🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG I

Thuở tôi còn trẻ dại và dễ chạnh lòng, cha tôi từng răn dạy một điều mà tới tận bây giờ, tôi vẫn hằng trăn trở.

“Bất cứ khi nào con muốn buông lời chỉ trích ai đó,” cha bảo, “hãy luôn nhớ rằng, thế gian này không phải ai cũng may mắn có được những đặc ân như con.”

Người không nói thêm lời nào. Nhưng giữa hai cha con tôi vốn luôn tồn tại một sợi dây thấu hiểu lạ lùng đằng sau vẻ ngoài trầm lặng, và tôi biết cha còn ẩn ý nhiều hơn thế. Lời dạy ấy đã rèn cho tôi thói quen dè dặt buông lời phán xét, một thói quen giúp tôi nhìn thấu biết bao bản ngã kỳ lạ, nhưng đồng thời cũng biến tôi thành nạn nhân bất đắc dĩ của những kẻ tẻ nhạt đến phát ngán. Những tâm hồn bất ổn thường rất tinh nhạy. Họ dễ dàng đánh hơi và bám chặt lấy nét tính cách này ở một người bình thường. Cũng vì lẽ đó, thời đại học tôi từng mang tiếng oan là kẻ cơ hội, chỉ vì tôi biết quá rõ những nỗi đau thầm kín của những gã trai hoang tàng và vô danh. Thật lòng mà nói, tôi chẳng bao giờ khơi gợi những lời tâm sự ấy. Thường thì tôi phải vờ như đang ngủ, vờ bận rộn, hay cố khoác lên mình vẻ cợt nhả đầy thù nghịch mỗi khi nhận ra những dấu hiệu rõ mồn một rằng một tràng thổ lộ thầm kín sắp tuôn trào. Bởi lẽ, những lời giãi bày của cánh thanh niên, hay ít nhất là cái cách họ dùng câu chữ để diễn đạt, phần lớn đều là sự cóp nhặt sáo rỗng, bị bóp méo bởi những kìm nén quá đỗi hiển nhiên. Dè dặt đánh giá chính là nuôi dưỡng một niềm hy vọng vô tận. Tôi vẫn luôn thoáng sợ rằng mình sẽ bỏ lỡ điều gì đó nếu lỡ quên mất chân lý mà cha tôi từng ngạo nghễ nhắc nhở, và tôi cũng ngạo nghễ lặp lại: ý thức về những phép tắc cư xử cơ bản không phải là thứ đặc ân được chia đều cho tất cả mọi người ngay từ lúc lọt lòng.

Và, dẫu vừa tự đắc khoe khoang về sự bao dung của chính mình, tôi buộc phải thừa nhận giới hạn của nó. Lối hành xử của một con người có thể khởi nguồn từ nền đá tảng vững chãi hay mọc lên từ vũng lầy sũng nước, nhưng đến một ngưỡng nào đó, tôi chẳng còn màng bận tâm xem nó bắt nguồn từ đâu. Khi từ miền Đông trở về vào độ thu năm ngoái, tôi chỉ muốn xỏ cả thế giới này vào đồng phục, bắt họ phải đứng nghiêm trong một khuôn mẫu đạo đức chuẩn mực đến muôn đời. Tôi không thiết tha trải qua thêm bất kỳ cuộc phiêu lưu ồn ào nào nữa, dù là với đặc quyền nhìn thấu tâm can con người. Chỉ duy nhất Gatsby-người đàn ông mang tên cuốn sách này-là ngoại lệ duy nhất trước phản ứng của tôi. Gatsby, hiện thân của mọi thứ mà tôi thực tâm khinh miệt. Nếu tính cách con người là một chuỗi liên tục những thành tựu nối tiếp nhau, thì ở anh lại toát lên một điều gì đó rực rỡ đến ngỡ ngàng, một sự nhạy cảm tột độ trước những hứa hẹn của cuộc đời. Cứ như thể anh được nối mạng với những cỗ máy tinh vi có khả năng dò được dư chấn động đất từ cách xa cả mười ngàn dặm. Sự nhạy bén này tuyệt nhiên chẳng chút dính líu tới thứ tính khí dễ lay động, yếu mềm vẫn hay được người ta tung hô là “tố chất sáng tạo”. Đó là một thiên phú nuôi dưỡng hy vọng đến phi thường, một sự lãng mạn sẵn sàng bung nở mà tôi chưa từng bắt gặp ở bất kỳ ai, và có lẽ cả đời này cũng chẳng thể tìm thấy lần thứ hai. Không, Gatsby rốt cuộc vẫn vẹn nguyên; chính những gì giáng xuống đời anh, chính thứ bụi bặm dơ bẩn lẩn khuất sau những giấc mơ của anh, mới là thứ đã tạm thời dập tắt đi chút mảy may bận tâm trong tôi đối với những nỗi buồn dang dở và những niềm vui ngắn ngủi của kiếp người.


Ba đời nay, gia tộc tôi vẫn luôn là những người danh giá và giàu có ở cái thành phố miền Trung Tây này. Nhà Carraway là một danh gia vọng tộc. Chúng tôi vẫn tự hào truyền tụng nhau rằng mình là hậu duệ của các Công tước xứ Buccleuch, nhưng thực ra, người đặt nền móng kiến tạo nên dòng họ này là anh trai ông nội tôi. Ông đặt chân đến đây vào năm mươi mốt, bỏ tiền thuê người đi lính thế mạng trong cuộc Nội chiến, rồi khởi nghiệp với việc kinh doanh đồ kim khí bán buôn-cơ ngơi mà cha tôi vẫn tiếp quản cho đến tận ngày nay.

Tôi chưa từng gặp người ông trẻ tuổi ấy, nhưng ai cũng bảo tôi trông giống hệt ông, nhất là khi ngắm bức chân dung với đường nét khá cứng cỏi treo trong phòng làm việc của cha. Tôi tốt nghiệp trường New Haven vào năm 1915, muộn hơn cha tôi đúng một phần tư thế kỷ. Ít lâu sau, tôi tham gia vào cuộc di tản muộn màng của người Teuton1, hay người ta còn gọi là cuộc Đại chiến. Tôi lao vào những cuộc phản công với một niềm say sưa tột độ, đến mức khi trở về nhà, lòng tôi cứ chộn rộn không yên. Miền Trung Tây không còn là trái tim ấm áp của thế giới nữa, mà hiện lên như một bờ rìa xơ xác của vũ trụ. Thế là tôi quyết định tiến về miền Đông để học nghề chứng khoán. Quanh tôi, ai ai cũng làm chứng khoán, nên tôi đinh ninh cái nghề này hoàn toàn có thể nuôi sống thêm một gã độc thân. Cả họ, từ cô dì đến chú bác, xúm lại bàn bạc chuyện của tôi căng thẳng y như hồi chọn trường dự bị đại học. Cuối cùng, họ tặc lưỡi, “À-ừm,” với vẻ mặt đầy đắn đo và nghiêm trọng. Cha đồng ý chu cấp cho tôi trong vòng một năm. Sau năm lần bảy lượt trì hoãn, tôi đã đặt chân đến miền Đông vào mùa xuân năm hai mươi hai, mang theo suy nghĩ rằng mình sẽ vĩnh viễn bám trụ lại nơi này.

Lẽ ra, tìm một căn phòng trọ giữa lòng thành phố là lựa chọn thiết thực nhất. Nhưng bấy giờ đang độ tiết trời ấm áp, bản thân tôi lại vừa rời bỏ một vùng quê ngập tràn những bãi cỏ rộng thênh thang và những bóng cây thân thiện. Thế nên, khi một cậu thanh niên cùng văn phòng rủ thuê chung nhà ở một thị trấn ngoại ô, tôi thấy đó quả là một ý kiến tuyệt vời. Cậu ta đã nhắm được một ngôi nhà gỗ nhỏ tồi tàn với giá tám mươi đô la một tháng. Nào ngờ đến phút chót, công ty lại điều cậu ta đi Washington, để tôi bơ vơ dọn ra ngoại ô một mình. Tôi có một con chó-hay ít nhất là tôi đã nuôi nó được vài ngày trước khi nó bỏ chạy-cùng một chiếc xe Dodge cũ kỹ, và một người giúp việc gốc Phần Lan. Hàng ngày, chị ta lo dọn giường, nấu bữa sáng và hay lẩm bẩm những triết lý quê nhà với chính mình bên chiếc bếp điện.

Cảm giác cô đơn bủa vây tôi mất chừng một ngày. Cho đến một buổi sáng nọ, một người đàn ông dọn đến sau tôi bất chợt gọi giật tôi lại trên đường.

“Đường đến khu West Egg đi lối nào thế anh?” anh ta bối rối hỏi.

Tôi tận tình chỉ đường cho anh ta. Và khi bước tiếp, tôi chợt thấy lòng mình không còn cô quạnh nữa. Tôi là người dẫn đường, là kẻ mở lối, là người định cư tiên phong. Anh ta đã vô tình trao cho tôi cái đặc quyền trở thành công dân của khu phố này.

Và thế là, dưới ánh mặt trời rực rỡ, cùng những vòm lá vươn mình trỗi dậy đầy sức sống hệt như những thước phim quay nhanh vạn vật nảy nở, tôi ôm ấp một niềm tin quen thuộc rằng cuộc đời đang tái sinh cùng mùa hè.

Trước mắt, tôi có cả đống sách để đọc, và một bầu không khí trong lành, dồi dào sức sống để hít căng lồng ngực. Tôi khuân về hàng chục cuốn sách viết về ngân hàng, tín dụng và chứng khoán đầu tư. Chúng xếp hàng trên giá sách của tôi, lớp bìa đỏ vàng rực rỡ như những đồng xu mới đúc, hứa hẹn sẽ phơi bày những bí mật chói lọi mà chỉ có Midas, Morgan và Maecenas2 mới thấu tỏ. Chưa kể, tôi còn nuôi tham vọng cao cả là sẽ ngấu nghiến thêm nhiều cuốn sách khác. Thời sinh viên, tôi khá đam mê văn chương. Có năm, tôi còn chắp bút viết cả một loạt bài xã luận đầy tính trang trọng và dễ đoán cho tờ Yale News. Giờ đây, tôi dự định sẽ mang tất cả những thứ đó trở lại với cuộc đời mình, để trở thành một chuyên gia có tầm nhìn thiển cận nhất trong giới chuyên gia: một “con người toàn diện.” Đó chẳng phải là một câu nói đùa đâu, bởi suy cho cùng, cuộc đời này sẽ được nhìn nhận thấu đáo và thành công hơn rất nhiều khi ta chỉ quan sát nó qua một ô cửa sổ duy nhất.

Cũng thật tình cờ khi tôi lại thuê đúng một ngôi nhà tọa lạc tại một trong những khu dân cư kỳ lạ nhất Bắc Mỹ. Nó nằm trên một hòn đảo hẹp và ồn ào trải dài về phía đông New York. Tại đây, giữa vô vàn những kỳ quan thiên nhiên, còn có hai dải đất mang hình thù lạ lùng. Cách thành phố hai mươi dặm, một cặp trứng khổng lồ mang đường viền giống hệt nhau, bị chia cắt bởi một vịnh nước nhỏ êm đềm, đang nhô mình ra vùng nước mặn thuần hóa nhất Tây bán cầu-cái khoảng sân ngập nước mênh mông của eo biển Long Island. Chúng không phải là những hình bầu dục hoàn hảo. Giống như quả trứng trong giai thoại của Columbus3, chúng đều bị đập bẹp ở phần tiếp xúc. Dẫu vậy, sự tương đồng về mặt hình thể của chúng hẳn phải khiến những bầy mòng biển chao lượn trên cao không ngớt ngạc nhiên. Đối với những sinh vật không có cánh như chúng ta, điều thú vị hơn cả lại nằm ở sự khác biệt một trời một vực giữa chúng về mọi phương diện, ngoại trừ hình dáng và kích thước.

Tôi sống ở West Egg-cái, chà, có thể nói là cái dải đất kém thời thượng hơn trong hai nửa. Dù đây cũng chỉ là cái mác hời hợt nhất để diễn tả sự tương phản kỳ dị và có phần gở lạ giữa hai vùng đất này. Nhà tôi nằm tít ở mũi trứng, chỉ cách eo biển chừng năm mươi thước, nằm kẹp giữa hai khu dinh thự khổng lồ được người ta thuê với giá mười hai hoặc mười lăm ngàn đô la mỗi mùa. Tòa dinh thự bên phải nhà tôi là một công trình đồ sộ theo mọi tiêu chuẩn. Nó là bản sao y xì đúc của một Tòa thị chính nào đó bên vùng Normandy, với một ngọn tháp mọc vút lên ở một bên sườn, mới tinh tươm dưới lớp dây thường xuân mỏng manh đang rủ bóng, bên cạnh là một bể bơi lát đá cẩm thạch tuyệt đẹp và khu vườn rộng hơn bốn mươi mẫu Anh rợp bóng cây. Đó là dinh thự của Gatsby. Hoặc nói cho chính xác hơn, vì tôi vốn chẳng quen biết anh Gatsby, nên đó là cơ ngơi của một quý ông mang cái tên ấy. Ngôi nhà của tôi thực sự là một cái gai trong mắt, nhưng bù lại, nó chỉ là một cái gai bé nhỏ và dễ bị người ta phớt lờ. Nhờ thế, tôi mới có được tầm nhìn bao quát ra mặt nước, được ngắm ké một phần thảm cỏ xanh mướt của người hàng xóm, và được tận hưởng cái cảm giác gần gũi đầy an ủi của giới triệu phú-tất cả những điều đó chỉ tiêu tốn vỏn vẹn tám mươi đô la một tháng.

Bên kia mặt vịnh hiền hòa, những tòa lâu đài trắng muốt của khu East Egg thời thượng kiêu hãnh lấp lánh dọc triền nước. Và câu chuyện mùa hè của tôi thực sự bắt đầu vào buổi tối tôi lái xe sang đó dùng bữa cùng nhà Tom Buchanan. Daisy là em họ xa của tôi, còn Tom thì tôi đã quen từ thời đại học. Ngay sau chiến tranh, tôi từng dành ra hai ngày tới thăm họ tại Chicago.

Chồng em, giữa vô số thành tích thể thao lẫy lừng khác, từng là một trong những tiền đạo cánh dũng mãnh nhất lịch sử bóng bầu dục trường New Haven. Ở một góc độ nào đó, cậu ta là một nhân vật đình đám mang tầm vóc quốc gia. Cậu ta thuộc kiểu người chạm tới đỉnh cao chói lọi của sự vĩ đại đầy giới hạn ngay ở tuổi hai mươi mốt, để rồi mọi thứ về sau chẳng còn gì ngoài dư vị nhạt nhẽo. Gia đình cậu ta lại giàu nứt đố đổ vách-đến mức ngay từ thời đại học, thói vung tiền qua trán của cậu ta đã trở thành chủ đề đàm tiếu. Giờ đây, cậu ta đã rời Chicago để chuyển tới bờ Đông với một phong thái xa hoa đến nghẹt thở. Chẳng hạn như, cậu ta bứng nguyên cả một đàn ngựa polo từ Lake Forest đem xuống. Thật khó tin khi có một người bằng tuổi tôi lại sở hữu khối tài sản kếch xù đến nhường ấy.

Chẳng hiểu sao họ lại chuyển tới bờ Đông. Họ từng ném hẳn một năm trời ở Pháp mà chẳng vì lý do gì đặc biệt, rồi lại bồn chồn trôi dạt hết nơi này đến nơi khác, rượt đuổi theo những nơi chốn quy tụ giới chơi polo và những kẻ lắm tiền nhiều của. Dù Daisy từng khẳng định qua điện thoại rằng đây là lần chuyển nhà cuối cùng, tôi vẫn chẳng thể nào tin nổi. Tôi không dám chắc mình nhìn thấu được cõi lòng Daisy, nhưng tôi linh cảm Tom sẽ cứ mải miết trôi dạt như thế, mang theo chút luyến tiếc khôn nguôi, để kiếm tìm chút kích động cuồng nhiệt của một trận bóng bầu dục nào đó đã vĩnh viễn lùi vào dĩ vãng.

Và thế là, trong một buổi tối ấm áp lộng gió, tôi lái xe sang East Egg để hội ngộ hai người bạn cũ mà kỳ thực tôi chẳng mấy hiểu rõ. Cơ ngơi của họ thậm chí còn phô trương hơn những gì tôi mường tượng: một dinh thự kiểu thuộc địa Georgia rực rỡ sắc đỏ trắng, hiên ngang nhìn ra vịnh mặt nước. Bãi cỏ xanh mướt bắt nguồn từ tận mép biển, trải dài chừng một phần tư dặm tiến về phía cửa chính. Nó như đang phi nước đại, nhảy tót qua những chiếc đồng hồ mặt trời, băng qua những lối đi lát gạch cùng những khu vườn rực rỡ sắc màu, để rồi khi chạm đến ngôi nhà, nó cuộn trào lên bờ tường thành những dải dây leo bừng sáng, tựa như còn vương lại quán tính của cuộc đua. Mặt tiền dinh thự bị cắt ngang bởi một dãy cửa sổ kiểu Pháp, lúc này đang lóng lánh hắt lại ánh vàng vọt và mở toang đón gió chiều ấm áp. Giữa hiên nhà, Tom Buchanan trong bộ đồ cưỡi ngựa đang đứng đó, hai chân dang rộng đầy ngạo nghễ.

Cậu ta đã đổi khác quá nhiều so với những năm tháng ở New Haven. Giờ đây, cậu ta đã là một gã đàn ông ba mươi tuổi vạm vỡ với mái tóc màu rơm, khóe miệng ngang ngạnh và phong thái đầy trịch thượng. Đôi mắt kiêu ngạo, sáng rực như muốn thâu tóm toàn bộ khuôn mặt, phủ lên cậu ta một dáng vẻ hung hăng, lúc nào cũng như chực chờ lao về phía trước. Ngay cả nét xa hoa điệu đà của bộ đồ cưỡi ngựa cũng chẳng thể làm lu mờ được sức mạnh cuồn cuộn tỏa ra từ hình thể ấy. Cậu ta như lấp đầy đôi bốt da bóng lộn, căng cứng đến mức chực chờ làm đứt phăng dải viền trên cùng. Bất cứ ai cũng có thể thấy những khối cơ bắp rắn chắc cựa quậy dưới lớp áo khoác mỏng manh mỗi khi cậu ta nhún vai. Đó là một hình thể sở hữu sức mạnh đòn bẩy khổng lồ-một thân hình của sự tàn nhẫn.

Giọng nói của cậu ta, một âm sắc nam cao khàn khàn và cộc lốc, càng tô đậm thêm ấn tượng về sự cục cằn, nóng nảy. Ẩn sâu trong đó còn vương chút khinh miệt của kẻ tự cho mình ở thế bề trên, kể cả khi nói với những người cậu ta mến. Chẳng trách hồi ở New Haven, từng có những người mang lòng căm ghét cậu ta đến tận xương tủy.

"Đừng tưởng ý kiến của tôi trong mấy chuyện này là chân lý cuối cùng nhé," dáng vẻ cậu ta như toát lên điều đó, "chỉ vì tôi mạnh mẽ hơn và đàn ông hơn cậu thôi." Chúng tôi từng sinh hoạt chung trong câu lạc bộ năm cuối, và dẫu chưa bao giờ thực sự thân thiết, tôi luôn mơ hồ cảm thấy cậu ta đánh giá cao tôi, và mang một khao khát ngang ngạnh, gay gắt tột độ rằng tôi sẽ thích cậu ta.

Chúng tôi đứng vãn chuyện vài phút trên khoảng hiên ngập nắng.

"Chỗ của tôi ở đây cũng khá ra trò đấy," cậu ta nói, đôi mắt bồn chồn đảo quanh.

Quàng một cánh tay xoay hẳn người tôi lại, cậu ta lấy bàn tay to bản huơ một vòng dọc theo quang cảnh phía trước. Gom trọn trong cái vung tay ấy là một khu vườn kiểu Ý xây trũng, nửa mẫu hoa hồng đỏ thẫm tỏa hương ngào ngạt, cùng một chiếc xuồng máy mũi hếch đang dập dềnh cưỡi trên những con sóng thủy triều ngoài khơi.

"Nơi này từng thuộc về Demaine, ông trùm dầu mỏ đấy." Cậu ta lại xoay người tôi lại, đầy lịch sự nhưng cũng đột ngột không kém. "Vào trong thôi."

Chúng tôi bước qua một hành lang trần cao, tiến vào một không gian rực rỡ sắc hồng. Căn phòng mong manh gắn kết với phần còn lại của ngôi nhà thông qua những cánh cửa sổ kiểu Pháp ở hai đầu. Những ô cửa mở hé lấp lánh sắc trắng, đan xen tương phản với thảm cỏ tươi tốt bên ngoài-thứ dường như đã kịp mọc tràn cả vào trong. Một cơn gió ùa qua căn phòng, thổi tung những tấm rèm ở đầu này rồi đẩy trào ra ở đầu kia tựa như những lá cờ nhợt nhạt. Gió cuộn rèm lên tận phía trần nhà được trang trí như một chiếc bánh cưới phủ kem, rồi lại lướt sóng qua tấm thảm màu rượu vang, để lại một cái bóng sẫm màu hệt như những vệt gió đuổi nhau trên mặt biển.

Thứ duy nhất hoàn toàn bất động trong phòng là một chiếc tràng kỷ khổng lồ, nơi có hai người phụ nữ trẻ đang nổi bồng bềnh như thể yên tọa trên một quả khinh khí cầu được neo chặt. Cả hai đều diện đồ trắng. Những chiếc váy gợn sóng bay lấp lới, tựa như họ vừa bị thổi ngược vào trong sau một chuyến bay lượn vòng quanh dinh thự. Hẳn là tôi đã đứng lặng đi trong chốc lát, lọt thỏm giữa tiếng rèm cửa phần phật vút qua, hòa cùng tiếng lách cách và âm thanh kẽo kẹt của một bức tranh treo tường. Sau đó là một tiếng rầm khô khốc vang lên khi Tom Buchanan đóng sầm những cánh cửa sổ phía sau. Cơn gió bị nhốt lại tắt ngấm; những tấm rèm, tấm thảm và cả hai người phụ nữ trẻ từ từ hạ phồng xuống sàn.

Người trẻ hơn trong hai người phụ nữ là một người lạ. Cô nằm duỗi dài trên ghế đi-văng, hoàn toàn bất động. Chiếc cằm hơi hếch lên như thể cô đang cố giữ thăng bằng cho một vật gì đó rất dễ rơi vỡ. Nếu cô có thoáng thấy tôi qua khóe mắt, thì cô cũng chẳng mảy may để lộ ra. Quả thực, tôi gần như đã giật mình bật ra một lời xin lỗi vì trót bước vào làm phiền cô.

Cô gái còn lại, Daisy, cố gắng gượng dậy. Em hơi rướn người về phía trước với một biểu cảm đầy tận tâm, rồi bật cười-một điệu cười lanh lảnh, vô lý nhưng lại quyến rũ đến lạ kỳ. Bất giác, tôi cũng bật cười theo rồi bước sâu hơn vào phòng.

"Em đang t-tê liệt vì hạnh phúc đây."

Em lại cười, ra chiều vừa nói được một câu dí dỏm lắm. Em nắm lấy tay tôi một lúc, ngước lên nhìn thẳng vào mắt tôi, như muốn thầm hứa rằng trên thế gian này chẳng có ai mà em khát khao được gặp hơn tôi lúc này. Đó luôn là chiêu trò quen thuộc của em. Rồi em cất giọng lẩm bẩm, ngầm giới thiệu cô gái đang giữ thăng bằng kia mang họ Baker. (Người ta đồn rằng Daisy thường cố tình hạ giọng thì thầm chỉ để ép người khác phải chú ý lắng nghe em; lời chỉ trích vu vơ này quả thực chẳng mảy may làm vơi bớt nét quyến rũ của em chút nào.)

Dù sao đi nữa, đôi môi cô Baker cũng khẽ rung lên. Cô gật đầu chào tôi một cách khiên cưỡng đến mức gần như không thể nhận ra, rồi nhanh chóng ngửa đầu ra sau lần nữa-cái vật vô hình mà cô đang nâng niu giữ thăng bằng rõ ràng vừa hơi chao đảo và làm cô thoáng giật mình. Một lần nữa, lời xin lỗi lại chực chờ bật ra khỏi môi tôi. Bởi lẽ, gần như bất kỳ màn phô diễn nào của sự kiêu kỳ, tự mãn tột độ cũng đều dễ dàng ép tôi phải khuất phục trong sự thán phục sững sờ.

Tôi quay lại nhìn cô em họ. Em bắt đầu dồn dập hỏi tôi bằng chất giọng trầm ấm, chan chứa sự bồn chồn. Đó là kiểu giọng nói khiến đôi tai người nghe phải mải miết rượt theo từng âm bổng, âm trầm; như thể mỗi lời thốt ra đều là một bản phối của những nốt nhạc độc nhất vô nhị, mãi mãi chẳng bao giờ được cất lên lần thứ hai. Khuôn mặt em phảng phất nét u buồn nhưng lại đáng yêu cùng những đường nét rạng rỡ, đôi mắt long lanh và đôi môi bừng sáng ngọn lửa đam mê. Nhưng, ẩn giấu trong giọng nói ấy là một sự phấn khích tột độ mà những gã đàn ông từng trót si mê em khó lòng quên được: một sức lôi cuốn như đang cất tiếng hát, một tiếng thì thầm mời gọi "Nghe này," một lời hứa hẹn rằng em vừa tận hưởng vô vàn điều thú vị ban nãy, và chắc chắn sẽ còn vô vàn điều thú vị khác đang chờ đợi trong những giờ phút tiếp theo.

Tôi kể em nghe chuyện mình đã nán lại Chicago một ngày trên chặng đường tiến về bờ Đông, và hàng tá người đã nhờ tôi gửi lời hỏi thăm em.

"Họ có nhớ em không?" em mếu máo kêu lên trong niềm sung sướng.

"Cả thị trấn đìu hiu. Mọi chiếc xe hơi đều sơn bánh sau bên trái màu đen tựa như vòng hoa tang, và một tiếng than khóc cứ nỉ non não nuột suốt đêm dọc theo đường bờ biển phía bắc."

"Tuyệt quá! Chúng ta phải quay lại đó thôi, Tom. Ngay ngày mai!" Rồi em bỗng nhảy sang một chủ đề chẳng hề liên quan: "Anh nên gặp con bé."

"Anh rất muốn."

"Nó đang ngủ. Nó lên ba rồi đấy. Anh chưa từng gặp nó sao?"

"Chưa từng."

"Chà, anh nên gặp nó. Nó-"

Tom Buchanan, nãy giờ vẫn lượn lờ bồn chồn quanh phòng, chợt dừng bước và đặt tay lên vai tôi.

"Cậu làm nghề gì thế, Nick?"

"Tôi làm nhân viên môi giới chứng khoán."

"Làm cho ai?"

Tôi đọc tên công ty cho cậu ta nghe.

"Chưa từng nghe đến bọn họ bao giờ," cậu ta buông lời dứt khoát.

Thái độ ấy khiến tôi gai mắt.

"Rồi cậu sẽ nghe thôi," tôi đáp cộc lốc. "Cậu sẽ phải nghe tên họ nếu cậu quyết định bám trụ lại bờ Đông."

"Ồ, tôi sẽ ở lại bờ Đông, đừng lo," cậu ta nói, liếc nhìn Daisy rồi lại ném ánh nhìn về phía tôi, như thể đang cảnh giác chực chờ một thứ gì đó tồi tệ hơn. "Tôi sẽ là một thằng ngu chết tiệt nếu phải sống ở bất kỳ một chỗ nào khác."

Chính lúc ấy, cô Baker bỗng cất tiếng: "Chắc chắn rồi!" Lời nói bất thình lình đến mức làm tôi giật thót-đó là thanh âm đầu tiên cô thốt ra kể từ khi tôi bước vào phòng. Hiển nhiên, bản thân cô dường như cũng ngạc nhiên chẳng kém gì tôi. Cô ngáp dài, rồi bằng một chuỗi chuyển động nhanh nhẹn, uyển chuyển, cô vươn người đứng dậy.

"Tôi cứng đờ cả người rồi," cô rên rỉ than vãn. "Tôi đã nằm dí trên chiếc sô-pha đó lâu đến mức chẳng còn nhớ nổi thời gian nữa."

"Đừng có nhìn mình," Daisy đốp chát lại. "Mình đã gãy cả lưỡi nài nỉ cậu đến New York suốt cả chiều nay rồi còn gì."

"Không, cảm ơn," cô Baker đáp lại trước bốn ly cocktail vừa được quản gia bưng ra từ phòng thức ăn. "Tôi đang trong chu kỳ huấn luyện vô cùng nghiêm ngặt."

Vị chủ nhà ném về phía cô một ánh nhìn đầy hoài nghi.

"Cô mà cũng huấn luyện cơ đấy!" Cậu ta nốc cạn ly rượu trong tay, nhẹ tênh như thể đó chỉ là một giọt nước đọng dưới đáy ly. "Tôi cũng chịu, chẳng hiểu làm thế nào mà cô có thể hoàn thành được bất cứ việc gì trên đời này."

Tôi lẳng lặng quan sát cô Baker, tự hỏi rốt cuộc cô đã "hoàn thành" được tích sự gì. Tôi rất thích ngắm nhìn cô. Đó là một cô gái thanh mảnh, ngực nhỏ, với dáng điệu thẳng tắp được tô điểm thêm bởi thói quen hơi rướn vai về phía sau tựa như một chàng thiếu sinh quân trẻ tuổi. Đôi mắt xám tro mỏi mệt vì ánh nắng đáp lại tôi bằng một sự tò mò chừng mực-một sự đáp lễ đầy lịch thiệp từ khuôn mặt nhợt nhạt, quyến rũ nhưng lại toát lên vẻ bất mãn thường trực. Mãi đến lúc này tôi mới sực nhớ ra rằng mình đã từng bắt gặp cô, hoặc chí ít là một bức ảnh của cô, ở đâu đó trước đây.

"Anh sống ở West Egg," cô nhận xét bằng một giọng điệu hơi hướm khinh bỉ. "Tôi có quen một người ở đó."

"Tôi thì chẳng quen lấy một-"

"Anh chắc hẳn phải quen Gatsby."

"Gatsby sao?" Daisy gặng hỏi. "Gatsby nào cơ?"

Chưa kịp để tôi mở lời đáp rằng anh ta là hàng xóm của tôi, quản gia đã thông báo bữa tối sẵn sàng. Luồn cánh tay căng cứng cơ bắp của mình dưới cánh tay tôi một cách đầy áp đặt, Tom Buchanan cưỡng ép tôi rời khỏi phòng y như cách người ta tùy tiện di chuyển một quân cờ đam sang ô khác.

Dáng vẻ thanh mảnh, uể oải, tay chống nhẹ lên hông, hai người phụ nữ trẻ khoan thai đi trước chúng tôi tiến ra một hành lang màu hồng. Không gian mở toang đón ánh mặt trời lặn, nơi bốn ngọn nến đang leo lét cháy trên bàn giữa làn gió chiều đã bắt đầu ngưng lặng.

"Sao lại thắp nến thế này?" Daisy nhăn mặt phản đối. Em dùng những ngón tay bóp tắt ngúm từng ngọn nến. "Chỉ hai tuần nữa là đến ngày dài nhất trong năm rồi." Em rạng rỡ đảo mắt nhìn quanh. "Mọi người có bao giờ cứ ngóng chờ ngày dài nhất trong năm để rồi cuối cùng lại để vuột mất nó không? Em lúc nào cũng ngóng chờ ngày dài nhất, nhưng lần nào cũng để lỡ mất."

"Chúng ta nên lên kế hoạch làm gì đó đi," cô Baker ngáp dài một cái, trượt người ngồi xuống ghế cứ như đang chuẩn bị leo lên giường ngủ.

"Được thôi," Daisy hưởng ứng. "Nhưng chúng ta sẽ lên kế hoạch cho việc gì mới được?" Em bất lực quay sang cầu cứu tôi: "Người ta thường lên kế hoạch làm những chuyện gì nhỉ?"

Nhưng trước khi tôi kịp mở lời, ánh mắt em đã dán chặt vào ngón tay út với một vẻ kinh hãi tột độ.

"Nhìn này!" em bù lu bù loa than vãn; "Em bị thương rồi."

Tất cả chúng tôi xúm lại nhìn-đốt ngón tay em đã bầm tím.

"Chính anh làm đấy, Tom," em hậm hực buộc tội. "Em biết anh không cố ý, nhưng rõ ràng anh đã làm. Đó là cái giá em phải trả khi kết hôn với một gã đàn ông vũ phu, một khối thể hình to xác, thô lỗ và hộ pháp-"

"Tôi ghét từ ‘hộ pháp’," Tom cáu kỉnh gạt đi, "kể cả trong lúc nói đùa."

"Hộ pháp," Daisy lì lợm nhắc lại.

Đôi lúc, em và cô Baker cất tiếng cùng một thời điểm. Dẫu chỉ là vài câu bông đùa hờ hững, rời rạc và chẳng bao giờ đủ sức dệt thành một cuộc tán gẫu đúng nghĩa, nhưng nó lại mang đến một cảm giác thanh mát như chính màu áo trắng và đôi mắt lạnh nhạt, vô dục vô cầu của họ. Họ hiện diện ở đây, miễn cưỡng chấp nhận sự có mặt của Tom và tôi, chỉ đơn thuần thực hiện một nỗ lực lịch thiệp đầy dễ chịu để tiêu khiển hoặc để được tiêu khiển. Họ thừa biết rằng chẳng mấy chốc bữa tối sẽ tàn, và rồi một lát sau, cả buổi tối này cũng sẽ khép lại và bị ném vào dĩ vãng một cách tình cờ. Nhịp điệu này trái ngược hoàn toàn với miền Tây, nơi một buổi tối luôn bị vắt kiệt, bị hối hả xua đuổi qua hết giai đoạn này đến giai đoạn khác cho đến tận phút chót, đắm chìm trong sự khao khát đợi chờ đầy thất vọng, hay trong nỗi khiếp đảm tột cùng trước chính khoảnh khắc tàn cuộc.

"Mọi người khiến tôi cảm thấy mình thật kém cỏi và thiếu văn minh đấy, Daisy," tôi thú nhận, tay xoay xoay ly rượu vang đỏ sẫm lần thứ hai. Rượu xộc lên mùi nút bần nhưng hương vị lại khá ấn tượng. "Mọi người không thể bàn chuyện mùa màng hay thứ gì đó đại loại vậy sao?"

Câu nói đó chẳng hàm ý gì sâu xa, nhưng lại nhận về một phản ứng chẳng ai ngờ tới.

"Nền văn minh đang trên đà sụp đổ," Tom hùng hổ ngắt lời. "Tôi đã trở thành một kẻ cực kỳ bi quan về mọi thứ. Mọi người ở đây đã đọc cuốn Sự trỗi dậy của các Đế chế Da màu4 của tác giả Goddard chưa?"

"Chà, tôi chưa," tôi đáp lại, không khỏi ngỡ ngàng trước giọng điệu gay gắt của cậu ta.

"Chà, đó là một tuyệt tác, và mọi người nhất định phải đọc nó. Tư tưởng cốt lõi là, nếu chúng ta không cẩn trọng, chủng tộc da trắng sẽ-sẽ bị nhấn chìm hoàn toàn. Đó hoàn toàn là những kiến thức khoa học; nó đã được chứng minh rành rành rồi."

"Tom dạo này thâm thúy lắm," Daisy buông lời, phảng phất vẻ u sầu hời hợt. "Anh ấy toàn đọc những cuốn sách uyên bác đầy rẫy những từ ngữ dài thượt. Cái từ mà chúng ta-"

"Chà, những cuốn sách đó đều mang tính khoa học," Tom khăng khăng bảo vệ quan điểm, quắc mắt nhìn em đầy thiếu kiên nhẫn. "Tác giả cuốn sách đã lý giải trọn vẹn mọi bề vấn đề. Cốt lõi là chúng ta, chủng tộc thượng đẳng thống trị, phải hết sức dè chừng, bằng không những chủng tộc hạ đẳng khác sẽ chiếm lấy quyền kiểm soát tất thảy."

"Chúng ta phải đánh gục chúng thôi," Daisy thầm thì, nháy mắt tinh nghịch về phía vầng thái dương đang rừng rực cháy.

"Mọi người nên chuyển đến California mà sống-" cô Baker toan lên tiếng, nhưng Tom đã thô bạo chặn họng cô bằng cách xoay mạnh thân hình nặng nề trên ghế.

"Vấn đề là chúng ta mang dòng máu Bắc Âu. Tôi, và cậu, và cô, và-" Sau một tích tắc ngập ngừng ngủi, cậu ta cũng ban phát cho Daisy một cái gật đầu nhè nhẹ ngụ ý bao gồm cả em, và em lại lén nháy mắt với tôi. "-Và chúng ta đã kiến tạo nên mọi nền tảng tạo dựng nền văn minh-nào là khoa học, nghệ thuật, và tất cả mọi thứ trên đời. Mọi người hiểu ý tôi chứ?"

Có một sự thảm hại không thể chối cãi toát ra từ thái độ tập trung cao độ của cậu ta. Dường như thói tự mãn, giờ đây dẫu đã cắm rễ sâu hơn trước, vẫn chẳng thể làm cậu ta thỏa mãn. Gần như ngay lập tức, tiếng điện thoại réo vang từ bên trong, người quản gia hối hả rời khỏi hiên nhà. Chớp lấy khoảnh khắc gián đoạn chớp nhoáng ấy, Daisy rướn người về phía tôi.

"Em sẽ bật mí cho anh một bí mật gia đình nhé," em hào hứng thì thào. "Về cái mũi của tay quản gia. Anh có tò mò về cái mũi của anh ta không?"

"Đó chính là lý do tối nay anh có mặt ở đây đấy."

"Chà, thực ra anh ta không phải lúc nào cũng làm nghề quản gia đâu. Anh ta từng phụ trách đánh bóng đồ bạc cho một gia đình ở New York, nơi sở hữu bộ dụng cụ bằng bạc phục vụ đủ cho hai trăm người. Anh ta phải cắm mặt đánh bóng từ sáng chí tối, cho đến khi hóa chất bắt đầu tàn phá mũi anh ta-"

"Thế rồi mọi chuyện cứ thế trượt dài từ tệ đến tệ hơn," cô Baker chêm vào.

"Chuẩn luôn. Mọi chuyện cứ thế tuột dốc không phanh, cho đến khi anh ta buộc phải buông bỏ công việc đó."

Trong khoảnh khắc ấy, những vạt nắng rớt lại cuối ngày buông mình đậu xuống khuôn mặt rạng rỡ của em, dệt nên một bức tranh vô cùng lãng mạn. Giọng nói của em thôi miên, cuốn tôi rướn người về phía trước, nín thở nuốt từng lời. Rồi ánh sáng dần nhạt phai, từng tia nắng dùng dằng rời bỏ em với một nỗi luyến tiếc khôn nguôi, tựa như đám trẻ con bịn rịn rời khỏi con phố thân quen lúc nhá nhem tối.

Người quản gia quay lại, lẩm bẩm điều gì đó vào tai Tom. Ngay tắp lự, cậu ta cau mày, đẩy ghế đánh xịch ra sau rồi lầm lì bước vào nhà chẳng buồn buông nửa lời. Tựa như sự vắng mặt của Tom vừa đánh thức một thứ gì đó ẩn sâu bên trong, Daisy lại rướn người về phía trước. Giọng em bừng sáng, lảnh lót như chim ca.

"Em rất thích nhìn thấy anh ngồi ở bàn ăn của em, Nick à. Anh làm em nhớ đến một-một đóa hồng, một đóa hồng hoàn hảo tuyệt đối. Đúng không nào?" Em quay sang cô Baker tìm kiếm sự đồng tình. "Một đóa hồng tuyệt đối?"

Điều này chẳng đúng chút nào. Trông tôi chả có tí ti dáng dấp nào của một đóa hồng cả. Em chỉ đang nói năng ứng khẩu, nhưng một luồng hơi ấm xao xuyến cứ thế tuôn trào từ em, tựa như trái tim em đang khao khát vươn ra chạm đến mọi người, ẩn mình sau những từ ngữ đầy rung động và nghẹt thở ấy. Rồi đột ngột, em ném phịch chiếc khăn ăn xuống bàn, buông lời xin phép rồi vội vã quay vào nhà.

Cô Baker và tôi trao đổi một ánh nhìn chớp nhoáng, hoàn toàn ý thức được sự vô nghĩa của khoảnh khắc ấy. Tôi vừa toan mở lời thì cô bỗng ngồi thẳng lưng, điệu bộ vô cùng tỉnh táo, môi rít lên một tiếng "Suỵt!" đầy cảnh báo. Từ căn phòng bên cạnh, những tiếng thì thào nghèn nghẹt, chan chứa những cảm xúc mãnh liệt vọng ra. Không chút e dè, cô Baker đổ người về phía trước, dỏng tai lên cố nghe ngóng. Những âm thanh rầm rì ấy cứ run rẩy mấp mé bên bờ vực của sự rành mạch, lúc chìm nghỉm, lúc lại bùng lên đầy kích động, rồi đột ngột câm bặt hoàn toàn.

"Anh chàng Gatsby mà cô nhắc tới ban nãy, anh ấy là hàng xóm của tôi-" tôi mào đầu.

"Đừng nói nữa. Tôi đang muốn nghe xem có chuyện gì đang xảy ra."

"Có chuyện gì đang xảy ra sao?" tôi ngây ngô thăm dò.

"Ý anh là anh chẳng biết gì ư?" cô Baker đáp, vẻ kinh ngạc lộ rõ. "Tôi cứ ngỡ chuyện này ai cũng biết cả rồi chứ."

"Tôi hoàn toàn mù tịt."

"Sao-" cô ậm ừ ngập ngừng. "Tom đang cặp kè với một ả đàn bà nào đó ở New York."

"Cặp kè với một ả đàn bà nào đó ư?" tôi lặp lại, đầu óc hoàn toàn trống rỗng.

Cô Baker gật đầu xác nhận.

"Ít ra ả cũng phải có chút phép lịch sự tối thiểu là đừng gọi điện cho cậu ấy vào giờ cơm tối chứ. Anh có nghĩ thế không?"

Gần như trước khi tôi kịp tiêu hóa hết ẩn ý trong câu nói của cô, tiếng váy áo sột soạt hòa cùng tiếng lạo xạo của đôi bốt da đã cất lên; Tom và Daisy quay trở lại bàn ăn.

"Thật là chuyện ngoài ý muốn!" Daisy thốt lên, điệu bộ vui vẻ gượng gạo, căng thẳng.

Em ngồi xuống ghế, đánh mắt dò xét cô Baker rồi quay sang nhìn tôi, líu lo tiếp: "Em vừa ngó ra ngoài một lúc, cảnh tượng bên ngoài thật sự lãng mạn kinh khủng. Có một chú chim lảnh lót trên bãi cỏ mà em chắc mẩm đó là một con sơn ca đã quá giang tàu Cunard hay White Star Line5 sang tận đây. Nó đang hót líu lo-" Giọng em cao vút: "Thật lãng mạn phải không anh, Tom?"

"Rất lãng mạn," cậu ta lầm bầm, rồi hậm hực quay sang nói với tôi: "Ăn xong mà trời còn đủ sáng, tôi muốn dẫn cậu xuống xem chuồng ngựa."

Đột nhiên, tiếng chuông điện thoại lại réo vang chói lói bên trong. Và khi Daisy kiên quyết lắc đầu ném cho Tom một ánh nhìn đanh thép, chủ đề về chuồng ngựa, hay chính xác hơn là mọi chủ đề trên đời, đều đồng loạt tan biến vào hư không. Giữa những mảnh vỡ vụn vặt của năm phút cuối cùng bên bàn ăn, tôi chỉ nhớ rằng những ngọn nến lại được thắp lên một cách vô duyên vô cớ. Tôi ý thức rõ khao khát muốn nhìn thẳng vào mặt mọi người, nhưng đồng thời lại muốn lảng tránh đi mọi ánh mắt. Tôi chẳng thể tài nào đoán nổi Daisy và Tom đang mưu tính gì trong đầu; nhưng tôi dám chắc ngay cả cô Baker, người vốn đã tôi luyện được cho mình một lớp vỏ bọc hoài nghi cứng cáp, cũng chẳng thể gạt bỏ hoàn toàn sự hiện diện gay gắt, chói tai của vị khách vô hình thứ năm kia ra khỏi tâm trí. Với những kẻ có máu tò tự nhiên, tình huống này hẳn là đầy sức hấp dẫn-nhưng bản năng trong tôi lúc đó chỉ muốn ngay lập tức gọi cảnh sát.

Đương nhiên, chẳng ai còn thiết tha đoái hoài gì đến bầy ngựa nữa. Tom và cô Baker thả bộ trở lại thư viện, duy trì một khoảng cách chừng vài bước chân trong bóng hoàng hôn nhập nhoạng, trông dáng vẻ họ y như đang lê bước đến một buổi cầu nguyện cạnh một thi thể hữu hình. Trong khi đó, tôi-cố làm ra vẻ vui tươi, quan tâm và giả bộ lãng tai đôi chút-lẽo đẽo theo Daisy đi vòng qua một chuỗi các mái hiên nối tiếp nhau để tiến ra hàng hiên phía trước. Giữa màn đêm đang dần buông xuống đen đặc, chúng tôi ngồi sóng đôi bên nhau trên một chiếc ghế mây.

Daisy dùng hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt, như thể đang muốn cảm nhận từng đường nét đáng yêu của nó. Đôi mắt em từ từ phóng tầm nhìn vào màn đêm tĩnh mịch. Nhận thấy những luồng cảm xúc hỗn mang đang dâng lên xâm lấn tâm hồn em, tôi bèn cố lân la gợi chuyện bằng những câu hỏi mà tôi cho là đủ sức xoa dịu về cô con gái bé bỏng của em.

"Chúng ta chẳng mấy hiểu rõ về nhau đâu, Nick à," em đột ngột lên tiếng. "Dẫu chúng ta có là anh em họ đi chăng nữa. Anh thậm chí còn chẳng thèm đến dự đám cưới của em."

"Lúc đó anh vẫn chưa xuất ngũ trở về."

"Đúng vậy nhỉ." Em ngập ngừng. "Chà, em đã phải nếm trải một khoảng thời gian vô cùng tồi tệ, Nick à. Giờ đây em đâm ra hoài nghi về mọi thứ trên đời."

Hiển nhiên là em có đủ lý do để hoài nghi. Tôi lặng im chờ đợi nhưng em chẳng nói thêm lời nào. Một lát sau, tôi đành yếu ớt lái câu chuyện quay về chủ đề cô con gái.

"Anh đoán chắc con bé đã biết bập bẹ, biết ăn, và mọi thứ khác rồi chứ."

"Ồ, vâng." Em ném cho tôi một ánh nhìn lơ đãng. "Nghe này, Nick; để em kể cho anh nghe những gì em đã thốt ra vào giây phút con bé chào đời nhé. Anh có tò mò không?"

"Rất muốn nghe là đằng khác."

"Nó sẽ cho anh thấy em đã cảm nhận như thế nào về-về tất thảy mọi thứ. Chà, con bé lúc ấy vừa chào đời chưa đầy một giờ đồng hồ, và chỉ có Chúa mới biết gã Tom đang chui rúc ở cái xó xỉnh nào. Em bừng tỉnh sau cơn mê man vì thuốc với một cảm giác bị bỏ rơi, lạnh lẽo đến tận cùng. Ngay lập tức, em hỏi cô y tá xem đó là bé trai hay bé gái. Cô ấy bảo đó là một bé gái. Nghe vậy, em ngoảnh mặt đi và bật khóc nức nở. 'Tuyệt lắm,' em nói, 'Tôi rất mừng vì đó là một bé gái. Và tôi mong sao nó sẽ là một kẻ ngốc-bởi trên cái thế gian này, điều tốt đẹp nhất mà một đứa con gái có thể trở thành, chính là một kẻ ngốc nghếch nhỏ bé xinh đẹp.'

"Anh thấy đấy, tựu trung lại thì em vẫn thấy mọi thứ trên đời này đều tồi tệ mục nát cả," em tiếp lời bằng một giọng điệu vô cùng đanh thép thuyết phục. "Ai cũng nghĩ vậy cả thôi-nhất là những người tân tiến. Và em thì biết rõ. Em đã đi mòn gót khắp chốn, đã chứng kiến đủ mọi trò, đã nếm trải đủ mọi thứ." Đôi mắt em đảo quanh ngập tràn vẻ thách thức, trông na ná như cách Tom vẫn thường làm, và em bật cười với một sự khinh miệt ly kỳ đến lạ. "Từng trải-Chúa ơi, em quá đỗi từng trải!"

Ngay khoảnh khắc giọng nói của em đột ngột đứt quãng, không còn đủ sức lôi kéo sự chú ý hay lòng tin của tôi nữa, tôi lập tức ngửi thấy mùi vị giả dối, thiếu chân thành cắm rễ tận sâu trong những lời em vừa thốt ra. Sự dối trá ấy làm tôi gai người khó chịu, tựa như toàn bộ cái buổi tối hôm nay chỉ là một màn kịch rẻ tiền, một mánh khóe được bôi ra để moi móc từ tôi đôi chút cảm xúc thương hại. Tôi im lặng chờ đợi. Quả nhiên, một lúc sau em ném về phía tôi một nụ cười nửa miệng phảng phất vẻ tự mãn trên khuôn mặt đáng yêu, như thể em vừa kiêu hãnh khẳng định tư cách thành viên của mình trong một hội kín danh giá nào đó mà em và Tom cùng tham gia.


Bên trong, căn phòng rực lên sắc đỏ thẫm. Tom và cô Baker ngồi ở hai đầu chiếc sô-pha dài, cô đang đọc to cho cậu ta nghe một bài viết trên tờ Saturday Evening Post. Những từ ngữ cất lên rì rầm, đều đặn, đan quyện vào nhau tạo thành một giai điệu du dương êm ái. Ánh đèn hắt sáng trên đôi bốt của Tom và phủ một lớp màu nhờ nhạt lên mái tóc mang sắc vàng lá thu của cô, rồi lấp lánh chạy dọc theo tờ giấy mỗi khi cô lật trang bằng sự rung động nhẹ nhàng trên những múi cơ thon thả nơi cánh tay.

Khi chúng tôi bước vào, cô đưa tay lên, ra hiệu cho chúng tôi giữ im lặng trong giây lát.

"Còn tiếp," cô nói rồi hững hờ ném cuốn tạp chí lên bàn, "trong số báo tiếp theo của chúng ta."

Một chuyển động bồn chồn nơi đầu gối như đánh thức cơ thể, và cô đứng dậy.

"Mười giờ rồi," cô cất tiếng, ánh mắt tựa hồ đang tìm kiếm chút thời gian trên trần nhà. "Đã đến lúc cô gái ngoan này phải đi ngủ."

"Ngày mai Jordan sẽ tham gia một giải đấu," Daisy giải thích, "ở Westchester."

"Ồ-cô là Jordan Baker."

Giờ thì tôi đã hiểu vì sao khuôn mặt cô lại quen thuộc đến vậy-vẻ khinh khỉnh đầy dễ chịu ấy từng nhìn tôi qua không biết bao nhiêu bức ảnh in ống đồng về đời sống thể thao ở Asheville, Hot Springs và Palm Beach. Tôi cũng từng nghe một câu chuyện về cô, một giai thoại mang đầy tính phê phán và khá khó chịu, nhưng rốt cuộc nó là gì thì tôi đã quên bẵng từ lâu.

"Chúc ngủ ngon," cô nhẹ nhàng nói. "Hãy đánh thức tôi lúc tám giờ nhé."

"Nếu cậu chịu dậy."

"Mình sẽ dậy. Chúc ngủ ngon, anh Carraway. Hẹn gặp lại anh sau."

"Tất nhiên là cậu sẽ dậy rồi," Daisy quả quyết. "Thực ra mình nghĩ mình sẽ sắm vai bà mối. Thỉnh thoảng anh cứ ghé qua nhé, Nick, và em sẽ kiểu như-ồ-đẩy hai người lại với nhau. Anh biết đấy-vô tình nhốt cả hai trong tủ để đồ vải, hay tống hai người ra biển trên một chiếc thuyền, và tất cả những trò đại loại như thế-"

"Chúc ngủ ngon," tiếng cô Baker gọi vọng xuống từ cầu thang. "Tôi chưa nghe thấy một lời nào đâu đấy."

"Cô ấy là một cô gái tốt," một lúc sau Tom mới lên tiếng. "Họ không nên để cô ấy cứ chạy rông khắp đất nước thế này."

"Ai không nên?" Daisy lạnh lùng vặn lại.

"Gia đình cô ấy."

"Gia đình của cô ấy chỉ có mỗi một bà dì chắc cũng cả ngàn tuổi rồi. Hơn nữa, Nick sẽ chăm sóc cô ấy, phải không Nick? Cô ấy sẽ dành rất nhiều kỳ nghỉ cuối tuần ở đây vào mùa hè này. Em nghĩ bầu không khí gia đình sẽ rất tốt cho cô ấy."

Daisy và Tom nhìn nhau một chốc trong im lặng.

"Cô ấy đến từ New York à?" tôi nhanh chóng hỏi lảng sang chuyện khác.

"Từ Louisville. Quãng đời thiếu nữ trong trắng của chúng em đã trôi qua cùng nhau ở đó. Quãng thời gian thanh thuần và xinh đẹp của chúng em-"

"Em đã có một cuộc nói chuyện tâm tình rủ rỉ nào với Nick ngoài hiên nhà chưa?" Tom đột ngột gặng hỏi.

"Em có làm thế sao?" Daisy nhìn tôi. "Em chẳng thể nhớ nổi, nhưng em nghĩ chúng ta đã nói về chủng tộc Bắc Âu. Đúng rồi, em chắc chắn là chúng ta đã nói về chuyện đó. Nó cứ như thể đã lén lút tiếp cận chúng ta, và điều đầu tiên anh nhận ra là-"

"Đừng tin mọi thứ cậu nghe được, Nick," Tom khuyên tôi.

Tôi nhẹ nhàng đáp rằng mình chẳng nghe thấy gì cả, và vài phút sau, tôi đứng dậy xin phép ra về. Họ tiễn tôi ra tận cửa, đứng tựa vào nhau trong một ô ánh sáng vuông vức nhuốm màu vui vẻ. Ngay khi tôi vừa nổ máy, Daisy bất ngờ gọi giật lại:

"Đợi đã! Em quên hỏi anh một chuyện, và chuyện này rất quan trọng. Bọn em nghe nói anh đã đính hôn với một cô gái ở miền Tây."

"Đúng thế," Tom tỏ ý tốt xác nhận. "Bọn tôi nghe nói cậu đã đính hôn."

"Đấy là vu khống. Tôi quá nghèo để nghĩ đến chuyện đó."

"Nhưng bọn em đã nghe người ta nói vậy," Daisy khăng khăng, khiến tôi ngạc nhiên khi thấy em lại mở lòng ra hệt như một đóa hoa. "Bọn em đã nghe tận ba người nói vậy, nên chắc chắn đó phải là sự thật."

Tất nhiên tôi biết họ đang ám chỉ chuyện gì, nhưng tôi chẳng hề có một sự đính ước dẫu là mơ hồ nào cả. Việc những lời đồn thổi đã vội vàng công bố hôn lễ chính là một trong những lý do đẩy tôi đến miền Đông. Bạn không thể cắt đứt quan hệ với một người bạn cũ chỉ vì những lời đồn đại, nhưng mặt khác, tôi cũng chẳng hề có ý định để miệng lưỡi thế gian ép mình phải bước vào khuôn khổ hôn nhân.

Sự quan tâm của họ làm tôi khá cảm động và khiến họ bớt đi cái vẻ giàu sang xa cách-tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy bối rối và có chút ghê tởm khi lái xe rời đi. Đối với tôi, dường như điều duy nhất Daisy nên làm lúc này là bế ngay đứa con lao ra khỏi căn nhà đó-nhưng rõ ràng là trong đầu em chẳng hề tồn tại một ý định nào như vậy. Còn về phần Tom, chuyện cậu ta "có một người phụ nữ nào đó ở New York" thực sự ít gây ngạc nhiên hơn việc cậu ta lại bị một cuốn sách làm cho u uất. Có một điều gì đó đang khiến cậu ta phải tự gặm nhấm những rào cản của các tư tưởng cũ kỹ, cứ như thể cái chủ nghĩa vị kỷ thể chất vững chãi kia đã chẳng còn đủ sức nuôi dưỡng trái tim độc đoán của cậu ta thêm được nữa.

Bấy giờ đã là giữa hè. Khắp các mái nhà hàng hay trước những ga-ra ven đường, những trụ bơm xăng đỏ chói nằm phơi mình dưới từng vũng sáng. Khi về đến khu đất của mình tại West Egg, tôi đỗ xe vào lán rồi nán lại ngồi một lúc trên chiếc xe lu bỏ hoang ngoài sân. Gió đã ngưng thổi, nhường chỗ cho một đêm rực sáng và ồn ã. Tiếng vỗ cánh xạc xào trên vòm cây hòa cùng một thanh âm trầm hùng, dai dẳng, tựa hồ những chiếc ống bễ khổng lồ của mặt đất đang thổi bùng nhịp sống vào bầy ếch nhái. Bóng một con mèo chập chờn lướt qua dưới ánh trăng. Khi ngoái đầu nhìn theo nó, tôi chợt nhận ra mình không hề đơn độc. Cách đó độ năm mươi feet, một nhân ảnh đã bước ra từ bóng tối của tòa dinh thự hàng xóm, đút hai tay vào túi quần, đứng lặng ngắm những đốm sao lấp lánh tựa hạt tiêu bạc rắc đầy trời. Có điều gì đó trong cung cách thong dong cùng dáng đứng vững chãi của đôi chân trên thảm cỏ cho thấy đó chính là anh Gatsby, bước ra ngoài cốt chỉ để định dạng xem phần nào của bầu trời đêm nay thuộc về mình.

Tôi toan cất tiếng gọi. Cô Baker đã nhắc đến anh trong bữa tối, một cái cớ hoàn hảo để mở lời làm quen. Nhưng rồi tôi lại thôi, bởi anh chợt toát ra một vẻ gì đó cho thấy anh chỉ muốn được tận hưởng sự cô độc này. Anh rướn hai tay về phía mặt nước tối tăm bằng một điệu bộ kỳ lạ, và dẫu cách một khoảng rất xa, tôi dám thề rằng anh đang run rẩy. Trong vô thức, tôi đưa mắt nhìn ra biển khơi-chẳng có gì phân định được trong màn đêm, ngoại trừ một đốm sáng xanh lá duy nhất, nhỏ xíu và xa xăm, có lẽ là điểm cuối của một bến tàu nào đó. Khi tôi quay lại tìm Gatsby, anh đã biến mất tự lúc nào, bỏ lại mình tôi giữa màn đêm u tịch.



  1. Người Teuton là một bộ tộc thuộc nhóm ngôn ngữ German cổ. Ở đây tác giả dùng cách gọi mỉa mai để chỉ Chiến tranh thế giới thứ nhất (Đại chiến), ngụ ý sự can dự của Đế quốc Đức. 

  2. Ba nhân vật biểu tượng cho sự giàu có tột bậc: Vua Midas trong thần thoại Hy Lạp chạm vào đâu cũng thành vàng; J. P. Morgan là nhà tài phiệt quyền lực của Mỹ; và Maecenas là một chính trị gia vô cùng giàu có thời La Mã cổ đại. 

  3. Điển tích về việc Christopher Columbus đập dập một đầu quả trứng để nó đứng thẳng trên bàn, nhằm đáp trả những kẻ ghen tị cho rằng việc tìm ra tân lục địa là dễ dàng. 

  4. Ám chỉ cuốn sách 'The Rising Tide of Color' (1920) của Lothrop Stoddard. Cuốn sách này truyền bá thuyết da trắng thượng đẳng, phản ánh tư tưởng phân biệt chủng tộc phổ biến trong giới tinh hoa Mỹ thập niên 1920. 

  5. Hai hãng tàu biển vận tải hành khách viễn dương lớn nhất của Anh thời bấy giờ, chuyên khai thác các tuyến vượt Đại Tây Dương sang Mỹ (White Star Line chính là hãng sở hữu tàu Titanic).