà Peter Carey đã bán đi thì mất vĩnh viễn rồi. Có xe ngựa kia rồi, Hopkins, anh có thể đưa người của anh đi được rồi. Nếu anh cần tôi ra tòa làm chứng, thì địa chỉ của tôi và Watson sẽ ở đâu đó bên Na Uy-tôi sẽ gửi thông tin chi tiết sau."
-
East End là khu vực phía đông London, vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 nổi tiếng là khu dân cư nghèo nàn, đông đúc và là điểm nóng của tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội. ↩
-
Thanh giáo (Puritanism) là một phong trào tôn giáo xuất hiện ở Anh vào thế kỷ 16-17. Những người Thanh giáo nổi tiếng với lối sống khổ hạnh, kỷ luật nghiêm ngặt, và bài trừ các hình thức giải trí vui chơi. ↩
-
Người Saxon là một nhóm các bộ tộc gốc Đức đã xâm chiếm và định cư tại đảo Anh vào khoảng thế kỷ thứ 5. Cùng với người Angle, họ đã tạo nên nền văn hóa Anglo-Saxon, đặt nền móng cho nước Anh sau này. ↩
-
Đây là trang phục phổ biến của các quý ông Anh quốc cuối thế kỷ 19 khi tham gia các hoạt động ngoài trời. Áo Norfolk là loại áo khoác vải tweed có thắt lưng, còn quần knickerbocker là loại quần phồng ngắn đến ngay dưới đầu gối. ↩
-
West Country là một khu vực nằm ở phía tây nam nước Anh, bao gồm các hạt như Cornwall, Devon, Somerset. Nơi đây nổi tiếng với cảnh quan nông thôn, bờ biển trải dài và truyền thống đi biển lâu đời. ↩
-
Một con đường nổi tiếng ở khu vực bến cảng phía đông London. Vào thế kỷ 19, đây là một khu phố sầm uất nhưng đầy phức tạp, tập trung rất nhiều thủy thủ, quán rượu và các đại lý vận tải biển. ↩
-
Còn gọi là 'grog', đây là thức uống phổ biến của các thủy thủ từ thế kỷ 18 đến 20, bao gồm rượu rum pha với nước (đôi khi thêm chanh và đường) để giảm độ cồn và chống bệnh hoại huyết (thiếu vitamin C) trong những chuyến đi biển dài ngày. ↩
-
Ribston (hay Ribston Pippin) là một giống táo truyền thống của Anh. Quả táo có hình tròn, vỏ sần sùi với màu sắc pha trộn giữa vàng, xanh và những vệt đỏ hồng sậm, thường được dùng để miêu tả những người có đôi má đỏ au rực rỡ. ↩
-
Sovereign là đồng tiền vàng của Anh, trị giá 1 bảng (pound). Nửa đồng sovereign (tương đương 10 shilling) là một khoản tiền khá lớn đối với người lao động thời bấy giờ, đủ để trang trải sinh hoạt phí trong nhiều ngày. ↩
THE ADVENTURE OF BLACK PETER
I have never known my friend to be in better form, both mental and physical, than in the year ’95. His increasing fame had brought with it an immense practice, and I should be guilty of an indiscretion if I were even to hint at the identity of some of the illustrious clients who crossed our humble threshold in Baker Street. Holmes, however, like all great artists, lived for his art’s sake, and, save in the case of the Duke of Holdernesse, I have seldom known him claim any large reward for his inestimable services. So unworldly was he-or so capricious-that he frequently refused his help to the powerful and wealthy where the problem made no appeal to his sympathies, while he would devote weeks of most intense application to the affairs of some humble client whose case presented those strange and dramatic qualities which appealed to his imagination and challenged his ingenuity.
In this memorable year ’95, a curious and incongruous succession of cases had engaged his attention, ranging from his famous investigation of the sudden death of Cardinal Tosca-an inquiry which was carried out by him at the express desire of His Holiness the Pope-down to his arrest of Wilson, the notorious canary-trainer, which removed a plague-spot from the East End of London. Close on the heels of these two famous cases came the tragedy of Woodman’s Lee, and the very obscure circumstances which surrounded the death of Captain Peter Carey. No record of the doings of Mr. Sherlock Holmes would be complete which did not include some account of this very unusual affair.
During the first week of July, my friend had been absent so often and so long from our lodgings that I knew he had something on hand. The fact that several rough-looking men called during that time and inquired for Captain Basil made me understand that Holmes was working somewhere under one of the numerous disguises and names with which he concealed his own formidable identity. He had at least five small refuges in different parts of London, in which he was able to change his personality. He said nothing of his business to me, and it was not my habit to force a confidence. The first positive sign which he gave me of the direction which his investigation was taking was an extraordinary one. He had gone out before breakfast, and I had sat down to mine when he strode into the room, his hat upon his head and a huge barbed-headed spear tucked like an umbrella under his arm.
“Good gracious, Holmes!” I cried. “You don’t mean to say that you have been walking about London with that thing?”
“I drove to the butcher’s and back.”
“The butcher’s?”
“And I return with an excellent appetite. There can be no question, my dear Watson, of the value of exercise before breakfast. But I am prepared to bet that you will not guess the form that my exercise has taken.”
“I will not attempt it.”
He chuckled as he poured out the coffee.
“If you could have looked into Allardyce’s back shop, you would have seen a dead pig swung from a hook in the ceiling, and a gentleman in his shirt sleeves furiously stabbing at it with this weapon. I was that energetic person, and I have satisfied myself that by no exertion of my strength can I transfix the pig with a single blow. Perhaps you would care to try?”
“Not for worlds. But why were you doing this?”
“Because it seemed to me to have an indirect bearing upon the mystery of Woodman’s Lee. Ah, Hopkins, I got your wire last night, and I have been expecting you. Come and join us.”
Our visitor was an exceedingly alert man, thirty years of age, dressed in a quiet tweed suit, but retaining the erect bearing of one who was accustomed to official uniform. I recognized him at once as Stanley Hopkins, a young police inspector, for whose future Holmes had high hopes, while he in turn professed the admiration and respect of a pupil for the scientific methods of the famous amateur. Hopkins’s brow was clouded, and he sat down with an air of deep dejection.
“No, thank you, sir. I breakfasted before I came round. I spent the night in town, for I came up yesterday to report.”
“And what had you to report?”
“Failure, sir, absolute failure.”
“You have made no progress?”
“None.”
“Dear me! I must have a look at the matter.”
“I wish to heavens that you would, Mr. Holmes. It’s my first big chance, and I am at my wits’ end. For goodness’ sake, come down and lend me a hand.”
“Well, well, it just happens that I have already read all the available evidence, including the report of the inquest, with some care. By the way, what do you make of that tobacco pouch, found on the scene of the crime? Is there no clue there?”
Hopkins looked surprised.
“It was the man’s own pouch, sir. His initials were inside it. And it was of sealskin,-and he was an old sealer.”
“But he had no pipe.”
“No, sir, we could find no pipe. Indeed, he smoked very little, and yet he might have kept some tobacco for his friends.”
“No doubt. I only mention it because, if I had been handling the case, I should have been inclined to make that the starting-point of my investigation. However, my friend, Dr. Watson, knows nothing of this matter, and I should be none the worse for hearing the sequence of events once more. Just give us some short sketches of the essentials.”
Stanley Hopkins drew a slip of paper from his pocket.
“I have a few dates here which will give you the career of the dead man, Captain Peter Carey. He was born in ’45-fifty years of age. He was a most daring and successful seal and whale fisher. In 1883 he commanded the steam sealer Sea Unicorn, of Dundee. He had then had several successful voyages in succession, and in the following year, 1884, he retired. After that he travelled for some years, and finally he bought a small place called Woodman’s Lee, near Forest Row, in Sussex. There he has lived for six years, and there he died just a week ago to-day.
“There were some most singular points about the man. In ordinary life, he was a strict Puritan-a silent, gloomy fellow. His household consisted of his wife, his daughter, aged twenty, and two female servants. These last were continually changing, for it was never a very cheery situation, and sometimes it became past all bearing. The man was an intermittent drunkard, and when he had the fit on him he was a perfect fiend. He has been known to drive his wife and daughter out of doors in the middle of the night and flog them through the park until the whole village outside the gates was aroused by their screams.
“He was summoned once for a savage assault upon the old vicar, who had called upon him to remonstrate with him upon his conduct. In short, Mr. Holmes, you would go far before you found a more dangerous man than Peter Carey, and I have heard that he bore the same character when he commanded his ship. He was known in the trade as Black Peter, and the name was given him, not only on account of his swarthy features and the colour of his huge beard, but for the humours which were the terror of all around him. I need not say that he was loathed and avoided by every one of his neighbours, and that I have not heard one single word of sorrow about his terrible end.
“You must have read in the account of the inquest about the man’s cabin, Mr. Holmes, but perhaps your friend here has not heard of it. He had built himself a wooden outhouse-he always called it the ‘cabin’-a few hundred yards from his house, and it was here that he slept every night. It was a little, single-roomed hut, sixteen feet by ten. He kept the key in his pocket, made his own bed, cleaned it himself, and allowed no other foot to cross the threshold. There are small windows on each side, which were covered by curtains and never opened. One of these windows was turned towards the high road, and when the light burned in it at night the folk used to point it out to each other and wonder what Black Peter was doing in there. That’s the window, Mr. Holmes, which gave us one of the few bits of positive evidence that came out at the inquest.
“You remember that a stonemason, named Slater, walking from Forest Row about one o’clock in the morning-two days before the murder-stopped as he passed the grounds and looked at the square of light still shining among the trees. He swears that the shadow of a man’s head turned sideways was clearly visible on the blind, and that this shadow was certainly not that of Peter Carey, whom he knew well. It was that of a bearded man, but the beard was short and bristled forward in a way very different from that of the captain. So he says, but he had been two hours in the public-house, and it is some distance from the road to the window. Besides, this refers to the Monday, and the crime was done upon the Wednesday.
“On the Tuesday, Peter Carey was in one of his blackest moods, flushed with drink and as savage as a dangerous wild beast. He roamed about the house, and the women ran for it when they heard him coming. Late in the evening, he went down to his own hut. About two o’clock the following morning, his daughter, who slept with her window open, heard a most fearful yell from that direction, but it was no unusual thing for him to bawl and shout when he was in drink, so no notice was taken. On rising at seven, one of the maids noticed that the door of the hut was open, but so great was the terror which the man caused that it was midday before anyone would venture down to see what had become of him. Peeping into the open door, they saw a sight which sent them flying, with white faces, into the village. Within an hour, I was on the spot and had taken over the case.
“Well, I have fairly steady nerves, as you know, Mr. Holmes, but I give you my word, that I got a shake when I put my head into that little house. It was droning like a harmonium with the flies and bluebottles, and the floor and walls were like a slaughter-house. He had called it a cabin, and a cabin it was, sure enough, for you would have thought that you were in a ship. There was a bunk at one end, a sea-chest, maps and charts, a picture of the Sea Unicorn, a line of logbooks on a shelf, all exactly as one would expect to find it in a captain’s room. And there, in the middle of it, was the man himself-his face twisted like a lost soul in torment, and his great brindled beard stuck upward in his agony. Right through his broad breast a steel harpoon had been driven, and it had sunk deep into the wood of the wall behind him. He was pinned like a beetle on a card. Of course, he was quite dead, and had been so from the instant that he had uttered that last yell of agony.
“I know your methods, sir, and I applied them. Before I permitted anything to be moved, I examined most carefully the ground outside, and also the floor of the room. There were no footmarks.”
“Meaning that you saw none?”
“I assure you, sir, that there were none.”
“My good Hopkins, I have investigated many crimes, but I have never yet seen one which was committed by a flying creature. As long as the criminal remains upon two legs so long must there be some indentation, some abrasion, some trifling displacement which can be detected by the scientific searcher. It is incredible that this blood-bespattered room contained no trace which could have aided us. I understand, however, from the inquest that there were some objects which you failed to overlook?”
The young inspector winced at my companion’s ironical comments.
“I was a fool not to call you in at the time Mr. Holmes. However, that’s past praying for now. Yes, there were several objects in the room which called for special attention. One was the harpoon with which the deed was committed. It had been snatched down from a rack on the wall. Two others remained there, and there was a vacant place for the third. On the stock was engraved ‘SS. Sea Unicorn, Dundee.’ This seemed to establish that the crime had been done in a moment of fury, and that the murderer had seized the first weapon which came in his way. The fact that the crime was committed at two in the morning, and yet Peter Carey was fully dressed, suggested that he had an appointment with the murderer, which is borne out by the fact that a bottle of rum and two dirty glasses stood upon the table.”
“Yes,” said Holmes; “I think that both inferences are permissible. Was there any other spirit but rum in the room?”
“Yes, there was a tantalus containing brandy and whisky on the sea-chest. It is of no importance to us, however, since the decanters were full, and it had therefore not been used.”
“For all that, its presence has some significance,” said Holmes. “However, let us hear some more about the objects which do seem to you to bear upon the case.”
“There was this tobacco-pouch upon the table.”
“What part of the table?”
“It lay in the middle. It was of coarse sealskin-the straight-haired skin, with a leather thong to bind it. Inside was ‘P.C.’ on the flap. There was half an ounce of strong ship’s tobacco in it.”
“Excellent! What more?”
Stanley Hopkins drew from his pocket a drab-covered notebook. The outside was rough and worn, the leaves discoloured. On the first page were written the initials “J.H.N.” and the date “1883.” Holmes laid it on the table and examined it in his minute way, while Hopkins and I gazed over each shoulder. On the second page were the printed letters “C.P.R.,” and then came several sheets of numbers. Another heading was “Argentine,” another “Costa Rica,” and another “San Paulo,” each with pages of signs and figures after it.
“What do you make of these?” asked Holmes.
“They appear to be lists of Stock Exchange securities. I thought that ‘J.H.N.’ were the initials of a broker, and that ‘C.P.R.’ may have been his client.”
“Try Canadian Pacific Railway,” said Holmes.
Stanley Hopkins swore between his teeth, and struck his thigh with his clenched hand.
“What a fool I have been!” he cried. “Of course, it is as you say. Then ‘J.H.N.’ are the only initials we have to solve. I have already examined the old Stock Exchange lists, and I can find no one in 1883, either in the house or among the outside brokers, whose initials correspond with these. Yet I feel that the clue is the most important one that I hold. You will admit, Mr. Holmes, that there is a possibility that these initials are those of the second person who was present-in other words, of the murderer. I would also urge that the introduction into the case of a document relating to large masses of valuable securities gives us for the first time some indication of a motive for the crime.”
Sherlock Holmes’s face showed that he was thoroughly taken aback by this new development.
“I must admit both your points,” said he. “I confess that this notebook, which did not appear at the inquest, modifies any views which I may have formed. I had come to a theory of the crime in which I can find no place for this. Have you endeavoured to trace any of the securities here mentioned?”
“Inquiries are now being made at the offices, but I fear that the complete register of the stockholders of these South American concerns is in South America, and that some weeks must elapse before we can trace the shares.”
Holmes had been examining the cover of the notebook with his magnifying lens.
“Surely there is some discolouration here,” said he.
“Yes, sir, it is a blood-stain. I told you that I picked the book off the floor.”
“Was the blood-stain above or below?”
“On the side next the boards.”
“Which proves, of course, that the book was dropped after the crime was committed.”
“Exactly, Mr. Holmes. I appreciated that point, and I conjectured that it was dropped by the murderer in his hurried flight. It lay near the door.”
“I suppose that none of these securities have been found among the property of the dead man?”
“No, sir.”
“Have you any reason to suspect robbery?”
“No, sir. Nothing seemed to have been touched.”
“Dear me, it is certainly a very interesting case. Then there was a knife, was there not?”
“A sheath-knife, still in its sheath. It lay at the feet of the dead man. Mrs. Carey has identified it as being her husband’s property.”
Holmes was lost in thought for some time.
“Well,” said he, at last, “I suppose I shall have to come out and have a look at it.”
Stanley Hopkins gave a cry of joy.
“Thank you, sir. That will, indeed, be a weight off my mind.”
Holmes shook his finger at the inspector.
“It would have been an easier task a week ago,” said he. “But even now my visit may not be entirely fruitless. Watson, if you can spare the time, I should be very glad of your company. If you will call a four-wheeler, Hopkins, we shall be ready to start for Forest Row in a quarter of an hour.”
Alighting at the small wayside station, we drove for some miles through the remains of widespread woods, which were once part of that great forest which for so long held the Saxon invaders at bay-the impenetrable “weald,” for sixty years the bulwark of Britain. Vast sections of it have been cleared, for this is the seat of the first iron-works of the country, and the trees have been felled to smelt the ore. Now the richer fields of the North have absorbed the trade, and nothing save these ravaged groves and great scars in the earth show the work of the past. Here, in a clearing upon the green slope of a hill, stood a long, low, stone house, approached by a curving drive running through the fields. Nearer the road, and surrounded on three sides by bushes, was a small outhouse, one window and the door facing in our direction. It was the scene of the murder.
Stanley Hopkins led us first to the house, where he introduced us to a haggard, grey-haired woman, the widow of the murdered man, whose gaunt and deep-lined face, with the furtive look of terror in the depths of her red-rimmed eyes, told of the years of hardship and ill-usage which she had endured. With her was her daughter, a pale, fair-haired girl, whose eyes blazed defiantly at us as she told us that she was glad that her father was dead, and that she blessed the hand which had struck him down. It was a terrible household that Black Peter Carey had made for himself, and it was with a sense of relief that we found ourselves in the sunlight again and making our way along a path which had been worn across the fields by the feet of the dead man.
The outhouse was the simplest of dwellings, wooden-walled, shingle-roofed, one window beside the door and one on the farther side. Stanley Hopkins drew the key from his pocket and had stooped to the lock, when he paused with a look of attention and surprise upon his face.
“Someone has been tampering with it,” he said.
There could be no doubt of the fact. The woodwork was cut, and the scratches showed white through the paint, as if they had been that instant done. Holmes had been examining the window.
“Someone has tried to force this also. Whoever it was has failed to make his way in. He must have been a very poor burglar.”
“This is a most extraordinary thing,” said the inspector, “I could swear that these marks were not here yesterday evening.”
“Some curious person from the village, perhaps,” I suggested.
“Very unlikely. Few of them would dare to set foot in the grounds, far less try to force their way into the cabin. What do you think of it, Mr. Holmes?”
“I think that fortune is very kind to us.”
“You mean that the person will come again?”
“It is very probable. He came expecting to find the door open. He tried to get in with the blade of a very small penknife. He could not manage it. What would he do?”
“Come again next night with a more useful tool.”
“So I should say. It will be our fault if we are not there to receive him. Meanwhile, let me see the inside of the cabin.”
The traces of the tragedy had been removed, but the furniture within the little room still stood as it had been on the night of the crime. For two hours, with most intense concentration, Holmes examined every object in turn, but his face showed that his quest was not a successful one. Once only he paused in his patient investigation.
“Have you taken anything off this shelf, Hopkins?”
“No, I have moved nothing.”
“Something has been taken. There is less dust in this corner of the shelf than elsewhere. It may have been a book lying on its side. It may have been a box. Well, well, I can do nothing more. Let us walk in these beautiful woods, Watson, and give a few hours to the birds and the flowers. We shall meet you here later, Hopkins, and see if we can come to closer quarters with the gentleman who has paid this visit in the night.”
It was past eleven o’clock when we formed our little ambuscade. Hopkins was for leaving the door of the hut open, but Holmes was of the opinion that this would rouse the suspicions of the stranger. The lock was a perfectly simple one, and only a strong blade was needed to push it back. Holmes also suggested that we should wait, not inside the hut, but outside it, among the bushes which grew round the farther window. In this way we should be able to watch our man if he struck a light, and see what his object was in this stealthy nocturnal visit.
It was a long and melancholy vigil, and yet brought with it something of the thrill which the hunter feels when he lies beside the water-pool, and waits for the coming of the thirsty beast of prey. What savage creature was it which might steal upon us out of the darkness? Was it a fierce tiger of crime, which could only be taken fighting hard with flashing fang and claw, or would it prove to be some skulking jackal, dangerous only to the weak and unguarded?
In absolute silence we crouched amongst the bushes, waiting for whatever might come. At first the steps of a few belated villagers, or the sound of voices from the village, lightened our vigil, but one by one these interruptions died away, and an absolute stillness fell upon us, save for the chimes of the distant church, which told us of the progress of the night, and for the rustle and whisper of a fine rain falling amid the foliage which roofed us in.
Half-past two had chimed, and it was the darkest hour which precedes the dawn, when we all started as a low but sharp click came from the direction of the gate. Someone had entered the drive. Again there was a long silence, and I had begun to fear that it was a false alarm, when a stealthy step was heard upon the other side of the hut, and a moment later a metallic scraping and clinking. The man was trying to force the lock. This time his skill was greater or his tool was better, for there was a sudden snap and the creak of the hinges. Then a match was struck, and next instant the steady light from a candle filled the interior of the hut. Through the gauze curtain our eyes were all riveted upon the scene within.
The nocturnal visitor was a young man, frail and thin, with a black moustache, which intensified the deadly pallor of his face. He could not have been much above twenty years of age. I have never seen any human being who appeared to be in such a pitiable fright, for his teeth were visibly chattering, and he was shaking in every limb. He was dressed like a gentleman, in Norfolk jacket and knickerbockers, with a cloth cap upon his head. We watched him staring round with frightened eyes. Then he laid the candle-end upon the table and disappeared from our view into one of the corners. He returned with a large book, one of the logbooks which formed a line upon the shelves. Leaning on the table, he rapidly turned over the leaves of this volume until he came to the entry which he sought. Then, with an angry gesture of his clenched hand, he closed the book, replaced it in the corner, and put out the light. He had hardly turned to leave the hut when Hopkins’s hand was on the fellow’s collar, and I heard his loud gasp of terror as he understood that he was taken. The candle was relit, and there was our wretched captive, shivering and cowering in the grasp of the detective. He sank down upon the sea-chest, and looked helplessly from one of us to the other.
“Now, my fine fellow,” said Stanley Hopkins, “who are you, and what do you want here?”
The man pulled himself together, and faced us with an effort at self-composure.
“You are detectives, I suppose?” said he. “You imagine I am connected with the death of Captain Peter Carey. I assure you that I am innocent.”
“We’ll see about that,” said Hopkins. “First of all, what is your name?”
“It is John Hopley Neligan.”
I saw Holmes and Hopkins exchange a quick glance.
“What are you doing here?”
“Can I speak confidentially?”
“No, certainly not.”
“Why should I tell you?”
“If you have no answer, it may go badly with you at the trial.”
The young man winced.
“Well, I will tell you,” he said. “Why should I not? And yet I hate to think of this old scandal gaining a new lease of life. Did you ever hear of Dawson and Neligan?”
I could see, from Hopkins’s face, that he never had, but Holmes was keenly interested.
“You mean the West Country bankers,” said he. “They failed for a million, ruined half the county families of Cornwall, and Neligan disappeared.”
“Exactly. Neligan was my father.”
At last we were getting something positive, and yet it seemed a long gap between an absconding banker and Captain Peter Carey pinned against the wall with one of his own harpoons. We all listened intently to the young man’s words.
“It was my father who was really concerned. Dawson had retired. I was only ten years of age at the time, but I was old enough to feel the shame and horror of it all. It has always been said that my father stole all the securities and fled. It is not true. It was his belief that if he were given time in which to realize them, all would be well and every creditor paid in full. He started in his little yacht for Norway just before the warrant was issued for his arrest. I can remember that last night when he bade farewell to my mother. He left us a list of the securities he was taking, and he swore that he would come back with his honour cleared, and that none who had trusted him would suffer. Well, no word was ever heard from him again. Both the yacht and he vanished utterly. We believed, my mother and I, that he and it, with the securities that he had taken with him, were at the bottom of the sea. We had a faithful friend, however, who is a business man, and it was he who discovered some time ago that some of the securities which my father had with him had reappeared on the London market. You can imagine our amazement. I spent months in trying to trace them, and at last, after many doubtings and difficulties, I discovered that the original seller had been Captain Peter Carey, the owner of this hut.
“Naturally, I made some inquiries about the man. I found that he had been in command of a whaler which was due to return from the Arctic seas at the very time when my father was crossing to Norway. The autumn of that year was a stormy one, and there was a long succession of southerly gales. My father’s yacht may well have been blown to the north, and there met by Captain Peter Carey’s ship. If that were so, what had become of my father? In any case, if I could prove from Peter Carey’s evidence how these securities came on the market it would be a proof that my father had not sold them, and that he had no view to personal profit when he took them.
“I came down to Sussex with the intention of seeing the captain, but it was at this moment that his terrible death occurred. I read at the inquest a description of his cabin, in which it stated that the old logbooks of his vessel were preserved in it. It struck me that if I could see what occurred in the month of August, 1883, on board the Sea Unicorn, I might settle the mystery of my father’s fate. I tried last night to get at these logbooks, but was unable to open the door. To-night I tried again and succeeded, but I find that the pages which deal with that month have been torn from the book. It was at that moment I found myself a prisoner in your hands.”
“Is that all?” asked Hopkins.
“Yes, that is all.” His eyes shifted as he said it.
“You have nothing else to tell us?”
He hesitated.
“No, there is nothing.”
“You have not been here before last night?”
“No.”
“Then how do you account for that?” cried Hopkins, as he held up the damning notebook, with the initials of our prisoner on the first leaf and the blood-stain on the cover.
The wretched man collapsed. He sank his face in his hands, and trembled all over.
“Where did you get it?” he groaned. “I did not know. I thought I had lost it at the hotel.”
“That is enough,” said Hopkins, sternly. “Whatever else you have to say, you must say in court. You will walk down with me now to the police-station. Well, Mr. Holmes, I am very much obliged to you and to your friend for coming down to help me. As it turns out your presence was unnecessary, and I would have brought the case to this successful issue without you, but, none the less, I am grateful. Rooms have been reserved for you at the Brambletye Hotel, so we can all walk down to the village together.”
“Well, Watson, what do you think of it?” asked Holmes, as we travelled back next morning.
“I can see that you are not satisfied.”
“Oh, yes, my dear Watson, I am perfectly satisfied. At the same time, Stanley Hopkins’s methods do not commend themselves to me. I am disappointed in Stanley Hopkins. I had hoped for better things from him. One should always look for a possible alternative, and provide against it. It is the first rule of criminal investigation.”
“What, then, is the alternative?”
“The line of investigation which I have myself been pursuing. It may give us nothing. I cannot tell. But at least I shall follow it to the end.”
Several letters were waiting for Holmes at Baker Street. He snatched one of them up, opened it, and burst out into a triumphant chuckle of laughter.
“Excellent, Watson! The alternative develops. Have you telegraph forms? Just write a couple of messages for me: ‘Sumner, Shipping Agent, Ratcliff Highway. Send three men on, to arrive ten to-morrow morning.-Basil.’ That’s my name in those parts. The other is: ‘Inspector Stanley Hopkins, 46 Lord Street, Brixton. Come breakfast to-morrow at nine-thirty. Important. Wire if unable to come.-Sherlock Holmes.’ There, Watson, this infernal case has haunted me for ten days. I hereby banish it completely from my presence. To-morrow, I trust that we shall hear the last of it forever.”
Sharp at the hour named Inspector Stanley Hopkins appeared, and we sat down together to the excellent breakfast which Mrs. Hudson had prepared. The young detective was in high spirits at his success.
“You really think that your solution must be correct?” asked Holmes.
“I could not imagine a more complete case.”
“It did not seem to me conclusive.”
“You astonish me, Mr. Holmes. What more could one ask for?”
“Does your explanation cover every point?”
“Undoubtedly. I find that young Neligan arrived at the Brambletye Hotel on the very day of the crime. He came on the pretence of playing golf. His room was on the ground-floor, and he could get out when he liked. That very night he went down to Woodman’s Lee, saw Peter Carey at the hut, quarrelled with him, and killed him with the harpoon. Then, horrified by what he had done, he fled out of the hut, dropping the notebook which he had brought with him in order to question Peter Carey about these different securities. You may have observed that some of them were marked with ticks, and the others-the great majority-were not. Those which are ticked have been traced on the London market, but the others, presumably, were still in the possession of Carey, and young Neligan, according to his own account, was anxious to recover them in order to do the right thing by his father’s creditors. After his flight he did not dare to approach the hut again for some time, but at last he forced himself to do so in order to obtain the information which he needed. Surely that is all simple and obvious?”
Holmes smiled and shook his head.
“It seems to me to have only one drawback, Hopkins, and that is that it is intrinsically impossible. Have you tried to drive a harpoon through a body? No? Tut, tut my dear sir, you must really pay attention to these details. My friend Watson could tell you that I spent a whole morning in that exercise. It is no easy matter, and requires a strong and practised arm. But this blow was delivered with such violence that the head of the weapon sank deep into the wall. Do you imagine that this anæmic youth was capable of so frightful an assault? Is he the man who hobnobbed in rum and water with Black Peter in the dead of the night? Was it his profile that was seen on the blind two nights before? No, no, Hopkins, it is another and more formidable person for whom we must seek.”
The detective’s face had grown longer and longer during Holmes’s speech. His hopes and his ambitions were all crumbling about him. But he would not abandon his position without a struggle.
“You can’t deny that Neligan was present that night, Mr. Holmes. The book will prove that. I fancy that I have evidence enough to satisfy a jury, even if you are able to pick a hole in it. Besides, Mr. Holmes, I have laid my hand upon my man. As to this terrible person of yours, where is he?”
“I rather fancy that he is on the stair,” said Holmes, serenely. “I think, Watson, that you would do well to put that revolver where you can reach it.” He rose and laid a written paper upon a side-table. “Now we are ready,” said he.
There had been some talking in gruff voices outside, and now Mrs. Hudson opened the door to say that there were three men inquiring for Captain Basil.
“Show them in one by one,” said Holmes.
“The first who entered was a little Ribston pippin of a man, with ruddy cheeks and fluffy white side-whiskers. Holmes had drawn a letter from his pocket.
“What name?” he asked.
“James Lancaster.”
“I am sorry, Lancaster, but the berth is full. Here is half a sovereign for your trouble. Just step into this room and wait there for a few minutes.”
The second man was a long, dried-up creature, with lank hair and sallow cheeks. His name was Hugh Pattins. He also received his dismissal, his half-sovereign, and the order to wait.
The third applicant was a man of remarkable appearance. A fierce bull-dog face was framed in a tangle of hair and beard, and two bold, dark eyes gleamed behind the cover of thick, tufted, overhung eyebrows. He saluted and stood sailor-fashion, turning his cap round in his hands.
“Your name?” asked Holmes.
“Patrick Cairns.”
“Harpooner?”
“Yes, sir. Twenty-six voyages.”
“Dundee, I suppose?”
“Yes, sir.”
“And ready to start with an exploring ship?”
“Yes, sir.”
“What wages?”
“Eight pounds a month.”
“Could you start at once?”
“As soon as I get my kit.”
“Have you your papers?”
“Yes, sir.” He took a sheaf of worn and greasy forms from his pocket. Holmes glanced over them and returned them.
“You are just the man I want,” said he. “Here’s the agreement on the side-table. If you sign it the whole matter will be settled.”
The seaman lurched across the room and took up the pen.
“Shall I sign here?” he asked, stooping over the table.
Holmes leaned over his shoulder and passed both hands over his neck.
“This will do,” said he.
I heard a click of steel and a bellow like an enraged bull. The next instant Holmes and the seaman were rolling on the ground together. He was a man of such gigantic strength that, even with the handcuffs which Holmes had so deftly fastened upon his wrists, he would have very quickly overpowered my friend had Hopkins and I not rushed to his rescue. Only when I pressed the cold muzzle of the revolver to his temple did he at last understand that resistance was vain. We lashed his ankles with cord, and rose breathless from the struggle.
“I must really apologize, Hopkins,” said Sherlock Holmes. “I fear that the scrambled eggs are cold. However, you will enjoy the rest of your breakfast all the better, will you not, for the thought that you have brought your case to a triumphant conclusion.”
Stanley Hopkins was speechless with amazement.
“I don’t know what to say, Mr. Holmes,” he blurted out at last, with a very red face. “It seems to me that I have been making a fool of myself from the beginning. I understand now, what I should never have forgotten, that I am the pupil and you are the master. Even now I see what you have done, but I don’t know how you did it or what it signifies.”
“Well, well,” said Holmes, good-humouredly. “We all learn by experience, and your lesson this time is that you should never lose sight of the alternative. You were so absorbed in young Neligan that you could not spare a thought to Patrick Cairns, the true murderer of Peter Carey.”
The hoarse voice of the seaman broke in on our conversation.
“See here, mister,” said he, “I make no complaint of being man-handled in this fashion, but I would have you call things by their right names. You say I murdered Peter Carey, I say I killed Peter Carey, and there’s all the difference. Maybe you don’t believe what I say. Maybe you think I am just slinging you a yarn.”
“Not at all,” said Holmes. “Let us hear what you have to say.”
“It’s soon told, and, by the Lord, every word of it is truth. I knew Black Peter, and when he pulled out his knife I whipped a harpoon through him sharp, for I knew that it was him or me. That’s how he died. You can call it murder. Anyhow, I’d as soon die with a rope round my neck as with Black Peter’s knife in my heart.”
“How came you there?” asked Holmes.
“I’ll tell it you from the beginning. Just sit me up a little, so as I can speak easy. It was in ’83 that it happened-August of that year. Peter Carey was master of the Sea Unicorn, and I was spare harpooner. We were coming out of the ice-pack on our way home, with head winds and a week’s southerly gale, when we picked up a little craft that had been blown north. There was one man on her-a landsman. The crew had thought she would founder and had made for the Norwegian coast in the dinghy. I guess they were all drowned. Well, we took him on board, this man, and he and the skipper had some long talks in the cabin. All the baggage we took off with him was one tin box. So far as I know, the man’s name was never mentioned, and on the second night he disappeared as if he had never been. It was given out that he had either thrown himself overboard or fallen overboard in the heavy weather that we were having. Only one man knew what had happened to him, and that was me, for, with my own eyes, I saw the skipper tip up his heels and put him over the rail in the middle watch of a dark night, two days before we sighted the Shetland Lights. Well, I kept my knowledge to myself, and waited to see what would come of it. When we got back to Scotland it was easily hushed up, and nobody asked any questions. A stranger died by accident and it was nobody’s business to inquire. Shortly after Peter Carey gave up the sea, and it was long years before I could find where he was. I guessed that he had done the deed for the sake of what was in that tin box, and that he could afford now to pay me well for keeping my mouth shut. I found out where he was through a sailor man that had met him in London, and down I went to squeeze him. The first night he was reasonable enough, and was ready to give me what would make me free of the sea for life. We were to fix it all two nights later. When I came, I found him three parts drunk and in a vile temper. We sat down and we drank and we yarned about old times, but the more he drank the less I liked the look on his face. I spotted that harpoon upon the wall, and I thought I might need it before I was through. Then at last he broke out at me, spitting and cursing, with murder in his eyes and a great clasp-knife in his hand. He had not time to get it from the sheath before I had the harpoon through him. Heavens! what a yell he gave! and his face gets between me and my sleep. I stood there, with his blood splashing round me, and I waited for a bit, but all was quiet, so I took heart once more. I looked round, and there was the tin box on the shelf. I had as much right to it as Peter Carey, anyhow, so I took it with me and left the hut. Like a fool I left my baccy-pouch upon the table.
“Now I’ll tell you the queerest part of the whole story. I had hardly got outside the hut when I heard someone coming, and I hid among the bushes. A man came slinking along, went into the hut, gave a cry as if he had seen a ghost, and legged it as hard as he could run until he was out of sight. Who he was or what he wanted is more than I can tell. For my part I walked ten miles, got a train at Tunbridge Wells, and so reached London, and no one the wiser.
“Well, when I came to examine the box I found there was no money in it, and nothing but papers that I would not dare to sell. I had lost my hold on Black Peter and was stranded in London without a shilling. There was only my trade left. I saw these advertisements about harpooners, and high wages, so I went to the shipping agents, and they sent me here. That’s all I know, and I say again that if I killed Black Peter, the law should give me thanks, for I saved them the price of a hempen rope.”
“A very clear statement,” said Holmes, “rising and lighting his pipe. “I think, Hopkins, that you should lose no time in conveying your prisoner to a place of safety. This room is not well adapted for a cell, and Mr. Patrick Cairns occupies too large a proportion of our carpet.”
“Mr. Holmes,” said Hopkins, “I do not know how to express my gratitude. Even now I do not understand how you attained this result.”
“Simply by having the good fortune to get the right clue from the beginning. It is very possible if I had known about this notebook it might have led away my thoughts, as it did yours. But all I heard pointed in the one direction. The amazing strength, the skill in the use of the harpoon, the rum and water, the sealskin tobacco-pouch with the coarse tobacco-all these pointed to a seaman, and one who had been a whaler. I was convinced that the initials ‘P.C.’ upon the pouch were a coincidence, and not those of Peter Carey, since he seldom smoked, and no pipe was found in his cabin. You remember that I asked whether whisky and brandy were in the cabin. You said they were. How many landsmen are there who would drink rum when they could get these other spirits? Yes, I was certain it was a seaman.”
“And how did you find him?”
“My dear sir, the problem had become a very simple one. If it were a seaman, it could only be a seaman who had been with him on the Sea Unicorn. So far as I could learn he had sailed in no other ship. I spent three days in wiring to Dundee, and at the end of that time I had ascertained the names of the crew of the Sea Unicorn in 1883. When I found Patrick Cairns among the harpooners, my research was nearing its end. I argued that the man was probably in London, and that he would desire to leave the country for a time. I therefore spent some days in the East End, devised an Arctic expedition, put forth tempting terms for harpooners who would serve under Captain Basil-and behold the result!”
“Wonderful!” cried Hopkins. “Wonderful!”
“You must obtain the release of young Neligan as soon as possible,” said Holmes. “I confess that I think you owe him some apology. The tin box must be returned to him, but, of course, the securities which Peter Carey has sold are lost forever. There’s the cab, Hopkins, and you can remove your man. If you want me for the trial, my address and that of Watson will be somewhere in Norway-I’ll send particulars later.”