Vụ án Dinh thự Wisteria Lodge

1. Trải nghiệm kỳ lạ của ông John Scott Eccles

Lật giở lại cuốn sổ tay cũ, tôi chợt thấy những dòng ghi chép về một ngày cuối tháng Ba năm 1892, một ngày ảm đạm với những cơn gió lạnh buốt. Khi chúng tôi đang dùng bữa trưa, Holmes nhận được một bức điện tín. Anh nhanh chóng viết vội vài dòng hồi đáp mà chẳng nói một lời. Tuy nhiên, nội dung bức thư dường như vẫn lẩn khuất trong tâm trí, bởi ngay sau đó anh bước đến đứng trầm ngâm trước lò sưởi, vừa rít từng hơi tẩu thuốc vừa thi thoảng liếc nhìn tờ giấy trên tay. Đột nhiên, anh quay sang tôi, ánh mắt lóe lên một tia tinh nghịch.

"Watson này, tôi nghĩ chúng ta phải coi anh như một nhà văn thực thụ rồi," anh lên tiếng. "Vậy anh định nghĩa thế nào về từ 'kỳ cục'?"

"Đó là một điều kỳ lạ, thu hút sự chú ý," tôi đưa ra gợi ý.

Holmes lắc đầu trước câu trả lời đó.

"Chắc chắn phải có hàm ý sâu xa hơn thế," anh giải thích, "một dự cảm ngầm về sự bi thảm và kinh hoàng. Nếu anh ngẫm lại những vụ án mà anh từng dày công kể cho độc giả, anh sẽ nhận ra những điều kỳ cục thường biến tướng thành tội ác như thế nào. Hãy nhớ lại vụ án nhỏ của Hội những người tóc đỏ xem. Khởi đầu nghe có vẻ vô lý và buồn cười, nhưng cuối cùng lại lật mở một âm mưu cướp bóc táo tợn. Hay như vụ án cực kỳ quái gở về năm hạt cam, vốn dẫn thẳng đến một tội ác sát nhân. Thế nên, chính cái từ này đã khiến tôi phải cảnh giác."

"Anh đang cầm bức điện đó phải không?" tôi hỏi.

Anh bèn đọc to nội dung bức điện tín.

"Vừa trải qua một sự việc khó tin và kỳ cục nhất. Liệu tôi có thể xin lời khuyên từ anh không?

"Scott Eccles, "Bưu điện, Charing Cross."

"Khách hàng là nam hay nữ vậy?" tôi hỏi.

"Ồ, hẳn là một người đàn ông. Chẳng có người phụ nữ nào lại gửi điện tín trả trước cước phí như thế này cả. Cô ấy sẽ trực tiếp tìm đến tận nơi."

"Vậy anh có định gặp ông ta không?"

"Watson thân mến, anh biết rõ tôi đã buồn chán đến nhường nào kể từ khi chúng ta tống cổ Đại tá Carruthers vào tù cơ mà. Đầu óc tôi lúc này hệt như một cỗ máy đua rồ ga, tự bào mòn chính mình chỉ vì không được lao vào công việc vốn là lẽ sống của nó. Cuộc sống sao mà nhạt nhẽo, những tờ báo thì chán ngắt; vẻ táo bạo và nét lãng mạn dường như đã vĩnh viễn biến mất khỏi thế giới tội phạm rồi. Vậy mà anh còn hỏi liệu tôi có sẵn sàng tiếp nhận một vụ án mới hay không, dẫu cho nó có vẻ tầm thường đến mức nào chăng nữa? Nhưng kia rồi, nếu tôi không nhầm thì khách hàng của chúng ta đã đến."

Những tiếng bước chân nặng nề vang lên trên cầu thang, và một lát sau, một người đàn ông cao lớn, đậm người, râu quai nón điểm bạc với vẻ ngoài vô cùng đạo mạo được dẫn vào phòng. Dường như cả lịch sử cuộc đời ông ta đều hằn rõ qua những đường nét nghiêm nghị cùng phong thái đầy uy quyền. Từ đôi ghệt tươm tất cho đến cặp kính gọng vàng, ông ta toát lên khí chất của một người Bảo thủ, một tín đồ ngoan đạo, một công dân mẫu mực, luôn giữ mình trong những lề thói phép tắc khắt khe nhất. Thế nhưng, dường như một sự việc kinh khủng nào đó đã phá vỡ sự điềm tĩnh bẩm sinh ấy, để lại dấu ấn qua mái tóc xù xộc xệch, đôi má đỏ bừng tức giận cùng dáng vẻ hốt hoảng, kích động tột độ. Vừa bước vào, ông ta lập tức đi thẳng vào vấn đề.

"Tôi vừa phải trải qua một sự việc vô cùng kỳ lạ và bực mình, thưa ông Holmes," ông ta lên tiếng. "Chưa bao giờ trong đời tôi lại rơi vào một tình cảnh như thế. Thật không thể chấp nhận được-thật quá đáng. Tôi nhất quyết phải đòi lại một lời giải thích cho ra lẽ." Ông ta phồng má, thở hắt ra đầy phẫn nộ.

"Xin mời ngồi, ông Scott Eccles," Holmes điềm tĩnh đáp lời. "Nhưng trước tiên, tôi có thể hỏi lý do nào đã khiến ông tìm đến tôi không?"

"Vâng, thưa ông, có vẻ như vụ này chẳng dính dáng gì đến cảnh sát, nhưng khi nghe rõ ngọn ngành, hẳn ông sẽ phải thừa nhận rằng tôi không thể nào cứ thế cho qua. Thú thực, thám tử tư là cái giới mà tôi chẳng có chút thiện cảm nào, nhưng dẫu sao, vì đã nghe danh ông bấy lâu nay-"

"Đã rõ. Nhưng thứ hai là, tại sao ông không đến gặp tôi ngay từ sớm?"

Holmes khẽ liếc nhìn đồng hồ.

"Bây giờ đã là hai giờ mười lăm phút," anh tiếp lời. "Bức điện của ông được gửi đi vào khoảng một giờ trước. Nhưng bất cứ ai khi nhìn vào đầu tóc và trang phục của ông lúc này, cũng đều dễ dàng nhận ra rằng sự hoảng loạn của ông đã bắt đầu ngay từ lúc mới ngủ dậy."

Khách hàng của chúng tôi lúng túng vuốt lại mái tóc rối bù và sờ lên cằm râu lởm chởm.

"Ông nói rất đúng, ông Holmes. Xưa nay tôi chưa bao giờ ăn mặc lôi thôi thế này. Chẳng qua tôi đã quá đỗi mừng rỡ khi thoát khỏi cái ngôi nhà quỷ quái đó. Nhưng trước khi đến đây, tôi cũng đã chạy đôn chạy đáo khắp nơi để dò hỏi tình hình. Ông biết đấy, tôi đã tìm đến các văn phòng môi giới bất động sản, và họ khẳng định rằng tiền thuê nhà của ông Garcia đã được thanh toán đầy đủ, mọi thứ ở Wisteria Lodge vẫn hoàn toàn ổn thỏa."

"Bình tĩnh nào, thưa ông," Holmes mỉm cười xoa dịu. "Ông có vẻ khá giống bạn tôi, bác sĩ Watson đây, người mắc phải thói quen tệ hại là luôn kể mọi chuyện lộn ngược từ đuôi lên đầu. Xin ông hãy xâu chuỗi lại các luồng suy nghĩ và kể cho tôi nghe theo đúng trình tự, chính xác là những biến cố nào đã khiến ông phải lao ra đường trong bộ dạng xộc xệch, xỏ nhầm giày dạ hội và cài lệch cả cúc áo gilet, chỉ để chạy đôn chạy đáo tìm kiếm sự giúp đỡ thế này."

Vị khách đưa mắt nhìn lại bộ dạng lếch thếch của mình với vẻ mặt vô cùng thiểu não.

"Hẳn là trông tôi rất thảm hại, thưa ông Holmes, nhưng cả đời tôi chưa từng trải qua chuyện gì kỳ quái đến thế này. Tôi sẽ trình bày lại toàn bộ sự việc, và khi nghe xong, tôi tin chắc ông sẽ hiểu và lượng thứ cho bộ dạng hiện tại của tôi."

Thế nhưng, câu chuyện của ông ta đã bị cắt ngang ngay từ khi chưa kịp bắt đầu. Có tiếng ồn ào ngoài hành lang, rồi bà Hudson mở cửa, dẫn vào hai người đàn ông cao lớn vạm vỡ, mang đậm dáng vẻ của những viên chức thi hành công vụ. Một người trong số họ là người quen cũ của chúng tôi, Thanh tra Gregson của sở Scotland Yard1. Anh ta là một sĩ quan nhiệt huyết, quả cảm, và xét trong phạm vi quyền hạn của mình, cũng là một người khá năng lực. Gregson bước đến bắt tay Holmes và lên tiếng giới thiệu người đồng nghiệp đi cùng mình là Thanh tra Baynes, thuộc lực lượng Cảnh sát hạt Surrey.

"Chúng tôi đang cùng nhau lần theo dấu vết tội phạm, anh Holmes ạ, và manh mối đã dẫn chúng tôi đến thẳng chỗ này." Anh ta xoay ánh nhìn sắc như dao cạo về phía vị khách của chúng tôi. "Ông có phải là ông John Scott Eccles, cư ngụ tại Popham House, vùng Lee không?"

"Đúng là tôi."

"Chúng tôi đã bám theo ông suốt cả buổi sáng nay."

"Chắc hẳn các anh đã truy ra ông ấy qua bức điện tín," Holmes suy đoán.

"Anh nói rất chuẩn, anh Holmes. Chúng tôi đã đánh hơi được dấu vết tại Bưu điện Charing Cross và lần ra tới tận đây."

"Nhưng tại sao các anh lại phải theo dõi tôi? Các anh muốn điều gì?"

"Chúng tôi cần ông cung cấp một bản lời khai, thưa ông Scott Eccles, về những sự việc đã dẫn đến cái chết đêm qua của ông Aloysius Garcia tại Wisteria Lodge, gần khu Esher."

Nghe đến đây, vị khách của chúng tôi giật bắn mình ngồi thẳng dậy, đôi mắt mở trừng trừng, bao nhiêu huyết sắc trên khuôn mặt sửng sốt bỗng chốc nhợt nhạt hẳn đi.

"Chết ư? Ngài thanh tra nói anh ta đã chết sao?"

"Đúng vậy, thưa ông, anh ta đã chết."

"Nhưng bằng cách nào chứ? Một tai nạn chăng?"

"Là án mạng, một vụ mưu sát thực sự."

"Lạy Chúa lòng lành! Thật khủng khiếp! Ý ngài thanh tra là-không lẽ các ngài đang nghi ngờ tôi sao?"

"Chúng tôi đã tìm thấy một lá thư của ông trong túi áo nạn nhân, và nhờ đó chúng tôi biết được rằng ông đã lên kế hoạch ngủ lại nhà anh ta vào đêm qua."

"Đúng là như vậy."

"Ồ, ra là thế sao?"

Cuốn sổ tay cảnh sát lập tức được rút ra.

"Khoan đã, Gregson," Sherlock Holmes can thiệp. "Tất cả những gì anh cần bây giờ chỉ là một bản tường trình đơn giản thôi, đúng chứ?"

"Và nhiệm vụ của tôi là phải cảnh báo ông Scott Eccles rằng mọi lời khai của ông ấy đều có thể được dùng làm bằng chứng chống lại chính ông ấy."

"Ông Eccles đây đang định kể cho chúng tôi nghe về chuyện đó ngay trước khi các anh bước vào. Watson này, tôi nghĩ một ly rượu brandy pha chút soda sẽ giúp ông ấy bình tâm lại phần nào. Còn bây giờ, thưa ông, tôi khuyên ông không cần bận tâm đến sự hiện diện của những vị khách không mời này đâu. Xin ông cứ tiếp tục câu chuyện của mình y như lúc nãy, coi như chưa hề có chuyện gì gián đoạn." Vị khách của chúng tôi ngửa cổ nốc cạn ly brandy, và huyết sắc cũng dần trở lại trên khuôn mặt. Khẽ ném một cái nhìn đầy ái ngại về phía cuốn sổ tay của ngài thanh tra, ông ta bắt đầu thuật lại bản tường trình lạ lùng của mình.

"Tôi là một người đàn ông độc thân," ông cất giọng, "nhưng lại rất thích giao thiệp, nên tôi có khá nhiều bạn bè. Một trong số đó là gia đình của Melville, một người ủ bia đã giải nghệ, hiện đang sống tại biệt thự Abermarle, khu Kensington. Vài tuần trước, trong một bữa tiệc tối tại nhà ông ấy, tôi tình cờ quen biết một chàng thanh niên tên là Garcia. Theo những gì tôi tìm hiểu được, anh ta mang dòng máu Tây Ban Nha và dường như có quan hệ gì đó với bên đại sứ quán. Chàng trai này nói tiếng Anh trôi chảy như người bản xứ, phong thái cư xử vô cùng nhã nhặn, và phải thừa nhận rằng anh ta là một trong những người đàn ông đẹp mã nhất mà tôi từng gặp trong đời.

"Chẳng hiểu sao, tôi và chàng thanh niên này lại trở nên vô cùng thân thiết. Ngay từ lần đầu gặp mặt, anh ta dường như đã tỏ ra có cảm tình với tôi, và chỉ hai ngày sau đó, anh ta đã chủ động đến thăm tôi tại vùng Lee. Chuyện nọ xọ chuyện kia, cuối cùng anh ta ngỏ ý mời tôi đến tá túc vài ngày tại cơ ngơi của mình, Wisteria Lodge, một ngôi nhà nằm giữa khu Esher và Oxshott. Tối hôm qua, tôi đã lặn lội đến tận Esher để thực hiện lời hứa này.

"Ngay từ trước khi tôi đến, anh ta đã vẽ ra bức tranh về những người hầu trong nhà. Anh ta sống cùng một người hầu đồng hương vô cùng trung thành, kẻ gánh vác mọi công việc thường nhật. Gã này thạo tiếng Anh và kiêm luôn vai trò quản gia trong nhà. Rồi anh ta lại khoe về một đầu bếp tuyệt hảo, một gã lai mà anh ta tình cờ thu nạp được trong những chuyến du hành, kẻ sở hữu tài nghệ nấu nướng xuất chúng. Tôi vẫn còn nhớ anh ta từng nhận xét rằng, quả là kỳ lạ khi lại tồn tại một gia đình như vậy ngay giữa trung tâm vùng Surrey. Lúc đó tôi cũng gật gù đồng tình, nào ngờ đâu những gì xảy ra sau đó lại còn quái gở hơn gấp bội phần so với trí tưởng tượng của tôi.

"Tôi đánh xe đến nơi đó-cách Esher chừng hai dặm về phía Nam. Đó là một dinh thự khá bề thế, nằm khuất sâu so với mặt đường, với lối đi trải sỏi uốn lượn rợp bóng những bụi cây thường xanh cao vút. Một công trình nhuốm màu thời gian, tồi tàn và đang xuống cấp trầm trọng. Khi cỗ xe ngựa dừng lại trên lối đi cỏ mọc um tùm trước cánh cửa đã phai màu sương gió, tôi bỗng hoài nghi liệu mình có quá hồ đồ khi nhận lời đến thăm một người chỉ mới quen biết sơ sài hay không. Thế nhưng, chính anh ta đã ra mở cửa và hồ hởi chào đón tôi bằng sự thân tình nồng hậu. Sau đó, tôi được giao lại cho gã nam hầu, một kẻ có nước da ngăm đen cùng vẻ mặt rầu rĩ. Hắn xách túi hành lý, đi trước dẫn đường đưa tôi lên phòng ngủ. Bầu không khí của cả ngôi nhà toát lên một vẻ ảm đạm đến khó tả. Bữa tối hôm ấy chỉ có hai người chúng tôi. Dù chủ nhà đã cố gắng hết sức để khuấy động không khí, nhưng tâm trí anh ta dường như cứ mải mê phiêu dạt tận đâu đâu, những câu chuyện anh ta nói ra thật mơ hồ và lố bịch đến mức tôi chẳng hiểu nổi. Anh ta liên tục gõ nhịp ngón tay xuống mặt bàn, bồn chồn cắn móng tay, biểu lộ rõ sự bứt rứt xen lẫn lo âu. Bữa ăn hôm đó chẳng những được phục vụ qua loa mà mùi vị cũng chẳng có gì đặc sắc. Cùng với sự hiện diện đầy u ám của gã hầu trầm mặc, bữa tối càng trở nên nặng nề hơn. Tôi có thể thề với ngài thanh tra rằng, trong suốt buổi tối hôm ấy, đã không biết bao nhiêu lần tôi thầm ước giá như mình có thể bịa ra một cái cớ nào đó để lập tức bắt xe quay trở về Lee.

"Chợt có một chi tiết lóe lên trong đầu tôi, biết đâu lại có chút manh mối cho vụ án mà các vị đang điều tra. Lúc ấy tôi chẳng bận tâm gì đâu. Khi bữa tối sắp tàn, gã hầu mang vào một bức thư. Tôi để ý thấy sau khi đọc xong, vẻ mặt của chủ nhà càng trở nên bàng hoàng và kỳ lạ hơn bao giờ hết. Anh ta lột bỏ hoàn toàn vẻ hồ hởi giả tạo, cứ thế ngồi đốt thuốc liên tục, chìm đắm trong những suy tư xa xăm, tuyệt nhiên không hé răng nửa lời về nội dung bức thư. Khoảng mười một giờ, tôi nhẹ cả người khi được trở về phòng nghỉ ngơi. Một lúc sau, Garcia ngó đầu vào phòng tôi-lúc ấy đèn đuốc đã tắt ngúm-và hỏi xem tôi có vừa bấm chuông hay không. Tôi đáp là không. Anh ta bèn ngỏ lời xin lỗi vì đã quấy rầy lúc đêm hôm khuya khoắt, đoạn lẩm bẩm rằng lúc đó đã gần một giờ sáng rồi. Sau đó tôi thiếp đi và có một giấc ngủ say sưa cho đến tận sáng.

"Và giờ, tôi xin kể đến tình tiết sửng sốt nhất trong toàn bộ câu chuyện. Khi tôi bừng tỉnh, trời đã sáng bạch. Tôi đưa mắt liếc nhìn đồng hồ, kim đã chỉ gần chín giờ. Hôm trước tôi đã cẩn thận dặn dò phải đánh thức tôi lúc tám giờ cơ mà, thế nên tôi vô cùng ngỡ ngàng trước sự tắc trách này. Tôi bật dậy khỏi giường, vội vã bấm chuông gọi người hầu. Bặt vô âm tín. Tôi sốt ruột bấm chuông thêm mấy lần nữa, nhưng kết quả vẫn chỉ là một sự im lặng đáng sợ. Chắc mẩm cái chuông đã hỏng, tôi tức tốc mặc quần áo, hầm hầm bước xuống nhà định bụng gọi xin chút nước nóng. Ngài thanh tra có thể hình dung được sự sửng sốt tột độ của tôi khi phát hiện ra dưới nhà chẳng có lấy một bóng người. Tôi cất tiếng gọi lớn ngoài đại sảnh. Không một tiếng đáp lời. Tôi lại sục sạo chạy từ phòng này sang phòng khác. Khắp nơi vắng ngắt như tờ. Nhớ lại tối hôm qua chủ nhà có chỉ cho tôi phòng ngủ của anh ta, tôi bước đến gõ cửa. Vẫn bặt vô âm tín. Tôi vặn tay nắm cửa bước vào. Căn phòng trống tuếch trống toác, còn chiếc giường thì phẳng phiu như chưa từng có ai ngả lưng. Anh ta đã bốc hơi cùng với những kẻ khác rồi. Gã chủ nhà ngoại quốc, gã hầu ngoại quốc, tên đầu bếp ngoại quốc, tất cả bọn họ đã không cánh mà bay ngay trong đêm! Đó chính là hồi kết cho chuyến viếng thăm Wisteria Lodge của tôi."

Sherlock Holmes xoa xoa hai tay vào nhau, khẽ cười khúc khích như thể vừa thu thập thêm một hiện tượng quái gở nữa vào bộ sưu tập những vụ án kỳ dị của mình.

"Theo như những gì tôi được biết thì trải nghiệm của ông quả là độc nhất vô nhị," anh cảm thán. "Vậy thưa ông, tôi có thể hỏi sau đó ông đã hành động như thế nào không?"

"Tôi đã nổi trận lôi đình. Ngay lập tức, ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu tôi là bản thân đã trở thành trò tiêu khiển cho một vở kịch lố bịch nào đó. Tôi gom gọn đồ đạc, đóng sầm cánh cửa lớn lại rồi xách túi thẳng tiến về Esher. Dọc đường, tôi tạt qua Allan Brothers, văn phòng môi giới bất động sản lớn nhất trong vùng, và phát hiện ra căn biệt thự đó được thuê lại từ chính nơi này. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi rằng, khó có khả năng họ bày ra ngần ấy chuyện chỉ để biến tôi thành gã ngốc, mà mục đích chính có lẽ là để tẩu tán nhằm trốn nợ tiền thuê nhà. Giờ đã là cuối tháng Ba, kỳ hạn thanh toán tiền thuê quý sắp đến rồi. Thế nhưng, giả thuyết này nhanh chóng bị gạt bỏ. Người môi giới rối rít cảm ơn vì lời cảnh báo của tôi, nhưng ông ta cũng khẳng định chắc nịch rằng tiền thuê nhà đã được thanh toán sòng phẳng từ trước. Sau đó, tôi quay về thành phố, rẽ qua Đại sứ quán Tây Ban Nha để dò la tung tích. Chẳng ai ở đó biết đến cái tên này cả. Không bỏ cuộc, tôi lại tìm đến nhà Melville, nơi đầu tiên tôi gặp Garcia, nhưng trớ trêu thay, những gì ông ấy biết về gã thanh niên này thậm chí còn ít ỏi hơn cả tôi. Cuối cùng, khi nhận được hồi âm bức điện tín, tôi bèn lập tức tìm đến anh, vì tôi biết anh là người chuyên gỡ rối cho những vụ việc hóc búa. Nhưng giờ đây, ngài thanh tra ạ, từ những gì ngài vừa thốt ra khi bước vào phòng, tôi lờ mờ hiểu ra rằng ngài mới là người nắm giữ phần tiếp theo của câu chuyện, và dường như một thảm kịch nào đó vừa giáng xuống. Nhưng tôi có thể thề độc với ngài thanh tra rằng, từng lời tôi thốt ra đều là sự thật, và ngoài những gì tôi vừa thuật lại, tôi tuyệt nhiên không hay biết chút gì về số phận của người đàn ông đó cả. Ước nguyện duy nhất của tôi lúc này là được đóng góp chút sức lực để hỗ trợ luật pháp đưa sự việc ra ánh sáng."

"Tôi hoàn toàn tin tưởng vào điều đó, thưa ông Scott Eccles-tôi chắc chắn như vậy," Thanh tra Gregson lên tiếng, giọng điệu vô cùng hòa nhã. "Tôi phải công nhận rằng mọi lời khai của ông đều ăn khớp hoàn hảo với những manh mối mà chúng tôi đã thu thập được. Chẳng hạn như chi tiết về bức thư được gửi đến trong bữa tối. Ông có tình cờ để ý xem bức thư đó trông như thế nào không?"

"Có chứ. Garcia đã vo tròn bức thư lại rồi ném thẳng vào lò sưởi."

"Ông thấy sao về chi tiết này, ông Baynes?"

Vị thanh tra địa phương là một người đàn ông to béo, bệ vệ với nước da đỏ au. Khuôn mặt anh ta có lẽ đã thô kệch đi nhiều nếu không nhờ đôi mắt sáng rực lạ thường, ẩn sâu sau những nếp nhăn xếp chồng lên nhau quanh gò má và vầng trán. Nở một nụ cười chậm rãi, anh ta thò tay vào túi rút ra một mảnh giấy nhàu nhĩ và đã xỉn màu.

"Đó là một chiếc lò sưởi có vỉ sắt, thưa anh Holmes, và có vẻ như anh ta đã ném hơi quá tay. Tôi đã tìm thấy mảnh giấy chưa cháy sém này kẹt ở phía sau lò sưởi đấy."

Holmes mỉm cười tỏ vẻ tán thưởng.

"Chắc hẳn ông đã phải khám xét ngôi nhà vô cùng tỉ mỉ mới có thể mò ra được một mảnh giấy vo tròn bé xíu như thế này."

"Quả đúng như vậy, thưa ngài. Đó là nguyên tắc làm việc của tôi. Tôi đọc nó lên nhé, anh Gregson?"

Viên thanh tra đến từ London gật đầu đồng tình.

"Bức thư được viết trên một loại giấy màu kem phổ thông, không hề có hình chìm. Nó chỉ bằng một phần tư tờ giấy thông thường. Mép giấy bị cắt đứt bằng hai nhát kéo ngắn. Tờ giấy được gấp làm ba và niêm phong bằng sáp màu tím2, vết phong ấn khá vội vàng và bị ép chặt bởi một vật thể dẹt hình bầu dục nào đó. Bức thư được gửi đến cho ông Garcia, tại Wisteria Lodge. Nội dung bên trong như sau:

"Màu cờ sắc áo của chúng ta, xanh và trắng. Xanh mở, trắng đóng. Cầu thang chính, hành lang thứ nhất, cánh cửa thứ bảy bên phải, thảm xanh lá. Thượng lộ bình an. D.

"Nét chữ này là của một người phụ nữ, được viết bằng loại bút ngòi nhọn, nhưng phần địa chỉ bên ngoài lại được viết bằng một cây bút khác, hoặc cũng có thể là do một người khác chắp bút. Nét chữ đậm và rõ ràng hơn nhiều, như anh thấy đấy."

"Quả là một bức thư chứa đựng nhiều điều thú vị," Holmes thốt lên khi lướt mắt qua mảnh giấy. "Tôi thực sự phải dành lời khen cho ông đấy, Thanh tra Baynes, vì sự quan sát tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhất trong quá trình kiểm tra. Nhưng có lẽ tôi xin phép bổ sung thêm một vài điểm nhỏ này. Dấu ấn hình bầu dục kia chắc chắn được tạo ra bởi một chiếc khuy măng sét trơn-chứ còn thứ gì mang hình dáng như vậy được nữa? Còn vết cắt trên giấy là từ một chiếc kéo tỉa móng tay cong. Mặc dù hai nhát cắt khá ngắn, nhưng ông có thể dễ dàng nhận ra độ cong nhẹ vô cùng trùng khớp ở cả hai đường cắt."

Vị thanh tra địa phương lại bật cười khúc khích.

"Tôi cứ ngỡ mình đã vắt kiệt mọi thông tin từ mảnh giấy này rồi, hóa ra vẫn còn sót lại vài giọt," anh ta gật gù. "Thú thực là tôi chẳng hiểu mô tê gì về bức thư này, ngoại trừ một linh cảm rằng có điều gì đó mờ ám đang diễn ra, và như một lẽ thường tình, phụ nữ luôn là mầm mống cho mọi rắc rối."

Chỗ ngồi của ông Scott Eccles dường như nóng ran lên suốt cuộc trò chuyện nãy giờ.

"Tôi rất lấy làm mừng khi ngài thanh tra tìm thấy bức thư đó, bởi nó chứng minh cho những gì tôi vừa thuật lại," ông ta chen ngang. "Nhưng xin phép được nhắc nhở rằng, cho đến tận lúc này tôi vẫn chưa được biết rốt cuộc anh Garcia đã gặp phải chuyện gì, và đám gia nhân nhà anh ta hiện đang ở đâu."

"Về phần Garcia," Gregson điềm tĩnh đáp lời, "câu hỏi đó chẳng khó để trả lời. Thi thể anh ta được phát hiện vào sáng nay tại khu vực Oxshott Common, cách nhà anh ta chừng một dặm. Hộp sọ anh ta đã bị đập nát tươm bởi những cú nện chí mạng từ một bao cát hay một hung khí cùn tương tự, khiến vết thương bị nghiền nát chứ không phải là vết rách. Hiện trường là một góc khá hẻo lánh, và trong vòng bán kính một phần tư dặm quanh đó tuyệt nhiên không có lấy một mái nhà. Rõ ràng là nạn nhân đã bị đánh gục bất ngờ từ phía sau, nhưng hung thủ dường như vẫn say máu, tiếp tục nện thêm nhiều nhát nữa rất lâu sau khi nạn nhân đã trút hơi thở cuối cùng. Quả là một vụ tấn công cuồng loạn và tàn bạo. Đáng nói là, không hề có bất kỳ dấu chân hay manh mối nào về hung thủ tại hiện trường."

"Có bị cướp không?"

"Không, không hề có dấu hiệu nào của một vụ cướp."

"Thật quá sức đau lòng-một thảm kịch kinh hoàng," ông Scott Eccles rên rỉ, "nhưng chuyện này cũng đẩy tôi vào một tình thế vô cùng khó xử. Tôi chẳng hề hay biết gì về việc chủ nhà của mình đã dấn thân vào một chuyến phiêu lưu trong đêm, để rồi nhận lấy một kết cục bi thảm đến vậy. Cớ sao tôi lại bị lôi kéo vào vụ án này cơ chứ?"

"Mọi chuyện rất đơn giản, thưa ông," Thanh tra Baynes ôn tồn giải thích. "Vật chứng duy nhất được tìm thấy trong túi người quá cố là một bức thư từ ông, trong đó xác nhận rằng ông sẽ ở lại nhà anh ta vào đúng cái đêm xảy ra án mạng. Chính phong bì của bức thư này đã cung cấp cho chúng tôi danh tính và địa chỉ của nạn nhân. Qua chín giờ sáng nay, chúng tôi đã ập đến nhà anh ta nhưng chẳng tìm thấy ông hay bất cứ ai khác ở đó cả. Lập tức, tôi đánh điện cho anh Gregson nhờ truy lùng tung tích của ông tại London, trong khi tôi ở lại khám xét Wisteria Lodge. Sau đó, tôi bắt tàu lên thành phố hội quân cùng anh Gregson, và giờ thì chúng tôi đang có mặt tại đây."

"Giờ thì tôi thiết nghĩ," Gregson cất tiếng, đồng thời đứng dậy, "đã đến lúc chúng ta phải giải quyết vấn đề này theo đúng trình tự pháp luật. Ông sẽ phải theo chúng tôi về đồn cảnh sát, thưa ông Scott Eccles, và để chúng tôi ghi chép lại lời khai của ông bằng văn bản."

"Chắc chắn rồi, tôi sẽ đi cùng các anh ngay. Nhưng thưa anh Holmes, tôi vẫn muốn nhờ cậy vào sự giúp đỡ của anh. Tôi muốn anh hãy dốc hết tâm sức và đừng màng đến chuyện chi phí, miễn sao tìm ra được sự thật đằng sau vụ án này."

Anh bạn tôi liền quay sang phía vị thanh tra địa phương.

"Tôi hy vọng ông sẽ không phiền nếu tôi cùng tham gia điều tra vụ này chứ, Thanh tra Baynes?"

"Quả là một vinh dự lớn cho tôi, thưa ngài, tôi chắc chắn là như vậy."

"Thanh tra dường như đã xử lý mọi việc vô cùng nhanh nhạy và chuyên nghiệp đấy. Vậy cho tôi hỏi, liệu ông đã nắm được manh mối nào về thời điểm chính xác nạn nhân tử vong chưa?"

"Anh ta đã nằm ở đó từ lúc một giờ sáng. Khoảng thời gian đó trời có đổ mưa, và thời điểm anh ta tắt thở chắc chắn phải xảy ra trước khi cơn mưa kéo đến."

"Nhưng chuyện đó là hoàn toàn không thể, Thanh tra Baynes," vị khách của chúng tôi hốt hoảng kêu lên. "Giọng nói của anh ta không thể nào lẫn đi đâu được. Tôi dám thề độc rằng chính anh ta đã đứng nói chuyện với tôi trong phòng ngủ vào đúng cái giờ khắc đó."

"Thật đáng lưu tâm đấy, nhưng không có nghĩa là không thể xảy ra," Holmes nhoẻn miệng cười.

"Anh đã tìm ra manh mối nào rồi sao?" Gregson gặng hỏi.

"Thoạt nhìn thì vụ án có vẻ không quá phức tạp, dẫu rằng nó thực sự ẩn chứa vài chi tiết khá mới mẻ và thú vị. Tôi vẫn cần thu thập thêm nhiều thông tin về các biến cố trước khi đưa ra một kết luận cuối cùng và xác đáng nhất. Nhân tiện, Thanh tra Baynes này, trong quá trình khám xét ngôi nhà, ngoài bức thư kia ra, ông có phát hiện thêm điều gì bất thường nữa không?"

Vị thanh tra ném cho bạn tôi một ánh nhìn đầy tò mò.

"Có chứ," anh ta đáp, "một vài chi tiết cực kỳ đáng chú ý. Có lẽ khi nào tôi giải quyết xong xuôi mọi việc trên đồn, ngài có thể thu xếp chút thời gian ghé qua xem xét và cho tôi vài lời nhận định về chúng được không?"

"Tôi luôn sẵn lòng phục vụ ông," Sherlock Holmes đáp lời, tay nhấn chuông gọi. "Bà Hudson, phiền bà tiễn các vị khách này ra ngoài, và làm ơn sai thằng bé chạy đi gửi bức điện này giúp tôi nhé. Bảo nó phải trả năm shilling cho phần cước phí trả lời đấy."

Sau khi những vị khách rời đi, chúng tôi chìm vào im lặng một hồi lâu. Holmes rít tẩu thuốc liên tục, đôi lông mày nhíu chặt che lấp ánh nhìn sắc lẹm, còn mái đầu thì hơi cúi về phía trước mang theo vẻ đầy háo hức thường thấy ở anh.

"Chà, Watson," anh đột ngột quay sang tôi, "anh có suy nghĩ gì về chuyện này không?"

"Tôi hoàn toàn mù tịt về câu chuyện đầy vẻ bí ẩn của ngài Scott Eccles."

"Thế còn về vụ án mạng thì sao?" "Chà, với việc những người sống cùng nạn nhân đều bốc hơi không tì vết, tôi cho rằng bọn họ hẳn có dính líu đến vụ mưu sát này và hiện đã bỏ trốn để né tránh lưới trời pháp luật."

"Đó hiển nhiên là một giả thiết hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, anh cũng phải thừa nhận rằng, thật vô lý khi hai tên người hầu lại ngấm ngầm rắp tâm hãm hại chủ nhân và ra tay vào đúng cái đêm anh ta có khách. Bọn chúng thừa sức kết liễu anh ta vào bất kỳ đêm nào khác trong tuần, khi anh ta chỉ có một thân một mình."

"Vậy tại sao bọn họ lại phải bỏ trốn?"

"Chính xác. Tại sao bọn họ lại lặn mất tăm? Đó là một sự thật hiển nhiên không thể chối cãi. Một chi tiết quan trọng khác chính là trải nghiệm dị thường của vị khách hàng Scott Eccles. Này Watson thân mến, liệu có quá khó khăn đối với trí tuệ con người khi xâu chuỗi cả hai sự kiện lớn này thành một lời giải thích thỏa đáng? Giả sử lời giải thích ấy có thể làm sáng tỏ luôn cả bức thư bí ẩn với những ngôn từ kỳ quặc, chà, thì nó xứng đáng được dùng làm giả thuyết tạm thời. Và nếu những tình tiết mới mà chúng ta khám phá ra cũng hoàn toàn ăn khớp với bức tranh toàn cảnh, thì cái giả thuyết ấy sẽ dần trở thành lời giải đáp cuối cùng cho mọi nghi vấn."

"Nhưng giả thuyết của chúng ta ở đây là gì?"

Holmes ngả người ra lưng ghế, đôi mắt nhắm hờ suy tưởng.

"Anh phải thừa nhận với tôi một điều, Watson thân mến, rằng việc coi đây chỉ là một trò đùa dai là hoàn toàn vô lý. Có những biến cố nghiêm trọng đang âm thầm diễn ra, như những gì đã bộc lộ ở phần sau, và việc dụ dỗ Scott Eccles đến biệt thự Wisteria Lodge chắc chắn có mối liên hệ mật thiết nào đó với chúng."

"Nhưng rốt cuộc thì đó là mối liên hệ nào cơ chứ?"

"Hãy cùng mổ xẻ từng mắt xích một. Mới nhìn qua, tình bạn chớp nhoáng và đầy kỳ quặc giữa gã thanh niên gốc Tây Ban Nha và ngài Scott Eccles có vẻ gì đó vô cùng khiên cưỡng. Chính gã trai trẻ kia mới là kẻ chủ động đun đẩy mối quan hệ này. Hắn đã cất công tìm đến tận nhà Eccles ở đầu kia London ngay vào ngày hôm sau của cuộc gặp gỡ đầu tiên, rồi duy trì mối liên lạc khăng khít cho tới lúc kéo được ông ta xuống tận Esher. Vậy thì, hắn thực sự muốn gì ở Eccles? Eccles có gì để mà trao đổi? Tôi chẳng nhận thấy ở người đàn ông này bất kỳ sự cuốn hút đặc biệt nào. Ông ấy cũng không lấy gì làm thông minh cho cam - hoàn toàn không phải mẫu người có thể bắt nhịp với một gã Mỹ Latinh lanh lợi. Thế thì tại sao trong số bao nhiêu người Garcia từng quen biết, ông ấy lại được chọn như một mảnh ghép hoàn hảo cho ý đồ của hắn? Phải chăng ông ấy sở hữu một phẩm chất nào đó thật sự xuất chúng? Tôi cho là có đấy. Ông ấy chính là khuôn mẫu của một quý ông Anh quốc đàng hoàng, khả kính, một nhân chứng hoàn hảo để tạo niềm tin tuyệt đối với bất kỳ người Anh nào khác. Bản thân anh cũng thấy rồi đấy, cả hai vị thanh tra cảnh sát đều chẳng mảy may nghi ngờ những lời khai của ông ấy, dù cho câu chuyện có vẻ nhuốm màu hoang đường đến mức nào."

"Nhưng ông ấy định làm nhân chứng cho chuyện gì cơ chứ?"

"Sẽ chẳng có chuyện gì cả, một khi mọi thứ đã an bài như hiện tại, nhưng đó sẽ là tất cả nếu bánh xe số phận xoay theo một hướng khác. Đấy là cách tôi nhìn nhận vấn đề."

"Tôi hiểu rồi, rất có thể ông ấy sẽ là người cung cấp một bằng chứng ngoại phạm."

"Chính xác là như vậy, Watson thân mến; ông ấy hoàn toàn có thể trở thành chiếc phao cứu sinh mang tên bằng chứng ngoại phạm. Giả sử nhé, những người ở biệt thự Wisteria Lodge là đồng phạm trong một âm mưu mờ ám nào đó. Và cái âm mưu ấy, bất kể là gì, sẽ được thực hiện trước một giờ sáng. Bằng vài tiểu xảo chỉnh đồng hồ, bọn họ hoàn toàn có khả năng lừa Scott Eccles đi ngủ sớm hơn ông ấy nghĩ. Dù thế nào đi nữa, rất có thể khi Garcia cất công nhắc nhở rằng lúc đó là một giờ sáng thì thực chất đồng hồ mới chỉ điểm mười hai giờ. Nếu Garcia có thể hoàn tất xong xuôi mọi chuyện rồi rảo bước quay về trước thời điểm được ấn định, hắn nghiễm nhiên nắm trong tay một lý lẽ đanh thép để bẻ gãy mọi cáo buộc. Ở đây có sẵn một quý ông người Anh với nhân cách không thể chê vào đâu được, sẵn lòng đứng trước bất kỳ phiên tòa nào để thề độc rằng bị cáo đã túc trực ở nhà trong suốt khoảng thời gian xảy ra án mạng. Đó đích thị là tấm bùa hộ mệnh vững chắc nhất để phòng hờ mọi tình huống tồi tệ."

"Đúng, đúng, tôi đã nắm được ý này. Nhưng còn việc những người khác biến mất không dấu vết thì giải thích ra sao?"

"Tôi vẫn chưa nắm trong tay toàn bộ manh mối, nhưng tôi tin là chẳng có chướng ngại nào không thể vượt qua. Dẫu vậy, tranh luận khi chưa có đủ dữ kiện là một sai lầm chết người. Anh sẽ vô tình bóp méo sự thật chỉ để uốn nắn chúng cho vừa vặn với mớ lý thuyết của riêng mình."

"Thế còn bức thư thì sao?"

"Nội dung của nó ra sao nhỉ? 'Màu sắc của chúng ta, xanh và trắng.' Nghe cứ như khẩu hiệu của một cuộc đua ngựa. 'Xanh mở, trắng đóng.' Rõ ràng đây là một loại ám hiệu. 'Cầu thang chính, hành lang thứ nhất, cánh cửa thứ bảy bên phải, thảm xanh lá cây.' Chắc chắn là một cuộc hẹn hò. Rất có thể chúng ta sẽ đào ra được một gã chồng hay ghen tuông đứng giật dây phía sau toàn bộ vụ này. Rõ rành rành đây là một nhiệm vụ ẩn chứa hiểm nguy. Cô ả sẽ chẳng đời nào thốt lên câu 'Thượng lộ bình an' nếu mọi chuyện êm đẹp. 'D'-chữ cái này hẳn là một lời chỉ dẫn."

"Nạn nhân là một gã gốc Tây Ban Nha. Tôi mạnh dạn đoán 'D' là viết tắt của Dolores, một cái tên phụ nữ rất đỗi phổ biến ở xứ sở bò tót."

"Một suy luận rất khá đấy, Watson, rất khá - nhưng hoàn toàn không thể chấp nhận được. Một người Tây Ban Nha sẽ viết thư cho đồng hương của mình bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Kẻ chắp bút cho bức thư này chắc chắn 100% là người Anh. Chà, giờ thì chúng ta chỉ có nước kiên nhẫn mài đũng quần chờ vị thanh tra mẫn cán kia quay lại đón. Trong khoảng thời gian ấy, chúng ta cũng nên thầm cảm tạ số phận may mắn vì đã cứu rỗi hai ta, dù chỉ vài giờ đồng hồ ngắn ngủi, khỏi sự bào mòn khủng khiếp của những tháng ngày nhàn rỗi nhạt nhẽo."

Một bức điện tín hồi đáp đã được gửi đến cho Holmes trước cả lúc viên sĩ quan vùng Surrey kia quay lại. Holmes lướt nhanh qua dòng chữ, toan cất nó vào cuốn sổ tay thì bất chợt bắt gặp vẻ mặt đầy ngóng trông của tôi. Anh bật cười sảng khoái rồi ném tờ giấy sang cho tôi.

"Chúng ta đang bước chân vào lãnh địa của giới thượng lưu đấy," anh cất giọng.

Bức điện tín đó hóa ra lại là một bản danh sách ghi chú tên tuổi và địa chỉ:

Ngài Harringby ở The Dingle; Ngài George Ffolliott ở Tháp Oxshott; Ngài Hynes Hynes, vị Thẩm phán hòa giải3 ở Purdley Place; Ngài James Baker Williams ở Forton Old Hall; Ngài Henderson ở High Gable; và Mục sư Joshua Stone ở Nether Walsling.

"Đây là một phương pháp cực kỳ rành mạch nhằm khoanh vùng phạm vi điều tra của chúng ta," Holmes nhận định. "Không còn nghi ngờ gì nữa, gã Baynes với cái đầu óc đầy tính bài bản kia, hẳn cũng đã áp dụng một chiến thuật tương tự."

"Tôi vẫn chưa hiểu ý anh lắm."

"Chà, anh bạn thân mến, chúng ta đã thống nhất với nhau rằng bức thư Garcia nhận được trong bữa tối chính là lời hẹn gặp. Bây giờ, nếu những lời lẽ rành rành trong bức thư không sai lệch đi đâu được, và để mò đến đúng điểm hẹn, người ta phải leo lên một cầu thang chính, rồi đếm đến cánh cửa thứ bảy dọc theo một dãy hành lang, thì hiển nhiên đó phải là một tòa nhà vô cùng đồ sộ. Cũng chắc chắn không kém là căn nhà này không thể cách Oxshott quá một hoặc hai dặm. Bằng chứng là Garcia đã lội bộ thẳng về hướng đó với hy vọng - theo như suy luận của tôi về toàn bộ sự việc - sẽ kịp quay trở về Wisteria Lodge để xài tấm bùa ngoại phạm, vốn dĩ chỉ có hiệu lực trước một giờ sáng. Do số lượng những dinh thự bề thế quanh quẩn khu Oxshott đếm trên đầu ngón tay, tôi đã xài ngay cái mẹo đơn giản là liên hệ với các tay cò đất mà Scott Eccles nhắc tới để xin một bản danh sách. Chúng đều nằm gọn trong bức điện tín này, và cái nút thắt cuối cùng cho mớ bòng bong của chúng ta chắc chắn phải nằm ẩn mình đâu đó giữa những cái tên kia."

Đồng hồ đã điểm gần sáu giờ tối khi chúng tôi đặt chân đến ngôi làng Esher thơ mộng thuộc vùng Surrey, dĩ nhiên là với Thanh tra Baynes trong vai trò người bạn đồng hành.

Holmes và tôi đã chuẩn bị sẵn chút hành lý qua đêm, đồng thời thuê được một phòng trọ khá tươm tất tại quán Bull. Cuối cùng, chúng tôi cũng khởi hành cùng vị thanh tra để tới thăm Wisteria Lodge. Đó là một buổi tối tháng Ba xám xịt và giá rét, những đợt gió rít gào buốt xương cùng những hạt mưa phùn lạnh ngắt quất thẳng vào mặt chúng tôi. Một khung cảnh quá đỗi thê lương, hoàn toàn ăn khớp với vùng đất hoang vu mà chúng tôi đang băng qua cũng như cái đích đến nhuốm màu bi thương đang chờ đợi ở phía trước.

2. Con hổ xứ San Pedro4

Cuốc bộ vài dặm đường dài lạnh lẽo và u sầu, chúng tôi dừng chân trước một cánh cổng gỗ vút cao. Từ đây, một lối đi rộng thênh thang mở ra, khuất lấp dưới những vòm dẻ u ám. Con đường uốn lượn rợp bóng cây dẫn cả nhóm tiến về phía một căn nhà thấp bé, tối tăm, hiện lên đen kịt giữa nền trời xám xịt. Từ ô cửa sổ phía trước, ngay bên trái lối vào, một vệt sáng yếu ớt hắt ra.

"Có một viên cảnh sát đang túc trực ở đó," Baynes lên tiếng. "Tôi sẽ gõ cửa sổ." Anh ta băng qua bãi cỏ, dùng tay gõ nhẹ lên mặt kính. Xuyên qua lớp kính mờ sương, tôi thoáng thấy bóng một người đàn ông giật bắn mình khỏi chiếc ghế cạnh lò sưởi, kèm theo đó là một tiếng kêu thảng thốt vọng ra từ bên trong. Lát sau, cánh cửa bật mở. Một viên cảnh sát với khuôn mặt trắng bệch, thở dốc bước ra, tay run run cầm ngọn nến chập chờn trước gió.

"Có chuyện gì vậy, Walters?" Baynes cất giọng sắc lạnh.

Viên cảnh sát quệt vội chiếc khăn tay lên trán, buông một tiếng thở phào nhẹ nhõm.

"Tôi mừng quá vì sếp đã đến. Quả là một đêm dài lê thê, và tôi có cảm giác thần kinh của mình chẳng còn vững vàng như trước nữa."

"Thần kinh của cậu ư, Walters? Tôi lại cứ tưởng trong người cậu chẳng có dây thần kinh nào cơ đấy."

"Vâng, thưa sếp. Tại cái căn nhà vắng lặng đến rợn người này, cùng với cái thứ quái gở nằm trong bếp. Thế nên khi sếp gõ cửa sổ, tôi cứ tưởng nó đã mò lại đây."

"Thứ gì mò lại cơ?"

"Ma quỷ, thưa sếp. Theo tất cả những gì tôi cảm nhận được. Nó đứng ngay bên cửa sổ."

"Cái gì ở cửa sổ, và lúc nào?"

"Khoảng hai tiếng trước. Ánh sáng vừa phụt tắt. Tôi đang ngồi đọc sách trên ghế. Chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào, tôi bất chợt ngước lên, thì bắt gặp một khuôn mặt đang trừng trừng nhìn mình qua lớp kính dưới cùng. Lạy Chúa, sếp ơi, một khuôn mặt mới kinh hãi làm sao! Chắc chắn hình ảnh đó sẽ ám ảnh tôi trong cả những giấc mơ."

"Chậc, chậc, Walters. Cảnh sát thì không ăn nói như vậy đâu."

"Tôi biết, thưa sếp, tôi biết rõ. Nhưng cảnh tượng đó khiến tôi hồn xiêu phách lạc. Chối cãi cũng vô ích. Nó không đen, cũng chẳng trắng, hay mang bất kỳ màu sắc nào mà tôi từng biết. Nó mang một sắc thái kỳ quái như màu đất sét pha với chút sữa. Rồi đến kích thước của nó nữa chứ-to lớn gấp đôi sếp luôn. Còn ánh mắt của nó-đôi mắt to tròn trố lồi ra, và hàm răng thì trắng ởn như thể một con thú đang đói khát. Thật tình với sếp, lúc đó tôi cứng đờ cả người, không nhúc nhích nổi ngón tay, thậm chí không dám thở mạnh, cho đến khi nó lao vút đi rồi lặn mất tăm. Tôi vùng chạy ra ngoài, sục sạo khắp bụi rậm, nhưng tạ ơn Chúa là chẳng có ai ở đó cả."

"Này Walters, nếu tôi không biết cậu là một gã đàng hoàng, tôi đã ghi sổ đen cậu vì chuyện này rồi đấy. Kể cả đó có là ma quỷ đi chăng nữa, thì một người cảnh sát đang thi hành công vụ tuyệt đối không bao giờ được tạ ơn Chúa chỉ vì mình để sổng mất mục tiêu. Liệu tôi có thể cho rằng toàn bộ câu chuyện vừa rồi không hẳn là do đầu óc cậu sinh ra ảo giác hay vì quá căng thẳng thần kinh không?"

"Ít nhất thì điều đó có thể dễ dàng kiểm chứng," Holmes nói, đồng thời bật sáng chiếc đèn pin nhỏ bỏ túi. "Chính xác rồi," anh kết luận sau một thoáng săm soi bãi cỏ, "tôi đoán đây là vết tích của một chiếc giày số mười hai. Nếu kích cỡ cơ thể của hắn cũng tỉ lệ thuận với bàn chân này thì chắc chắn đó phải là một gã khổng lồ thực thụ."

"Hắn chuồn đi hướng nào?"

"Có vẻ như hắn đã lủi qua đám bụi rậm và nhắm thẳng ra đường lớn."

"Chà," vị thanh tra trầm ngâm, nét mặt hiện rõ vẻ nghiêm nghị, "cho dù hắn là ai, và dẫu hắn có mục đích gì đi nữa, thì hắn cũng đã biến mất. Chúng ta vẫn còn những việc cấp bách hơn cần giải quyết ngay lúc này. Bây giờ, thưa ngài Holmes, nếu ngài cho phép, tôi xin phép được dẫn ngài đi tham quan một vòng quanh ngôi nhà."

Dù đã lục soát kỹ lưỡng khắp các phòng ngủ lẫn phòng khách, chúng tôi vẫn chẳng thu được manh mối nào đáng giá. Rõ ràng, những người tới thuê nhà hầu như chẳng mang theo món đồ gì đáng kể. Toàn bộ nội thất, từ những vật dụng nhỏ nhặt nhất, đều là đồ có sẵn của ngôi nhà này. Khá nhiều quần áo dán nhãn hiệu Marx and Co., High Holborn, bị vứt lại chỏng chơ. Từ những thông tin tra xét qua điện báo, Marx cho biết ông hoàn toàn mù tịt về vị khách hàng này, ngoại trừ một điều: ông ta luôn thanh toán tiền nong vô cùng sòng phẳng. Lẫn lộn trong số những tư trang cá nhân bỏ lại, người ta còn tìm thấy vài thứ lặt vặt như vài chiếc tẩu thuốc, dăm ba cuốn tiểu thuyết, hai trong số đó được viết bằng tiếng Tây Ban Nha, một khẩu súng lục nổ kim kiểu cũ kỹ, cùng một cây đàn guitar.

"Toàn mấy thứ vô dụng," Baynes nói, tay nâng ngọn nến, sải bước nghênh ngang từ phòng nọ sang phòng kia. "Nhưng bây giờ, thưa ngài Holmes, xin ngài hãy dành chút thời gian quan sát kỹ khu vực nhà bếp."

Đó là một căn phòng nằm khuất phía sau ngôi nhà, trần cao vút nhưng lại toát lên vẻ ảm đạm lạ thường. Ở một góc, có một đống rơm rạ được vun lại, dường như người đầu bếp đã dùng nó làm chỗ ngả lưng. Trên chiếc bàn gỗ, đồ ăn dở dang và bát đĩa bẩn thỉu chất đống ngổn ngang, phơi bày những mảnh vụn còn sót lại của bữa tối hôm trước.

"Ngài xem thứ này đi," Baynes lên tiếng. "Ngài nghĩ sao về nó?"

Anh ta giơ ngọn nến rọi thẳng vào một vật thể kỳ quái được giấu tít tận sâu phía sau tủ bát đĩa. Nó nhăn nhúm, teo tóp và khô quắt lại, khiến người ta khó lòng hình dung nổi rốt cuộc nó là thứ gì. Chỉ có thể lờ mờ nhận ra rằng vật đó mang một màu đen tuyền, với chất liệu tựa như da thú, và sở hữu những đường nét hao hao như một hình nhân lùn tịt. Lúc mới nhìn vào, tôi ngỡ đó là xác ướp của một đứa trẻ da đen. Nhưng rồi quan sát kỹ hơn, tôi lại thấy nó giống hệt một con khỉ già nua, thân hình vặn vẹo một cách đầy cổ quái. Cuối cùng, tôi đành bất lực ôm nỗi hoài nghi, chẳng thể xác định nổi thứ trước mặt mình là con người hay là động vật. Chằng ngang giữa vật thể ấy là một dải dây kết bằng vỏ sò trắng gồm hai vòng.

"Thú vị lắm... quả thực là vô cùng thú vị!" Holmes thốt lên, mắt vẫn dán chặt vào cái di vật chết chóc kia. "Còn phát hiện gì khác không?"

Giữ vẻ im lặng tuyệt đối, Baynes dẫn chúng tôi bước về phía bồn rửa, tay vẫn rọi ngọn nến ra phía trước. Những bộ phận gồm mình mẩy và tứ chi của một con chim lớn có bộ lông trắng toát bị xé xác một cách dã man, vương vãi khắp nơi. Nhìn những túm lông tơi tả vẫn còn dính chặt trên từng khúc thịt, Holmes lập tức chỉ tay vào phần mào đỏ chót trên cái đầu chim đã bị cắt rời.

"Là một con gà trống trắng," anh khẳng định. "Vô cùng thú vị! Đây quả thực là một vụ án mang nhiều uẩn khúc."

Nhưng ông Baynes dường như đã cố tình giữ lại vật chứng kinh dị nhất cho đến phút chót. Từ phía dưới bồn rửa, anh ta lôi ra một chiếc xô kẽm, bên trong chứa đầy một thứ chất lỏng đỏ lòm, sền sệt. Ngay sau đó, anh ta lấy từ trên bàn xuống một chiếc đĩa bám đầy những mẩu xương nhỏ, bị thiêu cháy đen thui.

"Rõ ràng là đã có một sinh vật nào đó bị sát hại, rồi một thứ khác bị đem ra thiêu sống. Cảnh sát chúng tôi đã phải bới móc, cào cấu từ trong đống tro tàn để gom lại bằng này thứ. Sáng nay, chúng tôi có mời một bác sĩ đến khám nghiệm. Vị ấy đã kết luận rằng những mẩu xương kia không phải là xương người."

Holmes khẽ mỉm cười, hai tay xoa xoa vào nhau vẻ đắc ý.

"Xin được gửi lời chúc mừng tới ông, ngài Thanh tra, vì đã tiếp nhận một vụ án đặc biệt và mang tính chất định hướng thế này. Bỏ qua những phép tắc xã giao, tôi dám chắc rằng năng lực thực sự của ông vốn dĩ đã vượt xa cơ hội mà ông đang có."

Đôi mắt ti hí của Thanh tra Baynes chợt lóe lên một niềm hân hoan không giấu giếm.

"Ngài nói rất phải, ngài Holmes ạ. Chúng tôi đang kẹt cứng ở những vùng quê hẻo lánh thế này. Gặp được một vụ án với tính chất như thế này, xem như đó là một cơ hội hiếm có dành cho bất kỳ ai. Tôi rất mong mình sẽ chộp được cái cơ may ấy. Thế ngài có suy nghĩ gì về mấy bộ xương kia không?"

"Tôi đoán đó là xương của một chú cừu non, hoặc có chăng là một con dê chưa trưởng thành."

"Thế còn con gà trống lông trắng kia thì sao?"

"Kỳ lạ lắm, thưa ông Baynes, sự việc này thực sự rất kỳ quái. Theo phán đoán của tôi, đây gần như là một vụ án hiếm có khó tìm, gần như độc nhất vô nhị."

"Vâng, thưa ngài. Chắc chắn đã có những nhân vật vô cùng lập dị, hành xử theo những lề lối vô cùng cổ quái sinh sống tại ngôi nhà này. Giờ thì một kẻ trong số họ đã bỏ mạng. Phải chăng những gã đồng bọn đã bí mật bám theo hắn rồi ra tay hạ sát? Nếu đúng là vậy, cảnh sát chúng ta nhất định sẽ tóm gọn được bọn chúng, bởi mọi bến cảng lúc này đều đang nằm dưới sự giám sát nghiêm ngặt. Tuy nhiên, quan điểm cá nhân tôi lại có phần sai biệt. Vâng, thưa ngài, tôi nghĩ theo một hướng hoàn toàn khác."

"Vậy ra ông đã vạch sẵn cho mình một giả thuyết rồi sao?"

"Và tôi sẽ tự mình làm sáng tỏ toàn bộ vụ này, ngài Holmes. Tôi buộc phải làm thế để giữ gìn cái uy tín của bản thân. Tên tuổi của ngài vốn dĩ đã vang danh thiên hạ, còn tôi thì vẫn đang chật vật tạo dựng một cái tên cho riêng mình. Tôi sẽ cảm thấy hả hê vô cùng, nếu sau chuyện này, tôi có thể dõng dạc tuyên bố rằng chính tôi đã tự tay phá án mà chẳng cần nhờ cậy đến sự viện trợ nào từ ngài cả."

Holmes đáp lại bằng một nụ cười hiền hậu.

"Chà, chà, Thanh tra," anh nói. "Ông cứ đi theo hướng của mình, và tôi cũng sẽ bám sát lộ trình của tôi. Bất cứ khi nào ông thấy cần, mọi suy luận, mọi kết quả điều tra của tôi đều sẵn sàng phục vụ ông vô điều kiện. Thiết nghĩ, tôi đã mục sở thị tất cả những thứ tôi muốn ở ngôi nhà này rồi. Và thời gian của tôi nên dành để đào bới, lật tung một nơi khác thì sẽ thu về nhiều manh mối hữu ích hơn. Chào ông, và chúc ông gặp nhiều may mắn!"

Qua vô vàn những biểu hiện tinh tế nhỏ nhặt nhất, mà có lẽ bất kỳ ai-ngoại trừ tôi-cũng dễ dàng bỏ sót, tôi dám khẳng định chắc nịch rằng Holmes đang bám sát một manh mối cực kỳ quan trọng. Dẫu trước mắt thiên hạ, anh vẫn duy trì một vẻ mặt dửng dưng vô hồn quen thuộc. Thế nhưng, ánh mắt anh lại rực lên ngọn lửa, và phong thái thường ngày dường như cũng được gia tốc thêm một phần. Tất cả những chuyển biến đó là minh chứng rõ nét cho một sự cuồng nhiệt đang cố kìm nén, xen lẫn những rung động mỏng manh của sự căng thẳng. Nó ngầm thông báo với tôi rằng: cuộc đi săn chính thức bắt đầu. Chẳng có gì lạ, khi anh giữ thói quen nín thinh, và tôi-như một lẽ thường tình-cũng không cất lời gặng hỏi. Với tôi, thế là đủ. Đủ để tôi biết mình được phép đồng hành trong chuyến đi săn, được cống hiến thứ sức lực cỏn con của mình vào cuộc truy lùng, mà không vô tình quấy rầy hay làm đứt đoạn dòng suy luận đang tập trung cao độ của bộ óc vĩ đại kia bằng những câu hỏi thừa thãi. Mọi chân tướng sẽ dần phơi bày trước mắt tôi, vào thời điểm mà nó phải đến.

Thế là tôi đành ngoan ngoãn chờ đợi. Thế nhưng, chuỗi ngày đợi chờ mòn mỏi ấy lại hóa thành một niềm thất vọng cứ ngày một dâng cao, bủa vây lấy tôi. Tôi đã hoài công đợi chờ trong vô vọng. Hết ngày này sang tháng nọ, tiến độ điều tra của bạn tôi dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Có một buổi sáng, anh lững thững đi vào thị trấn. Mãi về sau, qua vài câu nói buột miệng, tôi mới biết được rằng anh đã tạt qua Bảo tàng Anh. Dẹp chuyến đi ấy sang một bên, anh chỉ ném thời gian của mình vào những cuộc dạo bộ ròng rã, và thông thường là đi thui thủi một mình. Hoặc không, anh sẽ kiếm một vài kẻ rảnh rỗi, khoái buôn chuyện vặt vãnh trong làng mà anh vừa làm quen được để tán gẫu.

"Tôi tin chắc rằng, Watson ạ, một tuần ở nông thôn sẽ mang đến cho anh những trải nghiệm vô giá," anh nhận xét. "Quả là một sự thư thái tuyệt diệu, khi ta lại một lần nữa được ngắm nhìn những chồi non xanh mướt đầu tiên nhú lên trên bờ giậu, cùng những chùm hoa đuôi sóc duyên dáng đong đưa trên cây phỉ. Chỉ với một chiếc xẻng nhổ cỏ nhỏ bé, một cái hộp thiếc cũ kỹ và một cuốn sổ tay thực vật học cơ bản, những tháng ngày tại đây sẽ trở thành những chuỗi ngày đắm chìm trong việc học hỏi vô cùng bổ ích, rất đáng để ta tiêu pha thời gian." Bản thân anh cũng thường vác những món đồ ấy dạo quanh đó đây, nhưng khi màn đêm buông xuống, cái mớ thực vật mà anh tha về lại ít ỏi đến tội nghiệp.

Thi thoảng, trong những chuyến thả bộ của mình, chúng tôi lại vô tình chạm mặt Thanh tra Baynes. Vừa trông thấy bạn tôi, trên khuôn mặt béo nọng, đỏ lựng của anh ta lập tức nở rộ những nụ cười rạng rỡ, trong khi đôi mắt ti hí lại sáng lên lấp lánh như một lời chào nồng nhiệt. Gã thanh tra này hiếm khi nhắc chuyện phá án, nhưng qua dăm ba câu nói lấp lửng, chúng tôi ngầm hiểu rằng anh ta không hề tỏ ra bất mãn với tiến triển của mọi việc tính đến thời điểm hiện tại. Vậy mà, tôi đành phải thú thật rằng, bản thân đã có chút sửng sốt khi-vào khoảng năm ngày sau kể từ vụ án mạng xảy ra-tôi mở tờ báo buổi sáng ra xem, và lập tức bị thu hút bởi dòng tít in đậm đầy vẻ giật gân:

BÍ ẨN OXSHOTT VỤ ÁN ĐÃ CÓ LỜI GIẢI TÓM GỌN KẺ BỊ TÌNH NGHI LÀ SÁT THỦ

Ngay khi tôi vừa dứt lời đọc dòng tít trên tờ báo, Holmes giật nảy mình, bật tung khỏi ghế như thể vừa bị ong đốt.

"Lạy Chúa lòng lành!" anh thảng thốt. "Anh không định nói là Baynes đã tóm gọn được hắn rồi đấy chứ?"

"Báo đăng sờ sờ ra đây này," tôi đáp lại, đồng thời lướt qua đoạn tường thuật chi tiết:

"Một làn sóng phấn khích tột độ đã bao trùm khắp vùng Esher và các khu vực lân cận khi thông tin về vụ bắt giữ liên quan đến án mạng ở Oxshott được công bố vào đêm muộn hôm qua. Hẳn công chúng vẫn chưa quên cái chết tức tưởi của ông Garcia-chủ nhân của Wisteria Lodge-được phát hiện trên đồi Oxshott Common. Thi thể nạn nhân mang nhiều dấu vết của sự bạo hành tàn bạo nhất. Ngay trong đêm định mệnh đó, tên người hầu và gã đầu bếp của ông ta đồng loạt bỏ trốn. Hành vi này dường như đã ngầm tố cáo sự nhúng tay của chúng vào vụ giết người. Nhiều giả thiết được đặt ra, dù chưa bao giờ được kiểm chứng, rằng vị quý tộc quá cố có thể cất giấu những món đồ quý giá trong nhà, và lòng tham vô đáy muốn chiếm đoạt số tài sản đó chính là động cơ dẫn tới vụ án mạng. Thanh tra Baynes, người phụ trách chính thức cho cuộc điều tra, đã dốc toàn lực để truy lùng sào huyệt của những kẻ đào tẩu. Anh ta có đầy đủ lý lẽ xác đáng để tin rằng bọn chúng chưa thể tẩu thoát đi xa, mà có lẽ đang lẩn trốn trong một sào huyệt bí mật nào đó đã được chuẩn bị từ trước. Tuy nhiên, ngay từ đầu, người ta đã nắm chắc một điều rằng sớm muộn gì chúng cũng phải sa lưới pháp luật. Nguyên nhân là do gã đầu bếp, theo mô tả của một hoặc hai tay lái buôn tình cờ bắt gặp hắn qua cửa sổ, mang một ngoại hình vô cùng nổi bật, không lẫn vào đâu được. Đó là một gã khổng lồ lai đen gớm ghiếc, mang những đường nét màu vàng đặc trưng của người da đen. Đáng chú ý, kể từ sau khi vụ án xảy ra, tung tích của gã đã bị phát hiện. Chính Cảnh sát Walters đã phát hiện và truy đuổi hắn ngay trong đêm tối hôm đó, khi gã cả gan mò lại Wisteria Lodge. Thanh tra Baynes nhận định rằng, một chuyến viếng thăm liều lĩnh như thế ắt hẳn phải mang một mục đích nào đó, và do vậy, rất có khả năng gã sẽ lại mò đến. Thế là anh ta quyết định rút quân khỏi ngôi nhà, nhưng lại ngầm bố trí một toán quân phục kích ngay trong bụi rậm. Y như rằng, gã đàn ông đã sa vào bẫy và bị tóm gọn vào đêm qua, sau một cuộc vật lộn dữ dội, trong đó Cảnh sát Downing đã bị tên man rợ này cắn xé một cách tồi tệ. Theo nguồn tin riêng của chúng tôi, khi phạm nhân được đưa ra hầu tòa, cảnh sát sẽ tiến hành đệ đơn xin tạm giam. Tất cả đều kỳ vọng sẽ có những bước đột phá ngoạn mục xuất phát từ vụ bắt giữ chấn động này."

"Thực sự, chúng ta phải gặp Baynes ngay lập tức," Holmes thốt lên, vội vã vớ lấy chiếc mũ của mình. "Chúng ta sẽ chặn đường ông ấy ngay trước khi ông ấy kịp khởi hành." Dứt lời, hai chúng tôi hối hả rảo bước xuống con đường làng. Y như những gì đã dự đoán, vị thanh tra vừa mới bước ra khỏi cửa nơi ở của mình.

"Ngài đã cập nhật tin tức trên báo chưa, ngài Holmes?" anh ta hỏi, chìa về phía chúng tôi một tờ báo.

"Có chứ, Thanh tra, tôi đã xem qua rồi. Mong ông đừng coi đó là sự tự phụ, nếu tôi có dành cho ông một lời cảnh báo chân thành."

"Ý ngài là lời cảnh báo về việc gì cơ, ngài Holmes?"

"Tôi đã nghiền ngẫm vụ án này một cách vô cùng cẩn trọng, và tôi hoàn toàn không bị thuyết phục rằng ông đang đi đúng hướng. Tôi không muốn ông tự đẩy mình vào những rắc rối không đáng có, trừ phi ông đã nắm chắc phần thắng trong tay."

"Ngài thật tử tế quá, ngài Holmes ạ."

"Tôi cam đoan với ông rằng, những điều tôi nói hoàn toàn xuất phát từ lợi ích của chính ông."

Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi ngờ ngợ như thể mình vừa bắt gặp một cái nháy mắt xảo quyệt lướt qua một trong hai con mắt ti hí của ông Baynes.

"Chúng ta đã từng thỏa thuận sẽ tự do hành động theo những phương pháp riêng biệt của mình, ngài Holmes ạ. Và đó cũng chính là những gì tôi đang thực hiện."

"Ồ, tốt thôi," Holmes buông lời. "Sau này đừng có trách tôi không nói trước."

"Không hề đâu, thưa ngài. Tôi luôn tin ngài có ý tốt với tôi. Nhưng mỗi người chúng ta đều có cho mình một hệ thống suy luận riêng biệt, ngài Holmes ạ. Ngài có đường lối của ngài, và hiển nhiên, tôi cũng có phong cách của tôi."

"Thôi được, chúng ta đừng lạm bàn thêm về vấn đề đó nữa."

"Mọi tin tức của tôi luôn sẵn sàng đón nhận những đóng góp từ phía ngài. Cái gã kia quả thực là một kẻ man rợ đến độ hoàn hảo, sở hữu sức mạnh của một con ngựa kéo và sự hung hãn tột độ của một con ác quỷ. Hắn suýt chút nữa đã nhai nát bấy ngón tay cái của Downing, trước khi nhóm cảnh sát kịp thời vật ngã và khống chế hắn. Hắn câm như hến, gần như chẳng hé răng nặn ra được một câu tiếng Anh nào cho đàng hoàng. Và tính đến lúc này, chúng tôi vẫn chưa moi móc được từ hắn bất cứ thứ gì, ngoại trừ những tiếng gầm gừ man rợ."

"Thế ông cho rằng mình đã nắm được bằng chứng tố cáo hắn là kẻ ra tay sát hại vị chủ nhân cũ sao?"

"Tôi không hề phát ngôn như vậy, ngài Holmes; tôi chưa từng khẳng định điều đó. Chúng ta đều sở hữu những thủ pháp điều tra mang đậm dấu ấn cá nhân. Ngài cứ thoải mái thử nghiệm cách của ngài, còn tôi sẽ theo đuổi cách của tôi. Đó là những gì chúng ta đã thỏa thuận, phải vậy không?"

Holmes khẽ nhún vai lúc chúng tôi sóng bước cùng nhau. "Tôi thật sự không tài nào hiểu nổi cái con người đó. Ông ta hành động y hệt như đang cưỡi một con ngựa lao thẳng tới vực thẳm. Chà, đúng như lời ông ta đã nói, mỗi người đều phải thử thách những lối đi riêng biệt, để rồi xem chuyện gì sẽ xảy ra. Tuy nhiên, có một điểm ở Thanh tra Baynes khiến tôi bứt rứt, mãi mà vẫn chẳng thể nào thấu tỏ trọn vẹn."

"Anh cứ ngồi xuống chiếc ghế đó đi, Watson," Sherlock Holmes lên tiếng khi chúng tôi vừa bước vào căn hộ của mình tại quán trọ Bull. "Tôi muốn anh nắm được tình hình, vì tối nay tôi rất cần sự giúp đỡ của anh. Để tôi tóm tắt lại diễn biến vụ án mà tôi đã theo dõi cho đến lúc này. Dù các tình tiết chính khá đơn giản, nhưng việc tiến hành bắt giữ lại vấp phải những trở ngại đáng kinh ngạc. Vẫn còn vài lỗ hổng mà chúng ta buộc phải lấp đầy."

"Hãy quay lại với bức thư Garcia nhận được vào đêm anh ta chết. Chúng ta hoàn toàn có thể gạt bỏ giả thuyết của thanh tra Baynes cho rằng những người hầu của Garcia nhúng tay vào chuyện này. Bằng chứng rõ ràng nhất nằm ở chỗ, chính anh ta đã sắp xếp để Scott Eccles có mặt tại đó, một nước đi chỉ nhằm mục đích tạo ra bằng chứng ngoại phạm. Như vậy, Garcia rõ ràng đang ấp ủ một mưu đồ-nhiều khả năng là một mưu đồ phạm pháp-ngay trong đêm hôm ấy, và chính vì thế mà anh ta mất mạng. Tôi dùng từ 'phạm pháp' bởi chỉ những kẻ sắp làm việc mờ ám mới cần đến bằng chứng ngoại phạm. Vậy ai là người có khả năng đã tước đoạt mạng sống của anh ta cao nhất? Chắc chắn phải là mục tiêu mà mưu đồ kia hướng tới. Đến đây, suy luận của chúng ta vẫn đang đi đúng hướng.

"Giờ thì chúng ta đã hiểu tại sao những người hầu của Garcia lại biến mất. Tất cả bọn họ đều là đồng phạm trong một âm mưu chưa được làm rõ. Nếu Garcia trở về trót lọt, mọi sự nghi ngờ sẽ bị dập tắt nhờ sự hiện diện của vị khách người Anh, và mọi chuyện sẽ êm xuôi. Thế nhưng, kế hoạch này chứa đựng quá nhiều rủi ro, và nếu Garcia không trở về đúng giờ hẹn, rất có thể anh ta đã bỏ mạng. Chính vì vậy, họ đã giao hẹn trước rằng, trong tình huống xấu nhất, hai tên thuộc hạ sẽ phải rút lui đến một địa điểm định sẵn để lẩn trốn sự truy xét, đồng thời chờ thời cơ tiếp tục thực hiện mưu đồ. Điều này hoàn toàn ăn khớp với các dữ kiện hiện có, phải không?"

Mọi nút thắt rối rắm dường như được tháo gỡ ngay trước mắt tôi. Như thường lệ, tôi lại tự hỏi tại sao mình không nhìn ra những điều hiển nhiên ấy sớm hơn.

"Nhưng tại sao lại có một tên người hầu quay trở lại?"

"Có thể đoán được rằng trong lúc tháo chạy vội vã, hắn đã bỏ quên một món đồ vô cùng quý giá mà bản thân không thể buông bỏ. Điều đó lý giải cho sự kiên trì bám trụ của hắn, đúng không?"

"Chà, vậy bước tiếp theo là gì?"

"Bước tiếp theo chính là bức thư Garcia nhận được trong bữa tối. Bức thư chỉ ra rằng có một đồng phạm ở đầu dây bên kia. Vậy, đầu dây bên kia nằm ở đâu? Tôi đã từng nói với anh, nơi đó chỉ có thể là một dinh thự lớn nào đó, và số lượng những dinh thự như vậy quanh đây vốn không nhiều. Trong những ngày đầu tiên ở ngôi làng này, tôi đã dành thời gian đi dạo khắp nơi. Giữa những lúc nghỉ ngơi sau việc nghiên cứu thực vật học, tôi tranh thủ thám thính toàn bộ các dinh thự lớn và tìm hiểu lịch sử của những gia đình sống trong đó. Một ngôi nhà, và chỉ duy nhất một ngôi nhà, đã thu hút sự chú ý của tôi. Đó là trang viên High Gable nổi tiếng với kiến trúc Jacobean5 cổ kính, cách Oxshott khoảng một dặm và cách hiện trường thảm kịch chưa đầy nửa dặm. Những ngôi biệt thự khác đều thuộc về những công dân bình thường, đáng kính và chẳng mảy may liên quan đến những chuyện li kỳ. Thế nhưng, ông Henderson ở High Gable lại được đồn đại là một kẻ lập dị, người hoàn toàn có thể vướng vào những cuộc phiêu lưu quái gở. Chính vì vậy, tôi đã dồn toàn bộ sự chú ý vào ông ta và gia đình ông ta.

"Một đám người kỳ quặc, Watson ạ-và bản thân người đàn ông đó là kẻ kỳ quặc nhất. Tôi đã viện một cái cớ hợp lý để tiếp cận ông ta, nhưng nhìn vào đôi mắt đen sâu thẳm đầy toan tính ấy, tôi cảm giác ông ta hoàn toàn thấu tỏ mục đích thực sự của tôi. Đó là một gã đàn ông chừng năm mươi tuổi, vóc dáng vạm vỡ, nhanh nhẹn, với mái tóc hoa râm, đôi lông mày đen rậm rạp, bước đi nhẹ bẫng như một con nai và phong thái uy quyền của một bậc đế vương-một kẻ hung tợn, hách dịch, mang trong mình ngọn lửa cuồng nộ ẩn sau khuôn mặt hốc hác, khô khốc như giấy da. Ông ta hẳn là người ngoại quốc, hoặc đã sống ở vùng nhiệt đới một thời gian dài, bởi nước da vàng vọt thiếu sức sống, nhưng cơ thể lại dẻo dai như một sợi dây roi. Tên thư ký kiêm bằng hữu của ông ta, Lucas, chắc chắn là người ngoại quốc. Hắn mang làn da màu nâu sô-cô-la, dáng vẻ mượt mà, xảo quyệt tựa loài mèo cùng giọng nói êm ái đầy nọc độc. Anh thấy đấy, Watson, chúng ta đã đụng độ hai nhóm người ngoại quốc-một ở Wisteria Lodge và một ở High Gable-vòng vây của chúng ta đang bắt đầu khép lại rồi.

"Hai người đàn ông này-những kẻ tâm giao và thân tín của nhau-chính là trung tâm của cả gia đình; nhưng vẫn còn một người nữa, xét theo mục tiêu trước mắt của chúng ta, thậm chí còn giữ vai trò quan trọng hơn. Henderson có hai cô con gái mười một và mười ba tuổi. Nữ gia sư của bọn trẻ là cô Burnet, một phụ nữ người Anh trạc tứ tuần. Ngoài ra còn có một gã hầu nam rất được tin tưởng. Nhóm người nhỏ này gắn kết như một gia đình thực thụ, luôn đồng hành cùng nhau trong mọi chuyến đi, bởi Henderson là một kẻ rất đam mê xê dịch, lúc nào cũng trong trạng thái di chuyển. Chỉ vài tuần trước, ông ta mới quay lại High Gable sau một năm trời vắng bóng. Tôi cũng phải nói thêm rằng ông ta cực kỳ giàu có; bất kể những ý tưởng điên rồ bộc phát nào của ông ta đều có thể được đáp ứng dễ dàng. Về phần còn lại, dinh thự của ông ta tràn ngập quản gia, hầu nam, hầu gái, cùng toàn bộ đội ngũ nhân viên nhàn hạ thường thấy ở những trang viên tráng lệ tại vùng nông thôn nước Anh.

"Tôi đã thu thập được rất nhiều manh mối, một phần từ những lời đồn thổi trong làng, phần còn lại từ những quan sát của chính mình. Chẳng có công cụ nào hữu hiệu bằng những người hầu bị sa thải mang đầy uất ức, và tôi đã may mắn tìm được một người như thế. Tôi gọi đó là may mắn, nhưng sự may mắn ấy sẽ chẳng bao giờ đến nếu tôi không cất công tìm kiếm. Như thanh tra Baynes đã nhận xét, ai trong chúng ta cũng có phương pháp riêng. Chính phương pháp của tôi đã giúp tôi tìm ra John Warner, người thợ làm vườn cũ của High Gable, kẻ đã bị ông chủ độc đoán sa thải trong một phút thịnh nộ. Về phần mình, ông ấy lại có những người bạn thân thiết trong đám gia nhân ở dinh thự, những người luôn gắn kết với nhau bởi nỗi khiếp sợ và sự căm ghét tột cùng dành cho chủ nhân của họ. Nhờ vậy, tôi đã nắm trong tay chiếc chìa khóa để mở toang mọi bí mật của cơ ngơi này.

"Một đám người lập dị, Watson ạ! Tôi không dám khẳng định là mình hiểu hết mọi chuyện, nhưng họ quả thực rất kỳ lạ. Ngôi nhà được chia làm hai dãy riêng biệt: một bên dành cho người hầu, bên còn lại là nơi gia đình sinh sống. Giữa hai thế giới ấy chẳng có mối liên hệ nào, ngoại trừ tên hầu riêng của Henderson, kẻ chuyên lo bữa ăn cho gia đình. Mọi thứ đều được chuyển đến qua một cánh cửa duy nhất, đóng vai trò như điểm giao thoa duy nhất giữa hai bên. Cô gia sư và bọn trẻ hiếm khi bước chân ra ngoài, họa chăng chỉ là quanh quẩn trong khu vườn. Henderson thì tuyệt nhiên không bao giờ đi dạo một mình. Tên thư ký da đen luôn bám theo ông ta như hình với bóng. Đám gia nhân đồn đại rằng chủ nhân của họ đang sống trong nỗi khiếp sợ tột cùng vì một điều gì đó. 'Bán linh hồn cho ác quỷ để đổi lấy tiền bạc,' Warner nói, 'và giờ đang chờ đợi chủ nợ đến đòi lại những gì thuộc về hắn.' Họ từ đâu tới, gốc gác ra sao, chẳng ai hay biết. Chỉ biết rằng họ vô cùng bạo lực. Đã hai lần Henderson dùng roi da quất người, và chỉ nhờ cái túi rủng rỉnh tiền cùng những khoản bồi thường kếch xù, ông ta mới thoát khỏi vòng lao lý.

"Vậy giờ, Watson, hãy cùng đánh giá lại cục diện dựa trên những thông tin mới này. Chúng ta có thể kết luận bức thư được gửi đi từ chính ngôi nhà bí ẩn kia, mang theo lời mời gọi Garcia thực hiện một kế hoạch đã được vạch sẵn. Ai là người viết bức thư? Đó phải là một người sống bên trong tòa thành trì ấy, và chắc chắn là một phụ nữ. Vậy còn ai khác ngoài cô Burnet, nữ gia sư? Mọi suy luận của chúng ta dường như đều hội tụ về hướng đó. Dù sao đi nữa, chúng ta cứ tạm coi đó là một giả thuyết để xem nó sẽ dẫn đến đâu. Tôi cũng phải nói thêm rằng, xét theo độ tuổi và tính cách của cô Burnet, cái ý nghĩ ban đầu của tôi về một mối tình lãng mạn len lỏi trong vụ án này hoàn toàn là điều bất khả thi.

"Nếu cô ấy là người viết thư, rất có thể cô ấy chính là bạn kiêm đồng phạm của Garcia. Vậy, chúng ta có thể mong đợi cô ấy sẽ làm gì khi nghe tin anh ta đã chết? Nếu anh ta mất mạng trong một phi vụ mờ ám nào đó, cô ấy hẳn sẽ phải giữ kín miệng. Tuy nhiên, tận sâu trong thâm tâm, cô ấy hẳn phải ôm lòng oán hận và cay đắng tột cùng đối với những kẻ đã sát hại anh ta, và có lẽ sẽ sẵn sàng làm mọi cách trong khả năng để trả thù. Vậy liệu chúng ta có thể tiếp cận cô ấy, và tìm cách biến cô ấy thành đồng minh không? Đó là suy nghĩ nảy ra đầu tiên trong đầu tôi. Nhưng đến đây, chúng ta lại vấp phải một sự thật phũ phàng. Không một ai nhìn thấy cô Burnet kể từ cái đêm xảy ra án mạng. Kể từ buổi tối hôm đó, cô ấy đã bốc hơi không dấu vết. Cô ấy liệu còn sống không? Hay cô ấy cũng đã chịu chung số phận với người bạn mà mình vừa triệu gọi trong chính cái đêm định mệnh ấy? Hay cô ấy chỉ đơn thuần đang bị giam cầm? Đó chính là câu hỏi mà chúng ta cần phải giải đáp.

"Anh hẳn sẽ nhận ra tình thế hiện tại khó khăn đến mức nào, Watson. Chúng ta chẳng có chút bằng chứng nào để xin lệnh bắt xét nhà. Toàn bộ kế hoạch của chúng ta sẽ nghe như một câu chuyện hoang đường nếu đem ra trình bày trước thẩm chuyên. Sự mất tích của người phụ nữ ấy cũng chẳng chứng minh được gì, bởi trong cái gia đình quái đản kia, bất kỳ ai cũng có thể 'tàng hình' suốt cả tuần lễ. Thế nhưng, tính mạng của cô ấy lúc này rất có thể đang bị đe dọa. Tất cả những gì tôi làm được là giám sát ngôi nhà và cắt cử người của mình-Warner-đứng gác ở cổng. Chúng ta không thể cứ để tình trạng này kéo dài mãi. Nếu luật pháp đã bó tay, thì chúng ta đành phải tự mình gánh vác rủi ro."

"Vậy anh định làm gì?"

"Tôi biết phòng của cô ấy nằm ở đâu. Có thể đột nhập vào đó từ nóc của một khu nhà phụ. Tôi đề nghị đêm nay cả anh và tôi cùng lẻn vào, xem liệu chúng ta có thể đâm thẳng vào trung tâm của những bí ẩn này hay không."

Thú thực, viễn cảnh đó chẳng có gì lấy làm hấp dẫn. Ngôi nhà cổ kính nhuốm màu u ám, những con người lập dị và đáng sợ, những hiểm nguy khôn lường đang chực chờ phía trước, cộng thêm việc chúng ta đang tự đưa mình vào thế phạm pháp-tất cả những điều đó đã làm nguội lạnh đi sự hăng hái trong tôi. Thế nhưng, chính sự sắc bén, lạnh lùng trong những lập luận của Holmes lại khiến tôi không thể chối từ bất kỳ chuyến phiêu lưu nào anh đề xướng. Bất kỳ ai cũng hiểu rằng, chỉ có cách đó, và duy nhất cách đó, mới mở ra lời giải cho vụ án. Tôi lặng lẽ siết chặt tay anh; quyết định đã được đưa ra.

Thế nhưng, cuộc điều tra của chúng tôi lại không rẽ theo hướng phiêu lưu như dự tính. Khoảng năm giờ chiều, khi bóng tối của một ngày tháng Ba bắt đầu buông xuống, một gã nông dân với khuôn mặt hớn hở lao xộc vào phòng chúng tôi.

"Họ đi rồi, ngài Holmes. Họ đã bắt chuyến tàu cuối cùng. Quý bà đó trốn thoát được, và tôi đang giữ bà ấy trong cỗ xe ngựa dưới nhà."

"Tuyệt lắm, Warner!" Holmes reo lên, bật dậy. "Watson, những lỗ hổng đang dần được lấp kín rồi."

Ngồi trong xe ngựa là một người phụ nữ trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê vì kiệt quệ tinh thần. Khuôn mặt gầy gò với chiếc mũi khoằm của cô in hằn dấu vết của một thảm kịch vừa mới trải qua. Đầu cô rũ rượi gục xuống ngực, nhưng khi cô ngước lên, hướng ánh nhìn vô hồn về phía chúng tôi, tôi nhận thấy đồng tử của cô chỉ còn là những chấm đen thu nhỏ giữa mống mắt xám mở rộng. Cô ấy đã bị hạ độc bằng thuốc phiện.

"Tôi đã canh gác ở cổng đúng như lời ngài dặn, ngài Holmes," người đưa tin của chúng tôi, gã thợ làm vườn bị sa thải, thuật lại. "Khi cỗ xe đi ngang qua, tôi đã bám theo đến tận nhà ga. Quý bà đây trông như một người mộng du, nhưng ngay khi bọn chúng cố tống cô ấy lên tàu, cô ấy bỗng bừng tỉnh và vùng vẫy dữ dội. Bọn chúng đẩy cô ấy vào toa. Cô ấy lại đánh bật ra ngoài. Thấy vậy, tôi liền xông tới giải vây, đưa cô ấy lên xe ngựa và chạy thẳng đến đây. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được khuôn mặt gã đàn ông ló ra từ cửa sổ toa tàu lúc tôi dắt cô ấy đi. Đời tôi chắc chắn sẽ tàn nếu rơi vào tay hắn-con quỷ mặt vàng, cau có với đôi mắt đen ngòm ấy."

Chúng tôi đưa cô ấy lên gác, đặt nằm nghỉ trên ghế sô-pha. Vài tách cà phê đặc quánh đã nhanh chóng xua tan màn sương thuốc phiện, giúp tâm trí cô dần tỉnh táo. Holmes đã cho gọi thanh tra Baynes tới và nhanh chóng tóm tắt tình hình cho ngài.

"Chà, thưa ngài, ngài đã mang đến cho tôi đúng thứ bằng chứng mà tôi đang tìm kiếm," vị thanh tra hồ hởi nói, bắt tay bạn tôi. "Tôi cũng đã bám theo manh mối này ngay từ đầu giống ngài."

"Cái gì! Ông cũng theo dõi Henderson sao?"

"Chà, thưa ngài Holmes, trong lúc ngài đang bò trườn giữa các lùm cây ở High Gable thì tôi lại đang nấp trên một cành cây trong khu đồn điền và nhìn thấy rõ ngài ở bên dưới. Vấn đề chỉ là ai sẽ tìm ra bằng chứng trước mà thôi."

"Vậy tại sao thanh tra lại bắt giữ gã người lai đó?"

Baynes bật cười khúc khích.

"Tôi chắc chắn rằng kẻ tự xưng là Henderson đã đánh hơi được sự nghi ngờ từ chúng ta. Hắn sẽ án binh bất động chừng nào còn cảm thấy nguy hiểm rình rập. Vì thế, tôi quyết định bắt nhầm người để giăng bẫy, khiến hắn tin rằng cảnh sát đã chuyển hướng điều tra. Tôi thừa biết một khi mất cảnh giác, hắn sẽ tìm cách tẩu thoát, từ đó tạo kẽ hở cho chúng ta tiếp cận cô Burnet."

Holmes đặt tay lên vai viên thanh tra.

"Ông chắc chắn sẽ tiến rất xa trong sự nghiệp. Ông có bản năng và trực giác sắc bén," anh khen ngợi.

Baynes đỏ mặt vì sung sướng.

"Tôi đã cài cắm một người mặc thường phục túc trực ở nhà ga suốt cả tuần nay. Dù đám người ở High Gable có đi đâu, anh ta cũng sẽ bám theo không rời. Nhưng chắc hẳn hắn đã gặp không ít rắc rối khi cô Burnet trốn thoát. May thay, người của ngài đã kịp thời cứu cô ấy, và mọi chuyện đã khép lại êm đẹp. Chắc chắn chúng ta không thể tiến hành bắt giữ nếu thiếu đi lời khai của cô ấy; vì vậy, càng lấy được lời khai sớm chừng nào càng tốt chừng ấy."

"Cô ấy đang hồi phục từng phút một," Holmes nói, khẽ liếc nhìn nữ gia sư. "Nhưng nói cho tôi biết đi, thanh tra Baynes, gã Henderson này rốt cuộc là ai?"

"Henderson," vị thanh tra đáp, "chính là Don Murillo, kẻ từng được mệnh danh là Con hổ xứ San Pedro."

Con hổ xứ San Pedro! Toàn bộ lai lịch của gã đàn ông này xẹt qua tâm trí tôi chỉ trong chớp mắt. Hắn đã gieo rắc tên tuổi mình bằng hình ảnh một tên bạo chúa dâm ô và khát máu tột cùng, kẻ từng thống trị một quốc gia dưới vỏ bọc văn minh hão huyền. Mạnh mẽ, gan lì và đầy nhiệt huyết-hắn sở hữu thừa những tố chất để áp đặt những tội ác tày trời lên một dân tộc đang phải co rúm trong sợ hãi suốt mười hay mười hai năm trời. Cái tên của hắn từng là nỗi khiếp đảm bao trùm cả khu vực Trung Mỹ. Cuối cùng, một cuộc nổi dậy bùng nổ hòng lật đổ hắn. Nhưng hắn không chỉ tàn nhẫn mà còn xảo quyệt khôn lường; ngay khi đánh hơi thấy những mầm mống phản loạn đầu tiên, hắn đã bí mật tuồn toàn bộ kho báu lên một chiếc tàu do những tay sai trung thành nhất cầm lái. Ngày hôm sau, quân nổi dậy xông vào thì chỉ còn thấy một cung điện trống hoác. Tên độc tài cùng hai đứa con, gã thư ký và toàn bộ khối tài sản kếch xù đã cao chạy xa bay. Kể từ đó, hắn bốc hơi khỏi thế giới, và danh tính của hắn trở thành chủ đề bàn tán không ngớt trên các mặt báo khắp Châu Âu.

"Vâng, thưa ngài, chính là Don Murillo, Con hổ xứ San Pedro," thanh tra Baynes nói tiếp. "Nếu tìm hiểu kỹ, ngài sẽ thấy cờ của San Pedro có màu xanh và trắng, y hệt như màu sắc được nhắc đến trong bức thư, ngài Holmes. Hắn đổi tên thành Henderson, nhưng tôi đã âm thầm bám theo dấu vết của hắn, trải dài từ Paris, Rome, Madrid cho tới tận Barcelona, nơi con tàu chở hắn cập bến vào năm ’86. Kẻ thù luôn săn lùng hắn để trả thù, nhưng mãi tới tận bây giờ, họ mới bắt đầu tìm ra tung tích của hắn."

"Họ đã tìm ra tung tích của hắn từ một năm trước," cô Burnet, người giờ đây đã ngồi hẳn dậy và đang chăm chú lắng nghe câu chuyện, lên tiếng. "Đã từng có lúc tính mạng hắn bị đe dọa, nhưng dường như có một thế lực ma quỷ nào đó đã dang tay che chở cho hắn. Giờ đây, một lần nữa, chàng Garcia cao thượng và hào hiệp lại phải ngã xuống, trong khi con quái vật kia vẫn nhởn nhơ vô sự. Nhưng chắc chắn sẽ có người khác bước lên tiếp nối, và rồi một người khác nữa, cho đến ngày công lý được thực thi; điều đó là hiển nhiên như thể mặt trời sẽ mọc vào sáng mai." Đôi bàn tay gầy guộc của cô siết chặt, khuôn mặt hốc hác càng thêm nhợt nhạt bởi ngọn lửa thù hận rực cháy.

"Nhưng làm thế nào mà cô lại bị kéo vào chuyện này, cô Burnet?" Holmes thắc mắc. "Tại sao một quý cô người Anh lại nhúng tay vào một vụ mưu sát thế này?"

"Tôi dấn thân vào con đường này bởi trên thế gian này chẳng còn cách nào khác để đòi lại công lý. Luật pháp nước Anh thì mảy may quan tâm gì đến những dòng sông máu đã nhuộm đỏ San Pedro bao năm về trước, hay những con tàu chở đầy kho báu mà gã đàn ông kia đã tước đoạt? Đối với các ngài, những tội ác ấy chẳng khác nào xảy ra ở một hành tinh xa xôi. Thế nhưng chúng tôi thì thấu rõ. Chúng tôi đã học được những bài học cay đắng ấy qua biết bao tủi nhục và đớn đau. Với chúng tôi, không một con quỷ dữ nào dưới địa ngục có thể sánh bằng Juan Murillo, và cuộc sống này sẽ chẳng bao giờ có được sự thanh thản chừng nào tiếng vọng oán than đòi trả thù của những nạn nhân vẫn còn vang vọng."

"Không còn nghi ngờ gì nữa," Holmes nói, "ông ta đích thị là kẻ như cô vừa miêu tả. Tôi cũng từng nghe danh về sự tàn bạo của hắn. Nhưng bản thân cô đã phải gánh chịu những tổn thất gì?"

"Tôi sẽ kể cho ngài nghe toàn bộ sự thật. Chính sách cai trị của tên ác đồ này là sẵn sàng sát hại bất cứ người đàn ông nào có chút tài năng hứa hẹn, kẻ có thể trở thành mối đe dọa với hắn, dưới muôn vàn vỏ bọc ngụy tạo. Chồng tôi-vâng, tên thật của tôi là Signora Victor Durando-từng là bộ trưởng của San Pedro tại London. Anh ấy đã gặp gỡ và kết hôn với tôi tại đó. Một người đàn ông cao thượng đến mức chưa từng có ai sánh bằng trên cõi đời này. Thật không may, Murillo đã nghe danh về sự xuất chúng của anh, viện một cớ nào đó để triệu hồi anh về nước, rồi thẳng tay tước đoạt mạng sống của anh. Như một điềm báo về cái kết bi thảm của mình, anh ấy đã kiên quyết từ chối cho tôi đi theo. Toàn bộ tài sản của anh bị tịch thu, để lại tôi bơ vơ với chút tiền trợ cấp ít ỏi và một trái tim vỡ nát.

"Rồi sự sụp đổ của tên bạo chúa cũng đến. Hắn đã tẩu thoát như ngài vừa kể. Thế nhưng, vô số những người từng bị hắn chà đạp, những gia đình có người thân yêu nhất phải gánh chịu những cực hình và cái chết thảm thương dưới tay hắn, quyết không để yên chuyện này. Họ đã cùng nhau lập nên một tổ chức thề sẽ không bao giờ tan rã cho đến khi hoàn thành mục tiêu. Phần việc của tôi, sau khi chúng tôi phát hiện tên bạo chúa khét tiếng đang ẩn mình dưới vỏ bọc mới mang tên Henderson, là tìm cách trà trộn vào gia đình hắn và liên tục cập nhật mọi hành tung của hắn cho tổ chức. Tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này bằng cách giành lấy vị trí gia sư trong gia đình. Hắn chẳng mảy may nghi ngờ rằng người phụ nữ ngồi đối diện hắn trong mỗi bữa ăn chính là người vợ của gã đàn ông mà hắn từng nhẫn tâm đẩy xuống mồ chỉ sau vỏn vẹn một giờ đồng hồ báo trước. Tôi vẫn nở nụ cười với hắn, tận tụy làm tròn bổn phận với những đứa con của hắn, và kiên nhẫn chờ đợi thời cơ. Một kế hoạch ám sát đã được vạch ra tại Paris nhưng không may thất bại. Kể từ đó, chúng tôi liên tục di chuyển ngoằn ngoèo từ nơi này sang nơi khác khắp châu Âu hòng cắt đuôi những kẻ truy lùng, để rồi cuối cùng quay trở lại chính ngôi nhà này-nơi hắn đã từng trú ngụ những ngày đầu tiên đặt chân đến Anh.

"Tuy nhiên, ngay tại đây, những sứ giả của công lý cũng đang chực chờ. Biết trước hắn sẽ quay về, Garcia-con trai của cựu quan chức quyền lực nhất San Pedro-đã nằm vùng cùng hai người bạn đồng hành trung thành xuất thân thấp kém. Cả ba đều cháy bỏng khát khao báo thù. Ban ngày, Garcia hầu như không thể xoay xở được gì, bởi Murillo luôn cảnh giác cao độ và tuyệt nhiên không bao giờ bước chân ra ngoài nếu thiếu đi tên tay sai đắc lực Lucas, hay còn gọi là Lopez thời hắn còn đương chức. Thế nhưng, khi màn đêm buông xuống, hắn ngủ một mình, và đó chính là lúc kẻ báo thù có thể tìm đến. Vào một buổi tối đã được định sẵn, tôi đã gửi cho những người bạn của mình những chỉ dẫn cuối cùng, bởi gã đàn ông này luôn mang tâm lý đề phòng và liên tục thay đổi phòng ngủ. Nhiệm vụ của tôi là đảm bảo mọi cánh cửa đều mở sẵn, đồng thời ra hiệu bằng ánh đèn xanh hoặc trắng qua khung cửa sổ đối diện lối đi để thông báo mọi chuyện đã an bài, hay kế hoạch tốt nhất nên tạm hoãn.

"Nhưng mọi chuyện đã đi chệch hướng hoàn toàn. Chẳng biết bằng cách nào, tôi đã khơi dậy sự nghi ngờ của tên thư ký Lopez. Hắn rón rén lén ra sau lưng và vồ lấy tôi ngay khi tôi vừa viết xong những dòng cuối cùng của bức thư. Hắn cùng chủ nhân của hắn kéo lê tôi về phòng, hạch sách tôi như một kẻ phản bội đang chờ tuyên án. Ngay lúc ấy, có lẽ họ đã cắm phập nhát dao vào người tôi nếu tìm được đường lui an toàn để trốn tránh hậu quả. Nhưng cuối cùng, sau một hồi lâu bàn tính, bọn chúng nhận ra việc giết tôi là quá sức rủi ro. Thay vào đó, chúng quyết định trừ khử Garcia mãi mãi. Bọn chúng bịt miệng tôi lại, rồi Murillo bẻ quặt tay tôi cho đến khi tôi buộc phải khai ra địa chỉ. Tôi thề, nếu tôi hiểu được hậu quả khủng khiếp mà điều đó mang lại cho Garcia, hắn có thể đã vặn gãy nát cánh tay tôi. Lopez tự tay ghi địa chỉ lên bức thư tôi viết, dùng chiếc khuy măng sét của mình để niêm phong, và giao cho tên người hầu José mang đi. Bọn chúng đã đoạt mạng Garcia ra sao thì tôi không rõ, chỉ biết chính Murillo là kẻ ra tay, bởi Lopez lúc đó vẫn đang ở lại canh chừng tôi. Tôi đoán hắn đã nấp sẵn trong lùm kim tước cạnh con đường mòn uốn lượn và bất ngờ đánh gục anh ấy khi anh ấy đi ngang qua. Ban đầu, bọn chúng định dụ anh ấy vào nhà rồi giết chết như một tên trộm bị tóm quả tang; nhưng chúng tính toán rằng nếu bị dính líu vào một cuộc điều tra, danh tính thực sự của chúng sẽ ngay lập tức bị phơi bày trước công chúng, và khi ấy, chúng sẽ càng dễ dàng trở thành bia ngắm. Bằng việc thủ tiêu Garcia, bọn chúng hy vọng cuộc truy sát sẽ chấm dứt, bởi một cái chết thê thảm như vậy rất có thể sẽ làm chùn bước những người khác.

"Giờ đây, mọi việc đáng lẽ đã trót lọt với bọn chúng nếu không có sự hiện diện của tôi, người nắm giữ toàn bộ tội ác. Tôi tin chắc rằng đã có lúc mạng sống của mình ngàn cân treo sợi tóc. Tôi bị giam lỏng trong phòng, bị khủng bố tinh thần bằng những lời đe dọa man rợ nhất, bị tra tấn tàn bạo hòng đập nát ý chí phản kháng-các ngài hãy nhìn vết đâm trên vai tôi và những vết bầm tím loang lổ khắp cánh tay này mà xem-chưa kể lần tôi cố gắng kêu cứu từ cửa sổ đã bị chúng nhét giẻ vào miệng. Chuỗi ngày giam cầm tàn nhẫn ấy kéo dài suốt năm ngày trời, với khẩu phần ăn ít ỏi chỉ vừa đủ để duy trì hơi thở thoi thóp. Chiều nay, chúng mang đến cho tôi một bữa trưa thịnh soạn, nhưng ngay sau khi ăn xong, tôi biết mình đã bị hạ độc. Trong cơn mơ màng, tôi lờ mờ nhớ mình bị nửa dìu, nửa vác ra xe ngựa; rồi trong cùng trạng thái ấy, tôi bị lôi lên tàu. Chỉ đến khoảnh khắc bánh xe lửa bắt đầu chuyển động, tôi mới sực tỉnh và nhận ra tự do đang nằm ngay trong tay mình. Tôi liền lao thẳng ra ngoài, bất chấp nỗ lực lôi kéo của bọn chúng, và nếu không có sự ra tay nghĩa hiệp của người đàn ông tốt bụng đã đưa tôi lên cỗ xe ngựa này, có lẽ tôi sẽ vĩnh viễn không thể trốn thoát. Giờ đây, tạ ơn Chúa, tôi đã vĩnh viễn thoát khỏi nanh vuốt của bọn chúng."

Tất cả chúng tôi đều chăm chú lắng nghe lời khai phi thường ấy. Chính Holmes là người đầu tiên lên tiếng phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng.

"Khó khăn của chúng ta vẫn chưa khép lại," anh nhận xét, lắc đầu ngán ngẩm. "Nhiệm vụ của cảnh sát thì đã hoàn tất, nhưng cuộc chiến pháp lý mới chỉ thực sự bắt đầu."

"Đúng vậy," tôi nói. "Một luật sư giỏi hoàn toàn có thể biến đây thành một hành động tự vệ. Bọn chúng có thể mang trên lưng hàng trăm tội ác trong quá khứ, nhưng giờ đây, chúng chỉ có thể bị xét xử với duy nhất tội danh này."

"Thôi nào, thôi nào," thanh tra Baynes vui vẻ đáp, "tôi lại có cái nhìn lạc quan hơn về hệ thống pháp luật nước nhà. Tự vệ là một chuyện. Nhưng máu lạnh dụ dỗ người khác nhằm tước đoạt mạng sống của anh ta lại là chuyện hoàn toàn khác, bất kể ngài có sợ hãi điều gì từ nạn nhân đi chăng nữa. Không, không, sự thật sẽ làm sáng tỏ tất cả khi chúng ta đối mặt với những vị khách của High Gable tại Tòa án Trọng án Guildford sắp tới."

Tuy nhiên, như lịch sử đã minh chứng, một khoảng thời gian ngắn đã trôi qua trước khi Con hổ xứ San Pedro nhận lấy sự trừng phạt thích đáng. Nhờ bản tính xảo quyệt và liều lĩnh, hắn cùng tên đồng bọn đã cắt đuôi những kẻ bám đuôi bằng cách tạt vào một nhà trọ trên phố Edmonton, rồi lẩn trốn qua cổng sau hướng ra Quảng trường Curzon. Kể từ ngày hôm đó, bóng dáng chúng hoàn toàn mất hút khỏi nước Anh. Khoảng sáu tháng sau, Hầu tước Montalva cùng thư ký của ông, Signor Rulli, đều bị ám sát ngay tại phòng riêng ở Khách sạn Escurial thuộc Madrid. Tội ác này được cho là do phe Hư vô6 thực hiện, và những kẻ sát nhân không bao giờ sa lưới pháp luật. Thanh tra Baynes đã ghé qua Phố Baker thăm chúng tôi, mang theo bản in mô tả khuôn mặt ngăm đen của gã thư ký, cùng với những nét hống hách, đôi mắt đen xoáy sâu và đôi lông mày rậm rạp của chủ nhân hắn. Chúng tôi hoàn toàn không nghi ngờ gì nữa-công lý, dù đến muộn, nhưng cuối cùng cũng đã được thực thi.

"Quả là một vụ án rối ren, Watson thân mến của tôi," Holmes thong thả nhả khói bên chiếc tẩu thuốc buổi tối. "Sẽ thật khó để anh có thể trình bày nó dưới hình thức gãy gọn mà anh vẫn luôn yêu thích. Nó trải dài qua hai lục địa, kéo theo sự liên đới của hai nhóm người đầy bí ẩn, và còn trở nên rắc rối hơn với sự hiện diện vô cùng đáng kính của người bạn Scott Eccles của chúng ta. Sự góp mặt của ông ấy cho thấy Garcia quá cố sở hữu một bộ óc tính toán nhạy bén cùng bản năng tự vệ cực kỳ nhạy bén. Điểm đáng chú ý duy nhất là giữa một ma trận những khả năng có vẻ hoàn hảo, chúng ta-với sự trợ giúp đắc lực của viên thanh tra-đã bám sát được những manh mối cốt lõi, từ đó mở đường xuyên qua những khúc quanh uốn lượn. Còn điểm nào khiến anh chưa thấy thực sự rõ ràng không?"

"Mục đích việc quay lại của gã đầu bếp người lai thì sao?"

"Tôi cho rằng sinh vật kỳ quái trong nhà bếp chính là lời giải thích. Tên này vốn là một gã man rợ nguyên thủy đến từ những vùng rừng núi hẻo lánh của San Pedro, và sinh vật đó chính là vật tế thần của hắn. Khi hắn và gã đồng bọn trốn đến nơi ẩn náu đã được thu xếp trước-nơi chắc chắn đã có đồng phạm túc trực-tên kia đã thuyết phục hắn bỏ lại thứ đồ đạc dễ sinh chuyện đó. Nhưng trái tim của gã người lai lại luôn hướng về vật thể ấy, thôi thúc hắn quay lại tìm kiếm vào ngày hôm sau. Tuy nhiên, khi lén nhìn qua cửa sổ, hắn phát hiện ra cảnh sát Walters đang canh giữ nơi đó. Hắn cố đợi thêm ba ngày nữa, rồi chính sự cuồng tín hay mê tín mụ mẫm đã thúc đẩy hắn liều lĩnh thêm một lần. Thanh tra Baynes, với sự tinh ý vốn có, dù từng cố ý hạ thấp tầm quan trọng của sự việc trước mặt tôi, nhưng thực chất đã nắm rõ sự tình và giăng sẵn một cái bẫy để tóm gọn sinh vật đó. Còn điểm nào khác không, Watson?"

"Thế còn con chim bị xé xác, xô máu, và những mảnh xương cháy đen-tất cả những thứ kỳ quái hiện diện trong căn bếp đó thì sao?"

Holmes mỉm cười, lật mở một trang trong cuốn sổ tay của mình.

"Tôi đã dành cả buổi sáng ở Bảo tàng Anh để tra cứu về điểm đó cùng một vài chi tiết khác. Đây là một đoạn trích từ cuốn Tôn giáo Voodoo7 và Tôn giáo của người da đen của Eckermann:

"‘Những tín đồ Voodoo thực thụ không bao giờ bắt tay vào những việc trọng đại mà thiếu đi các vật hiến tế để xoa dịu những vị thần tà ác của họ. Trong những trường hợp cực đoan nhất, các nghi thức này có thể là hiến tế con người đi kèm với tục ăn thịt đồng loại. Thông thường, nạn nhân phổ biến hơn sẽ là một con gà trống trắng, bị nhổ lông khi còn sống, hoặc một con dê đen bị cắt cổ và thiêu xác.’

"Đấy anh thấy không, người bạn man rợ của chúng ta đã thực hiện nghi lễ của mình rất đúng bài bản. Thật kỳ cục phải không, Watson," Holmes nói thêm, tay chậm rãi gập cuốn sổ lại, "nhưng, như tôi đã từng nói, ranh giới giữa sự kỳ cục và điều kinh hoàng vốn chỉ cách nhau một bước chân."



  1. Scotland Yard là trụ sở của Cảnh sát Đô thành Luân Đôn. Trong các tiểu thuyết trinh thám cổ điển, tên gọi này thường được dùng để chỉ lực lượng cảnh sát hình sự điều tra của thủ đô nước Anh. 

  2. Vào thế kỷ 19, trước khi phong bì có keo dán trở nên phổ biến, người ta thường nhỏ sáp nung chảy lên nếp gấp của lá thư rồi dùng con dấu hoặc nhẫn đóng lên để niêm phong, nhằm đảm bảo thư không bị bóc trộm. 

  3. Thẩm phán hòa giải (Justice of the Peace) là một quan chức địa phương tại Anh, thường do các công dân có uy tín trong vùng đảm nhiệm để xét xử các vi phạm nhỏ và duy trì trật tự, không bắt buộc phải là luật sư chuyên nghiệp. 

  4. San Pedro là một quốc gia giả tưởng ở khu vực Trung Mỹ do tác giả Arthur Conan Doyle sáng tạo ra, phản ánh tình trạng bất ổn chính trị và sự tồn tại của các chế độ độc tài bạo chúa tại khu vực này trong thế kỷ 19. 

  5. Phong cách kiến trúc Jacobean phát triển ở Anh vào đầu thế kỷ 17 thời Vua James I. Đặc trưng của nó là những dinh thự bằng gạch hoặc đá đồ sộ, có nhiều cửa sổ lớn, ống khói trang trí hoa văn và các chi tiết chạm khắc cầu kỳ. 

  6. Phe Hư vô (Nihilist) ám chỉ một phong trào triết học và chính trị ở châu Âu (đặc biệt tại Nga) thế kỷ 19. Nhiều nhóm cực đoan trong phong trào này đã dùng các biện pháp bạo lực, ám sát để lật đổ chính quyền cai trị. 

  7. Voodoo (Vodou) là tín ngưỡng có nguồn gốc từ Tây Phi và phát triển mạnh ở vùng Caribe. Tôn giáo này thường gắn liền với sự thần bí, các nghi lễ hiến tế động vật và niềm tin vào các thế lực siêu nhiên.