VỤ ÁN TẠI DINH THỰ ABBEY GRANGE

Vào một buổi sáng giá rét thấu xương, khoảng cuối mùa đông năm 1897, tôi bị đánh thức bởi một cái lay vai. Đó là Holmes. Ngọn nến trong tay anh rọi sáng khuôn mặt háo hức đang cúi xuống nhìn tôi, và chỉ một cái liếc mắt, tôi đã biết có chuyện chẳng lành.

“Đi thôi, Watson, đi thôi!” anh kêu lên. “Cuộc săn đã bắt đầu. Đừng nói gì cả! Mặc quần áo vào và đi ngay!”

Mười phút sau, cả hai chúng tôi đã ngồi trong một chiếc xe ngựa, lao vun vút qua những con phố tĩnh lặng để đến ga Charing Cross. Ánh bình minh nhợt nhạt đầu tiên của mùa đông bắt đầu ló dạng. Qua làn sương mờ đục của London, chúng tôi lờ mờ nhận ra thấp thoáng bóng dáng một người thợ đi làm sớm khi anh ta lướt qua - mờ ảo và không rõ nét. Holmes im lặng rúc sâu vào chiếc áo khoác dày, và tôi cũng sẵn lòng làm theo, bởi không khí vô cùng buốt giá và cả hai chúng tôi đều chưa ăn sáng.

Mãi đến khi chúng tôi uống chút trà nóng ở nhà ga và lên tàu đi Kent, người mới đủ ấm để anh có thể nói và tôi có thể lắng nghe. Holmes rút một mảnh giấy từ trong túi ra và đọc to:

Abbey Grange, Marsham, Kent, 3:30 sáng

ÔNG HOLMES KÍNH MẾN,

Tôi rất mong được ông giúp đỡ ngay lập tức trong một vụ việc hứa hẹn sẽ hết sức đặc biệt. Đây là việc hoàn toàn thuộc sở trường của ông. Ngoại trừ việc cởi trói cho quý bà, tôi sẽ đảm bảo mọi thứ được giữ nguyên như lúc tôi phát hiện, nhưng tôi xin ông đừng chậm trễ một giây phút nào, vì thật khó lòng để Ngài Eustace cứ nằm đó mãi.

Trân trọng, STANLEY HOPKINS.

“Hopkins đã gọi tôi đến bảy lần, và lần nào lời triệu tập của anh ta cũng hoàn toàn xứng đáng,” Holmes nhận xét. “Tôi đoán mọi vụ án của anh ta đều đã tìm được đường vào bộ sưu tập của anh rồi. Và tôi phải thừa nhận, Watson à, anh có năng khiếu chọn lọc đấy - điều này bù đắp cho nhiều điểm mà tôi lấy làm tiếc trong những câu chuyện của anh. Cái thói quen chết người của anh là nhìn mọi thứ từ góc độ một câu chuyện, thay vì một bài tập khoa học. Nó đã phá hỏng những gì lẽ ra có thể là một chuỗi minh họa mang tính giáo khoa, thậm chí là kinh điển. Anh lướt qua những công đoạn đòi hỏi sự tinh tế và tỉ mỉ bậc nhất, để rồi dừng lại quá lâu ở những tình tiết giật gân - thứ có thể kích thích trí tò mò, nhưng chẳng dạy dỗ được gì cho độc giả.”

“Vậy sao anh không tự viết đi?” tôi đáp, có phần gay gắt.

“Tôi sẽ viết, Watson thân mến, tôi sẽ viết. Hiện tại thì anh biết đấy, tôi khá bận, nhưng tôi dự định sẽ dành những năm tháng về già của mình để biên soạn một cuốn sách giáo khoa, tập trung toàn bộ nghệ thuật phá án vào trong một tập sách. Cuộc điều tra hiện tại của chúng ta có vẻ là một vụ án mạng.”

“Vậy anh nghĩ Ngài Eustace này đã chết rồi sao?”

“Tôi cho là vậy. Nét chữ của Hopkins cho thấy sự kích động đáng kể, mà anh ta thì không phải là người dễ xúc động. Phải, tôi đoán đã có bạo lực xảy ra, và cái xác được để lại cho chúng ta xem xét. Một vụ tự tử đơn thuần sẽ không khiến anh ta phải gọi tôi đến. Còn về việc ‘cởi trói cho quý bà’, có vẻ như bà ấy đã bị nhốt trong phòng suốt lúc thảm kịch diễn ra. Chúng ta đang bước vào giới thượng lưu đây, Watson ạ - giấy viết sột soạt, chữ lồng ‘E.B.’, huy hiệu gia tộc, địa chỉ đẹp như tranh. Tôi nghĩ anh bạn Hopkins sẽ sống xứng với danh tiếng của mình, và chúng ta sẽ có một buổi sáng thú vị. Tội ác đã xảy ra trước mười hai giờ đêm qua.”

“Làm sao anh có thể biết được?”

“Bằng cách xem giờ tàu và tính toán thời gian. Cảnh sát địa phương phải được gọi đến, họ phải liên lạc với Scotland Yard, Hopkins phải đi ra hiện trường, rồi anh ta lại phải cho người gọi tôi. Tất cả những việc đó đã ngốn gần hết một đêm. Nào, chúng ta đến ga Chiselhurst rồi, và sẽ sớm không còn nghi ngờ gì nữa.”

Một chặng xe ngựa dài vài dặm len lỏi qua những con đường làng hẹp đưa chúng tôi đến cổng khu điền trang. Một ông lão gác cổng có khuôn mặt hốc hác hằn rõ dấu vết của một thảm họa lớn nào đó ra mở cổng cho chúng tôi. Con đường lớn chạy xuyên qua một khuôn viên nguy nga, men theo hai hàng cây du cổ thụ, rồi kết thúc ở một ngôi nhà thấp, rộng, với hàng cột phía trước theo phong cách Palladio1. Phần trung tâm rõ ràng đã có từ lâu đời và dây thường xuân phủ kín, nhưng những ô cửa sổ lớn cho thấy đã có những cải tạo hiện đại, và một cánh của ngôi nhà dường như hoàn toàn mới. Dáng người trẻ trung cùng gương mặt lanh lợi, háo hức của Thanh tra Stanley Hopkins đón chúng tôi ngay tại ngưỡng cửa mở toang.

“Tôi rất mừng là các ngài đã đến, Ngài Holmes. Và cả Ngài, Bác sĩ Watson. Nhưng thực ra, nếu được làm lại, tôi đã không làm phiền các ngài, bởi vì từ khi quý bà tỉnh lại, bà ấy đã kể lại sự việc rõ ràng đến mức chẳng còn mấy việc cho chúng ta làm. Các ngài có nhớ băng trộm Lewisham không?”

“Sao, ba tên nhà Randall ấy à?”

“Chính xác; ông bố và hai đứa con. Là tác phẩm của bọn chúng đấy. Tôi không nghi ngờ gì nữa. Bọn chúng đã làm một vụ ở Sydenham cách đây hai tuần và đã bị nhìn thấy và nhận dạng. Khá liều lĩnh khi làm một vụ nữa sớm thế và gần thế, nhưng chính là bọn chúng, không còn nghi ngờ gì nữa. Lần này là tội bị treo cổ đấy.”

“Vậy Ngài Eustace đã chết rồi sao?”

“Phải, đầu ông ta bị đập vỡ bằng chính cây que cời lửa của mình.”

“Ngài Eustace Brackenstall, theo như người đánh xe nói với tôi.”

“Chính xác - một trong những người giàu nhất Kent - Phu nhân Brackenstall đang ở trong phòng khách buổi sáng. Tội nghiệp cho quý bà, bà ấy đã trải qua một trải nghiệm khủng khiếp nhất. Lúc tôi gặp bà lần đầu, bà ấy trông như đã chết một nửa. Tôi nghĩ tốt nhất là các ngài hãy gặp bà ấy và nghe bà kể lại sự việc. Sau đó chúng ta sẽ cùng khám nghiệm phòng ăn.”

Phu nhân Brackenstall không phải là một người bình thường. Hiếm khi tôi thấy một dáng người duyên dáng, một phong thái nữ tính và một khuôn mặt xinh đẹp đến thế. Bà là người tóc vàng hoe, mắt xanh, và hẳn sẽ có được làn da hoàn hảo đi kèm với màu sắc ấy, nếu như trải nghiệm vừa qua không khiến bà trông hốc hác và tiều tụy. Nỗi đau của bà vừa là thể xác lẫn tinh thần, bởi trên một bên mắt nổi lên một vết sưng tấy màu mận chín gớm ghiếc, mà người hầu gái của bà, một phụ nữ cao gầy và nghiêm nghị, đang chăm chỉ chườm bằng giấm và nước. Quý bà nằm kiệt sức tựa lưng trên ghế dài, nhưng cái nhìn nhanh nhẹn, quan sát khi chúng tôi bước vào phòng, cùng vẻ lanh lợi trên những đường nét xinh đẹp, cho thấy cả trí óc lẫn lòng can đảm của bà đều không hề bị lay chuyển vì trải nghiệm khủng khiếp vừa qua. Bà khoác một chiếc áo choàng rộng màu xanh lam bạc, nhưng một chiếc váy dạ tiệc đen phủ sequin nằm trên ghế bên cạnh.

“Tôi đã kể cho ông mọi chuyện đã xảy ra rồi, Ngài Hopkins,” bà nói, mệt mỏi. “Ông không thể kể lại giúp tôi sao? Thôi được, nếu ông thấy cần thiết, tôi sẽ kể cho các quý ông đây những gì đã xảy ra. Họ đã vào phòng ăn chưa?”

“Tôi nghĩ tốt hơn là họ nên nghe câu chuyện của phu nhân trước đã.”

“Tôi sẽ mừng khi ông có thể thu xếp mọi việc. Thật kinh khủng khi nghĩ đến việc ông ấy vẫn còn nằm đó.” Bà rùng mình và vùi mặt vào hai bàn tay. Khi bà làm vậy, chiếc áo choàng rộng tuột xuống khỏi cẳng tay. Holmes buột miệng kêu lên.

“Phu nhân còn có những thương tích khác! Đây là cái gì vậy?” Hai đốm đỏ tươi nổi bật trên một trong những cánh tay trắng ngần, tròn trịa. Bà vội vàng che lại.

“Không có gì đâu. Nó không liên quan gì đến vụ việc khủng khiếp đêm nay cả. Nếu ngài và bạn ngài chịu ngồi xuống, tôi sẽ kể cho các ngài tất cả những gì tôi có thể.

“Tôi là vợ của Ngài Eustace Brackenstall. Chúng tôi kết hôn được khoảng một năm. Tôi cho rằng tôi có cố che giấu rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi không hạnh phúc cũng chẳng ích gì. Tôi e rằng tất cả hàng xóm của chúng tôi cũng sẽ nói với các ngài như vậy, ngay cả khi tôi có cố phủ nhận. Có lẽ một phần lỗi là ở tôi. Tôi được nuôi dưỡng trong bầu không khí tự do hơn, ít lễ nghi hơn của Nam Úc, và cuộc sống Anh quốc này, với những phép tắc và khuôn phép của nó, không hợp với tôi. Nhưng nguyên nhân chính nằm ở một sự thật, mà ai cũng biết, đó là Ngài Eustace là một kẻ nghiện rượu triền miên. Ở bên cạnh một người như thế trong một giờ đã là khó chịu rồi. Ngài có thể tưởng tượng nổi việc một người phụ nữ nhạy cảm và đầy cá tính bị trói buộc với ông ta ngày đêm có nghĩa là gì không? Đó là một sự báng bổ, một tội ác, một sự đồi bại khi bắt một cuộc hôn nhân như thế phải ràng buộc. Tôi nói rằng những bộ luật quái gở của các ngài sẽ mang lại lời nguyền cho vùng đất này - Chúa sẽ không để cho sự tàn ác ấy tồn tại.” Trong một khoảnh khắc, bà ngồi thẳng dậy, đôi má ửng hồng, và đôi mắt rực cháy bên dưới vết thương khủng khiếp trên trán. Rồi bàn tay mạnh mẽ, dịu dàng của người hầu gái nghiêm nghị kéo đầu bà xuống gối, và cơn giận dữ cuồng nộ tan thành tiếng nức nở đau đớn. Cuối cùng bà tiếp tục:

“Tôi sẽ kể cho các ngài về đêm qua. Có lẽ các ngài biết rằng trong ngôi nhà này, tất cả người hầu đều ngủ ở cánh hiện đại. Khu nhà trung tâm này gồm các phòng sinh hoạt, với bếp ở phía sau và phòng ngủ của chúng tôi ở tầng trên. Người hầu gái của tôi, Theresa, ngủ ở phòng phía trên phòng tôi. Không còn ai khác, và không âm thanh nào có thể báo động cho những người ở cánh xa hơn. Bọn trộm hẳn đã biết rõ điều này, nếu không chúng đã không hành động như thế.

“Ngài Eustace đi ngủ vào khoảng mười giờ rưỡi. Những người hầu đã lui về phòng họ trước đó. Chỉ có người hầu gái của tôi là còn thức, và bà ấy vẫn ở trong phòng mình trên tầng cao nhất của ngôi nhà cho đến khi tôi cần bà giúp. Tôi ngồi đến quá mười một giờ trong căn phòng này, mải mê đọc sách. Rồi tôi đi một vòng quanh nhà để xem mọi thứ đã ổn thỏa chưa trước khi lên gác. Tôi thường tự mình làm việc này, bởi như tôi đã giải thích, không phải lúc nào cũng có thể tin tưởng Ngài Eustace. Tôi đi vào bếp, phòng đựng thức ăn của quản gia, phòng súng, phòng bida, phòng khách, và cuối cùng là phòng ăn. Khi tôi đến gần cửa sổ, nơi treo tấm rèm dày, tôi bất chợt cảm thấy gió thổi vào mặt và nhận ra cửa sổ đang mở. Tôi vén rèm sang một bên và thấy mình đối diện với một người đàn ông lớn tuổi, vai rộng, vừa bước vào phòng. Cửa sổ là loại cửa Pháp dài, thực chất là một cánh cửa dẫn ra bãi cỏ. Tay tôi cầm cây nến phòng ngủ đang thắp sáng, và dưới ánh nến, phía sau người đàn ông đầu tiên, tôi thấy hai kẻ nữa đang trong lúc bước vào. Tôi lùi lại, nhưng tên kia đã lao vào tôi ngay tức khắc. Trước tiên hắn nắm lấy cổ tay tôi, rồi siết lấy cổ họng tôi. Tôi há miệng định thét lên, nhưng hắn giáng một cú đấm tàn bạo vào mắt tôi và quật tôi ngã xuống sàn. Hẳn là tôi đã bất tỉnh trong vài phút, vì khi tỉnh lại, tôi thấy chúng đã giật đứt dây kéo chuông, và trói chặt tôi vào chiếc ghế gỗ sồi ở đầu bàn ăn. Tôi bị trói chặt đến mức không thể cử động, và một chiếc khăn tay bịt quanh miệng khiến tôi không thể thốt ra tiếng nào. Chính vào lúc đó, người chồng bất hạnh của tôi bước vào phòng. Rõ ràng ông ta đã nghe thấy những tiếng động khả nghi, và ông ta bước vào trong tư thế sẵn sàng cho cảnh tượng mà ông ta bắt gặp. Ông ta mặc áo ngủ và quần, tay cầm cây gậy gỗ mận gai yêu thích. Ông ta lao vào bọn trộm, nhưng một tên khác - đó là một kẻ lớn tuổi - cúi xuống, nhặt cây que cời lửa từ lò sưởi lên và giáng một cú kinh hoàng vào đầu ông ta khi ông ta lướt qua. Ông ta ngã xuống và không hề cựa quậy.

“Có câu hỏi gì không, Ngài Holmes?” Hopkins hỏi.

“Tôi sẽ không làm phiền thêm sự kiên nhẫn và thời gian của Phu nhân Brackenstall nữa,” Holmes nói. “Trước khi vào phòng ăn, tôi muốn nghe trải nghiệm của bà.” Anh nhìn về phía người hầu gái.

“Tôi đã nhìn thấy bọn chúng trước khi chúng vào nhà,” bà ta nói. “Khi tôi ngồi bên cửa sổ phòng ngủ, tôi thấy ba người đàn ông dưới ánh trăng ở chỗ cổng khu điền trang đằng kia, nhưng lúc đó tôi không nghĩ gì. Hơn một tiếng sau tôi mới nghe thấy tiếng cô chủ tôi hét, và tôi lao xuống, thấy cô ấy, con chiên tội nghiệp của tôi, đúng như lời cô ấy nói, còn hắn thì nằm trên sàn, máu và óc văng khắp phòng. Thế cũng đủ khiến bất kỳ người phụ nữ nào mất trí rồi, bị trói ở đó, mà váy áo còn dính đầy máu của hắn, nhưng cô ấy chưa bao giờ thiếu can đảm, phải, cô Mary Fraser ở Adelaide và Phu nhân Brackenstall của Abbey Grange không hề học cách yếu đuối. Các ông đã chất vấn cô ấy đủ lâu rồi, các quý ông ạ, và bây giờ cô ấy sẽ về phòng mình, cùng với lão Theresa này, để nghỉ ngơi mà cô ấy rất cần.”

Với sự dịu dàng của người mẹ, người phụ nữ gầy guộc vòng tay ôm lấy cô chủ và dìu bà ra khỏi phòng.

“Bà ấy đã ở bên cô chủ suốt cả cuộc đời,” Hopkins nói. “Bế ẵm cô ấy từ thuở lọt lòng, và cùng cô ấy đến Anh khi họ lần đầu rời Úc, cách đây mười tám tháng. Theresa Wright là tên của bà ấy, loại hầu gái mà ngày nay khó mà tìm được. Mời đi lối này, Ngài Holmes!”

Niềm hứng thú mãnh liệt đã biến mất khỏi khuôn mặt đầy biểu cảm của Holmes, và tôi biết rằng cùng với bí ẩn thì mọi sức hấp dẫn của vụ án cũng đã tan biến. Vẫn còn đó một vụ bắt giữ phải thực hiện, nhưng những tên cướp tầm thường ấy thì có là gì để anh phải nhúng tay vào? Một chuyên gia uyên bác và lão luyện mà phát hiện ra mình được gọi đến để chữa một ca sởi hẳn cũng sẽ cảm thấy sự bực mình tương tự như điều tôi đọc thấy trong mắt người bạn mình. Ấy vậy mà quang cảnh trong phòng ăn của dinh thự Abbey Grange lại đủ kỳ lạ để thu hút sự chú ý của anh và khơi lại mối quan tâm đang tàn lụi.

Đó là một căn phòng rất rộng và cao, với trần nhà chạm trổ bằng gỗ sồi, tường ốp gỗ sồi, và một bộ sưu tập tuyệt đẹp những chiếc đầu hươu cùng vũ khí cổ xưa treo quanh tường. Ở phía cuối căn phòng, đối diện với cửa ra vào, là cánh cửa sổ Pháp cao mà chúng tôi đã được nghe kể. Ba cửa sổ nhỏ hơn ở phía tay phải tràn ngập căn phòng với ánh nắng mùa đông lạnh lẽo. Ở bên trái là một lò sưởi lớn và sâu, với một tấm lò sưởi bằng gỗ sồi đồ sộ, nhô ra. Bên cạnh lò sưởi là một chiếc ghế gỗ sồi nặng có tay vịn và thanh ngang ở chân. Những sợi dây đỏ luồn qua các khe chạm trổ của ghế, và mỗi đầu dây buộc cố định vào thanh ngang bên dưới. Khi cởi trói cho quý bà, dây đã được tháo ra khỏi người bà, nhưng các nút thắt vẫn còn nguyên. Những chi tiết này chỉ thu hút sự chú ý của chúng tôi sau đó, bởi lúc này tâm trí chúng tôi hoàn toàn choáng ngợp trước vật thể khủng khiếp nằm trên tấm thảm da hổ trước lò sưởi.

Đó là thi thể của một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, khoảng bốn mươi tuổi. Ông ta nằm ngửa, mặt ngửa lên, với hàm răng trắng nhởn ra sau bộ râu đen ngắn. Hai bàn tay nắm chặt giơ cao trên đầu, và một cây gậy gỗ mận gai nặng nằm vắt ngang qua chúng. Những đường nét thanh tú, màu da sẫm và chiếc mũi khoằm của ông ta co rúm lại thành một cơn co giật của lòng căm thù đầy thù hận, khiến khuôn mặt đã chết mang một vẻ quỷ dữ khủng khiếp. Rõ ràng ông ta đang ở trên giường khi có báo động, vì ông ta mặc một chiếc áo ngủ thêu hoa cầu kỳ, và đôi chân trần thò ra khỏi ống quần. Đầu ông ta bị thương tích khủng khiếp, và toàn bộ căn phòng là bằng chứng cho sự hung bạo dã man của cú đánh đã hạ gục ông ta. Bên cạnh ông ta là cây que cời lửa nặng nề, cong oằn đi vì lực va chạm. Holmes xem xét cả cây que lẫn cảnh tượng tàn phá không thể tả nổi mà nó đã gây ra.

“Hẳn lão Randall già này phải là một kẻ rất khỏe,” anh nhận xét.

“Vâng,” Hopkins nói. “Tôi có chút hồ sơ về tên này, và hắn là một tay khó chơi.”

“Anh sẽ không gặp khó khăn gì trong việc tóm hắn đâu.”

“Không chút nào. Chúng tôi đã truy lùng hắn, và từng có ý nghĩ rằng hắn đã trốn sang Mỹ. Giờ thì chúng ta biết cả băng đảng đang ở đây, tôi không thấy chúng thoát được bằng cách nào. Chúng tôi đã báo tin cho mọi cảng biển rồi, và sẽ ra lệnh treo thưởng trước tối nay. Điều làm tôi bối rối là sao chúng có thể làm một việc điên rồ như thế, khi biết rằng quý bà có thể mô tả chúng và chúng tôi không thể nào không nhận ra mô tả đó.”

“Chính xác. Người ta sẽ nghĩ rằng chúng cũng sẽ bịt miệng Phu nhân Brackenstall luôn.”

“Có thể chúng không nhận ra rằng bà ấy đã tỉnh lại sau cơn ngất,” tôi gợi ý.

“Rất có thể. Nếu bà ấy dường như bất tỉnh, chúng sẽ không lấy mạng bà. Còn về người đàn ông tội nghiệp này thì sao, Hopkins? Tôi dường như đã nghe vài câu chuyện kỳ quặc về ông ta.”

“Ông ta là một người tốt bụng khi tỉnh táo, nhưng là một con quỷ thực sự khi say rượu, hay đúng hơn là khi nửa say, vì ông ta hiếm khi say hoàn toàn. Con quỷ trong người ông ta dường như trỗi dậy vào những lúc ấy, và ông ta có thể làm bất cứ điều gì. Theo những gì tôi nghe được, dù có của cải và tước vị, ông ta suýt nữa đã rơi vào tay chúng tôi vài lần rồi. Có một vụ tai tiếng về việc ông ta tưới dầu hỏa lên một con chó và châm lửa đốt - con chó của phu nhân, để cho mọi sự thêm tồi tệ - và vụ đó chỉ được dàn xếp trong khó khăn. Rồi ông ta ném bình rượu vào người hầu gái, Theresa Wright - cũng có rắc rối về vụ đó. Nói chung, và chỉ giữa chúng ta với nhau thôi, ngôi nhà này sẽ sáng sủa hơn khi không có ông ta. Ngài đang nhìn gì vậy?”

Holmes đang quỳ xuống, xem xét hết sức chăm chú những nút thắt trên sợi dây đỏ mà quý bà đã bị trói. Rồi anh tỉ mỉ quan sát phần đầu dây bị đứt và sờn ra ở chỗ nó bị bật ra khi tên trộm giật nó xuống.

“Khi sợi dây này bị giật xuống, chuông trong bếp hẳn đã reo rất to,” anh nhận xét.

“Không ai có thể nghe thấy. Bếp nằm ở tít phía sau nhà.”

“Làm sao tên trộm biết là không ai nghe thấy? Sao hắn dám giật dây chuông một cách liều lĩnh như thế?”

“Chính xác, Ngài Holmes, chính xác. Ngài đặt ra đúng câu hỏi mà tôi đã tự hỏi mình hết lần này đến lần khác. Không còn nghi ngờ gì nữa, tên này hẳn phải biết rõ ngôi nhà và thói quen sinh hoạt của nó. Hắn hẳn phải hiểu một cách hoàn hảo rằng tất cả người hầu sẽ đều ở trên giường vào cái giờ tương đối sớm ấy, và rằng không ai có thể nghe thấy tiếng chuông reo trong bếp. Vì vậy, hắn hẳn phải có liên minh chặt chẽ với một trong những người hầu. Điều đó chắc chắn là hiển nhiên. Nhưng có tám người hầu, và tất cả đều có phẩm hạnh tốt.”

“Trong những điều kiện như nhau,” Holmes nói, “người ta sẽ nghi ngờ kẻ mà ông chủ đã ném bình rượu vào đầu. Ấy thế nhưng điều đó lại liên quan đến sự phản bội đối với cô chủ mà người phụ nữ này dường như hết mực tận tụy. Thôi, thôi, điểm đó là thứ yếu, và khi anh tóm được Randall thì có lẽ sẽ không khó để tìm ra đồng bọn của hắn. Câu chuyện của quý bà chắc chắn dường như được xác nhận, nếu nó cần xác nhận, bởi từng chi tiết mà chúng ta thấy trước mắt.” Anh bước đến cửa sổ Pháp và mở tung nó ra. “Không có dấu vết gì ở đây, nhưng mặt đất cứng như sắt, và người ta cũng không mong đợi có dấu vết. Tôi thấy những cây nến trên tấm lò sưởi này đã được thắp sáng.”

“Vâng, chính nhờ ánh sáng của chúng và cây nến phòng ngủ của quý bà mà bọn trộm mới nhìn thấy đường đi.”

“Và chúng đã lấy gì?”

“À, chúng không lấy nhiều - chỉ khoảng nửa tá món đồ bạc trên tủ bát đĩa. Phu nhân Brackenstall nghĩ rằng chính bọn chúng cũng bị rối trí trước cái chết của Ngài Eustace đến mức không lục soát ngôi nhà như lẽ ra chúng sẽ làm.”

“Không nghi ngờ gì điều đó là đúng, thế nhưng tôi nghe nói chúng có uống chút rượu.”

“Để trấn tĩnh thần kinh.”

“Chính xác. Ba chiếc ly này trên tủ bát đĩa hẳn là chưa bị động đến, tôi đoán vậy?”

“Vâng, và chai rượu vẫn để nguyên như chúng để lại.”

“Để chúng ta xem nào. Á à, á à! Cái gì đây?”

Ba chiếc ly được xếp thành một nhóm, tất cả đều nhuốm màu rượu, và một trong số đó còn chứa cặn rượu. Chai rượu đứng gần đó, còn khoảng hai phần ba, và bên cạnh là một chiếc nút bần dài, nhuốm màu sẫm. Vẻ bề ngoài của nó và lớp bụi trên chai cho thấy đây không phải là thứ rượu tầm thường mà bọn sát nhân đã thưởng thức.

Một sự thay đổi đã đến với phong thái của Holmes. Anh không còn vẻ lãnh đạm, và một lần nữa tôi lại thấy ánh sáng lanh lợi của mối quan tâm trong đôi mắt sâu và sắc sảo của anh. Anh cầm chiếc nút bần lên và xem xét nó thật kỹ lưỡng.

“Chúng đã mở nó bằng cách nào?” anh hỏi.

Hopkins chỉ vào một ngăn kéo mở hé. Trong đó có mấy tấm khăn trải bàn và một cái mở nút chai lớn.

“Phu nhân Brackenstall có nói là cái mở nút chai đó đã được sử dụng không?”

“Không, ngài nhớ đấy, bà ấy đã bất tỉnh vào lúc chai rượu được mở.”

“Đúng vậy. Thực tế là, cái mở nút chai đó không được sử dụng. Chai rượu này được mở bằng một cái mở nút bỏ túi, có lẽ là một phần của con dao đa năng, và dài không quá một inch rưỡi. Nếu ngài xem xét phần đầu nút bần, ngài sẽ thấy rằng cái mở nút đã được vặn vào ba lần trước khi nút bần được rút ra. Nó chưa bao giờ bị đâm xuyên qua. Cái mở nút dài này sẽ đâm xuyên qua nó và rút nó lên chỉ trong một lần kéo. Khi nào anh tóm được tên này, anh sẽ thấy hắn có một trong những con dao đa năng ấy trong người.”

“Tuyệt vời!” Hopkins nói.

“Nhưng những chiếc ly này thực sự làm tôi bối rối, tôi thú thực vậy. Phu nhân Brackenstall thực sự đã nhìn thấy ba người đàn ông đang uống rượu, phải không?”

“Vâng; bà ấy nói rất rõ ràng về điều đó.”

“Vậy thì chẳng còn gì để nói nữa. Còn gì để nói thêm đây? Ấy thế mà anh phải thừa nhận rằng ba chiếc ly này rất đáng chú ý, Hopkins. Sao? Anh không thấy có gì đáng chú ý à? Thôi được, thôi được, bỏ qua đi. Có lẽ, khi một người có kiến thức đặc biệt và năng lực đặc biệt như tôi, điều đó lại khuyến khích anh ta tìm kiếm một lời giải thích phức tạp khi một lời giải thích đơn giản hơn đã ở ngay trong tầm tay. Dĩ nhiên, chuyện những chiếc ly ấy hẳn chỉ là ngẫu nhiên thôi. Thôi, chào buổi sáng, Hopkins. Tôi không thấy mình có thể giúp ích gì thêm cho anh, và anh dường như đã có một vụ án rất rõ ràng. Anh sẽ cho tôi biết khi nào Randall bị bắt, và bất kỳ diễn biến nào tiếp theo. Tôi tin rằng mình sẽ sớm được chúc mừng anh về một kết thúc thành công. Đi nào, Watson, tôi nghĩ chúng ta có thể dùng thời gian của mình hữu ích hơn ở nhà.”

Trên suốt hành trình quay về, chỉ cần nhìn nét mặt Holmes, tôi cũng thấy rõ anh đang vô cùng bối rối trước điều gì đó mình vừa quan sát được. Đôi lúc, bằng một nỗ lực cố gắng, anh gạt ấn tượng ấy sang một bên, nói chuyện như thể mọi sự đã sáng tỏ cả rồi. Nhưng rồi những nghi ngờ lại ùa về, đôi lông mày anh chau lại, ánh mắt thẫn thờ, báo hiệu tâm trí anh đã quay ngược về căn phòng ăn rộng lớn của dinh thự Abbey Grange - nơi thảm kịch nửa đêm vừa xảy ra. Cuối cùng, bằng một xung động đột ngột, ngay khi đoàn tàu đang từ từ rời một ga ngoại ô, anh nhảy vọt lên sân ga và kéo tôi theo.

“Thứ lỗi cho tôi nhé, anh bạn thân mến,” anh lên tiếng, lúc chúng tôi cùng nhìn những toa cuối cùng khuất sau khúc cua. “Tôi thực sự lấy làm tiếc vì đã biến anh thành nạn nhân của một điều trông có vẻ chẳng qua là ý thích bất chợt. Nhưng thề có mạng sống tôi đây, Watson à, tôi đơn giản là không thể bỏ mặc vụ án này trong tình trạng như thế được. Mọi bản năng trong tôi đều đang gào thét phản đối. Nó sai - tất thảy đều sai - tôi thề là nó sai. Vậy mà câu chuyện của vị quý bà kia thì liền lạc như thể thêu dệt, lời xác nhận của chị hầu gái thì đầy đủ cả, các chi tiết cũng khá chính xác. Tôi có gì để bác bỏ đây? Ba chiếc ly rượu, chỉ có thế thôi. Nhưng nếu tôi không xem mọi thứ là hiển nhiên, nếu tôi xem xét từng chi tiết với sự cẩn trọng đúng mức - cái sự cẩn trọng lẽ ra phải có, nếu ta tiếp cận vụ này ngay từ đầu, và không để một câu chuyện đóng khuôn sẵn bóp méo tâm trí mình - thì liệu tôi có tìm ra được điều gì đó xác đáng hơn để bám vào không? Dĩ nhiên là có đấy. Hãy ngồi xuống chiếc ghế dài này, Watson, chờ đến khi có chuyến tàu tới Chiselhurst, và cho phép tôi trình bày chứng cứ trước anh. Nhưng trước hết, tôi khẩn cầu anh hãy gạt khỏi tâm trí mình ý nghĩ rằng: bất cứ điều gì người hầu gái hoặc cô chủ của ả nói ra, nhất thiết đều phải đúng. Nhân cách duyên dáng của quý bà kia không được phép bóp méo phán đoán của chúng ta đâu nhé.

“Hẳn nhiên trong câu chuyện của bà ấy có những chi tiết mà - nếu chúng ta soi xét một cách lạnh lùng - sẽ khơi dậy trong ta mối nghi ngờ. Bọn trộm này đã làm một vụ béo bở ở Sydenham cách đây hai tuần. Báo chí đăng tường thuật về chúng, kèm theo mô tả diện mạo, và đương nhiên hình ảnh đó sẽ hiện lên trong đầu bất kỳ kẻ nào muốn bịa ra một câu chuyện có bọn trộm tưởng tượng làm nhân vật chính. Sự thật là, với những tên trộm vừa vớ được món hời, lẽ thường chúng sẽ quá sung sướng tận hưởng thành quả trong yên bình và tĩnh lặng, thay vì lại lao đầu vào một phi vụ nguy hiểm khác. Lại một lần nữa, thật khác thường khi trộm ra tay vào giờ sớm đến thế. Cũng thật khác thường khi trộm đánh một quý bà để ngăn bà ấy la hét - bởi ai mà chẳng nghĩ đó chính là cách chắc chắn nhất khiến bà ấy hét toáng lên. Thật khác thường khi chúng phạm tội giết người, dù số lượng của chúng đủ để khống chế một người đàn ông. Lại thật khác thường khi chúng bằng lòng với một món đồ hạn chế, trong khi còn biết bao thứ khác trong tầm tay. Và sau hết, tôi buộc phải nói rằng, thật hết sức khác thường khi những kẻ như thế lại để lại một chai rượu còn dang dở nửa chừng. Tất cả những điều khác thường ấy tác động đến anh ra sao, Watson?”

“Hiệu ứng tích lũy của chúng chắc chắn là đáng kể, thế nhưng xét riêng lẻ từng điều một thì vẫn hoàn toàn có thể xảy ra. Điều khác thường nhất trong số đó, theo tôi thấy, là việc quý bà bị trói vào ghế.”

“Ồ, tôi không chắc lắm về điểm đó đâu, Watson. Vì rõ ràng chúng buộc phải giết bà ấy hoặc kiểm soát bà ấy bằng cách nào đó, để bà ấy không thể báo động ngay khi chúng tẩu thoát. Nhưng dù sao đi nữa, tôi cũng đã chỉ ra rồi, phải không nào, rằng có một yếu tố phi lý nhất định trong câu chuyện của quý bà? Và giờ đây, chồng lên trên tất cả những điều đó, lại thêm sự việc của những chiếc ly rượu nữa.”

“Những chiếc ly rượu thì sao chứ?”

“Anh có thể hình dung ra chúng trong tâm trí mình không?”

“Tôi thấy chúng rất rõ ràng.”

“Chúng ta được kể rằng có ba người đàn ông đã uống từ những chiếc ly ấy. Điều đó nghe có hợp lý với anh không?”

“Sao lại không? Mỗi chiếc ly đều có rượu cơ mà.”

“Chính xác, nhưng chỉ có một chiếc là có cặn rượu. Chắc hẳn anh đã nhận thấy sự thật ấy rồi. Điều đó gợi cho anh suy nghĩ gì nào?”

“Chiếc ly được rót sau cùng thì nhiều khả năng chứa cặn rượu nhất.”

“Không hề. Cả chai đều đầy cặn, và thật khó mà tin rằng hai chiếc ly đầu lại trong veo, trong khi chiếc thứ ba thì đầy cặn. Chỉ có hai lời giải thích khả dĩ, và chỉ hai mà thôi. Một là, sau khi chiếc ly thứ hai được rót xong, người ta lắc mạnh chai rượu, và vì thế chiếc ly thứ ba hứng trọn phần cặn. Điều đó nghe chẳng hợp lý chút nào. Không, không đâu, tôi chắc chắn là mình đúng.”

“Vậy thì anh cho là thế nào?”

“Rằng chỉ có hai chiếc ly được sử dụng thôi, và cặn của cả hai chiếc đều được đổ dồn vào chiếc ly thứ ba, nhằm tạo ra ấn tượng giả rằng đã có ba người ở đây. Làm như thế, tất cả cặn rượu sẽ dồn hết vào chiếc ly cuối cùng, phải không nào? Phải, tôi tin chắc điều này là đúng. Nhưng nếu tôi đã tìm ra lời giải thích chính xác cho hiện tượng nhỏ này rồi, thì ngay tức khắc, vụ án được nâng tầm từ tầm thường lên thành cực kỳ đặc biệt. Vì điều đó chỉ có thể có nghĩa là: Phu nhân Brackenstall và người hầu gái của bà ấy đã cố tình nói dối chúng ta. Rằng không một lời nào trong câu chuyện của họ là đáng tin. Rằng họ có một lý do rất mạnh mẽ nào đó để che giấu kẻ phạm tội thực sự. Và rằng chúng ta phải tự mình dựng lại vụ án mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào từ phía họ. Đó chính là nhiệm vụ hiện đặt ra trước mắt chúng ta. Và kia rồi, Watson, chuyến tàu tới Sydenham kia kìa.”

Cả gia đình tại dinh thự Abbey Grange hết sức kinh ngạc trước sự quay trở lại của chúng tôi. Nhưng Sherlock Holmes, biết rằng Stanley Hopkins đã đi báo cáo lên tổng hành dinh, bèn chiếm lấy phòng ăn, khóa trái cửa phía trong, và dành trọn hai tiếng đồng hồ cho một trong những cuộc điều tra tỉ mỉ và công phu nhất - thứ vốn là nền tảng vững chắc để dựng nên những tòa lâu đài suy luận rực rỡ của anh. Ngồi thu mình trong một góc, như một cậu sinh viên tò mò dõi theo buổi thực nghiệm của vị giáo sư, tôi lần theo từng bước của cuộc nghiên cứu đáng chú ý ấy. Cửa sổ, rèm cửa, tấm thảm, chiếc ghế, sợi dây - lần lượt từng thứ một được anh xem xét tỉ mỉ và suy ngẫm kỹ càng. Thi thể của vị nam tước bất hạnh đã được di dời, nhưng mọi thứ khác vẫn còn nguyên như lúc chúng tôi nhìn thấy vào buổi sáng. Cuối cùng, trước sự kinh ngạc của tôi, Holmes trèo hẳn lên chiếc lò sưởi đồ sộ. Cao phía trên đầu anh là mấy inch dây đỏ vẫn còn gắn vào sợi dây kim loại. Suốt một lúc lâu anh ngước nhìn lên đó, rồi trong một nỗ lực để đến gần nó hơn, anh tì đầu gối lên một cái giá đỡ bằng gỗ trên tường. Nhờ thế, bàn tay anh chỉ còn cách đầu dây bị đứt vài inch, nhưng dường như chính cái giá đỡ chứ không phải sợi dây mới là thứ thu hút sự chú ý của anh. Cuối cùng, anh nhảy xuống với một tiếng kêu hài lòng.

“Mọi sự ổn thỏa cả rồi, Watson à,” anh nói. “Chúng ta đã nắm được vụ án của mình rồi - một trong những vụ đáng chú ý nhất trong bộ sưu tập của chúng ta. Nhưng, trời ơi, tôi đã chậm hiểu biết bao, suýt nữa thì phạm phải sai lầm nghiêm trọng nhất trong đời mình! Giờ đây, tôi nghĩ, chỉ còn thiếu vài mắt xích nữa thôi, chuỗi suy luận của tôi gần như đã hoàn chỉnh.”

“Anh đã tìm ra thủ phạm rồi sao?”

“Thủ phạm thôi ư, Watson, chỉ một mà thôi. Nhưng là một kẻ rất đáng gờm đấy. Khỏe như sư tử - bằng chứng là cú đánh đã bẻ cong cây que cời lửa đằng kia! Cao sáu foot ba, nhanh nhẹn như sóc, khéo léo với những ngón tay, và cuối cùng, cực kỳ nhanh trí nữa, vì toàn bộ câu chuyện tài tình này đều do chính hắn bịa ra. Phải đấy, Watson, chúng ta đã chạm trán với tác phẩm của một cá nhân hết sức đặc biệt rồi. Vậy mà, ở ngay sợi dây chuông kia, hắn lại để lộ cho chúng ta một manh mối mà lẽ ra không được phép để ta nghi ngờ thêm gì nữa.”

“Manh mối ở đâu cơ chứ?”

“Này nhé, nếu anh kéo đứt một sợi dây chuông, Watson, anh sẽ nghĩ nó đứt ở chỗ nào? Chắc chắn là ngay tại chỗ nó gắn vào sợi dây kim loại rồi. Vậy tại sao nó lại đứt ở vị trí cách đỉnh ba inch, như sợi dây này đã làm?”

“Vì nó bị sờn ở chỗ đó chăng?”

“Chính xác. Đầu dây ở phía bên này, cái chúng ta có thể xem xét, thì bị sờn. Hắn đủ khôn khéo để dùng dao làm sờn nó. Nhưng đầu dây phía bên kia thì không sờn chút nào. Anh không thể quan sát thấy điều đó từ đây, nhưng nếu anh đứng trên tấm lò sưởi, anh sẽ thấy nó bị cắt một cách sạch sẽ, không hề có bất kỳ dấu vết sờn rách nào. Anh có thể tái hiện những gì đã xảy ra không? Người đàn ông này cần sợi dây. Hắn sẽ không giật đứt nó đâu, vì sợ gây báo động bằng cách làm rung chuông. Hắn đã làm gì? Hắn nhảy lên tấm lò sưởi, không với tới được, bèn tì đầu gối lên cái giá đỡ - anh sẽ thấy vết lõm trong lớp bụi đấy - và nhờ thế mới đưa được dao lên cắt đứt sợi dây. Tôi không thể với tới chỗ đó trong vòng ít nhất là ba inch - từ đó tôi suy ra hắn cao hơn tôi ít nhất ba inch. Lại nhìn vết này trên mặt ghế gỗ sồi kia xem! Đó là cái gì?”

“Máu.”

“Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là máu. Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ để gạt câu chuyện của quý bà ra ngoài vòng pháp luật rồi. Nếu bà ấy đang ngồi trên ghế vào lúc tội ác xảy ra, thì làm sao lại có vết máu ấy được? Không, không đâu, bà ấy được đặt vào ghế sau cái chết của chồng mình. Tôi dám cá là chiếc váy đen kia có một vết máu tương ứng với vết này. Chúng ta chưa gặp phải trận Waterloo2 của mình đâu, Watson à, nhưng đây chính là trận Marengo3 của chúng ta đấy - vì nó bắt đầu bằng thất bại và kết thúc bằng chiến thắng. Giờ thì tôi muốn trao đổi đôi lời với bà vú Theresa. Chúng ta phải hết sức thận trọng một lát, nếu muốn có được thông tin mình cần.”

Quả là một nhân vật thú vị, người vú nuôi người Úc nghiêm nghị này - ít nói, đa nghi và cộc cằn. Phải mất một lúc thì phong thái dễ chịu cùng cách chấp nhận thẳng thắn mọi điều bà ta nói của Holmes mới làm tan lớp băng giá ấy, khiến bà ta trở nên thân thiện hơn đôi chút. Bà ta chẳng hề cố che giấu lòng căm ghét dành cho người chủ quá cố.

“Vâng, thưa ngài, đúng là ông ta đã ném bình rượu vào tôi đấy. Tôi nghe thấy ông ta gọi cô chủ tôi bằng một cái tên bẩn thỉu, và tôi bảo với ông ta rằng ông ta sẽ chẳng dám ăn nói như thế nếu anh trai cô ấy có mặt ở đây. Chính lúc đó ông ta ném nó vào tôi. Có ném cả tá cũng được, miễn là đừng có động đến con chim non yêu quý của tôi thôi. Ông ta luôn ngược đãi cô ấy, mà cô ấy thì quá kiêu hãnh để than vãn. Cô ấy thậm chí còn chẳng kể cho tôi nghe tất cả những gì ông ta đã làm với cô ấy nữa. Cô ấy chưa bao giờ kể cho tôi về những vết bầm trên cánh tay cô ấy mà các ngài đã thấy sáng nay, nhưng tôi biết rất rõ rằng chúng đến từ một cú đâm bằng ghim mũ. Con quỷ xảo quyệt - xin Chúa tha thứ cho tôi vì đã nói về ông ta như thế, giờ thì ông ta đã chết rồi! Nhưng ông ta đúng là một con quỷ, nếu như quỷ từng bước đi trên mặt đất này. Ông ta ngọt như mía lúc chúng tôi mới gặp ông ta - mới chỉ mười tám tháng trước thôi, thế mà cả hai chúng tôi đều có cảm giác như đã mười tám năm rồi vậy. Cô ấy vừa mới đặt chân đến London. Vâng, đó là chuyến đi đầu tiên của cô ấy đấy - cô ấy chưa từng rời khỏi nhà trước đó. Ông ta đã chinh phục cô ấy bằng tước vị, bằng tiền bạc, và bằng những cách cư xử giả dối kiểu London của ông ta. Nếu cô ấy đã phạm sai lầm, thì cô ấy cũng đã phải trả giá cho nó rồi - nếu như từng có người phụ nữ nào phải trả giá. Chúng tôi gặp ông ta vào tháng mấy ư? À, tôi nói cho ngài biết nhé, đó là ngay sau khi chúng tôi đến. Chúng tôi đến vào tháng Sáu, và đó là tháng Bảy. Họ cưới vào tháng Giêng năm ngoái. Vâng, giờ thì cô ấy lại đang ở dưới phòng khách buổi sáng kia, và tôi không nghi ngờ gì là cô ấy sẽ gặp ngài. Nhưng ngài đừng có đòi hỏi quá nhiều ở cô ấy đấy, vì cô ấy đã phải trải qua tất cả những gì mà máu thịt con người có thể gánh chịu rồi.”

Phu nhân Brackenstall đang tựa mình trên cùng chiếc ghế dài, nhưng trông tươi tỉnh hơn trước. Người hầu gái đã theo chúng tôi vào phòng, và lại bắt đầu chườm vết bầm trên trán cô chủ mình.

“Tôi hy vọng,” quý bà cất tiếng, “rằng các ngài không đến đây để tra hỏi tôi thêm nữa chứ?”

“Không đâu,” Holmes đáp, bằng chất giọng nhẹ nhàng nhất của mình. “Tôi sẽ không gây thêm bất kỳ phiền toái không cần thiết nào cho phu nhân nữa. Toàn bộ mong muốn của tôi chỉ là khiến mọi việc trở nên dễ dàng hơn cho phu nhân mà thôi, vì tôi tin chắc rằng phu nhân là một người phụ nữ đã phải chịu đựng quá nhiều thử thách. Nếu phu nhân xem tôi như một người bạn và tin tưởng ở tôi, phu nhân sẽ thấy rằng tôi xứng đáng với lòng tin ấy.”

“Ngài muốn tôi phải làm gì đây?”

“Hãy kể cho tôi nghe sự thật.”

“Ngài Holmes!”

“Không, không đâu, thưa Phu nhân Brackenstall - vô ích thôi. Có lẽ phu nhân đã từng nghe về chút danh tiếng nhỏ nhoi nào đó mà tôi có được. Tôi xin đặt cược tất cả vào sự thật rằng câu chuyện của phu nhân là hoàn toàn bịa đặt.”

Cả cô chủ lẫn người hầu đều nhìn Holmes với khuôn mặt tái nhợt, đôi mắt đầy hoảng sợ.

“Ngài đúng là một kẻ trơ tráo!” Theresa kêu lên. “Ý ngài là cô chủ tôi đã nói dối đấy ư?”

Holmes đứng dậy khỏi ghế.

“Phu nhân không có gì để nói với tôi nữa sao?”

“Tôi đã kể cho ngài tất cả mọi chuyện rồi.”

“Xin phu nhân hãy suy nghĩ lại một lần nữa, thưa Phu nhân Brackenstall. Thẳng thắn chẳng phải vẫn tốt hơn hay sao?”

Trong một thoáng, trên khuôn mặt xinh đẹp của bà thoáng hiện vẻ do dự. Rồi một ý nghĩ mạnh mẽ mới nào đó ập đến, khiến nó cứng đờ lại như một chiếc mặt nạ.

“Tôi đã kể cho ngài tất cả những gì tôi biết rồi.”

Holmes cầm mũ lên và nhún vai. “Tôi rất lấy làm tiếc,” anh nói. Và không thêm một lời nào nữa, chúng tôi rời khỏi căn phòng, rồi rời khỏi ngôi nhà. Trong khuôn viên điền trang có một cái ao. Anh bạn tôi dẫn lối ra đó. Mặt ao đã đóng băng, nhưng có một lỗ thủng duy nhất được chừa lại, để cho con thiên nga đơn độc tiện bề lui tới. Holmes chăm chú nhìn vào đó, rồi tiếp tục bước ra phía cổng khu điền trang. Đến nơi, anh viết vội một mảnh giấy ngắn gửi cho Stanley Hopkins rồi để lại cho người gác cổng.

“Có thể trúng, mà cũng có thể trượt, nhưng chúng ta buộc phải làm một điều gì đó cho anh bạn Hopkins, ít ra cũng là để biện minh cho chuyến viếng thăm lần thứ hai này thôi,” anh nói. “Tôi sẽ chưa cho anh ta biết hết mọi chuyện đâu. Tôi nghĩ địa điểm hoạt động tiếp theo của chúng ta phải là văn phòng hàng hải của tuyến Adelaide-Southampton, ở cuối đường Pall Mall, nếu tôi nhớ không lầm. Còn có một tuyến tàu thứ hai nối Nam Úc với Anh nữa, nhưng chúng ta sẽ giăng lưới ở chỗ lớn hơn trước đã.”

Tấm danh thiếp của Holmes được chuyển vào cho người quản lý, và ngay lập tức chúng tôi nhận được sự chú ý cần thiết. Chẳng mấy chốc anh đã thu thập được mọi thông tin mình cần. Vào tháng Sáu năm 1895, chỉ có duy nhất một con tàu của tuyến này cập cảng nhà. Đó là chiếc Rock of Gibraltar, con tàu lớn nhất và tốt nhất của họ. Kiểm tra danh sách hành khách cho thấy cô Fraser, từ Adelaide, cùng người hầu gái đã thực hiện chuyến đi trên con tàu đó. Hiện tại con tàu đang ở đâu đó phía nam Kênh đào Suez, trên đường đến Úc. Các sĩ quan của nó vẫn như hồi năm 1895, trừ một ngoại lệ duy nhất. Viên đại phó, Ngài Jack Crocker, đã được thăng chức thuyền trưởng và sẽ chỉ huy con tàu mới của họ, chiếc Bass Rock, khởi hành trong vòng hai ngày tới từ Southampton. Ông ta hiện sống ở Sydenham, nhưng rất có thể sẽ có mặt vào sáng hôm đó để nhận chỉ thị, nếu chúng tôi muốn chờ.

Không, Holmes không muốn gặp ông ta, nhưng lại rất muốn tìm hiểu thêm về lý lịch và tính cách của viên sĩ quan này.

Lý lịch của ông ta thật xuất sắc. Không một sĩ quan nào trong toàn hạm đội sánh kịp. Về tính cách, ông ta là người đáng tin cậy tuyệt đối khi làm nhiệm vụ, nhưng lại là một kẻ ngông cuồng, liều lĩnh khi rời khỏi boong tàu - nóng nảy, dễ bị kích động, song cũng trung thành, trung thực và tốt bụng. Đó là những nét chính trong thông tin mà Holmes mang theo khi rời khỏi văn phòng công ty Adelaide-Southampton. Từ đó, anh đánh xe đến Scotland Yard, nhưng thay vì bước vào, anh ngồi yên trong xe, đôi lông mày nhíu chặt, chìm sâu trong suy tư. Cuối cùng, anh cho xe vòng đến văn phòng điện tín Charing Cross, gửi đi một bức điện, rồi sau đó chúng tôi trở về phố Baker.

“Không, tôi không thể làm thế, Watson,” anh nói, khi chúng tôi trở lại căn phòng của mình. “Một khi lệnh bắt đã được ban hành, không gì trên đời có thể cứu được anh ta. Đã có một hoặc hai lần trong sự nghiệp, tôi cảm thấy mình đã gây ra nhiều tổn hại hơn bằng chính việc phát hiện ra tội phạm, so với những gì kẻ phạm tội từng gây ra. Giờ đây tôi đã học được sự thận trọng, và tôi thà đùa giỡn với luật pháp của nước Anh còn hơn là giày vò lương tâm của chính mình. Hãy tìm hiểu thêm đôi chút trước khi chúng ta hành động.”

Trước khi trời tối, chúng tôi có một vị khách - Thanh tra Stanley Hopkins. Mọi việc dường như chẳng suôn sẻ chút nào với anh ta.

“Tôi tin rằng ngài là một phù thủy, thưa Ngài Holmes. Quả thực đôi lúc tôi nghĩ ngài sở hữu những năng lực phi phàm. Giờ thì, làm sao quỷ thần mà ngài biết được số bạc bị đánh cắp nằm dưới đáy cái ao ấy?”

“Tôi không biết điều đó.”

“Nhưng ngài đã bảo tôi khám xét nó.”

“Vậy là anh đã vớt được nó?”

“Vâng, tôi đã vớt được.”

“Tôi rất mừng nếu điều đó đã giúp ích được cho anh.”

“Nhưng ngài đâu có giúp tôi. Ngài đã khiến vụ việc trở nên rắc rối hơn nhiều. Loại trộm nào lại đi lấy trộm đồ bạc rồi ném xuống cái ao gần nhất chứ?”

“Đó quả là một hành vi khá lập dị. Tôi chỉ đơn thuần dựa trên ý tưởng rằng nếu số bạc bị lấy đi bởi những kẻ không hề muốn nó - những kẻ chỉ lấy nó để ngụy trang, nếu có thể nói như vậy - thì đương nhiên chúng sẽ muốn tống khứ nó đi.”

“Nhưng tại sao một ý tưởng như thế lại nảy ra trong đầu ngài?”

“À, tôi cho rằng điều đó là khả dĩ. Khi chúng bước ra ngoài qua cửa sổ kiểu Pháp, có một cái ao với một lỗ nhỏ đầy cám dỗ trên mặt băng, ngay trước mũi chúng. Còn nơi nào giấu tốt hơn không?”

“À, một nơi cất giấu - thế thì hay hơn!” Stanley Hopkins kêu lên. “Vâng, vâng, giờ tôi đã thấy hết rồi! Lúc đó hãy còn sớm, người qua lại trên đường, chúng sợ bị bắt gặp mang theo số bạc, nên đã dìm nó xuống ao, định quay lại lấy khi tình hình yên ắng. Tuyệt vời, thưa Ngài Holmes - thế này hợp lý hơn ý tưởng ngụy trang của ngài nhiều.”

“Đúng vậy, anh đã có một giả thuyết đáng khâm phục rồi. Tôi không nghi ngờ gì rằng những ý tưởng của tôi có phần điên rồ, nhưng anh phải thừa nhận rằng chúng đã dẫn đến việc tìm ra số bạc.”

“Vâng, thưa ngài - vâng. Tất cả là nhờ ngài. Nhưng tôi đã gặp một trở ngại lớn.”

“Trở ngại ư?”

“Vâng, thưa Ngài Holmes. Băng đảng Randall đã bị bắt ở New York sáng nay.”

“Trời ơi, Hopkins! Điều đó chắc chắn khá bất lợi cho giả thuyết của anh rằng chính chúng đã gây ra vụ án mạng ở Kent đêm qua.”

“Chết tôi rồi, Ngài Holmes ạ - hoàn toàn chết tôi rồi. Dù sao thì cũng có những băng ba người khác ngoài bọn Randall, hoặc có thể là một băng mới mà cảnh sát chưa từng nghe đến.”

“Đúng vậy, hoàn toàn có thể. Sao, anh đi à?”

“Vâng, Ngài Holmes, tôi không thể nghỉ ngơi cho đến khi chạm tới đáy của vụ việc này. Tôi cho là ngài không có gợi ý nào cho tôi chứ?”

“Tôi đã cho anh một gợi ý rồi.”

“Gợi ý nào?”

“À, tôi đã gợi ý về một sự ngụy trang.”

“Nhưng tại sao, Ngài Holmes, tại sao?”

“À, đó chính là câu hỏi đấy, dĩ nhiên rồi. Nhưng tôi đề nghị anh hãy suy nghĩ về ý tưởng đó. Biết đâu anh sẽ thấy có điều gì đó trong ý tưởng ấy. Anh không ở lại ăn tối sao? Thôi, tạm biệt, và cho chúng tôi biết anh tiến triển thế nào nhé.”

Bữa tối đã kết thúc, và bàn ăn đã được dọn dẹp trước khi Holmes nhắc lại chuyện này. Anh đã châm tẩu thuốc và gác đôi chân đi dép lên trước ngọn lửa reo vui trong lò sưởi. Đột nhiên anh liếc nhìn đồng hồ.

“Tôi mong đợi những diễn biến mới, Watson.”

“Khi nào?”

“Ngay bây giờ - trong vòng vài phút nữa. Tôi dám chắc anh nghĩ tôi đã cư xử khá tệ với Stanley Hopkins vừa nãy, phải không?”

“Tôi tin vào phán đoán của anh.”

“Một câu trả lời rất hợp lý, Watson. Anh phải nhìn nhận nó theo cách này: những gì tôi biết là không chính thức, còn những gì anh ta biết là chính thức. Tôi có quyền phán xét riêng tư, nhưng anh ta thì không. Anh ta phải tiết lộ tất cả, nếu không anh ta sẽ là kẻ phản bội lại nhiệm vụ của mình. Trong một vụ việc chưa có gì chắc chắn, tôi sẽ không đặt anh ta vào một vị trí khó xử như vậy, và vì thế tôi giữ lại thông tin của mình cho đến khi đầu óc tôi hoàn toàn sáng tỏ về vấn đề này.”

“Nhưng khi nào thì điều đó xảy ra?”

“Đã đến lúc rồi. Anh sẽ được chứng kiến màn cuối của một vở kịch nhỏ đặc biệt.”

Có tiếng động trên cầu thang, và cánh cửa phòng chúng tôi mở ra đón lấy một trong những mẫu đàn ông tuyệt vời nhất từng bước qua ngưỡng cửa ấy. Anh ta là một thanh niên cao lớn vượt trội, với bộ ria mép vàng óng, đôi mắt xanh thẳm, làn da rám nắng của miền nhiệt đới, và bước chân đầy sức bật, toát lên một thân hình vừa cường tráng vừa nhanh nhẹn lạ thường. Anh ta khép cửa lại sau lưng, rồi đứng đó với hai nắm tay siết chặt và lồng ngực phập phồng, cố nén một nỗi xúc cảm đang trào dâng mãnh liệt.

“Mời ngồi, Thuyền trưởng Crocker. Anh đã nhận được điện tín của tôi chứ?”

Vị khách của chúng tôi ngồi phịch xuống ghế bành và nhìn từ người này sang người kia với đôi mắt đầy dò hỏi.

“Tôi đã nhận được điện tín của ngài, và tôi đến đúng vào giờ ngài hẹn. Tôi nghe nói ngài đã ghé qua văn phòng. Chẳng thể nào thoát khỏi tay ngài được rồi. Hãy cho tôi nghe điều tồi tệ nhất đi. Ngài định làm gì với tôi đây? Bắt tôi ư? Nói thẳng ra đi, con người kia! Ngài không thể ngồi đó mà đùa giỡn với tôi như mèo vờn chuột mãi thế được.”

“Cho anh ta một điếu xì gà,” Holmes nói. “Hãy cắn vào điếu này đi, Thuyền trưởng Crocker, và đừng để thần kinh làm chủ mình. Tôi sẽ không ngồi đây hút thuốc cùng anh nếu tôi nghĩ anh chỉ là một tên tội phạm tầm thường đâu, anh có thể yên tâm về điều đó. Hãy thẳng thắn với tôi và chúng ta có thể làm nên điều gì đó tốt đẹp. Còn nếu định chơi trò với tôi, thì tôi sẽ nghiền nát anh.”

“Ngài muốn tôi làm gì?”

“Hãy cho tôi một bản tường trình trung thực về tất cả những gì đã xảy ra tại Abbey Grange đêm qua - một bản tường trình trung thực, nhớ nhé, không thêm không bớt. Tôi đã biết quá nhiều rồi, nếu anh đi chệch dù chỉ một inch, tôi sẽ thổi chiếc còi cảnh sát này từ cửa sổ của tôi và vụ việc sẽ vĩnh viễn thoát khỏi tầm tay tôi.”

Người thủy thủ trầm ngâm suy nghĩ trong giây lát. Rồi anh ta đập bàn tay to lớn rám nắng xuống đùi mình.

“Tôi sẽ liều,” anh ta kêu lên. “Tôi tin ngài là người biết giữ lời, và là một người tử tế, và tôi sẽ kể cho ngài toàn bộ câu chuyện. Nhưng có một điều tôi muốn nói trước. Về phần tôi, tôi không hối tiếc gì cả và tôi chẳng sợ gì cả, và tôi sẽ làm lại tất cả và tự hào về điều đó. Quỷ tha ma bắt cái con thú ấy, nếu hắn có chín mạng như mèo, hắn cũng sẽ mắc nợ tôi tất cả! Nhưng còn quý bà, Mary - Mary Fraser - vì tôi sẽ không bao giờ gọi nàng bằng cái tên đáng nguyền rủa ấy nữa. Khi tôi nghĩ đến chuyện khiến nàng gặp rắc rối, tôi, kẻ sẵn sàng hy sinh mạng sống chỉ để mang lại một nụ cười cho gương mặt thân yêu của nàng, chính điều ấy khiến tâm hồn tôi tan chảy thành nước mất thôi. Nhưng mà - nhưng mà - tôi còn có thể làm gì ít hơn thế được đây? Tôi sẽ kể cho các quý ông câu chuyện của tôi, và rồi tôi sẽ hỏi các ông, với tư cách đàn ông với đàn ông, liệu tôi còn có thể làm gì ít hơn thế nữa?

“Tôi phải quay ngược lại một chút. Các ông dường như biết hết mọi chuyện, nên tôi cho rằng các ông cũng biết tôi đã gặp nàng khi nàng là hành khách còn tôi là sĩ quan nhất của tàu Rock of Gibraltar. Từ ngày đầu tiên tôi gặp nàng, nàng đã là người phụ nữ duy nhất trên đời đối với tôi. Mỗi ngày trôi qua trong chuyến đi ấy, tôi lại càng yêu nàng nhiều hơn, và biết bao lần kể từ đó tôi đã quỳ xuống trong bóng tối của phiên trực đêm và hôn lên boong con tàu ấy chỉ vì tôi biết đôi chân thân yêu của nàng đã từng bước trên đó. Nàng chưa bao giờ đính hôn với tôi. Nàng đối xử với tôi công bằng như bất kỳ người phụ nữ nào từng đối xử với đàn ông. Tôi không có gì để phàn nàn. Tất cả chỉ là tình yêu từ phía tôi, và tất cả chỉ là tình đồng đội tốt đẹp và tình bạn từ phía nàng. Khi chúng tôi chia tay, nàng là một người phụ nữ tự do, nhưng tôi thì không bao giờ có thể trở lại là một người đàn ông tự do được nữa.

“Lần sau khi tôi từ biển trở về, tôi nghe tin nàng kết hôn. Ừ, tại sao nàng lại không được lấy người nàng thích chứ? Tước vị và tiền bạc - ai có thể xứng với những thứ ấy hơn nàng cơ chứ? Nàng sinh ra là để dành cho tất cả những gì đẹp đẽ và thanh nhã. Tôi không hề đau buồn về cuộc hôn nhân của nàng. Tôi không phải là loại chó săn ích kỷ đến thế đâu. Tôi chỉ vui mừng vì vận may đã mỉm cười với nàng, và rằng nàng đã không phung phí đời mình cho một gã thủy thủ không xu dính túi. Đó mới là cách tôi yêu Mary Fraser.

“Ừ, tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ gặp lại nàng, nhưng chuyến đi vừa rồi tôi được thăng chức, và con tàu mới thì vẫn chưa hạ thủy, nên tôi phải chờ vài tháng với gia đình ở Sydenham. Một ngày nọ, trên một con đường làng, tôi tình cờ gặp Theresa Wright, người hầu gái cũ của nàng. Bà ấy kể cho tôi nghe mọi chuyện - về nàng, về hắn, về tất cả. Tôi nói cho các ông biết, thưa các quý ông, những điều ấy suýt khiến tôi phát điên lên được. Con chó săn say rượu ấy, rằng hắn dám ra tay đánh đập nàng, người mà hắn còn không xứng đáng được liếm giày! Tôi gặp lại Theresa. Rồi tôi gặp chính Mary - và gặp lại nàng thêm lần nữa. Rồi sau đó nàng không chịu gặp tôi nữa. Nhưng cách đây mấy hôm, tôi nhận được thông báo rằng mình sẽ khởi hành trong vòng một tuần, và tôi quyết định rằng mình nhất định phải gặp nàng một lần cuối cùng trước khi đi. Theresa luôn là bạn của tôi, vì bà ấy yêu quý Mary và căm ghét con quỷ này gần như chính tôi vậy. Từ bà ấy, tôi biết được cách bố trí của ngôi nhà. Mary thường thức đọc sách trong căn phòng nhỏ của nàng ở tầng dưới. Tôi lẻn vòng ra đó đêm qua và cào nhẹ vào cửa sổ. Lúc đầu nàng không chịu mở cho tôi, nhưng trong thâm tâm tôi biết rằng giờ đây nàng cũng yêu tôi, và nàng không nỡ để tôi đứng ngoài trời đêm giá lạnh. Nàng thì thầm bảo tôi đi vòng ra cửa sổ lớn phía trước, và tôi thấy nó đã mở sẵn trước mặt tôi, để tôi bước vào phòng ăn. Một lần nữa tôi lại nghe từ chính môi nàng những điều khiến máu tôi sôi lên, và một lần nữa tôi lại nguyền rủa con thú đã ngược đãi người phụ nữ tôi yêu. Này, thưa các quý ông, tôi đang đứng cùng nàng ngay bên trong khung cửa sổ, hoàn toàn vô tội, có Chúa làm chứng cho tôi, thì hắn xông vào phòng như một kẻ điên, gọi nàng bằng cái tên hèn hạ nhất mà một người đàn ông có thể thốt ra với một người phụ nữ, rồi quất thẳng vào mặt nàng bằng cây gậy hắn cầm trong tay. Tôi đã lao đến chộp lấy cây que cời lửa, và đó là một cuộc chiến công bằng giữa hai chúng tôi. Nhìn đây, trên cánh tay tôi này, chỗ cú đánh đầu tiên của hắn giáng xuống. Rồi đến lượt tôi, và tôi đã đâm xuyên qua hắn như thể hắn chỉ là một quả bí ngô thối. Các ông có nghĩ tôi hối tiếc không? Không hề! Đó là mạng hắn hoặc mạng tôi, nhưng hơn thế nữa, đó là mạng hắn hoặc mạng nàng, vì làm sao tôi có thể bỏ nàng lại trong tay kẻ điên này được? Đó là cách tôi đã giết hắn. Tôi đã sai ư? Thế thì, bất kỳ ai trong số các quý ông ở đây, sẽ làm gì nếu ở vào vị trí của tôi?

“Nàng đã hét lên khi hắn đánh nàng, và điều đó khiến bà lão Theresa từ phòng trên chạy xuống. Có một chai rượu trên tủ bát đĩa, tôi mở nó ra và rót một ít vào môi Mary, vì nàng gần như đã chết lặng vì cú sốc. Rồi chính tôi cũng uống một ngụm. Theresa bình tĩnh như băng, và kế hoạch của bà ấy cũng đâu kém gì của tôi. Chúng tôi phải làm cho mọi chuyện trông giống như trộm đã gây ra. Theresa liên tục nhắc lại câu chuyện của chúng tôi cho cô chủ, trong khi tôi trèo lên và cắt sợi dây chuông. Rồi tôi trói nàng vào ghế, và làm sờn đầu dây để trông thật tự nhiên, nếu không người ta sẽ thắc mắc làm sao một tên trộm lại có thể trèo lên tận đó mà cắt dây. Sau đó tôi thu gom một ít đĩa và bình bạc, để thực hiện ý tưởng về một vụ trộm, và để chúng ở đó, với lệnh báo động khi tôi đã có mười lăm phút khởi hành. Tôi thả toàn bộ số bạc xuống ao, rồi quay về Sydenham, cảm thấy rằng lần đầu tiên trong đời mình, tôi đã làm được một việc tử tế thực sự trong đêm. Và đó là sự thật và toàn bộ sự thật, thưa Ngài Holmes, ngay cả khi điều đó khiến tôi phải trả giá bằng chính cái cổ của mình.”

Holmes im lặng hút thuốc một lúc. Rồi anh bước qua phòng, và bắt tay vị khách của chúng tôi.

“Đó chính là những gì tôi nghĩ,” anh nói. “Tôi biết rằng từng lời anh nói đều là sự thật, vì anh hầu như không nói điều gì mà tôi chưa biết. Không ai ngoại trừ một diễn viên nhào lộn hoặc một thủy thủ mới có thể trèo lên sợi dây chuông đó từ giá đỡ, và cũng không ai ngoại trừ một thủy thủ mới có thể thắt được những nút dây mà sợi dây đã được buộc vào ghế. Người phụ nữ ấy chỉ một lần duy nhất tiếp xúc với thủy thủ, đó là trong chuyến đi của nàng, và đó hẳn phải là một người cùng tầng lớp với nàng, vì nàng đã cố hết sức để che chở cho anh ta, và qua đó cho thấy nàng yêu anh ta. Anh thấy đấy, thật dễ dàng cho tôi để tìm ra anh một khi tôi đã khởi đầu đúng hướng.”

“Tôi cứ tưởng cảnh sát không bao giờ có thể nhìn thấu được mưu mẹo của chúng tôi.”

“Và cảnh sát đã không nhìn thấu, và cũng sẽ không, theo như tôi tin. Giờ thì, nghe này, Thuyền trưởng Crocker, đây là một vấn đề hết sức nghiêm trọng, dù tôi sẵn lòng thừa nhận rằng anh đã hành động dưới sự khiêu khích cực độ nhất mà bất kỳ người đàn ông nào cũng có thể phải chịu đựng. Tôi không chắc rằng hành động của anh để tự vệ cho mạng sống của mình sẽ không được tuyên bố là chính đáng. Tuy nhiên, đó là việc của bồi thẩm đoàn Anh quốc quyết định. Trong lúc này, tôi dành cho anh nhiều thiện cảm đến mức, nếu anh chọn biến mất trong vòng hai mươi bốn giờ tới, tôi hứa với anh rằng sẽ không ai cản trở anh.”

“Và rồi mọi chuyện sẽ bị phơi bày ra sao?”

“Chắc chắn là nó sẽ bị phơi bày ra.”

Người thủy thủ đỏ bừng mặt vì tức giận.

“Đó là loại đề nghị gì với một người đàn ông chứ? Tôi biết đủ luật để hiểu rằng Mary sẽ bị coi là đồng phạm. Ngài nghĩ tôi sẽ bỏ mặc nàng một mình gánh chịu mọi hậu quả trong khi tôi lẻn trốn sao? Không, thưa ngài, hãy để họ làm điều tồi tệ nhất với tôi, nhưng vì Chúa, Ngài Holmes, hãy tìm cách nào đó để giữ cho Mary tội nghiệp của tôi khỏi phải ra tòa.”

Holmes lần thứ hai chìa tay ra cho người thủy thủ.

“Tôi chỉ đang thử anh thôi, và lần nào anh cũng chứng tỏ được phẩm chất của mình. Được rồi, đó là một trách nhiệm lớn lao mà tôi tự gánh lấy, nhưng tôi đã cho Hopkins một gợi ý tuyệt vời và nếu anh ta không thể tận dụng nó thì tôi cũng không thể làm gì hơn. Nghe này, Thuyền trưởng Crocker, chúng ta sẽ làm việc này theo đúng thủ tục pháp luật. Anh là tù nhân. Watson, anh là bồi thẩm đoàn Anh quốc, và tôi chưa từng gặp ai phù hợp hơn để đại diện cho một bồi thẩm đoàn. Tôi là quan tòa. Giờ thì, quý ông bồi thẩm đoàn, anh đã nghe bằng chứng rồi. Anh tuyên bố tù nhân có tội hay vô tội?”

“Vô tội, thưa ngài,” tôi nói.

Vox populi, vox Dei4. Anh được trắng án, Thuyền trưởng Crocker. Chừng nào luật pháp chưa tìm ra một nạn nhân nào khác thì anh vẫn an toàn đối với tôi. Hãy quay trở lại với người phụ nữ này trong một năm nữa, và mong rằng tương lai của nàng và anh sẽ biện minh cho phán quyết mà chúng tôi đã tuyên tối nay!”



  1. Phong cách kiến trúc cổ điển châu Âu được đặt theo tên kiến trúc sư người Ý Andrea Palladio (thế kỷ 16), đặc trưng bởi sự đối xứng chặt chẽ và các hàng cột lớn mô phỏng đền đài Hy Lạp - La Mã cổ đại. 

  2. Trận chiến diễn ra năm 1815, nơi Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte nhận thất bại thảm hại cuối cùng. Trong văn hóa phương Tây, 'Waterloo' trở thành danh từ chung chỉ sự thất bại nặng nề và không thể cứu vãn. 

  3. Trận chiến năm 1800 của Hoàng đế Pháp Napoleon. Quân Pháp ban đầu bị áp đảo và tưởng chừng thất bại, nhưng nhờ viện binh đến kịp thời đã lật ngược thế cờ và giành chiến thắng ngoạn mục. 

  4. Thành ngữ tiếng Latinh có nghĩa là 'Ý dân là ý trời' (hoặc 'Tiếng nói của nhân dân là tiếng nói của Thượng đế').