LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ

Hỡi bạn đọc nhàn rỗi, bạn có thể tin tôi mà chẳng cần một lời thề thốt nào: tôi luôn ước ao cuốn sách này - đứa con tinh thần của mình - sẽ là một tuyệt tác rực rỡ nhất, tươi vui nhất và thông tuệ nhất mà trí óc con người có thể hình dung ra. Thế nhưng, tôi nào có thể đi ngược lại quy luật muôn đời của Tạo hóa, rằng vạn vật sinh ra đều mang dáng hình của kẻ sinh thành. Vậy thì, một trí óc cằn cỗi và thô mộc như tôi có thể nặn ra thứ gì, ngoài một đứa con tinh thần khô khan, quắt queo và gàn dở? Nó mang theo đủ mọi thứ suy nghĩ kỳ quặc, chưa từng gợn lên trong bất kỳ trí tưởng tượng nào khác - quả đúng là một đứa trẻ hoài thai nơi ngục tù, chốn nương náu của mọi nỗi khốn cùng và những tiếng thở dài ai oán. Sự tĩnh tại, một chốn ẩn mình thư thái, những cánh đồng thơ mộng, bầu trời cao xanh, những con suối róc rách và một tâm hồn bình yên - đó mới là phép màu tưới tắm cho cả những nàng thơ khô cằn nhất, giúp họ phôi thai nên những đứa con ngập tràn niềm vui và sự diệu kỳ để dâng hiến cho đời. Đôi khi, một người cha sinh ra đứa con trai xù xì, thô kệch, nhưng tình thương đã che mờ đôi mắt khiến ông chẳng màng đến khiếm khuyết của nó. Thậm chí, ông còn coi những điều đó là tài năng, là nét duyên dáng của cả tâm hồn lẫn thể xác, rồi không ngớt lời khoe khoang với bạn bè như thể đó là sự sắc sảo và cuốn hút phi thường. Thế nhưng, tôi - dẫu mang danh là cha, song thực chất chỉ là cha dượng của “Don Quixote” - lại chẳng màng hùa theo cái thói thường tình ấy. Tôi cũng sẽ không ứa nước mắt van nài bạn, hỡi bạn đọc thân mến nhất, mong bạn rủ lòng tha thứ hay châm chước cho những khiếm khuyết mà bạn sắp sửa nhận ra ở đứa con này. Bạn chẳng phải họ hàng thân thích, cũng không phải bằng hữu của nó. Tâm hồn bạn là của riêng bạn, ý chí của bạn tự do không kém bất cứ một ai. Bạn đang ngự trị trong ngôi nhà của mình, làm chủ nó uy quyền hệt như một đấng quân vương cai quản các khoản thuế khoá. Hẳn bạn cũng thuộc nằm lòng câu ngạn ngữ: “Dưới tấm áo choàng của mình, ta có quyền giết cả nhà vua”1. Mọi điều đó đã gạt bỏ mọi sự cả nể và ràng buộc nơi bạn. Bạn hoàn toàn có quyền phán xét câu chuyện này theo ý thích, chẳng phải e dè sẽ bị lăng mạ nếu lỡ buông lời chê bai, hay mong cầu phần thưởng cho những lời khen ngợi.

Mong muốn của tôi giản đơn lắm. Tôi chỉ muốn gửi gắm tác phẩm này đến tay bạn một cách chân phương và mộc mạc nhất, không điểm tô thêm lời tựa hay nhồi nhét vô số bài sonnet, những vần thơ trào phúng, cùng những lời tán tụng sáo rỗng người ta vẫn thường đắp điếm ở đầu các cuốn sách. Khuyên thật với bạn, dù việc chắp bút cho cuốn sách đã bòn rút của tôi không ít tâm sức, song tôi thấy chẳng có nỗi nhọc nhằn nào sánh bằng việc vắt óc viết ra Lời tựa mà bạn đang đọc đây. Đã bao bận tôi cầm bút lên định viết, rồi cũng chừng ấy lần phải buông xuống vì chẳng biết bắt đầu từ đâu. Trong một lần như thế, khi tôi đang đăm chiêu trước tờ giấy trắng, cây bút giắt ngang tai, khuỷu tay chống bàn, bàn tay đỡ lấy cằm, mải miết suy nghĩ xem nên nói điều gì, thì một người bạn bước vào. Anh vốn là người sôi nổi và lanh lợi. Thấy tôi chìm nghỉm trong cõi suy tư, anh liền gặng hỏi căn cớ. Tôi cũng chẳng buồn giấu giếm, bèn thở dài thú thực rằng mình đang đau đầu vì cái Lời tựa phải viết cho câu chuyện “Don Quixote”. Chuyện này làm tôi phiền não đến mức đã định bụng sẽ dẹp quách, không viết Lời tựa nào sất, thậm chí cất xó luôn những chiến tích của một vị hiệp sĩ cao quý như vậy.

“Bởi lẽ, sao anh có thể bảo tôi không áy náy cho được? Nghĩ xem cái vị quan tòa cổ hủ mang tên Công chúng kia sẽ phán xét ra sao, khi thấy tôi sau bao năm chìm khuất trong sự quên lãng, giờ lại vác cái thân già nua này xuất đầu lộ diện? Trên lưng thì cõng theo một cuốn sách khô như rơm rạ, cạn kiệt sức sáng tạo, hành văn thì nghèo nàn, tư tưởng thì nông choèn, lại hoàn toàn vắng bóng sự uyên bác và thông thái. Sách chẳng có lấy một dòng trích dẫn bên lề hay một lời chú giải cuối trang. Trông người ta mà xem, sách tuy rặt những chuyện hoang đường báng bổ, lại chất đầy những châm ngôn của Aristotle, Plato, cùng cả một bầy triết gia. Đọc vào đến là kinh ngạc, khiến thiên hạ cứ đinh ninh tác giả hẳn phải là những bậc vĩ nhân học vấn uyên thâm, hiểu biết sâu rộng, tài hùng biện thì xuất chúng. Rồi lại còn chuyện trích dẫn Kinh Thánh nữa chứ! Bất cứ ai đọc vào cũng phải thốt lên rằng họ là những vị Thánh Thomas hay các bậc tiến sĩ thần học đại tài. Họ lồng ghép khéo léo đến mức, câu trước vừa miêu tả một gã si tình điên dại, câu sau đã giảng giải ngay một bài thuyết giáo ngoan đạo, quả là một ân huệ ngọt ngào cho người nghe và kẻ đọc. Nhưng cuốn sách của tôi sẽ chẳng có thứ gì như thế cả. Tôi lấy đâu ra chữ nghĩa để trích dẫn bên lề hay ghi chú cuối trang? Tôi lại càng mù tịt chuyện mình đang vay mượn của những tác giả nào để mà nhét tên họ lên đầu sách cho giống thiên hạ, xếp theo thứ tự A, B, C đàng hoàng, mở đầu bằng Aristotle rồi chốt lại bằng Xenophon, hay Zoilus, hoặc Zeuxis - dẫu một kẻ là tay vu khống, còn kẻ kia chỉ là anh thợ vẽ. Cuốn sách của tôi đành chịu cảnh mồ côi những bài sonnet mở đầu, nhất là những bài do các bậc công tước, hầu tước, bá tước, giám mục, phu nhân hay các nhà thơ danh tiếng chắp bút. Dù rằng, nếu tôi mở lời nhờ vả dăm ba anh bạn chí cốt, họ dư sức làm tặng tôi vài bài, mà độ hay thì ngay cả những cây bút lừng danh nhất cõi Tây Ban Nha chúng ta cũng chẳng thể sánh kịp.”

“Tóm lại, bạn tôi ơi,” tôi chép miệng, “tôi đã hạ quyết tâm rồi. Ngài Don Quixote sẽ cứ phải nằm phủ bụi trong những kho lưu trữ của xứ La Mancha quê hương ngài, cho đến khi Thượng đế phái một ai đó đến đắp bồi cho ngài những thứ còn thiếu sót. Chứ bản thân tôi, do sự nông cạn và dốt nát, hoàn toàn bất lực trong việc ấy. Hơn nữa, tính tôi vốn đã nhút nhát lại còn lười biếng, chẳng buồn bới móc mớ sách vở của các tác giả khác để mượn lời họ nói hộ những điều mà tôi thừa sức tự nói ra được. Bởi thế nên anh mới bắt gặp cái bộ dạng thẫn thờ, đăm chiêu của tôi lúc nãy, và những gì anh vừa nghe đã là quá đủ để giải thích rồi đấy.”

Nghe tôi than thở, anh bạn liền vỗ tay lên trán, phá lên cười sảng khoái rồi kêu lên: “Có Chúa chứng giám, anh bạn ạ, tới tận bây giờ tôi mới sực tỉnh khỏi cái sai lầm mà bấy lâu nay tôi vẫn đinh ninh kể từ khi quen biết anh. Suốt ngần ấy thời gian, tôi luôn coi anh là một kẻ nhạy bén và khôn ngoan trong mọi hành sự; nhưng than ôi, giờ tôi mới vỡ lẽ rằng anh cách xa sự khôn ngoan ấy một trời một vực. Lẽ nào những thứ cỏn con và quá đỗi dễ giải quyết như vậy lại có thể chiếm giữ và làm rối trí một bộ óc tinh anh như của anh, vốn dư sức nghiền nát những chướng ngại lớn lao hơn gấp bội? Thề có Chúa, sự tình nông nỗi này chẳng phải do anh thiếu tài năng, mà đơn thuần là vì anh quá đỗi lười biếng và thiếu đi vốn sống. Anh có muốn biết tôi nói thật hay không? Vậy thì, hãy vểnh tai lên mà nghe tôi đây, và anh sẽ thấy chỉ trong nháy mắt, tôi sẽ quét sạch mọi mối bận tâm của anh ra sao. Tôi sẽ lấp đầy tất thảy những thiếu hụt mà anh bảo đang cản bước, làm anh chùn lòng đưa câu chuyện về Don Quixote lừng danh - ánh sáng và tấm gương của toàn bộ giới hiệp sĩ giang hồ - ra ánh sáng.”

“Nói đi,” tôi vừa nghe vừa đáp lời; “anh định vực dậy sự thiếu tự tin của tôi, và dẹp yên cái mớ bòng bong rắc rối mà tôi đang mắc kẹt này bằng cách nào?”

Anh ta liền thủng thẳng đáp: “Nỗi trăn trở đầu tiên của anh về những bài sonnet, thơ trào phúng hay những vần thơ tán tụng định đặt ở phần mở đầu, đáng lẽ phải được chắp bút bởi những bậc vương tôn quý tộc, hoàn toàn có thể được gỡ rối nếu anh chịu khó tự mình nặn ra chúng. Sau đó, anh cứ việc khoác cho chúng bất kỳ cái tên nào anh thích, cứ nhận vơ là của Linh mục John xứ Ấn Độ hay Hoàng đế xứ Trebizond, những nhân vật mà theo tôi biết thì thiên hạ vẫn đồn thổi là các thi hào lừng danh. Và ngay cả khi họ chẳng phải thi sĩ, hay lỡ có gã học giả rởm đời hay tay cử nhân nào đó nhảy xồm lên chất vấn sự thật, thì anh cũng chớ bận tâm tới hai đồng maravedi lẻ2. Bởi lẽ dù họ có bóc mẽ được lời nói dối của anh đi chăng nữa, thì họ cũng chẳng thể nào chặt đứt được cái bàn tay anh đã dùng để viết ra những vần thơ ấy.

“Về những phần trích dẫn bên lề nhằm chỉ đích danh các cuốn sách và tác giả mà anh đã mượn ý, mượn lời châm ngôn, ngạn ngữ để đưa vào câu chuyện, anh chỉ việc xoay xở lồng ghép thật khéo léo bất kỳ câu chữ hay đoạn tiếng Latin nào mà anh tình cờ thuộc lòng, hoặc ít ra là chẳng tốn mấy công sức tra cứu. Tỉ như khi bàn về sự tự do và cảnh tù đày, anh có thể chèn ngay câu:

Non bene pro toto libertas venditur auro;3

Rồi sau đó, ở phần lề sách, cứ thản nhiên ghi là trích từ Horace, hay bất kỳ ai đã thốt lên câu ấy. Hoặc giả như anh ám chỉ đến sức mạnh tàn khốc của cái chết, hãy đệm ngay vần thơ:

Pallida mors æquo pulsat pede pauperum tabernas,
Regumque turres.
4

“Còn nếu nhắc đến tình bằng hữu và lòng bác ái mà Chúa răn dạy ta phải dành cho kẻ thù, hãy tìm ngay đến Kinh Thánh. Việc này anh có thể làm chẳng tốn mấy hơi sức tóm lược, và không trích dẫn gì khác ngoài chính thánh ngôn của Đức Chúa: Ego autem dico vobis: diligite inimicos vestros.5 Nếu anh muốn đả động đến những ý nghĩ đen tối mờ ám, hãy lật ngay sách Phúc Âm: De corde exeunt cogitationes malæ. Nếu bàn về thói tráo trở của miệng đời bằng hữu, thì đã có Cato, người sẽ hào phóng dâng tặng anh câu thơ đối nức tiếng:

Donec eris felix multos numerabis amicos,
Tempora si fuerint nubila, solus eris.
6

“Chỉ với dăm ba câu tiếng Latin kiểu thế hoặc đại loại vậy, kiểu gì thiên hạ cũng sẽ ngả mũ suy tôn anh là một nhà ngữ pháp học lỗi lạc; và ở cái thời buổi này, cái danh xưng ấy mang lại bổng lộc và vinh quang chẳng hề nhỏ đâu.

“Về việc thêm thắt phần chú giải ở cuối sách, anh cứ yên tâm hành sự theo cách này: hễ nhắc đến bất kỳ gã khổng lồ nào trong cuốn sách, hãy khéo léo sắp xếp để hắn chính là tên khổng lồ Goliath. Chỉ ngần ấy thôi, hầu như chẳng tốn một giọt mồ hôi, anh đã có ngay một đoạn chú thích hoành tráng. Bởi lẽ anh có thể viết thế này: Tên khổng lồ Golias hay Goliath là một gã người Philistine đã bị chàng mục đồng David hạ sát bằng một cú ném đá trời giáng tại thung lũng Terebinth, như được thuật lại trong Sách Các Vua7-vào chính cái chương mà anh thấy nó được ghi chép.

“Tiếp đó, để chứng tỏ mình là một bậc học giả uyên thâm trong giới văn chương tao nhã và môn vũ trụ địa lý học, hãy dàn xếp sao cho dòng sông Tagus được xướng tên trong câu chuyện của anh. Và ngay lập tức, anh lại bỏ túi thêm một đoạn giải nghĩa lừng lẫy khác, hùng hồn trình bày rằng: Sông Tagus được đặt theo tên của một vị Vua nước Tây Ban Nha: nó bắt nguồn ở nơi này nơi kia và tuôn đổ ra đại dương, mơn trớn những bức tường của thành phố Lisbon tráng lệ, và người ta vẫn hằng tin rằng dòng nước ấy mang theo những dải cát vàng, vân vân và mây mây. Nếu câu chuyện của anh phải dính dáng đến bọn cướp cạn, tôi sẽ kể cho anh nghe sự tích về Cacus8, bởi tôi đã thuộc nằm lòng nó. Nếu động chạm đến những ả lẳng lơ lơi lả, đã có Giám mục xứ Mondonedo, người sẵn lòng cho anh mượn Lamia, Laida, và Flora; bất kỳ sự trích dẫn nào về họ cũng sẽ bồi đắp cho anh một danh tiếng vang dội. Nếu là về những kẻ nhẫn tâm tàn độc, Ovid sẽ trang bị ngay cho anh ả Medea9. Nếu dính tới những mụ phù thủy hay yêu nữ đầy ma lực nhan sắc, Homer đã có Calypso10, và Virgil có Circe. Còn nếu nhắc đến những vị tướng quân quả cảm xông pha trận mạc, chính Julius Cæsar sẽ cho anh mượn hình ảnh uy dũng của ngài trong cuốn Bình luận, và Plutarch sẽ hào phóng tặng anh cả ngàn Alexander. Lỡ như anh phải bàn về tình yêu, thì chỉ cần một vốn liếng tiếng Tuscan nhỏ giọt, anh đã có thể gõ cửa nhà Leon người Do Thái11, ông ta sẽ chu cấp cho anh thỏa mãn khát khao. Hoặc giả như anh chẳng buồn lặn lội sang tận ngoại bang, ngay tại chốn quê nhà này, anh đã có cuốn Về Tình Yêu của Chúa của Fonseca. Nơi đó cô đọng tất thảy những tinh hoa mà anh hay cả những bộ óc mộng mơ nhất có thể khao khát mổ xẻ về chủ đề này. Tóm lại, tất cả những gì anh phải nhọc lòng chỉ là cố gắng điểm xuyết những cái tên ấy, hoặc gợi nhắc những câu chuyện tôi vừa kể. Mọi việc chèn thêm chú thích cùng trích dẫn, hãy cứ phó mặc cho tôi. Tôi xin thề với mọi điều tốt đẹp trên đời sẽ lấp kín các lề sách của anh và dùng hết nhẵn cả bốn trang giấy ở phần cuối sách.

“Giờ thì chúng ta hãy bàn đến những trích dẫn liên quan tới các tác giả mà những cuốn sách khác có, và anh muốn bứng chúng vào cuốn sách của mình. Cách giải quyết việc này thực chất dễ như bỡn: Anh chỉ cần tìm ra một cuốn sách nào đó trích dẫn tuốt luốt bọn họ, từ A đến Z hệt như anh vừa nói, rồi sau đó bê nguyên xi cái bảng chữ cái ấy vào tác phẩm của anh. Và dẫu cho sự sao chép đó có lồ lộ đến nhường nào - bởi lẽ anh hiếm khi cần mượn ý tứ thực sự của họ - thì điều đó cũng chẳng hề hấn gì. Vẫn sẽ có những kẻ khờ khạo ngây thơ tin sái cổ rằng anh đã huy động toàn bộ pho học thức đó cho câu chuyện dung dị, không chút màu mè này của anh. Mà nói cho cùng, nếu nó chẳng đáp ứng được mục đích nào khác, thì cái danh mục tác giả dài dằng dặc ấy cũng thừa sức đắp lên một bức bình phong uyên bác đến sửng sốt cho cuốn sách. Hơn nữa, sẽ chẳng kẻ rỗi hơi nào buồn bận tâm đi đối chiếu xem anh có thực sự noi theo họ hay không, bởi chuyện đó hoàn toàn vô can với họ. Nhất là khi, nếu tôi không lầm, thì cuốn sách này của anh hoàn toàn chẳng mảy may cần đến bất cứ thứ gì trong số những món anh bảo nó đang khuyết thiếu. Bởi vì từ đầu chí cuối, nó vốn là một đòn tổng công kích giáng vào những cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ, cái thứ mà Aristotle chưa từng mơ tới, Thánh Basil chẳng đoái hoài lấy nửa lời, và Cicero thì hoàn toàn mù tịt. Những sự tinh tế của chân lý hay những quan sát tỉ mỉ của thuật chiêm tinh học cũng tuyệt nhiên chẳng nằm trong phạm trù của những sự quái gở hoang đường của nó. Những phép đo đạc hình học hay những lời phản bác sắc bén của thuật hùng biện lại càng chẳng dính dáng gì. Nó cũng không hề mang ảo mộng thuyết giáo cho bất kỳ ai, chẳng hề trộn lẫn những chuyện trần tục xôi thịt với giáo lý thần thánh - một mớ hổ lốn mà chẳng tín đồ Cơ Đốc giáo có lý trí nào dại dột vướng vào. Nó chỉ việc bám chặt lấy sự chân thực của tự nhiên trong quá trình phôi thai sáng tác, và hễ sự mô phỏng ấy càng hoàn hảo thì tác phẩm lại càng kiệt xuất. Và bởi lẽ tác phẩm này của anh chẳng hề ấp ủ dã tâm nào khác ngoài việc đạp đổ cái vị thế và tầm ảnh hưởng ngự trị lố lăng mà những tiểu thuyết hiệp sĩ đang thao túng trên thế giới và trong lòng công chúng, nên anh đâu có việc gì phải tất tả chạy vạy đi vay mượn những câu châm ngôn từ các triết gia, lời răn từ Kinh Thánh, truyện ngụ ngôn từ các thi sĩ, bài hùng biện của các diễn giả, hay những phép lạ từ các bậc thánh nhân. Anh chỉ việc dụng công gọt giũa sao cho lối hành văn và từ ngữ tuôn trào một cách nhịp nhàng, êm ái và mộc mạc nhất. Hãy để những câu chữ rõ ràng, chuẩn xác và được sắp xếp gọn gàng phô bày mục đích của anh một cách tinh khôi nhất trong khả năng có thể, diễn đạt những ý tưởng thật mạch lạc, không mảy may rối rắm hay mù mờ. Cũng hãy nỗ lực thắp lên ngọn lửa, để sao cho khi lật giở câu chuyện của anh, kẻ ưu sầu bỗng bật tiếng cười giòn giã, người vui vẻ lại càng hân hoan rạng rỡ. Để những tâm hồn chất phác sẽ không thấy mỏi mệt, để những bậc sáng suốt phải thán phục trước tài hoa sáng tạo, để những người nghiêm nghị cũng không đành lòng buông lời khinh thị, và những bộ óc thông thái cũng chẳng tiếc lời tán dương. Rốt cuộc, hãy khóa chặt mục tiêu của anh kiên định vào việc san phẳng cái nền móng mục nát của những tiểu thuyết hiệp sĩ, cái thứ bị một số người căm ghét nhưng lại được vạn người tung hô. Vì nếu anh thành công đả phá được chướng ngại đó, anh sẽ chạm tay vào một thành tựu vĩ đại không hề nhỏ đâu.”

Trong sự im lặng sâu sắc, tôi chăm chú lắng nghe những lời anh bạn nói. Những nhận xét sắc sảo của anh đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh mẽ. Chẳng một chút do dự, tôi hoàn toàn tâm phục khẩu phục, và chính từ những lời khuyên ấy, tôi quyết định chắp bút viết Lời tựa này.

Hỡi người đọc hiền hòa, qua trang viết này, hẳn bạn sẽ nhận ra sự thấu tình đạt lý của người bạn thông thái ấy. Bạn sẽ thấy tôi đã may mắn nhường nào khi tìm được một vị cố vấn tài ba giữa lúc tuyệt vọng nhất. Hơn thế nữa, bạn sẽ được đón nhận một món quà quý giá: câu chuyện nguyên bản, không chút chắp vá hay thêm thắt về chàng Don Quixote lừng danh xứ La Mancha. Cả vùng Campo de Montiel đều đinh ninh rằng từ bao năm nay, chưa từng có ai si tình và dũng cảm hơn chàng hiệp sĩ ấy.

Tôi chẳng dám kể công đã giới thiệu cho bạn một nhân vật lẫy lừng và đáng kính đến vậy. Thế nhưng, tôi thực lòng mong nhận được từ bạn một lời cảm ơn, bởi tôi sẽ giúp bạn làm quen với Sancho Panza danh tiếng, người hầu trung thành của ông. Qua nhân vật này, tôi tin mình đã gom góp trọn vẹn những ngón hài hước của mọi kẻ hầu cận, vốn vẫn hay nằm rải rác trong hàng bầy những cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ phù phiếm, để gửi đến bạn.

Và giờ đây-nguyện xin Thượng đế ban cho bạn sức khỏe, và xin đừng quên tôi. Vale.



  1. Ngạn ngữ cổ của Tây Ban Nha (Debajo de mi manto, al rey mato), mang ý nghĩa rằng trong phạm vi đời sống cá nhân hoặc tâm trí của riêng mình, mỗi người đều có quyền tự do và độc lập tuyệt đối, không bị ràng buộc bởi bất kỳ quyền lực nào, kể cả nhà vua. ↩

  2. Maravedi là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất bằng đồng của Tây Ban Nha thời bấy giờ. Ở đây dùng với nghĩa bóng chỉ một giá trị vô cùng nhỏ bé, không đáng bận tâm. ↩

  3. Câu ngạn ngữ tiếng Latin có nghĩa là "Tự do không thể bán đổi lấy tất cả vàng bạc trên đời". Tác giả cố ý dùng tiếng Latin để châm biếm thói quen trích dẫn sáo rỗng, khoe khoang chữ nghĩa thời bấy giờ. ↩

  4. Trích từ thơ của Horace, nghĩa là "Cái chết nhợt nhạt gõ cửa bằng những nhịp chân ngang nhau, từ những túp lều bần hàn của kẻ nghèo khó đến những tòa tháp vàng son của các bậc vương tôn". ↩

  5. Câu trích từ Kinh Thánh bằng tiếng Latin, nghĩa là "Nhưng ta bảo các ngươi: hãy yêu kẻ thù của mình". ↩

  6. Câu thơ tiếng Latin có nghĩa "Khi ngươi hạnh phúc, ngươi sẽ đếm được nhiều bạn bè / Nhưng khi thời thế u ám mây mù, ngươi sẽ chỉ còn lại một mình". Thực chất đây là thơ của Ovid, việc nhân vật gán bừa cho Cato là dụng ý châm biếm sự dốt nát của các học giả rởm. ↩

  7. Sự tích Goliath thực chất nằm trong Sách Samuel, không phải Sách Các Vua. Đây tiếp tục là thủ pháp châm biếm của Cervantes nhằm giễu cợt thói trích dẫn sai lệch của các học giả đương thời. ↩

  8. Quái vật khổng lồ phun lửa trong thần thoại La Mã, nổi tiếng với vụ ăn trộm đàn bò của vị thần anh hùng Hercules. ↩

  9. Nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, người phụ nữ đã tàn nhẫn giết chết chính con đẻ của mình để trả thù sự phản bội của người chồng. ↩

  10. Nữ thần/Tiên nữ trong sử thi Odyssey của Homer, người đã quyến rũ và giam giữ người hùng Odysseus suốt bảy năm trên đảo của nàng. ↩

  11. Leon Hebraeus (Judah Abrabanel), một triết gia, bác sĩ và nhà thơ Do Thái nổi tiếng thời Phục hưng với tác phẩm "Những cuộc đối thoại về tình yêu". ↩