Vụ án Bản thiết kế Bruce-Partington

Vào tuần thứ ba của tháng 11 năm 1895, một lớp sương mù màu vàng đặc quánh bao trùm khắp London. Từ thứ Hai cho đến thứ Năm, ngồi ở căn hộ trên phố Baker, tôi dám chắc chúng tôi chẳng thể nhìn thấu những bóng nhà phía đối diện. Trong ngày đầu tiên, Holmes vùi mình vào cuốn sách tham khảo khổng lồ để tra cứu chéo. Sang ngày thứ hai và thứ ba, anh lại nhẫn nại xoay xở với thú vui mới mẻ dạo gần đây-âm nhạc thời Trung Cổ. Thế nhưng đến ngày thứ tư, khi đẩy ghế đứng lên khỏi bàn điểm tâm và vẫn phải chứng kiến luồng sương mù nâu xỉn, nhớp nháp cuộn chảy bên ngoài, đọng lại thành những giọt váng dầu trên cửa kính, thì bản tính năng động và thiếu kiên nhẫn của anh rốt cuộc không thể chịu đựng nổi nhịp sống tẻ nhạt này thêm nữa. Bức bối đến ngột ngạt, anh đi lại không yên quanh phòng khách, vừa cắn móng tay vừa gõ nhịp lên đồ đạc, đầy bực dọc vì chẳng có việc gì để làm.

"Chẳng có tin gì thú vị trên báo sao, Watson?" anh hỏi.

Tôi hiểu rằng với Holmes, "điều thú vị" luôn đồng nghĩa với tội phạm. Trên mặt báo đăng tải tin tức về một cuộc cách mạng, về nguy cơ bùng nổ chiến tranh hay chuyện chính phủ sắp đổi ngôi; nhưng tất thảy đều chẳng lọt vào mắt bạn tôi. Ngoài mấy vụ vặt vãnh và vô nghĩa, tôi chẳng tìm thấy manh mối tội ác nào đáng chú ý. Holmes rên rỉ một tiếng rồi lại tiếp tục đi tới đi lui đầy bồn chồn.

"Tội phạm ở London dạo này đúng là một lũ tẻ nhạt," anh càu nhàu hệt như một gã thợ săn để tuột mất con mồi. "Hãy nhìn ra ngoài cửa sổ đi, Watson. Xem những bóng người thoắt ẩn thoắt hiện rồi lại chìm lấp vào màn sương mù kìa. Trong một ngày thế này, bất cứ tên trộm hay kẻ sát nhân nào cũng có thể nhởn nhơ dạo bước giữa London như con hổ rình mồi chốn rừng thiêng nước độc. Chẳng ai hay biết cho tới tận lúc chúng vồ lấy con mồi, và rồi chỉ có nạn nhân mới kịp nhận ra sự hiện diện của chúng."

"Dạo này," tôi lên tiếng, "đúng là có vô số vụ trộm vặt."

Holmes khịt mũi khinh bỉnh.

"Sân khấu rộng lớn và u ám này vốn được dựng lên cho những vở kịch xứng tầm hơn thế cơ," anh nói. "Thật may phước cho cái xã hội này vì tôi chẳng phải là tội phạm."

"Đúng là như vậy!" tôi thành tâm đồng tình.

"Anh thử mường tượng xem, nếu tôi là Brooks hay Woodhouse, hay bất cứ ai trong số năm chục kẻ có lý do chính đáng để đoạt mạng tôi, liệu tôi còn sống sót được bao lâu nếu tự mình truy sát chính mình? Một trát hầu tòa, một cuộc hẹn giả mạo, và thế là chấm dứt tất cả. Thật đáng mừng vì ở các quốc gia Latinh-những xứ sở của những vụ ám sát-không có những ngày sương mù như thế này. Lạy Chúa! Rốt cuộc thì cũng có thứ gì đó xuất hiện để phá vỡ cái nhịp sống đơn điệu chết tiệt của chúng ta."

Đó là cô hầu gái mang lên một bức điện tín. Holmes xé toạc phong bì, đọc lướt qua rồi bật cười sảng khoái.

"Chà, chà! Lại có chuyện gì đây?" anh nói. "Anh Mycroft sắp ghé qua."

"Thế thì có sao đâu?" tôi hỏi.

"Sao lại không à? Chuyện đó cũng kỳ lạ y như việc anh thấy một chiếc xe điện chạy dọc theo con đường làng vậy. Mycroft có một lộ trình riêng và anh ấy luôn bám chặt lấy nó. Căn hộ ở Pall Mall, Câu lạc bộ Diogenes1, rồi Whitehall2-đó là vòng tuần hoàn cố định của anh ấy. Chỉ một lần, và cũng là lần duy nhất, anh ấy mới chịu bước chân đến đây. Phải chăng có một biến động dữ dội nào đó mới khiến anh ấy trật khỏi đường ray quen thuộc của mình như thế?"

"Thế anh ấy không giải thích gì sao?"

Holmes bèn chìa cho tôi bức điện của anh trai mình.

"Phải gặp chú về vụ Cadogan West. Đang tới ngay."
MYCROFT.

"Cadogan West? Tôi nghe cái tên này quen quen."

"Cái tên đó chẳng gợi lên chút ấn tượng nào trong tôi. Nhưng việc Mycroft thay đổi thói quen đúng là một hiện tượng lạ thường! Chuyện này chấn động chẳng kém gì việc một hành tinh chệch khỏi quỹ đạo vậy. Mà nhân tiện, anh có biết Mycroft làm công việc gì không?"

Tôi nhớ mang máng lời giải thích của anh hồi giải quyết vụ án Người thông dịch tiếng Hy Lạp.

"Anh từng bảo tôi rằng anh ấy giữ một chức vụ nhỏ nào đó trong chính phủ Anh."

Holmes khẽ cười khúc khích.

"Dạo ấy tôi chưa hiểu rõ về anh lắm. Khi đả động đến những vấn đề hệ trọng của quốc gia, người ta phải hết sức thận trọng. Anh đoán đúng là anh ấy làm việc dưới trướng chính phủ Anh. Và theo một nghĩa nào đó, anh cũng chẳng hề sai nếu nói rằng đôi khi anh ấy chính là chính phủ Anh."

"Anh bạn Holmes thân mến của tôi ơi!"

"Tôi e rằng những điều tiếp theo sẽ làm anh phải kinh ngạc. Dù chỉ kiếm được bốn trăm rưỡi bảng mỗi năm, mang thân phận cấp dưới, chẳng ôm ấp hoài bão nào và khước từ mọi danh vọng tước vị, nhưng Mycroft vẫn là nhân vật không thể thiếu đối với đất nước này."

"Nhưng bằng cách nào cơ chứ?"

"Chà, anh ấy sở hữu một vị trí độc nhất vô nhị do chính mình tạo ra. Trước đây chưa từng có tiền lệ, và sau này cũng sẽ không bao giờ có một ai tương tự. Mycroft sở hữu một trí óc siêu việt với khả năng sắp xếp logic và lưu trữ dữ kiện đồ sộ nhất trong số những người đang sống. Những tố chất tuyệt vời mà tôi thường vận dụng để phá án thì anh ấy lại dồn cả vào công việc đặc thù này. Báo cáo kết luận từ mọi ban ngành đều đổ về tay anh ấy; Mycroft đóng vai trò như một trung tâm giao dịch, một bộ máy xử lý cốt lõi nhằm đưa ra giải pháp cân bằng. Những người khác chỉ là chuyên gia trong một lĩnh vực cụ thể, còn chuyên môn của anh ấy lại là sự toàn tri. Cứ thử mường tượng một vị bộ trưởng cần tìm hiểu thông tin liên quan đến Hải quân, Ấn Độ, Canada và cả chế độ bản vị kép3; ông ta có thể thu thập lời khuyên riêng lẻ từ từng ban ngành, nhưng duy chỉ có Mycroft mới đủ sức tổng hợp tất cả lại, và lập tức chỉ ra sự tác động qua lại giữa từng yếu tố. Ban đầu, họ chỉ coi anh ấy như một con đường tắt tiện lợi; nhưng giờ đây, anh ấy đã tự biến mình thành một trụ cột thiết yếu. Trong khối óc vĩ đại ấy, mọi thứ đều được phân loại ngăn nắp và sẵn sàng trích xuất chỉ trong chớp mắt. Đã không biết bao lần, chính những phán quyết của anh ấy đã định hình chính sách quốc gia. Anh ấy hít thở cùng công việc. Anh ấy chẳng bận tâm đến điều gì khác, ngoại trừ những lúc muốn rèn luyện trí não, anh ấy mới chịu thư giãn mỗi khi tôi ghé qua xin lời khuyên cho vài vấn đề lặt vặt của mình. Nhưng hôm nay, có vẻ như sao Mộc đang thực sự giáng trần4. Rốt cuộc chuyện này mang ý nghĩa gì? Cadogan West là ai, và anh ta có can hệ thế nào với Mycroft?"

"Tôi tìm thấy rồi đây," tôi thốt lên, đồng thời lục tung đống báo cũ trên ghế sofa. "Đúng rồi, chính nó đây rồi! Cadogan West chính là gã thanh niên được phát hiện tử vong trên tuyến Tàu điện ngầm vào sáng thứ Ba vừa rồi."

Holmes ngồi bật dậy đầy chú tâm, chiếc tẩu trên tay mới đưa lên môi được một nửa.

"Chuyện này ắt hẳn phải cực kỳ nghiêm trọng đấy, Watson ạ. Một cái chết đủ sức buộc anh trai tôi phá bỏ thói quen thường nhật tuyệt đối không phải là chuyện tầm thường. Nhưng trên đời này anh ấy thì có dây dưa gì đến vụ đó cơ chứ? Theo trí nhớ của tôi, vụ án này đâu có điểm gì đặc biệt. Rành rành là cậu thanh niên đó đã ngã khỏi tàu và thiệt mạng. Nạn nhân không hề bị cướp bóc, và cũng chẳng có cơ sở cụ thể nào để nghi ngờ đây là một vụ án mạng do bạo lực. Chẳng phải thế sao?"

"Người ta đã tiến hành điều tra," tôi đáp, "và phanh phui thêm vô số tình tiết mới. Nếu xem xét cặn kẽ hơn, tôi dám khẳng định đây là một vụ án hết sức kỳ lạ."

"Cứ nhìn vào tác động của nó đối với anh trai tôi, tôi tin chắc đây phải là một vụ án đặc biệt bất thường." Anh rúc sâu vào chiếc ghế bành nệm êm. "Nào, Watson, hãy thuật lại cho tôi toàn bộ sự việc xem sao."

"Nạn nhân tên là Arthur Cadogan West. Anh ta hai mươi bảy tuổi, chưa lập gia đình, hiện đang làm thư ký tại Xưởng vũ khí Woolwich5."

"Làm việc cho chính phủ. Ra là thế, đây chính là sợi dây liên kết với anh Mycroft!"

"Anh ta bất ngờ rời khỏi Woolwich vào tối thứ Hai. Người cuối cùng nhìn thấy anh ta chính là cô vợ sắp cưới, Violet Westbury; anh ta đã đột ngột bỏ lại cô giữa màn sương mù dày đặc vào khoảng 7 giờ rưỡi tối hôm ấy. Giữa hai người chẳng hề xảy ra xích mích nào, và cô gái cũng hoàn toàn mù tịt về động cơ đằng sau hành động kỳ quặc của anh ta. Tung tích tiếp theo người ta nghe được về gã thanh niên này là khi thi thể của anh ta được Mason, một thợ đặt đường ray, tình cờ phát hiện nằm ngay bên ngoài Ga Aldgate thuộc hệ thống Tàu điện ngầm London."

"Vào thời điểm nào?"

"Thi thể được tìm thấy vào khoảng sáu giờ sáng thứ Ba. Nó nằm khuất xa phía bên trái đường ray tính theo hướng đi về phía đông, tại vị trí gần nhà ga, nơi đường tàu vừa nhô ra khỏi đường hầm. Phần đầu nạn nhân bị dập nát nghiêm trọng-nhiều khả năng đây là vết thương chí mạng do rơi từ trên tàu xuống. Đó là con đường duy nhất để thi thể xuất hiện trên đường ray. Bởi lẽ, nếu có người khiêng xác từ bất kỳ con phố lân cận nào xuống, kẻ đó bắt buộc phải đi qua các rào chắn của nhà ga, nơi luôn có nhân viên soát vé túc trực. Điểm này gần như là chắc chắn tuyệt đối."

"Rất tốt. Diễn biến vụ án đã khá sáng tỏ. Nạn nhân, bất kể lúc ấy còn sống hay đã chết, chắc chắn đã rơi hoặc bị ném văng khỏi một chuyến tàu. Đến đây thì tôi đã nắm được tình hình. Anh kể tiếp đi."

"Tuyến đường sắt chạy ngang qua nơi phát hiện thi thể chỉ phục vụ các chuyến tàu đi từ tây sang đông; một vài trong số đó là tàu Metropolitan nội đô, số khác khởi hành từ Willesden cùng các giao lộ ngoại vi. Có thể khẳng định chắc nịch rằng vào lúc gặp nạn giữa đêm khuya, nạn nhân đang di chuyển trên lộ trình này, nhưng không ai rõ anh ta đã lên tàu từ ga nào."

"Hiển nhiên chiếc vé tàu sẽ vạch trần điều đó."

"Họ chẳng tìm thấy chiếc vé nào trong túi anh ta cả."

"Không có vé ư! Ôi trời đất ơi, Watson, chi tiết này quả thực vô cùng kỳ lạ. Bằng kinh nghiệm của mình, tôi dám chắc không một ai có thể bước chân lên sân ga của một chuyến tàu Metropolitan mà không xuất trình vé. Vậy thì có thể suy luận rằng chàng thanh niên này vốn phải sở hữu một chiếc vé. Phải chăng hung thủ đã cuỗm mất chiếc vé để che giấu ga xuất phát? Rất có khả năng. Hay do anh ta đã vô tình làm rơi nó trong toa xe? Chuyện đó cũng hoàn toàn khả thi. Dù sao thì điểm này cũng đặc biệt thú vị. Theo tôi hiểu, anh ta không hề có dấu hiệu bị cướp bóc phải không?"

"Rành rành là không. Đây là danh sách di vật của nạn nhân. Trong ví anh ta còn sót lại hai bảng mười lăm shilling6. Bọn họ cũng tìm thấy một cuốn sổ séc thuộc chi nhánh Woolwich của Ngân hàng Capital and Counties. Chính nhờ nó mà danh tính của nạn nhân mới được xác minh. Ngoài ra còn có hai vé ngồi lô ở Nhà hát Woolwich, in đúng ngày xảy ra án mạng. Cùng với đó là một tập giấy tờ kỹ thuật nhỏ."

Holmes buột miệng reo lên đầy mãn nguyện.

"Rốt cuộc chúng ta cũng nắm được mấu chốt rồi, Watson! Chính phủ Anh-Xưởng vũ khí Woolwich-tài liệu kỹ thuật-rồi đến anh Mycroft, chuỗi liên kết nay đã hoàn toàn liền mạch. Nhưng nếu tôi không lầm thì anh ấy đã tới cửa rồi kia kìa, và anh ấy sẽ đích thân kể rõ cớ sự."

Chỉ một chốc sau, dáng vóc cao lớn và đẫy đà của Mycroft Holmes đã xuất hiện trong phòng. Sở hữu thân hình vạm vỡ và có phần đồ sộ, từng cử động của anh ấy đều toát lên vẻ chậm chạp, thô kệch. Thế nhưng, ngự trị trên cái khung xương cồng kềnh ấy lại là một cái đầu mang nét uy quyền tột đỉnh ở vầng trán, sự cảnh giác cao độ toát ra từ đôi mắt sâu thẳm, xám lạnh như thép, vẻ kiên định hằn sâu trên khóe môi, và sự tinh tế tột bậc trong từng biểu cảm. Chính vì thế, chỉ sau cái liếc mắt đầu tiên, người đối diện sẽ lập tức quên béng đi cơ thể phục phịch kia mà chỉ còn ấn tượng sâu đậm về một khối óc thống trị.

Nối gót theo sau anh ấy là Lestrade, người bạn cũ của chúng tôi đến từ Scotland Yard-với dáng vẻ gầy gò và khắc khổ thường thấy. Nét mặt nghiêm trọng của cả hai báo hiệu một nhiệm vụ vô cùng hệ trọng đang chờ đợi phía trước. Viên thanh tra lẳng lặng bắt tay chúng tôi mà không buông lấy nửa lời. Mycroft Holmes khó nhọc cởi bỏ chiếc áo khoác ngoài rồi phịch người xuống một chiếc ghế bành.

"Thật là một phi vụ cực kỳ phiền toái, Sherlock ạ," anh ấy mở lời. "Anh vốn cực kỳ ghét phải phá vỡ thói quen sinh hoạt của mình, nhưng những người nắm quyền trên kia thì chẳng bao giờ chấp nhận lời từ chối. Giữa lúc tình hình nước Xiêm đang rối ren thế này, việc anh phải rời khỏi văn phòng quả thực vô cùng bất tiện. Thế nhưng đây lại là một cuộc khủng hoảng quy mô lớn. Anh chưa từng thấy Thủ tướng bực dọc đến vậy. Còn về phần Bộ Hải quân-nơi đó đang nháo nhác hệt như một tổ ong bị lật úp. Chú đã cập nhật tình hình vụ này chưa?"

"Bọn em vừa mới lướt qua xong. Những tài liệu kỹ thuật đó thực chất là gì vậy anh?"

"Chà, đó mới chính là vấn đề! Thật may mắn vì tin tức chưa bị rò rỉ ra ngoài. Giới báo chí chắc chắn sẽ nổi trận lôi đình nếu đánh hơi được chuyện này. Tập tài liệu nằm trong túi chàng thanh niên khốn khổ đó không gì khác chính là bản vẽ thiết kế của chiếc tàu ngầm Bruce-Partington."

Mycroft Holmes cất giọng đầy trang nghiêm, chứng tỏ anh ấy ý thức rất rõ tính chất trọng đại của vấn đề. Tôi và em trai anh ấy vẫn nín lặng chờ đợi.

"Chắc hẳn chú đã nghe danh nó rồi chứ? Anh tưởng mọi người đều đã rõ tiếng tăm của nó rồi."

"Em chỉ mới loáng thoáng nghe qua cái tên."

"Tầm vóc của nó thật sự khó bề phóng đại. Nó chính là bí mật được canh phòng nghiêm ngặt nhất trong số mọi bí mật tối cao của chính phủ. Chú hoàn toàn có thể tin lời anh: thủy chiến sẽ trở nên bất khả thi trong phạm vi hoạt động của tàu Bruce-Partington. Hai năm trước, chính phủ đã lén lút trích một khoản ngân sách khổng lồ từ Dự toán7 để mua đứt đặc quyền sở hữu phát minh này. Họ đã dốc mọi nỗ lực để bưng bít thông tin. Tập bản vẽ vô cùng phức tạp, tích hợp khoảng ba mươi bằng sáng chế riêng biệt-mỗi bằng sáng chế đều đóng vai trò then chốt đối với sự vận hành của toàn bộ hệ thống. Chúng được niêm phong trong một chiếc két sắt tinh vi, đặt tại một văn phòng bí mật nằm sát vách xưởng vũ khí, với hệ thống cửa ra vào và cửa sổ chống trộm kiên cố. Dù trong bất kỳ tình huống nào, tuyệt đối không ai được phép mang bản vẽ ra khỏi văn phòng. Thậm chí, ngay cả kỹ sư trưởng của lực lượng Hải quân nếu muốn tham khảo thì cũng buộc phải cất công đến tận văn phòng ở Woolwich. Vậy mà giờ đây, chúng lại ngang nhiên xuất hiện trong túi của một gã thư ký quèn vừa vong mạng ngay giữa lòng London. Xét trên phương diện chính quyền, đây quả thực là một thảm họa tồi tệ."

"Nhưng chẳng phải anh đã thu hồi được chúng rồi sao?"

"Không, Sherlock, hoàn toàn không! Đó mới chính là rắc rối lớn. Chúng ta chưa hề thu hồi được trọn vẹn tài liệu. Mười tờ bản vẽ đã bị tuồn khỏi Woolwich. Có bảy tờ nằm trong túi Cadogan West. Nhưng ba tờ then chốt nhất đã bốc hơi-chính xác là bị đánh cắp. Chú phải gác lại mọi việc, Sherlock ạ. Đừng bận tâm đến dăm ba cái câu đố phá án vặt vãnh ở tòa án cảnh sát nữa. Đây là một vấn đề tầm cỡ quốc tế mang tính sống còn mà chú buộc phải xắn tay vào giải quyết. Tại sao Cadogan West lại đánh cắp bản vẽ, những tờ bị thiếu hiện đang lưu lạc nơi đâu, anh ta đã vong mạng ra sao, bằng cách nào thi thể anh ta lại xuất hiện ở nơi được phát hiện, và chúng ta phải làm gì để vãn hồi hậu quả? Chỉ cần chú tìm ra lời giải cho toàn bộ những câu hỏi này, chú sẽ lập được một đại công lớn cho đất nước."

"Thế sao anh không tự mình ra tay, Mycroft? Tầm nhìn của anh đâu có kém cạnh gì em."

"Có thể là vậy, Sherlock. Nhưng mấu chốt nằm ở khâu thu thập tình tiết. Cứ mang dữ kiện đến đây, và ngay từ chiếc ghế bành này, anh sẽ cung cấp cho chú một nhận định xuất sắc dưới góc nhìn chuyên gia. Còn chuyện chạy đôn chạy đáo, tra khảo đám gác ghi đường sắt, hay nằm rạp xuống đất với chiếc kính lúp gắn trên mắt-những thứ đó đâu phải là thế mạnh của anh. Không, chú là người duy nhất đủ sức làm sáng tỏ vụ này. Nếu chú còn có chút tham vọng muốn thấy tên mình xuất hiện trong danh sách tuyên dương ở kỳ tới-"

Bạn tôi khẽ mỉm cười rồi lắc đầu.

"Em tham gia cuộc chơi đơn thuần vì chính bản thân trò chơi mà thôi," anh đáp. "Nhưng vụ này quả thực ẩn chứa nhiều yếu tố thú vị, và em sẽ rất sẵn lòng điều tra nó. Xin anh hãy cung cấp thêm vài dữ kiện nữa."

"Anh đã cẩn thận ghi chép lại những điểm cốt lõi nhất trên tờ giấy này, đính kèm vài địa chỉ mà chú sẽ thấy hữu dụng. Người chịu trách nhiệm chính thức trông coi các bản vẽ là vị chuyên gia lừng danh của chính phủ, Ngài James Walter-một nhân vật sở hữu những huy chương và tước vị kéo dài chật kín cả hai dòng trong sổ tham khảo. Ông ấy đã cống hiến trọn đời cho ngành này đến mức mái đầu điểm bạc, là một quý ông đức cao vọng trọng, một vị thượng khách luôn được săn đón ở những dinh thự quyền quý nhất, và trên hết, là một người mà lòng yêu nước của ông chẳng ai có thể nghi ngờ. Ông ấy là một trong hai người duy nhất giữ chìa khóa mở két sắt. Anh xin nói thêm rằng các bản vẽ chắc chắn vẫn nằm yên vị trong văn phòng suốt giờ hành chính vào ngày thứ Hai. Đến khoảng ba giờ chiều, Ngài James đã rời đi London và mang theo chiếc chìa khóa của mình. Xuyên suốt buổi tối hôm xảy ra sự việc, ông ấy vẫn ở lại tư dinh của Đô đốc Sinclair tại Quảng trường Barclay."

"Những dữ kiện này đã được xác minh chưa thưa anh?"

"Rồi; chính em trai của ông ấy, Đại tá Valentine Walter, đã đứng ra làm chứng cho việc ông rời khỏi Woolwich, còn Đô đốc Sinclair cũng xác nhận việc ông có mặt ở London; do đó Ngài James đã được loại khỏi danh sách nghi phạm trực tiếp."

"Vậy người còn lại giữ chìa khóa là ai?"

"Đó là viên thư ký trưởng kiêm chuyên viên phác thảo, ông Sidney Johnson. Ông ta là một người đàn ông trạc tứ tuần, đã lập gia đình và có năm mặt con. Tuy là một kẻ lầm lì, ít nói, nhưng xét về tổng thể, ông ta lại sở hữu thành tích công tác xuất sắc trong bộ máy công chức. Dù chẳng mấy được lòng đồng nghiệp, nhưng không ai có thể phủ nhận ông ta là một nhân viên mẫn cán. Theo như lời khai của chính Johnson-với nhân chứng duy nhất là vợ ông ta-thì ông ta đã ở nhà suốt buổi tối thứ Hai sau giờ tan tầm, và chiếc chìa khóa chưa bao giờ tuột khỏi sợi dây đồng hồ móc trên người ông ta."

"Vậy anh hãy kể cho chúng em nghe thêm về Cadogan West đi."

"Cậu thanh niên này đã cống hiến suốt mười năm và luôn hoàn thành xuất sắc công việc. Dẫu mang tiếng là một kẻ nóng nảy và độc đoán, nhưng bản chất anh ta lại vô cùng thẳng thắn và bộc trực. Chúng ta chẳng có chứng cứ gì để buộc tội anh ta cả. Anh ta ngồi làm việc ngay cạnh Sidney Johnson trong văn phòng. Bản chất công việc buộc anh ta phải tiếp xúc trực tiếp với các bản vẽ mỗi ngày. Và ngoài hai người họ ra, tuyệt đối không một ai khác được quyền đụng tay vào tài liệu."

"Thế ai là người chịu trách nhiệm khóa cất bản vẽ vào tối hôm đó?"

"Là ông Sidney Johnson, viên thư ký trưởng."

"Chà, vậy thì quá rõ ràng ai là thủ phạm tuồn tài liệu ra ngoài rồi. Chúng rành rành được tìm thấy trên người gã thư ký quèn Cadogan West kia mà. Chẳng phải điều đó đã tự phơi bày kết luận cuối cùng rồi sao?"

"Đúng là như vậy, Sherlock, thế nhưng nó lại để lại quá nhiều uẩn khúc chưa được giải đáp. Thứ nhất, tại sao anh ta lại trộm chúng?"

"Em đoán hẳn là chúng có giá trị lắm?"

"Anh ta có thể dễ dàng bỏ túi vài ngàn bảng nếu bán chúng."

"Thế anh có thể đưa ra bất kỳ động cơ nào khác giải thích cho việc anh ta mang tài liệu đến London, ngoại trừ ý định đem bán chúng không?"

"Không, anh chịu thôi."

"Vậy thì chúng ta buộc phải dùng nó làm giả thuyết nòng cốt. Cậu thanh niên West chính là kẻ đã đánh cắp các bản vẽ. Để làm được điều đó, cách duy nhất là anh ta phải thủ sẵn một chiếc chìa khóa giả-"

"Vài chiếc chìa khóa giả mới đúng. Anh ta phải mở khóa cả cửa tòa nhà lẫn cửa căn phòng."

"Cứ cho là như vậy đi, anh ta đã chuẩn bị vài chiếc chìa khóa giả. Sau đó, anh ta mang các bản vẽ lên London để bán đứng bí mật quốc gia, đồng thời chắc mẩm sẽ lén trả lại chúng vào két sắt ngay sáng hôm sau, trước khi sự biến mất bị bại lộ. Thế nhưng trong lúc lẩn khuất ở London để thực hiện hành vi phản quốc, anh ta đã chuốc lấy cái chết."

"Nhưng bằng cách nào chứ?"

"Chúng ta sẽ đặt giả thiết rằng trên đường quay về Woolwich, anh ta đã bị sát hại và văng khỏi toa xe."

"Nhưng Aldgate-nơi phát hiện thi thể-lại nằm khá xa ga Cầu London, vốn là tuyến đường chính yếu để anh ta trở về Woolwich."

"Chúng ta có thể mường tượng ra vô vàn tình huống để lý giải việc anh ta đi lố qua Cầu London. Chẳng hạn, anh ta đang mải mê thương thuyết với một kẻ nào đó ngay trong toa xe. Cuộc trao đổi biến thành một vụ ẩu đả bạo lực, dẫn đến việc anh ta mất mạng. Cũng có khả năng anh ta đã liều mình tháo chạy khỏi toa xe, rơi xuống đường ray, và bỏ mạng vì thế. Kẻ kia sau đó đã đóng sập cửa lại. Lúc bấy giờ sương mù bao phủ đặc quánh, mọi thứ đều chìm trong mù mịt, không ai có thể nhìn thấy bất cứ điều gì."

"Với lượng thông tin hiện tại thì quả thực khó mà đưa ra lời giải thích nào hợp lý hơn; thế nhưng hãy cân nhắc lại đi, Sherlock, chú đã bỏ sót quá nhiều tình tiết rồi. Cứ cho là chàng thanh niên Cadogan West đã thực sự mang mớ tài liệu này lên London đi. Theo lẽ thường tình, anh ta sẽ phải sắp xếp một cuộc hẹn bí mật với tên điệp viên nước ngoài và dành trọn buổi tối cho phi vụ đó. Đằng này, anh ta lại đi mua hai vé xem kịch, tháp tùng cô vợ sắp cưới đi được nửa đường, để rồi đột nhiên bốc hơi không tăm tích."

"Đó chỉ là trò tung hỏa mù mà thôi," Lestrade gắt gỏng xen vào, dường như ông ta đã cạn kiệt kiên nhẫn sau khi phải ngồi nghe cả cuộc đối thoại.

"Một trò tung hỏa mù hết sức kỳ quặc. Đó là điều vô lý thứ nhất. Điều vô lý thứ hai: Cứ giả định rằng anh ta đã lên London và trót lọt gặp gỡ tên điệp viên. Anh ta buộc phải mang đống tài liệu trở về trước buổi sáng nếu không muốn sự việc bị bại lộ. Anh ta đã cuỗm đi mười tờ bản vẽ. Nhưng trong túi anh ta chỉ còn sót lại bảy tờ. Vậy ba tờ kia đã bốc hơi đi đâu? Chắc chắn anh ta sẽ chẳng dại gì mà tự nguyện dâng nộp chúng. Hơn nữa, thù lao cho sự phản quốc của anh ta đâu? Lẽ ra người ta phải tìm thấy một khoản tiền kếch xù trong túi anh ta mới phải chứ."

"Đối với tôi thì mọi chuyện đã rành rành cả rồi," Lestrade khẳng định. "Tôi chẳng mảy may nghi ngờ về diễn biến vụ việc. Gã thư ký đã lén mang tài liệu đi bán. Hắn gặp tên điệp viên. Hai bên không đạt được thỏa thuận về giá cả. Thế là hắn quay ngoắt trở về nhà, nhưng tên điệp viên bám theo hắn. Khi lên tàu, tên điệp viên đã ra tay sát hại hắn, cướp đi những tài liệu quan trọng nhất, rồi ném xác hắn khỏi toa xe. Lập luận đó đủ sức lý giải cho mọi uẩn khúc, phải không nào?"

"Nhưng tại sao anh ta lại không có vé?"

"Chiếc vé sẽ tố cáo nhà ga nào nằm gần hang ổ của tên điệp viên nhất. Chính vì thế mà hắn ta đã cẩn thận lục túi và cuỗm mất chiếc vé của nạn nhân."

"Rất tốt, Lestrade, lập luận rất xuất sắc," Holmes tán thưởng. "Giả thuyết của ông cực kỳ kín kẽ. Nhưng nếu mọi chuyện diễn ra đúng như vậy thì vụ án đã khép lại rồi. Một mặt, kẻ phản bội đã đền tội. Mặt khác, tập bản vẽ thiết kế tàu ngầm Bruce-Partington giờ này có lẽ đã yên vị ở Lục địa. Vậy thì chúng ta còn có thể làm gì được nữa đây?"

"Phải hành động thôi, Sherlock-hành động ngay!" Mycroft bật dậy, lớn tiếng thúc giục. "Tất cả bản năng của anh đều gào thét phản đối lời giải thích vừa rồi. Hãy vận dụng tài năng của chú đi! Tới ngay hiện trường vụ án! Gặp gỡ những người có liên quan! Lật tung từng viên đá lên! Trong suốt sự nghiệp phá án của mình, chưa bao giờ chú đứng trước một cơ hội ngàn vàng như vậy để cống hiến cho đất nước đâu."

"Chà, chà!" Holmes vừa nói vừa nhún vai. "Lên đường thôi, Watson! Còn ông, Lestrade, ông có thể ban cho chúng tôi vinh hạnh được đồng hành cùng ông trong một hai giờ tới chứ? Chúng ta sẽ khởi động cuộc điều tra này bằng một chuyến viếng thăm Ga Aldgate. Tạm biệt anh, Mycroft. Em sẽ gửi báo cáo tình hình cho anh trước khi trời tối, nhưng em cảnh báo trước là anh đừng nên kỳ vọng quá nhiều."

Một giờ sau, Holmes, Lestrade và tôi đã có mặt trên tuyến đường sắt ngầm, ngay tại đoạn ngoặt nhô ra khỏi đường hầm trước khi vào ga Aldgate. Đón chúng tôi là một quý ông lớn tuổi, mặt đỏ gay, phong thái lịch thiệp - đại diện cho công ty đường sắt.

"Thi thể của cậu thanh niên được tìm thấy chính tại chỗ này," ông nói, tay chỉ vào một điểm cách đường ray chừng ba feet. "Cậu ta không thể rơi từ trên xuống, vì như các vị thấy đấy, bao quanh chỉ toàn là những bức tường trơn tuột. Do vậy, nạn nhân chỉ có thể văng ra từ một đoàn tàu. Và theo những gì chúng tôi tra cứu được, chuyến tàu đó hẳn đã đi qua đây vào khoảng nửa đêm thứ Hai."

"Thế các toa xe đã được kiểm tra kỹ càng xem có dấu hiệu của sự giằng co hay xô xát nào không?"

"Hoàn toàn không có, thưa ngài, và chúng tôi cũng chẳng tìm thấy tấm vé nào."

"Thế không có biên bản nào ghi nhận một cánh cửa toa bị mở tung sao?"

"Dạ không có."

"Sáng nay chúng tôi vừa thu thập thêm vài manh mối mới," Lestrade lên tiếng. "Một hành khách đi qua ga Aldgate trên chuyến tàu Metropolitan thông thường vào khoảng mười một giờ bốn mươi đêm thứ Hai khẳng định rằng ông ta nghe thấy một tiếng 'thịch' rất lớn, nghe như thể có một cơ thể rơi mạnh xuống đường ray, ngay trước lúc tàu cập bến. Tuy nhiên, sương mù khi ấy quá đỗi mịt mù nên ông ta chẳng nhìn thấy gì, và do đó, cũng không trình báo ngay lúc bấy giờ. Ơ kìa, ông Holmes làm sao thế?"

Bạn tôi đang đứng bất động, nét mặt căng thẳng đến tột độ, đôi mắt nhìn trân trân vào đường ray ngay tại khúc cua dẫn ra khỏi đường hầm. Aldgate vốn dĩ là một ngã ba, sở hữu cả một mạng lưới các thanh chuyển hướng đan chéo nhau. Ánh mắt sắc lẹm, cháy bỏng khao khát tìm tòi của anh dán chặt vào chúng. Trên khuôn mặt sắc sảo và luôn cảnh giác ấy, tôi nhận ra đôi môi đang mím chặt, hai cánh mũi khẽ phập phồng, cùng đôi lông mày rậm cau lại đầy tập trung-một biểu cảm mà tôi đã quá đỗi rành rẽ.

"Những thanh chuyển hướng," anh lầm bầm; "những thanh chuyển hướng."

"Thế thì sao? Ý ông là gì?"

"Tôi đoán là trên một hệ thống đường sắt thế này thì lượng thanh chuyển hướng cũng chẳng nhiều nhặn gì đâu nhỉ?"

"Đúng vậy; rất ít là đằng khác."

"Lại thêm một khúc cua nữa. Những thanh chuyển hướng và một khúc cua. Trời đất ơi! Giá như mọi chuyện chỉ đơn giản có vậy."

"Có chuyện gì thế, ông Holmes? Phải chăng ông đã phát hiện ra manh mối nào chăng?"

"Một tia sáng lướt qua-một giả thuyết mỏng manh, không hơn không kém. Nhưng vụ án này chắc chắn đang ngày một lý thú hơn đây. Độc nhất vô nhị, quả thật là độc nhất vô nhị, nhưng tại sao lại không thể chứ? Tôi chẳng hề thấy chút dấu vết máu nào lưu lại trên đường ray cả."

"Đúng là gần như không có."

"Nhưng theo tôi được biết thì có một vết thương chí mạng mà."

"Xương cốt đều vỡ nát, nhưng bên ngoài lại không có vết thương hở nào nghiêm trọng."

"Dẫu vậy, lẽ ra vẫn phải có một lượng máu nhất định chảy ra chứ. Liệu tôi có thể kiểm tra chuyến tàu chở vị hành khách đã nghe thấy tiếng rơi rớt trong màn sương mù kia không?"

"Tôi e là không được đâu, ông Holmes. Chuyến tàu đó đã bị tháo dỡ, và các toa xe đều đã được phân bổ cho những tuyến khác mất rồi."

"Tôi có thể cam đoan với ông, ông Holmes," Lestrade vội vã tiếp lời, "rằng từng toa xe đều đã được khám xét kỹ lưỡng. Đích thân tôi đã chỉ đạo việc đó."

Đó chính là một trong những điểm yếu trí mạng của bạn tôi: anh thường xuyên tỏ ra mất kiên nhẫn trước những khối óc kém sắc bén hơn mình.

"Chắc là vậy," anh đáp, ngoảnh mặt đi. "Nhưng thật tình cờ, những toa xe đó lại chẳng phải là thứ tôi muốn kiểm tra. Watson, chúng ta đã làm trọn bổn phận ở đây rồi. Chúng tôi không cần làm phiền ông thêm nữa đâu, ông Lestrade. Tôi thiết nghĩ bước tiếp theo của cuộc điều tra sẽ dẫn chúng ta thẳng tiến đến Woolwich."

Tại Ga Cầu London, Holmes cẩn thận nắn nót một bức điện tín gửi cho anh trai. Anh đưa nó cho tôi xem qua trước khi đem gửi. Nội dung bức điện như sau:

Đã hé lộ chút ánh sáng giữa màn đêm mù mịt, nhưng đốm sáng ấy cũng có thể vụt tắt bất cứ lúc nào. Trong lúc chờ đợi, xin anh vui lòng cho người đưa tin mang đến và chờ em tại phố Baker, một danh sách liệt kê tất thảy các điệp viên nước ngoài hoặc đặc vụ quốc tế hiện đang hoạt động ở Anh, kèm theo địa chỉ cụ thể.-Sherlock.

"Bức điện đó sẽ phát huy tác dụng đấy, Watson," anh lên tiếng nhận xét khi cả hai đã yên vị trên chuyến tàu hướng về Woolwich. "Chúng ta chắc chắn đang nợ anh Mycroft một ân tình lớn vì đã mang đến một vụ án hứa hẹn sẽ vô cùng hấp dẫn."

Gương mặt háo hức của anh vẫn bừng bừng sinh khí và căng tràn năng lượng, một dấu hiệu cho tôi biết rằng tình tiết mới mẻ đầy tính khơi gợi kia đã khai mở một luồng suy luận vô cùng sắc bén. Cứ thử tưởng tượng một con chó săn cáo rũ tai, cúp đuôi ủ rũ lảng vảng quanh chuồng, rồi so sánh nó với chính mình khi ánh mắt rực sáng, toàn thân căng như dây đàn lao vút theo một mùi hương quyến rũ vương trong gió-sự lột xác của Holmes so với ban sáng cũng giống hệt như thế. Anh đã hoàn toàn rũ bỏ dáng vẻ ẻo lả, uể oải trong chiếc áo choàng ngủ màu xám xịt, kẻ mới chỉ vài giờ trước còn bồn chồn đi lại quẩn quanh trong căn phòng ngập ngụa sương mù.

"Có đầy đủ dữ kiện ở đây rồi. Phạm vi cũng đã rõ ràng," anh thốt lên. "Tôi quả thực đã quá ngốc nghếch khi không nhìn thấu những tiềm năng của nó."

"Ngay cả lúc này, mọi thứ đối với tôi vẫn cứ như một bức màn đen đặc."

"Hồi kết đối với tôi vẫn còn là một ẩn số, nhưng tôi đã nắm thóp được một ý tưởng có thể đưa chúng ta tiến một bước dài. Gã đàn ông này đã bỏ mạng ở một nơi khác, và thi thể của anh ta đã bị ném lên nóc của một toa xe."

"Trên nóc ư!"

"Thật đáng kinh ngạc phải không? Nhưng hãy điểm lại các dữ kiện. Phải chăng chỉ là trùng hợp khi thi thể được phát hiện ngay tại vị trí con tàu lắc lư và chao đảo lúc băng qua các thanh chuyển hướng? Chẳng phải đó chính xác là nơi một vật thể nằm chông chênh trên nóc tàu sẽ dễ dàng văng xuống nhất sao? Lẽ dĩ nhiên, những thanh chuyển hướng sẽ chẳng mảy may tác động đến bất kỳ thứ gì nằm an vị bên trong các toa xe. Hoặc là cái xác rơi từ trên nóc xuống, hoặc một sự trùng hợp kỳ quái đến khó tin đã xảy ra. Giờ thì hãy cùng suy xét đến vệt máu. Chắc chắn rồi, sẽ chẳng có giọt máu nào vấy lên đường ray nếu nạn nhân đã trút hơi thở cuối cùng ở một chốn khác. Bản thân mỗi sự việc tưởng chừng rời rạc đều mang trong mình một ẩn ý riêng. Nhưng khi xâu chuỗi chúng lại, sức mạnh của chúng sẽ nhân lên gấp bội."

"Và cả sự biến mất của chiếc vé nữa!" tôi reo lên.

"Chính xác là thế. Chúng ta vốn dĩ không thể lý giải nổi sự biến mất của tấm vé kia. Nhưng giờ thì mọi khúc mắc đã được gỡ bỏ. Từng mảnh ghép đều đã vào đúng vị trí."

"Nhưng cứ cho là giả thuyết của anh hoàn toàn chính xác, thì chúng ta vẫn còn cách ánh sáng của sự thật một chặng đường dài. Quả thực, mọi chuyện không những chẳng sáng sủa hơn mà dường như lại càng thêm phần kỳ quái."

"Biết đâu được," Holmes trầm ngâm, "biết đâu được." Anh chìm đắm vào một màn sương tĩnh lặng, và trạng thái ấy kéo dài mãi cho đến khi đoàn tàu uể oải tiến vào ga Woolwich. Tại đây, anh vẫy gọi một cỗ xe ngựa và rút mẩu giấy của Mycroft từ trong túi ra.

"Buổi chiều nay chúng ta sẽ phải ghé thăm vài nơi đấy," anh cất lời. "Tôi thiết nghĩ ngài James Walter xứng đáng nhận được sự ưu tiên hàng đầu của chúng ta."

Tư dinh của vị quan chức lỗi lạc ấy là một căn biệt thự nguy nga tráng lệ, với những bãi cỏ xanh mướt như nhung trải dài ngút mắt xuống tận bờ sông Thames. Ngay khi chúng tôi vừa đặt chân đến, màn sương mù đã bắt đầu loãng dần, nhường chỗ cho những tia nắng nhạt nhòa, yếu ớt len lỏi qua tầng không. Vừa dứt hồi chuông, một người quản gia đã cung kính ra mở cửa.

"Ngài James, thưa ngài!" ông lão cất giọng trầm buồn, khuôn mặt mang đậm vẻ trang nghiêm. "Ngài James đã qua đời vào rạng sáng nay rồi."

"Lạy Chúa tôi!" Holmes thốt lên đầy sửng sốt. "Ngài ấy ra đi như thế nào?"

"Có lẽ ngài nên bước vào trong, thưa ngài, và gặp em trai của ngài ấy, Đại tá Valentine chăng?"

"Vâng, tốt nhất là chúng ta nên làm vậy."

Chúng tôi được dẫn vào một phòng khách lờ mờ ánh sáng. Một lát sau, một người đàn ông trạc ngũ tuần, thân hình cao lớn, khuôn mặt khôi ngô với bộ râu sáng màu hiện ra tiếp đón chúng tôi-đó chính là người em trai của vị học giả quá cố. Đôi mắt mở to hoang dại, hai gò má nhợt nhạt không một giọt máu, cùng mái tóc bù xù của ngài như đang gào thét về cú sốc quá đỗi kinh hoàng vừa giáng xuống gia tộc. Ngài dường như không thể kiểm soát được ngôn từ mỗi khi nhắc lại biến cố ấy.

"Đều là do vụ bê bối rúng động này," ngài rên rỉ. "Anh trai tôi, ngài James, vốn dĩ là người có lòng tự tôn vô cùng nhạy cảm, và anh ấy đã không thể gượng dậy nổi sau một tai ương nhường này. Trái tim anh ấy như vỡ vụn. Sinh thời, anh ấy luôn đặt trọn niềm kiêu hãnh vào năng lực xuất chúng của bộ phận mình, và biến cố này chẳng khác nào một đòn chí mạng."

"Chúng tôi những tưởng ngài ấy có thể cung cấp vài manh mối giúp làm sáng tỏ vũng lầy này."

"Tôi có thể cam đoan với ngài rằng tất thảy mọi thứ diễn ra đều là một ẩn số khổng lồ, đối với anh tôi, đối với ngài và cả với chúng tôi. Anh ấy đã giao phó toàn bộ sự hiểu biết của mình cho phía cảnh sát. Đương nhiên, anh ấy chẳng mảy may nghi ngờ về tội trạng của Cadogan West. Thế nhưng, tất cả những khuất tất còn lại thì quả thực chẳng ai có thể thấu nổi."

"Chẳng nhẽ ngài không thể mang đến một tia sáng mới mẻ nào cho vụ án này sao?"

"Chính bản thân tôi cũng chẳng biết gì hơn ngoài những mẩu tin vụn vặt lượm lặt được. Mong ngài lượng thứ, ông Holmes, tôi hoàn toàn không có ý bất kính, nhưng ngài hiểu cho, gia đình chúng tôi hiện đang vô cùng rối trí, nên tôi đành phải mạn phép yêu cầu ngài nhanh chóng kết thúc cuộc trò chuyện này."

"Quả thực là một diễn biến nằm ngoài sức tưởng tượng," bạn tôi cất lời khi chúng tôi yên vị trên xe. "Tôi đang tự hỏi liệu cái chết ấy là thuận theo lẽ tự nhiên, hay chính ông lão đáng thương kia đã tự kết liễu đời mình! Nếu là vế sau, liệu ta có thể xem đó là biểu hiện của sự cắn rứt lương tâm vì đã trót lơ là phận sự chăng? Có lẽ đành gác lại câu hỏi đó cho tương lai phân định vậy. Còn bây giờ, mục tiêu tiếp theo sẽ là nhà của Cadogan West."

Ẩn mình nơi ngoại ô thị trấn, một ngôi nhà nhỏ bé nhưng được chăm chút kỹ lưỡng đang là chốn nương tựa của người mẹ đang ngập chìm trong đớn đau. Lão bà dường như đã hóa đá trước nỗi mất mát quá lớn để có thể giúp ích gì cho chúng tôi. Tuy nhiên, túc trực bên cạnh bà là một thiếu nữ trẻ với khuôn mặt nhợt nhạt, người tự xưng là Violet Westbury, vị hôn thê của người quá cố, đồng thời cũng là người cuối cùng nhìn thấy anh ta vào đêm định mệnh kinh hoàng đó.

"Ngài Holmes, tôi thực sự không sao lý giải nổi," cô nghẹn ngào. "Kể từ cái ngày giông bão ấy, tôi chưa hề chợp mắt lấy một giây. Tôi cứ thao thức, mải miết đi tìm lời đáp cho những uẩn khúc này, ngày cũng như đêm. Arthur là một người đàn ông tận tụy, hào hiệp và mang trong mình tình yêu nước nồng nàn nhất thế gian. Anh ấy thà tự phế đi cánh tay phải của mình còn hơn là đem bán rẻ những bí mật Quốc gia mà anh ấy đã thề sinh tử để bảo vệ. Mọi cáo buộc đều quá đỗi nực cười, vô lý và hoàn toàn phi thực tế đối với bất cứ ai từng biết đến con người anh ấy."

"Nhưng còn những dữ kiện rành rành ra đó thì sao, thưa cô Westbury?"

"Vâng, vâng; tôi xin thú nhận rằng mình hoàn toàn bất lực trong việc giải thích chúng."

"Có phải anh ta đang trong tình cảnh túng quẫn không?"

"Dạ không đâu; những nhu cầu của anh ấy vô cùng giản dị, trong khi mức lương lại khá dư dả. Anh ấy đã tích cóp được vài trăm bảng, và chúng tôi đang rục rịch chuẩn bị cho lễ cưới vào dịp Năm mới này."

"Chẳng nhẽ không có bất kỳ dấu hiệu hoảng loạn nào về mặt tâm lý sao? Thôi nào, cô Westbury, xin hãy thành thật tuyệt đối với chúng tôi."

Đôi mắt tinh tường tựa diều hâu của bạn tôi đã nhanh chóng bắt được một thoáng bối rối trong thái độ của cô gái. Gò má cô bất chợt ửng đỏ, đôi môi khẽ ngập ngừng.

"Đúng vậy," cô rụt rè thú nhận, "Tôi có linh cảm rằng dường như anh ấy đang bị một điều gì đó bóp nghẹt tâm trí."

"Tình trạng ấy kéo dài bao lâu rồi?"

"Chỉ độ một tuần trở lại đây thôi. Anh ấy trông vô cùng ưu tư và đầy ắp âu lo. Đã có lần tôi lấy can đảm gặng hỏi anh ấy về nguyên do. Anh ấy đành thú nhận rằng đã có chuyện không hay xảy ra, và nó liên quan trực tiếp đến công việc hiện tại. 'Nghiêm trọng lắm, đến mức anh chẳng thể hé môi, ngay cả với em,' anh ấy thở dài. Dù có nỗ lực đến đâu, tôi cũng chẳng thể moi thêm được gì từ anh ấy."

Sắc mặt Holmes chợt trở nên vô cùng căng thẳng.

"Cô cứ tiếp tục đi, cô Westbury. Dẫu cho những điều đó có bất lợi cho anh ta, xin cô đừng dừng lại. Chúng ta chẳng thể lường trước được manh mối này sẽ dẫn ta đến đâu đâu."

"Quả thực, tôi chẳng còn gì để giấu giếm nữa. Có một đôi lần, anh ấy dường như đã chực mở lời với tôi về một bí mật nào đó. Tôi còn mang máng nhớ lại một buổi tối nọ, anh ấy có nhắc đến tầm quan trọng của cái bí mật chết người ấy, và buột miệng nói rằng bọn điệp viên nước ngoài chắc chắn sẽ sẵn sàng đánh đổi cả một gia tài để sở hữu được nó."

Nét mặt của bạn tôi lúc này càng thêm phần ngưng trọng.

"Thế còn gì nữa không cô?"

"Anh ấy bảo rằng chúng ta đang quá đỗi lơ là với những vấn đề hệ trọng như thế-và rằng một kẻ phản bội sẽ dễ dàng cuỗm được các bản thiết kế mà chẳng tốn chút sức lực nào."

"Phải chăng anh ta chỉ mới thốt ra những lời này vào thời gian gần đây?"

"Vâng, mới đây thôi."

"Bây giờ, xin cô hãy kể lại cho chúng tôi nghe mọi chi tiết về buổi tối cuối cùng ấy."

"Chúng tôi vốn định đi thưởng thức một vở kịch. Nhưng sương mù khi ấy quá đỗi dày đặc, đến mức xe ngựa cũng trở nên vô dụng. Thế là chúng tôi đành cuốc bộ, và con đường ấy đã vô tình dẫn chúng tôi tản bộ ngang qua văn phòng. Đột nhiên, anh ấy phóng vụt đi, mất hút vào giữa màn sương đặc quánh."

"Mà không để lại dẫu chỉ một lời trăn trối sao?"

"Anh ấy chỉ kịp thốt lên một tiếng kêu thất thanh; thế rồi im bặt. Tôi đã mòn mỏi chờ đợi, nhưng anh ấy vĩnh viễn không quay trở lại. Sau đó, tôi thất thểu cuốc bộ về nhà. Sáng hôm sau, khi văn phòng mở cửa, họ đã phái người đến hỏi thăm tin tức. Và rồi vào khoảng mười hai giờ, sét đánh ngang tai khi chúng tôi nhận được hung tin ấy. Ôi, ngài Holmes, giá như ngài có thể, chỉ xin ngài một lần rủ lòng thương xót, hãy rửa sạch nỗi oan khuất và cứu vãn danh dự cho anh ấy! Điều đó thực sự mang ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với anh ấy."

Holmes khẽ lắc đầu, vẻ mặt đượm buồn.

"Đi thôi, Watson," anh lên tiếng, "chặng đường phía trước của chúng ta nằm ở một chân trời khác. Điểm dừng chân tiếp theo chắc chắn phải là chính căn phòng nơi những tài liệu mật kia đã không cánh mà bay."

"Trái với hy vọng mong manh lúc đầu, những manh mối mà chúng ta dày công thu thập lại càng đẩy chàng thanh niên đáng thương kia vào chốn ngục tù vô vọng," anh đăm chiêu nhận định khi cỗ xe ngựa bắt đầu chuyển bánh. "Cuộc hôn nhân sắp diễn ra chính là động cơ hoàn hảo cho tội ác. Lẽ dĩ nhiên là anh ta đang khát khao tiền bạc. Dã tâm ấy đã nhen nhóm trong tâm trí anh ta, bằng chứng là anh ta đã buột miệng thốt ra. Anh ta gần như đã lôi kéo cả cô vị hôn thê trở thành tòng phạm trong vụ mưu phản khi mấp máy hé lộ kế hoạch tày đình của mình. Mọi chuyện đang diễn tiến theo một chiều hướng tồi tệ vô cùng."

"Nhưng chắc chắn nhân cách của một con người phải có chút sức nặng nào chứ, Holmes? Hơn nữa, tại sao anh ta lại nhẫn tâm vứt bỏ vị hôn thê của mình bơ vơ giữa đường phố và lao vào bóng tối để thực hiện một tội ác tày trời?"

"Đúng là như vậy! Chắc chắn còn có những góc khuất đầy mâu thuẫn. Nhưng đây quả là một vụ án hóc búa, một thử thách cực độ mà họ phải giáp mặt."

Ông Sidney Johnson, viên thư ký trưởng, đã đích thân tiếp đón chúng tôi tại văn phòng bằng thái độ cung kính-một đặc quyền mà tấm danh thiếp của bạn tôi luôn mang lại. Ông ta là một người đàn ông trạc tuổi trung niên, dáng người gầy gò, thô kệch, khuôn mặt hốc hác giấu sau cặp kính cận. Đôi bàn tay ông ta không ngừng co giật, tố cáo những áp lực thần kinh khủng khiếp mà ông ta đang gánh chịu.

"Tệ quá, thưa ông Holmes, quá tồi tệ! Ngài đã hay tin về cái chết của vị sếp chúng tôi chưa?"

"Chúng tôi vừa mới rời khỏi tư dinh của ngài ấy."

"Chốn này đang như một mớ bòng bong vậy. Sếp đã ra đi mãi mãi, Cadogan West cũng chịu chung số phận, những tài liệu tuyệt mật thì bị cuỗm sạch. Ấy vậy mà, ngay khi chúng tôi vừa đóng cửa vào tối thứ Hai định mệnh đó, chúng tôi vẫn là một bộ máy vận hành trơn tru và hiệu quả bậc nhất trong hệ thống chính phủ. Lạy Chúa tôi, viễn cảnh ấy mới kinh khủng làm sao! Thật không ngờ, trong ngần ấy con người, West lại nhẫn tâm thực hiện một mưu đồ ghê tởm đến thế!"

"Vậy là ngài hoàn toàn đinh ninh về tội ác của anh ta sao?"

"Tôi chẳng còn mường tượng ra bất cứ cách lý giải nào khác. Vậy mà tôi đã từng trao trọn niềm tin cho cậu ta hệt như tin vào sinh mạng của chính mình."

"Thế văn phòng đóng cửa vào lúc mấy giờ vào hôm thứ Hai?"

"Đúng năm giờ chiều thưa ngài."

"Có phải chính ngài là người đã chốt cửa phòng không?"

"Tôi luôn là người cuối cùng rời khỏi văn phòng này."

"Thế các bản vẽ được cất giữ ở đâu?"

"Ngay trong chiếc két sắt đằng kia. Chính tay tôi đã cẩn thận khóa chặt chúng vào đó."

"Không có người bảo vệ tòa nhà sao?"

"Có chứ thưa ngài, nhưng ông ấy còn phải cáng đáng cả những khu vực khác nữa. Ông ấy vốn dĩ là một cựu chiến binh dạn dày sương gió và cực kỳ đáng tin cậy. Đêm đó, ông ấy khẳng định không hề bắt gặp bất cứ hiện tượng bất thường nào. Lẽ dĩ nhiên là sương mù khi ấy quá dày đặc."

"Giả sử như Cadogan West muốn đột nhập vào tòa nhà sau giờ làm việc; anh ta sẽ cần tới ba chiếc chìa khóa, đúng không ngài, trước khi có thể chạm tay vào các tài liệu mật?"

"Vâng, chính xác là thế. Chìa khóa cửa ngoài, chìa khóa văn phòng, và chìa khóa két sắt."

"Và chỉ có Ngài James Walter cùng với ngài là đang sở hữu chùm chìa khóa ấy thôi ư?"

"Tôi không giữ chìa khóa cửa ngoài đâu-tôi chỉ có chìa khóa két sắt thôi."

"Ngài James có phải là một người sống nguyên tắc và tỉ mỉ trong các thói quen hàng ngày không?"

"Vâng, tôi nghĩ là có. Theo chỗ tôi được biết, ông ấy luôn móc cả ba chiếc chìa khóa đó chung trên cùng một vòng. Tôi đã nhẵn mặt với hình ảnh đó rồi."

"Và chiếc móc khóa ấy đã cùng ông ta theo chuyến tàu đến London chứ?"

"Vâng, ông ấy đã khẳng định như vậy."

"Và chiếc chìa khóa của ngài thì chưa bao giờ vuột khỏi tay ngài phải không?"

"Dạ, chưa bao giờ."

"Vậy thì West, nếu quả thực hắn ta chính là hung thủ, hẳn phải sở hữu một chiếc chìa khóa dự phòng. Tuy nhiên, chúng tôi chẳng mót được bất kỳ chiếc chìa khóa nào trên thi thể của anh ta cả. Lại thêm một điểm đáng ngờ nữa: nếu một tay thư ký trong văn phòng này nuôi dã tâm bán đứng các bản vẽ, thì chẳng phải việc hắn ta tự mình sao chép lại chúng sẽ trơn tru và ít rủi ro hơn nhiều so với việc đánh cắp thẳng bản gốc, hệt như những gì đã thực sự phơi bày hay sao?"

"Để có thể sao chép một cách hoàn hảo những bản vẽ ấy, đòi hỏi phải trang bị một nền tảng kiến thức kỹ thuật khá thâm sâu đấy thưa ngài."

"Nhưng tôi dám cá là ngài James, hoặc ngài, hoặc West đều sở hữu khối kiến thức kỹ thuật uyên thâm đó chứ?"

"Điều đó thì chẳng có gì phải bàn cãi thưa ngài, nhưng tôi cúi xin ngài đừng cố kéo tôi vào vũng lầy này nữa, thưa ngài Holmes. Những suy đoán viển vông kiểu này thì phỏng có ích lợi gì cơ chứ, khi mà bản vẽ gốc rành rành đã được tóm gọn trên người West?"

"Chà, quả thực là quá đỗi kỳ lạ khi anh ta lại cả gan đánh cược với mạng sống của mình để cuỗm đi bản gốc, trong khi hoàn toàn có thể nhẹ nhàng cuỗm lấy bản sao mà vẫn dư sức phục vụ cho mưu đồ đê hèn của mình."

"Chẳng thể chối cãi được sự kỳ quặc ấy-nhưng sự thật là anh ta đã ra tay như thế."

"Mỗi bước chân chúng tôi dấn sâu vào vụ án này lại làm bung bét thêm những điều bí ẩn không thể nào lý giải nổi. Hiện tại vẫn còn ba tờ tài liệu lặn mất tăm. Và theo những gì tôi được biết, chúng lại chính là những tờ nắm giữ vai trò sống còn nhất."

"Vâng, đúng là như thế thưa ngài."

"Ý ngài là bất kỳ ai nắm trong tay ba tờ tài liệu này, dẫu không có bảy tờ kia làm điểm tựa, đều dư sức chế tạo ra một chiếc tàu ngầm Bruce-Partington sao?"

"Tôi đã báo cáo điều đó lên Bộ Hải quân. Nhưng hôm nay khi lật giở lại các bản vẽ, tôi lại cảm thấy có chút dao động. Các van kép cùng những khe tự điều chỉnh tự động đều được mô phỏng chi tiết trên một trong những tờ tài liệu đã được hoàn trả. Nếu đám người nước ngoài không tự mình phát minh ra hệ thống này, thì mộng tưởng chế tạo con tàu cũng tan thành mây khói. Tất nhiên, với sự ma mãnh của mình, chúng có thể sớm vượt qua vật cản này thôi."

"Nhưng chung quy lại, ba bản vẽ đang bặt vô âm tín kia mới là trọng tâm đúng không?"

"Chắc chắn là vậy."

"Nếu ngài vui lòng chấp thuận, tôi mạn phép đi dạo quanh khuôn viên một chút. Hiện tại tôi không còn câu hỏi nào cần giải đáp thêm."

Anh tỉ mẩn soi xét ổ khóa két sắt, săm soi cánh cửa phòng, và cuối cùng dừng lại trước những tấm chớp cửa sổ bằng sắt lạnh lẽo. Nhưng phải đến khi chúng tôi bước ra thảm cỏ bên ngoài, sự tò mò của anh mới thực sự bùng nổ dữ dội. Ngay sát cửa sổ là một bụi nguyệt quế um tùm, và một vài cành lá vương vãi những dấu vết bị vặn xoắn hoặc bẻ gãy không thương tiếc. Anh cẩn trọng dùng kính lúp săm soi từng chiếc lá, rồi lại dán mắt vào những vết tích lờ mờ in hằn trên nền đất ẩm ướt. Cuối cùng, anh yêu cầu viên thư ký trưởng khép các tấm chớp bằng sắt lại, đoạn quay sang chỉ cho tôi thấy rằng chúng vốn dĩ không khít vào nhau ở đoạn giữa. Hậu quả là, bất kỳ một ánh mắt tò mò nào từ bên ngoài đều có thể dễ dàng thu trọn vào tầm mắt mọi động tĩnh diễn ra bên trong căn phòng.

"Những dấu vết này đã bị sự tàn nhẫn của thời gian xóa nhòa suốt ba ngày qua. Chúng có thể hàm chứa một thông điệp vô giá nào đó, hoặc cũng có thể chẳng là gì cả. Chà, Watson, tôi e rằng mảnh đất Woolwich này đã hết giá trị lợi dụng rồi. Thu hoạch của chúng bản quả là nhỏ giọt đến thảm thương. Cùng xem liệu bến đỗ London có thể mang lại cho chúng ta vụ mùa bội thu hơn chăng."

Ấy vậy mà, ngay trước khi rời ga Woolwich, chúng tôi lại may mắn vớt vát thêm được một nhành lúa trĩu hạt. Nhân viên bán vé tại ga quả quyết như đinh đóng cột rằng anh ta đã chạm mặt Cadogan West-một gương mặt quá đỗi quen thuộc với anh ta-vào đêm thứ Hai định mệnh đó. Anh ta làm chứng rằng West đã lên chuyến tàu khởi hành lúc tám giờ mười lăm phút hướng thẳng đến London, trạm dừng là ga Cầu London. Nạn nhân đi một mình và mua một tấm vé hạng ba một chiều. Ngay lúc bấy giờ, viên nhân viên đã phần nào bị choáng ngợp bởi dáng vẻ hoảng loạn và kích động tột độ của West. Cậu ta run lẩy bẩy đến mức không thể tự tay nhặt lấy đống tiền lẻ thối lại, khiến viên nhân viên phải ra tay giúp sức. Đối chiếu với bảng giờ tàu, chuyến đi lúc tám giờ mười lăm phút chính là chuyến tàu sớm nhất mà West có thể bắt kịp sau khi chia tay vị hôn thê lúc bảy giờ rưỡi tối.

"Chúng ta hãy cùng xâu chuỗi lại mọi thứ, Watson," Holmes phá vỡ sự im lặng sau nửa giờ đồng hồ căng thẳng. "Tôi thực tình không rõ trong suốt quãng thời gian đồng cam cộng khổ, chúng ta đã từng đụng độ một vụ án nào bít bùng như thế này chưa. Mỗi khi chúng ta nhọc nhằn tiến lên một bước, thì lại có một ngọn núi sừng sững khác bất ngờ mọc lên sừng sững cản đường. Mặc dù vậy, chắc chắn chúng ta cũng đã gặt hái được vài tiến triển khả quan.

"Nhìn chung, những manh mối thu thập được từ cuộc điều tra tại Woolwich đều hướng mũi dùi vào chàng thanh niên Cadogan West. Thế nhưng, những dấu vết bỏ ngỏ nơi cửa sổ lại gợi mở một giả thuyết khác êm đẹp hơn nhiều. Chẳng hạn, chúng ta hãy thử mường tượng rằng anh ta đã bị một tên điệp viên ngoại quốc nào đó tiếp cận. Sự việc có thể đã được giấu giếm dưới những lời thề độc khiến anh ta không thể hé răng nửa lời, nhưng dẫu vậy, bóng ma của nó vẫn ám ảnh tâm trí anh ta, hệt như những gì anh ta đã bộc bạch với cô vợ sắp cưới. Rất tốt. Bây giờ, chúng ta lại tiếp tục giả định rằng khi anh ta cùng vị hôn thê đi xem kịch, anh ta đã bất ngờ, giữa màn sương mù mịt mờ, chộp được hình bóng của chính gã điệp viên đang rảo bước về hướng văn phòng. Anh ta vốn dĩ là một kẻ bốc đồng, luôn đưa ra những quyết định chớp nhoáng. Khi ấy, mọi thứ đành phải nhường chỗ cho sứ mệnh thiêng liêng. Anh ta bám riết lấy hắn, lần mò đến cửa sổ, chứng kiến cảnh tượng những tài liệu mật bị đánh cắp, và quyết sống mái truy đuổi tên trộm đến cùng. Với kịch bản này, chúng ta hoàn toàn có thể hóa giải nghịch lý oái oăm: tại sao một kẻ nội gián lại dại dột trộm bản gốc trong khi bản sao vẫn sờ sờ ra đó. Tên ngoại đạo kia bắt buộc phải cuỗm đi bản gốc. Cho đến bước này, mọi mảnh ghép đều vừa khít một cách hoàn hảo."

"Thế còn nước cờ tiếp theo thì sao?"

"Đến nước này, chúng ta đành vướng phải bế tắc. Dễ dàng hình dung rằng trong một hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy, bản năng đầu tiên của một người trẻ như Cadogan West hẳn phải là lao ra tóm gọn kẻ ác và hô hoán mọi người. Cớ sao anh ta lại không hành động như vậy? Phải chăng có một vị cấp trên quyền cao chức trọng nào đó đã nhúng tay vào việc đánh cắp các tài liệu? Giả thuyết đó sẽ lý giải trọn vẹn mọi hành động đáng ngờ của West. Hoặc giả, vị sếp kia đã ma mãnh cắt đuôi West trong sương mù, và West ngay lập tức tức tốc bắt tàu đến thẳng London hòng đánh chặn ông ta ngay tại hang ổ của ông ta, với giả định rằng anh ta nắm rõ như lòng bàn tay vị trí của hang ổ ấy? Lời hiệu triệu hẳn phải mang tính chất sống còn mãnh liệt, bởi anh ta đã nhẫn tâm bỏ rơi người con gái mình yêu giữa màn sương lạnh giá mà không mảy may nỗ lực liên lạc với cô. Đáng tiếc thay, dấu vết của chúng ta theo đuổi đến đây lại đứt đoạn, và dường như có một hố sâu ngăn cách giữa hai giả thuyết táo bạo trên với sự kiện thi thể của West, cùng bảy tờ tài liệu nhét trong túi, lại được tìm thấy chỏng chơ trên nóc một chuyến tàu Metropolitan. Trực giác mách bảo tôi lúc này là hãy lật ngược thế cờ và bắt đầu phá án từ một hướng khác. Nếu anh Mycroft đã cung cấp cho chúng ta danh sách các địa chỉ khả nghi, chúng ta hoàn toàn có thể khoanh vùng mục tiêu và lần theo cả hai dấu vết cùng một lúc thay vì chỉ đâm đầu vào một manh mối duy nhất."

Quả nhiên, có một bức thư đang chờ chúng tôi ở phố Baker do một người đưa tin của chính phủ hối hả mang tới. Holmes liếc nhanh qua rồi ném nó sang cho tôi.

"Có vô khối những kẻ cắc ké, nhưng chẳng mấy ai đủ sức xử lý một vụ việc lớn như vậy. Những kẻ duy nhất đáng để mắt tới là Adolph Mayer ở số 13 phố Great George, Westminster; Louis La Rothière ở Dinh thự Campden, Notting Hill; và Hugo Oberstein ở số 13 Vườn Caulfield, Kensington. Tên cuối cùng được xác định là có mặt ở thành phố vào thứ Hai và hiện được báo cáo là đã rời đi. Rất vui khi nghe tin chú đã tìm thấy vài tia sáng. Nội các đang nóng lòng chờ đợi báo cáo cuối cùng của chú. Những chỉ thị khẩn cấp đã được ban xuống từ cấp cao nhất. Toàn bộ lực lượng của Quốc gia sẽ đứng sau hậu thuẫn nếu chú cần đến.-Mycroft."

"Tôi e là," Holmes mỉm cười đáp, "tất cả ngựa chiến và binh lính của Nữ hoàng cũng chẳng thể giúp ích gì trong chuyện này." Anh trải rộng tấm bản đồ lớn của London ra và háo hức cúi xuống xem xét. "Chà, chà," lát sau anh thốt lên bằng giọng đầy vẻ hài lòng, "rốt cuộc thì mọi thứ cũng đang chuyển hướng đôi chút theo chiều có lợi cho chúng ta. Chà, Watson, tôi thực lòng tin rằng cuối cùng chúng ta sẽ làm được." Đột nhiên, anh vỗ mạnh vào vai tôi, vui sướng ra mặt. "Bây giờ tôi phải ra ngoài một lát. Chỉ là một chuyến thám thính thôi. Tôi sẽ chẳng làm việc gì hệ trọng nếu thiếu người bạn đồng hành và cũng là người viết tiểu sử đáng tin cậy bên cạnh. Anh hãy ở lại đây nhé, khả năng lớn là chúng ta sẽ gặp lại nhau trong một hoặc hai giờ tới. Nếu thời gian trôi qua quá đỗi nặng nề, anh cứ việc lấy giấy bút ra, rồi bắt đầu viết câu chuyện về việc chúng ta đã cứu Đất nước như thế nào đi."

Sự hân hoan của anh dường như cũng lan tỏa sang tâm trí tôi, bởi tôi thừa biết anh sẽ chẳng mấy khi vứt bỏ vẻ nghiêm nghị thường ngày nếu không có lý do chính đáng để vui mừng. Suốt một buổi tối tháng Mười một dài lê thê, tôi khắc khoải chờ đợi, lòng cồn cào mong ngóng anh trở về. Cuối cùng, mãi đến hơn chín giờ, một người đưa tin mới mang đến một mẩu giấy:

"Tôi đang ăn tối tại nhà hàng Goldini trên phố Gloucester, Kensington. Xin anh hãy đến ngay và dùng bữa cùng tôi ở đây. Nhớ mang theo một cây xà beng, một chiếc đèn lồng kín, một cái đục và một khẩu súng lục.-S.H."

Đó quả là một bộ đồ nghề kỳ lạ để một công dân đáng kính mang theo qua những con phố lờ mờ, mịt mù sương. Tôi cẩn thận giấu kín tất cả vào trong áo khoác ngoài rồi bắt một chiếc xe ngựa chạy thẳng đến địa chỉ đã ghi. Chỗ đó đây rồi, bạn tôi đang ngồi tại một chiếc bàn tròn nhỏ gần cửa ra vào của một nhà hàng Ý bài trí sặc sỡ.

"Anh đã ăn chút gì chưa? Vậy thì hãy thưởng thức cùng tôi một tách cà phê và một ly rượu Curaçao nhé. Thử một điếu xì gà của ông chủ quán xem. Chúng ít độc hại hơn người ta tưởng đấy. Anh có mang theo đồ nghề không?"

"Chúng nằm cả đây, trong áo khoác của tôi."

"Tuyệt vời. Hãy để tôi tóm tắt sơ lược những gì tôi đã làm, cùng với vài gợi ý về những việc chúng ta sắp thực hiện. Chắc hẳn bây giờ anh đã nhận ra, Watson, rằng thi thể của chàng trai trẻ này đã được đặt lên nóc tàu. Điều đó hoàn toàn rõ ràng ngay từ khoảnh khắc tôi xác định được sự thật rằng cậu ta đã rơi từ trên nóc xuống đường ray, chứ không phải ngã từ trong toa xe."

"Chẳng lẽ cậu ta không thể bị ném xuống từ một cây cầu sao?"

"Tôi dám khẳng định điều đó là bất khả thi. Nếu anh xem xét mái của các toa tàu, anh sẽ thấy chúng hơi vòm lên và hoàn toàn không có lan can bảo vệ. Do đó, chúng ta có thể chắc chắn rằng thi thể của chàng thanh niên Cadogan West đã được cẩn thận đặt lên đó."

"Nhưng làm thế nào người ta lại đặt được cậu ta lên đó?"

"Đó chính là câu hỏi mà chúng ta phải giải quyết. Chỉ có một cách duy nhất khả thi. Chắc hẳn anh biết Tàu điện ngầm thỉnh thoảng lại nhô lên khỏi các đường hầm ở một vài điểm tại khu West End. Tôi vẫn nhớ mang máng rằng mỗi khi đi qua đó, thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp những ô cửa sổ nằm ngay phía trên đỉnh đầu. Giờ hãy giả sử, nếu một chuyến tàu dừng lại ngay dưới một ô cửa sổ như thế, liệu có khó khăn gì trong việc chuyển một cái xác lên nóc tàu không?"

"Điều đó nghe có vẻ rất khó tin."

"Chúng ta phải bám vào cái chân lý quen thuộc rằng một khi mọi khả năng khác đều đã bị loại trừ, thì những gì còn lại, dù cho có khó tin đến mấy, vẫn buộc phải là sự thật. Trong trường hợp này, tất cả các khả năng khác đã thất bại. Khi tôi phát hiện ra gã đặc vụ quốc tế sừng sỏ vừa rời khỏi London kia đang sống trong một dãy nhà nằm sát mép đường Tàu điện ngầm, tôi đã vui sướng tột độ, đến mức hẳn là anh đã đôi chút kinh ngạc trước cái vẻ đắc thắng bốc đồng ấy của tôi."

"Ồ, ra là vì vậy sao?"

"Đúng thế. Gã Hugo Oberstein ở số 13 Vườn Caulfield chính là mục tiêu của tôi. Tôi bắt đầu triển khai các bước hành động ngay tại ga phố Gloucester. Ở đó, một viên chức nhiệt tình đã dẫn tôi đi dọc theo đường ray và giúp tôi xác minh được một điều không chỉ là việc các cửa sổ sau của dãy nhà Vườn Caulfield mở thẳng ra tuyến đường sắt, mà còn một sự thật cốt lõi hơn nhiều: do có sự giao cắt với một tuyến đường sắt lớn hơn, các chuyến Tàu điện ngầm thường xuyên phải dừng lại chờ vài phút ngay tại vị trí đó."

"Tuyệt vời, Holmes! Anh đã tóm được hắn rồi!"

"Mới được một phần thôi - chỉ một phần thôi, Watson. Chúng ta đang tiến lên, nhưng đích đến hãy còn xa lắm. Chà, sau khi khảo sát mặt sau của Vườn Caulfield, tôi vòng ra mặt trước và hài lòng nhận ra con chim ấy quả thực đã bay mất. Đó là một ngôi nhà khá lớn, và theo như tôi quan sát, các căn phòng trên tầng có vẻ chưa được trang bị đồ đạc. Oberstein sống ở đó cùng một tay hầu phòng duy nhất, kẻ có lẽ là một tên đồng lõa tâm phúc của hắn. Chúng ta cần nhớ rằng Oberstein sang Lục địa là để tiêu thụ chiến lợi phẩm, chứ hoàn toàn chẳng có ý định bỏ trốn. Hắn không có lý do gì để lo sợ một lệnh khám xét, và ý nghĩ về việc có những kẻ tay ngang sẽ đột nhập viếng thăm nhà mình chắc chắn chẳng bao giờ mảy may xuất hiện trong đầu hắn. Thế nhưng, đó lại chính xác là những gì chúng ta sắp làm."

"Chẳng lẽ chúng ta không thể xin một lệnh khám xét để làm mọi chuyện một cách hợp pháp sao?"

"Với những bằng chứng mỏng manh hiện tại thì e là vô phương."

"Vậy chúng ta có thể hy vọng tìm thấy gì?"

"Chúng ta không thể đoán chắc được hắn còn bỏ lại những giấy tờ gì ở đó."

"Tôi không thích chuyện này chút nào đâu, Holmes."

"Anh bạn thân mến, anh chỉ việc đứng canh gác ngoài phố thôi, phần việc phạm pháp cứ để tôi lo. Đây không phải là lúc bận tâm đến dăm ba chuyện vặt vãnh. Hãy nhớ lại lá thư của Mycroft, nghĩ đến Bộ Hải quân, đến Nội các, và cả vị nhân vật quyền cao chức trọng đang mòn mỏi chờ tin tức. Chúng ta buộc phải hành động thôi."

Câu trả lời của tôi là dứt khoát đứng lên khỏi bàn ăn.

"Anh nói đúng, Holmes. Chúng ta không có sự lựa chọn."

Anh bật dậy và siết chặt tay tôi.

"Tôi biết anh sẽ chẳng bao giờ chùn bước vào phút chót," anh nói. Trong một thoáng, tôi bắt gặp một ánh nhìn lóe lên trong mắt anh, gần với sự dịu dàng hơn mọi điều tôi từng thấy. Nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, anh lại khoác lên mình cái vẻ uy quyền và thực dụng vốn có.

"Chỗ đó cách đây chừng nửa dặm, nhưng không có gì phải vội vã cả. Chúng ta cứ thong thả tản bộ," anh dặn dò. "Nhưng tôi xin anh, đừng có đánh rơi món đồ nghề nào đấy. Việc anh bị cảnh sát tóm cổ như một kẻ tình nghi sẽ mang lại những rắc rối cực kỳ tồi tệ."

Vườn Caulfield là một trong những dãy nhà đặc trưng của thời kỳ giữa triều đại Victoria ở khu West End sầm uất của London, nổi bật với những mặt tiền phẳng lì, những cột trụ vững chãi và mái cổng vươn ra kiêu hãnh. Từ ngôi nhà bên cạnh, tiếng cười đùa rộn rã của trẻ thơ hòa cùng tiếng đàn piano lách cách vọng lại giữa màn đêm, có vẻ như một bữa tiệc nhỏ đang diễn ra. Lớp sương mù dày đặc vẫn bao trùm quanh quẩn, biến thành một bức màn thân thiện che chở cho hai chúng tôi. Holmes bật chiếc đèn lồng, lia tia sáng lướt qua cánh cửa đồ sộ.

"Khó nhằn đây," anh lẩm bẩm. "Cánh cửa này chắc chắn đã được khóa trong cài ngoài cẩn thận. Tốt nhất là chúng ta nên đi từ lối dưới. Chỗ kia có một mái vòm che chắn hoàn hảo, đề phòng trường hợp gã cảnh sát nào đó quá mẫn cán bất chợt đi ngang qua. Giúp tôi một tay, Watson, rồi tôi sẽ kéo anh xuống."

Chỉ một phút sau, cả hai đã lọt thỏm dưới hầm. Chúng tôi vừa kịp náu mình vào màn đêm mờ ảo thì tiếng bước chân của viên cảnh sát đi tuần đã vang lên lạo xạo giữa làn sương mù phía trên. Đợi cho nhịp bước đều đặn ấy xa dần rồi chìm hẳn, Holmes mới bắt tay vào xử lý cánh cửa hầm. Dưới ánh sáng le lói, tôi thấy anh gập người xuống, dồn sức cạy mạnh. Một tiếng "rắc" vang lên khô khốc, cánh cửa bật tung. Chúng tôi lập tức lách mình vào dãy hành lang tối om và khép chặt cửa lại. Holmes dò dẫm dẫn đường, băng qua một cầu thang xoắn ốc trơ trọi không trải thảm. Ánh đèn lồng màu vàng vọt của anh quét qua, chiếu rọi vào một khung cửa sổ thấp lè tè.

"Đến nơi rồi, Watson-chắc chắn là chỗ này." Anh dồn lực đẩy tung cánh cửa sổ. Đúng lúc đó, một âm thanh trầm đục, đinh tai nhức óc dội lên, rồi nhanh chóng vỡ òa thành một tiếng gầm rống cuồng nộ khi một chuyến tàu hỏa xé toạc bóng đêm lao sầm sập qua. Holmes rọi ánh đèn dọc theo gờ bậu cửa. Bồ hóng xả ra từ những đầu máy xe lửa đã đóng thành một lớp dày đặc, nhưng trên cái nền đen kịt ấy, vẫn có vài chỗ bị cọ xát đến nhòe đi.

"Anh xem, đây chính là nơi chúng thả cái xác xuống. Chà, Watson! Gì đây? Chắc chắn là một vết máu rồi." Anh lấy tay chỉ vào những mảng màu phai nhợt dọc theo khung gỗ của cửa sổ. "Trên những bậc đá của cầu thang cũng có này. Thế là đủ bằng chứng. Cứ nấp ở đây chờ cho đến khi có một chuyến tàu dừng lại đã."

Chúng tôi không phải chờ quá lâu. Lát sau, chuyến tàu tiếp theo lại gầm rít lao ra khỏi hầm, nhưng khi đến khoảng không rẽ nhịp, nó bắt đầu giảm tốc. Tiếng phanh rít lên kẽo kẹt, rồi đoàn tàu đỗ xịch ngay dưới chân chúng tôi. Khoảng cách từ gờ bậu cửa sổ đến nóc toa tàu vỏn vẹn chưa đầy bốn feet. Holmes khẽ khàng kéo cửa sổ đóng lại.

"Mọi giả thuyết của chúng ta đến giờ phút này đều đã được chứng minh," anh nói. "Anh nghĩ sao, Watson?"

"Quả là một kiệt tác. Đây thực sự là đỉnh cao nghệ thuật phá án của anh."

"Tôi e là mình không thể đồng tình với anh chuyện đó. Ngay từ lúc nghĩ ra ý tưởng cái xác bị vứt trên nóc tàu-một suy luận cũng chẳng lấy gì làm cao siêu-thì mọi mảnh ghép còn lại cứ thế tự động khớp vào nhau. Nếu không vì những lợi ích to lớn đằng sau, thì vụ này từ đầu đến giờ chỉ là một chuyện vặt vãnh. Khó khăn thực sự vẫn còn đang chờ phía trước. Nhưng biết đâu đấy, căn nhà này lại có thứ gì đó giúp ích cho chúng ta."

Hai chúng tôi men theo lối cầu thang nhà bếp tiến lên dãy phòng trên tầng một. Phòng đầu tiên là phòng ăn, bài trí hết sức sơ sài và chẳng có gì đáng chú ý. Căn phòng thứ hai là phòng ngủ, bên trong cũng trống hoác. Chỉ có căn phòng cuối cùng trông có vẻ khả quan hơn, và bạn tôi lập tức bắt tay vào rà soát một cách hệ thống. Sách vở, giấy tờ vương vãi khắp nơi, rõ ràng đây là một phòng làm việc. Với những động tác nhanh gọn và bài bản, Holmes lục lọi từ ngăn kéo này đến ngăn kéo khác, từ tủ này sang tủ nọ. Tuy nhiên, nét mặt khắc khổ của anh vẫn đăm chiêu, chẳng có lấy một tia sáng của sự đắc thắng. Mất trọn một giờ đồng hồ, mọi thứ vẫn chỉ dậm chân tại chỗ.

"Gã cáo già khốn kiếp này đã xóa sạch dấu vết," anh bực dọc cất tiếng. "Hắn chẳng để lại bất cứ bằng chứng nào có thể buộc tội mình. Những lá thư từ nguy hiểm đều đã bị tiêu hủy hoặc tẩu tán đi nơi khác. Đây là cơ hội cuối cùng của chúng ta."

Đó là một chiếc hộp đựng tiền nhỏ bằng thiếc được đặt ngay trên bàn viết. Holmes lôi đục ra và nạy tung chiếc nắp. Bên trong có vài cuộn giấy ghi chít chít những con số và phép tính, hoàn toàn không có bất kỳ dòng chú thích nào để đoán xem chúng có ý nghĩa gì. Vài cụm từ lặp đi lặp lại như "áp suất nước" và "áp suất trên mỗi inch vuông" lờ mờ gợi ý về một mối liên hệ với tàu ngầm. Thiếu kiên nhẫn, Holmes gạt phăng tất cả sang một bên. Cuối cùng, chỉ trơ lại một chiếc phong bì chứa vài mẩu báo cắt nhỏ. Anh dốc ngược chúng ra bàn. Ngay lập tức, nhìn nét mặt bỗng trở nên rạng rỡ của anh, tôi biết hy vọng đã được thắp sáng trở lại.

"Cái gì thế này, Watson? Hả? Gì đây? Nguyên một chuỗi tin nhắn được cắt từ mục quảng cáo của một tờ báo. Nhìn vào kiểu chữ in và chất liệu giấy, đây chắc chắn là cột tâm sự đau khổ của tờ Daily Telegraph. Nó nằm ở góc trên cùng bên phải của một trang. Không có ngày tháng-nhưng những tin nhắn này lại được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Đây chắc hẳn là tin đầu tiên:

"Hy vọng sẽ sớm nhận được tin. Đã chấp thuận các điều khoản. Hãy gửi thư đầy đủ đến địa chỉ ghi trên danh thiếp.-Pierrot.

"Kế tiếp là:

"Vấn đề quá rắc rối để có thể mô tả cặn kẽ. Cần phải có một bản báo cáo đầy đủ. Hàng sẽ chờ anh vào lúc giao nhận.-Pierrot.

"Sau đó lại tiếp:

"Tình thế cấp bách. Buộc phải rút lại lời đề nghị trừ khi hợp đồng được ký kết xong xuôi. Hãy hẹn qua thư. Tôi sẽ dùng quảng cáo để xác nhận.-Pierrot.

"Và mẩu cuối cùng:

"Tối thứ Hai, sau chín giờ. Hai tiếng gõ cửa. Chỉ có đôi ta. Đừng đa nghi đến thế. Thanh toán tiền mặt khi giao hàng.-Pierrot.

"Một bản nhật ký ghi chép khá trọn vẹn đấy chứ, Watson! Giá như chúng ta có thể tóm được kẻ ở đầu dây bên kia!" Anh lầm bầm, gõ gõ mấy ngón tay xuống mặt bàn đầy suy lự. Cuối cùng, anh nhảy bật dậy.

"Chà, xét cho cùng thì mọi chuyện cũng chẳng khó nhằn đến vậy. Ở đây không còn gì để làm nữa đâu, Watson. Tôi nghĩ chúng ta nên ghé qua văn phòng của tờ Daily Telegraph, xem như một cái kết đẹp cho ngày làm việc mệt nhoài này."

Sáng hôm sau, Mycroft Holmes và Lestrade đến đúng hẹn sau bữa điểm tâm. Sherlock Holmes bèn thuật lại tường tận mọi hành tung của chúng tôi trong ngày vừa qua. Vị chuyên gia của chính phủ khẽ lắc đầu khi nghe đến vụ đột nhập mà chúng tôi vừa thú nhận.

"Trong lực lượng cảnh sát, chúng tôi tuyệt đối không được phép làm những chuyện như vậy, ông Holmes ạ," ông nói. "Chẳng trách ông luôn đạt được những kết quả vượt xa khả năng của chúng tôi. Nhưng rồi sẽ có ngày ông đi quá giới hạn, và ông sẽ thấy cả bản thân lẫn bạn mình vướng vào rắc rối lớn."

"Vì nước Anh, vì tổ ấm và cái đẹp-phải không, Watson? Những người tử đạo trên bàn thờ tổ quốc. Nhưng anh nghĩ sao về chuyện này, Mycroft?"

"Tuyệt vời, Sherlock! Đáng ngưỡng mộ lắm! Nhưng chú định lợi dụng việc này ra sao?"

Holmes nhặt tờ Daily Telegraph đang nằm trên bàn lên.

"Anh đã xem mục quảng cáo của Pierrot hôm nay chưa?"

"Cái gì? Lại thêm một mẩu khác nữa sao?"

"Vâng, nó đây:

"Đêm nay. Cùng giờ. Cùng địa điểm. Hai tiếng gõ. Vô cùng quan trọng, mang tính sống còn. Sự an toàn của chính anh đang bị đe dọa.-Pierrot.

"Trời đất ơi!" Lestrade thốt lên. "Nếu hắn hồi âm lại mẩu tin đó, chúng ta sẽ tóm gọn được hắn!"

"Đó chính là ý đồ của em khi đăng mẩu tin này. Em nghĩ nếu cả hai có thể sắp xếp đến Vườn Caulfield cùng chúng em vào khoảng tám giờ tối nay, chúng ta sẽ tiến thêm được một bước dài đến đáp án cuối cùng."

Một trong những đặc điểm đáng kinh ngạc nhất ở Sherlock Holmes là khả năng gác lại mọi suy nghĩ và chuyển hướng tâm trí sang những điều nhẹ nhàng hơn, ngay khi anh nhận ra việc tiếp tục vắt óc suy nghĩ chẳng mang lại lợi ích gì. Tôi nhớ như in rằng trong suốt cái ngày đáng nhớ ấy, anh đã hoàn toàn chìm đắm vào việc nghiên cứu chuyên luận về các Động cơ Đa âm của Lassus. Về phần mình, tôi chẳng có mảy may khả năng tách biệt cảm xúc như vậy, nên cả ngày hôm đó đối với tôi trôi qua dài như bất tận. Tầm quan trọng to lớn của vấn đề đối với vận mệnh quốc gia, sự căng thẳng tột độ ở giới cầm quyền cấp cao, cùng bản chất trực diện của phép thử mà chúng tôi sắp tiến hành-tất cả đan xen vào nhau, bóp nghẹt hệ thần kinh của tôi. Phải đến khi dùng xong bữa tối nhẹ và bắt tay vào chuyến thám hiểm, tôi mới cảm thấy thực sự nhẹ nhõm. Theo đúng lịch hẹn, Lestrade và Mycroft đã đợi sẵn bên ngoài Ga Đường Gloucester. Cửa khu vực tầng hầm của ngôi nhà Oberstein vẫn được để ngỏ từ đêm trước, và vì Mycroft Holmes cực lực cự tuyệt việc leo qua hàng rào sắt, tôi đành phải đi vòng vào trong để mở toang cánh cửa chính. Đến chín giờ, tất cả chúng tôi đã yên vị trong phòng làm việc, kiên nhẫn phục kích con mồi.

Một giờ rồi lại một giờ nữa lặng lẽ trôi qua. Khi tiếng chuông nhà thờ điểm mười một giờ, từng nhịp đập đều đặn của chiếc đồng hồ lớn tựa như đang gióng lên khúc nhạc cầu hồn cho những tia hy vọng của chúng tôi. Lestrade và Mycroft ngồi bồn chồn không yên, cứ nửa phút lại xem đồng hồ một lần. Holmes vẫn ngồi điềm tĩnh, tĩnh lặng như mặt nước hồ thu, đôi mí mắt khép hờ nhưng mọi giác quan đều vươn lên tột độ cảnh giác. Chợt anh giật mình, ngẩng phắt đầu lên.

"Hắn đang tới," anh thì thầm.

Có tiếng bước chân rón rén lướt qua cửa. Rồi tiếng bước chân ấy quay lại. Chúng tôi nghe thấy âm thanh lê bước bên ngoài, và ngay sau đó là hai tiếng gõ sắc gọn vang lên từ chiếc vòng gõ cửa. Holmes đứng dậy, ra hiệu cho chúng tôi tiếp tục ngồi yên. Ánh đèn ga trong hành lang lúc này chỉ còn là một đốm sáng le lói. Anh mở cánh cửa ngoài, và ngay khi một bóng đen lướt qua, anh lập tức đóng sập và cài chặt chốt lại. "Lối này!" chúng tôi nghe anh cất tiếng, và chỉ một lát sau, gã đàn ông đó đã đứng ngay trước mặt chúng tôi. Holmes theo sát gót hắn, và khi gã quay lại cùng một tiếng kêu thảng thốt kinh hoàng, anh liền túm lấy cổ áo và ném mạnh hắn ngược vào trong phòng. Trước khi tên tù binh kịp lấy lại thăng bằng, cánh cửa đã bị đóng sầm lại, còn Holmes thì đứng tựa lưng vững chãi vào đó. Kẻ đó trừng mắt nhìn quanh, lảo đảo bước đi, rồi ngã vật xuống sàn nhà bất tỉnh. Cú va đập mạnh khiến chiếc nón rộng vành văng khỏi đầu hắn, chiếc cà vạt che miệng cũng trượt tuột xuống, để lộ ra chòm râu nhạt màu kéo dài cùng những đường nét mềm mại, thanh tú, không ai khác chính là Đại tá Valentine Walter.

Holmes bật ra một tiếng huýt sáo kinh ngạc.

"Lần này anh cứ việc coi tôi là một gã ngốc, Watson ạ," anh nói. "Đây hoàn toàn không phải là con mồi mà tôi đang bủa lưới."

"Hắn ta là ai?" Mycroft háo hức hỏi.

"Em trai của ngài James Walter quá cố, cựu trưởng Bộ phận Tàu ngầm. Đúng thế, đúng thế; tôi đã lờ mờ nhìn ra thế cờ này rồi. Hắn đang tỉnh lại. Tôi nghĩ hai người tốt nhất nên giao việc thẩm vấn hắn cho tôi."

Chúng tôi khiêng cơ thể đang bất tỉnh của hắn đặt lên chiếc ghế sofa. Lúc này, gã tù binh của chúng tôi lồm cồm ngồi dậy, đưa mắt nhìn quanh với vẻ mặt hoảng loạn tột độ, tay vuốt ve vầng trán như thể không dám tin vào những gì mắt mình đang thấy.

"Thế này là sao?" ngài đại tá thảng thốt hỏi. "Tôi đến đây để gặp ông Oberstein."

"Mọi chuyện đều đã rõ như ban ngày rồi, thưa ngài Đại tá Walter," Holmes đanh thép. "Việc một quý ông người Anh như ngài lại hành xử đớn hèn đến mức độ ấy, quả thực nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi. Nhưng giờ đây, toàn bộ thư từ và mối liên hệ ngầm giữa ngài với Oberstein đều đã nằm trọn trong tay chúng tôi. Cả những uẩn khúc xoay quanh cái chết của chàng thanh niên Cadogan West cũng không ngoại lệ. Tôi khuyên ngài, ít nhất hãy gỡ gạc lại chút thể diện bằng sự ăn năn và thành khẩn thú tội, bởi vẫn còn vài chi tiết khuất tất mà chúng tôi muốn được nghe trực tiếp từ chính miệng ngài."

Người đàn ông buông tiếng rên rỉ não nề, gục mặt vào đôi bàn tay ôm đầu. Chúng tôi nhẫn nại chờ đợi, nhưng ngài đại tá vẫn bặt vô âm tín.

"Tôi có thể đoan chắc với ngài," Holmes tiếp lời, "rằng những điểm cốt lõi nhất của vụ án đều đã được phơi bày. Chúng tôi biết rõ ngài đang lâm vào cảnh túng quẫn; rằng ngài đã lén lút dập khuôn những chiếc chìa khóa do anh trai ngài cất giữ; và rằng ngài đã bí mật thư từ qua lại với Oberstein, kẻ đã hồi âm cho ngài qua mục quảng cáo trên tờ Daily Telegraph. Chúng tôi cũng tường tận chuyện ngài đã lẻn đến văn phòng giữa màn sương mù dày đặc vào đêm thứ Hai. Nhưng không may cho ngài, chàng trai trẻ Cadogan West đã bắt gặp và âm thầm bám theo, người mà có lẽ từ lâu đã nuôi mối hoài nghi về ngài. Anh ta đã tận mắt chứng kiến vụ trộm, nhưng lại không thể tri hô, bởi biết đâu chừng ngài chỉ đang đem tài liệu cho người anh trai ở London. Gạt bỏ mọi công việc cá nhân, bằng tinh thần trách nhiệm của một công dân mẫu mực, anh ta đã bám sát ngài trong sương mù, bám riết lấy gót chân ngài cho tới tận khi ngài bước vào chính ngôi nhà này. Tại đây, anh ta đã quyết định can thiệp, và ngay khoảnh khắc đó, Đại tá Walter ạ, ngài đã dấn sâu từ tội phản quốc sang một tội ác còn tày trời hơn: tội giết người."

"Tôi không làm chuyện đó! Tôi không hề giết người! Trước mặt Chúa, tôi xin thề rằng tôi không làm chuyện đó!" gã tù binh khốn khổ của chúng tôi gào lên thảm thiết.

"Vậy thì hãy khai thật cho chúng tôi biết, Cadogan West đã bỏ mạng ra sao trước khi ngài vứt xác anh ta lên nóc toa tàu."

"Tôi sẽ nói. Tôi thề với các người là tôi sẽ khai hết. Mọi chuyện còn lại đều do tôi làm. Tôi xin nhận tội. Đúng như ông đã phân tích. Tôi bị bủa vây bởi những khoản nợ từ Sở Giao dịch Chứng khoán cần phải thanh toán gấp. Tôi đang khát tiền điên cuồng. Oberstein đã ngã giá cho tôi năm ngàn bảng. Số tiền đó đủ để cứu rớt tôi khỏi sự sụp đổ. Nhưng về tội giết người, tôi hoàn toàn vô tội, cũng hệt như ông vậy."

"Vậy chuyện gì đã xảy ra sau đó?"

"Anh ta đã nảy sinh nghi ngờ từ trước, và đã bí mật theo dõi tôi đúng như ông phác họa. Tôi không hề hay biết cho đến khi đứng ngay trước cánh cửa này. Màn sương đêm ấy quá đặc quánh, người ta chẳng thể nhìn xa quá ba thước. Tôi vừa gõ hai tiếng thì Oberstein ra mở cửa. Bất thình lình, chàng thanh niên lao tới, lớn tiếng tra khảo chúng tôi định giở trò gì với xấp tài liệu. Oberstein vốn thủ sẵn một thanh công cụ tự vệ. Hắn luôn mang nó bên mình. Ngay khi West vừa hùng hổ xông theo chúng tôi vào nhà, Oberstein đã vung gậy giáng thẳng vào đầu anh ta. Một đòn chí mạng. Anh ta tắt thở chỉ trong vòng năm phút. Cái xác nằm sóng soài ngay giữa hành lang, khiến cả hai chúng tôi bàng hoàng không biết xoay xở ra sao. Sau đó, Oberstein chợt nảy ra ý tưởng lợi dụng những chuyến tàu thường xuyên dừng lại ngay dưới cửa sổ sau nhà hắn. Nhưng trước tiên, hắn vội vã lật xem xấp tài liệu mà tôi mang tới. Hắn quả quyết rằng ba trong số đó là thiết yếu, và hắn buộc phải giữ chúng lại. 'Ông không thể lấy chúng,' tôi hoảng hốt can ngăn. 'Sẽ có một cuộc náo loạn kinh hoàng nổ ra ở Woolwich nếu chúng không được trả về chỗ cũ.' 'Tôi nhất định phải giữ chúng,' hắn khăng khăng, 'vì chúng chứa quá nhiều chi tiết kỹ thuật tinh vi, không thể nào sao chép kịp.' 'Nếu vậy thì phải mang tất cả về lại ngay trong đêm nay,' tôi nài nỉ. Hắn trầm ngâm giây lát, rồi chợt thốt lên rằng hắn đã có cách. 'Tôi sẽ giữ lại ba tờ,' hắn nói. 'Những tờ còn lại, chúng ta sẽ nhét thẳng vào túi của chàng thanh niên này. Khi người ta tìm thấy cái xác, toàn bộ nghi vấn chắc chắn sẽ đổ dồn lên đầu anh ta.' Quả thực tôi không còn đường lùi nào khác, nên đành răm rắp làm theo kế hoạch của hắn. Chúng tôi đứng rình ở cửa sổ ròng rã nửa giờ đồng hồ mới có một chuyến tàu dừng lại. Sương mù quá đặc khiến người ngoài không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì, thế nên chúng tôi chẳng gặp mấy khó khăn khi thả thi thể của West xuống nóc toa xe. Đó là toàn bộ những gì tôi biết và dính líu đến vụ này."

"Thế còn anh trai của ngài?"

"Anh ấy không nói lời nào, nhưng đã từng bắt gặp tôi đang lén lút cầm chùm chìa khóa của anh ấy một lần, và tôi đồ rằng anh ấy đã sinh nghi. Tôi đọc được sự ngờ vực hiện rõ trong ánh mắt anh ấy. Và như ông đã biết đấy, từ dạo đó, anh ấy không bao giờ có thể ngẩng cao đầu lên được nữa."

Căn phòng chìm vào một sự im lặng chết chóc. Cuối cùng, Mycroft Holmes là người phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng đó.

"Ngài không thể đưa ra một sự chuộc lỗi nào sao? Nó sẽ giúp lương tâm ngài thanh thản phần nào, và biết đâu còn giúp ngài được giảm nhẹ hình phạt."

"Tôi còn có thể làm gì để chuộc lỗi nữa đây?"

"Oberstein hiện đang trốn ở đâu cùng với các tài liệu?"

"Tôi không biết."

"Hắn không để lại cho ngài bất kỳ địa chỉ nào sao?"

"Hắn chỉ dặn rằng cứ gửi thư tới Khách sạn Louvre ở Paris, rồi chúng sẽ đến tay hắn."

"Vậy thì cơ hội chuộc lỗi vẫn nằm trong tầm tay của ngài đấy," Sherlock Holmes lạnh lùng nói.

"Tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì có thể. Tôi chẳng nợ nần gì tên khốn đó. Hắn chính là nguồn cơn dẫn đến sự lụn bại và suy tàn của đời tôi."

"Giấy và bút đây. Hãy ngồi vào chiếc bàn này và viết theo đúng những gì tôi đọc. Ghi tên người nhận ngoài phong bì theo đúng địa chỉ hắn đã cho. Đúng thế. Giờ là nội dung bức thư:

"Thưa ngài: "Liên quan đến vụ giao dịch giữa chúng ta, hẳn ngài đã nhận ra còn thiếu một chi tiết vô cùng then chốt. Hiện tôi đang giữ một bản vẽ can có thể làm cho bộ tài liệu trở nên hoàn chỉnh. Tuy nhiên, việc này đã đẩy tôi vào thêm nhiều rắc rối, do đó tôi buộc phải yêu cầu ngài ứng trước thêm năm trăm bảng nữa. Tôi không tin tưởng việc gửi nó qua đường bưu điện, và tôi cũng sẽ không nhận bất kỳ hình thức thanh toán nào ngoài vàng hoặc tiền giấy. Tôi có thể đến chỗ ngài ở nước ngoài, nhưng việc tôi rời khỏi đất nước vào thời điểm nhạy cảm này sẽ rất dễ thu hút sự chú ý. Do đó, tôi hy vọng sẽ được gặp ngài tại phòng hút thuốc của Khách sạn Charing Cross vào trưa thứ Bảy này. Xin hãy nhớ kỹ rằng tôi chỉ nhận tiền giấy của Anh, hoặc vàng.

"Thế là quá tốt. Tôi sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu lá thư này không thể dẫn dụ con mồi của chúng ta sập bẫy."

Và quả thực, lá thư đã làm được điều đó! Nó đã trở thành một phần của lịch sử-cái góc khuất lịch sử bí mật của một quốc gia, vốn luôn mang tính riêng tư và hấp dẫn hơn gấp bội so với những cuốn biên niên sử được phô bày công khai-rằng Oberstein, trong cơn khát khao mù quáng muốn hoàn tất phi vụ để đời của mình, đã ngoạm lấy miếng mồi ngon và rồi bị nhốt kín tận mười lăm năm ròng rã trong một nhà tù của nước Anh. Trong hòm đồ của hắn, người ta đã tìm thấy những bản vẽ Bruce-Partington vô giá, thứ mà hắn đã rắp tâm đem đi đấu giá tại tất cả các trung tâm hải quân trên toàn cõi châu Âu.

Đại tá Walter đã trút hơi thở cuối cùng trong tù vào khoảng cuối năm thứ hai của bản án. Về phần Holmes, anh sảng khoái quay lại với niềm đam mê dang dở-bản chuyên luận về các Động cơ Đa âm của Lassus. Cuốn sách sau đó đã được in để lưu hành nội bộ, và được giới chuyên gia đánh giá là lời giải đáp sắc sảo, trọn vẹn nhất cho chủ đề này. Vài tuần sau đó, tôi tình cờ biết được bạn mình đã dành trọn một ngày tại Lâu đài Windsor, và khi trở về, anh mang theo một chiếc đinh ghim cà vạt đính ngọc lục bảo tuyệt đẹp. Khi tôi gặng hỏi có phải anh vừa mua nó không, anh chỉ đáp hờ hững rằng đó là món quà ban thưởng từ một người phụ nữ quyền quý nào đó, người mà anh đã có diễm phúc được thực hiện một nhiệm vụ nhỏ nhoi vì lợi ích của bà. Anh không nói thêm lời nào nữa; nhưng tôi luôn thích thú nghĩ rằng mình hoàn toàn có thể đoán được cái tên uy nghi của người phụ nữ ấy, và tôi không mảy may nghi ngờ rằng chiếc đinh ghim ngọc lục bảo sẽ vĩnh viễn là một kỷ vật gợi lại trong tâm trí bạn tôi về cuộc phiêu lưu đầy thăng trầm bảo vệ những bản vẽ Bruce-Partington.



  1. Câu lạc bộ Diogenes (Diogenes Club) là một câu lạc bộ quý ông hư cấu ở London, do Mycroft Holmes đồng sáng lập, dành cho những người lập dị, ghét giao tiếp xã hội. Tên gọi lấy cảm hứng từ nhà triết học Diogenes của Hy Lạp cổ đại. 

  2. Whitehall là tên một con đường ở trung tâm London, nơi tập trung phần lớn các trụ sở chính phủ quan trọng. Từ này thường được dùng như một hoán dụ để chỉ toàn bộ Chính phủ Anh. 

  3. Chế độ bản vị kép (Bimetallism) là một hệ thống tiền tệ trong đó giá trị tiền được đảm bảo bằng cả vàng và bạc. Đây là một vấn đề kinh tế và chính trị rất phức tạp, gây tranh cãi lớn trên toàn cầu vào cuối thế kỷ 19. 

  4. Nguyên gốc dùng câu 'Jupiter is descending'. Trong thần thoại La Mã, Jupiter (sao Mộc) là chúa tể của các vị thần. Holmes dùng phép ẩn dụ này để chỉ việc Mycroft - một người có uy quyền tối cao nhưng hiếm khi bước chân ra khỏi thói quen khép kín - nay lại đích thân đến tận nơi, báo hiệu một sự kiện vô cùng trọng đại. 

  5. Xưởng vũ khí Hoàng gia Woolwich (Royal Arsenal, Woolwich) là một trung tâm nghiên cứu, sản xuất vũ khí và đạn dược tối mật, quan trọng bậc nhất của lực lượng vũ trang Đế quốc Anh thời bấy giờ. 

  6. Bảng (pound) và shilling là hệ thống tiền tệ cũ của Anh (1 bảng = 20 shilling). Vào cuối thế kỷ 19, hai bảng mười lăm shilling là một số tiền mặt tương đối lớn mang theo người đối với một nhân viên văn phòng. 

  7. Dự toán (the Estimates) ở đây chỉ Dự toán Ngân sách Quốc gia của Anh, vốn phải đệ trình công khai lên Quốc hội. Việc 'lén lút trích' cho thấy mức độ bảo mật tuyệt đối của dự án tàu ngầm này.