VỤ ÁN TRƯỜNG PRIORY

Trên sân khấu nhỏ của chúng tôi ở phố Baker, đã có không ít màn xuất hiện và rời đi đầy kịch tính. Thế nhưng tôi không thể nhớ nổi có lần nào đột ngột và gây sửng sốt hơn lần đầu tiên Thorneycroft Huxtable - Thạc sĩ, Tiến sĩ, vân vân - bước vào. Tấm danh thiếp của ông ta, trông quá nhỏ bé để gánh nổi sức nặng của những học hàm uyên bác ấy, đến trước ông ta vài giây. Rồi chính ông ta xuất hiện - một thân hình to lớn, vẻ đường bệ và đầy uy nghi, cứ như thể chính là hiện thân của sự tự chủ và vững vàng. Vậy mà, ngay khi cánh cửa vừa khép lại sau lưng, hành động đầu tiên của ông ta lại là loạng choạng đổ ập vào chiếc bàn, rồi từ đó trượt xuống sàn nhà. Và thế là cái hình hài oai vệ ấy nằm sõng soài bất tỉnh trên tấm thảm da gấu trước lò sưởi của chúng tôi.

Chúng tôi bật dậy. Trong giây lát, cả hai cùng lặng người kinh ngạc nhìn cái hình hài đồ sộ đổ sụp kia - nó tựa như mảnh tàu đắm còn sót lại sau một cơn bão dữ dội, bất thần ngoài khơi xa của đại dương cuộc đời. Rồi Holmes vội vã lấy một chiếc gối kê đầu cho ông ta, còn tôi thì lấy rượu brandy thoa lên môi ông ta. Khuôn mặt ông trắng bệch, nặng nề hằn đầy những nếp nhăn lo âu. Những túi da chảy xệ dưới đôi mắt nhắm nghiền mang một màu xám chì. Cái miệng lỏng lẻo trễ xuống đau khổ ở hai khóe, mấy cái cằm chồng lên nhau đầy râu không cạo. Cổ áo và sơ mi lấm lem bụi bặm của một chuyến đi dài. Mái tóc dựng ngược rối bù trên cái đầu cân đối. Quả thực, một con người bị tổn thương nặng nề đang nằm trước mặt chúng tôi.

"Có chuyện gì vậy, Watson?" Holmes hỏi.

"Kiệt sức hoàn toàn - có lẽ chỉ đơn giản là đói và mệt," tôi đáp, ngón tay đặt lên mạch đập thoi thóp, nơi dòng sinh mệnh chảy nhỏ giọt yếu ớt.

"Vé khứ hồi từ Mackleton, miền bắc nước Anh," Holmes nói, rút tấm vé từ túi đồng hồ. "Giờ vẫn chưa đến mười hai giờ. Ông ta hẳn đã khởi hành từ rất sớm."

Đôi mí mắt nhăn nheo bắt đầu giật giật, rồi một cặp mắt xám vô hồn ngước lên nhìn chúng tôi. Một thoáng sau, người đàn ông ấy đã lồm cồm bò dậy, mặt đỏ bừng vì xấu hổ.

"Xin thứ lỗi cho sự yếu đuối này, ngài Holmes. Tôi có hơi quá căng thẳng. Cảm ơn ngài, nếu tôi có thể xin một ly sữa và một chiếc bánh quy, tôi tin chắc mình sẽ khá hơn. Tôi đích thân đến đây, ngài Holmes, để bảo đảm rằng ngài sẽ trở về cùng tôi. Tôi sợ e rằng không bức điện tín nào có thể thuyết phục được ngài về mức độ cấp bách tuyệt đối của vụ việc."

"Khi nào ông hoàn toàn bình phục--"

"Tôi hoàn toàn ổn rồi. Tôi không thể tưởng tượng nổi sao mình lại yếu đến thế. Tôi mong ngài, ngài Holmes, hãy đến Mackleton với tôi bằng chuyến tàu kế tiếp."

Bạn tôi lắc đầu.

"Đồng nghiệp của tôi, bác sĩ Watson, có thể nói với ông rằng hiện tại chúng tôi đang rất bận. Tôi đang phụ trách vụ Tài liệu Ferrers, và vụ án mạng Abergavenny sắp được đưa ra xét xử. Chỉ có một vấn đề thực sự hệ trọng mới có thể gọi tôi rời London vào lúc này."

"Hệ trọng!" Vị khách của chúng tôi giơ hai tay lên. "Ngài chưa nghe gì về vụ bắt cóc đứa con trai duy nhất của Công tước xứ Holdernesse sao?"

"Cái gì! Vị cựu Bộ trưởng Nội các đó ư?"

"Chính xác. Chúng tôi đã cố giữ kín không cho báo chí biết, nhưng đã có một vài tin đồn trên tờ Globe tối qua. Tôi cứ nghĩ hẳn đã đến tai ngài rồi."

Holmes vươn cánh tay dài gầy guộc của mình ra và rút lấy tập "H" trong bộ bách khoa tham khảo của anh.

"'Holdernesse, Công tước đời thứ 6, K.G., P.C.1' - nửa bảng chữ cái! 'Nam tước Beverley, Bá tước Carston' - trời ơi, những danh hiệu gì thế này! 'Lord Lieutenant xứ Hallamshire từ năm 1900. Kết hôn với Edith, con gái của Ngài Charles Appledore, năm 1888. Người thừa kế và con duy nhất, Ngài Saltire. Sở hữu khoảng hai trăm năm mươi ngàn mẫu Anh. Khoáng sản ở Lancashire và Wales. Địa chỉ: Carlton House Terrace; Holdernesse Hall, Hallamshire; Lâu đài Carston, Bangor, Wales. Lãnh chúa Bộ Hải quân, 1872; Tổng trưởng Quốc vụ khanh--' Chà, chà, con người này quả là một trong những thần dân vĩ đại nhất của Hoàng gia!"

"Vĩ đại nhất và có lẽ giàu có nhất. Tôi biết, ngài Holmes, rằng ngài có một tiêu chuẩn rất cao trong các vấn đề nghề nghiệp, và ngài sẵn sàng làm việc vì chính bản thân công việc. Tuy nhiên, tôi có thể nói với ngài rằng Đức ngài đã ngụ ý rằng một tấm séc trị giá năm nghìn bảng sẽ được trao cho người nào có thể cho ngài ấy biết con trai mình đang ở đâu, và thêm một nghìn bảng nữa cho người có thể nêu tên kẻ - hoặc những kẻ - đã bắt cậu bé."

"Đó là một lời đề nghị mang tầm vương giả," Holmes nói. "Watson, tôi nghĩ chúng ta sẽ cùng bác sĩ Huxtable trở về miền bắc nước Anh. Và giờ đây, bác sĩ Huxtable, khi ông đã uống xong ly sữa đó, xin ông vui lòng kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra, xảy ra khi nào, xảy ra như thế nào, và cuối cùng, bác sĩ Thorneycroft Huxtable, thuộc trường Priory, gần Mackleton, có liên quan gì đến vụ việc, và tại sao ông lại đến tận ba ngày sau sự kiện - tình trạng cằm của ông cho biết ngày tháng - để nhờ đến sự phục vụ hèn mọn của tôi."

Vị khách của chúng tôi đã uống xong sữa và bánh quy. Ánh sáng đã trở lại trong mắt ông ta và sắc hồng trên đôi má, khi ông ta bắt đầu giải thích tình hình với một sự mạnh mẽ và rõ ràng tuyệt vời.

"Tôi phải cho các quý ông biết rằng Priory là một trường dự bị, mà tôi là người sáng lập kiêm hiệu trưởng. Những Góc Nhìn Riêng của Huxtable về Horace có lẽ sẽ gợi nhắc tên tôi trong ký ức các vị. Priory, không ngoa chút nào, là trường dự bị tốt nhất và được tuyển chọn kỹ nhất nước Anh. Ngài Leverstoke, Bá tước Blackwater, Ngài Cathcart Soames - tất cả họ đều đã gửi gắm con trai mình cho tôi. Nhưng tôi cảm thấy ngôi trường của mình đã đạt đến đỉnh cao khi, cách đây vài tuần, Công tước xứ Holdernesse cử ngài James Wilder, thư ký của ngài, đến với thông báo rằng Ngài Saltire trẻ tuổi, mười tuổi, con trai duy nhất và người thừa kế của ngài, sắp được giao cho tôi chăm sóc. Tôi nào có ngờ rằng đây sẽ là khúc dạo đầu cho nỗi bất hạnh nghiệt ngã nhất của cuộc đời mình.

"Vào ngày 1 tháng Năm, cậu bé đã đến, đó là ngày khởi đầu học kỳ hè. Cậu là một thiếu niên duyên dáng, và cậu sớm hòa nhập với nếp sống của chúng tôi. Tôi có thể nói với các vị - tôi tin rằng mình không phải là kẻ thiếu kín đáo, nhưng sự nửa vời trong một trường hợp như thế này thật là vô lý - rằng cậu bé không hoàn toàn hạnh phúc ở nhà. Có một bí mật công khai rằng cuộc sống hôn nhân của Công tước không hề êm ả, và sự việc đã kết thúc bằng một cuộc ly thân theo thỏa thuận chung, Nữ Công tước dọn đến sống ở miền nam nước Pháp. Việc này xảy ra trước đó không lâu, và người ta biết rằng tình cảm của cậu bé nghiêng hẳn về phía mẹ mình. Cậu buồn bã ủ rũ sau khi bà rời khỏi Holdernesse Hall, và chính vì lý do này mà Công tước muốn gửi cậu đến trường của tôi. Trong vòng hai tuần, cậu bé đã hoàn toàn thoải mái với chúng tôi và dường như vô cùng hạnh phúc.

"Lần cuối cùng người ta nhìn thấy cậu là vào đêm ngày 13 tháng Năm - tức là, đêm thứ Hai tuần trước. Phòng của cậu ở tầng hai và phải đi qua một căn phòng lớn hơn khác, nơi có hai cậu bé đang ngủ. Những cậu bé này không thấy hay nghe thấy gì, vì vậy có thể chắc chắn rằng Ngài Saltire trẻ tuổi đã không đi ra bằng lối đó. Cửa sổ của cậu để mở, và có một cây thường xuân chắc khỏe leo xuống tận mặt đất. Chúng tôi không thể tìm thấy dấu chân nào bên dưới, nhưng chắc chắn đây là lối thoát duy nhất khả dĩ.

"Sự vắng mặt của cậu được phát hiện vào lúc bảy giờ sáng thứ Ba. Giường của cậu đã có người nằm. Cậu đã mặc quần áo đầy đủ trước khi rời đi, trong bộ đồng phục học đường thường lệ gồm áo khoác Eton đen và quần xám đậm. Không có dấu hiệu nào cho thấy có ai đã vào phòng, và điều khá chắc chắn là bất cứ tiếng động nào như la hét hay giằng co sẽ bị nghe thấy, vì Caunter, cậu bé lớn hơn ở phòng trong, là một người ngủ rất nông.

"Khi sự mất tích của Ngài Saltire bị phát hiện, tôi lập tức điểm danh toàn bộ cơ sở - học sinh, giáo viên, và người hầu. Lúc đó chúng tôi mới xác định được rằng Ngài Saltire không đơn độc trong cuộc bỏ trốn của mình. Heidegger, thầy giáo tiếng Đức, cũng mất tích. Phòng của ông ta ở tầng hai, ở phía cuối tòa nhà, quay về cùng hướng với phòng của Ngài Saltire. Giường của ông ta cũng đã có người nằm, nhưng dường như ông ta đã rời đi trong tình trạng ăn mặc không đầy đủ, vì áo sơ mi và tất của ông ta nằm trên sàn. Không nghi ngờ gì nữa, ông ta đã tự tụt xuống bằng cây thường xuân, vì chúng tôi có thể thấy dấu chân của ông ta nơi ông ta tiếp đất trên bãi cỏ. Xe đạp của ông ta được để trong một nhà kho nhỏ bên cạnh bãi cỏ này, và nó cũng biến mất.

"Ông ta đã ở với tôi được hai năm, đến với những thư giới thiệu tốt nhất, nhưng ông ta là một người trầm lặng, cáu kỉnh, không được lòng cả giáo viên lẫn học sinh. Không một dấu vết nào của những kẻ đào tẩu được tìm thấy, và giờ đây, vào sáng thứ Năm, chúng tôi vẫn mù tịt như hồi thứ Ba. Tất nhiên, cuộc điều tra được tiến hành ngay tại Holdernesse Hall. Nơi đó chỉ cách vài dặm, và chúng tôi tưởng tượng rằng, trong cơn nhớ nhà đột ngột, cậu bé đã quay về với cha mình, nhưng không ai nghe tin gì về cậu. Công tước vô cùng kích động, và, về phần tôi, các vị đã tận mắt chứng kiến tình trạng suy nhược thần kinh mà sự hồi hộp và trách nhiệm đã đẩy tôi vào. Ngài Holmes, nếu đã có lúc nào ngài phát huy toàn bộ năng lực của mình, thì tôi khẩn cầu ngài hãy làm điều đó ngay bây giờ, vì chưa bao giờ trong đời ngài có thể gặp một vụ án nào xứng đáng hơn thế."

Sherlock Holmes đã lắng nghe với sự chú tâm tột độ lời trình bày của vị hiệu trưởng bất hạnh. Đôi lông mày nhíu lại và nếp nhăn sâu giữa chúng cho thấy anh không cần bất cứ lời thúc giục nào để tập trung toàn bộ sự chú ý vào một vấn đề, vốn ngoài những lợi ích to lớn liên quan, còn hấp dẫn trực tiếp đến tình yêu của anh đối với sự phức tạp và khác thường. Lúc này anh rút cuốn sổ tay ra và ghi vội một vài ghi chú.

"Ông đã rất tắc trách khi không đến gặp tôi sớm hơn," anh nghiêm khắc nói. "Ông đã đặt tôi vào cuộc điều tra với một bất lợi rất nghiêm trọng. Thật không thể tưởng tượng nổi, ví dụ, rằng cây thường xuân và bãi cỏ này lại không để lại chút gì cho một người quan sát chuyên nghiệp."

"Tôi không đáng trách, ngài Holmes. Đức ngài cực kỳ mong muốn tránh mọi bê bối công khai. Ngài ấy sợ nỗi bất hạnh gia đình mình bị phơi bày trước công chúng. Ngài ấy có một nỗi kinh hoàng sâu sắc với bất cứ điều gì thuộc loại đó."

"Nhưng đã có một cuộc điều tra chính thức nào đó chứ?"

"Vâng, thưa ngài, và nó đã tỏ ra hết sức thất vọng. Một manh mối rõ ràng đã có được ngay lập tức, khi người ta báo rằng một cậu bé và một thanh niên được nhìn thấy rời một ga lân cận bằng một chuyến tàu sớm. Mới tối qua thôi, chúng tôi nhận được tin rằng cặp đôi này đã bị truy lùng tận Liverpool, và hóa ra họ chẳng có liên quan gì đến vụ việc hiện tại. Chính lúc đó, trong cơn tuyệt vọng và thất vọng của mình, sau một đêm không ngủ, tôi đã đến thẳng chỗ ngài bằng chuyến tàu sớm."

"Tôi cho rằng cuộc điều tra tại địa phương đã bị nới lỏng trong khi cái manh mối sai lầm này đang được theo đuổi?"

"Nó đã bị bỏ hẳn."

"Vậy là ba ngày đã bị lãng phí. Vụ việc đã bị xử lý một cách tồi tệ nhất."

"Tôi cảm nhận được điều đó và thừa nhận nó."

"Vậy mà vấn đề đáng lẽ phải có khả năng đạt được lời giải cuối cùng. Tôi sẽ rất vui lòng xem xét nó. Ông có thể tìm ra bất kỳ mối liên hệ nào giữa cậu bé mất tích và ông thầy người Đức này không?"

"Hoàn toàn không."

"Cậu bé có học lớp của ông thầy không?"

"Không, cậu chưa từng trao đổi một lời nào với ông ta, theo như tôi biết."

"Điều đó quả thực rất kỳ lạ. Cậu bé có xe đạp không?"

"Không."

"Có chiếc xe đạp nào khác bị mất không?"

"Không."

"Điều đó có chắc không?"

"Hoàn toàn chắc."

"Chà, giờ đây, ông không định nghiêm túc gợi ý rằng ông người Đức này đã phóng xe đạp đi trong đêm khuya, ôm theo cậu bé trong tay đấy chứ?"

"Dĩ nhiên là không."

"Vậy thì giả thuyết trong đầu ông là gì?"

"Chiếc xe đạp có thể là một thứ đánh lạc hướng. Nó có thể đã được giấu ở đâu đó, và cặp đôi này đã đi bộ."

"Hoàn toàn đúng, nhưng nó có vẻ là một thứ đánh lạc hướng khá vô lý, phải không? Có những chiếc xe đạp khác trong nhà kho này chứ?"

"Nhiều chiếc."

"Chẳng phải ông ta sẽ giấu một cặp, nếu ông ta muốn tạo ấn tượng rằng họ đã phóng xe đi sao?"

"Tôi cho là có."

"Dĩ nhiên ông ta sẽ làm thế. Giả thuyết đánh lạc hướng không ổn rồi. Nhưng sự kiện này là một điểm khởi đầu tuyệt vời cho cuộc điều tra. Suy cho cùng, một chiếc xe đạp không phải là thứ dễ giấu hay dễ tiêu hủy. Một câu hỏi nữa. Có ai đến thăm cậu bé vào ngày trước hôm cậu mất tích không?"

"Không."

"Cậu bé có nhận được thư từ nào không?"

"Có, một lá thư."

"Của ai?"

"Của cha cậu."

"Ông có mở thư của học sinh không?"

"Không."

"Làm sao ông biết đó là của cha cậu?"

"Huy hiệu gia tộc ở trên phong bì, và nó được đề địa chỉ bằng nét chữ cứng nhắc đặc trưng của Công tước. Vả lại, Công tước nhớ là đã viết."

"Trước đó cậu bé nhận thư lần cuối là khi nào?"

"Đã mấy ngày rồi."

"Cậu bé đã từng nhận thư từ Pháp bao giờ chưa?"

"Chưa, chưa bao giờ."

"Hẳn ông thấy được dụng ý của những câu hỏi của tôi rồi. Hoặc là cậu bé bị bắt đi bằng vũ lực, hoặc cậu tự ý bỏ đi. Trong trường hợp thứ hai, ta có thể nghĩ rằng cần phải có một sự xúi giục nào đó từ bên ngoài mới khiến một cậu bé còn quá nhỏ làm một việc như thế. Nếu cậu không có khách đến thăm, thì sự xúi giục đó hẳn phải đến qua thư từ; do đó tôi cố tìm ra những người đã viết thư cho cậu."

"Tôi sợ e rằng tôi không thể giúp ngài nhiều. Người viết thư duy nhất cho cậu, theo như tôi biết, chính là cha cậu."

"Người đã viết thư cho cậu vào chính ngày cậu mất tích. Mối quan hệ giữa hai cha con có thân thiện không?"

"Đức ngài chưa bao giờ thực sự thân thiện với bất kỳ ai. Ngài ấy hoàn toàn đắm mình trong những vấn đề công cộng lớn lao, và khá là khó tiếp cận với mọi cảm xúc thông thường. Nhưng ngài ấy luôn đối xử tốt với cậu bé theo cách riêng của mình."

"Nhưng tình cảm của cậu bé lại nghiêng về phía mẹ?"

"Vâng."

"Cậu bé có nói thế không?"

"Không."

"Vậy là Công tước nói?"

"Lạy Chúa, không!"

"Thế thì làm sao ông biết?"

"Tôi đã có vài cuộc trò chuyện riêng với ngài James Wilder, thư ký của Đức ngài. Chính ông ấy là người đã cho tôi biết thông tin về tình cảm của Ngài Saltire."

"Tôi hiểu rồi. Nhân tiện, lá thư cuối cùng của Công tước - nó có được tìm thấy trong phòng cậu bé sau khi cậu đi không?"

"Không, cậu đã mang nó theo. Tôi nghĩ, ngài Holmes, đã đến lúc chúng ta lên đường đến Euston rồi."

"Tôi sẽ gọi một cỗ xe bốn bánh. Trong mười lăm phút nữa, chúng tôi sẽ sẵn sàng phục vụ ông. Nếu ông có đánh điện về nhà, ngài Huxtable, thì tốt hơn là nên để cho những người ở vùng lân cận của ông tưởng rằng cuộc điều tra vẫn đang tiếp tục ở Liverpool, hoặc bất cứ nơi nào mà cái tin đánh lạc hướng ấy đã dẫn bầy chó săn của ông đến. Trong lúc đó, tôi sẽ làm một chút công việc thầm lặng ngay tại cửa nhà ông, và có lẽ dấu vết vẫn chưa nguội lạnh đến mức hai con chó săn già như Watson và tôi không thể đánh hơi thấy."

Tối hôm ấy, chúng tôi đặt chân đến vùng Peak trong bầu không khí lạnh buốt mà sảng khoái, nơi tọa lạc ngôi trường danh tiếng của bác sĩ Huxtable. Trời đã nhá nhem khi chúng tôi tới nơi. Một tấm danh thiếp nằm trên bàn tiền sảnh, và người quản gia thì thầm điều gì đó với chủ nhà. Ông chủ nhà quay sang chúng tôi, từng nét trên gương mặt nặng nề đều hằn lên vẻ kích động.

"Công tước đang ở đây," ông ta nói. "Công tước và ngài Wilder hiện đang ở trong thư phòng. Mời các quý ông theo tôi, tôi sẽ giới thiệu các vị."

Dĩ nhiên, tôi đã quen thuộc với những bức chân dung của vị chính khách lừng danh này, nhưng con người thật của ông ta khác xa những gì tôi hình dung. Ông ta cao lớn, dáng vẻ uy nghi, y phục hết sức chải chuốt, với khuôn mặt hốc hác gầy guộc cùng chiếc mũi dài khoằm xuống một cách kỳ quái. Nước da ông ta tái nhợt như xác chết, càng gây ấn tượng sửng sốt bởi sự tương phản với bộ râu dài thòng xuống đỏ rực, chảy tràn qua chiếc áo ghi-lê trắng, nơi sợi dây đồng hồ lấp lánh xuyên qua lớp râu rậm. Đó chính là dáng vẻ uy nghiêm đang lạnh lùng quan sát chúng tôi từ giữa tấm thảm lò sưởi của bác sĩ Huxtable. Bên cạnh ông ta là một thanh niên rất trẻ - tôi đoán đó chính là Wilder, thư ký riêng của Công tước. Anh ta nhỏ nhắn, căng thẳng, nhanh nhẹn, với đôi mắt xanh nhạt thông minh và những đường nét linh hoạt trên gương mặt. Chính anh ta là người mở đầu cuộc trò chuyện, bằng một giọng sắc bén và đầy quả quyết.

"Tôi đã ghé qua sáng nay, bác sĩ Huxtable, nhưng đã quá muộn để ngăn ông lên đường tới London. Tôi được biết mục đích chuyến đi của ông là mời ngài Sherlock Holmes đảm nhận việc điều tra vụ này. Đức ngài hết sức ngạc nhiên, thưa bác sĩ Huxtable, rằng ông đã có một bước đi như vậy mà không hề hỏi ý kiến ngài ấy."

"Khi tôi được biết cảnh sát đã thất bại -- "

"Đức ngài hoàn toàn không bị thuyết phục rằng cảnh sát đã thất bại."

"Nhưng chắc chắn rồi, ngài Wilder -- "

"Ông biết rất rõ, bác sĩ Huxtable, rằng Đức ngài đặc biệt lo ngại muốn tránh mọi bê bối công khai. Ngài ấy muốn càng ít người biết chuyện này càng tốt."

"Vấn đề có thể dễ dàng được giải quyết thôi mà," vị bác sĩ bị lấn lướt đáp; "Ngài Sherlock Holmes có thể trở về London bằng chuyến tàu sáng mai."

"Không hẳn thế đâu, thưa bác sĩ, không hẳn thế đâu," Holmes cất giọng ngọt ngào nhất của mình. "Không khí phương bắc này thật sảng khoái và dễ chịu, vì vậy tôi dự định sẽ dành vài ngày trên những cánh đồng hoang của các vị, và giết thời gian theo cách tốt nhất có thể. Việc tôi trú dưới mái nhà của ông hay ở quán trọ trong làng, dĩ nhiên, là tùy ông quyết định."

Tôi có thể thấy vị bác sĩ bất hạnh đang ở vào thế lưỡng lự cuối cùng, và ông ta được giải thoát khỏi tình thế ấy nhờ giọng nói trầm vang của vị Công tước râu đỏ - giọng nói vang lên như tiếng cồng báo giờ ăn tối.

"Tôi đồng ý với ngài Wilder, bác sĩ Huxtable, rằng ông đáng lẽ nên hỏi ý kiến tôi thì khôn ngoan hơn. Nhưng vì ngài Holmes đã được ông cho biết chuyện rồi, thì quả thực sẽ là vô lý nếu chúng ta không tận dụng sự phục vụ của ngài ấy. Không cần phải đến quán trọ đâu, ngài Holmes, tôi sẽ rất hân hạnh nếu ngài đến ở cùng tôi tại Holdernesse Hall."

"Tôi xin cảm tạ Đức ngài. Vì mục đích điều tra của mình, tôi nghĩ sẽ khôn ngoan hơn nếu tôi ở lại chính nơi xảy ra bí ẩn này."

"Tùy ngài thôi, ngài Holmes. Bất kỳ thông tin nào mà ngài Wilder hoặc tôi có thể cung cấp cho ngài, dĩ nhiên, đều sẵn sàng để ngài sử dụng."

"Có lẽ tôi sẽ cần đến gặp Đức ngài tại Dinh thự," Holmes nói. "Lúc này tôi chỉ xin hỏi ngài một điều, thưa ngài: liệu ngài có tự mình hình dung ra bất kỳ lời giải thích nào về sự mất tích bí ẩn của con trai ngài không?"

"Không, thưa ông, tôi không có."

"Xin thứ lỗi nếu tôi đề cập đến điều có thể gây đau lòng cho ngài, nhưng tôi không còn cách nào khác. Ngài có nghĩ rằng Nữ Công tước có liên quan gì đến vụ việc này không?"

Vị đại thần lộ rõ vẻ lưỡng lự.

"Tôi không nghĩ vậy," cuối cùng ông ta đáp.

"Một cách giải thích hiển nhiên khác là đứa trẻ đã bị bắt cóc nhằm mục đích đòi tiền chuộc. Ngài không hề nhận được yêu cầu nào thuộc loại đó sao?"

"Không, thưa ông."

"Thêm một câu hỏi nữa, thưa Đức ngài. Tôi hiểu rằng ngài đã viết thư cho con trai vào cái ngày xảy ra sự việc này."

"Không, tôi viết vào ngày hôm trước."

"Chính xác. Nhưng cậu bé nhận được thư vào ngày hôm đó?"

"Vâng."

"Có điều gì trong lá thư của ngài có thể khiến cậu bé mất thăng bằng hoặc dẫn đến một hành động như vậy không?"

"Không, thưa ông, chắc chắn là không."

"Ngài có tự tay bỏ lá thư đó vào thùng thư không?"

Câu trả lời của vị quý tộc bị chính người thư ký của ông ta ngắt lời. Anh ta xen vào với một chút nóng nảy.

"Đức ngài không có thói quen tự mình bỏ thư," anh ta nói. "Lá thư này được đặt cùng với những lá khác trên bàn thư phòng, và chính tôi đã bỏ tất cả vào túi thư."

"Anh có chắc lá thư này nằm trong số đó không?"

"Vâng, tôi đã để ý thấy nó."

"Đức ngài đã viết bao nhiêu lá thư ngày hôm đó?"

"Hai mươi hay ba mươi lá. Tôi có một lượng thư từ trao đổi rất lớn. Nhưng chắc chắn điều này có phần không liên quan chứ?"

"Không hẳn là không liên quan," Holmes đáp.

"Về phần mình," Công tước nói tiếp, "tôi đã khuyên cảnh sát chuyển hướng chú ý sang miền nam nước Pháp. Tôi đã nói rồi rằng tôi không tin Nữ Công tước lại khuyến khích một hành động quái đản như vậy, nhưng cậu bé có những quan điểm hết sức ngang bướng, và rất có thể cậu đã trốn đến chỗ bà ấy, được tên người Đức này tiếp tay và xúi giục. Tôi nghĩ, bác sĩ Huxtable, giờ chúng ta sẽ trở về Dinh thự."

Tôi có thể thấy rằng Holmes còn muốn đặt thêm những câu hỏi khác, nhưng thái độ cộc lốc của vị quý tộc đã cho thấy cuộc gặp đã kết thúc. Rõ ràng là với bản chất quý tộc thâm căn cố đế của mình, việc thảo luận những chuyện gia đình thầm kín với một người xa lạ là điều hết sức ghê tởm đối với ông ta, và ông ta sợ rằng mỗi câu hỏi mới sẽ chiếu một luồng sáng gay gắt hơn vào những góc khuất được che đậy kín đáo trong lịch sử công tước của mình.

Khi vị quý tộc và người thư ký đã rời đi, bạn tôi lập tức lao vào cuộc điều tra với lòng hăng hái đặc trưng của mình.

Căn phòng của cậu bé đã được kiểm tra cẩn thận, và không cho ra kết quả gì ngoài niềm xác tín tuyệt đối rằng cậu chỉ có thể trốn thoát qua cửa sổ. Căn phòng và đồ đạc của ông thầy người Đức cũng chẳng hé lộ thêm manh mối nào. Trong trường hợp của ông ta, một nhánh thường xuân đã gãy dưới sức nặng, và dưới ánh đèn lồng, chúng tôi nhìn thấy vết lõm trên bãi cỏ nơi gót chân ông ta tiếp đất. Cái vết lõm duy nhất ấy trên thảm cỏ xanh ngắn là nhân chứng vật chất duy nhất còn sót lại của cuộc đào tẩu bí ẩn trong đêm ấy.

Sherlock Holmes rời ngôi nhà một mình, và chỉ quay trở lại sau mười một giờ. Anh đã kiếm được một tấm bản đồ quân sự khổ lớn của khu vực lân cận, rồi mang nó vào phòng tôi, trải rộng ra trên giường. Sau khi đặt cây đèn thăng bằng ở giữa tấm bản đồ, anh bắt đầu vừa hút thuốc vừa nghiền ngẫm nó, thỉnh thoảng lại dùng cái tẩu thuốc hổ phách còn đang bốc khói của mình chỉ ra những điểm đáng chú ý.

"Vụ này ngày càng cuốn hút tôi, Watson ạ," anh nói. "Rõ ràng là có một số điểm đáng quan tâm liên quan đến nó. Ở giai đoạn đầu này, tôi muốn anh nắm được những đặc điểm địa lý có thể có liên quan nhiều đến cuộc điều tra của chúng ta.

Bản đồ của Holmes

BẢN ĐỒ CỦA HOLMES VỀ KHU VỰC LÂN CẬN TRƯỜNG HỌC.

"Hãy nhìn tấm bản đồ này. Hình vuông tối màu này là trường Priory. Tôi sẽ cắm một cái ghim vào đó. Còn bây giờ, đường này là con đường chính. Anh thấy đấy, nó chạy theo hướng đông tây ngang qua trường, và anh cũng thấy rằng không có con đường phụ nào trong vòng một dặm về cả hai phía. Nếu hai người này rời đi bằng đường bộ, thì đó chính là con đường này."

"Chính xác."

"Nhờ một sự tình cờ kỳ lạ và may mắn, ở một mức độ nào đó, chúng ta có thể kiểm tra được những gì đã đi qua con đường này trong cái đêm đang được nói đến. Ở điểm này, nơi tẩu thuốc của tôi đang đặt lúc này, có một cảnh sát địa phương túc trực từ mười hai giờ đến sáu giờ. Như anh thấy đấy, đây là ngã rẽ đầu tiên ở phía đông. Người này khẳng định rằng anh ta không rời khỏi vị trí của mình dù chỉ một khoảnh khắc, và anh ta quả quyết rằng không một cậu bé hay người đàn ông nào có thể đi qua lối đó mà không bị phát hiện. Tôi đã nói chuyện với viên cảnh sát này tối nay và đối với tôi, anh ta có vẻ là một người hoàn toàn đáng tin cậy. Điều đó chặn đứng đầu bên này. Giờ chúng ta phải xử lý đầu bên kia. Có một quán trọ ở đây, quán Red Bull, bà chủ quán đang ốm. Bà ta đã cho người đến Mackleton mời bác sĩ, nhưng ông ấy mãi đến sáng mới tới vì đang bận một ca bệnh khác. Những người trong quán trọ đã thức suốt đêm chờ đợi ông ấy, và dường như lúc nào cũng có người này hay người kia để mắt đến con đường. Họ khẳng định rằng không ai đi qua cả. Nếu lời khai của họ là đúng, thì chúng ta đủ may mắn để chặn được phía tây, và cũng có thể nói rằng những kẻ đào tẩu đã không sử dụng con đường này chút nào."

"Nhưng còn chiếc xe đạp?" tôi phản đối.

"Đúng thế. Chúng ta sẽ nói đến chiếc xe đạp ngay bây giờ. Tiếp tục suy luận của chúng ta: nếu những người này không đi bằng con đường, thì họ hẳn đã băng qua vùng đất ở phía bắc hoặc phía nam của ngôi nhà. Điều đó là chắc chắn. Chúng ta hãy cân nhắc từng bên một. Phía nam của ngôi nhà, như anh thấy, là một vùng đất canh tác rộng lớn, được chia cắt thành những thửa ruộng nhỏ, với những bức tường đá ngăn cách giữa chúng. Ở đó, tôi thừa nhận rằng xe đạp là bất khả thi. Chúng ta có thể gạt ý tưởng đó sang một bên. Giờ chuyển sang vùng đất phía bắc. Ở đây có một lùm cây, được đánh dấu là 'Ragged Shaw,' và phía xa hơn trải dài một cánh đồng hoang rộng lớn nhấp nhô, Lower Gill Moor, kéo dài mười dặm và dốc dần lên. Đây, ở một rìa của vùng hoang vu này, là Holdernesse Hall, cách mười dặm theo đường bộ, nhưng chỉ sáu dặm nếu băng qua đồng hoang. Đó là một vùng đồng bằng đặc biệt hoang vắng. Một vài tá điền chăn thả có những mảnh đất nhỏ, nơi họ nuôi cừu và gia súc. Ngoài họ ra, chim choi choi và chim curlew là những cư dân duy nhất cho đến khi anh tới đường lớn Chesterfield. Có một nhà thờ ở đó, anh thấy đấy, vài ngôi nhà tranh, và một quán trọ. Xa hơn nữa, những ngọn đồi trở nên dốc đứng. Chắc chắn chính ở đây, về phía bắc, là nơi cuộc truy tìm của chúng ta phải hướng tới."

"Nhưng còn chiếc xe đạp?" tôi vẫn khăng khăng.

"Chà, chà!" Holmes lên tiếng, đầy vẻ sốt ruột. "Một tay đua xe đạp giỏi không cần đường lớn. Cánh đồng hoang bị cắt ngang bởi những lối mòn, và trăng lúc đó đang tròn. Ái chà! Cái gì đây?"

Có một tiếng gõ cửa đầy kích động, và ngay sau đó bác sĩ Huxtable đã bước vào phòng. Trên tay ông ta cầm một chiếc mũ lưỡi trai màu xanh lam với một hình chữ V màu trắng trên lưỡi trai.

"Cuối cùng chúng ta cũng có một manh mối!" ông ta reo lên. "Tạ ơn trời! Cuối cùng chúng ta cũng đã tìm ra dấu vết của cậu bé yêu quý! Đây là mũ của cậu."

"Nó được tìm thấy ở đâu?"

"Trong xe ngựa của bọn du mục đã cắm trại trên đồng hoang. Chúng rời đi hôm thứ Ba. Hôm nay cảnh sát đã lần theo dấu vết của chúng và khám xét xe ngựa. Chiếc mũ này đã được tìm thấy."

"Họ giải thích thế nào về nó?"

"Họ lúng túng và nói dối - bảo rằng họ nhặt được nó trên đồng hoang vào sáng thứ Ba. Chúng biết cậu bé ở đâu, lũ khốn kiếp! Tạ ơn Chúa, tất cả bọn chúng đều đã bị tống giam an toàn. Hoặc là nỗi sợ pháp luật, hoặc là túi tiền của Công tước, chắc chắn sẽ khiến chúng khai ra tất cả những gì chúng biết."

"Đến đây thì tốt rồi," Holmes nói, khi vị bác sĩ cuối cùng đã rời khỏi phòng. "Ít nhất điều này cũng củng cố cho giả thuyết rằng chính ở phía Lower Gill Moor chúng ta mới có thể hy vọng có kết quả. Cảnh sát thực sự đã không làm được gì ở địa phương, ngoại trừ việc bắt giữ bọn du mục này. Nhìn đây, Watson! Có một dòng nước chảy ngang qua đồng hoang. Anh thấy nó được đánh dấu ở đây trên bản đồ. Ở một số chỗ nó mở rộng thành đầm lầy. Điều này đặc biệt đúng ở khu vực giữa Holdernesse Hall và trường học. Thật vô ích khi tìm kiếm dấu vết ở nơi khác trong thời tiết khô ráo thế này, nhưng ở điểm đó thì chắc chắn có cơ hội để lại dấu vết nào đó. Tôi sẽ gọi anh dậy sớm vào sáng mai, và anh với tôi sẽ thử xem liệu chúng ta có thể soi một chút ánh sáng vào bí ẩn này không."

Trời vừa hửng sáng, tôi đã choàng tỉnh và bắt gặp dáng người cao gầy của Holmes ngay bên cạnh giường mình. Anh đã mặc quần áo chỉnh tề, và trông như thể đã ra ngoài từ trước đó.

"Tôi đã xem xét qua bãi cỏ và cả nhà kho để xe đạp rồi," anh lên tiếng. "Tôi cũng đã lùng sục khắp khu Ragged Shaw. Giờ thì, Watson này, có ca cao pha sẵn ở phòng bên rồi đấy. Tôi phải nhờ anh nhanh lên, vì chúng ta còn cả một ngày trọng đại ở phía trước."

Đôi mắt anh sáng rực, và gò má ửng lên thứ phấn khích của một người thợ bậc thầy khi trông thấy công trình của mình đã bày sẵn trước mắt. Đây quả là một Holmes hoàn toàn khác - con người lanh lợi, tràn trề sinh khí này - so với kẻ mộng mơ nội tâm, xanh xao nơi phố Baker. Ngắm nhìn cái dáng vóc dẻo dai ấy, căng đầy nhựa sống, tôi cảm nhận rõ rằng một ngày vất vả thực sự đang chờ đón chúng tôi.

Thế nhưng buổi sáng hôm ấy lại mở ra trong nỗi thất vọng ê chề. Mang theo bao hy vọng tràn trề, chúng tôi băng qua cánh đồng hoang nâu đỏ phủ đầy than bùn, bị cắt xẻ bởi hàng ngàn lối mòn của cừu, cho đến khi chạm tới dải đất rộng một màu xanh nhạt - dấu hiệu của khu đầm lầy án ngữ giữa chúng tôi và Holdernesse. Nếu cậu bé đã tìm đường về nhà, ắt hẳn cậu phải băng qua chốn này, và không thể băng qua mà không để lại dấu vết. Vậy mà chẳng có lấy một dấu hiệu nào của cậu, hay của ông thầy người Đức. Sắc mặt tối sầm lại, bạn tôi sải bước dọc theo bờ đầm lầy, chăm chú dò xét từng vết hằn trên lớp rêu ẩm. Dấu chân cừu thì la liệt, và ở một chỗ cách đó vài dặm, còn có cả dấu bò in lại. Ngoài ra, không gì hơn.

"Thất bại đầu tiên," Holmes cất giọng, ủ rũ nhìn ra vùng đồng hoang nhấp nhô trải rộng trước mắt. "Vẫn còn một khu đầm lầy nữa ở đằng kia, và một eo đất hẹp nằm giữa. Ái chà! Ái chà! Ái chà! Mà chúng ta có gì đây?"

Chúng tôi đã tiến đến một dải đường mòn nhỏ màu đen. Ngay chính giữa lối đi, in rõ mồn một trên nền đất còn ẩm, là dấu vết của một chiếc xe đạp.

"Hoan hô!" tôi reo lên. "Chúng ta tìm thấy rồi!"

Nhưng Holmes lại lắc đầu, nét mặt anh lộ vẻ bối rối và chờ đợi nhiều hơn là vui mừng.

"Một chiếc xe đạp, không nghi ngờ gì nữa, nhưng không phải là chiếc xe đạp ấy," anh nói. "Tôi quen thuộc với bốn mươi hai kiểu vết lốp xe khác nhau. Cái này, như anh thấy, là lốp Dunlop, có một miếng vá trên mặt ngoài. Lốp của Heidegger là loại Palmer, để lại những đường rãnh dọc. Aveling, ông thầy dạy toán, đã khẳng định điều này một cách chắc chắn. Bởi vậy, đây không phải là dấu vết của Heidegger."

"Vậy thì là của cậu bé?"

"Có thể, nếu ta chứng minh được rằng cậu bé có một chiếc xe đạp. Nhưng đây lại là điều chúng ta hoàn toàn chưa thể xác minh. Dấu vết này, như anh thấy, được tạo ra bởi một người đang đi từ hướng ngôi trường."

"Hay là đang đi về phía trường?"

"Không, không, anh bạn Watson thân mến. Vết lún sâu hơn, tất nhiên, là của bánh sau - nơi chịu toàn bộ sức nặng. Anh có thể thấy ở vài chỗ nó đã lăn qua và xóa mờ vết nông hơn của bánh trước. Không còn nghi ngờ gì, chiếc xe đang rời xa khỏi trường. Nó có thể liên quan, hoặc không liên quan đến cuộc điều tra của chúng ta, nhưng ta sẽ lần theo nó ngược về trước khi tiến xa hơn."

Chúng tôi làm theo, và sau chừng vài trăm thước thì mất dấu khi ra khỏi phần đất sình lầy của cánh đồng hoang. Lần ngược con đường mòn trở lại, chúng tôi tìm thấy một điểm khác, nơi một dòng suối nhỏ chảy tràn qua lối đi. Tại đây, một lần nữa, dấu vết của chiếc xe đạp lại hiện ra, dù gần như đã bị xóa nhòa bởi móng bò. Sau đó thì không còn bất kỳ dấu hiệu nào nữa, nhưng con đường mòn chạy thẳng vào Ragged Shaw - khu rừng nằm ngay phía sau ngôi trường. Chiếc xe đạp hẳn đã xuất phát từ khu rừng này. Holmes ngồi xuống một tảng đá và chống cằm lên hai tay. Tôi đã hút hết hai điếu thuốc trước khi anh cử động.

"Chà, chà," cuối cùng anh lên tiếng. "Dĩ nhiên, vẫn có khả năng một kẻ xảo quyệt nào đó đã thay lốp xe đạp để cố tình để lại những dấu vết lạ. Một tên tội phạm đủ khôn ngoan để nghĩ ra ý tưởng như vậy - thật đáng để tôi tự hào mà đấu trí cùng hắn. Chúng ta hãy tạm gác câu hỏi này lại và quay về với khu đầm lầy của mình, vì vẫn còn khá nhiều chỗ ta chưa khám phá hết."

Chúng tôi tiếp tục cuộc khảo sát có hệ thống dọc theo rìa vùng đất sình lầy của cánh đồng hoang, và chẳng bao lâu sau, sự kiên trì đã được đền đáp một cách vẻ vang. Ngay băng qua phần thấp nhất của vũng lầy là một lối đi lầy lội. Holmes thốt lên một tiếng đầy thích thú khi anh đến gần. Chạy dọc theo chính giữa lối đi là một dấu vết trông tựa như một bó dây điện báo mảnh. Đó chính là lốp Palmer.

"Ngài Heidegger đây rồi!" Holmes reo lên, hân hoan. "Suy luận của tôi có vẻ khá chính xác đấy, Watson ạ."

"Tôi xin chúc mừng anh."

"Nhưng chúng ta còn cả một chặng đường dài phía trước. Anh vui lòng tránh ra khỏi lối đi. Giờ thì hãy lần theo dấu vết. Tôi e rằng nó sẽ chẳng dẫn ta đi xa được bao lâu."

Tuy nhiên, khi tiến lên, chúng tôi phát hiện ra rằng phần này của cánh đồng hoang bị cắt ngang bởi những mảng đất mềm, và dù thường xuyên mất dấu, chúng tôi vẫn luôn tìm lại được nó.

"Anh có để ý thấy không," Holmes lên tiếng, "rằng lúc này người đi xe đạp chắc chắn đang tăng tốc? Không còn gì để nghi ngờ. Hãy nhìn dấu vết này mà xem, chỗ anh có thể thấy rõ cả hai bánh. Bánh này in sâu ngang bánh kia. Điều đó chỉ có thể mang một ý nghĩa duy nhất: người đi xe đang dồn toàn bộ trọng lượng lên ghi-đông, như ta vẫn thường làm khi chạy nước rút. Trời ơi! Ông ta đã ngã!"

Có một vệt bẩn rộng, loang lổ che phủ suốt mấy thước đường mòn. Rồi đến vài dấu chân, và dấu lốp xe lại xuất hiện thêm một lần nữa.

"Trượt bánh," tôi phỏng đoán.

Holmes nhặt lên một cành hoa kim tước bị bẻ gãy nát. Trước nỗi kinh hoàng của tôi, tôi nhận ra những bông hoa vàng đều lấm tấm những đốm đỏ thẫm. Trên lối đi và giữa đám thạch nam, cũng vương lại những vệt đen của máu đã khô.

"Không ổn rồi!" Holmes buột miệng. "Không ổn rồi! Tránh ra, Watson! Đừng có thêm một bước chân thừa nào! Tôi đọc được những gì ở đây? Ông ta ngã và bị thương - ông ta đứng dậy - ông ta leo lên xe lần nữa - ông ta tiếp tục đi. Nhưng không hề có dấu vết nào khác. Gia súc đi ở lối bên này. Liệu có phải ông ta bị bò húc không? Không thể nào! Nhưng tôi chẳng thấy dấu vết của bất kỳ ai khác. Chúng ta phải tiếp tục thôi, Watson. Chắc chắn rồi, với những vết máu cũng như dấu lốp dẫn đường thế này, ông ta không thể thoát khỏi chúng ta lúc này."

Cuộc truy tìm không kéo dài lâu. Những dấu lốp xe bắt đầu ngoằn ngoèo một cách kỳ quái trên lối đi còn ướt và lấp lánh sương. Đột nhiên, khi tôi đưa mắt nhìn về phía trước, một tia kim loại lóe lên đập vào mắt tôi giữa những bụi kim tước rậm rạp. Chúng tôi lôi ra từ đó một chiếc xe đạp - lốp Palmer, một bàn đạp bị cong vẹo, và toàn bộ phần trước của nó bê bết máu một cách khủng khiếp. Ở phía bên kia bụi cây, một chiếc giày đang thò ra. Chúng tôi chạy vòng qua, và tại đó, nằm sóng soài là người đi xe đạp bất hạnh. Ông ta là một người đàn ông cao lớn, râu rậm, đeo kính - một bên mắt kính đã văng ra ngoài. Nguyên nhân cái chết của ông ta là một cú đánh khủng khiếp giáng thẳng vào đầu, làm vỡ toác một phần hộp sọ. Việc ông ta có thể tiếp tục đi sau khi chịu một vết thương như vậy đã nói lên rất nhiều về sức sống mãnh liệt và lòng can đảm phi thường của con người này. Ông ta đi giày, nhưng không mang tất, và chiếc áo khoác mở toang để lộ bộ áo ngủ bên trong. Không còn chút nghi ngờ nào nữa, đây chính là ông thầy người Đức.

Holmes cung kính lật thi thể lại và kiểm tra nó với sự chú tâm cao độ. Rồi anh ngồi trầm ngâm suy tư một hồi lâu, và qua vầng trán nhăn nhó của anh, tôi có thể thấy rằng khám phá ghê rợn này, dưới góc nhìn của anh, chẳng giúp chúng tôi tiến thêm được bao nhiêu trong cuộc điều tra.

"Thật khó mà biết phải làm gì lúc này, Watson ạ," cuối cùng anh cất tiếng. "Thiên hướng của riêng tôi là tiếp tục cuộc điều tra, vì chúng ta đã mất quá nhiều thời gian đến mức không thể lãng phí thêm một giờ nào nữa. Nhưng mặt khác, chúng ta buộc phải báo cho cảnh sát về phát hiện này, và lo sao cho thi thể của con người tội nghiệp kia được chăm sóc tử tế."

"Tôi có thể mang một mảnh giấy về."

"Nhưng tôi cần sự đồng hành và hỗ trợ của anh. Khoan đã! Có một anh chàng đang cắt than bùn ở đằng kia. Hãy dẫn anh ta lại đây, anh ta sẽ là người chỉ đường cho cảnh sát."

Tôi dẫn người nông dân băng qua, và Holmes phái người đàn ông đang run rẩy vì sợ hãi ấy mang một mảnh giấy đến cho bác sĩ Huxtable.

"Giờ thì, Watson này," anh nói, "sáng nay chúng ta đã thu thập được hai manh mối. Một là chiếc xe đạp với lốp Palmer, và ta đã thấy nó dẫn đến điều gì. Cái còn lại là chiếc xe đạp với lốp Dunlop đã được vá. Trước khi ta bắt tay vào điều tra cái đó, hãy thử nhìn nhận lại xem chúng ta thực sự biết được những gì, để tận dụng nó đến mức tối đa, và để tách biệt cái cốt lõi ra khỏi cái ngẫu nhiên."

"Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh với anh một điều: cậu bé chắc chắn đã rời đi một cách tự nguyện. Cậu đã trèo xuống từ cửa sổ và bỏ đi, hoặc là một mình, hoặc là cùng với ai đó. Điều này là chắc chắn."

Tôi đồng tình.

"Tốt, giờ chúng ta hãy chuyển sang ông thầy người Đức bất hạnh này. Cậu bé đã mặc quần áo đầy đủ khi bỏ trốn. Vì vậy, cậu đã lường trước được việc mình sắp làm. Nhưng ông người Đức lại ra đi mà không kịp mang tất. Ông ta chắc chắn đã hành động trong tình thế vô cùng gấp gáp."

"Không còn nghi ngờ gì."

"Tại sao ông ta lại ra đi? Bởi vì, từ cửa sổ phòng ngủ của mình, ông ta đã trông thấy cuộc bỏ trốn của cậu bé, và ông ta muốn đuổi kịp cậu để đưa cậu trở về. Ông ta chộp lấy xe đạp, đuổi theo cậu bé, và trong lúc truy đuổi, ông ta đã gặp cái chết."

"Xem ra là như vậy."

"Giờ tôi xin đi đến phần then chốt trong lập luận của mình. Hành động tự nhiên của một người đàn ông khi đuổi theo một cậu bé là chạy bộ theo cậu. Ông ta hẳn phải biết rằng mình có thể đuổi kịp cậu. Nhưng ông người Đức đã không làm như vậy. Ông ta đã phải dùng đến xe đạp. Tôi được biết ông ta là một tay đua xe đạp cừ khôi. Ông ta ắt sẽ không làm thế, nếu ông ta không nhận thấy rằng cậu bé có một phương tiện chạy trốn nhanh chóng nào đó."

"Chiếc xe đạp kia."

"Hãy tiếp tục tái hiện của chúng ta. Ông ta gặp cái chết cách trường những năm dặm - không phải bởi một viên đạn, anh lưu ý nhé, thứ mà ngay cả một cậu bé cũng có thể hình dung là bắn được, mà bởi một cú đánh tàn bạo giáng xuống từ một cánh tay đầy sức mạnh. Vậy thì, cậu bé một kẻ đồng hành trong cuộc bỏ trốn của mình. Và đó là một cuộc chạy trốn với tốc độ rất nhanh, vì phải mất đến năm dặm thì một tay đua xe đạp lão luyện mới đuổi kịp họ. Ấy thế mà chúng ta khảo sát mặt đất quanh hiện trường thảm kịch. Ta tìm thấy gì? Vài ba dấu chân gia súc, không hơn. Tôi đã quét một vòng rất rộng xung quanh, và không hề có lấy một lối đi nào trong vòng năm mươi thước. Một người đi xe đạp khác không thể dính dáng gì đến vụ giết người thực sự, và cũng chẳng có bất kỳ dấu chân người nào."

"Holmes," tôi kêu lên, "điều này thật vô lý!"

"Tuyệt vời!" anh đáp. "Một nhận xét hết sức sáng suốt. Nó đúng là vô lý như cách tôi vừa trình bày, và chính vì thế, tôi hẳn đã trình bày sai ở điểm nào đó. Ấy vậy mà anh đã tận mắt chứng kiến tất cả. Anh có thể gợi ý điểm sai nằm ở đâu không?"

"Ông ta không thể bị vỡ sọ trong một cú ngã hay sao?"

"Trong một vùng đầm lầy ư, Watson?"

"Tôi chịu thua rồi."

"Chà, chà, chúng ta đã từng giải quyết những vấn đề còn tệ hơn thế này nhiều. Ít nhất thì chúng ta cũng đang có dư dả tư liệu, chỉ cần biết cách sử dụng nó mà thôi. Nào, giờ thì, sau khi đã vắt kiệt cái lốp Palmer, hãy xem cái lốp Dunlop có miếng vá kia sẽ mang lại cho chúng ta điều gì."

Chúng tôi tìm lại dấu vết ấy và lần theo nó về phía trước thêm một quãng, nhưng chẳng mấy chốc, cánh đồng hoang nhô lên thành một đường cong dài phủ kín thạch nam, và chúng tôi đã bỏ lại dòng nước ở phía sau. Chẳng còn hy vọng gì có thêm được sự trợ giúp nào từ dấu vết nữa. Tại điểm chúng tôi nhìn thấy dấu lốp Dunlop lần cuối cùng, nó cũng có thể dẫn đến Holdernesse Hall - những tòa tháp uy nghi của dinh thự ấy đang nhô lên cách chúng tôi vài dặm về phía bên trái - hoặc dẫn đến một ngôi làng xám xịt, thấp lè tè nằm ngay trước mặt và đánh dấu vị trí của con đường lớn Chesterfield.

Khi chúng tôi đến gần quán trọ tồi tàn, xấu xí với tấm biển hình con gà chọi treo phía trên cửa, Holmes đột nhiên rên lên một tiếng rồi bấu chặt lấy vai tôi để khỏi ngã xuống. Anh vừa bị một cơn co cơ mắt cá chân dữ dội - thứ cơn đau khiến người ta hoàn toàn bất lực. Nhích từng bước khó nhọc, anh khập khiễng tiến đến trước cửa, nơi một gã đàn ông lùn, da ngăm đen, lớn tuổi đang ngồi hút điếu tẩu đất sét đen.

"Ông khỏe chứ, ngài Reuben Hayes?" Holmes cất lời.

"Ông là ai, và làm sao ông biết tên tôi rành rọt thế?" gã đàn ông nhà quê đáp trả, đôi mắt xảo quyệt lóe lên đầy ngờ vực.

"À, tên ông in ngay trên tấm biển trên đầu ông đấy thôi. Nhận ra chủ nhà thì có gì khó đâu. Tôi đoán là ông chẳng có thứ gì như một cỗ xe trong chuồng ngựa của mình nhỉ?"

"Không, tôi không có."

"Tôi gần như chẳng thể đặt bàn chân xuống đất nổi."

"Thì đừng đặt nó xuống đất."

"Nhưng tôi không thể đi bộ được."

"Chà, thế thì nhảy lò cò vậy."

Thái độ của ngài Reuben Hayes chẳng dễ chịu chút nào, nhưng Holmes đón nhận nó với một sự vui vẻ đáng khâm phục.

"Nghe này, anh bạn," anh nói, "tôi đang ở trong một tình thế thật khó xử. Tôi chẳng bận tâm mình di chuyển bằng cách nào đâu."

"Tôi cũng thế," ông chủ quán cộc cằn đáp.

"Vấn đề này rất quan trọng. Tôi sẵn sàng trả anh một đồng sovereign để mượn một chiếc xe đạp."

Ông chủ quán vểnh tai lên.

"Ông muốn đi đâu?"

"Đến Holdernesse Hall."

"Bạn bè của Công tước, tôi đoán thế?" ông chủ quán nói, đôi mắt mỉa mai quét qua bộ quần áo lấm lem bùn đất của chúng tôi.

Holmes cười vui vẻ.

"Dù sao thì ngài ấy cũng sẽ mừng được gặp chúng tôi."

"Tại sao?"

"Bởi vì chúng tôi mang tin về đứa con trai thất lạc của ngài ấy."

Ông chủ quán giật mình trông thấy.

"Cái gì? Các ông đang lần theo dấu vết của cậu ta à?"

"Người ta đã có tin về cậu ở Liverpool. Họ hy vọng sẽ tìm thấy cậu bất cứ lúc nào."

Lại một lần nữa, một sự thay đổi nhanh chóng lướt qua khuôn mặt nặng nề, không cạo râu ấy. Thái độ của ông ta bỗng trở nên niềm nở hẳn.

"Tôi có ít lý do để chúc Công tước may mắn hơn hầu hết mọi người," ông ta nói. "Tôi từng là xà ích trưởng một thời, vậy mà ông ta đã đối xử với tôi thật tàn tệ. Chính ông ta đã sa thải tôi mà không cấp giấy chứng nhận hạnh kiểm, chỉ dựa vào lời của một tên lái buôn ngũ cốc dối trá. Nhưng tôi mừng khi nghe cậu ấm đã có tin tức ở Liverpool, và tôi sẽ giúp các ông mang tin đến Dinh thự."

"Cảm ơn," Holmes nói. "Chúng tôi sẽ ăn chút gì đã. Rồi anh có thể mang xe đạp ra."

"Tôi không có xe đạp."

Holmes giơ lên một đồng sovereign.

"Tôi đã nói với ông rồi, tôi không có chiếc nào cả. Tôi sẽ cho các ông mượn hai con ngựa để đến Dinh thự."

"Thôi được, thôi được," Holmes nói. "Chúng ta sẽ bàn tiếp khi chúng tôi đã ăn chút gì đó."

Khi chỉ còn lại hai chúng tôi trong căn bếp lát đá, thật đáng kinh ngạc làm sao khi cái mắt cá chân bị bong gân ấy lại bình phục nhanh đến thế. Trời đã gần tối, và chúng tôi chưa ăn gì từ sáng sớm, nên chúng tôi dành một ít thời gian cho bữa ăn. Holmes chìm trong suy tư, thỉnh thoảng anh lại bước đến cửa sổ và chăm chú nhìn ra ngoài. Cửa sổ mở ra một cái sân tồi tàn. Ở góc xa là một lò rèn, nơi một cậu bé lem luốc đang làm việc. Phía bên kia là những chuồng ngựa. Holmes vừa ngồi xuống trở lại sau một trong những lần đi đi lại lại ấy thì đột nhiên bật dậy khỏi ghế với một tiếng kêu lớn.

"Lạy trời, Watson, tôi tin rằng mình đã hiểu ra rồi!" anh kêu lên. "Phải, phải, hẳn là như thế. Watson, anh có nhớ đã nhìn thấy dấu chân bò nào hôm nay không?"

"Có, vài dấu."

"Ở đâu?"

"À, ở khắp nơi. Ở khu đầm lầy, rồi trên lối đi, rồi lại ở gần nơi ông Heidegger tội nghiệp gặp cái chết."

"Chính xác. Tốt lắm. Giờ thì, Watson, anh đã nhìn thấy bao nhiêu con bò trên cánh đồng hoang?"

"Tôi không nhớ đã thấy con nào cả."

"Lạ thật đấy, Watson. Chúng ta thấy dấu chân bò suốt dọc đường đi, nhưng chưa từng thấy một con bò nào trên toàn cánh đồng hoang. Rất lạ, phải không?"

"Phải, lạ thật."

"Giờ thì, Watson, hãy cố gắng lục lại trí nhớ của anh. Anh có thể thấy những dấu chân đó trên lối đi không?"

"Có, tôi có thể."

"Anh có nhớ rằng những dấu chân đó đôi khi như thế này không, Watson?" - anh sắp xếp một vài mẩu bánh mì theo kiểu: : : : : : - "và đôi khi như thế này" - : . : . : . : . - "và thỉnh thoảng như thế này" - .・.・.・. "Anh có nhớ không?"

"Không, tôi không nhớ."

"Nhưng tôi thì nhớ. Tôi có thể thề về điều đó. Tuy nhiên, chúng ta sẽ quay lại đó vào lúc rảnh rỗi mà kiểm chứng. Tôi quả là một con bọ mù quáng mới không rút ra được kết luận."

"Và kết luận của anh là gì?"

"Chỉ là đó quả là một con bò đáng chú ý khi biết đi thong thả, chạy nước kiệu, và phi nước đại. Lạy Chúa! Watson, không phải bộ óc của một gã chủ quán nhà quê nào đã nghĩ ra được cái mưu đánh lạc hướng như thế đâu. Bờ biển có vẻ đã an toàn2, ngoại trừ cái cậu bé trong lò rèn kia. Chúng ta hãy lẻn ra ngoài và xem có thể thấy gì."

Có hai con ngựa lông xù, không được chải chuốt trong cái chuồng xiêu vẹo. Holmes nhấc chân sau của một con lên và cười to.

"Móng ngựa cũ, nhưng mới được đóng - móng ngựa cũ, nhưng đinh mới. Vụ này xứng đáng trở thành kinh điển. Chúng ta hãy băng qua lò rèn."

Cậu bé vẫn tiếp tục công việc, không để ý đến chúng tôi. Tôi thấy mắt Holmes lia sang trái sang phải giữa đống sắt vụn và gỗ vương vãi trên sàn. Thế rồi, đột nhiên, chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân phía sau - và đó là ông chủ quán. Đôi lông mày rậm của ông ta kéo xệ xuống trên đôi mắt hung dữ, những đường nét ngăm đen co giật vì giận dữ. Ông ta tay cầm một cây gậy ngắn đầu bịt kim loại, tiến tới với vẻ đe dọa đến mức tôi thực sự mừng vì cảm thấy khẩu súng lục trong túi mình.

"Lũ gián điệp khốn kiếp!" gã đàn ông gào lên. "Các người đang làm gì ở đó?"

"Gì thế, ngài Reuben Hayes," Holmes nói, hoàn toàn điềm tĩnh, "người ta có thể tưởng rằng ông sợ chúng tôi khám phá ra điều gì đó."

Gã đàn ông cố kiềm chế bản thân bằng một nỗ lực dữ dội, và cái miệng nham hiểm của gã giãn ra thành một nụ cười giả tạo, còn đáng sợ hơn cả cái cau mày ban nãy.

"Các ông được chào đón với tất cả những gì có thể tìm ra trong lò rèn của tôi," gã nói. "Nhưng nghe đây, thưa ông, tôi không thích người ta lục lọi chỗ của mình mà không xin phép, vì vậy các ông càng thanh toán tiền và ra khỏi đây sớm bao nhiêu thì tôi càng hài lòng bấy nhiêu."

"Được thôi, ngài Hayes, không có ý gì xấu đâu," Holmes nói. "Chúng tôi chỉ xem qua mấy con ngựa của ông thôi, nhưng tôi nghĩ tôi sẽ đi bộ, sau cùng thì. Đường không xa lắm, tôi tin thế."

"Không quá hai dặm đến cổng Dinh thự. Đi con đường bên trái ấy." Ông ta nhìn chúng tôi bằng đôi mắt hằn học cho đến khi chúng tôi rời khỏi khu đất của ông ta.

Chúng tôi không đi xa được bao lâu trên con đường, vì Holmes dừng lại ngay khi khúc quanh che khuất chúng tôi khỏi tầm mắt của ông chủ quán.

"Chúng ta đã 'nóng lên'3 rồi, như bọn trẻ con thường nói, ở cái quán trọ đó," anh nói. "Tôi dường như càng thấy lạnh hơn sau mỗi bước chân rời xa nó. Không, không, tôi không thể nào rời nó được."

"Tôi tin chắc," tôi nói, "rằng gã Reuben Hayes này biết tất cả về vụ đó. Tôi chưa từng thấy một tên phản diện nào lộ liễu hơn."

"Ồ! Anh ta gây ấn tượng với anh như vậy đấy à? Có những con ngựa kia, có cái lò rèn kia. Phải, đó là một nơi thú vị, cái quán Fighting Cock này. Tôi nghĩ chúng ta sẽ có một cái nhìn khác về nó, theo một cách kín đáo hơn."

Một sườn đồi dài, thoai thoải, lốm đốm những tảng đá vôi xám, trải dài phía sau chúng tôi. Chúng tôi vừa rẽ khỏi con đường và đang tìm cách leo lên đồi, thì khi nhìn về hướng Holdernesse Hall, tôi thấy một người đi xe đạp đang phóng đến rất nhanh.

"Nằm xuống, Watson!" Holmes kêu lên, bàn tay nặng nề đè lên vai tôi. Chúng tôi vừa khuất khỏi tầm nhìn thì người đàn ông ấy đã vụt qua trên con đường. Giữa đám mây bụi cuộn lên, tôi thoáng thấy một khuôn mặt tái nhợt, đầy kích động - một khuôn mặt in hằn nỗi kinh hoàng trên từng đường nét, cái miệng há hốc, đôi mắt mở to nhìn trừng trừng về phía trước. Trông nó như một bức biếm họa kỳ quái của anh chàng James Wilder bảnh bao mà chúng tôi đã gặp đêm hôm trước.

"Thư ký của Công tước!" Holmes kêu lên. "Nào, Watson, hãy xem anh ta định làm gì."

Chúng tôi trèo từ tảng đá này sang tảng đá khác, cho đến khi trong giây lát đã đến được một vị trí có thể nhìn thấy cửa trước của quán trọ. Xe đạp của Wilder dựng dựa vào tường bên cạnh. Không một bóng người di chuyển quanh ngôi nhà, chúng tôi cũng chẳng thoáng thấy bất kỳ khuôn mặt nào qua các ô cửa sổ. Hoàng hôn từ từ buông xuống khi mặt trời lặn sau những tòa tháp cao của Holdernesse Hall. Rồi, trong bóng tối mờ mờ, chúng tôi thấy hai ngọn đèn bên của một cỗ xe ngựa hai bánh sáng lên trong sân chuồng ngựa của quán trọ, và ngay sau đó nghe thấy tiếng lộp cộp của vó ngựa khi cỗ xe lăn bánh ra đường rồi lao đi với tốc độ điên cuồng về hướng Chesterfield.

"Anh nghĩ sao về việc đó, Watson?" Holmes thì thầm.

"Có vẻ như là một cuộc bỏ trốn."

"Một người đàn ông đơn độc trên một cỗ xe chó, theo như tôi có thể thấy. Chà, đó chắc chắn không phải là ngài James Wilder, vì anh ta kia rồi, ở ngay cửa kia."

Một ô vuông ánh sáng đỏ đã bật ra khỏi bóng tối. Giữa ô sáng ấy là hình dáng đen của người thư ký, đầu anh ta cúi về phía trước, nhìn ra màn đêm. Rõ ràng anh ta đang đợi ai đó. Rồi cuối cùng, tiếng bước chân vang lên trên đường, một hình dáng thứ hai thoáng hiện trong giây lát trên nền ánh sáng, cánh cửa đóng lại, và tất cả lại chìm trong bóng tối. Năm phút sau, một ngọn đèn được thắp lên trong căn phòng ở tầng một.

"Có vẻ như đây là một kiểu phục vụ khá kỳ lạ của quán Fighting Cock," Holmes nhận xét.

"Quầy rượu ở phía bên kia cơ mà."

"Đúng thế. Đây là những người mà ta có thể gọi là khách riêng. Giờ thì, ngài James Wilder đang làm cái quái gì trong cái hang ổ ấy vào giờ này của đêm tối, và người đồng hành nào đã đến gặp anh ta ở đó? Nào, Watson, chúng ta thực sự phải liều một phen mà điều tra việc này kỹ hơn một chút."

Cùng nhau, chúng tôi lén xuống con đường và rón rén băng qua đến cửa quán trọ. Chiếc xe đạp vẫn dựa vào tường. Holmes đánh một que diêm rồi giơ lên bánh sau, và tôi nghe thấy anh khúc khích cười khi ánh sáng chiếu vào một chiếc lốp Dunlop đã được vá. Phía trên chúng tôi là cửa sổ đang sáng đèn.

"Tôi phải nhìn trộm qua đó một chút, Watson. Nếu anh cúi lưng xuống và tựa vào tường, tôi nghĩ tôi có thể làm được."

Một thoáng sau, chân anh đã đặt lên vai tôi, nhưng anh chưa kịp đứng vững thì đã tụt xuống trở lại.

"Thôi nào, bạn của tôi," anh nói, "công việc trong ngày của chúng ta đã đủ dài rồi. Tôi nghĩ chúng ta đã thu thập được tất cả những gì có thể. Đường về trường còn dài, và chúng ta càng khởi hành sớm càng tốt."

Anh hầu như không mở miệng suốt quãng đường mệt mỏi băng qua đồng hoang ấy, và anh cũng không vào trường khi đến nơi, mà tiếp tục đi đến ga Mackleton để gửi vài bức điện tín. Mãi tận đêm khuya, tôi mới nghe thấy anh an ủi bác sĩ Huxtable, người đang suy sụp vì thảm kịch cái chết của ông thầy giáo, và còn muộn hơn nữa, anh mới bước vào phòng tôi, vẫn lanh lợi và tràn đầy năng lượng như lúc khởi hành vào buổi sáng. "Mọi việc đều tốt đẹp, bạn của tôi," anh nói. "Tôi hứa rằng trước tối mai chúng ta sẽ đạt được lời giải cho bí ẩn này."

Vào lúc mười một giờ sáng hôm sau, bạn tôi và tôi sánh bước trên đại lộ thủy tùng trứ danh của Holdernesse Hall. Chúng tôi được dẫn qua cánh cổng nguy nga mang phong cách thời Elizabeth, rồi tiến vào thư phòng của Đức ngài. Tại đây, chúng tôi gặp ngài James Wilder - bề ngoài điềm tĩnh và lịch thiệp, nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó dấu vết của nỗi kinh hoàng hoang dại đêm hôm trước ẩn nấp trong đôi mắt lấm lét cùng những đường nét giật giật trên gương mặt anh ta.

“Các vị đến gặp Đức ngài? Tôi rất lấy làm tiếc, nhưng quả thực Công tước đang không được khỏe. Ngài ấy đã vô cùng xúc động trước tin tức thảm khốc này. Chiều hôm qua, chúng tôi nhận được một bức điện từ bác sĩ Huxtable, báo cho chúng tôi biết về khám phá của các vị.”

“Tôi phải gặp Công tước, ngài Wilder.”

“Nhưng ngài ấy đang ở trong phòng riêng.”

“Vậy thì tôi sẽ đến phòng ngài ấy.”

“Tôi tin rằng ngài ấy đang nằm trên giường.”

“Tôi sẽ gặp ngài ấy ở đó.”

Thái độ lạnh lùng và cương quyết của Holmes đủ để cho người thư ký thấy rằng tranh cãi với anh chỉ là phí lời.

“Thôi được, ngài Holmes, tôi sẽ báo với ngài ấy rằng ông đang ở đây.”

Sau một giờ chờ đợi, vị đại quý tộc cuối cùng cũng xuất hiện. Gương mặt ông ta trông còn hốc hác hơn bao giờ hết, đôi vai còng xuống, và với tôi, ông ta dường như đã già đi hẳn so với buổi sáng hôm trước. Ông ta chào chúng tôi bằng một cử chỉ lịch thiệp đầy uy nghi, rồi ngồi xuống bàn làm việc, bộ râu đỏ của ông buông dài xuống tận mặt bàn.

“Vâng, thưa ngài Holmes?” ông ta cất lời.

Nhưng đôi mắt bạn tôi lúc này đang dán chặt vào người thư ký - kẻ đang đứng ngay cạnh ghế của chủ mình.

“Tôi thiết nghĩ, thưa Đức ngài, rằng tôi có thể trò chuyện thoải mái hơn nếu không có mặt ngài Wilder.”

Người đàn ông ấy tái mặt đi đôi chút, và ném về phía Holmes một cái nhìn đầy ác ý.

“Nếu Đức ngài muốn--”

“Phải, phải, anh nên lui ra thì hơn. Giờ thì, ngài Holmes, ông có điều gì muốn nói?”

Bạn tôi đợi cho đến khi cánh cửa đã khép lại sau lưng người thư ký đang rút lui.

“Sự thực là thế này, thưa Đức ngài,” anh nói. “Đồng nghiệp của tôi, bác sĩ Watson, và bản thân tôi đã được bác sĩ Huxtable đảm bảo rằng có một khoản tiền thưởng được treo cho vụ việc này. Tôi muốn được chính miệng ngài xác nhận điều đó.”

“Chắc chắn rồi, ngài Holmes.”

“Số tiền đó, nếu tôi được thông tin chính xác, là năm nghìn bảng cho bất kỳ ai cho ngài biết con trai ngài đang ở đâu?”

“Chính xác.”

“Và một nghìn bảng nữa cho người nêu tên kẻ - hoặc những kẻ - đang giam giữ cậu bé?”

“Chính xác.”

“Ở mục thứ hai này, hẳn nhiên là bao gồm không chỉ những kẻ đã bắt cậu bé đi, mà còn cả những kẻ đang âm mưu giam giữ cậu trong tình trạng hiện tại nữa chứ?”

“Phải, phải,” Công tước kêu lên, đầy sốt ruột. “Nếu ông làm tốt công việc của mình, ngài Sherlock Holmes, ông sẽ chẳng có lý do gì để phàn nàn về sự đối đãi bủn xỉn đâu.”

Bạn tôi xoa xoa đôi bàn tay gầy guộc của mình vào nhau với một vẻ tham lam khiến tôi phải ngạc nhiên - tôi, kẻ vốn đã quá rõ thói quen thanh đạm của anh.

“Tôi có cảm tưởng như mình vừa trông thấy cuốn sổ séc của Đức ngài trên mặt bàn kia,” anh nói. “Tôi sẽ rất lấy làm hân hạnh nếu ngài ký cho tôi một tấm séc trị giá sáu nghìn bảng. Có lẽ cũng nên gạch chéo nó thì tốt hơn. Ngân hàng Capital and Counties, chi nhánh phố Oxford, là đại lý của tôi.”

Đức ngài ngồi thẳng lưng, nghiêm nghị trên ghế, và nhìn bạn tôi bằng một ánh mắt lạnh lùng.

“Đây có phải là một trò đùa không, ngài Holmes? Chủ đề này khó có thể là thứ để đem ra bông đùa.”

“Không hề, thưa Đức ngài. Tôi chưa bao giờ nghiêm túc hơn thế trong đời mình.”

“Vậy ông có ý gì?”

“Ý tôi là tôi đã kiếm được số tiền thưởng ấy rồi. Tôi biết con trai ngài đang ở đâu, và tôi biết một vài - ít nhất là một vài - trong số những kẻ đang giam giữ cậu bé.”

Bộ râu của Công tước bỗng trở nên đỏ một cách hung hãn hơn trên nền khuôn mặt trắng bệch như ma của ông ta.

“Cậu bé ở đâu?” ông ta thở hổn hển.

“Cậu bé đang - hoặc ít nhất là đã ở đó tối hôm qua - tại quán trọ Fighting Cock, cách cổng công viên của ngài chừng hai dặm.”

Công tước ngã người ra ghế tựa.

“Và ông buộc tội ai?”

Câu trả lời của Sherlock Holmes thật đáng kinh ngạc. Anh bước nhanh về phía trước và đặt tay lên vai Công tước.

“Tôi buộc tội ngài,” anh nói. “Và giờ đây, thưa Đức ngài, tôi xin được làm phiền ngài về tấm séc đó.”

Tôi sẽ không bao giờ quên được dáng vẻ của Công tước khi ông ta bật dậy và cào cấu khoảng không bằng đôi bàn tay, tựa như một kẻ đang chìm xuống vực thẳm. Rồi, bằng một nỗ lực tự chủ phi thường của dòng dõi quý tộc, ông ta ngồi trở xuống và vùi mặt vào hai bàn tay. Phải mất đến vài phút sau, ông ta mới cất nổi lời.

“Ông đã biết được bao nhiêu?” cuối cùng ông ta hỏi, không buồn ngẩng đầu lên.

“Tôi đã trông thấy ngài cùng với cậu ta tối qua.”

“Còn ai khác ngoài bạn ông biết nữa không?”

“Tôi chưa nói với ai cả.”

Công tước cầm lấy cây bút bằng những ngón tay run rẩy và mở cuốn sổ séc ra.

“Tôi sẽ giữ đúng lời hứa của mình, ngài Holmes. Tôi sắp viết séc cho ông đây, dẫu cho những thông tin mà ông vừa thu thập được chẳng mấy dễ chịu gì đối với tôi. Khi lời đề nghị này lần đầu được đưa ra, tôi chẳng hề nghĩ đến cái chiều hướng mà sự việc có thể diễn ra. Nhưng ông và bạn ông là những người kín tiếng, ngài Holmes nhỉ?”

“Tôi chưa hiểu hết ý của Đức ngài.”

“Tôi phải nói thẳng ra thôi, ngài Holmes. Nếu chỉ có hai ông biết về chuyện này, thì chẳng có lý do gì để nó phải lan xa hơn nữa. Tôi nghĩ rằng mười hai nghìn bảng mới là số tiền tôi nợ ông, phải không?”

Nhưng Holmes chỉ mỉm cười và lắc đầu.

“Tôi e rằng, thưa Đức ngài, mọi chuyện khó có thể được dàn xếp dễ dàng đến thế. Còn có cái chết của ông thầy giáo kia cần phải được giải trình nữa.”

“Nhưng James không hề hay biết gì về việc đó. Ngài không thể buộc cậu ấy chịu trách nhiệm về chuyện ấy được. Đó là hành vi của cái tên côn đồ tàn bạo mà cậu ấy đã bất hạnh phải thuê mướn.”

“Tôi buộc phải có quan điểm rằng, thưa Đức ngài, khi một người đã lao vào phạm tội, thì về mặt đạo đức, anh ta có tội đối với bất kỳ tội ác nào khác nảy sinh từ tội ác đó.”

“Về mặt đạo đức, ngài Holmes. Không nghi ngờ gì là ông nói đúng. Nhưng chắc chắn không phải trong con mắt của pháp luật. Một người không thể bị kết án về một vụ giết người mà anh ta không có mặt, và đó lại là vụ giết người mà anh ta ghê tởm và căm ghét cũng nhiều như chính ông vậy. Ngay khi nghe tin về việc đó, cậu ấy đã thú nhận tất cả với tôi, tràn đầy nỗi kinh hoàng và hối hận. Cậu ấy đã không chậm trễ dù chỉ một giờ trong việc cắt đứt hoàn toàn với kẻ giết người. Ôi, ngài Holmes, ông phải cứu cậu ấy - ông phải cứu cậu ấy! Tôi nói với ông rằng ông phải cứu cậu ấy!” Công tước đã từ bỏ nỗ lực tự chủ cuối cùng, và đang đi đi lại lại khắp căn phòng với khuôn mặt méo mó cùng đôi bàn tay nắm chặt vung lên trong không trung. Cuối cùng, ông ta cũng kiềm chế được bản thân và ngồi xuống một lần nữa bên bàn làm việc. “Tôi trân trọng cách cư xử của ông khi đến gặp tôi trước khi ông nói với bất kỳ ai khác,” ông ta nói. “Ít nhất thì chúng ta cũng có thể cùng bàn bạc xem làm thế nào để giảm thiểu vụ bê bối khủng khiếp này.”

“Chính xác,” Holmes nói. “Tôi nghĩ, thưa Đức ngài, rằng điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua sự thẳng thắn tuyệt đối giữa đôi bên. Tôi sẵn lòng giúp đỡ Đức ngài trong khả năng tốt nhất của mình, nhưng để làm được điều đó, tôi buộc phải hiểu đến từng chi tiết cuối cùng tình hình hiện ra sao. Tôi hiểu rằng những lời ngài vừa nói là nhắm đến ngài James Wilder, và rằng anh ta không phải là kẻ giết người.”

“Không. Kẻ giết người đã trốn thoát rồi.”

Sherlock Holmes mỉm cười một cách kín đáo.

“Đức ngài hẳn là chưa từng nghe đến chút danh tiếng nhỏ nhoi nào mà tôi có được, nếu không thì ngài đã chẳng tưởng tượng rằng thoát khỏi tôi lại dễ dàng đến thế. Ngài Reuben Hayes đã bị bắt tại Chesterfield, dựa trên thông tin của tôi, vào lúc mười một giờ tối qua. Tôi đã nhận được một bức điện từ người đứng đầu cảnh sát địa phương trước khi tôi rời trường sáng nay rồi.”

Công tước ngả người ra ghế và nhìn bạn tôi với vẻ kinh ngạc tột độ.

“Ông dường như sở hữu những năng lực gần như siêu phàm,” ông ta nói. “Vậy là Reuben Hayes đã bị bắt sao? Tôi rất mừng khi nghe điều đó, miễn là nó không làm ảnh hưởng đến số phận của James.”

“Thư ký của ngài ư?”

“Không, thưa ông. Con trai tôi.”

Đến lượt Holmes tỏ vẻ kinh ngạc.

“Tôi phải thú nhận rằng điều này hoàn toàn mới mẻ đối với tôi, thưa Đức ngài. Tôi buộc phải xin ngài nói rõ hơn nữa.”

“Tôi sẽ không giấu giếm ông điều gì. Tôi đồng ý với ông rằng sự thẳng thắn hoàn toàn - dù nó có thể gây đau đớn cho tôi đến mức nào - là chính sách tốt nhất trong tình huống tuyệt vọng mà sự điên rồ và lòng ghen tị của James đã đẩy chúng tôi vào. Hồi tôi còn là một thanh niên rất trẻ, ngài Holmes ạ, tôi đã yêu bằng một thứ tình yêu chỉ đến có một lần trong đời. Tôi đã ngỏ lời cầu hôn với người phụ nữ ấy, nhưng bà đã từ chối với lý do rằng một cuộc hôn nhân như vậy có thể hủy hoại sự nghiệp của tôi. Nếu bà ấy còn sống, tôi chắc chắn sẽ chẳng bao giờ cưới bất kỳ ai khác. Bà ấy đã qua đời và để lại đứa con duy nhất này - đứa trẻ mà vì bà ấy, tôi đã nâng niu và chăm sóc. Tôi không thể công khai thừa nhận mối quan hệ cha con với thế giới bên ngoài, nhưng tôi đã cho cậu ấy nền giáo dục tốt nhất, và từ khi cậu ấy trưởng thành, tôi đã luôn giữ cậu ấy ở gần bên mình. Cậu ấy đã đoán ra bí mật của tôi, và từ đó luôn lợi dụng cái quyền mà cậu ấy có đối với tôi, cũng như khả năng gây ra một vụ bê bối - thứ mà tôi vô cùng ghê sợ - của cậu ấy. Sự hiện diện của cậu ấy có liên quan ít nhiều đến kết cục bất hạnh của cuộc hôn nhân tôi. Nhưng trên hết, cậu ấy đã căm ghét đứa con thừa kế hợp pháp nhỏ tuổi của tôi ngay từ đầu, bằng một lòng thù hận dai dẳng khôn nguôi. Ông có thể hỏi tôi rằng, trong hoàn cảnh đó, tại sao tôi vẫn giữ James dưới mái nhà của mình. Tôi xin trả lời rằng đó là vì tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt của mẹ cậu trong khuôn mặt cậu, và rằng, vì tình yêu dành cho người mẹ yêu dấu ấy, lòng bao dung của tôi là vô hạn. Cả những nét duyên dáng của bà ấy nữa - chẳng có nét nào mà cậu ấy không thể gợi lên và mang trở về trong ký ức tôi. Tôi không thể đuổi cậu ấy đi được. Nhưng tôi đã lo sợ đến mức cậu ấy sẽ làm hại Arthur - tức là Ngài Saltire - đến nỗi tôi đã gửi thằng bé đến trường của bác sĩ Huxtable để được an toàn.

“James đã tiếp xúc với cái gã Hayes này, bởi vì gã là một tá điền của tôi và James làm nhiệm vụ đại diện cho tôi. Gã vốn là một tên vô lại ngay từ đầu, nhưng bằng một cách thức phi thường nào đó, James đã trở nên thân thiết với gã. Cậu ta luôn có cái sở thích giao du với đám hạ lưu. Khi James quyết định bắt cóc Ngài Saltire, thì chính sự phục vụ của gã này là thứ mà cậu ta đã sử dụng. Ông hẳn còn nhớ rằng tôi đã viết thư cho Arthur vào cái ngày cuối cùng ấy. Thì đấy, James đã mở lá thư ra và nhét vào đó một mảnh giấy nhắn, bảo Arthur gặp cậu ta trong một khu rừng nhỏ tên là Ragged Shaw, gần trường học. Cậu ta đã dùng tên của Nữ Công tước, và bằng cách đó đã dụ được cậu bé đến điểm hẹn. Tối hôm ấy, James đạp xe tới - tôi đang kể cho ông nghe những gì chính cậu ta đã thú nhận với tôi - và cậu ta nói với Arthur, người mà cậu ta gặp trong rừng, rằng mẹ cậu đang mong mỏi được gặp cậu, rằng bà ấy đang đợi cậu ở trên đồng hoang, và rằng nếu cậu quay lại khu rừng vào lúc nửa đêm, cậu sẽ thấy một người đàn ông cùng một con ngựa, người sẽ đưa cậu đến chỗ bà. Arthur tội nghiệp đã sập bẫy. Cậu bé đã đến điểm hẹn và gặp cái gã Hayes này với một con ngựa nhỏ được dắt sẵn. Arthur trèo lên ngựa, và họ cùng nhau khởi hành. Có vẻ như - điều này thì James chỉ mới được biết hôm qua thôi - rằng họ đã bị truy đuổi, rằng Hayes đã đánh kẻ truy đuổi bằng cây gậy của gã, và rằng người đàn ông ấy đã chết vì vết thương. Hayes đưa Arthur đến quán rượu của gã, quán Fighting Cock, nơi cậu bị giam trong một căn phòng trên gác dưới sự chăm sóc của bà Hayes - một người phụ nữ tốt bụng nhưng hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của gã chồng tàn bạo.

“Vậy đấy, ngài Holmes, đó chính là tình trạng của sự việc khi tôi gặp ông lần đầu cách đây hai ngày. Tôi cũng chẳng biết gì hơn ông về sự thực cả. Ông sẽ hỏi tôi động cơ của James khi làm một việc như vậy là gì. Tôi xin trả lời rằng có vô vàn điều phi lý và cuồng tín trong lòng thù hận mà cậu ta dành cho người thừa kế của tôi. Trong quan niệm của cậu ta, chính cậu ta đáng lẽ ra phải là người thừa kế tất cả các điền trang của tôi, và cậu ta hết sức oán hận những luật lệ của xã hội khiến cho điều đó trở thành bất khả thi. Đồng thời, cậu ta cũng có một động cơ rất rõ ràng. Cậu ta vô cùng mong muốn tôi hủy bỏ chế độ thừa kế theo dòng trưởng4, và cậu ta tin rằng tôi có quyền làm điều đó. Cậu ta định mặc cả với tôi - trả lại Arthur nếu tôi chịu hủy bỏ chế độ thừa kế, và như vậy sẽ khiến cho điền trang có thể được để lại cho cậu ta bằng di chúc. Cậu ta biết quá rõ rằng tôi sẽ không bao giờ tự nguyện cầu viện đến sự trợ giúp của cảnh sát để chống lại cậu ta. Tôi nói rằng cậu ta đã định đề xuất một cuộc mặc cả như vậy với tôi, nhưng thực tế thì cậu ta đã không làm thế, bởi vì các sự kiện diễn ra quá nhanh đối với cậu ta, và cậu ta không có thời gian để thực thi kế hoạch của mình.

“Điều đã phá hỏng toàn bộ âm mưu xấu xa của cậu ta chính là khám phá của ông về thi thể của gã Heidegger này. James đã bị nỗi kinh hoàng bóp nghẹt khi nghe tin ấy. Tin này đến với chúng tôi ngày hôm qua, khi chúng tôi đang ngồi cùng nhau trong chính căn thư phòng này. Bác sĩ Huxtable đã gửi một bức điện báo tin. James bị choáng ngợp bởi đau buồn và kích động đến mức mà những mối nghi ngờ của tôi - vốn chưa bao giờ hoàn toàn vắng mặt - ngay lập tức chuyển thành sự chắc chắn, và tôi đã chất vấn cậu ta về hành vi ấy. Cậu ta đã hoàn toàn tự nguyện thú nhận tất cả. Rồi cậu ta cầu xin tôi giữ bí mật của cậu ta thêm ba ngày nữa, để cho cái tên đồng lõa khốn khổ kia một cơ hội cứu lấy cái mạng tội lỗi của mình. Tôi đã nhượng bộ - như tôi luôn luôn nhượng bộ - trước những lời van xin của cậu ta, và ngay tức khắc James đã vội vã đến quán Fighting Cock để báo cho Hayes và cung cấp cho gã phương tiện đào tẩu. Tôi không thể đến đó vào ban ngày mà không gây ra lời bàn tán, nhưng ngay khi màn đêm buông xuống, tôi đã vội vã đi gặp Arthur yêu quý của mình. Tôi thấy thằng bé vẫn an toàn và khỏe mạnh, nhưng bị kinh hoàng đến mức không sao tả xiết trước hành vi khủng khiếp mà nó đã phải chứng kiến. Để giữ lời hứa của mình, và hết sức trái với ý muốn, tôi đã đồng ý để thằng bé ở lại đó ba ngày dưới sự chăm nom của bà Hayes, bởi vì rõ ràng là không thể báo cho cảnh sát biết thằng bé đang ở đâu mà không đồng thời cho họ biết kẻ giết người là ai, và tôi không thấy làm sao mà kẻ giết người ấy có thể bị trừng phạt mà không hủy hoại James bất hạnh của tôi. Ông đã yêu cầu sự thẳng thắn, ngài Holmes, và tôi đã đặt niềm tin vào lời ông, bởi tôi giờ đây đã kể cho ông nghe tất cả mọi điều, không hề có một chút vòng vo hay che giấu nào. Đến lượt ông, hãy thẳng thắn với tôi như vậy.”

“Tôi sẽ làm thế,” Holmes nói. “Trước hết, thưa Đức ngài, tôi buộc phải nói với ngài rằng ngài đã tự đặt mình vào một vị thế hết sức nghiêm trọng trước pháp luật. Ngài đã dung túng cho một trọng tội, và ngài đã tiếp tay cho sự tẩu thoát của một kẻ giết người - bởi tôi không thể nghi ngờ rằng bất kỳ khoản tiền nào được James Wilder mang theo để giúp kẻ đồng lõa chạy trốn đều đến từ túi tiền của Đức ngài.”

Công tước cúi đầu thừa nhận.

“Đây quả thực là một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Nhưng còn đáng trách hơn nữa, theo ý kiến của tôi, thưa Đức ngài, là thái độ của ngài đối với đứa con trai nhỏ của mình. Ngài đã bỏ mặc cậu bé trong cái hang ổ ấy suốt ba ngày trời.”

“Dựa trên những lời hứa trang nghiêm--”

“Những lời hứa thì có ý nghĩa gì với hạng người như thế này? Ngài chẳng có gì bảo đảm rằng cậu bé sẽ không bị bắt cóc thêm một lần nữa. Để chiều lòng đứa con trai lớn tội lỗi của mình, ngài đã đặt đứa con trai nhỏ vô tội của mình vào một mối nguy hiểm cận kề và hoàn toàn không cần thiết. Đó là một hành động tuyệt đối không thể biện minh nổi.”

Vị lãnh chúa kiêu hãnh của Holdernesse không quen bị quở trách như vậy ngay trong chính đại sảnh công tước của mình. Máu dồn lên vầng trán cao của ông ta, nhưng chính lương tâm đã khiến ông ta phải câm lặng.

“Tôi sẽ giúp ngài, nhưng chỉ với một điều kiện. Đó là ngài hãy rung chuông gọi người hầu và để tôi ra những mệnh lệnh mà tôi muốn.”

Không nói một lời, Công tước nhấn chuông điện. Một người hầu bước vào.

“Anh sẽ vui mừng khi biết,” Holmes nói, “rằng cậu chủ trẻ của anh đã được tìm thấy. Đức ngài mong muốn cỗ xe ngựa sẽ lập tức đến ngay quán Fighting Cock để đón Ngài Saltire về nhà.”

“Giờ thì,” Holmes nói, khi người đầy tớ vui mừng đã khuất bóng, “sau khi đã bảo đảm cho tương lai, chúng ta có thể khoan dung hơn với quá khứ. Tôi không ở trong một vị trí chính thức, và chẳng có lý do gì - miễn là công lý được thực thi - để tôi phải tiết lộ tất cả những gì mình biết. Về phần Hayes, tôi không nói gì cả. Giá treo cổ đang chờ đợi gã, và tôi sẽ không làm gì để cứu gã khỏi nó. Gã sẽ khai ra những gì, tôi không thể nói trước được, nhưng tôi không nghi ngờ rằng Đức ngài có thể khiến gã hiểu rằng im lặng thì có lợi cho gã hơn. Dưới con mắt của cảnh sát, gã sẽ là kẻ đã bắt cóc cậu bé để đòi tiền chuộc. Nếu chính họ không tự tìm ra được điều đó, thì tôi cũng chẳng thấy lý do gì để tôi phải gợi ý cho họ một cái nhìn rộng hơn. Tuy nhiên, tôi xin cảnh báo Đức ngài rằng sự hiện diện tiếp tục của ngài James Wilder trong gia đình ngài chỉ có thể dẫn đến bất hạnh mà thôi.”

“Tôi hiểu điều đó, ngài Holmes, và mọi chuyện đã được thu xếp rằng cậu ấy sẽ rời xa tôi mãi mãi và đi tìm vận may của mình ở Úc.”

“Trong trường hợp đó, thưa Đức ngài, vì chính ngài đã nói rằng mọi bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân của ngài đều do sự hiện diện của cậu ta gây ra, tôi xin đề nghị ngài hãy bù đắp trong khả năng có thể cho Nữ Công tước, và hãy cố gắng nối lại những mối quan hệ đã bị gián đoạn một cách đáng tiếc như vậy.”

“Điều đó tôi cũng đã thu xếp xong cả rồi, ngài Holmes. Tôi đã viết thư cho Nữ Công tước ngay sáng nay.”

“Trong trường hợp đó,” Holmes nói, và đứng dậy, “tôi nghĩ rằng bạn tôi và tôi có thể tự chúc mừng mình về một vài kết quả hết sức tốt đẹp thu được từ chuyến viếng thăm nho nhỏ của chúng tôi đến miền Bắc này. Còn một điểm nhỏ nữa mà tôi muốn được làm sáng tỏ. Cái gã Hayes này đã đóng móng ngựa cho con ngựa của gã bằng những chiếc móng giả tạo thành dấu chân bò. Có phải gã đã học được cái mẹo phi thường ấy từ ngài Wilder không?”

Công tước đứng trầm ngâm suy nghĩ một lúc, với vẻ mặt hết sức kinh ngạc. Rồi ông ta mở một cánh cửa và dẫn chúng tôi vào một căn phòng lớn được bài trí tựa như một viện bảo tàng. Ông ta dẫn đường đến một tủ kính nằm ở góc phòng, và chỉ tay vào dòng chữ khắc trên đó.

“Những chiếc móng ngựa này,” dòng chữ ghi, “được khai quật từ hào nước của Holdernesse Hall. Chúng dành cho ngựa sử dụng, nhưng mặt dưới được tạo hình với một chiếc móng guốc chẻ đôi bằng sắt, nhằm đánh lạc hướng những kẻ truy đuổi. Chúng được cho là thuộc về một vài Nam tước cướp bóc của Holdernesse thời Trung Cổ.”

Holmes mở tủ kính ra, và sau khi làm ẩm ngón tay, anh lướt nhẹ nó dọc theo chiếc móng ngựa. Một lớp bùn mỏng còn mới vương lại trên da anh.

“Cảm ơn ngài,” anh nói, khi đặt tấm kính trở lại vị trí cũ. “Đây là vật thú vị thứ nhì mà tôi đã được thấy ở miền Bắc.”

“Còn thứ nhất là gì?”

Holmes gấp tấm séc lại và cẩn thận đặt nó vào cuốn sổ tay của mình. “Tôi là một người nghèo,” anh nói, vừa vỗ nhẹ vào nó một cách trìu mến, vừa nhét nó vào sâu trong túi áo trong của mình.



  1. K.G. (Knight of the Garter - Hiệp sĩ dòng Garter) là tước hiệu hiệp sĩ cao quý nhất của Anh. P.C. (Privy Councillor - Cố vấn Cơ mật) là thành viên của Hội đồng Cơ mật hoàng gia Anh. Câu cảm thán "nửa bảng chữ cái!" của Holmes mang hàm ý châm biếm vì các chữ viết tắt cho các tước vị danh giá của vị Công tước này nhiều đến mức gần bằng một nửa bảng chữ cái tiếng Anh. 

  2. Dịch sát nghĩa từ thành ngữ tiếng Anh "The coast is clear", mang nghĩa bóng là "không có ai để ý, có thể hành động mà không bị phát hiện". Thành ngữ này bắt nguồn từ thời xưa khi những kẻ buôn lậu quan sát bờ biển để đảm bảo không có tuần duyên trước khi đổ bộ. Ở đây Holmes dùng để ngụ ý rằng xung quanh không có ai theo dõi họ, dù họ đang ở trên vùng đồng hoang cách xa biển. 

  3. Bắt nguồn từ trò chơi thiếu nhi "nóng và lạnh" (hot and cold) rất phổ biến ở phương Tây. Trong trò này, khi một người đi tìm đồ vật bị giấu tiến gần đến chỗ giấu đồ, những người khác sẽ hô "nóng lên" (getting warmer) và khi đi xa dần thì hô "lạnh đi" (getting colder). Holmes ám chỉ rằng họ đang tiến rất gần đến việc tìm ra sự thật ở quán trọ. 

  4. Dịch từ "entail" - một thuật ngữ pháp lý thời xưa ở Anh. Chế độ này quy định tài sản (đặc biệt là đất đai) không thể bị chia cắt hoặc bán đi, mà phải được truyền nguyên vẹn cho người thừa kế nam giới hợp pháp. James là con ngoài giá thú nên không được hưởng quyền này, do đó mới sinh lòng thù hận và bắt cóc cậu bé để ép Công tước phá bỏ luật lệ này.