‘DON QUIXOTE’

Trước khi Cervantes qua đời, Phần Một của tác phẩm "Don Quixote" đã ra mắt đến chín ấn bản, với tổng số lượng ước tính lên tới ba mươi ngàn cuốn theo lời chính tác giả. Ngay năm sau khi ông mất, ấn bản thứ mười tiếp tục được in tại Barcelona. Số lượng sách khổng lồ ấy dĩ nhiên đã đáp ứng đủ nhu cầu độc giả trong một thời gian, nhưng đến năm 1634, mọi bản in dường như đã bán sạch. Kể từ đó cho đến tận ngày nay, dòng chảy của các ấn bản mới vẫn không ngừng tuôn trào, đều đặn và mạnh mẽ. Thậm chí, sức hút mãnh liệt của cuốn sách ngay từ những ngày đầu ra mắt còn được minh chứng rõ nét hơn qua các bản dịch. Chỉ trong vòng bảy năm sau khi hoàn thành, tác phẩm đã được chuyển ngữ sang bốn ngôn ngữ lớn nhất châu Âu. Thực tế, nếu không tính Kinh Thánh, hiếm có cuốn sách nào lại sở hữu độ phủ sóng rộng rãi như "Don Quixote". Dù "Imitatio Christi" có thể sở hữu số lượng ngôn ngữ chuyển dịch tương đương, và "Robinson Crusoe" hay "Vicar of Wakefield" cũng xấp xỉ theo sau, nhưng nếu xét đến sự đa dạng của cả bản dịch lẫn ấn bản, thì "Don Quixote" đã vươn lên bỏ xa tất cả.

Điều đáng chú ý hơn cả chính là bản chất của sự phổ biến này. "Don Quixote" đã cắm rễ sâu vào cả những cộng đồng độc giả vốn chỉ có khái niệm vô cùng mơ hồ về các hiệp sĩ lang thang. Những người chưa từng cầm trên tay hay nghe danh bất kỳ cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ nào, những người vốn khó lòng nắm bắt được nét hài hước đằng sau những lời giễu nhại hay đồng cảm với dụng ý của tác giả, lại đón nhận tác phẩm một cách tự nhiên nhất. Thêm một sự thật đầy thú vị: cuốn sách mang tính quốc tế bậc nhất thế giới này lại sở hữu bản sắc dân tộc vô cùng đậm đà. "Manon Lescaut" không thể toát lên chất Pháp hơn, "Tom Jones" không thể mang đậm hồn cốt Anh hơn, và "Rob Roy" không thể mang hơi thở Scotland hơn cái cách mà "Don Quixote" phô diễn chất Tây Ban Nha. Mọi thứ từ tính cách, tư tưởng, cảm xúc cho đến lăng kính văn hóa địa phương đều hiển hiện rõ nét. Vậy đâu là bí ẩn đằng sau danh tiếng vô song này, một danh tiếng cứ thế lớn dần lên theo năm tháng suốt gần ba thế kỷ qua? Không còn nghi ngờ gì nữa, lời giải thích hợp lý nhất là trong kho tàng sách của nhân loại, "Don Quixote" chính là tác phẩm mang tính đại chúng nhất. Cuốn sách luôn chứa đựng những điều đặc biệt dành cho mọi tầng lớp độc giả, dù già hay trẻ, uyên bác hay bình dân, cao sang hay thấp hèn. Đúng như Cervantes từng bộc bạch với một niềm tự hào khó giấu: "Nó được mọi tầng lớp lật giở, đọc và thuộc lòng; trẻ con thì lật trang sách, thanh niên thì đọc, người trưởng thành thì thấu hiểu, còn người già thì ngợi khen."

Thế nhưng, sẽ là vô nghĩa nếu cố phủ nhận một sự thật: yếu tố chính giữ chân công chúng lại nằm ở mạch ngầm trào phúng xuyên suốt tác phẩm. Dẫu cuốn sách ngập tràn sự thông thái, nét hài hước duyên dáng, sức sáng tạo dồi dào hay sự thấu hiểu sâu sắc bản chất con người, thì điểm thu hút lớn nhất ban đầu lại là những tình tiết dở khóc dở cười. Các trận chiến oai hùng với bầy cừu hay những bầu rượu, chiếc mũ sắt huyền thoại của Mambrino, phương thuốc thần kỳ của Fierabras, cảnh Don Quixote bị cối xay gió quật ngã nhào, chuyện Sancho bị tung lên không trung bằng một tấm chăn, cùng vô số những tai bay vạ gió giáng xuống đầu hai thầy trò đã tạo nên một sức hút khó cưỡng. Ngay cả trong thời đại ngày nay, chúng vẫn là thỏi nam châm thu hút phần đông độc giả. Rõ ràng, ở Tây Ban Nha, trong suốt một thời gian dài, người ta chỉ đơn thuần coi "Don Quixote" là một cuốn truyện kỳ quặc và nực cười. Một tác phẩm giải trí đầy rẫy những tình huống phi lý, không đáng để bận tâm hay suy ngẫm sâu xa. Mọi ấn bản xuất hiện tại Tây Ban Nha từ năm 1637 cho đến năm 1771, trước khi thợ in danh tiếng Ibarra bắt tay vào việc, đều chỉ là những sản phẩm mang tính thương mại thuần túy. Chúng bị in ấn một cách cẩu thả trên những trang giấy rẻ tiền, đóng xén sơ sài y hệt những cuốn sách mỏng bán dạo cho tầng lớp bình dân. Hầu hết những ấn bản này còn bị chắp vá bằng vô số hình minh họa thô kệch cùng những phần thêm thắt rẻ tiền từ phía nhà xuất bản.

Nước Anh xứng đáng được ghi công là quốc gia đầu tiên nhận ra rằng "Don Quixote" cần được trân trọng hơn thế. Ấn bản London năm 1738, thường được vinh danh là ấn bản của Lord Carteret bởi ông chính là người khởi xướng, không chỉ dừng lại ở một édition de luxe (ấn bản cao cấp). Ấn bản này đã khoác lên "Don Quixote" một hình thức thật sự xứng tầm, từ chất liệu giấy cho đến những nét chữ tinh tế. Dù các bản khắc kẽm trang trí chưa thực sự xuất sắc trong vai trò minh họa, nhưng ít nhất chúng cũng chứa đựng thiện ý và được thực hiện một cách hết sức chỉn chu. Hơn thế nữa, ấn bản London còn nỗ lực hướng tới sự chuẩn xác tuyệt đối của văn bản - một khía cạnh mà ngoài các biên tập viên của ấn bản Valencia và Brussels, chưa từng có ai mảy may đoái hoài. Đối với một nỗ lực tiên phong, đó là một thành công đáng nể. Dù vẫn còn vài điểm chỉnh lý chưa thật sự thỏa đáng, nhưng phần lớn những sửa đổi này về sau đã trở thành khuôn mẫu để các biên tập viên thế hệ sau tiếp tục kế thừa và áp dụng.

Chính lòng nhiệt thành của giới xuất bản, các biên tập viên cùng những nhà chú giải đã tạo nên một bước ngoặt đáng kinh ngạc trong cách công chúng nhìn nhận "Don Quixote". Rất đông những người hâm mộ bắt đầu cảm thấy ngượng ngùng khi trót cười cợt tác phẩm. Việc coi đây là một cuốn sách hài hước dường như đã trở thành một tội lỗi. Dù người ta không gạt bỏ hoàn toàn yếu tố hài hước, nhưng dưới một lăng kính mới, sự hài hước ấy chỉ còn được xem là một nét điểm xuyết phụ trợ, một món trang sức điểm tô. Nó đơn thuần đóng vai trò như một bức bình phong, một lớp vỏ bọc hoàn hảo để Cervantes mặc sức phô diễn những triết lý thâm sâu, những lời châm biếm cay nghiệt, hay bất cứ ý niệm nào mà ông muốn truyền tải. Dẫu những ý kiến xoay quanh ẩn ý thực sự của Cervantes vẫn còn nhiều tranh cãi, tất cả đều chung một nhận định: mục tiêu mà ông nhắm đến tuyệt nhiên không phải là những cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ. Mặc cho tác giả từng nhấn mạnh trong lời tựa Phần Một, cũng như trong dòng kết của Phần Hai, rằng ông chẳng có ý đồ nào khác ngoài việc lật tẩy sự huyễn hoặc của những cuốn sách hiệp sĩ; thì đối với giới phê bình cao cấp, chính lời khẳng định ấy lại càng chứng minh cho một sự thật: hẳn phải có một mục đích sâu xa nào khác đang được cất giấu.

Một giả thuyết từng cho rằng cuốn sách vốn dĩ là một câu chuyện ngụ ngôn, phơi bày cuộc đấu tranh không hồi kết giữa lý tưởng và thực tại, giữa chất thơ mộng mị và sự khô khan của văn xuôi. Thế nhưng, có lẽ ngay cả nền triết học Đức cũng chưa bao giờ nặn ra từ sâu thẳm tâm thức của nó một suy luận nào khiên cưỡng và phi lý đến vậy. Dĩ nhiên, người ta vẫn có thể tìm thấy bóng dáng của sự đối kháng này trong "Don Quixote", bởi lẽ nó vốn hiện diện ở mọi ngóc ngách của đời sống, và Cervantes đã nhào nặn tác phẩm của mình từ chính những chất liệu đời thường ấy. Thật khó để mường tượng ra một xã hội nào mà ở đó, trò kéo co trái khoáy, dai dẳng giữa Sancho Panza và Don Quixote lại không được xem là một nét chân thực của tự nhiên. Ngay từ thời đồ đá, giữa những cộng đồng cư dân ven hồ hay những người tiền sử trong hang động, đã từng tồn tại những hiện thân của Don Quixote và Sancho Panza. Chắc hẳn đã từng có một kẻ không bao giờ chịu nhìn nhận những sự thật hiển hiện ngay trước mắt, và một kẻ lại chẳng thể nhìn xa hơn chính những sự thật ấy. Nhưng nếu cho rằng Cervantes đã cất công đặt ra cho mình một nhiệm vụ vĩ mô, hòng diễn giải một ý tưởng trừu tượng như vậy trong hai tập sách dày cộp, thì điều đó không chỉ đi ngược lại với bối cảnh thời đại ông sống, mà còn trái ngược hoàn toàn với bản ngã của chính Cervantes. Bởi lẽ, ông hẳn sẽ là người đầu tiên phá lên cười trào phúng nếu chứng kiến một ai khác đang nỗ lực làm điều tương tự.

Ảnh hưởng phi thường của dòng tiểu thuyết hiệp sĩ đương thời đã là quá đủ để lý giải cho sự ra đời của cuốn sách này. Độc giả có thể hình dung phần nào sự bùng nổ chóng mặt của nhánh văn học ấy trong thế kỷ mười sáu qua cuộc rà soát ở Chương VII, nhất là khi nhớ rằng nơi đó mới chỉ điểm mặt một phần nhỏ những tác phẩm thuộc về nhánh đồ sộ nhất mà thôi. Về tác động của dòng sách này đối với quốc gia, bằng chứng đã có thừa. Kể từ lúc những câu chuyện về Amadis và Palmerin bắt đầu dấy lên cơn sốt cho đến tận cuối thế kỷ, luôn hiện diện một làn sóng chỉ trích bền bỉ từ những trí thức mà tư cách và vị thế của họ đủ sức tạo nên sức nặng cho lời nói. Họ kịch liệt phản đối thứ tiểu thuyết hiệp sĩ nhảm nhí cùng sự si mê đến u mê của những độc giả say đắm chúng. Rốt cuộc, sự giễu nhại chính là chiếc chổi duy nhất đủ sức quét sạch lớp bụi bặm đó.

Những ai từng tỉ mỉ soi chiếu các bằng chứng hẳn sẽ thấy rõ: đây chính là sứ mệnh mà Cervantes tự gánh vác, và ông có thừa động lực để thúc bách bản thân hoàn thành tâm nguyện ấy. Họ cũng sẽ nhận ra, bản thân tinh thần hiệp sĩ chân chính không phải là đích ngắm mà ông muốn công kích hay xóa sổ. Trong vô vàn những sự ngụy tạo phi lý mà thi ca sẽ còn tiếp tục lưu truyền cho đến tận cùng thời gian, chẳng có lời nói dối nào vĩ đại hơn câu nói: "Cervantes đã dùng nụ cười để thổi bay tinh thần hiệp sĩ của Tây Ban Nha." Trước hết, làm gì có tinh thần hiệp sĩ nào còn sót lại để ông thổi bay. Tinh thần hiệp sĩ của Tây Ban Nha đã trút hơi thở cuối cùng từ hơn một thế kỷ trước. Sứ mệnh của nó đã khép lại khi Granada thất thủ, và bởi tinh thần hiệp sĩ vốn mang bản chất cộng hòa, nó không thể sống sót dưới ách độc tài mà Ferdinand đã dựng lên nhằm thay thế cho những thể chế tự do của Tây Ban Nha thời trung cổ. Thứ mà Cervantes mỉa mai cười nhạo để rồi xóa bỏ, hoàn toàn không phải là tinh thần hiệp sĩ, mà chỉ là một bản sao mô phỏng rẻ mạt của nó.

Bản chất thực sự của "cánh tay phải hùng mạnh" và "đội ngũ sáng ngời", những thứ mà thi nhân từng ca tụng "khiến cả thế giới phải lùi bước", nay lại bị đánh sập chỉ bằng một tràng cười duy nhất của Cervantes, có thể được đúc kết qua lời một người đồng hương của ông - Don Felix Pacheco, theo ghi chép của Đại úy George Carleton trong cuốn "Hồi ký Quân sự từ 1672 đến 1713". Ông kể lại: "Trước khi kiệt tác của Cervantes chào đời, một người đàn ông hiếm khi có thể thong dong dạo bước trên phố với niềm vui hay sự an toàn. Có quá nhiều những gã kỵ sĩ cưỡi ngựa chồm lên rồi lượn lờ, nghênh ngang trước cửa sổ tình nhân của họ, nhiều đến mức một người nước ngoài hẳn sẽ lầm tưởng cả cái quốc gia này là một giống loài hiệp sĩ lang thang. Thế nhưng, sau khi công chúng bắt đầu nếm trải hương vị của câu chuyện lịch sử đáng nể ấy, gã đàn ông nào còn dám phô ra cái bộ dạng từng được ngợi ca đó lập tức bị bêu rếu là một gã Don Quixote, và tự biến mình thành trò cười cho cả kẻ bần hàn lẫn bậc cao sang. Thú thực, tôi tin chắc rằng chính vì điều này, và chỉ vì điều này thôi, mà chúng ta đã phải gánh chịu sự uể oải, nghèo nàn trong tinh thần, thứ mầm bệnh đã lan tràn qua tất cả các hội đồng của chúng ta suốt cả một thế kỷ qua, thật chẳng xứng với những chiến công lẫy lừng của cha ông ta thưở trước."

Kẻ nào gọi "Don Quixote" là một cuốn sách u buồn, rao giảng nhân sinh quan bi quan, kẻ đó hẳn đã hiểu lầm hoàn toàn ý niệm sâu xa của tác phẩm. Cuốn sách sẽ thực sự bi quan nếu bài học đạo đức của nó là: trên cõi đời này, lòng nhiệt thành chân chính rốt cuộc chỉ dẫn đến sự chế giễu và thất bại. Nhưng tác phẩm không hề thuyết giáo một điều gì giống thế; bài học của nó, nếu có thể gọi là bài học, lại nằm ở chỗ: sự hăng hái giả tạo nảy sinh từ thói hư vinh và tự phụ, coi hành động như một mục đích tự thân chứ chẳng phải phương tiện để đạt tới đích, luôn hành xử theo cơn bốc đồng bất chấp hoàn cảnh và hậu quả, mới chính là thứ gieo rắc tai họa cho chủ nhân của nó, đồng thời gây ra một mối phiền toái to lớn cho cả cộng đồng. Với những ai không đủ tỉnh táo để phân biệt giữa nhiệt thành chân chính và hăng hái mù quáng, thì "Don Quixote" hẳn nhiên là một câu chuyện xót xa. Chắc chắn trong suy nghĩ của một số người, thật bi đát làm sao khi một con người vừa thốt ra tâm niệm đẹp đẽ nhường ấy - rằng "thật là một nghịch lý khi biến những kẻ mà Chúa và Đấng Tạo Hóa đã sinh ra tự do trở thành nô lệ", lại bị chính những tên khốn kiếp mà lòng bác ái điên rồ của ông vừa thả vào xã hội ném đá không thương tiếc. Thế nhưng, với những khối óc mang tư duy phán xét sắc sảo hơn, sẽ thật đáng tiếc nếu sự nhiệt thành mù quáng và tự mãn ấy không bị trả giá theo cái cách tương tự cho ngần ấy những rắc rối mà nó đã trút xuống thế gian.

Chỉ cần lướt qua cấu trúc của "Don Quixote", ta cũng dễ dàng nhận thấy Cervantes chẳng hề ấp ủ một thiết kế sâu xa hay một đồ án phức tạp nào khi bắt bút viết nên tác phẩm. Lúc hạ bút viết những dòng đầu tiên, nơi ông "chỉ bằng vài nét phác thảo của một bậc thầy, đã bày ra trước mắt chúng ta một gã quý tộc bần hàn," bản thân nhà văn hoàn toàn mờ mịt về cái đích mà trí tưởng tượng đang dẫn dắt mình tới. Hẳn nhiên, tất thảy những gì ông dự liệu ban đầu chỉ là một truyện ngắn dung dị, xếp ngang hàng với bao câu chuyện ông từng viết, cốt phơi bày những hậu quả nực cười đã lường trước từ nỗ lực của một gã điên rồ muốn học đòi làm hiệp sĩ lang thang giữa thời hiện đại.

Hiển nhiên là Sancho Panza vốn chẳng hề nằm trong tính toán ban sơ ấy. Bởi lẽ, nếu Cervantes đã sớm nghĩ đến nhân vật này, hẳn ông chẳng thể nào bỏ sót anh ta trong hành trang của vị anh hùng mà ông luôn chăm chút cho thật vẹn toàn. Nhờ lời nhắc nhở bâng quơ của gã chủ quán trọ ở Chương III, rằng các hiệp sĩ hiếm khi nào lên đường mà thiếu đi một giám mã, ta mới có được nhân vật tuyệt vời này. Cố hình dung ra một Don Quixote thiếu vắng Sancho Panza cũng hệt như tưởng tượng về một chiếc kéo chỉ có độc nhất một lưỡi.

Thuở ban đầu, câu chuyện được viết trôi chảy như bao tác phẩm khác, chẳng phân chia chương hồi, cũng chẳng có bóng dáng của Cid Hamete Benengeli can thiệp. Thậm chí, rất có thể Cervantes còn định bụng đưa nàng Dulcinea, hay Aldonza Lorenzo, trực tiếp bước ra sân khấu. Chắc hẳn, việc xới tung thư viện của Don Quixote và cuộc mạn đàm về tiểu thuyết hiệp sĩ chính là tia sáng đầu tiên nhen nhóm trong ông ý nghĩ rằng: tác phẩm của mình còn có thể vươn xa hơn nữa. Sẽ ra sao, nếu thay vì chỉ bày ra một chuỗi rủi ro tấu hài thuần túy, ông nhào nặn câu chuyện thành một bản giễu nhại những cuốn tiểu thuyết đao to búa lớn kia, châm biếm tận cùng phong cách, tình tiết và cả cái tinh thần sáo rỗng của chúng?

Đeo đuổi sự chuyển hướng táo bạo này, ông vội vàng, dù có phần vụng về, cắt nhỏ những gì đã viết thành các chương hồi theo đúng khuôn mẫu của "Amadis". Ông còn bịa ra câu chuyện về một bản thảo Ả Rập bí ẩn, nhào nặn nên cái tên Cid Hamete Benengeli cốt để nhại lại thói quen thâm căn cố đế của giới tác giả tiểu thuyết hiệp sĩ - những kẻ luôn khoái gán ghép gốc gác tác phẩm của mình cho một nguồn sử liệu bí truyền nào đó. Trong quá trình khai phá những ý tưởng mới mẻ ấy, ông nhanh chóng nhận ra giá trị vô ngần của Sancho Panza. Quả thực, ý tưởng chủ đạo không chỉ cho riêng phần diễn của Sancho, mà cho cả toàn bộ cuốn sách, đã bừng tỉnh ngay từ những lời đầu tiên anh chàng thốt ra khi ngỏ ý muốn dắt theo con lừa của mình. "Về chuyện con lừa," người kể chuyện thuật lại, "Don Quixote có phần do dự, cố vắt óc xem mình có từng nhớ ra vị hiệp sĩ lang thang nào lại dẫn theo một giám mã cưỡi lừa hay không; thế nhưng chẳng có ví dụ nào chịu hiện lên trong trí nhớ của ông." Chỉ trong chớp mắt, ta như thấu suốt toàn cảnh: sự vô tư ngờ nghệch đến lạ lùng của Sancho, cùng vẻ bối rối của người chủ khi sự vô lý vừa lách qua khe cửa để len lỏi vào nhận thức. Đó cũng chính là sứ mệnh của Sancho xuyên suốt tác phẩm; anh ta tựa như một Mephistopheles không tự giác, luôn vô tình bỡn cợt những khát vọng của chủ nhân, luôn lột trần sự ngụy biện trong tư tưởng của ông bằng một thứ logic ngây ngô ngẫu nhiên, và luôn dùng sức mạnh của sự ngờ nghệch thuần túy để kéo ông tuột trở lại thế giới của sự thật và những điều trần trụi.

Đến khi Cervantes gác lại những tuyển tập truyện ngắn và thực sự dồn hết tâm huyết để chắp bút cho Phần Hai, cục diện đã đổi khác rất nhiều. Don Quixote và Sancho Panza chẳng những được mến mộ, mà đã nghiễm nhiên hóa thành những sinh thể sống động trong tâm trí công chúng, một vị thế mà từ bấy đến nay họ chưa từng đánh mất. Chẳng còn cớ gì để nhà văn phải nhồi nhét thêm những bâng quơ ngoài lề lúc này; thậm chí, độc giả dường như đã thẳng thắn bày tỏ rằng thứ họ khao khát là được thấy Don Quixote và Sancho Panza nhiều hơn nữa, chứ không phải dăm ba vạt tiểu thuyết, vài mẩu truyện kể hay những đoạn tản mạn dông dài. Với chính bản thân Cervantes cũng vậy, những nhân vật từ trang giấy của ông nay đã bước ra đời thực, khiến ông không khỏi hãnh diện về họ, nhất là với Sancho. Bởi thế, ông khởi thảo Phần Hai trong một tâm thế hoàn toàn khác biệt, và sự khác biệt ấy lập tức phơi bày trên từng con chữ. Dẫu chỉ qua bản dịch, người ta vẫn dễ dàng nhận ra một thứ văn phong êm ái hơn, tuôn trào mượt mà hơn, tự nhiên hơn, mang dáng dấp của một ngòi bút đã hoàn toàn tự tin vào chính mình lẫn độc giả của mình. Cùng với đó, Don Quixote và Sancho cũng bước qua một cuộc chuyển mình ngoạn mục. Xuyên suốt Phần Một, Don Quixote gần như chẳng mang lấy một nét tính cách hay cá tính riêng biệt nào. Ông đơn thuần chỉ là một kẻ điên rồ đại diện cho những huyễn tưởng viển vông của tiểu thuyết hiệp sĩ. Mọi lời ông nói, mọi việc ông làm, quy cho cùng chỉ là sự nhai lại những bài học thuộc lòng từ mớ sách vở kia. Vậy nên, thật nực cười khi những nhà phê bình ủy mị cứ mãi sướt mướt tán dương ông bằng những lời có cánh về sự cao thượng, đức hy sinh hay lòng quả cảm phi thường... Việc cứu vớt kẻ thế cô, xoa dịu nỗi đau và diệt trừ cái ác vốn là bổn phận của một hiệp sĩ lang thang, nên lẽ dĩ nhiên ông coi đó là chức trách mình phải gánh vác khi khoác lên vai tước hiệu ấy; đã là một hiệp sĩ thì buộc phải gan dạ, và bởi thế ông cũng tự thấy mình phải rũ bỏ mọi nỗi sợ hãi. Trong tất thảy những lời ngớ ngẩn mang âm hưởng du dương của Byron về Don Quixote, câu nói nực cười nhất hẳn là "chính đức hạnh đã khiến ông ta phát điên!". Sự thật lại hoàn toàn trái ngược: chính sự điên rồ mới là cội nguồn dệt nên đức hạnh của ông.

Bước sang Phần Hai, Cervantes không ngừng nhắc nhở độc giả-như thể đây là điều ông khẩn thiết mong mỏi không ai hiểu lầm-rằng chứng điên của vị anh hùng này chỉ quẩn quanh trong những ảo giác về giới hiệp sĩ, còn ở mọi phương diện khác, ông đích thị là một discreto, một con người sở hữu óc phán đoán sắc sảo đến kinh ngạc. Điểm lợi hại của việc này là nhà văn có thể mượn lời Don Quixote để giãi bày những suy tư của chính mình, qua đó, dù chẳng hề có vẻ gì là lạc đề, ông vẫn thong dong tản mạn những khi cần thiết, tự do tự tại như đang ghi chép vào một cuốn sổ tay thân thuộc.

Đành rằng cá tính được bồi đắp cho Don Quixote không quá lớn lao. Ở ông phảng phất vài nét tính tình tự nhiên, như sự hòa quyện giữa thói dễ nổi cáu và dễ nguôi ngoai, cùng thứ tình cảm kỳ lạ ông dành cho Sancho tuy không ít lần phải bực dọc trước cái thói lẻm mép và xấc xược của gã giám mã. Dẫu vậy, nếu gác lại những cơn điên rồ, ông hiện lên đúng nghĩa là một bậc quý tộc đầy học thức, thấu đáo, mang trong mình gu thẩm mỹ tinh tế bẩm sinh cùng một lối tư duy vô cùng sắc bén và khác biệt.

Về phần Sancho, những dòng kết luận trong lời tựa Phần Một đã phơi bày rõ ràng rằng gã từ lâu đã là đứa con cưng của cha đẻ mình, thậm chí từ trước khi chiếm trọn cảm tình của công chúng. Nếu rơi vào tay một bộ óc kém cỏi hơn khi tái xuất lần hai, rất có thể gã đã bị bóp méo nhằm trở nên hài hước hơn, lanh lợi hơn, dễ mến hay đậm tính đạo đức hơn. Nhưng Cervantes là một nghệ sĩ quá đỗi chân chính để có thể tự tay phá hỏng kiệt tác của mình theo cách phàm tục ấy. Sancho khi trở lại, vẫn nguyên vẹn là một Sancho của ngày cũ với những đường nét thân quen; song vẫn có một sự khác biệt: những nét vẽ ấy đã được tô đậm hơn, đồng thời khéo léo né tránh mọi dấu vết của nghệ thuật biếm họa. Những mảng phác thảo mờ nhạt nay được lấp đầy đúng chỗ, được thổi bùng sức sống bởi đôi ba nét cọ của một bậc thầy, khiến Sancho hiện ra sừng sững như thể đang bước ra từ một bức chân dung tuyệt tác của Velazquez. Ở Phần Hai, gã nghiễm nhiên trở thành một nhân vật trung tâm và nổi bật hơn hẳn; thực chất, chính tài nói dối vô tiền khoáng hậu của gã về Dulcinea đã tạo nên phần lớn diễn biến cho toàn bộ câu chuyện.

Sự tiến hóa của gã ở khía cạnh này cũng đáng kinh ngạc không kém bất cứ phương diện nào khác. Ngay từ Phần Một, gã đã phô diễn một thiên phú nói dối tuyệt đỉnh. Những lời nói dối của gã chẳng mảy may mang dáng vẻ bay bổng phóng túng như của những kẻ dối trá trong các tác phẩm hư cấu; hệt như Falstaff, chúng phản chiếu chân thực hình bóng kẻ sinh ra chúng: những lời dối trá mộc mạc, cục mịch, tròn trịa; tóm lại, là thứ dối trá dùng để được việc. Nhưng từ khi hầu hạ một người chủ như Don Quixote, tài năng ấy của gã thăng hoa nhanh chóng, minh chứng rõ nhất là khi gã cả gan lừa phỉnh ba cô ả nhà quê thành Dulcinea và đám nữ tì của nàng. Đáng nói hơn, dường như bị kích thích bởi cú lừa trót lọt này, về sau gã đã bị cám dỗ mà dấn thân vào một vố lừa vượt quá tầm kiểm soát của mình, qua lời tường thuật về chuyến du hành trên lưng ngựa gỗ Clavileño.

Tại Phần Hai, chính cái tinh thần-chứ không phải những sự kiện-của tiểu thuyết hiệp sĩ mới là đích ngắm của nghệ thuật trào phúng. Những chiêu trò ma thuật kiểu như bị đem ra giễu nhại trong câu chuyện của Dulcinea, Trifaldi hay hang Montesinos vốn dĩ đóng vai trò cốt lõi trong các bộ tiểu thuyết sinh sau đẻ muộn và kém cỏi hơn. Một đặc điểm nổi cộm khác bị lôi ra biếm họa chính là sự tôn thờ mù quáng mà Don Quixote dành trọn cho Dulcinea. Trong các cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ, tình yêu nếu không phải là một dạng nhục dục thuần túy thì cũng là một thứ sùng bái đầy hoang đường. Chỉ những kẻ mang tâm hồn cằn cỗi mới nhọc công cợt nhả loại tình yêu thứ nhất, nhưng với nhãn quan hài hước của Cervantes, loại thứ hai nghiễm nhiên trở thành một mỏ vàng hấp dẫn để chế giễu. Giống như mọi thứ khác trong mớ tiểu thuyết ấy, đó là sự phóng đại đến thô thiển của những xúc cảm chân thực nơi các hiệp sĩ. Sự cường điệu kỳ quặc này có lẽ bắt nguồn từ những bậc thầy về tu từ nói quá: các nhà thơ vùng Provence. Khi một người hát rong tuyên bố nguyện xả thân phục tùng quý cô của mình trong mọi việc, anh ta vô tình trút gánh nặng lên vai người đến sau, buộc kẻ đó-nếu không muốn bị khinh khi là tầm thường nhạt nhẽo-cũng phải thề thốt làm nô lệ cho ý muốn của nàng. Cứ thế, người tiếp theo lại phải vượt mặt bằng một lời tuyên thệ đao to búa lớn hơn nữa; và rồi, những biểu hiện của sự tận tụy cứ thế xếp chồng lên nhau tầng tầng lớp lớp, hệt như những kẻ trả giá trong một phiên đấu giá. Một thứ ngôn ngữ sáo rỗng về sự hào hiệp và lý thuyết tình yêu ra đời, chầm chậm len lỏi vào nền văn học Nam Âu rồi đơm hoa kết trái: rẽ sang một hướng là sự suy tôn siêu việt dành cho Beatrice và Laura, hướng còn lại là sự sùng bái lố lăng qua ngòi bút của những tác giả như Feliciano de Silva. Đó chính xác là những gì Cervantes muốn mổ xẻ qua niềm đam mê cháy bỏng của Don Quixote dành cho Dulcinea, và chưa có ví dụ nào cho thấy ông lại tung ra đòn giễu nhại thành công đến vậy. Bằng cách giấu Dulcinea ở phía sau, biến nàng thành một ảo ảnh mờ sương mà chính sự tồn tại của nàng cũng khiến ta phải ngờ vực, ông đã phủ lên sự sùng bái của Don Quixote dành cho đức hạnh và nhan sắc của nàng một lớp cường điệu vô tiền khoáng hậu, qua đó càng khắc sâu thêm nét biếm họa về những thứ tình cảm và ngôn từ sáo rỗng của các cuốn tiểu thuyết kia.

Một trong những giá trị vĩ đại làm nên tên tuổi của "Don Quixote" - đồng thời cũng là yếu tố then chốt giúp tác phẩm chinh phục mọi tầng lớp độc giả và vươn mình trở thành một kiệt tác mang tính quốc tế - chính là sự giản dị. Lẽ dĩ nhiên, có những chi tiết hiển nhiên với một độc giả Tây Ban Nha thế kỷ mười bảy, nhưng lại không dễ dàng khơi gợi ấn tượng nơi người đọc thời hiện đại. Cervantes thường mặc định rằng những ẩn ý của ông sẽ được thấu hiểu rộng rãi, nhưng trên thực tế, chúng chỉ dễ tiếp nhận với một số ít người. Chẳng hạn, đối với nhiều độc giả tại Tây Ban Nha cũng như hầu hết người đọc quốc tế, ý đồ sâu xa đằng sau việc ông chọn quê hương cho vị anh hùng của mình đã hoàn toàn bị bỏ lỡ. Sẽ là nói quá nếu cho rằng không ai có thể thấu cảm trọn vẹn "Don Quixote" nếu chưa từng đặt chân đến La Mancha. Tuy nhiên, chắc chắn chỉ cần một cái nhìn lướt qua vùng đất này cũng đủ mang lại một góc nhìn sâu sắc về ẩn ý của Cervantes, điều mà không một nhà bình luận nào có thể diễn giải cặn kẽ được. Trong số tất cả các khu vực của Tây Ban Nha, đây là nơi cuối cùng có thể gợi lên chút ý niệm nào về một câu chuyện lãng mạn. Giữa toàn bộ vùng cao nguyên trung tâm cằn cỗi của Bán đảo, La Mancha chính là dải đất tẻ nhạt nhất. Những vùng hẻo lánh khắc nghiệt của Estremadura chí ít còn vương chút gì đó ấn tượng; và dù những bình nguyên Leon hay Old Castile có trơ trọi, ảm đạm đến đâu, chúng vẫn được điểm xuyết bởi các thành phố cổ kính vang danh lịch sử cùng vô vàn di tích lẫy lừng. Nhưng phong cảnh nơi Manchegan thì chẳng có lấy một nét vớt vát; nó mang trọn vẻ đơn điệu của một sa mạc mà chẳng hề sở hữu chút uy nghi nào. Số ít những thị trấn và ngôi làng hiếm hoi phá vỡ sự tẻ nhạt ấy lại tồi tàn và tầm thường đến mức chẳng có gì đáng để tôn kính, thậm chí còn chẳng toát lên được nét đẹp nên thơ của sự nghèo khó. Quả thực, chính Argamasilla - ngôi làng của Don Quixote - lại mang một vẻ đạo mạo gượng ép qua sự ngăn nắp cứng nhắc của những con đường và nếp nhà; mọi thứ đều toát lên vẻ hèn mọn. Ngay cả những chiếc cối xay gió cũng thuộc loại xấu xí và tồi tàn nhất từng có.

Đối với bất cứ ai am tường vùng đất này, chỉ riêng phong cách và tựa đề "Don Quixote xứ La Mancha" đã trao ngay chiếc chìa khóa để mở ra ý đồ của tác giả. La Mancha, trong vai trò là quê hương của chàng hiệp sĩ kiêm bối cảnh cho những chiến công hiển hách của chàng, lại ăn khớp hoàn hảo với chiếc mũ sắt bằng bìa cứng, một gã tá điền cưỡi lừa làm giám mã, tước vị hiệp sĩ được phong bởi một tay chủ quán trọ tinh ranh, những tên tù khổ sai bị nhầm thành nạn nhân của thói áp bức, cùng vô vàn sự mâu thuẫn khôi hài khác. Đó là sự trớ trêu giữa thế giới của Don Quixote và thế giới thực tại, giữa vạn vật qua lăng kính của ông và hình hài thật sự của chúng.

Thật kỳ lạ là sự bất tương xứng này - vốn là nền tảng cho toàn bộ khiếu hài hước và mục đích của cuốn sách - lại ít được phần đông những người diễn giải "Don Quixote" lưu tâm. Lấy ví dụ, nó hoàn toàn bị các họa sĩ minh họa phớt lờ. Phải thừa nhận rằng, phần lớn các nghệ sĩ minh họa "Don Quixote" chẳng am tường chút gì về Tây Ban Nha. Đối với họ, một venta không gợi lên khái niệm nào khác ngoài hình ảnh trừu tượng của một quán trọ ven đường; vì lẽ đó, họ không thể phác họa hết nét hài hước từ sự nhầm lẫn của Don Quixote khi ông đinh ninh đó là một lâu đài. Họ cũng chẳng nhận thức được sự khác biệt một trời một vực giữa thực tại tồi tàn của nó so với lý tưởng cao cả trong tâm trí ông. Ngay cả khi được trang bị thông tin kỹ càng hơn, dường như họ vẫn chẳng thể nắm bắt được sức mạnh tối đa của sự mâu thuẫn này. Chẳng hạn, hãy xem xét bức vẽ của Gustave Doré phác họa cảnh Don Quixote đứng gác bộ áo giáp trong sân quán trọ. Dù Venta de Quesada trên con đường Seville có đúng là quán trọ được miêu tả trong "Don Quixote" như truyền thuyết vẫn truyền tai nhau hay không, thì chắc chắn rằng một cái sân quán trọ hệt như cái sân sau của nó chính là điều Cervantes hình dung. Và chính trên một chiếc máng đá thô sơ nằm cạnh giếng xách nước nguyên thủy trong góc sân ấy, ông mới dự định để Don Quixote đặt bộ áo giáp của mình. Trái lại, Gustave Doré lại biến nó thành một đài phun nước chạm trổ công phu - thứ mà không một gã đánh la nào từng cho lũ la của mình uống nước trong chuồng của bất kỳ venta nào ở Tây Ban Nha. Chính vì thế, Doré đã bỏ lỡ hoàn toàn dụng ý mà Cervantes nhắm tới. Phải là tính chất hèn mọn, trần trụi và tầm thường của mọi cảnh vật cùng hoàn cảnh xung quanh mới đủ sức mang lại ý nghĩa châm biếm cho buổi thức đêm của Don Quixote và nghi lễ diễn ra sau đó.

Phần lớn khiếu hài hước của Cervantes thuộc loại rộng lớn và dung dị hơn, nơi sức mạnh thực sự nằm ở việc nhận diện ra sự lạc lõng. Sự không ăn nhập của Sancho trong mọi hành vi, lời nói và hành động đối với những lý tưởng và mục tiêu của người chủ, kết hợp cùng sức sống và tính chân thực tuyệt vời của nhân vật, đã nhào nặn anh ta thành một tạo tác hài hước bậc nhất trong toàn bộ thế giới hư cấu. Cốt cách trang nghiêm, không màng đến một nụ cười mà Cervantes là bậc thầy tiên phong - "vẻ ngoài nghiêm nghị của Cervantes" - có lẽ chỉ hiện diện một cách tự nhiên ở Swift trong số các nhà văn trào phúng đời sau. Đây là yếu tố cốt lõi của loại hài hước này, và một lần nữa, Cervantes lại phải chịu đựng thảm kịch dưới bàn tay của các dịch giả. Không có gì - ngoại trừ lối đùa bỡn thô thiển của Phillips - lại trở nên vô duyên hơn khi nỗ lực tái hiện Cervantes bằng một phong cách hời hợt, cố tỏ ra hài hước như phiên bản của Motteux, hay cái không khí vui nhộn, bảnh chọe mà các dịch giả người Pháp đôi khi khoác lên tác phẩm. Chính nét hiện thực nghiêm trang trong lời tường thuật, cùng vẻ vô tâm rõ rệt của tác giả như thể ông không nhận ra mình đang kể điều gì buồn cười - mà chỉ là những chuyện tầm thường nhất - mới tạo nên hương vị đặc trưng cho sự trào phúng của Cervantes. Trên thực tế, khiếu hài hước của ông trái ngược hoàn toàn với Sterne và những nhà văn trào phúng tự giác. Ngay cả khi Bác Toby đạt tới phong độ đỉnh cao, bạn luôn cảm nhận được "cái ông Sterne" đang đứng lấp ló phía sau, quan sát qua vai xem mình đang tạo ra hiệu ứng gì. Trái lại, Cervantes luôn để bạn tự do dạo bước cùng Don Quixote và Sancho. Ông, Swift cùng những nhà văn trào phúng vĩ đại khác luôn biết cách ẩn mình khuất tầm nhìn, hay đúng hơn là không bao giờ bận tâm đến sự hiện diện của bản thân. Họ hoàn toàn khác biệt với trường phái các nhà văn hài hước hiện đại, những kẻ dường như đang cố gắng hồi sinh lối gây cười hềnh hệch kiểu cũ, nỗ lực chọc cười bằng một thái độ lố bịch giả tạo về sự dốt nát, thói nhu nhược hay gu thẩm mỹ tồi tệ.

Quả thực, việc chuyển tải trọn vẹn sự hài hước của Tây Ban Nha sang bất kỳ ngôn ngữ nào khác gần như là một điều bất khả thi. Tiếng Tây Ban Nha - dù chỉ trong lời ăn tiếng nói thường ngày - luôn mang một sự trang trọng tự nhiên cùng vẻ uy nghi vang rền. Chính điều này khiến một sự phi lý trở nên lố bịch gấp bội, đồng thời khoác lên một lớp vỏ bọc hợp lý cho những lời phát ngôn lố lăng nhất. Đây cũng là lý do khiến sự hóm hỉnh của Sancho Panza trở thành nỗi tuyệt vọng của những dịch giả tận tâm. Những lời bình luận cụt lủn của Sancho không bao giờ có thể nhạt nhẽo, nhưng chúng lại đánh mất một nửa hương vị khi chuyển từ tiếng Castilian bản địa sang bất kỳ phương tiện nào khác. Tuy nhiên, nếu những người nước ngoài đã thất bại trong việc truyền tải trọn vẹn khiếu hài hước của Cervantes, thì họ cũng chẳng kém cỏi hơn những đồng bào của chính ông là bao. Thực tế, nếu không nhờ sự thưởng thức nồng nhiệt của tầng lớp nông dân Tây Ban Nha đối với "Don Quixote", người ta có thể đã lầm tưởng rằng nhà văn trào phúng vĩ đại ấy hoàn toàn không được công nhận là một cây bút hài hước ngay trên chính quê hương mình.

Hội chứng điên rồ của Don Quixote, trong một số trường hợp, dường như đã lây lan sang chính các nhà phê bình của ông, khiến họ mường tượng ra những thứ vốn dĩ không hề tồn tại trong sách và cứ thế lao hết tốc lực vào những bóng ma hư ảo chỉ có trong trí tưởng tượng của họ. Giống như khá nhiều nhà phê bình ngày nay, họ quên mất rằng những tiếng la hét ầm ĩ không phải là lời phê bình, và chỉ có những thị hiếu dung tục mới dễ dàng bị thao túng bởi những chuỗi tính từ so sánh bậc nhất, những phép nói quá chồng chất cùng những mỹ từ đao to búa lớn. Thế nhưng, điều khiến người ta cảm thấy đặc biệt kỳ lạ là trong khi mải mê tung ra những lời tán dương ngông cuồng, gán ghép đủ mọi tư tưởng và phẩm chất hư cấu cho Cervantes, họ lại chẳng mảy may nhận ra một phẩm chất mà chín mươi chín phần trăm độc giả của ông trân trọng nhất. Đó mới chính là phẩm chất đích thực đã chắp cánh giúp ông vượt lên trên mọi đối thủ cạnh tranh.

Nếu chỉ xem "Don Quixote" đơn thuần là một cuốn sách hài hước thì quả là một nhận định hoàn toàn sai lệch. Đôi khi, Cervantes biến tác phẩm thành một cuốn sổ tay để ghi chép những bài luận, những lời bình phẩm chợt nảy sinh, hay những quan sát, suy ngẫm đầy trí tuệ được đúc kết từ một cuộc đời dâu bể. Đó là một mỏ vàng chứa đựng những cái nhìn tinh tế về nhân loại và bản chất con người. Trong số các tiểu thuyết hiện đại, họa hoằn lắm mới có những nghiên cứu tỉ mỉ hơn về nhân vật, nhưng chẳng có cuốn sách nào lại quy tụ một dàn nhân vật mang đậm dấu ấn cá nhân phong phú đến vậy. Nhận xét của Coleridge về những chi tiết nhỏ nhất trong tác phẩm của Shakespeare cũng hoàn toàn đúng đắn khi áp dụng với Cervantes; dẫu là vì một mục đích thoáng qua, ông cũng không bao giờ dựng lên một hình nộm vô hồn. Mỗi nhân vật của ông đều ấp ủ sức sống và cá tính riêng biệt, cho dù vai trò của họ có mờ nhạt hay thời gian xuất hiện trước độc giả có ngắn ngủi đến đâu. Từ Samson Carrasco, ông linh mục, Teresa Panza, Altisidora, cho đến cả hai chàng sinh viên tình cờ gặp gỡ trên đường tới hang Montesinos, tất cả đều sống động, chân thực và mang trong mình một hơi thở tồn tại độc lập. Hơn thế, lòng nhân đạo bao la của Cervantes còn thể hiện ở chỗ, giữa bao nhiêu con người ấy chẳng có lấy một kẻ nào thực sự đáng ghét. Ngay cả cô hầu gái Maritornes đáng thương với phẩm hạnh tồi tệ cũng giấu một trái tim nhân hậu, cùng "chút bóng dáng xa xôi của một con người theo đạo Cơ Đốc trong cô". Về phần Sancho, dù có mổ xẻ tường tận cũng chẳng bói ra được một nét đáng yêu nào ngoài lòng trung thành như loài khuyển dành cho chủ, thế nhưng từ thẳm sâu cõi lòng, có ai lại không trót yêu mến anh chàng cơ chứ?

Thế nhưng, đến cuối cùng, chính chất hài hước trong "Don Quixote" mới là thứ đưa tác phẩm tách biệt khỏi muôn vàn tiểu thuyết khác. Đó là thứ đã khiến nó, như lời một trong những nhà phê bình sắc sảo nhất thời đại chúng ta từng ngợi ca, trở thành "cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất thế giới, vượt lên trên mọi sự so sánh". Chính sự hài hước đa màu sắc ấy, trải dài từ những màn kịch vui nhộn ồn ào cho đến nét trào phúng tinh tế sánh ngang với Shakespeare hay Molière, đã giúp cuốn sách vươn xa tới mọi quốc gia có người đọc, và đưa nó trở thành một kiệt tác kinh điển của bất kỳ ngôn ngữ nào từng tồn tại nền văn học.