Vụ án Bàn chân ma quỷ

Đôi khi, lật giở lại những trang ghi chép về những trải nghiệm kỳ lạ và bao hồi ức thú vị gắn liền với tình bạn lâu năm mật thiết giữa tôi và Sherlock Holmes, tôi không khỏi đau đầu trước một trở ngại lớn: anh vô cùng chán ghét sự chú ý. Đối với một tâm hồn có phần u ám và cay độc như anh, mọi lời tung hô của công chúng chẳng khác nào một sự phiền toái đáng ghét. Khi một vụ án khép lại thành công, chẳng gì khiến anh đắc ý hơn việc nhường lại toàn bộ vinh quang cho một viên chức cảnh sát chính quy nào đó, để rồi nhếch mép cười nhạo khi đám đông hùa nhau chúc tụng nhầm người. Quả thực, chính cái thái độ kỳ quặc ấy của anh bạn tôi - chứ hoàn toàn không phải do thiếu đi những tư liệu ly kỳ - đã buộc tôi phải dè dặt, công bố rất ít ghi chép trong những năm gần đây. Được đồng hành cùng anh trong những cuộc phiêu lưu luôn là một đặc ân lớn, nhưng đi kèm với nó là yêu cầu khắt khe: tôi phải tuyệt đối kín kẽ và giữ im lặng.

Bởi thế, tôi đã vô cùng kinh ngạc khi nhận được một bức điện tín từ Holmes vào thứ Ba tuần trước - xưa nay anh chẳng bao giờ động bút viết thư nếu một bức điện có thể giải quyết xong xuôi - với nội dung vắn tắt: "Sao không kể cho họ nghe về nỗi kinh hoàng ở Cornwall - vụ án kỳ lạ nhất mà tôi từng giải quyết." Tôi chẳng rõ mạch ký ức nào đã đánh thức chuyện này trong tâm trí anh, hay một ý nghĩ bốc đồng nào đã xui khiến anh giục tôi chắp bút; nhưng tôi vẫn vội vã lục tìm xấp ghi chép lưu giữ những chi tiết chính xác của vụ án, hòng sớm gửi câu chuyện này đến tay độc giả trước khi anh đổi ý và gửi một bức điện khác để hủy bỏ.

Mùa xuân năm 1897, thể trạng tưởng chừng sắt đá của Holmes bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu suy sụp sau chuỗi ngày làm việc căng thẳng và vô cùng khắc nghiệt, có lẽ còn trầm trọng hơn bởi thói quen sinh hoạt bất cần của anh. Vào tháng Ba năm ấy, bác sĩ Moore Agar ở phố Harley1 - người mà sau này nếu có dịp, tôi sẽ kể lại cuộc gặp gỡ đầy kịch tính với Holmes - đã ban bố một mệnh lệnh đanh thép: vị thám tử lừng danh phải gác lại mọi vụ án để nghỉ ngơi tuyệt đối, nếu không muốn bị vắt kiệt đến mức sụp đổ hoàn toàn. Bản thân Holmes chẳng mấy bận tâm đến sức khỏe, bởi tâm trí anh dường như đã tách rời khỏi thể xác, nhưng cuối cùng, trước lời đe dọa sẽ vĩnh viễn mất đi khả năng phá án, anh đành nhượng bộ và chịu thay đổi không khí, tìm một vùng đất mới để tĩnh dưỡng. Đó là lý do vì sao, vào đầu tiết xuân rực rỡ năm đó, hai chúng tôi lại cùng nhau nương náu trong một ngôi nhà nhỏ nhắn nằm rảo bước đến vịnh Poldhu, tận cùng bán đảo Cornwall.

Nơi đây toát lên vẻ kỳ lạ, đặc biệt ăn khớp với khiếu thẩm mỹ u ám của vị bệnh nhân đang đi cùng tôi. Từ khung cửa sổ của ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng, ngự trên đỉnh một mũi đất phủ đầy cỏ hoang, chúng tôi có thể thu vào tầm mắt toàn bộ hình bán nguyệt đầy vẻ hiểm ác của vịnh Mounts. Đó là một cái bẫy tử thần chết chóc, rình rập những con tàu buồm bằng rìa vách đá đen ngòm và những rạn san hô bị sóng vỗ tơi bời, nơi vô số thủy thủ đã phải gởi mình dưới đáy đại dương. Khi đón những cơn gió bắc dội về, vùng vịnh lại nép mình yên ả, tĩnh lặng như một lời mời gọi những con tàu bị bão vùi dập tiến vào tìm chốn trú thân.

Thế rồi những cơn gió xoáy bất thần đổi hướng, kéo theo những trận cuồng phong dữ dội từ hướng tây nam; những chiếc mỏ neo bị kéo lê xềnh xệch, bờ biển khuất gió bỗng hóa thành tử địa, và trận chiến cuối cùng nổ ra giữa bầy sóng bạc đầu. Giới thủy thủ lão luyện luôn dặn nhau tránh xa vùng biển ác nghiệt này.

Nhìn về phía đất liền, khung cảnh quanh chúng tôi cũng thê lương chẳng kém gì ngoài biển khơi. Đó là một vùng nông thôn hoang vu, trải dài những triền đồi trập trùng, hiu quạnh phủ một sắc xám nâu ảm đạm, điểm xuyết thưa thớt bằng ngọn tháp nhà thờ mốc meo, dấu hiệu hiếm hoi của những ngôi làng cổ. Nằm rải rác khắp vùng hoang dã này là tàn tích của một chủng tộc bí ẩn đã hoàn toàn biến mất, để lại nhân gian duy nhất những cột đá kỳ dị, những gò đất gồ ghề chôn cất tro cốt người chết, và những dấu tích công sự đắp bằng đất sét gợi nhớ về những cuộc xung đột khốc liệt thời tiền sử. Vẻ quyến rũ nhuốm màu bí ẩn, hòa quyện cùng bầu không khí quỷ dị của những quốc gia đã chìm vào quên lãng, lập tức mê hoặc trí tưởng tượng của anh bạn tôi. Anh dành hàng giờ liền để đi bộ dọc những dải đất hoang dã và tĩnh tọa suy tư. Ngôn ngữ Cornwall cổ đại cũng lọt vào mắt xanh của anh; tôi nhớ anh từng đưa ra một giả thuyết rằng thứ ngôn ngữ này có họ hàng với tiếng Chaldean, với gốc rễ bắt nguồn từ những thương nhân buôn thiếc người Phoenicia. Anh vừa nhận được một bưu kiện lớn chứa toàn sách ngữ văn và đang rục rịch đắm chìm vào công cuộc chứng minh luận điểm này thì đột nhiên - thật đáng buồn cho tôi nhưng lại là niềm vui khôn tả của anh - ngay tại vùng đất của những giấc mơ này, chúng tôi bị cuốn vào một vụ việc kỳ bí xảy đến ngay trước cửa nhà. Một vấn đề dữ dội, lôi cuốn và kỳ quái hơn bất cứ vụ án nào từng kéo chúng tôi rời khỏi London. Cuộc sống tĩnh lặng và thói quen sinh hoạt lành mạnh của hai chúng tôi phút chốc vỡ vụn. Chúng tôi bị ném thẳng vào tâm bão của những chuỗi sự kiện gây chấn động không chỉ riêng vùng Cornwall mà còn lan rộng ra khắp miền tây nước Anh. Nhiều độc giả có lẽ vẫn còn nhớ đến cái tên "Nỗi kinh hoàng ở Cornwall" từng gây xôn xao dư luận thời bấy giờ, dù rằng những thông tin lọt đến tay báo giới London chỉ là những lời tường thuật chắp vá. Giờ đây, sau mười ba năm đằng đẵng, tôi quyết định công bố những chi tiết chân thực nhất về câu chuyện không tưởng này.

Tôi đã nhắc đến những ngọn tháp nhấp nhô, dấu hiệu định vị của những ngôi làng nằm rải rác khắp vùng Cornwall này. Ấp Tredannick Wollas là ngôi làng gần chúng tôi nhất, nơi chừng vài trăm người dân sống chen chúc trong những căn nhà tranh quây quần quanh một nhà thờ cổ rêu phong. Vị linh mục giáo xứ, ông Roundhay, mang phong thái của một nhà khảo cổ học, và chính nhờ điểm chung này mà Holmes đã kết thân với ông. Ông là một người đàn ông trung niên bệ vệ, tính tình hồ hởi và sở hữu một vốn hiểu biết đồ sộ về vùng đất này. Nhận lời mời của ông, chúng tôi từng đến uống trà tại nhà xứ và có dịp làm quen với ông Mortimer Tregennis, một quý ông độc lập. Người này thuê trọ tại căn nhà rộng lớn, trống trải của vị linh mục, giúp ông có thêm một khoản thu nhập khiêm tốn. Vốn sống độc thân, ngài linh mục tỏ ra vô cùng mãn nguyện với sự sắp xếp này, dẫu cho hai người chẳng có mấy điểm chung. Ông Tregennis là một gã đàn ông gầy guộc, da ngăm đen, đeo kính, với dáng đi lom khom đến mức khiến người ta cứ ngỡ ông mang một dị tật bẩm sinh nào đó. Tôi nhớ trong lần ghé thăm ngắn ngủi ấy, nếu như vị linh mục là một người vô cùng hoạt ngôn, thì người khách trọ của ông lại kín tiếng đến lạ thường. Đó là một người đàn ông mang khuôn mặt sầu não, sống thu mình, thường hay ngồi lặng lẽ với ánh mắt lảng tránh, tựa hồ đang chìm đắm trong những góc khuất của riêng mình.

Đó chính là hai người đàn ông đã hớt hải xông vào phòng khách nhỏ bé của chúng tôi vào sáng thứ Ba, ngày 16 tháng Ba. Khi ấy, chúng tôi vừa dùng xong bữa sáng và đang nhẩn nha hút thuốc, rục rịch chuẩn bị cho chuyến tản bộ thường nhật trên vùng đất hoang.

"Ông Holmes," vị linh mục mở lời, giọng run rẩy vì kích động, "một sự việc chấn động và bi thảm tột cùng đã xảy ra ngay trong đêm qua. Thật vô tiền khoáng hậu. Chúng tôi chỉ có thể xem sự hiện diện tình cờ của ngài tại đây như một sự an bài đặc biệt của Chúa, bởi trên khắp nước Anh này, ngài là người duy nhất chúng tôi cần đến lúc này."

Tôi lườm vị linh mục bằng ánh mắt chẳng mấy thiện cảm vì sự đường đột của ông; nhưng Holmes lại từ từ rút tẩu thuốc khỏi môi, lưng ngồi thẳng tắp trên ghế, đôi mắt sáng bừng lên như một con chó săn lão luyện vừa đánh hơi thấy tiếng tù và báo hiệu cuộc đi săn cáo. Anh khẽ vẫy tay hướng về chiếc ghế sofa, và vị khách đang bồn chồn cùng người bạn đồng hành đầy kích động của ông lập tức ngồi phịch xuống kề vai nhau. Ông Mortimer Tregennis dường như vẫn giữ được đôi chút bình tĩnh so với vị linh mục, nhưng đôi bàn tay gầy guộc cứ run lên bần bật cùng ánh mắt đen láy dại đi đã bán đứng nỗi sợ hãi tột độ đang dâng trào trong ông.

"Ngài kể hay để tôi kể?" ông ta quay sang hỏi vị linh mục.

"Chà, vì ông có vẻ là người đã phát hiện ra sự vụ đó, bất kể nó là gì, còn ngài linh mục đây chỉ nghe qua lời thuật lại của người thứ hai, có lẽ ông nên là người kể," Holmes điềm nhiên đáp.

Tôi liếc nhìn ngài mục sư trong bộ quần áo xộc xệch vội vã, rồi lại nhìn sang người khách trọ ăn vận tươm tất ngồi cạnh, không khỏi bật cười thích thú trước vẻ mặt sững sờ của họ trước tài suy luận sắc bén mà tự nhiên như hơi thở của Holmes.

"Có lẽ tôi nên xin phép được mạn đàm vài lời trước," vị linh mục lên tiếng, "sau đó ngài sẽ tự quyết định xem nên lắng nghe thêm chi tiết từ ông Tregennis, hay chúng ta phải lập tức tức tốc đến ngay hiện trường của vụ án kỳ quái này. Thưa ngài, người bạn đây của chúng ta đã dành trọn buổi tối hôm qua cùng hai người anh trai, Owen và George, cùng cô em gái Brenda tại dinh thự gia đình ở Tredannick Wartha, gần khu vực có cây thánh giá đá cổ trên vùng đất hoang. Ông ấy cáo từ ra về lúc hơn mười giờ, khi mọi người vẫn đang say sưa chơi bài quanh bàn ăn với tinh thần và sức khỏe vô cùng rạng rỡ. Sáng nay, vốn là người có thói quen dậy sớm, ông ấy đã đi dạo về hướng ngôi nhà trước giờ điểm tâm, thì tình cờ bị cỗ xe ngựa của Bác sĩ Richards chạy cùng chiều đuổi kịp. Vị bác sĩ cho hay ông vừa nhận được lời triệu gọi khẩn cấp đến Tredannick Wartha. Lẽ dĩ nhiên, ông Mortimer Tregennis đã lên xe đi cùng. Nhưng khi đặt chân tới nơi, ông ấy phải chứng kiến một thảm cảnh kinh hoàng. Hai người anh trai và cô em gái vẫn ngồi quanh chiếc bàn ăn y hệt lúc ông ấy rời đi, những quân bài lật dở vẫn nằm la liệt trước mặt, còn những ngọn nến thì đã cháy rụi trơ tận gốc. Cô em gái ngửa đầu ra sau, chết cứng trên ghế. Hai người anh ngồi hai bên thì cười rú lên, gào thét và ca hát ầm ĩ; tâm trí họ đã hoàn toàn điên loạn. Cả ba người bọn họ - từ người phụ nữ đã tắt thở cho đến hai gã đàn ông mất trí - đều in hằn trên khuôn mặt một biểu cảm kinh hãi tột cùng. Một sự co rúm đáng sợ vì hoảng loạn mà không ai dám nhìn thẳng. Hoàn toàn không có bất kỳ dấu vết nào cho thấy sự hiện diện của kẻ lạ trong nhà, ngoại trừ bà Porter - người đầu bếp kiêm quản gia già - nhưng bà khăng khăng rằng mình đã ngủ say như chết và chẳng nghe thấy tiếng động nào trong đêm. Đồ đạc không hề suy suyển hay mất mát. Chẳng có bất cứ lời giải thích hợp lý nào cho một thế lực kinh hoàng có khả năng dọa một người phụ nữ sợ đến chết khiếp và khiến hai gã đàn ông khỏe mạnh hóa điên. Toàn bộ sự tình là như vậy, thưa ngài Holmes. Nếu ngài có thể giúp chúng tôi vén bức màn bí ẩn này, đó quả thực là một ân huệ lớn lao."

Tôi vẫn nuôi hy vọng mong manh rằng mình có thể khuyên nhủ anh bạn mình quay về với sự tĩnh lặng, mục đích tiên quyết của chuyến đi này; nhưng chỉ cần một cái liếc nhìn qua khuôn mặt căng cứng và đôi lông mày đang cau chặt của anh, tôi thừa hiểu mọi kỳ vọng lúc này chỉ là công dã tràng. Anh ngồi bất động một hồi lâu, hoàn toàn chìm đắm vào màn kịch ma quái vừa thô bạo xé toạc sự bình yên của hai chúng tôi. "Tôi sẽ nhận vụ này," cuối cùng anh cất lời. "Nhìn bề ngoài, có vẻ đây là một vụ án mang bản chất vô cùng đặc biệt. Đích thân ông đã đến đó chưa, ông Roundhay?"

"Chưa, ngài Holmes. Ông Tregennis mang tin dữ chạy thẳng về nhà xứ, và tôi lập tức giục ông ấy tức tốc tới đây để thỉnh cầu sự giúp đỡ của ngài."

"Khoảng cách từ đây đến ngôi nhà xảy ra bi kịch ấy là bao xa?"

"Khoảng chừng một dặm hướng vào sâu trong đất liền."

"Vậy thì chúng ta sẽ cùng nhau cuốc bộ sang đó. Nhưng trước khi xuất phát, tôi cần phải hỏi ông vài câu, ông Mortimer Tregennis."

Nãy giờ người đàn ông kia vẫn nín thinh, nhưng tôi tinh ý nhận ra rằng sự hoảng loạn cố kìm nén trong ông ta thậm chí còn mãnh liệt hơn cả những cảm xúc bộc phát của vị linh mục. Ông ta ngồi đó, khuôn mặt tái mét, hốc hác, ánh mắt đầy lo âu dán chặt vào Holmes, còn đôi bàn tay gầy guộc thì cứ đan chặt vào nhau đầy co giật. Đôi môi trắng bệch của ông ta run lên lẩy bẩy khi nghe nhắc lại thảm kịch kinh hoàng vừa giáng xuống gia đình mình, và nơi đáy mắt đen thẳm kia tựa hồ vẫn còn in bóng nỗi khiếp đảm nơi hiện trường.

"Ngài cứ hỏi bất cứ điều gì ngài muốn, ngài Holmes," ông ta vồn vã đáp lại. "Việc kể lại chuyện này quả là một sự đọa đày, nhưng tôi sẽ thành thật trả lời ngài."

"Hãy kể cho tôi nghe về buổi tối hôm qua."

"Chà, ngài Holmes, như vị linh mục đã trình bày, tôi đã dùng bữa tối ở đó. Sau bữa ăn, anh trai tôi là George đề nghị đánh một ván bài whist2. Chúng tôi ngồi vào bàn lúc chừng chín giờ. Đến mười giờ mười lăm thì tôi ra về. Khi ấy, họ vẫn đang quây quần quanh bàn ăn, vô cùng vui vẻ và thoải mái."

"Ai là người đã tiễn ông ra cửa?"

"Bà Porter đã đi ngủ, nên tôi tự mình đi ra ngoài. Tôi cẩn thận đóng cửa sảnh sau lưng. Cửa sổ của căn phòng nơi họ ngồi bấy giờ đã khép kín, nhưng rèm chưa buông. Sáng nay, khi quay lại, tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu cạy phá nào ở cửa ra vào hay cửa sổ, cũng chẳng có lý do gì để nghi ngờ có kẻ lạ đột nhập. Thế nhưng, họ lại ngồi đó, hoàn toàn hóa điên vì kinh hãi, còn Brenda thì đã tắt thở vì quá sợ, đầu gục hẳn sang một bên tay vịn ghế. Hình ảnh ghê rợn trong căn phòng đó có lẽ sẽ bám riết lấy tâm trí tôi cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay."

"Những diễn biến mà ông vừa thuật lại quả thực rất đáng lưu tâm," Holmes trầm ngâm. "Tôi cho rằng bản thân ông chưa có bất kỳ giả thuyết nào khả dĩ để lý giải những chuyện này?"

"Là bàn tay của quỷ dữ, ngài Holmes, ma quỷ!" Mortimer Tregennis gào lên. "Nó không thuộc về cõi trần này. Một thứ gì đó đã xâm nhập vào căn phòng kia, nhẫn tâm dập tắt đi ngọn đèn lý trí trong tâm trí họ. Làm sao có một mưu hèn kế bẩn nào của con người lại có thể tàn độc đến thế?"

"Tôi e rằng," Holmes điềm đạm ngắt lời, "nếu vấn đề này đã vượt quá giới hạn của con người, thì nó chắc chắn cũng nằm ngoài tầm tay của tôi. Dẫu vậy, chúng ta phải lật tung mọi khả năng thực tế để tìm ra lời giải thích tự nhiên, trước khi nghĩ đến những giả thuyết siêu nhiên như ông vừa nói. Quay trở lại phần ông, ông Tregennis, tôi thấy dường như giữa ông và gia đình có một sự chia cắt nhất định, bởi họ thì sống chung với nhau, còn ông lại dọn ra ở riêng?"

"Ngài nói đúng, ngài Holmes, dù rằng mọi xích mích đã lùi vào dĩ vãng. Chúng tôi vốn là một gia đình theo nghiệp khai thác thiếc ở Redruth. Sau đó, chúng tôi bán toàn bộ cổ phần cho một công ty và quyết định nghỉ hưu với một khoản tiền dư dả đủ sống. Tôi không phủ nhận rằng từng có chút bằng mặt không bằng lòng xoay quanh việc phân chia gia sản, khiến anh em chúng tôi nảy sinh khoảng cách trong một thời gian. Nhưng rồi mọi mâu thuẫn cũng được xí xóa, và giờ đây chúng tôi lại gắn bó như những người bạn tâm giao."

"Ngẫm lại buổi tối quây quần vừa qua, liệu ông có nhớ ra chi tiết nào đáng chú ý, dù chỉ là một tia sáng nhỏ manh nha soi rọi bi kịch này không? Hãy vắt óc suy nghĩ thật cẩn thận, ông Tregennis, bởi bất kỳ manh mối nhỏ nhặt nào cũng sẽ giúp ích cho tôi."

"Hoàn toàn không có gì cả, thưa ngài."

"Gia đình ông vẫn giữ trạng thái tinh thần tốt chứ?"

"Chưa bao giờ tốt hơn."

"Liệu họ có phải là những người hay lo âu, hay đã từng bộc lộ sự sợ hãi trước một mối hiểm họa nào đang chực chờ không?"

"Tôi chưa từng thấy họ như vậy."

"Vậy là ông không còn điều gì muốn bổ sung để giúp tôi phá án nữa sao?"

Mortimer Tregennis đăm chiêu suy nghĩ trong giây lát.

"Có một chuyện đã xảy ra, thưa ngài," cuối cùng ông ta cất lời. "Lúc ngồi vào bàn, tôi đưa lưng về phía cửa sổ, còn anh trai George - đồng thời là bạn chơi bài chung bệ với tôi - thì ngồi đối diện. Có một lúc, tôi vô tình bắt gặp ánh mắt anh ấy đang nhìn đăm đăm qua vai mình, thế nên tôi cũng hiếu kỳ quay lại nhìn theo. Rèm chưa buông, cửa sổ thì đóng kín, tôi lờ mờ nhìn thấy những bụi rậm ngoài bãi cỏ, và trong chớp mắt, dường như có một bóng đen vụt qua nơi đó. Tôi chẳng thể phân định đó là người hay thú, chỉ loáng thoáng nhận ra có sự hiện diện của một thứ gì đó ngoài kia. Khi tôi quay sang hỏi anh ấy vừa nhìn thấy gì, anh ấy cũng đáp rằng mình có chung cảm giác bất an y như vậy. Đó là tất cả những gì tôi có thể cung cấp."

"Vậy ông không tiến hành kiểm tra xung quanh sao?"

"Không. Tôi bỏ qua vì nghĩ đó chỉ là chuyện vặt vãnh."

"Tức là ông đã rời đi, để họ lại một mình mà chẳng hề mảy may linh cảm về sự hiện diện của cái ác sao?"

"Hoàn toàn không."

"Nhưng tôi vẫn thắc mắc, làm thế nào ông lại hay tin dữ sớm đến vậy trong sáng nay?"

"Bẩm ngài, tôi vốn có thói quen dậy sớm và thường hay tản bộ trước bữa sáng. Sáng nay, tôi vừa rời gót khỏi nhà thì cỗ xe ngựa của vị bác sĩ nọ tình cờ đuổi kịp. Ông ấy bảo rằng bà lão Porter đã sai một cậu nhóc đem theo tờ giấy nhắn khẩn cấp xuống gọi ông ấy lên. Nghe vậy, tôi vội vã nhảy tót lên ghế phụ và chúng tôi cùng nhau đánh xe đi tiếp. Mở cửa bước vào, đập vào mắt chúng tôi là khung cảnh rùng rợn trong căn phòng đó. Nến và lửa sưởi chắc hẳn đã lụi tàn từ nhiều giờ trước, và ba người họ cứ thế ngồi thâu đêm trong bóng tối cho tới lúc bình minh hé rạng. Vị bác sĩ chẩn đoán Brenda đã tử vong ít nhất sáu giờ trước. Không hề có bất cứ dấu hiệu xô xát hay bạo lực nào. Cô ấy cứ thế gục người qua thành ghế với khuôn mặt đông cứng vì hoảng loạn. Còn George và Owen thì cứ rống lên những đoạn bài hát cụt lủn và lẩm bẩm những âm thanh vô nghĩa y như hai con vượn khổng lồ. Ôi Chúa ơi, cảnh tượng ấy kinh tởm làm sao! Tôi không tài nào chịu đựng nổi, còn vị bác sĩ thì mặt cắt không còn một giọt máu. Thậm chí ông ấy đã quỵ ngã xuống ghế, bất tỉnh nhân sự đến nơi, hại chúng tôi suýt chút nữa phải xúm vào sơ cứu cho cả ông ấy."

"Thật đáng lưu tâm - quả là rất đáng lưu tâm!" Holmes cảm thán, đứng phắt dậy và với lấy chiếc mũ. "Tôi nghĩ, tốt hơn hết, chúng ta nên tức tốc đến ngay Tredannick Wartha mà không được chậm trễ thêm một giây phút nào nữa. Phải thú thực rằng, tôi hiếm khi đụng độ một vụ án nào mà ngay từ ánh nhìn đầu tiên, đã phơi bày một bài toán kỳ quái đến nhường này."

Những nỗ lực điều tra trong buổi sáng đầu tiên chẳng đem lại mấy bước tiến khả quan. Thế nhưng, nó lại mở màn bằng một sự việc hằn sâu vào tâm trí tôi một ấn tượng đầy gở ác. Con đường nông thôn dẫn đến hiện trường bi kịch vốn nhỏ hẹp và quanh co. Khi chúng tôi đang rảo bước, tiếng lạch cạch của một cỗ xe ngựa từ xa vọng lại, buộc cả hai phải đứng nép sang một bên nhường đường. Cỗ xe lướt qua. Xuyên qua ô cửa kính đóng kín mít, tôi chợt rùng mình khi bắt gặp một khuôn mặt rúm ró, méo xệch với nụ cười nhăn nhở đang trừng trừng nhìn thẳng vào chúng tôi. Đôi mắt trợn ngược, thao láo cùng hàm răng nghiến chặt ấy xẹt qua tâm trí tôi như một cơn ác mộng kinh hoàng.

"Các anh trai tôi!" Mortimer Tregennis thảng thốt kêu lên, gương mặt nhợt nhạt, không còn lấy một giọt máu. "Họ đang bị đưa đến Helston."

Chúng tôi sững sờ, ánh mắt đầy kinh hãi bám theo cỗ xe đen ngòm đang ầm ầm lao đi. Chốc lát sau, cả nhóm lại hướng bước chân về phía ngôi nhà mang đầy điềm gở, nơi những nạn nhân đáng thương đã hứng chịu một số phận vô cùng kỳ dị.

Căn nhà hiện ra khá lớn và ngập tràn ánh sáng, mang dáng dấp của một căn biệt thự hơn là một chốn thôn dã mộc mạc. Bao quanh nhà là một khu vườn thênh thang, đang bừng nở những khóm hoa xuân rực rỡ dưới tiết trời đặc trưng của vùng Cornwall. Cửa sổ phòng khách mở ra đúng hướng khu vườn này. Theo như lời Mortimer Tregennis, chắc chắn từ chính hướng ấy, thứ ác quỷ nọ đã xuất hiện và chỉ bằng một khoảnh khắc kinh hoàng tột độ, nó đã giáng đòn chí mạng, hủy hoại hoàn toàn tâm trí họ. Holmes chậm rãi rảo bước, vẻ mặt đầy tư lự giữa những luống hoa và dọc theo lối đi trước khi tiến vào cổng vòm. Tôi còn nhớ, anh mải miết chìm trong suy tưởng đến mức vấp phải chiếc bình tưới nước, làm đổ tràn cả nước ra ngoài, ướt sũng giày của cả hai và lênh láng khắp lối đi trong vườn. Bên trong nhà, đón tiếp chúng tôi là bà quản gia luống tuổi người Cornwall, bà Porter. Cùng với một cô hầu gái trẻ, bà đảm đương mọi sinh hoạt thường nhật của gia đình. Bà sẵn lòng giải đáp mọi thắc mắc của Holmes. Suốt đêm qua bà chẳng nghe thấy động tĩnh gì. Gần đây, tâm trạng của những người chủ luôn rất phấn chấn, bà chưa bao giờ thấy họ vui vẻ và hưng thịnh đến vậy. Sáng nay, khi vừa bước vào phòng và chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng của những con người quanh bàn, bà đã ngất lịm đi vì quá sợ hãi. Lúc tỉnh lại, bà vội vã mở toang cửa sổ để đón không khí ban mai tràn vào, rồi cuống cuồng chạy xuống ngõ, sai một cậu bé làm nông đi gọi bác sĩ. Thi thể của tiểu thư vẫn đang nằm trên giường ở tầng trên nếu chúng tôi muốn xem qua. Phải cần đến sức vóc của bốn người đàn ông khỏe mạnh mới có thể đưa hai người anh em trai lên cỗ xe của trại thương điên. Phần bà, bà kiên quyết sẽ không nán lại ngôi nhà này thêm một ngày nào nữa; ngay chiều nay, bà sẽ lên đường để đoàn tụ với gia đình ở St. Ives.

Chúng tôi rảo bước lên cầu thang để xem xét thi thể. Brenda Tregennis ắt hẳn từng là một thiếu nữ kiều diễm, dẫu nay cô đã ngấp nghé độ tuổi trung niên. Dù sinh mệnh đã tàn phai, những đường nét thanh tú, sắc sảo trên khuôn mặt cô vẫn phảng phất vẻ đẹp thủa nào, nhưng đáng buồn thay, nó lại in hằn những vết hằn co rúm của sự khiếp đảm tột cùng - cảm xúc cuối cùng mà cô phải gánh chịu. Từ phòng ngủ của nạn nhân, chúng tôi bước xuống phòng khách, hiện trường thực sự của tấn bi kịch dị thường này. Đám tro tàn đen ngòm của ngọn lửa sưởi đêm qua vẫn còn nằm lại trong lò. Trên bàn, bốn ngọn nến đã cháy trụi chỉ còn trơ lại sáp tàn, xen lẫn những quân bài vung vãi rải rác. Vài chiếc ghế đã được đẩy lùi sát vào tường, nhưng mọi thứ khác dường như vẫn vẹn nguyên như đêm trước. Holmes dùng những bước chân nhẹ nhàng và thoăn thoắt để đi quanh căn phòng; anh lần lượt ngồi thử vào từng chiếc ghế, kéo chúng lên và phác họa lại vị trí ban đầu. Anh cẩn thận đánh giá xem từ những vị trí ấy có thể quan sát được bao nhiêu phần khu vườn; anh săm soi sàn nhà, trần nhà, rồi đến chiếc lò sưởi. Thế nhưng, tuyệt nhiên tôi chưa bắt gặp tia sáng lóe lên rạng rỡ trong đôi mắt anh, hay cái mím môi đầy hàm ý - những dấu hiệu quen thuộc luôn báo cho tôi biết anh vừa tìm thấy một manh mối thắp sáng bóng tối mịt mù này.

"Tại sao lại phải nhóm lửa?" có lúc anh buột miệng hỏi. "Vào một đêm mùa xuân, họ vẫn thường đốt lò sưởi trong căn phòng nhỏ nhắn này sao?"

Mortimer Tregennis giải thích rằng đêm hôm đó trời vừa lạnh lại vừa ẩm ướt. Chính vì lẽ đó, ngay sau khi ông đặt chân đến đây, ngọn lửa đã được nhen lên. "Bây giờ ngài định tiến hành ra sao, ngài Holmes?" ông lên tiếng hỏi.

Bạn tôi khẽ mỉm cười, đặt tay lên cánh tay tôi. "Tôi cho rằng, Watson, tôi sẽ lại phải tiếp tục đắm chìm vào cái thú đầu độc bản thân bằng thuốc lá mà anh vẫn thường xuyên và hoàn toàn có lý khi lên án," anh nói. "Xin phép ngài cùng các quý ông đây, bây giờ chúng tôi sẽ quay về ngôi nhà nhỏ của mình, bởi tôi e rằng chốn này chẳng còn điều gì mới mẻ đủ sức níu kéo sự chú ý của chúng ta. Tôi sẽ xâu chuỗi lại các sự kiện trong đầu, ông Tregennis, và nếu có bất kỳ ý tưởng nào lóe lên, tôi chắc chắn sẽ liên lạc ngay với ông cùng vị linh mục. Trong thời gian chờ đợi, xin chúc hai vị một buổi sáng tốt lành."

Mãi một lúc lâu sau khi chúng tôi trở về ngôi nhà nhỏ ở Poldhu, Holmes mới chịu phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng và sự chìm đắm tột độ của mình. Anh ngồi cuộn tròn trên chiếc ghế bành, khuôn mặt hốc hác mang nét khổ hạnh của anh gần như chìm khuất lấp sau những cuộn khói thuốc mịt mù xanh lơ. Đôi lông mày rậm đen nhíu chặt, vầng trán hằn lên những nếp nhăn, ánh mắt trống rỗng, miên man nhìn về một cõi xa xăm vô định. Rồi đột nhiên, anh dập tẩu thuốc và đứng phắt dậy.

"Không ổn rồi, Watson!" anh vừa nói vừa bật cười. "Chúng ta hãy cùng nhau tản bộ dọc theo vách đá và lùng sục vài mũi tên đá lửa xem sao. Biết đâu đấy, ta lại dễ dàng tìm thấy chúng hơn là moi móc manh mối cho vụ kỳ án này. Để đầu óc vắt kiệt sức lực mà thiếu đi những dữ liệu cần thiết thì chẳng khác nào để một cỗ máy chạy không tải. Cuối cùng, nó sẽ tự hủy hoại chính mình mà thôi. Gió biển, ánh nắng mặt trời và sự kiên nhẫn, Watson ạ - mọi thứ khác rồi sẽ tự nhiên tìm đến.

"Bây giờ, chúng ta hãy bình tâm để định vị lại chỗ đứng của mình, Watson," anh tiếp tục khi cả hai men theo rìa vách đá. "Hãy nắm thật chắc những mảnh dữ kiện ít ỏi mà ta thực sự biết, để khi xuất hiện tình tiết mới, ta có thể dễ dàng ghép chúng vào đúng chỗ. Trước tiên, tôi tin chắc rằng không ai trong chúng ta lại dễ dãi chấp nhận chuyện ma quỷ can thiệp vào cõi nhân sinh. Hãy bắt đầu bằng cách tống khứ triệt để cái thứ hoang đường ấy ra khỏi đầu. Rất tốt. Vậy là chỉ còn lại việc ba con người kia đã phải hứng chịu một cú sốc chí mạng từ một bàn tay con người nào đó, bất kể là vô tình hay cố ý. Đó chính là một cơ sở vô cùng vững chãi. Giờ thì câu hỏi đặt ra là: thảm kịch giáng xuống khi nào? Rõ ràng, nếu lời khai của ông ta là sự thật, thì sự việc đã diễn ra ngay khoảnh khắc Mortimer Tregennis vừa rời khỏi phòng. Đó là một nút thắt tối quan trọng. Ta hoàn toàn có thể suy luận rằng biến cố ập đến chỉ trong vòng vài phút ngắn ngủi sau đó. Những quân bài vẫn ngổn ngang trên bàn. Dù đã quá giờ đi ngủ thường lệ, họ vẫn giữ nguyên tư thế chứ chưa hề đẩy ghế đứng lên. Tôi xin nhấn mạnh lại, mọi thứ đã xảy ra ngay sau lúc ông ta rời đi, và tuyệt đối không thể muộn hơn mười một giờ đêm qua.

"Bước đi hiển nhiên tiếp theo chính là kiểm chứng, trong chừng mực cho phép, mọi nhất cử nhất động của Mortimer Tregennis sau khi ông ta bước ra khỏi căn phòng ấy. Việc này chẳng hề khó nhằn, và có vẻ như cũng chẳng có gì khuất tất. Rành rẽ các mánh lới của tôi như anh, chắc hẳn anh đã nhìn thấu cái trò hậu đậu cố ý với chiếc bình tưới nước; nhờ vậy mà tôi đã thu thập được một dấu chân rõ nét của ông ta hơn hẳn những gì ta có thể mong đợi. Con đường đất cát ướt nhẹp đã giữ lại khuôn hình đó một cách vô cùng hoàn hảo. Anh hãy nhớ lại xem, đêm qua trời cũng đổ mưa, thế nên không mấy khó khăn - sau khi đã có dấu chân mẫu trong tay - để tôi nhặt ra đúng vết giày của ông ta giữa vô vàn dấu chân khác và dò theo hướng di chuyển của ông ta. Theo dấu vết để lại, dường như ông ta đã rảo bước thẳng tắp về hướng nhà xứ.

"Nếu đúng là vậy, Mortimer Tregennis đã hoàn toàn rút lui khỏi hiện trường. Vậy thì, bằng cách nào một kẻ ngoại lai bí ẩn đã gieo rắc tai ương lên những người chơi bài? Làm sao chúng ta có thể phác họa lại chân dung kẻ đó, và nỗi khiếp đảm tột cùng ấy đã được truyền tải qua phương thức nào? Ta hoàn toàn có thể gạch tên bà Porter. Rõ ràng bà lão ấy hoàn toàn vô hại. Vậy có bằng chứng nào chứng minh ai đó đã lẻn đến bên cửa sổ vườn và tung ra một đòn tâm lý tàn khốc đến mức tước đoạt lý trí của những người vô phúc chứng kiến nó? Manh mối duy nhất chỉ về hướng này lại đến từ chính miệng Mortimer Tregennis, khi ông ta tiết lộ rằng anh trai mình từng nhắc đến một chuyển động mờ ám nào đó ngoài vườn. Dữ kiện này quả thực đáng lưu tâm, bởi đêm đó trời đổ mưa, mây giăng kín và đen đặc. Bất kỳ kẻ nào rắp tâm dọa dẫm những người ngồi trong phòng cũng bắt buộc phải ép sát mặt vào lớp kính thì may ra mới bị phát hiện. Khốn nỗi, lại có một luống hoa rộng tới ba feet mọc ngay bên ngoài cửa sổ, thế mà tuyệt nhiên không lưu lại một dấu chân nào. Thật khó mà tưởng tượng nổi, làm sao một kẻ lạ mặt lại có khả năng gieo rắc một nỗi kinh hoàng đến vậy cho cả một nhóm người; huống hồ, chúng ta vẫn chưa lùng ra nổi bất kỳ động cơ khả dĩ nào cho một nước đi công phu và quái gở đến thế. Anh đã nhìn ra những vướng mắc của chúng ta chưa, Watson?"

"Chúng quá đỗi rành rành," tôi đáp lời bằng một giọng quả quyết.

"Dẫu vậy, chỉ cần thu thập thêm chút manh mối, ta hoàn toàn có thể chứng minh rằng những vật cản đó chẳng phải là bất khả chiến bại," Holmes nhếch mép. "Tôi hình dung rằng, từ kho lưu trữ đồ sộ của anh, Watson, anh cũng có thể moi ra vài vụ án với khởi đầu mờ mịt tương tự thế này. Trong lúc đợi chờ, chi bằng ta cứ tạm gác câu chuyện sang một bên cho đến khi nắm trong tay những dữ liệu sắc bén hơn, và dành trọn phần còn lại của buổi sáng cho cái thú theo đuổi người cổ đại thời kỳ đồ đá mới."

Tôi vẫn thường hay cảm thán về khả năng tách biệt tư duy đáng kinh ngạc của anh bạn mình, nhưng có lẽ, chưa bao giờ tôi cảm thấy sững sờ về điều đó hơn cái buổi sáng mùa xuân ở Cornwall ấy; ròng rã suốt hai tiếng đồng hồ, anh say sưa mổ xẻ về những chiếc rìu đá, những đầu mũi tên và các mảnh vỡ cổ xưa với vẻ nhẹ nhõm đến lạ, tựa như thể chẳng hề có một bí ẩn tàn khốc nào đang ngóng đợi anh giải đáp. Mãi cho đến chiều muộn, khi cả hai quay về ngôi nhà nhỏ, chúng tôi mới bắt gặp một vị khách đang đợi sẵn; và chính sự xuất hiện của ngài đã nhanh chóng kéo tâm trí chúng tôi trở lại với vấn đề dang dở. Chẳng cần ai phải cất lời giới thiệu, cả hai chúng tôi đều dư sức nhận ra danh tính của vị khách ấy. Vóc dáng đồ sộ, khuôn mặt gồ ghề chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm điểm xuyết bằng đôi mắt sắc lẹm dữ tợn cùng chiếc mũi khoằm hệt như mỏ diều hâu; mái tóc điểm bạc gần như sượt qua trần nhà thấp lè tè của chúng tôi; bộ râu ria với viền ngoài ánh vàng và ngả sang sắc trắng quanh khóe môi, chỉ trừ vùng ố vàng vì thứ nicotine từ điếu xì gà cháy dở trên môi ngài - tất cả những đặc điểm dị biệt ấy đã trở nên quá đỗi vang danh từ London tráng lệ cho đến tận lục địa Châu Phi xa xôi. Chúng chỉ có thể thuộc về một nhân vật tầm cỡ: Tiến sĩ Leon Sterndale, thợ săn sư tử khét tiếng kiêm nhà thám hiểm lừng lẫy.

Chúng tôi vốn đã phong thanh biết ngài đang lưu lại trong vùng, và thi thoảng cũng bắt gặp bóng dáng cao lớn của ngài thấp thoáng trên những cung đường mòn heo hút. Dẫu vậy, ngài chưa từng chủ động bắt chuyện, và chúng tôi cũng chẳng mảy may ôm mộng làm phiền ngài. Bởi lẽ, thiên hạ đều tường tận cái sở thích xa lánh thế sự đã khiến ngài chôn vùi phần lớn quãng thời gian nghỉ ngơi hiếm hoi giữa các chuyến viễn du trong một căn nhà gỗ nhỏ bé, lọt thỏm giữa khu rừng hoang vắng tại Beauchamp Arriance. Nơi chốn ấy, giữa ngổn ngang sách vở và bản đồ, ngài tận hưởng một cuộc đời hoàn toàn cô độc, tự thu xếp những nhu cầu tối giản nhất và dường như chẳng mảy may bận tâm đến thế thái nhân tình quanh mình. Chính vì thế, tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy ngài sốt sắng gạn hỏi Holmes xem liệu anh đã gặt hái được bước tiến nào trong việc phục dựng lại màn kịch bí ẩn này chưa. "Đám cảnh sát địa phương hoàn toàn lạc lối rồi," ngài buông lời, "nhưng có lẽ, bề dày kinh nghiệm của ngài sẽ khai mở một hướng giải thích khả dĩ chăng. Cái cớ duy nhất khiến tôi mạn phép mong ngài chia sẻ những thông tin mật này là bởi trong những lần lưu lại đây, tôi đã kết thân và quá hiểu gia đình Tregennis - thực ra, xét về dòng dõi người Cornwall của mẫu thân tôi, tôi có thể coi họ như những người anh em họ - vậy nên, thảm kịch giáng xuống đầu họ quả thực là một cú sốc điếng người đối với tôi. Tôi không ngại thú thật với ngài rằng, tôi đã đi đến tận Plymouth trên hành trình tiến về Châu Phi; thế nhưng, khi hung tin ập đến vào sáng nay, tôi đã lập tức quay đầu để dốc sức trợ giúp cuộc điều tra này."

Holmes khẽ nhướng mày.

"Ngài đã chấp nhận lỡ chuyến tàu chỉ vì biến cố này sao?"

"Tôi sẽ bắt một chuyến tàu khác."

"Trời ạ! Quả là một tình bạn đáng nể."

"Tôi đã thưa với ngài rằng họ là họ hàng của tôi cơ mà."

"Hoàn toàn đúng - anh em họ bên ngoại của ngài. Vậy hành lý của ngài đã được xếp lên tàu chưa?"

"Một phần thôi, phần lớn tư trang vẫn nằm lại khách sạn."

"Tôi hiểu rồi. Nhưng dám chắc vụ việc chấn động này không đời nào kịp xuất hiện trên các trang báo ban mai ở Plymouth đâu."

"Chính xác là không, thưa ngài; tôi nhận được một bức điện tín."

"Liệu tôi có thể mạo muội hỏi ai đã gửi nó không?"

Một đám mây u ám thoắt lướt qua khuôn mặt phong sương của nhà thám hiểm.

"Ngài tò mò hơi quá rồi đấy, ngài Holmes."

"Đó là bản chất công việc của tôi mà."

Cố gắng kìm nén, Tiến sĩ Sterndale lấy lại vẻ điềm tĩnh đang bị lung lay.

"Tôi cũng chẳng ngại gì mà không nói cho ngài hay," ngài trầm giọng. "Chính ông Roundhay, vị linh mục địa phương, đã gửi cho tôi bức điện tín khẩn thiết gọi tôi quay về."

"Đa tạ ngài," Holmes đáp. "Để hồi đáp câu hỏi ban đầu của ngài, tôi đành phải thú nhận rằng đầu óc tôi vẫn chưa thể vạch ra một lối thoát rành mạch cho uẩn khúc này; tuy nhiên, tôi đang ấp ủ hy vọng lớn lao sẽ sớm đi đến một kết luận thỏa đáng. Vẫn còn quá sớm để phán xét bất cứ điều gì."

"Vậy ngài có phiền không nếu bật mí cho tôi liệu những mối nghi ngờ của ngài đang xoáy vào một hướng cụ thể nào không?"

"Không, tôi e là mình khó lòng trả lời được câu hỏi đó."

"Nếu vậy thì tôi vừa ném thì giờ qua cửa sổ rồi, và chẳng có lý do gì để tôi phải kéo dài chuyến viếng thăm này thêm nữa." Vị tiến sĩ danh tiếng phăm phăm bước ra khỏi ngôi nhà nhỏ của chúng tôi với một tâm trạng cáu kỉnh khó tả. Và chỉ trong vòng chưa đầy năm phút, Holmes cũng vội vã bám theo ngài. Phải đến tận xế chiều tôi mới gặp lại anh, khi anh lê những bước chân rã rời trở về với một khuôn mặt hốc hác; chừng ấy biểu hiện đủ để ngầm khẳng định với tôi rằng, cuộc điều tra của anh chẳng thu được thêm chút tia sáng nào. Anh hờ hững liếc mắt qua bức điện tín đang nằm chờ sẵn trên bàn, rồi thẳng tay ném nó vào lò sưởi.

"Tin nhắn từ một khách sạn ở Plymouth, Watson ạ," anh uể oải nói. "Tôi đã moi được cái tên ấy từ chỗ vị linh mục, và tức tốc đánh điện tín đi để xác minh xem lời khai của Tiến sĩ Leon Sterndale có mấy phần chân thực. Có vẻ như ngài ta quả thực đã tá túc ở đó đêm qua, và cũng thực sự đã để cho một phần hành lý của mình tiếp tục lênh đênh tới Châu Phi, trong lúc bản thân phải quay ngoắt lại để chen chân vào cuộc điều tra này. Anh thấy sao về sự việc này, Watson?"

"Ông ấy tỏ ra vô cùng bận tâm."

"Vô cùng bận tâm - chính xác là vậy. Có một sợi chỉ vô hình lẩn khuất đâu đây mà chúng ta vẫn chưa tóm được, và rất có thể nó sẽ là chiếc chìa khóa dẫn ta thoát khỏi mớ bòng bong chết tiệt này. Phấn chấn lên nào, Watson, bởi tôi tin chắc rằng những mảnh ghép dữ liệu của chúng ta vẫn chưa được tung ra trọn vẹn. Chờ đến lúc đó, ta sẽ sớm quẳng hết mọi trắc trở này lại phía sau."

Tôi không ngờ dự đoán của Holmes lại sớm ứng nghiệm đến vậy, cũng như không thể lường trước rằng bước ngoặt mới - thứ mở ra một hướng điều tra hoàn toàn khác biệt - lại mang đậm vẻ kỳ dị và hiểm ác đến thế. Sáng hôm sau, khi tôi đang cạo râu bên cửa sổ, tiếng vó ngựa dồn dập vang lên. Ngước mắt nhìn, tôi thấy một cỗ xe hai bánh đang phi nước đại dọc theo con đường. Cỗ xe thắng gấp trước cửa nhà chúng tôi. Vị linh mục, người bạn quen thuộc, vội vã nhảy xuống và lao xộc vào lối đi giữa vườn. Holmes đã thay đồ xong xuôi, và cả hai chúng tôi nhanh chóng chạy xuống đón khách.

Vị khách kích động tới mức nói năng lắp bắp, lộn xộn. Mãi một lúc sau, giữa những nhịp thở hổn hển và từng câu nói ngắt quãng, ông mới thốt ra được câu chuyện bi thương tột cùng.

"Chúng ta bị ma quỷ ám rồi, ngài Holmes! Giáo xứ đáng thương của tôi bị quỷ dữ ám lấy rồi!" ông la thất thanh. "Chính Satan đang hoành hành nơi đây! Chúng ta đã rơi vào móng vuốt của hắn!" Ông nhảy cẫng lên trong cơn hoảng loạn, một bộ dạng trông có vẻ lố bịch nếu không nhờ khuôn mặt tái nhợt và đôi mắt bàng hoàng tột độ kia vớt vát lại. Cuối cùng, ông cũng thốt lên được cái tin rùng rợn đó.

"Ông Mortimer Tregennis đã chết đêm qua, với những triệu chứng giống hệt như những người còn lại trong gia đình."

Holmes bật dậy, nguồn năng lượng mạnh mẽ tuôn trào trong chớp mắt.

"Ông có thể chở cả hai chúng tôi trên cỗ xe của ông không?"

"Được, thưa ngài."

"Vậy thì, Watson, chúng ta sẽ hoãn bữa sáng lại. Thưa ông Roundhay, chúng tôi đã sẵn sàng. Đi thôi, nhanh lên, trước khi hiện trường bị xáo trộn."

Vị khách thuê trọ dùng hai căn phòng ở góc nhà xứ, một trên một dưới. Phòng dưới là phòng khách rộng rãi, còn bên trên là phòng ngủ của ông. Hai căn phòng đều có cửa sổ nhìn thẳng ra bãi cỏ chơi croquet3 trải dài. Vì chúng tôi đến trước cả bác sĩ lẫn cảnh sát, hiện trường vẫn còn nguyên vẹn. Hãy để tôi tường thuật lại chính xác quang cảnh mà chúng tôi chứng kiến vào buổi sáng tháng Ba mù sương ấy. Khung cảnh đó đã hằn sâu một dấu ấn không thể phai mờ trong tâm trí tôi. Căn phòng ngập ngụa một bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Người hầu gái bước vào đầu tiên đã vội vàng mở tung cửa sổ, bằng không mọi thứ còn khó chịu hơn gấp bội. Mùi hăng hắc đó một phần phát ra từ ngọn đèn vẫn đang cháy phừng phừng và nhả khói mù mịt trên chiếc bàn giữa phòng. Cạnh đó, thi thể người đàn ông ngã ngửa ra sau thành ghế. Chòm râu lơ thơ vểnh lên, cặp kính bị đẩy ngược lên trán. Khuôn mặt gầy gò, sạm đen ngoảnh về phía cửa sổ, vặn vẹo trong một nỗi kinh hoàng hệt như biểu cảm đã in hằn trên gương mặt cô em gái quá cố của ông ta. Tứ chi co quắp, các ngón tay xoắn xít lại như thể ông ta đã trút hơi thở cuối cùng trong một cơn sợ hãi tột độ. Ông ta mặc đồ chỉnh tề, dù có vẻ như vừa thay đồ trong tình trạng vội vã. Chúng tôi biết chắc rằng ông ta đã lên giường ngủ, và thảm kịch giáng xuống đầu ông ta ngay từ lúc rạng đông.

Ai cũng dễ dàng nhận ra nguồn năng lượng rực cháy ẩn giấu dưới vẻ ngoài điềm tĩnh thường ngày của Holmes khi chứng kiến sự lột xác chớp nhoáng từ giây phút anh bước vào căn phòng định mệnh. Ngay tức khắc, anh trở nên căng thẳng và nhạy bén tột độ. Đôi mắt anh sáng rực, nét mặt kiên định, tay chân thoăn thoắt không ngừng nghỉ. Anh bước ra bãi cỏ, ngó nghiêng qua cửa sổ, đi loanh quanh khắp phòng rồi chạy lên phòng ngủ, hệt như một chú chó săn cáo đang hăng máu xông vào bụi rậm. Trong phòng ngủ, anh đưa mắt quét nhanh một vòng, cuối cùng mở tung cửa sổ. Hành động này dường như càng khiến anh thêm phần phấn khích, vì anh cứ trườn người ra ngoài, buông những tiếng thốt nghẹn ngào vì thích thú và đắc ý. Sau đó, anh vội vã chạy xộc xuống cầu thang, lao qua khung cửa sổ đang mở, gieo mình nằm rạp xuống bãi cỏ rồi lại bật phắt dậy, lao lại vào phòng. Tất cả được thực hiện bằng thứ năng lượng hừng hực của một tay thợ săn đang bám sát gót con mồi. Chiếc đèn - loại đèn chân đế thông dụng - được anh xem xét cực kỳ tỉ mẩn, thậm chí còn đo đạc bầu đèn cẩn thận. Bằng kính lúp, anh soi kỹ tấm chắn bằng mica che phía trên ống khói, cạo lấy chút tro bám trên bề mặt rồi cẩn thận trút vào một chiếc phong bì và kẹp vào cuốn sổ tay. Cuối cùng, ngay khi bác sĩ và cảnh sát vừa bước tới, anh vẫy tay gọi vị linh mục, rồi cả ba chúng tôi lùi ra bãi cỏ.

"Tôi rất mừng khi phải nói rằng cuộc điều tra này không hề uổng phí chút nào," anh lên tiếng. "Tôi không thể ở lại bàn bạc với cảnh sát, nhưng tôi sẽ vô cùng biết ơn nếu ông Roundhay có thể chuyển lời chào của tôi tới ngài thanh tra, đồng thời lưu ý ông ấy về cửa sổ phòng ngủ và chiếc đèn trong phòng khách. Từng chi tiết đều mang ý nghĩa gợi mở, và khi kết hợp lại, chúng gần như đưa ra được kết luận cuối cùng. Nếu cảnh sát muốn biết thêm, tôi luôn sẵn lòng tiếp đón họ tại ngôi nhà tranh của tôi. Còn bây giờ, Watson, tôi cho rằng chúng ta sẽ làm việc hiệu quả hơn nếu chuyển đến một nơi khác."

Có thể cảnh sát thấy khó chịu trước sự can thiệp của một tay nghiệp dư, hoặc họ tự đắc rằng mình đang lần theo một manh mối đầy hứa hẹn; nhưng chắc chắn một điều là trong hai ngày sau đó, chúng tôi chẳng nhận được tin tức gì từ họ. Suốt khoảng thời gian này, Holmes chỉ quanh quẩn hút thuốc và chìm đắm trong những dòng suy tưởng tại ngôi nhà tranh. Nhưng phần lớn thời gian anh lại lang thang một mình quanh vùng nông thôn, và khi trở về sau nhiều giờ đồng hồ, anh tuyệt nhiên không thốt ra một lời nào về nơi mình vừa đi qua. Thế rồi, một cuộc thử nghiệm đã hé lộ cho tôi thấy hướng điều tra của anh. Anh mua một chiếc đèn y hệt chiếc đã cháy trong phòng Mortimer Tregennis vào cái buổi sáng bi kịch ấy. Anh đổ đầy thứ dầu cùng loại với dầu dùng ở nhà xứ, rồi cẩn thận bấm giờ xem phải mất bao lâu để nó cháy rụi. Còn một cuộc thử nghiệm khác mang tính chất kinh khủng hơn nhiều, một trải nghiệm mà có lẽ suốt đời này tôi cũng không thể nào quên.

"Hẳn anh vẫn còn nhớ, Watson," một buổi chiều, anh thủng thẳng nói, "rằng giữa vô vàn báo cáo gửi tới tay chúng ta, chỉ có đúng một điểm tương đồng duy nhất. Nó liên quan đến tác động của không khí trong phòng lên những người đầu tiên đặt chân vào hiện trường. Anh có nhớ Mortimer Tregennis từng kể rằng, trong lần cuối cùng ghé thăm nhà anh trai mình, vị bác sĩ khi bước vào phòng đã ngã khụy xuống ghế không? Anh quên rồi sao? Chà, tôi dám chắc chuyện đó đã thực sự xảy ra. Hẳn anh cũng nhớ bà Porter, người quản gia, từng nói rằng chính bà đã ngất lịm đi lúc bước vào căn phòng đó, sau đó mới kịp mở cửa sổ. Trong trường hợp thứ hai - vụ của chính Mortimer Tregennis - anh hẳn chưa quên cảm giác ngột ngạt đến rùng rợn khi chúng ta bước vào, dù cô hầu gái đã mở tung cửa sổ từ trước. Cô hầu gái ấy, theo như tôi cất công điều tra, đã ốm bẹp giường. Anh phải thừa nhận, Watson, rằng những chi tiết này vô cùng đắt giá. Lần nào cũng xuất hiện bằng chứng về một bầu không khí sặc mùi độc hại. Và lần nào trong phòng cũng có một thứ gì đó đang cháy - vụ đầu là ngọn lửa lò sưởi, vụ sau là ngọn đèn. Lò sưởi thì có thể hiểu được, nhưng ngọn đèn lại cứ cháy mãi - căn cứ vào lượng dầu hao hụt - cho đến tận khi trời sáng bảnh mắt. Vì sao lại thế? Rõ ràng phải có một sợi dây liên kết giữa ba yếu tố này: sự thiêu đốt, bầu không khí ngạt thở, và cuối cùng là cơn điên loạn hay cái chết của những kẻ xấu số kia. Mọi thứ đã quá rõ ràng rồi, đúng không?"

"Nghe có vẻ hợp lý."

"Ít nhất chúng ta có thể lấy đó làm giả thuyết nền tảng. Từ đây, ta giả định rằng trong cả hai lần, hung thủ đã đốt một vật gì đó, tạo ra bầu không khí độc hại chứa những tác động ma quái. Tốt lắm. Ở trường hợp đầu - vụ nhà Tregennis - chất này được ném thẳng vào ngọn lửa. Lúc bấy giờ, cửa sổ tuy đóng kín, nhưng ngọn lửa tự nhiên đã cuốn một phần khói độc bay lên ống khói. Bởi thế, tác động của chất độc phần nào thuyên giảm so với trường hợp thứ hai, khi hơi độc gần như không có lối thoát. Kết quả thực tế hoàn toàn trùng khớp. Ở vụ đầu tiên, chỉ người phụ nữ với thể trạng nhạy cảm hơn là mất mạng, những người còn lại chỉ rơi vào trạng thái điên loạn tạm thời hoặc vĩnh viễn - một biểu hiện ban đầu do loại thuốc này gây ra. Nhưng đến vụ thứ hai, cái kết đã triệt để hơn nhiều. Những bằng chứng này càng củng cố vững chắc cho giả thuyết về một loại chất độc phát tán qua con đường đốt cháy.

"Với chuỗi suy luận đó trong đầu, tôi lập tức rà soát quanh phòng Mortimer Tregennis để lùng sục manh mối của thứ chất kỳ lạ kia. Nơi hiển nhiên nhất cần kiểm tra chính là tấm chắn mica che khói của ngọn đèn. Quả nhiên, ngay tại đó, tôi phát hiện một ít tro dạng vảy, và quanh mép viền là lớp bột màu nâu vẫn chưa cháy hết. Như anh thấy đấy, tôi đã lấy đi phân nửa số bột ấy và gói gọn vào phong bì."

"Sao lại chỉ lấy một nửa thôi, Holmes?"

"Tôi đâu có nghĩa vụ phải ngáng đường lực lượng cảnh sát chính thức, Watson thân mến. Tôi luôn nhường lại mọi bằng chứng mà mình tìm được cho họ. Chất độc vẫn còn bám trên tấm mica, chỉ đợi xem họ có đủ trí thông minh để phát hiện ra nó không thôi. Giờ thì, Watson, chúng ta sẽ châm ngọn đèn này. Tuy nhiên, để đề phòng viễn cảnh hai công dân mẫu mực phải sớm ra đi, chúng ta sẽ mở sẵn cửa sổ. Anh cứ ngồi yên trên chiếc ghế bành gần đó, trừ phi, như một người khôn ngoan, anh quyết định đứng ngoài vụ này. Ồ, anh nhất quyết theo tới cùng sao? Tôi biết ngay Watson của tôi mà. Tôi sẽ đặt chiếc ghế này đối diện với anh, để khoảng cách từ chúng ta tới chỗ chất độc là như nhau và chúng ta có thể nhìn thẳng vào nhau. Còn cánh cửa kia, ta cứ để hé mở. Giờ thì ai cũng có thể giám sát người kia và sẵn sàng ngắt thử nghiệm nếu xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào đáng lo ngại. Rõ ràng cả chưa? Tốt, tôi sẽ đổ chỗ bột của chúng ta - hay chính xác hơn là phần bột còn sót lại - từ trong phong bì ra và rắc thẳng lên ngọn lửa. Xong! Nào, Watson, hãy ngồi xuống và chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra."

Chẳng phải chờ đợi lâu. Tôi vừa êm vị trí trên ghế thì một mùi xạ hương nồng nặc, gai góc và lợm giọng xộc thẳng vào mũi. Ngay ở nhịp thở đầu tiên, não bộ và trí tưởng tượng của tôi đã hoàn toàn vuột khỏi tầm kiểm soát. Một đám mây đen đặc quánh cuộn xoáy trước mắt tôi. Tâm trí tôi như đang gào thét báo hiệu rằng ẩn sâu trong làn khói mờ mịt kia, dù chưa lộ diện, là muôn vàn thứ quái đản, ghê tởm và ác độc nhất vũ trụ sắp sửa lao thẳng vào các giác quan đang tê liệt vì kinh sợ của tôi. Những bóng ma mờ ảo chập chờn bơi lội giữa dải mây đen, mỗi hình thù như một điềm báo chết chóc, báo hiệu một thực thể tà ác vô danh đang nhăm nhe nuốt trọn linh hồn tôi bằng thứ bóng tối ghê rợn của nó. Một nỗi khiếp đảm lạnh buốt xương tủy chiếm lấy tôi. Tôi cảm nhận rõ tóc gáy mình dựng đứng, hai mắt lồi ra, miệng há hốc và lưỡi thì khô khốc như miếng da thuộc. Sự hỗn loạn trong não bộ tôi bị dồn nén đến độ tưởng chừng như sắp đứt tung. Tôi vùng vẫy muốn hét lên, và lờ mờ nhận ra một thứ âm thanh khàn đặc, khô khốc phát ra từ cổ họng mình, nhưng nghe xa xăm và lạc lõng như thể của một ai khác. Đúng vào khoảnh khắc tôi gắng gượng tìm đường thoát thân, tôi đâm xuyên qua đám mây tuyệt vọng đó và chợt nhìn thấy khuôn mặt Holmes - trắng bệch, cứng đờ, vặn vẹo vì kinh hãi. Gương mặt anh mang đúng biểu cảm tôi từng thấy trên nét mặt những thi thể. Cảnh tượng ấy thắp lên trong tôi một tia tỉnh táo và sức mạnh ráng sức cuối cùng. Tôi bật khỏi ghế, lao tới quàng tay ôm lấy Holmes. Cả hai chúng tôi loạng choạng lao qua khung cửa hờ, rồi gieo mình xuống bãi cỏ, nằm sóng soài cạnh nhau. Lúc này, tôi chỉ còn lờ mờ cảm nhận được ánh nắng chói chang đang xuyên thủng đám mây hắc ám vừa quấn lấy chúng tôi. Nỗi kinh hoàng từ từ tan biến khỏi tâm hồn hệt như sương mù tan trên đồng cỏ, nhường chỗ cho sự bình yên và lý trí quay về. Hai chúng tôi ngồi phịch xuống bãi cỏ, đưa tay quệt vầng trán túa đầy mồ hôi lạnh, lo âu nhìn nhau để xác nhận những tàn dư cuối cùng của trải nghiệm kinh hoàng vừa trải qua.

"Thề có Chúa, Watson!" cuối cùng Holmes cất lời bằng chất giọng run rẩy, "Tôi nợ anh một lời cảm ơn và một lời xin lỗi chân thành. Đó là một thử nghiệm điên rồ mà ngay cả với bản thân mình tôi cũng không thể bao biện, huống hồ là với một người bạn thân thiết. Tôi thực sự rất xin lỗi."

"Anh biết đấy," tôi đáp lại với lòng xúc động, bởi lẽ tôi chưa từng chứng kiến Holmes bộc lộ nhiều tình cảm đến thế bao giờ, "được sát cánh cùng anh luôn là niềm vui và đặc ân lớn nhất đời tôi."

Nhanh như cắt, anh khoác lại bộ dạng nửa hài hước, nửa châm biếm quen thuộc vẫn hay dùng với mọi người. "Thật thừa thãi nếu làm cho chúng ta phát điên, Watson thân mến," anh nói. "Một người tinh ý thể nào cũng bảo chúng ta đã hóa điên từ trước khi đâm đầu vào cái thử nghiệm hoang đường này rồi. Thú thật, tôi chưa bao giờ ngờ rằng hậu quả lại ập đến quá đỗi nhanh chóng và khủng khiếp như vậy." Nói đoạn, anh lao vào trong nhà rồi quay trở ra với chiếc đèn đang cháy rừng rực trên tay. Anh phóng thẳng nó vào giữa bụi mâm xôi đen. "Chúng ta đành phải chờ một lúc cho căn phòng thông thoáng lại. Giờ thì tôi cho rằng, Watson, anh đã hoàn toàn không còn chút mảy may nghi ngờ nào về cách những bi kịch kia được dàn dựng nữa, đúng không?"

"Tuyệt nhiên không."

"Nhưng động cơ đằng sau vẫn còn là một màn sương mờ ảo. Lại đây, trốn vào giàn hoa này và chúng ta sẽ cùng nhau mổ xẻ vấn đề. Cái thứ tồi tệ đó dường như vẫn còn vương vất bám lấy cổ họng tôi. Tôi nghĩ chúng ta phải thừa nhận rằng mọi bằng chứng đều chĩa mũi dùi vào Mortimer Tregennis, kẻ chủ mưu trong vụ án đầu tiên, dẫu ông ta lại là nạn nhân trong thảm kịch thứ hai. Trước hết, đừng quên đã từng có một vụ cãi vã nổ ra trong gia đình bọn họ, theo sau là một cuộc hòa giải. Mối bất hòa ấy gay gắt đến nhường nào, hay màn làm lành kia sáo rỗng ra sao, chúng ta chưa thể biết. Cứ nhớ đến cái bản mặt cáo già của Mortimer Tregennis, với đôi mắt nhỏ thó, sắc lẹm và xảo trá nấp sau cặp kính, tôi tuyệt nhiên không tin hắn là kẻ mang tấm lòng vị tha. Tiếp đến, hẳn anh còn nhớ cái ý tưởng về một bóng người lảng vảng trong vườn - thứ đã đánh lạc hướng chúng ta khỏi nguyên nhân thực sự của thảm kịch suốt một thời gian - chính là do ông ta bịa ra. Ông ta có động cơ để dắt mũi chúng ta. Cuối cùng, nếu không phải ông ta ném thứ bột đó vào đống lửa ngay trước lúc rời khỏi phòng, thì còn ai vào đây? Chuyện đó xảy ra ngay khi ông ta vừa quay gót. Giả dụ có kẻ nào khác bước vào, những người trong nhà chắc chắn đã đứng dậy khỏi bàn để đón tiếp. Chưa kể, ở một vùng quê Cornwall yên bình, chẳng có ai đi thăm viếng sau mười giờ đêm. Từ đó, ta hoàn toàn có đủ cơ sở để kết luận mọi bằng chứng đều chỉ đích danh Mortimer Tregennis là hung thủ."

"Nếu thế thì cái chết của ông ta là do tự sát!"

"Chà, Watson, thoạt nhìn thì giả thuyết này cũng không hẳn vô lý. Một kẻ với tâm hồn trĩu nặng mặc cảm tội lỗi, kẻ tự tay gieo rắc bi kịch xuống đầu gia đình mình, hoàn toàn có thể bị sự cắn rứt lương tâm dồn ép đến mức tự gánh lấy hình phạt tương tự. Tuy nhiên, lại có một vài lý do đanh thép phủ nhận điều đó. May mắn làm sao, hiện ở Anh có đúng một người biết tường tận mọi uẩn khúc, và tôi đã sắp xếp để chúng ta được nghe toàn bộ sự thật từ chính miệng ngài ấy vào chiều nay. À! Ngài ấy tới hơi sớm so với lịch hẹn. Xin mời ngài bước lối này, Tiến sĩ Leon Sterndale. Chúng tôi vừa thực hiện một thí nghiệm hóa học trong nhà, đâm ra căn phòng nhỏ bé kia e rằng không còn phù hợp để đón tiếp một vị khách danh giá như ngài nữa."

Tôi chợt nghe thấy tiếng lạch cạch từ phía cổng vườn, và rồi vóc dáng oai vệ của nhà thám hiểm châu Phi vĩ đại hiện ra trên lối đi. Ngài quay sang nhìn giàn hoa mộc mạc nơi chúng tôi đang ngồi với một thoáng ngạc nhiên.

"Ông đã gọi tôi, thưa ông Holmes. Khoảng một giờ trước tôi có nhận được thư ông, và tôi đã đến đây, dẫu thực lòng tôi chẳng hiểu cớ gì mình lại phải tuân theo lệnh triệu tập này."

"Có lẽ chúng ta sẽ làm sáng tỏ được vấn đề trước khi chia tay," Holmes đáp lời. "Còn bây giờ, tôi rất cảm kích trước sự hiện diện đầy lịch thiệp của ngài. Mong ngài lượng thứ cho buổi đón tiếp thân tình ngoài trời này, nhưng Watson và tôi suýt nữa đã viết thêm một chương cho sự kiện mà báo chí gọi là Nỗi Kinh Hoàng Cornwall, nên hiện tại chúng tôi chuộng bầu không khí trong lành hơn. Thiết nghĩ, vì những vấn đề chúng ta sắp sửa bàn luận sẽ liên quan mật thiết đến cá nhân ngài, tốt hơn hết ta nên trò chuyện ở một nơi hoàn toàn kín đáo."

Nhà thám hiểm dời điếu xì gà khỏi môi, phóng ánh nhìn nghiêm nghị về phía bạn tôi.

"Tôi không hiểu, thưa ông," ông ta cất giọng, "ông đang định nói về điều gì có thể liên quan mật thiết đến cá nhân tôi cơ chứ."

"Chính là vụ sát hại Mortimer Tregennis," Holmes điềm nhiên đáp.

Trong một thoáng, tôi chợt ước giá như mình có mang theo vũ khí. Khuôn mặt dữ dằn của Sterndale sầm lại, đỏ lựng. Đôi mắt ông ta trừng lên, những đường gân xanh nổi hằn trên trán bần bật giật, đôi bàn tay nắm chặt như trực lao vào bạn tôi. Nhưng rồi, ông ta khựng lại. Bằng một nỗ lực phi thường, vị tiến sĩ lấy lại vẻ điềm nhiên, lạnh lùng và cứng nhắc, một biểu cảm thoạt nhìn có lẽ còn toát lên vẻ hiểm nguy hơn cả cơn thịnh nộ bùng nổ vừa rồi.

"Tôi đã sống quá lâu giữa chốn man hoang và đứng ngoài vòng pháp luật," ông ta gằn giọng, "đến mức tôi đã quen với việc tự định ra luật lệ cho riêng mình. Tốt nhất ông nên nhớ kỹ điều đó, ông Holmes ạ, đừng vội quên, vì vốn dĩ tôi chẳng có ý định làm hại ông."

"Tôi cũng chẳng mảy may muốn làm ngài bị thương đâu, Tiến sĩ Sterndale. Hẳn bằng chứng rành rành nhất cho điều đó là, với tất cả những gì tôi biết, tôi đã triệu ngài đến đây chứ không phải gọi cho cảnh sát."

Sterndale kinh ngạc há hốc miệng rồi thả người ngồi xuống. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong suốt cuộc đời phiêu lưu ngang dọc, ngài bị áp đảo hoàn toàn. Sự điềm tĩnh vững vàng toát ra từ thái độ của Holmes mang theo một sức mạnh không thể chối từ. Vị khách của chúng tôi lắp bắp trong vài giây, đôi bàn tay to lớn liên tục mở ra rồi nắm lại đầy kích động.

"Ý ông là sao?" cuối cùng ông ta cũng bật hỏi. "Nếu đây chỉ là trò lừa phỉnh của ông, ông Holmes, thì ông đã chọn nhầm đối tượng để thử nghiệm rồi đấy. Đừng vòng vo tam quốc nữa. Thực ra ông đang ám chỉ điều gì?"

"Tôi sẽ nói cho ngài hay," Holmes đáp, "và lý do tôi thẳng thắn với ngài là vì tôi mong nhận lại được sự chân thành tương đương. Bước đi tiếp theo của tôi sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào lời lẽ ngài tự bào chữa cho chính mình."

"Lời bào chữa của tôi ư?"

"Đúng vậy, thưa ngài."

"Tôi phải bào chữa về điều gì cơ chứ?"

"Về cáo buộc sát hại Mortimer Tregennis."

Sterndale lấy khăn tay lau những giọt mồ hôi rịn trên trán. "Thề có Chúa, ông đang đi quá xa rồi đấy," ông ta nói. "Có phải mọi thành công của ông đều dựa dẫm vào cái tài lừa bịp phi thường này không?"

"Sự lừa gạt," Holmes nghiêm giọng, "chính ngài mới là người đang thực hiện, Tiến sĩ Leon Sterndale, chứ không phải tôi. Để chứng minh, tôi sẽ hé lộ cho ngài vài sự thật dựa trên suy luận của tôi. Về việc ngài đột ngột quay lại từ Plymouth, bỏ mặc phần lớn tài sản của mình tiếp tục hành trình tới châu Phi, tôi sẽ không bàn sâu, ngoại trừ việc chi tiết ấy đã ngầm báo cho tôi biết rằng ngài là một mắt xích không thể bỏ qua khi xâu chuỗi lại toàn bộ bi kịch này-"

"Tôi đã quay lại-"

"Tôi đã nghe các lý do của ngài và nhận thấy chúng hoàn toàn thiếu thuyết phục và không hề đầy đủ. Chúng ta hãy tạm gác chuyện đó sang một bên. Ngài đã thân chinh đến đây cốt để dò hỏi xem tôi đang nghi ngờ ai. Tôi đã từ chối trả lời ngài. Sau đó, ngài cất bước đến nhà xứ, nán lại bên ngoài một lúc, rồi cuối cùng trở về ngôi nhà nhỏ của mình."

"Làm sao ông biết được chuyện đó?"

"Tôi đã bám theo ngài."

"Tôi chẳng hề thấy ai cả."

"Đó đương nhiên là điều ngài sẽ thấy khi bị tôi bám theo. Ngài đã trải qua một đêm trằn trọc tại ngôi nhà nhỏ của mình, và ngài đã vạch ra những kế hoạch nhất định, thứ mà ngài bắt tay vào thực hiện ngay khi trời vừa hửng sáng. Bước ra khỏi cửa lúc ngày mới rạng, ngài lấy đầy túi những viên sỏi đỏ từ đống sỏi nằm cạnh cổng."

Sterndale giật nảy mình, nhìn Holmes chằm chằm đầy sững sờ.

"Rồi ngài sải bước thật nhanh vượt qua quãng đường một dặm ngăn cách ngài với nhà xứ. Tôi xin phép được nói thêm, ngài đã đi bằng chính đôi giày tennis đế gân mà ngài đang mang dưới chân lúc này. Đến nhà xứ, ngài băng qua vườn cây ăn quả và hàng rào phụ, tiến đến ngay bên dưới cửa sổ của người khách trọ Tregennis. Lúc bấy giờ trời đã sáng, nhưng cả nhà vẫn đang say giấc. Ngài lấy một ít sỏi từ trong túi ra, rồi ném lên cánh cửa sổ phía trên đầu mình."

Sterndale bật phắt dậy.

"Tôi bắt đầu tin ông chính là hiện thân của ma quỷ đấy!" ông ta thốt lên.

Holmes mỉm cười đón nhận lời khen. "Phải mất đến hai, hoặc có thể là ba nắm sỏi thì vị khách trọ nọ mới ló mặt ra cửa sổ. Ngài ra hiệu bảo ông ta xuống dưới. Ông ta vội vã khoác quần áo rồi bước xuống phòng khách. Ngài liền đột nhập qua lối cửa sổ. Đã có một cuộc chất vấn - một cuộc chất vấn chớp nhoáng - mà ở đó ngài đã đi tới đi lui trong phòng. Sau đó ngài bước ra, đóng cửa sổ lại, đứng trên bãi cỏ bên ngoài hút xì gà và lạnh lùng quan sát mọi chuyện diễn ra. Cuối cùng, khi Tregennis đã trút hơi thở cuối cùng, ngài rút lui theo đúng con đường ngài đã đến. Giờ thì, Tiến sĩ Sterndale, ngài định biện minh thế nào cho hành vi ấy, và đâu là động cơ cho hành động của ngài? Nếu ngài định lảng tránh hay bỡn cợt tôi, tôi đoan chắc với ngài rằng vấn đề này sẽ vĩnh viễn không còn nằm trong tay tôi nữa đâu."

Nét mặt vị khách của chúng tôi đã chuyển sang xám ngoét khi lắng nghe những lời buộc tội đanh thép. Ngài lặng lẽ ngồi đắm chìm trong suy tư, gục mặt vào hai bàn tay. Rồi đột nhiên, bằng một cử chỉ đầy bốc đồng, ngài rút từ túi áo ngực ra một bức ảnh và ném phịch xuống chiếc bàn gỗ mộc mạc trước mặt chúng tôi.

"Đó là lý do khiến tôi làm vậy," ông ta cất giọng.

Bức ảnh khắc họa chân dung nửa người của một phụ nữ tuyệt sắc. Holmes cúi xuống chăm chú nhìn.

"Brenda Tregennis," anh khẽ gọi tên.

"Đúng vậy, Brenda Tregennis," vị khách của chúng tôi nhắc lại. "Nhiều năm qua tôi đã yêu nàng. Nhiều năm qua nàng cũng đáp lại tình tôi. Đó chính là bí mật đằng sau quãng đời ẩn cư ở Cornwall khiến bao người phải kinh ngạc. Nơi ấy đưa tôi đến gần với điều duy nhất trên thế gian này thiết tha đối với tôi. Tôi không thể cưới nàng, bởi tôi vẫn còn một người vợ đã dứt áo ra đi từ nhiều năm trước, nhưng theo cái luật lệ đáng buồn của nước Anh, tôi chẳng thể nào ly hôn. Biết bao năm Brenda đã mỏi mòn chờ đợi. Biết bao năm tôi cũng khắc khoải đợi chờ. Và đây là kết cục cho những gì chúng tôi đã chờ đợi." Một tiếng nức nở bi thương làm rung lên cả vóc dáng đồ sộ của ngài, và ngài đưa tay ôm lấy cổ họng dưới bộ râu hoa râm. Sau đó, cố kìm nén cảm xúc, ngài lấy lại sự tự chủ và tiếp lời:

"Vị linh mục đã tường tận mọi chuyện. Ông ấy là người bạn tâm giao của chúng tôi. Ông ấy sẽ khẳng định với ông rằng nàng là một thiên thần giáng thế. Đó là lý do tại sao ông ấy tức tốc đánh điện cho tôi, và tôi đã quay lại ngay. Hành lý hay châu Phi thì có nghĩa lý gì với tôi khi hay tin một số phận nghiệt ngã như vậy đã giáng xuống người tôi yêu thương cơ chứ? Ông đã nắm được manh mối còn thiếu cho hành động của tôi rồi đấy, ông Holmes."

"Xin ông tiếp tục đi," bạn tôi giục.

Tiến sĩ Sterndale rút từ trong túi ra một gói giấy, đặt ngay ngắn lên bàn. Lớp giấy bên ngoài có ghi dòng chữ "Radix pedis diaboli4" cùng một nhãn dán màu đỏ cảnh báo chất độc ngay bên dưới. Ngài đẩy gói giấy về phía tôi. "Theo tôi biết ông là một bác sĩ, thưa ông. Đã bao giờ ông nghe nói về chế phẩm này chưa?"

"Rễ cây Chân Quỷ! Không, tôi chưa từng nghe nhắc đến nó."

"Chẳng phải vì ông thiếu sót kiến thức chuyên môn đâu," ngài nói, "bởi tôi tin chắc rằng, ngoại trừ một mẫu vật được lưu giữ tại phòng thí nghiệm ở Buda, thì chẳng còn bất cứ mẫu nào khác trên toàn cõi châu Âu. Nó chưa hề được ghi nhận trong các tài liệu dược học hay độc chất học. Rễ cây mang hình dáng của một bàn chân, nửa giống người, nửa lại giống dê; chính vì thế mà một nhà truyền giáo đam mê thực vật học đã đặt cho nó cái tên kỳ dị ấy. Nó được các thầy pháp ở vài vùng thuộc Tây Phi sử dụng như một loại độc dược dùng để thử thách phạm nhân5 và được họ coi như một bí truyền. Mẫu vật đặc biệt này tôi may mắn thu thập được trong những hoàn cảnh vô cùng dị thường tại vùng Ubangi." Vừa nói ngài vừa gỡ lớp giấy bọc, để lộ ra một nhúm bột có màu nâu đỏ tía, thoạt nhìn khá giống với thuốc hít6.

"Sao nữa, thưa ngài?" Holmes nghiêm nghị cất tiếng.

"Tôi chuẩn bị kể cho ông nghe toàn bộ sự thật, thưa ông Holmes, vì đằng nào ông cũng đã tường tận quá nhiều điều, nên có lẽ tốt nhất cho tôi là phơi bày trọn vẹn mọi thứ cho ông rõ. Tôi đã giải thích về mối giao hảo giữa tôi với gia đình Tregennis. Vì trót nặng lòng với người em gái, tôi đành hòa nhã với những người anh. Từng xảy ra một cuộc cãi vã trong gia đình xoay quanh chuyện tiền nong khiến gã Mortimer này dần trở nên xa cách, nhưng thiên hạ vẫn tưởng mọi chuyện đã êm xuôi, thế nên sau đó tôi vẫn tiếp xúc với hắn ta hệt như với những người khác. Hắn ta vốn là một kẻ giảo hoạt, xảo trá và đầy mưu mô. Vài sự việc phát sinh càng khiến tôi thêm phần nghi ngờ hắn, nhưng tôi lại chẳng có cớ gì để châm ngòi cho một cuộc cãi vã trực diện cả.

"Vào một ngày nọ, chỉ độ vài tuần trước, hắn đã ghé thăm ngôi nhà nhỏ của tôi, và tôi có lấy vài món đồ độc lạ từ châu Phi ra cho hắn chiêm ngưỡng. Giữa muôn vàn những thứ khác, tôi lại lôi thứ bột này ra, kể cho hắn nghe về những đặc tính dị thường của nó, về việc nó tác động vào các nơ-ron thần kinh kiểm soát nỗi sợ hãi ra sao, và cả chuyện những người bản địa xấu số phải đối mặt với cơn điên loạn hay cái chết như thế nào khi gánh chịu hình phạt thử thách từ vị thầy cúng trong bộ lạc. Tôi còn tiết lộ cho hắn biết rằng khoa học châu Âu sẽ hoàn toàn bất lực trong việc phát hiện ra vết tích của nó. Hắn đã chôm nó bằng cách nào thì tôi chịu, vì tôi chẳng hề rời khỏi phòng nửa bước, nhưng không mảy may nghi ngờ gì nữa, chính lúc đó, khi tôi đang mở tủ và lom khom cúi người bên chiếc hộp, hắn đã lén lút cuỗm đi một ít rễ cây chân quỷ. Tôi vẫn nhớ rành rành cảnh hắn ta liên tục gặng hỏi tôi về liều lượng cũng như thời gian phát huy tác dụng của nó, nhưng tôi lại ngây thơ không mường tượng ra nổi hắn ta lại ôm một dã tâm cá nhân để dò hỏi.

"Tôi đã chẳng thèm bận tâm đến chuyện đó nữa cho tới khi bức điện tín của vị linh mục đến tay tôi tại Plymouth. Tên ác ôn này đinh ninh rằng tôi đã nhổ neo ra khơi trước khi tin tức kịp lọt đến tai tôi, và rằng tôi sẽ biệt tích chốn rừng sâu châu Phi nhiều năm trời. Nhưng tôi đã quay gót trở lại ngay tức khắc. Đương nhiên, chỉ cần nghe qua vài chi tiết, tôi liền đinh ninh rằng chất độc của mình đã bị mang ra sử dụng. Tôi đến gặp ông với hy vọng mong manh rằng ông đã tìm ra một lời giải đáp nào khác. Nhưng làm gì có chuyện đó. Tôi đoan chắc Mortimer Tregennis chính là tên sát nhân; rằng vì lòng tham không đáy, và với ảo tưởng rằng nếu mọi thành viên khác trong gia đình hắn đều phát điên, hắn sẽ đường hoàng nghiễm nhiên trở thành người giám hộ duy nhất cho khối tài sản chung, nên hắn đã rắc loại bột chân quỷ lên họ, đẩy hai người trong số họ vào cơn điên loạn, tước đoạt mạng sống của em gái mình là Brenda, người con gái duy nhất tôi từng yêu, và cũng là người duy nhất từng trao trọn trái tim cho tôi. Tội ác của hắn là thế đấy; vậy hình phạt dành cho hắn sẽ là gì?

"Tôi có nên cậy nhờ pháp luật chăng? Bằng chứng của tôi nằm ở đâu? Tôi nắm rõ chân tướng sự việc, nhưng liệu tôi có khả năng thuyết phục một ban bồi thẩm gồm những gã đồng hương tin vào một câu chuyện hoang đường nhường này chăng? Có thể có, mà cũng có thể không. Nhưng tôi không cho phép mình chuốc lấy thất bại. Linh hồn tôi gào thét đòi được báo thù. Như tôi đã từng nói với ông trước đây, ông Holmes ạ, tôi đã dành phần lớn cuộc đời mình để phiêu bạt ngoài vòng pháp luật, và cuối cùng tôi đã tự đúc kết thành luật lệ cho riêng mình. Ngay cả lúc này cũng vậy. Tôi quyết tâm rằng kết cục mà hắn ta đã giáng xuống đầu những người khác cũng phải được chính hắn nếm trải. Hoặc là thế, hoặc tôi sẽ đích thân thực thi công lý để kết liễu hắn. Trên khắp cõi nước Anh này, vào chính khoảnh khắc này, chẳng có người đàn ông nào lại coi rẻ mạng sống của chính mình hơn tôi đâu.

"Bây giờ tôi đã phơi bày mọi thứ với ông. Chính ông đã tự xâu chuỗi phần còn lại. Quả đúng như ông nói, sau một đêm trằn trọc, tôi đã rời khỏi ngôi nhà nhỏ của mình từ rất sớm. Lường trước được khó khăn trong việc đánh thức hắn, tôi bèn nhặt một nắm sỏi từ đống sỏi mà ông đã nhắc đến, rồi ném lên cửa sổ phòng hắn. Hắn lóc cóc chạy xuống và mở lối cửa sổ phòng khách để cho tôi vào. Tôi vạch trần tội ác tày trời của hắn ngay trước mặt hắn. Tôi dõng dạc tuyên bố rằng tôi đến đây với tư cách là cả vị thẩm phán lẫn người thi hành án. Tên khốn lả người xuống ghế, tê liệt hoàn toàn khi trân trân nhìn vào khẩu súng lục của tôi. Tôi châm đèn, rắc lớp bột lên trên, rồi bước ra đứng phía ngoài cửa sổ, sẵn sàng bóp cò đúng như lời đe dọa nếu hắn dám ngo ngoe hòng trốn khỏi phòng. Chỉ vỏn vẹn năm phút sau, hắn đã tắt thở. Lạy Chúa! Hắn đã chết trong một tình cảnh thê thảm nhường nào! Nhưng trái tim tôi đã lạnh như sắt đá, bởi những gì hắn phải hứng chịu cũng chẳng khác biệt chút nào so với những nỗi đau mà người yêu bé nhỏ vô tội của tôi đã từng nếm trải trước đó. Câu chuyện của tôi là như thế đấy, ông Holmes. Có lẽ, nếu ông đem lòng yêu một người phụ nữ, bản thân ông cũng sẽ hành động quyết liệt như thế mà thôi. Dù sao đi nữa, số phận tôi giờ đây nằm trọn trong tay ông. Ông có thể toàn quyền xử trí theo ý mình. Như tôi đã khẳng định, chẳng có kẻ nào đang sống lại coi thường cái chết hơn tôi đâu."

Holmes ngồi chìm trong tĩnh lặng một hồi lâu.

"Kế hoạch sắp tới của ngài là gì?" cuối cùng anh cất tiếng hỏi.

"Tôi định sẽ chôn vùi phần đời còn lại nơi thâm sơn cùng cốc ở châu Phi. Công việc của tôi ở đó mới chỉ vẹn toàn được một nửa."

"Ngài hãy đi và hoàn tất nửa còn lại đi," Holmes nói. "Chí ít thì tôi cũng chẳng mảy may có ý định cản bước ngài."

Tiến sĩ Sterndale nhấc vóc dáng khổng lồ của mình lên, nghiêm trang cúi chào rồi sải bước rời khỏi giàn hoa. Holmes chậm rãi châm tẩu thuốc rồi đưa cho tôi bao thuốc lá của anh.

"Một chút khói không mang mầm độc có lẽ sẽ là một sự thay đổi đầy thú vị đấy," anh nói. "Tôi thiết nghĩ anh cũng phải đồng tình với tôi, Watson ạ, rằng đây chẳng phải là vụ án mà chúng ta được người ta nhờ vả can thiệp. Cuộc điều tra của chúng ta hoàn toàn độc lập, và hành động của chúng ta cũng vậy. Anh sẽ không tố cáo người đàn ông đó chứ?"

"Chắc chắn là không rồi," tôi đáp lời.

"Tôi chưa từng vướng bận ái tình, Watson ạ, nhưng giá như tôi có, và giá như người phụ nữ tôi yêu bị dồn vào một kết cục bi thảm nhường ấy, rất có thể tôi cũng sẽ hành động hệt như gã thợ săn sư tử đứng ngoài vòng pháp luật của chúng ta mà thôi. Ai mà biết được chứ? Chà, Watson, tôi sẽ không xúc phạm trí thông minh của anh bằng việc lải nhải giải thích những điều vốn dĩ đã quá đỗi rõ ràng. Những viên sỏi vương vãi trên bệ cửa sổ, tất nhiên, là điểm khởi đầu cho cuộc điều tra của tôi. Chẳng có bất kỳ thứ gì tương đồng với chúng trong khu vườn của nhà xứ cả. Chỉ đến khi tôi đổ dồn sự chú ý vào Tiến sĩ Sterndale và ngôi nhà nhỏ của ngài ấy, tôi mới phát hiện ra một đống sỏi hệt như vậy. Ngọn đèn cháy rực giữa ban thanh thiên bạch nhật cùng phần bột còn vương lại trên chụp đèn chính là những mắt xích tiếp nối hoàn hảo trong một chuỗi suy luận hiển nhiên. Và giờ đây, Watson thân mến của tôi, tôi cho rằng chúng ta có thể gột sạch vấn đề này khỏi tâm trí và quay trở lại với một lương tâm hoàn toàn thanh thản, để miệt mài nghiên cứu những cội nguồn Chaldean chắc chắn đang ẩn mình trong nhánh Cornwall của hệ ngôn ngữ Celtic vĩ đại."



  1. Một con phố nổi tiếng ở London, nơi tập trung phòng khám tư của các chuyên gia y tế hàng đầu. Chi tiết này cho thấy tình trạng sức khỏe của Holmes khi đó rất nghiêm trọng, cần đến bác sĩ giỏi nhất. 

  2. Whist là một trò đánh bài chiến thuật rất phổ biến ở Anh vào thế kỷ 18-19. Trò này thường chơi với bốn người chia làm hai đội, đòi hỏi sự tập trung và phối hợp cao giữa hai người cùng phe. 

  3. Croquet (bóng vồ) là một trò chơi ngoài trời truyền thống của Anh. Người chơi dùng một chiếc vồ bằng gỗ để đánh những quả bóng chui qua các khung sắt nhỏ cắm trên mặt cỏ. 

  4. Cụm từ tiếng Latinh mang ý nghĩa "Rễ cây Chân Quỷ" (Devil's Foot root). Đây không phải là một loài cây có thật mà là một chất độc hư cấu do chính nhà văn Arthur Conan Doyle sáng tạo ra cho vụ án này. 

  5. Chi tiết này nhắc tới hủ tục "trial by ordeal" (thử thách bằng độc dược). Người bị tình nghi phạm tội sẽ bị ép uống thuốc độc; nếu sống sót sẽ được thần linh chứng nhận là vô tội, còn nếu chết thì bị kết tội. 

  6. Thuốc hít (snuff) là một dạng thuốc lá được tán thành bột rất mịn để người dùng hít trực tiếp vào mũi thay vì hút. Thói quen này phổ biến ở giới thượng lưu châu Âu vào các thế kỷ trước.