Vụ án Tổ chức Vòng tròn đỏ

Phần II

Khi chúng tôi sải bước dọc phố Howe, tôi ngoái đầu nhìn lại tòa nhà vừa rời đi. Nơi khung cửa sổ trên cùng, lờ mờ hiện lên bóng một người phụ nữ - nàng dán mắt ra màn đêm, căng thẳng và cứng đờ, nín thở hồi hộp chờ đợi sự tiếp nối của thông điệp đã bị ngắt quãng kia. Ở lối vào khu chung cư phố Howe, một người đàn ông quàng khăn choàng, khoác áo măng-tô dày, đang đứng tựa vào lan can. Ông ta giật mình khi ánh đèn hành lang rọi vào mặt chúng tôi.

"Holmes!" ông ta kêu lên.

"Ồ, Gregson!" bạn đồng hành của tôi lên tiếng, bắt tay vị thanh tra Scotland Yard. "Đường xa mà gặp lại người quen cũ. Điều gì đưa anh đến đây vậy?"

"Tôi e là cũng chính là điều đã đưa anh đến đây," Gregson đáp. "Làm sao anh lần ra được vụ này thì tôi không sao hình dung nổi."

"Những manh mối khác nhau, nhưng rốt cuộc đều dẫn về cùng một mối. Tôi đã theo dõi các tín hiệu."

"Tín hiệu ư?"

"Phải, từ cửa sổ kia. Chúng bị ngắt giữa chừng. Chúng tôi đến đây để tìm hiểu nguyên nhân. Nhưng vì vụ này đã nằm trong tay anh, tôi thấy chẳng còn lý do gì để can dự thêm nữa."

"Khoan đã!" Gregson sốt sắng kêu lên. "Tôi phải thú thật với anh điều này, ngài Holmes - chưa có vụ án nào mà tôi lại không thấy vững dạ hơn khi có anh sát cánh bên mình. Khu chung cư này chỉ có một lối ra duy nhất, thế là chúng ta tóm được hắn rồi."

"Hắn là ai?"

"Chà, chà, lần này chúng tôi đã vượt mặt anh rồi đấy, ngài Holmes. Anh phải nhường chúng tôi phen này thôi." Anh ta gõ mạnh cây gậy xuống đất, và ngay lập tức, một người đánh xe tay cầm roi ngựa thong thả bước tới từ chiếc xe bốn bánh đang đỗ ở phía bên kia đường. "Cho phép tôi giới thiệu anh với ngài Sherlock Holmes," anh ta nói với người đánh xe. "Đây là ông Leverton, thuộc Cơ quan Pinkerton1 của Mỹ."

"Người hùng của vụ án hang động Long Island đây sao?" Holmes nói. "Thưa ông, tôi rất hân hạnh được diện kiến ông."

Người Mỹ - một thanh niên trầm tĩnh với phong thái chuyên nghiệp và khuôn mặt nhẵn nhụi tựa lưỡi rìu - đỏ bừng mặt trước những lời khen tặng ấy. "Hiện tôi đang lần theo cuộc săn đuổi lớn nhất đời mình, thưa ngài Holmes," anh ta nói. "Nếu tôi có thể tóm được Gorgiano-"

"Cái gì! Gorgiano của Hội Vòng Tròn Đỏ ư?"

"Ồ, danh tiếng của hắn đã lan khắp châu Âu rồi sao? Đúng vậy, bên Mỹ chúng tôi đã rõ hết về hắn. Chúng tôi biết hắn là chủ mưu của năm mươi vụ giết người, thế nhưng chúng tôi lại không có nổi một bằng chứng xác đáng nào để bắt hắn. Tôi đã lần theo dấu hắn từ New York sang tận đây, và suốt một tuần qua ở London tôi đã bám sát hắn, chờ một cái cớ để có thể túm lấy cổ áo hắn. Ngài Gregson và tôi đã dồn hắn vào khu nhà tập thể lớn kia, và vì nơi đó chỉ có một cửa ra, hắn khó lòng thoát được. Đã có ba người đi ra kể từ khi hắn vào trong, nhưng tôi xin thề rằng hắn không nằm trong số đó."

"Ngài Holmes có nhắc đến chuyện tín hiệu," Gregson nói. "Tôi cho rằng, như thường lệ, anh ấy biết nhiều điều mà chúng ta chưa biết."

Bằng vài lời ngắn gọn, Holmes giải thích tình hình đúng như những gì chúng tôi đã chứng kiến. Người Mỹ đập hai tay vào nhau, đầy bực tức.

"Hắn phát hiện ra chúng ta rồi!" anh ta kêu lên.

"Sao anh nghĩ vậy?"

"Chà, suy luận thì chẳng phải thế hay sao, thưa ngài? Hắn ở đây, gửi thông điệp cho một đồng bọn - băng đảng của hắn có vài tên đang ở London. Rồi đột ngột, đúng như lời ngài kể, ngay khoảnh khắc hắn đang báo động cho chúng về mối nguy hiểm, thì hắn dừng lại. Còn lý do nào khác ngoài việc từ cửa sổ hắn đã bất ngờ nhìn thấy chúng ta ngoài phố, hoặc bằng cách nào đó nhận ra mối nguy đã đến gần đến mức nào, buộc hắn phải lập tức hành động để thoát thân? Ngài có đề xuất gì không, thưa ngài Holmes?"

"Tôi đề nghị chúng ta lên đó ngay và tự mình xem xét."

"Nhưng chúng ta không có lệnh bắt hắn."

"Hắn đang ở trong một căn hộ bỏ trống với những tình tiết vô cùng đáng ngờ," Gregson nói. "Tạm thời như thế là đủ. Khi ta đã túm được cổ hắn rồi, ta có thể xem liệu phía New York có giúp chúng ta giam giữ hắn được hay không. Tôi sẽ chịu trách nhiệm bắt hắn ngay bây giờ."

Các thám tử chính quy của chúng ta có thể vụng về về mặt trí tuệ, nhưng không bao giờ kém cỏi về lòng can đảm. Gregson bước lên cầu thang để bắt kẻ sát nhân liều lĩnh ấy với phong thái hoàn toàn điềm tĩnh và chuyên nghiệp, chẳng khác gì khi anh ta bước lên cầu thang trụ sở Scotland Yard. Tay thám tử Pinkerton đã cố chen qua mặt anh ta, nhưng Gregson kiên quyết thúc cùi chỏ đẩy anh ta lùi lại. Những mối nguy hiểm trên đất London là đặc quyền của lực lượng London.

Cánh cửa căn hộ bên trái ở tầng nghỉ thứ ba đang hé mở. Gregson đẩy bật nó ra. Bên trong hoàn toàn yên ắng và tối om. Tôi đánh một que diêm và thắp chiếc đèn lồng của viên thám tử. Khi ánh sáng lay động dần ổn định thành một ngọn lửa đều, tất cả chúng tôi cùng thốt lên một tiếng kinh ngạc. Trên những tấm ván gỗ của sàn nhà không trải thảm, một vệt máu còn tươi roi rói hiện ra rành rành. Những bước chân đỏ chỉ về phía chúng tôi, dẫn ra từ một căn phòng trong - cánh cửa đang đóng kín. Gregson bật tung cửa và giơ cao ngọn đèn chiếu thẳng về phía trước, trong khi tất cả chúng tôi háo hức nhìn qua vai anh ta.

Giữa sàn căn phòng trống trơn là thân hình co quắp của một người đàn ông to lớn. Khuôn mặt cạo nhẵn, ngăm đen của hắn méo mó một cách kỳ dị và khủng khiếp. Đầu hắn nằm gọn trong một vầng hào quang đỏ rùng rợn của máu, loang thành một vũng tròn ướt đẫm trên nền gỗ trắng. Hai đầu gối co lên, hai tay dang ra trong cơn đau đớn tột cùng. Và từ giữa cổ họng rộng, nâu sẫm, ngửa lên trời của hắn, cán dao cắm sâu vào tận lưỡi. Dù to lớn như vậy, người đàn ông này hẳn đã ngã xuống như một con bò bị đánh bằng rìu trước cú đâm khủng khiếp ấy. Bên cạnh bàn tay phải của hắn, một con dao găm hai lưỡi cán sừng trông rất đáng sợ nằm trên sàn, và gần đó là một chiếc găng tay da đen.

“Úi giời! Chính là Gorgiano Đen đây mà!” viên thám tử Mỹ kêu lên. “Lần này có kẻ đã ra tay trước chúng ta rồi.”

“Cây nến ở cửa sổ đây này, ngài Holmes,” Gregson nói. “Kìa, anh đang làm gì vậy?”

Holmes đã bước tới bên cửa sổ, thắp cây nến lên, và đang đưa nó qua lại trên các ô kính. Rồi anh nhìn xoáy vào bóng tối bên ngoài, thổi tắt nến và ném nó xuống sàn.

“Tôi nghĩ việc đó sẽ có ích,” anh nói. Anh bước tới và đứng trầm ngâm trong lúc hai nhà chuyên nghiệp kiểm tra cái xác. “Anh nói rằng có ba người đã đi ra khỏi tòa nhà khi anh chờ ở dưới,” cuối cùng anh lên tiếng. “Anh có quan sát họ kỹ không?”

“Có, tôi có.”

“Trong số đó có một gã khoảng ba mươi, râu đen, da ngăm, vóc người trung bình, phải không?”

“Đúng vậy; hắn là người cuối cùng đi qua tôi.”

“Tôi đoán đó chính là người của anh. Tôi có thể cung cấp cho anh mô tả về hắn, và chúng ta đang có một bản phác thảo dấu chân rất chính xác của hắn. Từng đó là đủ cho anh rồi.”

“Không nhiều nhặn gì, thưa ngài Holmes, giữa hàng triệu người ở London.”

“Có lẽ không. Đó là lý do tôi nghĩ tốt nhất nên triệu tập quý bà này đến trợ giúp anh.”

Tất cả chúng tôi đồng loạt quay ngoắt lại khi nghe những lời ấy. Ở đó, hiện ra nơi khung cửa, là một người phụ nữ cao ráo và xinh đẹp - vị khách trọ bí ẩn của Bloomsbury. Cô chậm rãi bước tới, gương mặt tái nhợt, hốc hác vì nỗi kinh hoàng tột độ, đôi mắt trân trân đờ đẫn, ánh nhìn khiếp đảm dán chặt vào thân hình tối sẫm đang nằm dưới sàn.

“Các người đã giết anh ấy rồi!” cô lẩm bẩm. “Ôi, Dio mio2, các người đã giết anh ấy rồi!” Rồi tôi nghe thấy một tiếng hít vào đột ngột, gấp gáp, và cô bật nhảy lên cùng một tiếng reo vui sướng. Cô nhảy múa vòng quanh căn phòng, hai tay vỗ vào nhau, đôi mắt đen lấp lánh niềm hân hoan khó tả, và hàng ngàn câu xuýt xoa bằng thứ tiếng Ý du dương tuôn ra từ bờ môi cô. Thật rùng rợn mà cũng thật kỳ lạ khi chứng kiến một người phụ nữ như vậy lại run lên trong niềm vui sướng trước một cảnh tượng như thế. Đột nhiên cô dừng lại và nhìn tất cả chúng tôi với ánh mắt dò hỏi.

“Nhưng các ông! Các ông là cảnh sát, có phải không? Các ông đã giết Giuseppe Gorgiano. Có đúng vậy không?”

“Chúng tôi là cảnh sát, thưa bà.”

Cô đảo mắt nhìn quanh những bóng tối trong phòng.

“Nhưng vậy Gennaro đâu rồi?” cô hỏi. “Anh ấy là chồng tôi, Gennaro Lucca. Tôi là Emilia Lucca, và chúng tôi đều đến từ New York. Gennaro đâu? Anh ấy vừa gọi tôi từ cửa sổ này, và tôi đã chạy hết tốc lực đến đây.”

“Người gọi là tôi,” Holmes nói.

“Ngài ư! Sao ngài có thể gọi được?”

“Mật mã của phu nhân không khó, thưa phu nhân. Sự hiện diện của phu nhân ở đây là điều cần thiết. Tôi biết rằng mình chỉ cần nháy đèn ‘Vieni3’ và phu nhân chắc chắn sẽ đến.”

Người phụ nữ Ý xinh đẹp nhìn bạn đồng hành của tôi với vẻ kính sợ.

“Tôi không hiểu làm sao ngài biết được những điều này,” cô nói. “Giuseppe Gorgiano - làm sao hắn lại -” Cô ngập ngừng, rồi đột nhiên khuôn mặt cô bừng sáng niềm tự hào và vui sướng. “Giờ tôi hiểu rồi! Gennaro của tôi! Người chồng tuyệt vời, đẹp đẽ của tôi, người đã che chở tôi an toàn khỏi mọi hiểm nguy, anh ấy đã làm điều đó, bằng chính đôi tay mạnh mẽ của mình, anh ấy đã giết con quái vật! Ôi, Gennaro, anh thật tuyệt vời! Người phụ nữ nào mới xứng đáng với một người đàn ông như anh?”

“Này, bà Lucca,” Gregson thực dụng lên tiếng, đặt tay lên tay áo người phụ nữ với thái độ dửng dưng y như thể cô ta chỉ là một tên du côn ở Notting Hill, “tôi vẫn chưa rõ cô là ai hay cô làm gì; nhưng cô đã nói đủ để thấy rõ rằng chúng tôi cần cô đến Scotland Yard.”

“Khoan đã một chút, Gregson,” Holmes nói. “Tôi nghĩ rằng quý bà này cũng mong muốn cung cấp thông tin cho chúng ta chẳng kém gì chúng ta muốn có được nó. Thưa phu nhân, phu nhân hiểu rằng chồng mình sẽ bị bắt và xét xử vì cái chết của người đàn ông đang nằm trước mặt chúng ta chứ? Những gì phu nhân nói có thể được dùng làm bằng chứng. Nhưng nếu phu nhân nghĩ rằng anh ấy đã hành động vì những động cơ không phải tội phạm, và anh ấy mong muốn điều đó được biết đến, thì phu nhân không thể giúp anh ấy tốt hơn bằng cách kể cho chúng tôi toàn bộ câu chuyện.”

“Giờ Gorgiano đã chết thì chúng tôi chẳng còn gì phải sợ,” người phụ nữ nói. “Hắn là một con quỷ và một con quái vật, và không có vị thẩm phán nào trên đời này lại trừng phạt chồng tôi vì đã giết hắn.”

“Trong trường hợp đó,” Holmes nói, “tôi đề nghị chúng ta khóa cửa này lại, để nguyên mọi thứ như lúc phát hiện, cùng quý bà này về phòng của cô ấy, và đưa ra ý kiến sau khi đã nghe những gì cô ấy phải nói.”

Nửa giờ sau, cả bốn chúng tôi đã ngồi trong phòng khách nhỏ của Bà Lucca, lắng nghe câu chuyện lạ lùng của cô về những sự kiện đen tối mà chúng tôi đã tình cờ chứng kiến cái kết của nó. Cô nói bằng thứ tiếng Anh nhanh thoăn thoắt, trôi chảy, nhưng ngữ pháp thì vô cùng bất quy tắc, mà tôi sẽ chỉnh sửa lại cho đúng để rõ ràng hơn.

“Tôi sinh ra ở Posilippo, gần Naples,” cô nói, “và là con gái của Augusto Barelli, luật sư trưởng và từng là nghị sĩ của vùng đó. Gennaro làm việc cho cha tôi, và tôi đã yêu anh ấy, như bất kỳ người phụ nữ nào cũng sẽ yêu anh ấy. Anh ấy chẳng có tiền bạc hay địa vị - chẳng có gì ngoài vẻ đẹp trai, sức mạnh và nghị lực của mình - nên cha tôi đã cấm cuộc hôn nhân này. Chúng tôi đã cùng nhau bỏ trốn, kết hôn ở Bari, và bán nữ trang của tôi để lấy tiền đưa chúng tôi sang Mỹ. Chuyện này cách đây bốn năm, và từ đó chúng tôi sống ở New York.

“Ban đầu vận may rất mỉm cười với chúng tôi. Gennaro đã giúp đỡ một quý ông người Ý - anh ấy cứu ông ta khỏi một bọn côn đồ ở khu gọi là Bowery, và nhờ vậy có được một người bạn quyền thế. Tên ông ta là Tito Castalotte, và ông là đối tác cấp cao của hãng lớn Castalotte và Zamba, những nhà nhập khẩu trái cây hàng đầu của New York. Ông Zamba là người tàn tật, và người bạn mới Castalotte của chúng tôi nắm toàn bộ quyền lực trong hãng, nơi thuê hơn ba trăm nhân công. Ông đã nhận chồng tôi vào làm, phong anh ấy làm trưởng một bộ phận, và thể hiện thiện chí với anh ấy bằng mọi cách. Ông Castalotte là người độc thân, và tôi tin rằng ông coi Gennaro như con trai mình, còn cả chồng tôi và tôi đều yêu quý ông như cha ruột. Chúng tôi đã mua và trang hoàng một căn nhà nhỏ ở Brooklyn, và toàn bộ tương lai của chúng tôi dường như đã được đảm bảo, cho đến khi đám mây đen xuất hiện và sớm che phủ bầu trời của chúng tôi.

“Một đêm nọ, khi Gennaro đi làm trở về, anh dẫn theo một người đồng hương. Gã tên là Gorgiano, cũng xuất thân từ Posilippo. Gã to lớn lắm, như chính quý ngài đây có thể chứng thực, vì quý ngài đã nhìn thấy xác hắn rồi. Không chỉ thân hình vạm vỡ như một gã khổng lồ, mà mọi thứ nơi hắn đều dị dạng, quái đản và đáng sợ. Giọng hắn ầm ầm như sấm rền trong căn nhà bé nhỏ của chúng tôi. Những cánh tay to lớn của hắn vung vẩy khi nói, dường như không gian chẳng đủ chỗ cho chúng. Suy nghĩ, cảm xúc, đam mê - tất thảy nơi hắn đều bị phóng đại đến mức quái dị. Hắn nói, hay đúng hơn là gầm lên, với một nguồn năng lượng khủng khiếp đến nỗi kẻ khác chỉ còn biết ngồi im, bị nhấn chìm trong dòng thác ngôn từ tuôn ra không ngớt. Đôi mắt hắn rực cháy, bám riết lấy bạn và trói bạn trong vòng khống chế của hắn. Hắn là một kẻ kinh hoàng và phi thường. Tôi tạ ơn Chúa vì hắn đã chết!

“Hắn đến hết lần này đến lần khác. Thế nhưng tôi nhận ra Gennaro cũng chẳng vui vẻ gì hơn tôi mỗi khi hắn xuất hiện. Người chồng tội nghiệp của tôi ngồi đó, mặt mày xanh xao, thẫn thờ, lắng nghe những bài diễn thuyết bất tận về chính trị và các vấn đề xã hội - thứ chất liệu làm nên những cuộc trò chuyện của vị khách. Gennaro chẳng nói gì, nhưng tôi, kẻ hiểu anh đến tận chân tơ kẽ tóc, có thể đọc thấy trên gương mặt anh một cảm xúc mà trước đây tôi chưa từng thấy. Thoạt đầu tôi nghĩ đó là sự ghê tởm. Rồi dần dà, tôi hiểu ra rằng nó còn hơn cả ghê tởm. Đó là nỗi sợ - một nỗi sợ sâu thẳm, thầm kín, co rúm lại. Cái đêm mà tôi đọc được nỗi kinh hoàng trên gương mặt anh, tôi đã vòng tay ôm lấy anh và van nài anh, bằng tình yêu anh dành cho tôi và bằng tất thảy những gì anh trân quý trên đời, xin anh đừng giấu tôi điều gì, và hãy cho tôi biết vì sao gã đàn ông khổng lồ ấy lại phủ một bóng đen lên cuộc đời anh đến vậy.

“Anh kể cho tôi nghe. Trái tim tôi lạnh buốt như băng khi lắng nghe. Gennaro tội nghiệp của tôi, trong những ngày tháng cuồng nộ và bốc lửa của tuổi trẻ - khi cả thế giới dường như quay lưng chống lại anh và những bất công của cuộc đời đẩy tâm trí anh đến bờ vực điên loạn - đã gia nhập một hội kín ở Naples, Hội Vòng Tròn Đỏ, một nhánh của hội Carbonari4 xưa cũ. Những lời thề và bí mật của hội anh em này thật khủng khiếp, nhưng một khi đã lọt vào vòng kiểm soát của nó thì không thể nào trốn thoát. Khi chúng tôi bỏ trốn sang Mỹ, Gennaro nghĩ rằng anh đã vứt bỏ tất cả lại phía sau, vĩnh viễn. Nỗi kinh hoàng của anh lớn đến nhường nào, khi một buổi tối, ngay trên đường phố, anh chạm mặt chính kẻ đã kết nạp mình ở Naples - gã khổng lồ Gorgiano, kẻ đã giành được biệt danh ‘Tử thần’ ở khắp miền nam nước Ý, bởi bàn tay hắn nhuốm đầy máu tươi đến tận khuỷu! Hắn đã đến New York để trốn tránh cảnh sát Ý, và hắn đã gieo rắc một chi nhánh của hội kín khủng khiếp ấy ngay trên quê hương mới của mình. Tất cả những điều này Gennaro đã kể cho tôi, rồi anh đưa cho tôi xem một lệnh triệu tập mà anh nhận được ngay ngày hôm đó - một Vòng Tròn Đỏ được vẽ trên đầu bức thư - ra lệnh cho anh phải có mặt tại một buổi họp kín vào một ngày nhất định.

“Như vậy đã đủ tồi tệ lắm rồi. Nhưng điều tồi tệ hơn hãy còn ở phía sau. Tôi đã để ý một thời gian rằng mỗi khi Gorgiano đến nhà chúng tôi, như hắn vẫn thường làm vào buổi tối, hắn nói với tôi rất nhiều; và ngay cả khi lời hắn hướng về chồng tôi, đôi mắt thú dữ trợn trừng, rực cháy khủng khiếp kia vẫn luôn luôn hướng về phía tôi. Rồi một đêm nọ, bí mật của hắn lộ ra. Tôi đã đánh thức cái thứ mà hắn gọi là ‘tình yêu’ trong hắn - thứ tình yêu của một con thú, một kẻ man rợ. Gennaro chưa về khi hắn đến. Hắn xông thẳng vào nhà, túm lấy tôi trong đôi tay đồ sộ, siết chặt tôi trong cái ôm của loài gấu, phủ lên tôi những nụ hôn, và van nài tôi bỏ đi cùng hắn. Tôi đang vùng vẫy và la hét thì Gennaro bước vào và lao thẳng vào hắn. Hắn đánh Gennaro bất tỉnh, rồi bỏ trốn khỏi căn nhà mà hắn sẽ không bao giờ còn được đặt chân vào nữa. Đêm ấy, chúng tôi đã tạo ra một kẻ thù không đội trời chung.

“Vài ngày sau, buổi họp kín diễn ra. Gennaro trở về với vẻ mặt nói cho tôi biết rằng một điều gì đó khủng khiếp đã xảy đến. Nó còn tồi tệ hơn tất cả những gì chúng tôi có thể tưởng tượng. Quỹ của hội được gây dựng bằng cách tống tiền những người Ý giàu có và đe dọa họ bằng bạo lực nếu họ dám từ chối nộp tiền. Có vẻ như Castalotte, người bạn và ân nhân yêu dấu của chúng tôi, đã bị nhắm tới. Ông đã từ chối khuất phục trước những lời đe dọa, và đã trình báo với cảnh sát. Hội đã quyết định phải lấy ông làm gương, để không nạn nhân nào khác dám chống cự. Tại cuộc họp, chúng đã sắp đặt kế hoạch cho nổ tung ông và ngôi nhà của ông bằng thuốc nổ. Rồi chúng rút thăm để chọn ra kẻ thực hiện. Gennaro nhìn thấy khuôn mặt tàn ác của kẻ thù chúng tôi đang nở nụ cười nhằm vào anh khi anh thò tay vào túi rút thăm. Không còn nghi ngờ gì nữa, tất thảy đều đã được sắp đặt từ trước, bởi chính chiếc đĩa chết chóc mang dấu Vòng Tròn Đỏ - mệnh lệnh giết người - đã nằm gọn trong lòng bàn tay anh. Anh phải ra tay sát hại người bạn thân nhất của mình, hoặc tự đẩy bản thân và tôi vào nanh vuốt trả thù của đồng bọn. Một phần trong hệ thống quỷ quái của chúng là trừng phạt những kẻ mà chúng sợ hãi hoặc căm ghét bằng cách làm hại không chỉ chính những kẻ đó, mà còn cả những người thân yêu của họ. Chính sự thấu hiểu điều này đã treo lơ lửng như một lưỡi gươm kinh hoàng trên đầu Gennaro tội nghiệp của tôi, đẩy anh đến gần bờ vực điên dại vì sợ hãi.

“Suốt đêm hôm ấy, chúng tôi ngồi bên nhau, vòng tay ôm lấy nhau, tiếp sức cho nhau trước những hiểm họa đang chực chờ phía trước. Tối hôm sau chính là thời hạn được ấn định cho vụ ám sát. Đến trưa, chồng tôi và tôi đã có mặt trên đường đến London, nhưng trước đó, anh đã gửi cho ân nhân của chúng tôi toàn bộ lời cảnh báo về mối nguy hiểm này, đồng thời để lại thông tin cho cảnh sát để bảo vệ tính mạng ông trong tương lai.

“Phần còn lại, thưa các quý ông, chính các vị đã rõ. Chúng tôi biết chắc rằng kẻ thù sẽ bám theo chúng tôi như hình với bóng. Gorgiano có những lý do riêng để trả thù, nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng tôi cũng biết hắn tàn nhẫn, xảo quyệt và bền bỉ đến mức nào. Cả nước Ý lẫn nước Mỹ đều đầy rẫy những câu chuyện về sức mạnh khủng khiếp của hắn. Nếu có lúc nào hắn thi triển sức mạnh ấy, thì chính là lúc này. Người chồng yêu dấu của tôi đã tận dụng vài ngày ít ỏi mà việc chúng tôi khởi hành sớm mang lại để sắp xếp cho tôi một nơi ẩn náu, sao cho không mối nguy hiểm nào có thể chạm tới tôi. Về phần mình, anh muốn được tự do để liên lạc với cả cảnh sát Mỹ lẫn cảnh sát Ý. Ngay chính tôi cũng chẳng biết anh sống ở đâu, hay bằng cách nào. Mọi điều tôi biết được đều qua những mẩu tin trên một tờ báo. Nhưng có một lần, khi liếc nhìn qua cửa sổ, tôi thấy hai người Ý đang theo dõi căn nhà, và tôi hiểu rằng bằng cách nào đó, Gorgiano đã lần ra nơi ẩn náu của chúng tôi. Cuối cùng, Gennaro báo cho tôi, qua tờ báo, rằng anh sẽ ra hiệu cho tôi từ một cửa sổ nhất định. Nhưng khi những tín hiệu ấy đến, chúng chẳng là gì ngoài những lời cảnh báo, và rồi chúng đột ngột bị cắt đứt. Giờ đây tôi đã hiểu rất rõ rằng anh biết Gorgiano đã bám sát mình, và rằng - tạ ơn Chúa! - anh đã sẵn sàng cho hắn khi hắn tìm đến. Và giờ đây, thưa các quý ông, tôi xin hỏi: liệu chúng tôi có gì phải sợ pháp luật không? Hay liệu có vị thẩm phán nào trên cõi đời này lại kết án Gennaro của tôi vì những gì anh ấy đã làm?”

“Ừm, ngài Gregson,” người Mỹ lên tiếng, hướng mắt về phía viên thanh tra, “tôi không rõ bên Anh quan điểm ra sao, nhưng tôi dám chắc ở New York, chồng của quý bà đây hẳn sẽ nhận được một cuộc bỏ phiếu tán dương gần như tuyệt đối từ toàn dân.”

“Cô ấy sẽ phải theo tôi về trình diện cấp trên,” Gregson đáp. “Nếu lời khai của cô ấy được xác minh, tôi không nghĩ cô ấy hay chồng mình có gì phải e ngại. Nhưng có một điều tôi không tài nào lý giải nổi, thưa ngài Holmes, đó là làm thế quái nào mà anh lại nhúng tay vào vụ này?”

“Học vấn đấy, Gregson ạ, học vấn. Vẫn đang miệt mài tầm sư học đạo ở mái trường đại học cũ kỹ này thôi. Nào, Watson, anh lại có thêm một mẫu vật vừa bi thảm vừa kỳ quái nữa để bổ sung vào bộ sưu tập của mình rồi. À, nhân tiện, giờ vẫn chưa đến tám giờ, và tối nay là đêm diễn Wagner ở Covent Garden5 đấy! Nếu nhanh chân lên, chúng ta còn kịp màn thứ hai.”



  1. Cơ quan Thám tử Quốc gia Pinkerton, một tổ chức an ninh và thám tử tư nổi tiếng của Mỹ thành lập năm 1850. Trong lịch sử, lực lượng này có mạng lưới rộng lớn và đôi khi quyền lực hơn cả cảnh sát địa phương trong việc truy bắt tội phạm xuyên bang. 

  2. Thán từ trong tiếng Ý, có nghĩa là "Chúa ơi!" (My God!), dùng để bộc lộ sự kinh ngạc hoặc hoảng sợ tột độ. 

  3. Từ tiếng Ý, có nghĩa là "Đến đây". Holmes đã giải mã được thông điệp bị ngắt quãng trước đó và dùng chính từ này để gọi phu nhân Lucca đến hiện trường. 

  4. Một mạng lưới các hội kín tại Ý đầu thế kỷ 19 (nghĩa đen là "những người đốt than"). Mặc dù ban đầu có mục tiêu yêu nước, nhiều nhánh sau này áp dụng các phương thức hoạt động ngầm, lời thề máu và tống tiền, tạo tiền đề cho các tổ chức tội phạm như Mafia hay Camorra. 

  5. Ám chỉ buổi biểu diễn nhạc kịch (opera) của Richard Wagner, nhà soạn nhạc lừng danh người Đức. Covent Garden là tên gọi phổ biến của Nhà hát Opera Hoàng gia (Royal Opera House) ở London, trung tâm nghệ thuật kinh điển thời bấy giờ.