Vụ án Vị thám tử hấp hối

Bà Hudson, chủ nhà trọ của Sherlock Holmes, quả là một người phụ nữ có sức chịu đựng phi thường. Không chỉ căn hộ tầng một của bà liên tục bị xâm nhập vào mọi khung giờ bởi đủ hạng người kỳ quái và rắc rối, mà chính người khách thuê phòng của bà cũng thể hiện một lối sống lập dị, bất thường đến mức hẳn đã đẩy sự kiên nhẫn của bà tới giới hạn cuối cùng. Sự bừa bộn khó tin, thói quen kéo vĩ cầm vào những giờ giấc quái gở, những lúc cao hứng lôi súng lục ra tập bắn ngay trong nhà, những thí nghiệm khoa học kỳ dị nồng nặc mùi hôi thối, cộng thêm bầu không khí bạo lực và hiểm nguy luôn rình rập, tất cả đã biến anh thành người thuê nhà tệ nhất cõi London. Đổi lại, tiền thuê nhà anh trả lại hậu hĩnh đến mức khó tin. Tôi không chút nghi ngờ rằng người ta dư sức mua đứt cả ngôi nhà này bằng số tiền Holmes đã trả cho mấy căn phòng của mình suốt những năm tôi sống cùng anh.

Bà chủ nhà vừa kính sợ lại vừa nể phục anh. Dù hành động của anh có quái đản đến đâu, bà cũng chẳng bao giờ dám can thiệp. Hơn thế, bà còn dành cho anh một sự quý mến đặc biệt, bởi anh luôn cư xử với phái nữ bằng một vẻ lịch thiệp và dịu dàng đến đáng kinh ngạc. Anh vốn không thích cũng chẳng tin tưởng phụ nữ, nhưng anh luôn đối diện với họ như một quý ông hào hiệp. Hiểu rõ lòng tôn trọng chân thành mà bà dành cho anh, tôi đã chăm chú lắng nghe khi bà hớt hải chạy đến phòng tôi vào năm thứ hai sau khi tôi kết hôn, mang theo tin tức buồn thảm về tình trạng nguy kịch của người bạn đáng thương.

"Ông ấy đang hấp hối, bác sĩ Watson ạ," bà thảng thốt. "Ba ngày nay ông ấy cứ lịm dần đi, và tôi e là ông ấy chẳng qua khỏi ngày hôm nay đâu. Ông ấy nhất quyết không cho tôi gọi bác sĩ. Sáng nay, khi nhìn thấy gò má ông ấy nhô cao và đôi mắt to mở trừng trừng sáng rực nhìn mình, tôi không thể chịu đựng thêm được nữa. 'Dù ông có cho phép hay không, ông Holmes, tôi vẫn sẽ đi gọi bác sĩ ngay lúc này,' tôi bảo thế. 'Vậy thì hãy gọi Watson,' ông ấy đáp. Tôi không muốn lãng phí một giờ khắc nào để đến gặp ngài, thưa bác sĩ, nếu không ngài có thể sẽ chẳng còn cơ hội nhìn thấy ông ấy khi còn sống nữa."

Tôi chết điếng người, bởi tôi chưa từng nghe lấy nửa lời về căn bệnh của anh. Khỏi phải nói, tôi vội vã vơ lấy áo khoác và mũ. Trên đường hối hả quay lại nhà trọ, tôi dồn dập hỏi thăm chi tiết.

"Tôi chẳng biết được gì nhiều đâu, thưa ngài. Ông ấy đã theo đuổi một vụ án ở Rotherhithe1, trong một con hẻm lụp xụp gần bờ sông, và hẳn đã rước căn bệnh này từ đó về. Ông ấy nằm liệt giường từ chiều thứ Tư và chẳng hề nhúc nhích kể từ lúc đó. Ròng rã ba ngày nay, ông ấy không hề ăn uống lấy một giọt nước hay hạt cơm nào."

"Lạy Chúa! Sao bà không gọi bác sĩ?"

"Ông ấy gạt đi, thưa ngài. Ngài biết ông ấy độc đoán đến nhường nào rồi đấy. Tôi làm sao dám cãi lời ông ấy. Nhưng ông ấy chẳng còn bám trụ được bao lâu nữa đâu, ngài sẽ tự thấy ngay khi nhìn vào mắt ông ấy."

Anh quả thực là một hiện thân của sự thê thảm. Dưới ánh sáng lờ mờ của một ngày tháng Mười một đặc quánh sương mù, căn phòng bệnh hiện lên đầy vẻ ảm đạm. Nhưng chính khuôn mặt hốc hác, tiều tụy đang chằm chằm nhìn tôi từ trên giường mới là thứ khiến tim tôi lạnh toát. Đôi mắt anh rực sáng vì cơn sốt, hai gò má ửng lên màu đỏ bầm, và những lớp vảy đen kịt bám chặt trên bờ môi khô nẻ. Đôi bàn tay gầy guộc trên tấm chăn co giật liên hồi, còn giọng nói thì khàn đặc, đứt quãng. Anh nằm thẫn thờ khi tôi bước vào, nhưng khi nhận ra tôi, một tia sáng léo lên trong đôi mắt mỏi mệt ấy.

"Chà, Watson, có vẻ như chúng ta đã rơi vào những ngày tồi tệ mất rồi," anh thều thào, giọng yếu ớt nhưng vẫn phảng phất nét bất cần quen thuộc.

"Anh bạn thân mến của tôi!" tôi nghẹn ngào kêu lên, toan bước lại gần.

"Đứng lại! Đứng lùi lại ngay!" anh quát lên bằng một thứ uy quyền sắc lạnh mà tôi chỉ từng chứng kiến trong những phút giây sinh tử. "Nếu anh dám bước lại gần, Watson, tôi sẽ tống khứ anh ra khỏi nhà."

"Nhưng tại sao chứ?"

"Bởi vì đó là mong muốn của tôi. Thế chưa đủ sao?"

Vâng, bà Hudson đã nói đúng. Anh còn độc đoán hơn bao giờ hết. Dù vậy, nhìn sự kiệt quệ của anh lúc này, lòng tôi trào dâng một nỗi thương xót khôn tả.

"Tôi chỉ muốn giúp anh thôi mà," tôi cố gắng phân trần.

"Chính xác! Anh sẽ giúp tôi tốt nhất bằng cách làm đúng theo những gì tôi bảo."

"Chắc chắn rồi, Holmes."

Anh thoáng nới lỏng vẻ nghiêm ngặt trên gương mặt.

"Anh không giận chứ?" anh hỏi, hơi thở đứt quãng.

Anh bạn tội nghiệp của tôi, làm sao tôi có thể tức giận khi phải chứng kiến anh oằn mình trong sự khốn khổ nhường này?

"Là vì lợi ích của chính anh thôi, Watson," anh thều thào.

"Vì lợi ích của tôi sao?"

"Tôi biết rõ mình mắc bệnh gì. Đó là căn bệnh của lũ cu li từ Sumatra2 - một thứ dịch bệnh mà người Hà Lan am hiểu hơn chúng ta rất nhiều, dẫu cho đến nay họ vẫn chưa thể thấu đáo về nó. Chỉ có một điều chắc chắn: nó tuyệt đối gây tử vong, và khả năng lây lan thì vô cùng khủng khiếp."

Lúc này, dường như mọi chút sức lực tàn tạ đều dồn vào lời nói của anh. Đôi bàn tay dài ngoẵng co giật, run rẩy xua tôi lùi ra xa.

"Nó lây qua đường tiếp xúc, Watson - đúng vậy, chỉ cần chạm vào nhau thôi. Hãy giữ khoảng cách, rồi mọi chuyện sẽ ổn."

"Lạy Chúa, Holmes! Anh nghĩ một lý do cỏn con như thế có thể khiến tôi bận tâm dù chỉ một chốc lát sao? Nó sẽ chẳng mảy may ảnh hưởng đến quyết định của tôi ngay cả khi đối diện là một người xa lạ. Vậy thì cớ gì anh lại tưởng nó đủ sức ngăn cản tôi làm tròn bổn phận với một người bạn tri kỷ như anh?"

Tôi quả quyết bước tới, nhưng anh vung tay đẩy tôi ra cùng một cái nhìn giận dữ tột độ.

"Nếu anh chịu đứng yên ở đó, tôi sẽ nói chuyện. Còn không, anh phải ra khỏi phòng ngay lập tức."

Tôi vốn luôn dành sự tôn trọng sâu sắc cho những phẩm chất phi thường của Holmes, đến độ tôi sẵn sàng chiều theo mọi ý muốn của anh, ngay cả khi tôi chẳng hiểu nổi lý do. Nhưng lúc này đây, mọi bản năng nghề nghiệp trong tôi đã hoàn toàn trỗi dậy. Cứ để anh thao túng tôi ở mọi nơi khác, nhưng ít nhất, trong căn phòng bệnh này, tôi mới là người làm chủ.

"Holmes," tôi kiên quyết, "anh không còn là chính mình nữa. Một người bệnh cũng chỉ giống như một đứa trẻ, và tôi sẽ đối xử với anh đúng như thế. Bất chấp việc anh có bằng lòng hay không, tôi sẽ trực tiếp kiểm tra các triệu chứng và bắt tay vào điều trị."

Anh trừng mắt nhìn tôi đầy ác ý.

"Nếu tôi bị ép buộc phải nhờ cậy một bác sĩ, ít nhất hãy để tôi chọn một người mà tôi thực sự tin tưởng," anh đáp lại bằng giọng mỉa mai.

"Vậy ra anh chẳng hề có chút niềm tin nào vào tôi sao?"

"Vào tình bạn của anh thì chắc chắn rồi. Nhưng sự thật mất lòng, Watson ạ. Suy cho cùng, anh cũng chỉ là một bác sĩ đa khoa với kinh nghiệm hạn hẹp và trình độ y khoa làng nhàng. Thật xót xa khi phải buông ra những lời này, nhưng chính anh đã dồn tôi vào thế không còn sự lựa chọn."

Tôi bị tổn thương đến tột cùng.

"Một nhận xét như vậy thực sự không xứng với anh đâu, Holmes. Nó chỉ càng phơi bày rõ ràng tình trạng thần kinh bất ổn của anh lúc này. Nhưng nếu anh đã không có niềm tin vào tôi, tôi cũng sẽ chẳng cưỡng ép anh phải nhận sự chăm sóc của mình. Hãy để tôi mời ngài Jasper Meek, hay Penrose Fisher, hoặc bất kỳ danh y xuất chúng nào ở London đến đây. Nhưng anh bắt buộc phải được thăm khám bởi một ai đó, và đây là quyết định cuối cùng. Nếu anh nghĩ rằng tôi sẽ đứng chôn chân ở đây nhìn anh chết mòn mà không nhúng tay vào, hoặc không cầu viện người khác giúp đỡ, thì anh đã nhìn lầm người rồi."

"Anh có ý tốt, Watson," người bệnh cất giọng, âm thanh nấc nghẹn hòa lẫn những tiếng rên rỉ xé lòng. "Tôi có cần phải tự mình chứng minh sự thiếu hiểu biết của anh không nhỉ? Xin hỏi, anh biết gì về bệnh sốt Tapanuli3? Hay anh biết gì về chứng thối rữa Formosa đen4?"

"Tôi chưa từng nghe danh cả hai căn bệnh này."

"Có hằng hà sa số những mầm bệnh rình rập, vô số những mầm mống bệnh lý quái gở ẩn nấp ở phương Đông, Watson ạ." Anh phải dừng lại sau mỗi câu nói để gom góp chút sức lực mỏng manh. "Tôi đã vỡ lẽ ra rất nhiều điều qua những nghiên cứu pháp y gần đây. Và cũng chính trong quá trình ấy, tôi đã nhiễm phải thứ bệnh này. Anh chẳng thể giúp gì được đâu."

"Cứ cho là vậy đi. Nhưng tôi tình cờ biết rằng bác sĩ Ainstree, chuyên gia y tế vĩ đại nhất còn sống về các bệnh nhiệt đới, hiện đang có mặt ở London. Mọi sự kháng cự của anh đều vô ích thôi, Holmes. Tôi sẽ đi đón ông ấy ngay lập tức." Tôi dứt khoát quay gót tiến về phía cửa.

Nhưng chưa bao giờ tôi bị sốc đến nhường ấy! Bằng một cú chồm lên dũng mãnh như một con hổ, người đàn ông đang thoi thóp ấy đã chặn đứng tôi lại. Một tiếng cạch khô khốc vang lên khi chiếc chìa khóa cửa bị vặn xoay. Ngay giây phút tiếp theo, anh lảo đảo gục lùi về giường, kiệt quệ và thở dốc sau ngọn lửa sinh lực khổng lồ vừa bùng lên chớp nhoáng.

"Anh đừng hòng dùng vũ lực cướp chìa khóa khỏi tay tôi, Watson. Tôi đã tóm được anh rồi, anh bạn ạ. Anh đang ở đây, và anh sẽ phải chôn chân ở đây cho đến khi tôi đổi ý. Tuy nhiên, tôi cũng sẽ nhượng bộ anh đôi chút." (Những lời này được thốt ra giữa những tiếng thở dốc đứt quãng, đi kèm với nỗ lực kinh khủng để kéo lấy từng luồng khí mong manh.) "Anh chỉ muốn tốt cho tôi. Dĩ nhiên là tôi thừa hiểu điều đó. Anh sẽ được làm theo ý mình, nhưng hãy cho tôi chút thời gian để hồi sức. Không phải bây giờ, Watson, không phải lúc này. Bây giờ là bốn giờ. Đến sáu giờ anh mới được phép đi."

"Thật điên rồ, Holmes."

"Chỉ hai tiếng thôi, Watson. Tôi hứa sẽ để anh đi vào đúng sáu giờ. Anh bằng lòng chờ chứ?"

"Xem chừng tôi đâu còn lựa chọn nào khác."

"Chẳng còn một tia hy vọng nào đâu, Watson. Cảm ơn anh, tôi không cần ai giúp sắp xếp lại quần áo. Xin anh vui lòng giữ khoảng cách. Này Watson, có một điều kiện khác mà tôi muốn thỏa thuận. Anh sẽ đi tìm kiếm sự trợ giúp, nhưng không phải từ cái tên anh vừa nhắc đến, mà là người do chính tôi chọn."

"Bằng mọi giá."

"Ba từ hợp tình hợp lý nhất mà anh thốt ra kể từ lúc bước chân vào căn phòng này đấy, Watson. Có vài cuốn sách đằng kia kìa. Tôi đang hơi kiệt sức; tôi tự hỏi một cục pin sẽ cảm thấy ra sao khi đổ hết điện năng vào một vật không dẫn điện nhỉ? Đúng sáu giờ, Watson, chúng ta sẽ tiếp tục cuộc trò chuyện này."

Thế nhưng, cuộc trò chuyện ấy đã bị buộc phải tiếp diễn trước thời hạn rất lâu, trong một tình thế khiến tôi sửng sốt chẳng kém gì lúc anh phóng tới chặn cửa. Tôi đứng sững sờ mất vài phút, dán mắt vào bóng dáng bất động trên giường. Khuôn mặt anh gần như khuất lấp sau lớp chăn màn, có vẻ như anh đã chìm vào giấc ngủ. Chẳng còn tâm trí đâu mà đọc sách, tôi thơ thẩn bước quanh phòng, vô hồn đưa mắt ngắm nghía những bức chân dung của bọn tội phạm khét tiếng treo kín trên tường. Chuyến tản bộ vô định ấy cuối cùng cũng đưa tôi đến bệ lò sưởi. Nằm rải rác trên đó là một mớ hỗn độn đủ thứ hằm bà lằng: tẩu thuốc, túi đựng thuốc lá, ống tiêm, dao nhíp, hộp đạn súng lục, cùng dăm ba món đồ linh tinh khác. Nằm lọt thỏm giữa đống đồ lỉnh kỉnh ấy là một chiếc hộp ngà voi nhỏ nhắn màu đen trắng, được thiết kế với nắp trượt. Thấy món đồ nhỏ xinh và tinh xảo, tôi vừa tò mò vươn tay ra định xem kỹ hơn thì--

Anh bất thình lình thét lên một tiếng man rợ - một tiếng thét xé tai có thể vang vọng đến tận cuối con phố. Sống lưng tôi lạnh toát, tóc gáy dựng đứng trước âm thanh kinh hoàng ấy. Giật mình ngoảnh lại, tôi kinh hãi bắt gặp khuôn mặt anh đang co rúm lại, đôi mắt trợn trừng điên dại. Tôi đứng chết trân, chiếc hộp nhỏ vẫn nằm gọn trong tay.

"Bỏ nó xuống! Bỏ xuống ngay lập tức, Watson - ngay lập tức, tôi bảo!" Đầu anh ngả vật ra gối, tiếng thở phào nhẹ nhõm cất lên khi tôi ngoan ngoãn đặt chiếc hộp về lại bệ lò sưởi. "Tôi căm ghét việc kẻ khác tọc mạch vào đồ của mình, Watson. Anh biết rõ tôi ghét cay ghét đắng chuyện đó cơ mà. Anh làm tôi bồn chồn đến không chịu nổi. Anh đường đường là một bác sĩ - thế mà lại đủ sức tống cổ một bệnh nhân vào nhà thương điên đấy. Ngồi xuống đi, anh bạn, và làm ơn để tôi được yên tĩnh nghỉ ngơi!"

Sự việc vừa rồi đã in hằn một ấn tượng vô cùng tồi tệ trong tâm trí tôi. Cơn kích động dữ dội và hoàn toàn vô cớ ấy, cộng với những lời lẽ thô lỗ khác xa vẻ lịch lãm thường ngày, đã chứng minh cho tôi thấy tâm trí anh đang rối loạn đến mức tồi tệ thế nào. Trong mọi thứ tàn tích trên cõi đời này, tàn tích của một trí tuệ siêu phàm luôn là thứ đáng thương xót nhất. Tôi chìm vào nỗi chán chường câm lặng, đếm từng giây cho đến khi thời hạn trôi qua. Chắc mẩm anh cũng đang mong ngóng đồng hồ giống hệt tôi, bởi chưa kịp điểm sáu giờ, anh đã mở lời với sự hưng phấn đầy sốt sắng y như lúc trước.

"Nào, Watson," anh cất tiếng. "Trong túi anh có đồng xu lẻ nào không?"

"Có."

"Có đồng bạc nào không?"

"Khá nhiều."

"Anh có bao nhiêu đồng nửa crown5?"

"Có năm đồng."

"Chà, ít quá! Quá ít! Thật là xui xẻo làm sao, Watson! Thôi được, có bao nhiêu anh cứ tống hết vào túi đựng đồng hồ đi. Toàn bộ số tiền còn lại thì nhét vào túi quần bên trái nhé. Cảm ơn anh. Việc đó sẽ giúp anh giữ thăng bằng tốt hơn nhiều đấy."

Đúng là những lời sảng ngôn điên rồ. Anh khẽ rùng mình, rồi lại phát ra một tràng âm thanh nghe như tiếng ho nghẹn xen lẫn tiếng nấc.

"Giờ thì thắp đèn ga lên đi, Watson. Nhưng anh phải vạn phần cẩn trọng, đừng để ánh sáng vọt lên quá một nửa, dù chỉ là trong tích tắc. Tôi khẩn khoản cầu xin anh hãy cẩn thận, Watson. Cảm ơn anh, tuyệt vời lắm. Không, anh không cần cất công kéo rèm đâu. Giờ thì phiền anh đặt vài bức thư và giấy tờ lên chiếc bàn này, ngay tầm với của tôi. Cảm ơn. Tiếp đến là một vài thứ lỉnh kỉnh từ bệ lò sưởi. Tuyệt quá, Watson! Chỗ đó có một cái kẹp đường đấy. Phiền anh dùng nó gắp chiếc hộp ngà voi nhỏ kia lên. Đặt nó ở đây, giữa đống giấy tờ này. Tốt lắm! Bây giờ anh có thể xuất phát đi đón ngài Culverton Smith ở số 13, Phố Lower Burke."

Thành thật mà nói, cái nhiệt huyết đi tìm bác sĩ của tôi đã nguội lạnh đi ít nhiều. Tội nghiệp Holmes, anh mê sảng đến mức việc bỏ lại anh một mình lúc này có vẻ vô cùng nguy hiểm. Đã vậy, thái độ háo hức đòi hỏi người bác sĩ anh vừa nhắc đến lại ngang bướng hệt như lúc anh chối từ trước đó.

"Tôi chưa từng nghe tới cái tên này," tôi thú nhận.

"Có thể là chưa, Watson tốt bụng của tôi. Hẳn anh sẽ vô cùng kinh ngạc khi biết rằng người am hiểu nhất hành tinh về căn bệnh này lại không phải là một bác sĩ y khoa, mà là một tay chủ đồn điền. Ngài Culverton Smith là một nhân vật cộm cán ở Sumatra, hiện đang ghé thăm London. Một đợt dịch bùng phát dữ dội trên đồn điền của ông ta, ở một nơi xa xôi chẳng màng đến sự can thiệp của y tế, đã buộc ông ta phải tự mình nghiên cứu. Những thành quả thu được quả thực vô cùng sâu sắc. Ông ta là một con người cực kỳ nguyên tắc. Chính vì lẽ đó mà tôi không muốn anh khởi hành trước sáu giờ, bởi tôi dư sức biết rằng anh sẽ chẳng tài nào tóm được ông ta trong phòng làm việc. Vốn dĩ việc điều tra căn bệnh này là đam mê cháy bỏng nhất của ông ta, nên nếu anh có thể thuyết phục ông ta đến đây và cho chúng ta hưởng lợi từ vốn kinh nghiệm độc nhất vô nhị đó, tôi hoàn toàn tin chắc ông ta đủ sức cứu mạng tôi."

Tôi đã tường thuật lại những lời dặn dò của Holmes thành một mạch văn trôi chảy, thay vì cố gắng mô tả chi tiết cách anh liên tục bị ngắt quãng bởi những hơi thở đứt đoạn và những cái nắm tay rệu rã - minh chứng rõ ràng cho nỗi đau đớn tột cùng mà anh đang phải gánh chịu. Chỉ sau vài giờ ngắn ngủi túc trực bên cạnh, ngoại hình của anh đã tụt dốc thê thảm. Những vết ban đỏ trở nên chói lóa, đôi mắt càng thêm rực sáng giữa hai hốc mắt sâu hoắm đen ngòm, vầng trán lấm tấm những giọt mồ hôi lạnh toát. Vậy mà, anh vẫn cố giữ lại sự hào hoa, kiêu hãnh trong từng lời nói. Cho đến tận hơi thở cuối cùng, anh mãi mãi là người làm chủ.

"Anh phải thuật lại chính xác cho ông ta nghe tình trạng thê thảm của tôi lúc anh rời đi," anh dặn dò. "Anh sẽ truyền đạt chân thực cái ấn tượng đang in sâu trong tâm trí anh lúc này - một gã đàn ông đang hấp hối - thoi thóp và mê sảng. Thực tình, tôi chẳng hiểu nổi tại sao toàn bộ đáy đại dương không biến thành một khối hàu khổng lồ, khi mà cái sinh vật ấy sinh sôi nảy nở đến nhường ấy. Ái chà, tôi lại bắt đầu nói nhảm rồi! Cái cách mà não bộ thao túng não bộ mới kỳ lạ làm sao! Nãy giờ tôi đang nói cái gì vậy, Watson?"

"Những chỉ dẫn của anh về ngài Culverton Smith."

"À, phải rồi, tôi nhớ ra rồi. Mạng sống của tôi phụ thuộc cả vào chuyện đó đấy. Hãy cầu xin ông ta, Watson. Mối quan hệ giữa chúng tôi vốn chẳng mấy êm đẹp. Thằng cháu trai của ông ta, Watson ạ - tôi đã đánh hơi thấy điều mờ ám và chẳng ngần ngại để ông ta biết điều đó. Cậu nhóc đã chết một cách tức tưởi. Ông ta nuôi mối hận thù sâu sắc với tôi. Anh phải làm sao cho ông ta mủi lòng, Watson. Hãy van nài, cầu khẩn, lôi ông ta đến đây bằng mọi giá. Ông ta có thể cứu sống tôi - chỉ duy nhất ông ta mà thôi!"

"Tôi sẽ tống ông ta lên xe ngựa mang tới đây, ngay cả khi tôi phải vác ông ta trên vai."

"Anh không được làm chuyện ruồi bu ấy đâu. Anh sẽ dùng lời lẽ thuyết phục ông ta đến. Và rồi anh phải quay về đây trước ông ta. Hãy bịa ra bất cứ lý do gì để không phải đi cùng một chuyến xe với ông ta. Đừng quên nhé, Watson. Anh sẽ không làm tôi thất vọng. Anh chưa bao giờ làm tôi thất vọng. Không mảy may nghi ngờ gì nữa, luôn tồn tại những thiên địch tự nhiên nhằm kìm hãm sự sinh sôi của vạn vật. Anh và tôi, Watson, chúng ta đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình. Vậy thì, thế giới này sẽ bị lũ hàu tàn phá sao? Không, không đời nào; như thế thì khủng khiếp quá! Anh sẽ truyền đạt toàn bộ những gì đang hiện diện trong tâm trí anh lúc này."

Tôi bước khỏi phòng, mang theo nỗi ám ảnh về bộ óc vĩ đại ấy giờ đây đang lảm nhảm những lời vô nghĩa như một đứa trẻ khờ khạo. Anh đã giao cho tôi chiếc chìa khóa, và với tâm trạng đầy vẻ gượng gạo vui vẻ, tôi nhét nó vào túi phòng khi anh bất thần tự nhốt mình lại. Ngoài hành lang, bà Hudson đang đứng đợi, toàn thân run rẩy và nước mắt lưng tròng. Khi vừa bước ra khỏi ngưỡng cửa, tôi còn văng vẳng nghe thấy chất giọng the thé, yếu ớt của Holmes đang lẩm nhẩm một bài thánh ca nào đó trong cơn mê sảng. Xuống đến lề đường, giữa lúc tôi đang huýt sáo gọi một cỗ xe ngựa, một bóng người từ trong màn sương mù dày đặc bước về phía tôi.

"Ông Holmes thế nào rồi, thưa ngài?" người đàn ông lên tiếng.

Đó là một người quen cũ, Thanh tra Morton của sở Scotland Yard, nay khoác trên mình bộ âu phục vải tuýt giản dị chứ không mặc cảnh phục.

"Anh ấy ốm rất nặng," tôi đáp lời.

Viên thanh tra nhìn tôi bằng một ánh mắt vô cùng kỳ lạ. Lạ lùng đến mức, nếu ý nghĩ ấy không quá đỗi tàn nhẫn, tôi đã cho rằng tia sáng hắt ra từ ô cửa sổ vừa soi tỏ một nét đắc ý lướt qua trên gương mặt ông ta.

"Tôi cũng có nghe chút tin đồn về chuyện đó," ông ta lẩm bẩm.

Đúng lúc ấy, cỗ xe ngựa trờ tới, và tôi vội vã cáo từ.

Phố Lower Burke hóa ra là một dãy những tư dinh bề thế nằm vắt ngang khu ranh giới mờ ảo giữa Notting Hill và Kensington6. Ngôi nhà nơi người đánh xe thả tôi xuống toát lên vẻ oai vệ, mực thước với dãy hàng rào sắt uốn lượn kiểu cổ, cánh cửa gỗ xếp đồ sộ và những chi tiết trang trí bằng đồng được đánh bóng loáng. Khung cảnh ấy quả thực rất tương xứng với bộ dạng đạo mạo của người quản gia vừa xuất hiện dưới quầng sáng hồng hào hắt ra từ ngọn đèn điện rực rỡ phía sau lưng ông ta.

"Vâng, ông Culverton Smith có ở nhà. Bác sĩ Watson! Rất tốt, thưa ngài, tôi sẽ mang danh thiếp của ngài lên ngay."

Thế nhưng, cái tên và danh xưng khiêm nhường của tôi có vẻ chẳng mảy may gây ấn tượng với ông Culverton Smith. Xuyên qua cánh cửa khép hờ, tôi nghe vọng ra một giọng nói eo éo, cáu bẳn và chói tai đến khó chịu.

"Gã này là ai? Ông ta muốn gì? Ôi trời đất ơi, Staples, tôi đã nhắc ông bao nhiêu lần rằng tuyệt đối không được làm phiền khi tôi đang làm việc cơ mà?"

Người quản gia cất giọng đều đều, dịu dàng giải thích điều gì đó.

"Mặc kệ, tôi sẽ không tiếp ông ta, Staples. Tôi không thể để công việc của mình bị gián đoạn vì mấy chuyện cỏn con thế này được. Cứ bảo tôi không có nhà. Cứ nói y như thế. Bảo gã quay lại vào sáng mai nếu thực sự có việc cần tìm tôi."

Tiếng thì thầm nhã nhặn lại vang lên lần nữa.

"Thôi được rồi, được rồi, cứ chuyển lời cho ông ta y như thế. Ông ta có thể đến vào sáng mai, hoặc cứ thế mà biến đi cho khuất mắt. Công việc của tôi không thể bị ngáng đường được."

Tâm trí tôi lại hiện lên hình ảnh Holmes đang quằn quại trên giường bệnh, có lẽ anh đang tuyệt vọng đếm từng phút chờ tôi mang người đến cứu mạng. Giờ khắc này đâu còn tâm trí đâu mà giữ kẽ. Mạng sống của anh ngàn cân treo sợi tóc, hoàn toàn phụ thuộc vào sự quyết đoán của tôi. Thế nên, trước khi người quản gia kịp quay ra nói lời xin lỗi, tôi đã xô cửa lách qua người ông ta rồi xông thẳng vào phòng.

Phát ra một tiếng rít the thé đầy phẫn nộ, một gã đàn ông vùng bật dậy từ chiếc ghế bành đặt cạnh lò sưởi. Đập vào mắt tôi là một khuôn mặt to bè, sần sùi và bóng nhẫy, với lớp da vàng ệch, cái cằm nọng xệ xuống và đôi mắt xám xịt, lờ đờ nhưng lại ánh lên vẻ hăm dọa đang trừng trừng nhìn tôi dưới cặp lông mày rậm rạp màu vàng cát. Chễm chệ trên cái đầu hói chóp nhọn là một chiếc mũ nhung nhỏ nhắn dành cho người hút thuốc, được đội lệch điệu đà sang một bên phần da đầu ửng hồng. Hộp sọ của ông ta to lớn quá khổ, ấy thế nhưng khi đưa mắt nhìn xuống, tôi không khỏi kinh ngạc khi nhận ra vóc dáng của gã lại vô cùng gầy gò, ốm yếu, với đôi vai và tấm lưng oặt ẹo như thể mang di chứng của bệnh còi xương từ thuở bé.

"Thế này là nghĩa lý gì đây?" ông ta hét lên bằng chất giọng the thé. "Ai cho ông ngang nhiên xông vào đây? Chẳng phải tôi đã cho người ra nhắn rằng sáng mai tôi mới tiếp khách hay sao?"

"Tôi thành thực xin lỗi," tôi đáp lời, "nhưng chuyện này thật sự không thể trì hoãn thêm được nữa. Ông Sherlock Holmes-"

Chỉ vừa nghe đến tên người bạn của tôi, thái độ của gã đàn ông thấp bé bỗng thay đổi một cách lạ thường. Vẻ giận dữ ngùn ngụt lúc trước lập tức bay biến khỏi gương mặt gã. Từng đường nét trên khuôn mặt bỗng chốc trở nên căng cứng, đầy vẻ cảnh giác.

"Ông đến từ chỗ Holmes sao?" ông ta dò hỏi.

"Tôi vừa mới ở chỗ anh ấy."

"Holmes làm sao? Anh ta đang như thế nào rồi?"

"Anh ấy ốm thập tử nhất sinh. Đó là lý do tại sao tôi phải tức tốc tới đây."

Người đàn ông ra hiệu mời tôi ngồi xuống một chiếc ghế trống, rồi gã cũng uể oải buông mình lại ghế tựa. Ngay khoảnh khắc gã quay người đi, tôi thoáng bắt gặp hình ảnh khuôn mặt gã phản chiếu trong tấm gương treo phía trên lò sưởi. Tôi dám thề rằng trên môi gã khi ấy đang nở một nụ cười cực kỳ hiểm độc và tởm lợm. Tuy nhiên, tôi cố tự huyễn hoặc bản thân rằng có lẽ mình vừa xui xẻo chứng kiến một cơn co giật thần kinh thoáng qua trên mặt gã mà thôi, bởi ngay giây tiếp theo, gã đã quay sang tôi, nét mặt ngập tràn vẻ bận tâm đầy chân thành.

"Tôi rất lấy làm tiếc khi nghe tin này," ông ta thở dài. "Tôi với ông Holmes chỉ lướt qua nhau vài bận vì chút giao dịch công việc, nhưng tôi luôn ngưỡng mộ tài năng cũng như nhân cách của anh ấy. Anh ấy là một tay nghiệp dư đam mê phá án, cũng giống như tôi là một kẻ nghiệp dư say mê nghiên cứu bệnh tật. Mục tiêu của anh ấy là những tên tội phạm ác ôn, còn của tôi là những con vi khuẩn. Đây chính là nhà tù của tôi," gã vừa nói vừa đưa tay chỉ về phía một dãy chai lọ xếp ngay ngắn trên chiếc bàn nhỏ. "Bên trong những môi trường cấy ghép gelatin kia, một số tên tội phạm nguy hiểm bậc nhất thế giới đang phải ngoan ngoãn thụ án."

"Chính vì tin tưởng vào kiến thức chuyên môn của ông mà ông Holmes đã khẩn khoản mong được gặp ông. Anh ấy đánh giá rất cao ông và tin rằng ông là người duy nhất ở London này có thể cứu giúp anh ấy."

Gã đàn ông nhỏ thó giật bắn mình, chiếc mũ hút thuốc điệu đà rơi tuột xuống sàn nhà.

"Tại sao cơ chứ?" ông ta trố mắt. "Tại sao ông Holmes lại có ý nghĩ rằng tôi có thể giúp anh ta giải quyết rắc rối này?"

"Bởi sự hiểu biết tường tận của ông về các loại bệnh phương Đông."

"Nhưng lý do gì khiến anh ta lại đinh ninh thứ bệnh mình đang mắc phải là bệnh phương Đông?"

"Bởi vì trong một phi vụ điều tra, anh ấy đã phải trà trộn làm việc giữa đám thủy thủ người Trung Quốc ở khu vực bến tàu."

Ông Culverton Smith nhếch môi cười đắc ý, thong thả cúi xuống nhặt chiếc mũ hút thuốc lên.

"Ồ, ra là thế sao-ra vậy!" gã thốt lên. "Tôi tin là mọi chuyện không đến nỗi tồi tệ như ông lo lắng đâu. Anh ta ngã bệnh được bao lâu rồi?"

"Cũng khoảng ba ngày rồi."

"Anh ta đã xuất hiện triệu chứng mê sảng chưa?"

"Thỉnh thoảng."

"Chậc, chậc! Nghe chừng có vẻ nghiêm trọng đấy nhỉ. Quả thực sẽ rất nhẫn tâm nếu tôi ngó lơ lời thỉnh cầu của anh ấy. Tôi vốn dĩ rất dị ứng với việc bị kẻ khác quấy rầy khi đang dở tay, thưa bác sĩ Watson, nhưng trường hợp này chắc chắn phải là một ngoại lệ. Tôi sẽ theo ông đến đó ngay lập tức."

Lời dặn dò đầy cẩn trọng của Holmes vụt qua trong tâm trí tôi.

"Tôi lại đang có một cuộc hẹn quan trọng khác," tôi nói.

"Thế cũng tốt. Tôi sẽ tự đi một mình vậy. Tôi đã ghi chép lại địa chỉ nhà ông Holmes rồi. Ông cứ yên tâm, muộn nhất là trong nửa giờ nữa tôi sẽ có mặt ở đó."

Tôi bước vào phòng ngủ của Holmes với cõi lòng trĩu nặng. Từ những gì tôi chứng kiến, điều tồi tệ nhất hoàn toàn có thể đã ập đến trong lúc tôi vắng mặt. Thật vợi đi gánh nặng ngàn cân khi thấy tình trạng của anh đã khá hơn rất nhiều. Diện mạo anh trông vẫn đáng sợ như trước, song cơn mê sảng đã hoàn toàn buông tha anh. Anh cất lời bằng chất giọng yếu ớt, hẳn nhiên là vậy, nhưng lại toát lên sự rành rọt và sắc sảo hơn cả mức bình thường.

"Chà, anh gặp được ông ta chứ, Watson?"

"Có, ông ta đang tới."

"Đáng nể lắm, Watson! Đáng nể lắm! Anh đúng là người đưa tin cừ khôi nhất."

"Ông ta đòi đi cùng tôi."

"Thế thì hỏng bét, Watson. Chuyện đó rõ ràng là không thể nào. Ông ta có dò hỏi anh xem tôi mắc bệnh gì không?"

"Tôi kể cho ông ta nghe chuyện đám người Trung Quốc ở khu East End7."

"Chính xác! Chà, Watson, anh đã làm trọn vẹn mọi bề mà một người bạn tốt có thể giúp. Giờ thì anh có thể rút khỏi hiện trường được rồi."

"Tôi phải nán lại để nghe đánh giá của ông ta chứ, Holmes."

"Lẽ dĩ nhiên là anh phải làm thế rồi. Song tôi có lý do để tin rằng những đánh giá ấy sẽ thẳng thắn và đắt giá hơn gấp bội nếu ông ta đinh ninh rằng chúng tôi chỉ có một mình. Ngay phía sau đầu giường tôi có sẵn một chỗ nấp kín đáo đấy, Watson."

"Holmes bạn tôi ơi!"

"Tôi e là ta không còn ngã rẽ nào khác đâu, Watson. Căn phòng này vốn dĩ chẳng thích hợp để ẩn nấp, như thế cũng tốt, bởi nó sẽ dập tắt mọi hoài nghi trong đầu ông ta. Nhưng ở ngay góc đó, Watson, tôi tin là anh sẽ xoay xở được." Đột nhiên, anh ngồi choàng dậy, vẻ căng thẳng in hằn trên khuôn mặt hốc hác. "Lắng nghe tiếng bánh xe kìa, Watson. Nhanh lên, anh bạn, nếu anh còn thương tôi! Và chớ có nhúc nhích, dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra-dù có chuyện gì đi chăng nữa, anh nghe rõ chưa? Đừng hé nửa lời! Đừng động đậy! Chỉ cần dồn hết sự tập trung vào đôi tai của anh thôi." Sau đó, chỉ trong chớp mắt, cái sức mạnh vừa bùng lên trong anh chợt tàn lụi, những lời nói đĩnh đạc và rành rọt lại chìm nghỉm vào những tiếng lầm bầm, đứt quãng của một kẻ đang mê man.

Từ nơi góc tối mà tôi vừa cuống cuồng chui tọt vào, tôi nghe rõ tiếng bước chân nện trên cầu thang, theo sau là tiếng cửa phòng ngủ mở ra rồi khép lại. Sau đó, trước sự kinh ngạc khôn tả của tôi, một sự im lặng dằng dặc bủa vây, thi thoảng mới bị xé toạc bởi những tiếng thở dốc và rên xiết não nề của người bệnh. Mường tượng trong đầu, tôi thấy rõ hình ảnh vị khách kia đang đứng sừng sững cạnh giường, trân trân nhìn xuống kẻ đang quằn quại trong cơn đau. Rốt cuộc, sự tĩnh lặng dị thường ấy cũng bị phá vỡ.

"Holmes!" ông ta cất giọng gọi. "Holmes!" với âm điệu thúc bách của kẻ đang cố lay người say ngủ. "Anh không nghe tôi nói gì sao, Holmes?" Có tiếng sột soạt vang lên, như thể ông ta đang xốc mạnh bờ vai người bệnh.

"Là ông đó sao, ông Smith?" Holmes thều thào. "Tôi nào dám nuôi hy vọng ông sẽ đoái hoài mà đến đây."

Kẻ kia phá lên cười.

"Tôi cũng đinh ninh vậy," ông ta đáp. "Thế nhưng, anh thấy đấy, tôi vẫn có mặt ở đây. Lấy ân báo oán, Holmes - lấy ân báo oán!"

"Ông thật nhân từ - ông thật cao thượng. Tôi luôn nể trọng vốn kiến thức uyên thâm của ông."

Vị khách của chúng tôi bật cười khẩy.

"Hiển nhiên rồi. May phước thay, anh là kẻ duy nhất ở London này nhận ra điều đó. Anh có biết mình mắc bệnh gì không?"

"Cũng giống như căn bệnh ấy," Holmes nói.

"Ái chà! Anh nhận diện được cả các triệu chứng cơ à?"

"Quá rõ là đằng khác."

"Chà, tôi cũng chẳng lấy làm lạ đâu, Holmes. Tôi sẽ không mảy may ngạc nhiên nếu nó đúng là căn bệnh đó. Nếu sự tình đúng như vậy thì tệ cho anh quá. Victor tội nghiệp đã biến thành một cái xác cứng đơ ngay ngày thứ tư - gã trai trẻ ấy vốn cường tráng và sung mãn là thế cơ mà. Quả thực, đúng như lời anh nói, thật quá sức kinh ngạc khi cậu ta lại mắc phải một thứ bệnh châu Á hiếm gặp ngay giữa lòng London - một căn bệnh, ngẫu nhiên thay, lại là thứ tôi đã dốc công nghiên cứu vô cùng tường tận. Thật là một sự trùng hợp kỳ lạ, Holmes ạ. Anh cực kỳ sắc sảo khi nhìn ra điều đó, nhưng lại nhẫn tâm đến lạ khi vin vào đó để kết nối nguyên nhân và hậu quả."

"Tôi biết tỏng là ông đã nhúng tay vào."

"Ồ, anh biết sao, thật không đấy? Chà, dù gì đi nữa anh cũng bói đâu ra bằng chứng. Nhưng anh thấy sao về chuyện bản thân đi rêu rao những tin đồn quái ác về tôi, để rồi lại phải bò lết đến cầu xin tôi dang tay cứu giúp lúc anh lâm nạn? Trò quỷ gì thế này - hả?"

Tôi nghe tiếng thở khò khè, nhọc nhằn của người bệnh. "Cho tôi xin chút nước!" anh hổn hển cầu xin.

"Anh sắp chầu trời đến nơi rồi, anh bạn ạ, song tôi không muốn anh nhắm mắt xuôi tay trước khi nghe nốt vài lời của tôi. Đó là lý do tôi ban cho anh ngụm nước này. Nào, đừng có làm vương vãi ra chứ! Xong rồi. Anh có hiểu tôi đang nói gì không?"

Holmes rên rỉ.

"Cứu lấy tôi với. Hãy để quá khứ ngủ yên," anh thều thào. "Tôi sẽ gột sạch những lời lẽ đó khỏi tâm trí - tôi thề có trời đất. Xin ông chữa cho tôi, tôi sẽ coi như chưa từng có chuyện gì."

"Quên cái gì cơ?"

"Thì... về cái chết của Victor Savage. Lúc nãy dường như ông đã tự thú nhận mình ra tay còn gì. Tôi sẽ chôn vùi bí mật đó."

"Anh muốn nhớ hay quên thì tùy tâm. Dù sao tôi cũng chẳng có cơ hội diện kiến anh trên bục nhân chứng. Mà là ở trong một cái hòm gỗ đóng kín cơ, Holmes bạn tôi ơi, tôi dám cá với anh đấy. Việc anh nắm thóp bí mật về cái chết của cháu trai tôi chẳng mảy may đe dọa được tôi đâu. Ta sẽ gác chuyện cậu ta sang một bên. Hãy nói về anh đi."

"Phải, phải."

"Cái gã tìm đến tôi - tôi quên béng tên hắn rồi - bảo rằng anh nhiễm thứ mầm bệnh này ở khu East End, từ đám thủy thủ."

"Đó là cách duy nhất tôi có thể lý giải."

"Anh luôn kiêu hãnh về trí tuệ của mình, Holmes, đúng chứ? Đinh ninh mình là kẻ ranh mãnh nhất thiên hạ sao? Lần này anh đụng nhầm phải đá tảng rồi. Giờ thì động não đi, Holmes. Anh không suy tính được nguồn cơn nào khác rước thứ mầm bệnh này vào thân sao?"

"Tôi không tài nào suy nghĩ nổi nữa. Tâm trí tôi như phát điên rồi. Vì Chúa lòng lành, xin ông làm ơn cứu tôi!"

"Được, tôi sẽ toại nguyện cho anh. Tôi sẽ khai sáng cho anh biết tường tận anh đang ở vũng lầy nào và làm cách nào anh lọt thỏm vào đó. Tôi muốn anh được chết nhắm mắt."

"Cho tôi xin liều thuốc gì đó xoa dịu nỗi đau này đi."

"Đau đớn cào xé lắm à? Phải rồi, lũ cu li thường gào thét thảm thiết trước khi trút hơi thở cuối cùng. Chắc nó đang hành hạ anh bằng những cơn chuột rút, tôi mường tượng ra ngay."

"Vâng, vâng; chính là những cơn chuột rút."

"Chà, ít ra anh vẫn dỏng tai nghe tôi nói được. Lắng nghe đây! Anh có nhớ được biến cố lạ thường nào trong đời vào khoảng thời điểm mầm bệnh bắt đầu phát tác không?"

"Không, không; chẳng có gì cả."

"Động não lại đi."

"Tôi quá rệu rã để có thể vắt óc suy nghĩ."

"Chà, vậy thì tôi sẽ mớm lời cho anh. Có bưu kiện nào được gửi đến không?"

"Qua đường bưu điện sao?"

"Tình cờ là một chiếc hộp nào đó chẳng hạn?"

"Tôi lịm đi mất - tôi chết mất!"

"Nghe đây, Holmes!" Lại vang lên âm thanh như thể ông ta đang xóc ngược người đàn ông đang hấp hối lên, và tôi phải cắn răng kiềm chế hết sức bình sinh để giữ mình bất động trong bóng tối. "Anh phải nghe tôi. Anh sẽ nghe tôi. Anh có nhớ một chiếc hộp không - một chiếc hộp ngà voi chạm trổ? Nó được giao đến vào thứ Tư. Anh đã bật nắp nó ra - anh có nhớ không?"

"Có, có, tôi đã mở nó. Bên trong có một chiếc lò xo sắc lẻm. Lại một trò đùa ác ý nào đó-"

"Không phải trò đùa đâu, anh sẽ được nếm mùi trả giá. Đồ ngu ngốc, anh chuốc lấy thì anh phải chịu thôi. Ai mướn anh ngáng đường tôi? Giá như anh ngoảnh mặt làm ngơ thì tôi đã chẳng rớ đến anh."

"Tôi nhớ ra rồi," Holmes thở hắt ra. "Cái lò xo! Nó đâm tứa máu. Chiếc hộp này - chiếc hộp trên bàn này."

"Lạy Chúa, chính nó đây rồi! Và có lẽ nó nên an vị trong túi tôi để rời khỏi căn phòng này. Chút bằng chứng cỏn con cuối cùng của anh sắp bốc hơi rồi. Nhưng giờ thì anh đã tỏ tường chân tướng rồi đấy, Holmes, anh có thể thanh thản nhắm mắt cùng với sự thật rằng chính tay tôi đã kết liễu anh. Anh đã chọc ngoáy quá sâu vào bi kịch của Victor Savage, vậy nên tôi đành tiễn anh đi chung đường với nó. Án tử của anh điểm rồi, Holmes. Tôi sẽ ngự ở đây và chiêm ngưỡng cảnh anh trút hơi tàn."

Giọng của Holmes đã chìm nghỉm thành những tiếng thều thào gần như không thể thấu được.

"Cái gì cơ?" Smith dỏng tai. "Vặn to đèn ga lên sao? À, bóng tối bắt đầu buông rèm rồi phải không? Được, tôi sẽ vặn to lên, để thưởng lãm khuôn mặt anh rõ hơn." Ông ta sải bước ngang qua phòng, và ánh sáng chợt bừng lên rực rỡ. "Tôi có thể ban thêm đặc ân nhỏ nhoi nào cho anh nữa không, anh bạn của tôi?"

"Cho xin một que diêm và một điếu thuốc."

Tôi suýt nữa thì hét lên trong niềm hân hoan và sự sửng sốt tột độ. Anh đang cất tiếng bằng chính chất giọng thật của mình - dẫu có phần yếu ớt, nhưng đích thị là âm sắc quen thuộc mà tôi từng biết. Một sự im lặng kéo dài lê thê bủa vây, và tôi lờ mờ cảm nhận được Culverton Smith đang đứng như trời trồng, trân trân nhìn xuống người bạn đồng hành của mình trong sự sững sờ tột độ.

"Trò mèo này là sao?" Cuối cùng tôi cũng nghe tiếng ông ta cất lên bằng một chất giọng khô khốc, chói tai.

"Bí quyết đỉnh cao nhất để nhập vai thành công là hóa thân trọn vẹn vào nhân vật đó," Holmes từ tốn nói. "Tôi cam đoan với ông rằng suốt ba ngày ròng rã qua tôi chưa hề để một giọt nước hay mẩu thức ăn nào trôi xuống họng, cho đến khi ông rủ lòng thương rót cho tôi ly nước ban nãy. Nhưng thứ vắt kiệt sức lực tôi nhất lại là cơn thèm thuốc. À, ở đây vài điếu thuốc." Tôi nghe tiếng quẹt diêm xé toạc không gian. "Khoan khoái hơn hẳn rồi. Xin chào! xin chào! Tôi nghe nhầm hay đúng là tiếng bước chân của một người quen nhỉ?"

Có tiếng bước chân dồn dập vang lên bên ngoài, cánh cửa xịch mở, và Thanh tra Morton xuất hiện.

"Mọi việc đều suôn sẻ, người của thanh tra đây," Holmes cất lời.

Viên cảnh sát lập tức đọc lời cảnh cáo theo đúng thủ tục thường lệ.

"Tôi bắt giữ anh vì tội mưu sát Victor Savage," ông ta dõng dạc kết luận.

"Và thanh tra có thể bổ sung thêm cả tội danh cố ý giết hại Sherlock Holmes nữa," anh bạn tôi điểm thêm cùng một tràng cười khúc khích. "Để tránh phiền hà cho một kẻ đang ốm liệt giường, Thanh tra ạ, ông Culverton Smith đã có nhã ý thay tôi vặn to ngọn đèn ga để ra hiệu. Nhân tiện, gã tù nhân này có giấu một chiếc hộp nhỏ trong chiếc túi bên phải áo khoác, tốt nhất thanh tra nên thu giữ nó. Cảm ơn thanh tra. Đổi lại là tôi, tôi sẽ hết sức cẩn trọng khi cầm vào món đồ đó. Hãy đặt nó xuống đây. Rất có thể nó sẽ đóng vai trò trọng yếu trong phiên tòa sắp tới đấy."

Đột nhiên có tiếng lao tới dữ dội, kế đó là một màn vật lộn, âm thanh kim loại va vào nhau loảng xoảng xen lẫn những tiếng kêu đau đớn.

"Làm vậy anh chỉ tự chuốc lấy thương tích mà thôi," viên thanh tra gằn giọng. "Có đứng yên không thì bảo?" Sau đó là tiếng lạch cạch lạnh lùng của chiếc còng số tám bập vào cổ tay.

"Một cái bẫy hoàn hảo!" Giọng nói the thé, gầm gừ vang lên. "Trò này sẽ đưa chính anh ra trước vành móng ngựa, Holmes, chứ không phải tôi! Hắn ta đã cầu xin tôi đến đây chữa bệnh. Động lòng trắc ẩn nên tôi mới tới. Giờ thì hẳn là hắn đang dựng lên những lời dối trá, thêu dệt đủ thứ để chống chế cho những nghi ngờ hoang tưởng của mình. Anh cứ việc bịa đặt thỏa thích, Holmes ạ. Lời nói của tôi cũng nặng ký chẳng kém gì lời anh đâu."

"Lạy Chúa!" Holmes thảng thốt kêu lên. "Tôi đã hoàn toàn quên mất anh ấy. Watson thân mến, tôi ngàn lần xin lỗi anh. Thử nghĩ xem, tôi lại có thể bỏ quên anh cơ chứ! Chắc tôi không cần phải giới thiệu anh với ông Culverton Smith nữa, vì tôi hiểu hai người đã có dịp chạm trán nhau hồi chập tối rồi. Thanh tra có chiếc xe ngựa nào chờ sẵn dưới nhà không? Tôi sẽ đi theo thanh tra ngay sau khi thay đồ xong, biết đâu tôi lại giúp ích được đôi chút tại sở cảnh sát.

"Tôi chưa bao giờ khao khát một bữa ăn đến nhường này," Holmes nói trong lúc nhấp một ngụm rượu claret và nhấm nháp vài chiếc bánh quy lót dạ trong lúc nghỉ ngơi thay đồ. "Tuy nhiên, như anh thừa biết đấy, thói quen của tôi vốn rất thất thường, và một chiến công nhịn đói như vậy với tôi chẳng có gì to tát so với đa số mọi người. Điều cốt tử là tôi phải gieo vào tâm trí bà Hudson ấn tượng sâu sắc về tình trạng thực sự của mình, bởi bà ấy sẽ truyền đạt lại cho anh, và rồi chính anh lại là người loan tin cho hắn. Anh không giận tôi chứ, Watson? Chắc anh cũng tự nhận thấy rằng, trong vô số tài năng mà anh sở hữu, sự dối trá không hề có đất diễn. Nếu tôi chia sẻ bí mật này với anh, anh sẽ chẳng bao giờ có thể thuyết phục được Smith về sự khẩn thiết của việc hắn phải có mặt tại đây, mà đó lại là điểm mấu chốt của toàn bộ vở kịch. Nắm rõ bản tính thù dai của hắn, tôi dám chắc mười mươi rằng hắn sẽ đích thân đến để chiêm ngưỡng kiệt tác tàn độc do chính tay mình tạo ra."

"Nhưng còn bộ dạng của anh thì sao, Holmes - khuôn mặt tiều tụy, ghê rợn kia là thế nào?"

"Ba ngày nhịn ăn nhịn uống tuyệt đối đâu thể làm cho nhan sắc con người ta khá lên được, Watson ạ. Về những thứ còn lại, chẳng có gì mà một miếng bọt biển không thể gột sạch. Chỉ cần một chút mỡ vaseline bôi trên trán, vài giọt dung dịch belladonna8 nhỏ vào mắt, chút phấn hồng đánh lên gò má và vảy sáp ong đắp quanh môi, ta đã có thể tạo ra một màn trình diễn thị giác vô cùng mãn nhãn. Giả bệnh là một nghệ thuật mà đôi khi tôi còn nung nấu ý định viết hẳn một cuốn chuyên khảo về nó cơ đấy. Thêm vài lời lảm nhảm vô nghĩa về những đồng nửa crown, về hàu, hay bất kỳ chủ đề ngẫu nhiên nào khác sẽ mang đến một hiệu ứng mê sảng tuyệt mỹ."

"Nhưng tại sao anh lại không cho tôi lại gần, khi rõ ràng chẳng hề có sự lây nhiễm nào?"

"Anh còn phải hỏi câu đó sao, Watson thân mến của tôi? Anh nghĩ tôi không tôn trọng y thuật của anh ư? Làm sao tôi có thể hy vọng rằng sự phán đoán sắc sảo của một bác sĩ như anh lại bỏ qua việc một kẻ đang hấp hối, dù có suy kiệt đến đâu, cũng không hề có biểu hiện tăng nhịp tim hay nhiệt độ cơ thể? Ở khoảng cách bốn thước, tôi thừa sức qua mặt anh. Nhưng nếu tôi không làm vậy, thì ai sẽ là người đưa con mồi Smith vào tận trong tầm tay tôi? Không, Watson, tôi sẽ không dại gì mà chạm vào chiếc hộp đó đâu. Anh có thể quan sát thấy, nếu nhìn từ một bên, một chiếc lò xo sắc lẹm như nanh nọc rắn lục sẽ bật ra mỗi khi nắp hộp được mở. Tôi dám chắc rằng cậu Savage tội nghiệp, vật cản duy nhất giữa con quái vật này và khối tài sản thừa kế, đã mất mạng bởi một thứ vũ khí tàn độc tương tự. Dẫu sao thì, thư từ gửi đến cho tôi, như anh biết đấy, rất phức tạp và khó lường, nên tôi luôn phải đề cao cảnh giác với bất kỳ bưu kiện nào. Dù vậy, tôi đã nhanh chóng nhận ra rằng, chỉ cần vờ như hắn đã thực sự thành công với âm mưu của mình, tôi sẽ moi được một lời thú tội ngoài mong đợi. Tôi đã dàn dựng và vào vai với sự tinh tế của một nghệ sĩ thực thụ. Cảm ơn anh, Watson, phiền anh giúp tôi mặc chiếc áo khoác này vào. Ngay khi giải quyết êm xuôi mọi thủ tục ở sở cảnh sát, tôi nghĩ một bữa tối thịnh soạn tại nhà hàng Simpson's9 sẽ là một phần thưởng hoàn toàn xứng đáng."



  1. Rotherhithe là một khu vực nằm trên bán đảo thuộc bờ nam sông Thames, London. Vào cuối thế kỷ 19, đây là một khu bến tàu sầm uất với nhiều thủy thủ và người lao động nghèo, tạo bối cảnh hợp lý cho các mầm bệnh truyền nhiễm từ tàu viễn dương. 

  2. Sumatra là một hòn đảo lớn thuộc Indonesia, thời kỳ đó là thuộc địa của Hà Lan (Đông Ấn Hà Lan). "Cu li" (coolie) là thuật ngữ lịch sử chỉ những người lao động chân tay từ châu Á, thường làm việc trong điều kiện tồi tàn, dễ lây lan dịch bệnh. 

  3. "Sốt Tapanuli" là một căn bệnh hư cấu do Arthur Conan Doyle tự sáng tạo ra. Tapanuli thực chất là tên một khu vực ở vùng Bắc Sumatra (Indonesia). 

  4. Căn bệnh hư cấu do tác giả sáng tạo để tăng tính kịch tính. "Formosa" là tên gọi lịch sử của đảo Đài Loan, từng là một trạm giao thương quan trọng, gợi lên bầu không khí huyền bí phương Đông. 

  5. Đồng nửa crown (half-crown) là một đơn vị tiền tệ cũ của Anh Quốc, trị giá bằng 2 shilling và 6 pence (tương đương 1/8 bảng Anh) trước khi hệ thống tiền tệ được thập phân hóa. 

  6. Notting Hill và Kensington là những khu dân cư sầm uất và thượng lưu ở phía tây London. Việc Culverton Smith sống ở đây cho thấy ông ta có sự giàu có và địa vị xã hội cao, đối lập hoàn toàn với khu bến tàu East End. 

  7. East End của London thế kỷ 19 nổi tiếng là khu vực tập trung dân nhập cư, đặc biệt là người Trung Quốc, với các khu ổ chuột và bến tàu tồi tàn. Nơi đây thường bị coi là nguồn gốc lây lan của các loại dịch bệnh ngoại lai. 

  8. Belladonna là chiết xuất từ cây cà độc dược, từng được sử dụng trong y học và thẩm mỹ để làm giãn đồng tử, khiến đôi mắt trông to và sáng rực lên - ở đây Holmes dùng để giả triệu chứng của cơn sốt mê sảng. 

  9. Simpson's-in-the-Strand là một trong những nhà hàng lâu đời và danh tiếng bậc nhất London, mở cửa từ năm 1828. Nơi đây nổi tiếng với các món thịt nướng truyền thống Anh và là địa điểm dùng bữa yêu thích của Sherlock Holmes.