CHƯƠNG IV

Vào một sớm Chủ nhật, khi tiếng chuông nhà thờ lan tỏa khắp những ngôi làng ven biển, cả thế giới cùng những cô nhân tình lại đổ về dinh thự của Gatsby, khuấy động bãi cỏ nhà anh bằng những tiếng cười đùa rộn rã.

"Anh ta là một kẻ buôn rượu lậu," các quý cô trẻ thì thầm to nhỏ, chen chúc giữa những ly cocktail sóng sánh và những khóm hoa rực rỡ. "Người ta đồn anh ta từng giết một kẻ đã phát hiện ra thân phận thật của anh ta: cháu trai của Von Hindenburg1 và là anh em họ xa của ác quỷ. Lấy hộ tôi bông hồng đi cưng, rồi trút giọt cuối cùng vào cái ly pha lê kia đi."

Có lần, tôi cẩn thận ghi lại tên những vị khách đến nhà Gatsby vào mùa hè năm đó lên những khoảng trống của một tờ lịch tàu chạy. Tờ lịch ấy nay đã sờn cũ, rách bươm ở các nếp gấp, mang dòng chữ "Lịch trình này có hiệu lực từ ngày 5 tháng 7 năm 1922." Dẫu vậy, tôi vẫn kịp đọc những cái tên đã nhòe mờ. Chắc chắn, chúng sẽ mang lại cho bạn một ấn tượng rõ nét hơn hẳn những lời nói chung chung của tôi về đám người đã thản nhiên đón nhận lòng hiếu khách của Gatsby. Họ trả ơn anh bằng một sự tế nhị tàn nhẫn: tuyệt nhiên chẳng biết một chút gì về anh.

Từ East Egg, vợ chồng Chester Becker2 và nhà Leech đã tới. Cùng với họ là Bunsen, một người quen cũ của tôi hồi ở Yale3, và cả Bác sĩ Webster Civet, người vừa chết đuối ở Maine mùa hè năm ngoái. Kế đến là nhà Hornbeam, nhà Willie Voltaire, cùng cả gia tộc Blackbuck. Những người này luôn tụ tập một góc, hếch mũi như bầy dê kiêu kỳ trước bất kỳ ai tới gần. Đó là chưa kể đến gia đình Ismay và gia đình Chrystie (hay nói đúng hơn là Hubert Auerbach và vợ ông Chrystie), cùng Edgar Beaver, người bị đồn là tóc đã bạc trắng như cước vào một buổi chiều mùa đông sầu thảm mà chẳng rõ nguyên do.

Clarence Endive, theo trí nhớ của tôi, cũng đến từ East Egg. Cậu ta chỉ xuất hiện đúng một lần, bận chiếc quần lửng màu trắng, rồi gây lộn với một gã lang thang tên Etty ngay giữa khu vườn. Từ những vùng hẻo lánh hơn trên Đảo, nhà Cheadle và nhà O. R. P. Schraeder đã góp mặt, cùng Stonewall Jackson Abrams đến từ Georgia, nhà Fishguard và cả nhà Ripley Snell. Gã Snell này đã nán lại hẳn ba ngày trước khi bị tống vào tù. Hắn say khướt đến độ nằm vật ra lối đi rải sỏi, để rồi bị chiếc ô tô của bà Ulysses Swett cán ngang cánh tay phải. Nhà Dancie cũng tới, kéo theo ông S. B. Whitebait, người đã ngoài sáu mươi, cùng Maurice A. Flink, nhà Hammerhead, và cả gã buôn thuốc lá Beluga với đám con gái của hắn.

Từ West Egg, danh sách khách mời có nhà Pole, nhà Mulready, Cecil Roebuck và Cecil Schoen. Cùng đi với họ là thượng nghị sĩ bang Gulick, Newton Orchid - vị giám đốc hãng phim Films Par Excellence, Eckhaust, Clyde Cohen, Don S. Schwartz (người con trai) và Arthur McCarty. Tất cả bọn họ, ít nhiều, đều dính líu đến giới điện ảnh. Cả gia đình Catlip, nhà Bemberg và G. Earl Muldoon - anh trai của kẻ sau này đã siết cổ vợ mình - cũng không vắng mặt. Nhà môi giới Da Fontano cũng tới chơi, cùng Ed Legros, James B. ("Rot-Gut") Ferret, nhà De Jong và Ernest Lilly. Bọn họ đến chỉ để đánh bạc. Cứ hễ thấy Ferret thất thểu bước ra vườn, người ta thừa hiểu hắn đã cháy túi, và y như rằng cổ phiếu của hãng Associated Traction sẽ trồi sụt sinh lời vào ngay hôm sau.

Một gã tên Klipspringer thường xuyên có mặt ở đó đến độ bị chết danh là "vị khách trọ". Tôi thực sự nghi ngờ không biết hắn có chốn nương thân nào khác hay không. Đại diện cho giới sân khấu là Gus Waize, Horace O'Donavan, Lester Myer, George Duckweed và Francis Bull. Những vị khách từ New York đổ về còn có nhà Chrome, nhà Backhysson, nhà Dennicker, Russel Betty, nhà Corrigan, nhà Kelleher, nhà Dewar, nhà Scully, S. W. Belcher, nhà Smirke, và đôi vợ chồng trẻ nhà Quinn - nay đã đường ai nấy đi. Ngoài ra còn có Henry L. Palmetto, người đã gieo mình xuống mũi tàu điện ngầm ở Quảng trường Thời Đại để tự kết liễu đời mình.

Benny McClenahan thì lúc nào cũng cặp kè cùng bốn cô đào. Dẫu diện mạo mỗi lần mỗi khác, nhưng trông các cô ả cứ giông giống nhau, khiến người ta luôn có cảm giác hình như họ đã từng lượn lờ ở đây rồi. Tôi quên khuấy tên các cô mất rồi-có lẽ là Jaqueline, Consuela, Gloria, Judy, hay June chăng. Họ của các cô thường là những cái tên du dương, khi thì mượn tên các loài hoa, lúc lại là các tháng trong năm. Hoặc không, đó sẽ là những cái họ đầy uy lực của các trùm tư bản Mỹ mà hễ bị gặng hỏi, các cô ả sẽ trơ trẽn tự nhận mình là em họ của họ.

Ngoài những gương mặt ấy, tôi còn nhớ Faustina O'Brien đã xuất hiện ít nhất một lần cùng mấy cô gái nhà Baedeker. Kế đến là chàng trai trẻ Brewer, người bị bắn nát mũi ngoài chiến trận, ông Albrucksburger cùng cô Haag - vị hôn thê của ông, và Ardita Fitz-Peters. Tiếp đó là ông P. Jewett, cựu thủ lĩnh Quân đoàn Mỹ, cô Claudia Hip cùng gã đàn ông bị đồn là tài xế riêng của cô. Cuối cùng là một vị hoàng tử vô danh nào đó mà chúng tôi quen gọi là Công tước, người mà tên thật của hắn, nếu tôi từng biết, thì nay cũng đã chìm vào quên lãng.

Tất cả bọn họ đều đã kéo đến nhà Gatsby vào mùa hè năm đó.

Vào lúc chín giờ của một buổi sáng cuối tháng Bảy, chiếc xe hơi lộng lẫy của Gatsby lạo xạo lăn bánh lên con đường rải sỏi trước cửa nhà tôi, rồi buông một tràng giai điệu từ chiếc còi ba nốt giòn giã.

Đó là lần đầu tiên anh ghé tìm tôi, dẫu tôi đã từng dự hai bữa tiệc lớn nhà anh, từng ngồi trên chiếc thủy phi cơ của anh, và cũng chiều theo lời mời khẩn khoản từ anh mà thường xuyên qua lại sử dụng bãi biển riêng của anh.

"Chào buổi sáng, anh bạn. Hôm nay cậu ăn trưa với tôi nhé, tôi nghĩ chúng ta nên đi cùng nhau."

Anh đang giữ thăng bằng trên bậc lên xuống của chiếc xe bằng một phong thái tháo vát vô cùng đặc trưng kiểu Mỹ - phong thái mà tôi cho rằng bắt nguồn từ việc chẳng mấy khi phải làm việc nặng nhọc lúc thiếu thời, và hơn thế nữa, từ nét duyên dáng mơ hồ của những trò tiêu khiển ngắt quãng, bồn chồn của chúng ta. Cái phẩm chất ấy liên tục phá vỡ lớp vỏ bọc chỉn chu nơi anh, để lộ ra những nét bồn chồn khó tả. Anh không bao giờ chịu đứng yên trọn vẹn; lúc nào cũng có một bàn chân đang gõ nhịp đâu đó, hoặc một bàn tay đang bồn chồn đóng mở.

Anh thấy tôi đang đưa mắt chiêm ngưỡng chiếc xe của anh bằng vẻ ái mộ.

"Nó đẹp phải không, anh bạn?" Anh nhảy hẳn xuống để tôi nhìn cho rõ. "Cậu chưa thấy nó bao giờ sao?"

Tôi đã thấy rồi chứ. Ai mà chẳng thấy nó. Chiếc xe khoác lên mình một sắc kem đậm đà, rực sáng với những mảng niken bóng loáng, dọc theo chiều dài khổng lồ của nó là những chiếc hộp kiêu hãnh phình ra chỗ này chỗ nọ - nào hộp đựng mũ, hộp đựng đồ ăn đêm, hộp dụng cụ. Toàn bộ cỗ xe được bao bọc trong một mê cung kính chắn gió, phản chiếu lấp lánh cả chục vầng mặt trời. Chúng tôi an tọa sau nhiều lớp kính, lọt thỏm trong một không gian tựa như nhà kính bọc da xanh lục, và bắt đầu trực chỉ hướng thành phố.

Tôi có lẽ đã trò chuyện với anh cả nửa chục lần trong vòng tháng qua, để rồi nhận ra một cách khá hụt hẫng rằng anh thực chất chẳng có mấy chuyện để nói. Vì thế, ấn tượng ban đầu của tôi - rằng anh là một nhân vật mang tầm vóc bí ẩn nào đó - đã dần nhạt phai, và trong mắt tôi, anh đơn thuần chỉ còn là ông chủ của một tụ điểm ăn chơi hoành tráng ngay sát vách.

Và rồi chuyến đi khó hiểu đó diễn ra. Khi chúng tôi còn chưa ra khỏi khu West Egg, Gatsby bỗng dưng bỏ dở những câu từ tao nhã của mình và bắt đầu đập tay bối rối lên đầu gối của bộ vest màu caramel đang mặc.

"Này, anh bạn," anh đột ngột lên tiếng, "nói thật thì, cậu nghĩ gì về tôi?"

Hơi choáng váng, tôi bắt đầu tuôn ra những lời nói lảng tránh, chung chung như bất kỳ ai đối mặt với câu hỏi kiểu đó.

"À, để tôi kể cho cậu nghe đôi chút về cuộc đời mình," anh ngắt lời. "Tôi không muốn cậu mang những suy nghĩ sai lệch về tôi từ những lời đồn đại mà cậu từng nghe."

Hóa ra anh thừa biết những lời đàm tiếu quái gở đang làm mồi nhậu cho những cuộc tán gẫu trong các sảnh tiệc nhà mình.

"Tôi sẽ nói cho cậu nghe sự thật có Chúa chứng giám." Bàn tay phải của anh chợt giơ lên như thể ra lệnh cho sự trừng phạt thiêng liêng hãy tạm khoan giáng xuống. "Tôi là con trai của một gia đình giàu có ở miền Trung Tây - tất cả họ giờ đều đã qua đời. Tôi lớn lên ở Mỹ nhưng được giáo dục tại Oxford4, bởi toàn bộ tổ tiên của tôi đều theo học ở đó qua nhiều thế hệ. Đó là truyền thống gia đình."

Anh liếc tôi từ khóe mắt - và ngay lúc đó, tôi hiểu vì sao Jordan Baker lại đinh ninh rằng anh đang nói dối. Anh vội vã thốt ra cụm từ "được giáo dục tại Oxford", hoặc cố nuốt chửng nó, hoặc nghẹn lại, cứ như thể từ trước đến nay cụm từ đó vẫn luôn khiến anh chật vật. Và chỉ với sự gượng gạo đó, toàn bộ lời tuyên bố của anh sụp đổ, khiến tôi tự hỏi liệu có phải tận sâu trong con người anh thực sự cất giấu một góc khuất nào đó mờ ám hay không.

"Khu vực nào ở miền Trung Tây cơ?" tôi buột miệng hỏi.

"San Francisco."

"Tôi hiểu."

"Cả gia đình tôi đều qua đời và tôi được thừa hưởng một khối tài sản lớn."

Giọng anh trang nghiêm, như thể nỗi ám ảnh về sự diệt vong đột ngột của một dòng tộc vẫn còn bám riết lấy anh. Trong một khoảnh khắc, tôi ngờ rằng anh đang giễu cợt mình, nhưng một cái liếc nhìn anh đã thuyết phục tôi điều ngược lại.

"Sau đó, tôi sống tựa như một vị tiểu vương gia trẻ tuổi, phiêu bạt qua khắp các thủ đô của Châu Âu - Paris, Venice, Rome - sưu tầm đồ trang sức, chủ yếu là hồng ngọc, đi săn thú lớn, vẽ vời đôi chút, những thú vui chỉ dành riêng cho bản thân, và cố gắng quên đi một chuyện rất buồn đã xảy ra với tôi từ lâu lắm rồi."

Phải nỗ lực lắm tôi mới kìm được tiếng cười hoài nghi của mình. Những cụm từ ấy nghe rập khuôn đến mức chúng chẳng gợi lên trong đầu tôi điều gì khác ngoài hình ảnh một gã "nhân vật" quấn khăn xếp, mồ hôi vã ra như tắm khi đang hì hục đuổi theo một con hổ băng qua khu rừng Bois de Boulogne5.

"Rồi chiến tranh nổ ra, anh bạn ạ. Đó là một sự giải thoát lớn lao, và tôi đã dốc sức để mong được chết, nhưng dường như mạng tôi được yểm bùa. Tôi nhận chức trung úy khi chiến tranh vừa bắt đầu. Ở Rừng Argonne6, tôi đã dẫn phần còn lại của tiểu đoàn súng máy của mình tiến sâu đến mức tạo ra một khoảng trống dài nửa dặm ở cả hai bên sườn, nơi mà bộ binh không thể tiến lên kịp. Chúng tôi trụ lại đó suốt hai ngày hai đêm, một trăm ba mươi người với mười sáu khẩu súng Lewis. Và khi bộ binh cuối cùng cũng tiến lên được, họ tìm thấy phù hiệu của ba sư đoàn Đức nằm lẫn giữa những đống xác chết. Tôi được thăng cấp thiếu tá, và mọi chính phủ Đồng minh đều trao cho tôi huân chương - ngay cả Montenegro7, một Montenegro nhỏ bé nằm tận Biển Adriatic cũng vậy!"

Montenegro nhỏ bé! Anh cất bổng những từ ngữ đó lên và gật gù theo chúng - hòa cùng nụ cười của chính mình. Nụ cười ấy dường như thấu tỏ cả lịch sử đầy biến động của Montenegro, đồng điệu với những cuộc đấu tranh quả cảm của người dân nơi đây. Nó nâng niu trọn vẹn chuỗi hoàn cảnh quốc gia đã khơi dậy sự tri ân từ trái tim bé nhỏ mà nồng ấm của Montenegro. Sự hoài nghi trong tôi giờ đây đã bị lấp liếm bởi sự thích thú; cảm giác cứ như đang lướt vội qua cả tá tờ tạp chí.

Anh thò tay vào túi, và một mảnh kim loại, lủng lẳng trên một dải băng, rơi gọn vào lòng bàn tay tôi.

"Đó là cái từ Montenegro."

Trước sự ngỡ ngàng của tôi, thứ đó trông hoàn toàn là hàng thật. "Orderi di Danilo8," dòng chữ uốn lượn hình vòng tròn khắc ghi, "Montenegro, Nicolas Rex."

"Lật nó lại đi."

"Thiếu tá Jay Gatsby," tôi đọc, "Vì Lòng Dũng Cảm Phi Thường."

"Đây là một thứ khác mà tôi luôn mang theo. Một món quà lưu niệm từ những ngày ở Oxford. Ảnh được chụp ở Trinity Quad9 - người đàn ông bên trái tôi giờ đã là Bá tước xứ Doncaster."

Đó là một bức ảnh chụp chừng nửa tá thanh niên mặc áo khoác blazer đang lảng vảng dưới một mái vòm, xuyên qua đó có thể nhìn thấy vô số ngọn tháp vươn lên. Gatsby đứng đó, trông có vẻ trẻ hơn một chút - dù không nhiều lắm - với một cây gậy bóng chày cầm trên tay.

Vậy ra tất cả đều là sự thật. Tôi mường tượng ra cảnh những tấm da hổ rực lửa trải trong cung điện của anh trên Kênh Lớn10; tôi mường tượng ra cảnh anh mở chiếc rương hồng ngọc ra, mượn chiều sâu của những tia sáng đỏ thẫm lấp lánh để làm dịu đi nỗi đau cắn rứt của một trái tim tan vỡ.

"Hôm nay tôi định nhờ cậu một việc lớn," anh nói, vẻ hài lòng khi cất lại những món đồ lưu niệm vào túi, "nên tôi nghĩ cậu cần biết đôi điều về tôi. Tôi không muốn cậu nghĩ tôi chỉ là một gã vô danh tiểu tốt nào đó. Cậu thấy đấy, tôi thường xuyên thấy mình lạc lõng giữa những người xa lạ, bởi tôi trôi dạt khắp nơi chỉ để cố quên đi những điều buồn bã đã xảy ra với mình." Anh ngập ngừng. "Cậu sẽ nghe về chuyện đó vào chiều nay."

"Vào bữa trưa sao?"

"Không, chiều nay cơ. Tôi tình cờ biết được rằng cậu sẽ đưa cô Baker đi uống trà."

"Ý anh là anh đang yêu cô Baker sao?"

"Không, anh bạn, không phải thế. Nhưng cô Baker đã vui lòng đồng ý nói chuyện với cậu về vấn đề này."

Tôi không mảy may biết "vấn đề này" là cái gì, nhưng cảm giác khó chịu lấn át cả sự tò mò trong tôi. Tôi đâu có mời Jordan đi uống trà chỉ để bàn chuyện về ngài Jay Gatsby. Tôi đinh ninh rằng yêu cầu đó ắt hẳn phải là một điều gì đó hết sức kỳ quặc, và trong một khoảnh khắc, tôi đã cảm thấy hối hận vì từng đặt chân lên bãi cỏ chật ních người nhà anh.

Anh không nói thêm lời nào nữa. Phong thái chỉn chu của anh lại trỗi dậy khi chúng tôi đến gần thành phố. Chúng tôi lướt qua Cảng Roosevelt, nơi loáng thoáng bóng dáng những con tàu viễn dương thắt đai đỏ, rồi phóng dọc theo một khu ổ chuột lát đá cuội, chen chúc những quán rượu tăm tối nhưng không hề đìu hiu của những năm một chín không không mạ vàng mờ nhạt11. Rồi thung lũng tro bụi12 mở ra hai bên đường, và khi lướt qua, tôi thoáng thấy bà Wilson đang căng mình ở trạm bơm xăng với một sức sống thổn thức vươn lên.

Với những tấm chắn bùn xòe ra như đôi cánh, chúng tôi rắc những vệt sáng lướt qua nửa khu Astoria - chỉ một nửa thôi, bởi khi chúng tôi đang len lỏi giữa những cột trụ của đường sắt trên cao, tôi bỗng nghe thấy tiếng "bành-bành-!" quen thuộc của một chiếc mô tô, và một viên cảnh sát điên cuồng phóng xe trờ tới bên cạnh.

"Mọi chuyện ổn thôi, anh bạn," Gatsby cất tiếng gọi. Chúng tôi đi chậm lại. Rút một tấm thẻ trắng từ trong ví, anh vẫy nhẹ nó trước mắt viên cảnh sát.

"Đúng ngài rồi," viên cảnh sát đồng tình, đưa tay chạm lên vành mũ. "Lần sau tôi sẽ nhận ra ngài, ngài Gatsby. Xin lỗi ngài!"

"Cái gì thế?" tôi hỏi. "Bức ảnh ở Oxford à?"

"Có lần tôi đã giúp ngài cảnh sát trưởng một việc, và năm nào ông ấy cũng gửi cho tôi một tấm thiệp Giáng sinh."

Vượt qua cây cầu lớn, nơi ánh sáng mặt trời xuyên qua các dầm thép tạo nên một luồng sáng nhấp nháy liên hồi trên những chiếc xe đang hối hả, với thành phố vươn lên bên kia sông thành những khối trắng toát tựa như những viên đường xếp chồng lên nhau, tất cả đều được xây đắp bằng một niềm khao khát phi thường từ những đồng tiền không vương mùi uế tạp. Thành phố nhìn từ Cầu Queensboro luôn mang dáng dấp của một nơi chốn được chiêm ngưỡng lần đầu tiên, vẹn nguyên trong lời hứa ban sơ hoang dại của nó về mọi điều bí ẩn và cái đẹp trên thế gian này.

Một cỗ xe tang chở người quá cố chất đầy hoa lướt qua chúng tôi, theo sau là hai cỗ xe ngựa buông rèm kín mít, cùng những cỗ xe ngựa tươi vui hơn dành cho bạn bè người quá cố. Những người bạn ấy nhìn chúng tôi bằng đôi mắt bi thương và đôi môi trên ngắn củn đặc trưng của người Đông Nam Âu. Thấy vậy, tôi chợt thấy vui vì hình ảnh chiếc xe lộng lẫy của Gatsby đã kịp góp mặt vào kỳ nghỉ ảm đạm của họ. Khi chúng tôi băng qua Đảo Blackwell13, một chiếc xe limousine vượt lên, do một tài xế da trắng cầm lái, chở theo ba người da đen ăn mặc sành điệu - hai nam và một nữ. Tôi bật cười lớn khi thấy tròng mắt của họ đảo về phía chúng tôi với một vẻ cạnh tranh kiêu kỳ.

"Bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra ngay lúc này, khi chúng ta đã trượt qua cây cầu này," tôi thầm nghĩ; "bất cứ điều gì..."

Thậm chí cả chuyện về Gatsby cũng có thể là sự thật, mà chẳng cần đến một phép màu đặc biệt nào.

Buổi trưa ồn ào. Trong một tầng hầm được quạt mát mẻ trên Phố Bốn Mươi Hai, tôi gặp Gatsby để ăn trưa. Phải chớp mắt mấy bận mới xua đi được cái nắng chói chang của đường phố bên ngoài, đôi mắt tôi lờ mờ nhận ra anh trong phòng chờ, đang mải nói chuyện với một người đàn ông khác.

"Anh Carraway, đây là bạn tôi, ông Wolfshiem."

Một người Do Thái nhỏ nhắn, mũi tẹt ngẩng cái đầu to bè lên và nhìn tôi với hai túm lông mọc um tùm trong mỗi lỗ mũi. Phải mất một lúc, tôi mới phát hiện ra đôi mắt nhỏ xíu của ông ta giữa thứ ánh sáng nhá nhem.

"-Thế là tôi nhìn hắn một cái," ông Wolfshiem nói, bắt tay tôi một cách đầy chân thành, "và cậu nghĩ tôi đã làm gì?"

"Gì cơ ạ?" tôi lịch sự hỏi.

Nhưng rõ ràng ông ta không nói với tôi, vì ông ta liền buông tay tôi ra và che khuất Gatsby bằng cái mũi đầy biểu cảm của mình.

"Tôi đưa tiền cho Katspaugh và tôi bảo: 'Nghe này, Katspaugh, đừng trả cho hắn một xu nào cho đến khi hắn ngậm miệng lại.' Thế là hắn ngậm miệng ngay tắp lự."

Gatsby khoác tay mỗi người chúng tôi rồi tiến về phía trước để vào nhà hàng, khi đó ông Wolfshiem đành nuốt lại một câu mới toanh mà ông ta toan nói, rồi rơi vào trạng thái lơ đãng như một kẻ mộng du.

"Highball nhé?" người phục vụ trưởng hỏi.

"Nhà hàng này đẹp đấy," ông Wolfshiem cất lời, ngước nhìn những bức bích họa vẽ các thiếu nữ trên trần nhà. "Nhưng tôi lại thích chỗ bên kia đường hơn!"

"Đúng, highball," Gatsby đồng ý, rồi quay sang ông Wolfshiem: "Bên đó nóng quá."

"Nóng và chật-đúng," ông Wolfshiem đáp, "nhưng lại đầy ắp kỷ niệm."

"Đó là chỗ nào vậy?" tôi hỏi.

"Quán Metropole cũ14."

"Quán Metropole cũ," ông Wolfshiem ủ rũ lẩm bẩm. "Đầy rẫy những gương mặt đã chết và khuất bóng. Đầy rẫy những người bạn giờ đã ra đi mãi mãi. Chừng nào tôi còn sống, tôi không thể nào quên được cái đêm chúng bắn Rosy Rosenthal15 ở đó. Sáu người chúng tôi đang ngồi quanh bàn, và Rosy đã ăn uống rất nhiều suốt cả buổi tối. Khi gần sáng, gã bồi bàn tiến đến chỗ cậu ấy với một vẻ mặt kỳ lạ và bảo rằng có người muốn nói chuyện ở bên ngoài. 'Được thôi,' Rosy nói, rồi toan đứng lên, nhưng tôi kéo cậu ấy ngồi xuống ghế.

" 'Cứ để bọn khốn đó vào đây nếu chúng muốn tìm cậu, Rosy, nhưng cậu, có Chúa chứng giám, đừng có bước ra khỏi căn phòng này.'

"Lúc đó là bốn giờ sáng, và nếu chúng tôi kéo rèm lên thì hẳn đã nhìn thấy ánh sáng ban ngày."

"Thế anh ta có đi không?" tôi hỏi một cách ngây ngô.

"Chắc chắn là cậu ta đã đi." Mũi của ông Wolfshiem nhếch lên hướng về phía tôi một cách phẫn nộ. "Cậu ta quay lại ở cửa và nói: 'Đừng để tay bồi bàn đó mang ly cà phê của tôi đi!' Rồi cậu ta bước ra vỉa hè, và chúng bắn ba phát vào cái bụng no căng của cậu ta rồi rồ ga tẩu thoát."

"Bốn kẻ trong số đó đã phải lên ghế điện," tôi nói, chợt nhớ lại.

"Năm, cả Becker nữa." Lỗ mũi của ông ta hướng về phía tôi một cách đầy hứng thú. "Tôi hiểu là cậu đang tìm kiếm một mối làm ăn."

Sự kết hợp của hai câu nói này thật đáng kinh ngạc. Gatsby liền trả lời thay tôi:

"Ồ, không," anh thốt lên, "đây không phải là người đó."

"Không sao?" ông Wolfshiem có vẻ thất vọng.

"Đây chỉ là một người bạn. Tôi đã nói với ông là chúng ta sẽ bàn chuyện đó vào dịp khác."

"Tôi xin lỗi," ông Wolfshiem nói, "Tôi nhầm người."

Một món thịt băm thơm nức được mang lên, và ông Wolfshiem, quên bẵng đi bầu không khí sến súa của quán Metropole cũ, bắt đầu ăn với một sự tinh tế nhuốm vẻ hung tợn. Trong khi đó, đôi mắt ông ta đảo rất chậm quanh phòng-ông ta hoàn thành vòng cung bằng cách quay phắt lại kiểm tra cả những người ngồi ngay phía sau. Tôi nghĩ rằng, nếu không có sự hiện diện của tôi ở đây, có lẽ ông ta đã ném một cái nhìn soi mói xuống tận dưới gầm bàn của chính chúng tôi.

"Này, anh bạn," Gatsby cất lời, nghiêng người về phía tôi, "tôi e là tôi đã làm cậu hơi bực mình sáng nay lúc ở trên xe."

Lại nụ cười đó, nhưng lần này tôi đã cưỡng lại được.

"Tôi không thích những điều bí ẩn," tôi đáp, "và tôi không hiểu tại sao anh không thẳng thắn nói cho tôi biết anh muốn gì. Tại sao mọi chuyện lại cứ phải thông qua cô Baker?"

"Ồ, không có gì mờ ám đâu," anh trấn an tôi. "Cô Baker là một nữ vận động viên tuyệt vời, cậu biết đấy, và cô ấy sẽ không bao giờ làm điều gì không đúng đắn."

Đột nhiên anh nhìn đồng hồ, nhảy dựng lên, rồi vội vã bước ra khỏi phòng, bỏ tôi lại với ông Wolfshiem ở bàn.

"Cậu ta phải đi gọi điện thoại," ông Wolfshiem nói, ánh mắt vẫn dõi theo anh. "Một chàng trai tốt, phải không? Đẹp trai và là một quý ông hoàn hảo."

"Vâng."

"Cậu ta là người của Oggsford16."

"Ồ!"

"Cậu ta từng học ở Đại học Oggsford bên Anh. Cậu có biết Đại học Oggsford không?"

"Tôi có nghe nói đến."

"Đó là một trong những trường đại học danh tiếng nhất thế giới."

"Ông có quen biết Gatsby lâu chưa?" tôi hỏi.

"Vài năm rồi," ông ta trả lời một cách đầy mãn nguyện. "Tôi có hân hạnh được làm quen với cậu ấy ngay sau chiến tranh. Nhưng tôi biết chắc mình đã khám phá ra một người có giáo dục vô cùng tốt chỉ sau khi nói chuyện với cậu ấy khoảng một giờ đồng hồ. Tôi đã tự nhủ: 'Đây là kiểu người mà cậu sẽ muốn đưa về nhà để giới thiệu với mẹ và em gái mình.' " Ông ta dừng lại. "Tôi thấy cậu đang nhìn những chiếc khuy măng sét của tôi."

Thực ra tôi đã không nhìn chúng, nhưng bây giờ tôi lại bắt đầu tò mò nhìn. Chúng được làm từ những mảnh ngà voi kỳ lạ đến quen thuộc.

"Những mẫu răng hàm tinh xảo nhất của con người đấy," ông ta thông báo cho tôi.

"Chà!" tôi nhìn kỹ chúng. "Quả là một ý tưởng rất thú vị."

"Đúng vậy." Ông ta xắn tay áo lên dưới chiếc áo khoác. "Đúng vậy, Gatsby rất cẩn trọng với phụ nữ. Cậu ấy sẽ không bao giờ thèm để mắt đến vợ của một người bạn."

Khi cái người vừa là chủ đề của sự tin tưởng mang tính bản năng này quay trở lại bàn và ngồi xuống, ông Wolfshiem liền nốc cạn tách cà phê của mình bằng một cú ực mạnh rồi đứng dậy.

"Tôi đã rất tận hưởng bữa trưa này," ông ta cất lời, "và tôi sẽ rút lui khỏi hai chàng trai trẻ các cậu trước khi bản thân trở nên phiền phức."

"Đừng vội Meyer," Gatsby nói, giọng điệu chẳng chút nhiệt tình. Ông Wolfshiem giơ tay lên tựa như một hành động ban phước.

"Cậu rất lịch sự, nhưng tôi thuộc về một thế hệ khác rồi," ông ta trịnh trọng tuyên bố. "Các cậu cứ ngồi đây và thảo luận về thể thao, về những quý cô trẻ trung của các cậu và về-" Ông ta ngầm bổ sung một danh từ tưởng tượng bằng một cái vẫy tay khác. "Về phần tôi, tôi đã năm mươi tuổi, và tôi sẽ không áp đặt sự hiện diện của mình lên các cậu thêm nữa."

Khi ông ta bắt tay rồi quay đi, cái mũi mang vẻ bi thương của ông ta hơi run rẩy. Tôi tự hỏi không biết mình có lỡ lời nói điều gì xúc phạm ông ta hay không.

"Đôi khi ông ấy trở nên rất đa cảm," Gatsby giải thích. "Đây hẳn là một trong những ngày đa cảm của ông ấy. Ông ấy là một nhân vật khá nổi danh quanh New York-một cư dân của vùng Broadway."

"Nhưng rốt cuộc thì ông ta là ai vậy, một diễn viên à?"

"Không."

"Một nha sĩ sao?"

"Meyer Wolfshiem á? Không, ông ta là một tay cờ bạc." Gatsby ngập ngừng, rồi nói thêm, bằng một giọng lạnh lùng: "Ông ta chính là người đã nhúng tay dàn xếp giải World's Series hồi năm 191917."

"Dàn xếp giải World's Series á?" tôi sững sờ lặp lại.

Ý nghĩ đó làm tôi bàng hoàng sửng sốt. Tất nhiên, tôi vẫn nhớ chuyện giải World's Series đã bị dàn xếp vào năm 1919, nhưng nếu có mảy may nghĩ về điều đó thì tôi cũng chỉ đơn thuần coi nó như một sự việc đã xảy ra, như dấu chấm hết của một chuỗi sự kiện tất yếu nào đó. Tôi chưa từng hình dung nổi một con người bằng xương bằng thịt lại có thể ung dung đùa giỡn với niềm tin của năm mươi triệu người-bằng sự chuyên tâm tột độ của một tên trộm đang cặm cụi phá két sắt.

"Làm thế nào mà ông ta lại làm được điều đó chứ?" tôi hỏi sau một phút im lặng.

"Ông ta chỉ là kẻ nhìn thấy cơ hội thôi."

"Vậy tại sao ông ta lại không phải ngồi tù?"

"Họ chẳng thể bắt được ông ta đâu, anh bạn. Ông ta là một người cực kỳ thông minh."

Tôi khăng khăng đòi trả tiền cho bữa ăn. Lúc gã bồi bàn mang tiền thừa ra trả lại, tôi chợt thấy Tom Buchanan đang đứng ở phía bên kia căn phòng đông đúc.

"Đi cùng tôi một lát nhé," tôi nói; "tôi phải ra chào một người quen."

Khi vừa nhìn thấy chúng tôi, Tom nhảy dựng lên rồi vội vã sải nửa chục bước chân về phía chúng tôi.

"Cậu đã lặn đi đâu vậy?" anh vồ vập hỏi. "Daisy đang điên tiết lên vì cậu không thèm gọi điện đấy."

"Đây là ngài Gatsby, còn đây là ngài Buchanan."

Họ bắt tay nhau một cách chớp nhoáng, và một vẻ ngượng ngùng, gượng gạo đầy xa lạ chợt lướt qua trên khuôn mặt Gatsby.

"Dù sao thì dạo này cậu sống thế nào?" Tom hỏi tôi. "Sao cậu lại cất công lên tận đây để ăn?"

"Tôi đang ăn trưa với anh Gatsby."

Tôi quay sang phía anh Gatsby, nhưng anh đã không còn đứng ở đó nữa.

Vào một ngày tháng Mười năm một ngàn chín trăm mười bảy-

(Jordan Baker kể lại vào chiều hôm ấy, dáng ngồi thẳng tắp trên chiếc ghế tựa lưng trong khu vườn thưởng trà của Khách sạn Plaza)

-em đang tản bộ loanh quanh, nửa dạo bước trên vỉa hè, nửa lại dẫm lên thảm cỏ. Em thích đi trên cỏ hơn, bởi đôi giày nhập từ Anh với những gờ cao su dưới đế cứ bám riết lấy nền đất mềm mại. Em còn diện một chiếc váy kẻ sọc mới tinh, thỉnh thoảng lại tung bay nhè nhẹ trong gió. Và cứ mỗi bận như thế, những dải cờ hiệu mang sắc đỏ, trắng, và xanh dương treo rợp trước mọi nương nhà lại căng lên, phát ra những tiếng chậc-chậc-chậc-chậc râm ran như thể đang buông lời chê trách.

Lá cờ uy nghi nhất và bãi cỏ thênh thang nhất thuộc về dinh thự của Daisy Fay. Chị ấy lúc bấy giờ độ mười tám, hơn em chừng hai tuổi, và không chê vào đâu được, chính là bóng hồng danh giá bậc nhất trong giới thiếu nữ tại Louisville. Chị luôn khoác lên mình những bộ cánh trắng muốt, lướt đi trên một chiếc xe mui trần nhỏ nhắn cũng trắng lấp lánh. Suốt cả ngày dài, chuông điện thoại nhà chị cứ reo vang không ngớt. Những tay sĩ quan trẻ cuồng nhiệt từ Trại Taylor18 liên tục gọi đến, tha thiết nài nỉ cái đặc quyền được độc chiếm thời gian của chị trong đêm ấy: "Dù sao thì, xin được một giờ thôi cũng mãn nguyện!"

Khi em tản bộ đến ngay trước cửa nhà chị vào sáng hôm ấy, chiếc mui trần trắng muốt đã đỗ sẵn sát lề đường. Chị đang ngồi đó, sóng đôi cùng một viên trung úy mà em chưa từng giáp mặt. Cả hai say đắm đắm chìm vào ánh mắt của nhau, đến nỗi chị chẳng hề hay biết sự hiện diện của em cho tới khi em bước đến cách họ vỏn vẹn chừng dăm bước chân.

"Chào Jordan," chị bất chợt cất tiếng gọi. "Lại đây nào."

Thú thực, em đã vô cùng hãnh diện khi chị chủ động bắt chuyện, bởi trong số những đàn chị lớn tuổi hơn, chị luôn là người em ngưỡng mộ nhất. Chị cất lời hỏi xem em có định ghé qua Hội Chữ thập đỏ19 để làm băng gạc hay không. Em đáp là có. Vậy thì, liệu em có thể nhắn lại với họ rằng hôm nay chị không thể đến được chăng? Chàng sĩ quan trẻ cứ thế ngắm nhìn Daisy khi chị đang mải mê trò chuyện. Cái nhìn ấy si tình đến mức bất kỳ thiếu nữ nào cũng hằng khao khát được đón nhận dẫu chỉ một lần trong đời. Khung cảnh lãng mạn ấy đã in sâu vào tâm trí em, để rồi em mãi khắc ghi khoảnh khắc đó cho đến tận bây giờ. Tên anh ấy là Jay Gatsby. Hơn bốn năm ròng rã sau đó, em chẳng mảy may để mắt đến anh ta nữa-thậm chí, ngay cả khi hội ngộ trên bán đảo Long Island, em vẫn chẳng thể nhận ra họ chính là một người.

Đó là chuyện của năm một ngàn chín trăm mười bảy. Sang năm kế tiếp, em đã có vài chàng trai theo đuổi và bắt đầu bận rộn thi đấu tại các giải thể thao, thế nên hai chị em cũng thưa thớt gặp nhau. Chị ấy bắt đầu giao du với một nhóm người trưởng thành hơn-ít nhất là những khi chị chịu ra ngoài. Đủ thứ tin đồn kỳ quái bắt đầu râm ran về chị. Người ta kháo nhau chuyện mẹ chị đã bắt quả tang chị lén lút gói ghém hành lý vào một đêm mùa đông buốt giá, định trốn lên New York chỉ để nói lời từ biệt với một gã quân nhân sắp sửa nhận lệnh điều động ra nước ngoài. Dĩ nhiên, ý định bồng bột ấy đã bị dập tắt từ trong trứng nước, nhưng cũng vì thế mà chị hờn dỗi, tuyệt thực trò chuyện với gia đình suốt vài tuần liền. Từ độ ấy trở đi, chị tuyệt nhiên không qua lại với đám lính tráng nữa. Xung quanh chị giờ đây chỉ còn lác đác vài gã thanh niên loanh quanh trong thị trấn, những kẻ cận thị nặng hoặc bàn chân bẹt, hoàn toàn không đủ tiêu chuẩn để tòng quân.

Mãi đến mùa thu năm sau, niềm vui mới thực sự gõ cửa trở lại, và chị lại rạng rỡ như thuở nào. Chị đã có một màn ra mắt hoành tráng ngay sau lễ đình chiến. Đến tháng Hai, thiên hạ lại rỉ tai nhau rằng chị đã đính hôn với một vị công tử đến từ New Orleans. Rồi tới tháng Sáu, chị chính thức bước lên xe hoa cùng Tom Buchanan, một nhân vật cộm cán từ Chicago, với một hôn lễ uy nghi và xa hoa tột bậc, vương giả đến mức Louisville chưa từng chứng kiến. Anh ta đổ bộ xuống thành phố cùng tùy tùng lên tới một trăm người trên bốn toa tàu hỏa cá nhân kéo dài, rồi hào phóng bao trọn cả một tầng lầu của Khách sạn Muhlbach. Vào chính ngày áp chót trước thềm hôn lễ, anh ta đã tự tay trao tặng chị một chuỗi ngọc trai trị giá lên đến ba trăm năm mươi nghìn đô la.

Em may mắn được chọn làm phù dâu. Nửa giờ trước khi bữa tiệc tiền hôn lễ diễn ra, em nhẹ nhàng bước vào phòng chị. Trước mắt em, chị đang ngả mình trên giường, nhan sắc kiều diễm tựa như một đêm hè tháng Sáu lộng lẫy trong chiếc váy hoa rực rỡ-và, trớ trêu thay, chị đang say khướt đến không biết trời trăng gì nữa. Một tay chị nắm chặt chai vang trắng Sauterne, tay kia siết lấy một bức thư nhàu nhĩ.

"Chúc mừng chị đi," chị lè nhè lầm bầm. "Đời chị chưa từng nhấp môi lấy một giọt rượu, nhưng ôi chao, thứ này mới tuyệt diệu làm sao."

"Có chuyện gì vậy, Daisy?"

Quả thực, em đã hoảng hốt, em thú thật với anh như vậy; đời em chưa từng chứng kiến cô gái nào rơi vào bộ dạng thê thảm nhường ấy.

"Đây, cưng à." Chị lảo đảo mò mẫm trong chiếc giỏ rác đặt cạnh giường, rồi lôi tuột ra chuỗi ngọc trai đắt giá. "Hãy mang thứ này xuống lầu và trả lại cho kẻ sở hữu nó. Cứ bảo với họ rằng Daisy đổi ý rồi. Cứ nói toạc ra: 'Daisy đổi ý rồi!' "

Chị bật khóc nức nở-nước mắt tuôn rơi không thể nào kìm hãm. Em vội vàng lao ra ngoài, cuống cuồng tìm cô hầu gái của mẹ chị. Hai chúng em nhanh chóng khóa trái cửa phòng, rồi gắng sức dìu chị dìm mình vào bồn tắm nước lạnh ngắt. Ấy vậy mà chị vẫn nhất quyết không buông bức thư trên tay. Chị khư khư ôm lấy nó xuống tận bồn tắm, vò nát bươm thành một cục giấy nhão nhoét trong dòng nước lạnh. Chỉ đến khi những mảnh giấy ấy bắt đầu tan rã lả tả như những bông tuyết úa tàn, chị mới đành lòng để em gạt chúng sang khay đựng xà phòng.

Nhưng tuyệt nhiên, chị không hé môi thốt thêm bất cứ một lời nào. Chúng em phải dùng muối ngửi amoniac để chị tỉnh táo, chườm những túi đá lạnh buốt lên trán rồi cẩn thận cài lại móc váy. Nửa giờ trôi qua, khi chúng em dìu chị bước ra khỏi phòng, chuỗi ngọc trai kiêu hãnh ấy đã an tọa yên vị trên chiếc cổ thon dài, và giông bão dường như đã bị vùi sâu vào quên lãng. Năm giờ chiều ngày hôm sau, chị tiến vào lễ đường cùng Tom Buchanan, bình thản chẳng một cái chớp mắt hay run rẩy, rồi lập tức khởi hành chuyến trăng mật ba tháng ròng rã đến tận những vùng Biển Nam xa xôi.

Khi họ kết thúc chuyến đi và dừng chân tại Santa Barbara, em đã ghé thăm. Thật sự, em ngỡ mình chưa từng chứng kiến cô gái nào si mê chồng đến điên dại như thế. Chỉ cần anh ta khuất bóng khỏi căn phòng độ một phút, ánh mắt chị sẽ hoang mang đảo quanh không yên, miệng thì thào: "Tom đi đâu rồi?" Trông chị lúc ấy thật thất thần, và vẻ mộng du ấy chỉ biến mất khi gã đàn ông đó vừa vặn bước qua khung cửa. Chị thường ngồi bệt trên bãi cát, say sưa ôm lấy đầu anh ta trong lòng suốt hàng giờ đồng hồ, nhẹ nhàng vuốt ve viền mắt anh ta và ngắm nhìn bằng một niềm hân hoan không bút nào tả xiết. Chẳng hiểu sao, sự quấn quýt ấy lại tỏa ra một thứ hơi ấm vô hình đầy cảm động-nó khiến anh bất giác mỉm cười, một nụ cười khẽ khàng, tràn ngập sự thích thú. Đó là câu chuyện của tháng Tám. Nhưng trớ trêu thay, chỉ vỏn vẹn một tuần sau khi em rời khỏi Santa Barbara, Tom đã tông thẳng chiếc xe của mình vào một chiếc xe goòng trên đường Ventura trong một đêm tối trời, khiến bánh trước văng hẳn ra ngoài. Cô ả ngồi cùng xe với anh ta đêm đó bỗng chốc nghiễm nhiên xuất hiện trên các trang nhất, chỉ vì ả bị gãy tay-ả chính là một trong những hầu phòng làm việc tại Khách sạn Santa Barbara.

Đến tháng Tư năm sau, Daisy hạ sinh một bé gái kháu khỉnh, rồi cả gia đình chuyển đến Pháp sống suốt một năm ròng. Em có dịp hội ngộ cùng họ vào một mùa xuân trong trẻo tại Cannes, rồi sau đó là Deauville, trước khi họ thu xếp hành lý quay về định cư hẳn ở Chicago. Tại đó, Daisy nghiễm nhiên trở thành tâm điểm của sự chú ý, như anh đã thừa biết đấy. Họ hòa mình vào một nhóm dân chơi khét tiếng về tốc độ sống-những kẻ trẻ trung, nứt đố đổ vách và hoang dại tột cùng. Thế nhưng, giữa chốn xa hoa đục ngầu ấy, chị vẫn bước ra với một thanh danh tinh khiết, không mảy may một vết xước. Có lẽ phép màu nằm ở chỗ chị tuyệt nhiên không uống rượu. Quả là một lợi thế chết người khi bạn là người duy nhất tỉnh táo giữa một bầy bợm nhậu sừng sỏ. Bạn có thể giữ cho cái miệng của mình kín bưng, và lợi hại hơn, bạn có thể khéo léo căn chỉnh thời gian cho những bí mật nhỏ nhặt của riêng mình, thả chúng vào đúng lúc mọi kẻ xung quanh đều đã mù mờ đến mức chẳng thể nhận ra, hoặc dẫu có thấy thì cũng chẳng thèm bận tâm. Có lẽ Daisy chưa từng sa ngã vào những cuộc tình vụng trộm nào-nhưng bằng một cách nào đó, vẫn luôn có một điều gì đó thật khó nắm bắt lẩn khuất trong chất giọng của chị...

Phải, cho đến khoảng sáu tuần trước, cái tên Gatsby mới một lần nữa vô tình vang lên bên tai chị sau ngần ấy năm trời đằng đẵng. Đó chính là buổi tối em cất tiếng hỏi anh-anh có nhớ không?-về việc anh có quen biết một gã Gatsby nào đó sống ở West Egg hay không. Tối ấy, sau khi anh vừa cáo từ, chị đã xộc thẳng vào phòng và lay em dậy, gặng hỏi dồn dập: "Gatsby nào cơ?" Và khi em mơ màng phác họa lại nhân dạng của anh ấy-trong cơn ngái ngủ còn chưa tỉnh hẳn-chị đã thốt lên bằng một chất giọng kỳ quái và dị thường nhất thế gian, đinh ninh rằng đó chắc chắn phải là người đàn ông mà chị đã từng thân thuộc. Mãi cho đến khoảnh khắc sững sờ ấy, em mới lờ mờ chắp nối hình bóng gã Gatsby lạ mặt này với viên sĩ quan si tình từng ngồi trong chiếc xe mui trần màu trắng của chị năm nào.

Khi Jordan Baker kể xong tất thảy những chuyện này, chúng tôi đã rời khỏi khách sạn Plaza được nửa giờ và đang dạo quanh Công viên Trung tâm trên một cỗ xe ngựa victoria. Mặt trời đã khuất bóng sau lưng những tòa chung cư cao tầng của các minh tinh màn bạc khu West Fifties. Giữa buổi chạng vạng hầm hập hơi nóng, tiếng trẻ con lanh lảnh tụ tập trên bãi cỏ vang lên tựa hồ tiếng dế nỉ non:

"Anh là Hoàng tử của xứ Araby.20
Tình yêu của em thuộc về anh.
Vào ban đêm khi em đang ngủ
Anh sẽ lẻn vào lều của em-"

"Thật là một sự trùng hợp lạ kỳ," tôi lên tiếng.

"Nhưng đó hoàn toàn chẳng phải là trùng hợp đâu."

"Sao lại không?"

"Gatsby đã mua ngôi nhà đó cốt chỉ để Daisy ở ngay bên kia vịnh."

Vậy ra, không phải anh ấy chỉ khao khát những vì sao trong cái đêm tháng Sáu nọ. Hình bóng anh chợt trở nên sống động trong mắt tôi, phút chốc được giải thoát khỏi cái vỏ bọc lộng lẫy nhưng vô đích của chính mình.

"Anh ấy muốn biết," Jordan nói tiếp, "liệu anh có thể mời Daisy sang nhà uống trà vào một buổi chiều nào đó, và rồi để anh ấy tình cờ ghé qua không."

Sự khiêm nhường trong lời thỉnh cầu ấy khiến tôi bàng hoàng. Anh ấy đã mòn mỏi đợi chờ suốt năm năm ròng, tậu hẳn một tòa dinh thự nguy nga - nơi anh hào phóng ban phát ánh sao cho những con thiêu thân xa lạ dạt đến - chỉ để có thể "tình cờ ghé qua" một khu vườn của người hàng xóm vào một buổi chiều nào đó.

"Anh có cần phải biết tất cả những chuyện này trước khi anh ấy có thể mở lời nhờ vả một việc cỏn con như thế không?"

"Anh ấy sợ, anh ấy đã chờ đợi quá lâu rồi. Anh ấy nghĩ có thể anh sẽ phật ý. Anh thấy đấy, sâu thẳm bên trong, anh ấy cũng chỉ là một gã trai chai sạn bình thường mà thôi."

Có điều gì đó làm tôi băn khoăn.

"Tại sao anh ấy không nhờ em sắp xếp một cuộc hẹn?"

"Anh ấy muốn chị ấy nhìn thấy nhà của mình," cô giải thích. "Và nhà của anh thì lại ở ngay sát vách."

"Ồ!"

"Em nghĩ anh ấy đã bán tín bán nghi nuôi hy vọng rằng, vào một đêm nào đó, chị ấy sẽ đi lạc vào một trong những bữa tiệc của mình," Jordan tiếp tục, "nhưng chị ấy chưa từng xuất hiện. Rồi anh ấy bắt đầu dò hỏi bâng quơ những người xung quanh xem có ai biết chị ấy không, và em là người đầu tiên anh ấy tìm được. Đó chính là cái đêm anh ấy cho người gọi em tới trong buổi vũ hội. Đáng lẽ anh phải nghe cái cách rào trước đón sau đầy thận trọng khi anh ấy đề cập đến chuyện đó. Dĩ nhiên, em liền đề nghị một bữa trưa ở New York-và em nghĩ anh ấy mừng đến phát điên:

" 'Tôi không muốn làm điều gì quá đường đột!' anh ấy cứ lặp đi lặp lại. 'Tôi muốn gặp cô ấy ở ngay sát vách.'

"Khi em kể rằng anh là một người bạn đặc biệt của Tom, anh ấy đã định từ bỏ toàn bộ ý định. Anh ấy không biết nhiều về Tom, dẫu anh ấy thú nhận mình đã đặt mua một tờ báo Chicago suốt nhiều năm trời, chỉ để chộp lấy một cơ hội mong manh nhìn thấy tên Daisy trên đó."

Trời lúc này đã sẩm tối. Khi xe lướt xuống gầm một cây cầu nhỏ, tôi vòng tay ôm lấy bờ vai óng ả màu nắng của Jordan, kéo em về phía mình và ngỏ lời mời em dùng bữa tối. Đột nhiên, tâm trí tôi chẳng còn vương vấn về Daisy hay Gatsby nữa. Thay vào đó, nó lấp đầy bởi hình bóng của người con gái gọn gàng, kiêu hãnh và rạch ròi này, người có thể đương đầu với sự hoài nghi của cả thế gian, và cũng là người đang vui vẻ ngả đầu vào vòng tay tôi. Một câu nói chợt vang vọng bên tai tôi với niềm hưng phấn say sưa: "Trên đời này chỉ có những kẻ bị săn đuổi, những kẻ đi săn, những kẻ bận rộn và những kẻ mệt nhoài."

"Và Daisy lẽ ra phải có một điều gì đó trong cuộc đời chị ấy chứ," Jordan thì thầm vào tai tôi.

"Chị ấy có muốn gặp Gatsby không?"

"Chị ấy không được biết chuyện này. Gatsby không muốn chị ấy biết. Anh cứ coi như mình chỉ mời chị ấy tới uống trà thôi."

Chúng tôi đi qua một hàng cây râm mát, và rồi mặt tiền của khu Phố Năm Mươi Chín, tựa một khối ánh sáng nhạt nhòa thanh tao, giội xuống khắp công viên. Chẳng giống như Gatsby hay Tom Buchanan, tôi chẳng có bóng hình người tình nào với khuôn mặt vô hình trôi dạt dọc theo những gờ tường tăm tối hay những tấm biển hắt sáng chói lòa. Thế nên, tôi kéo cô gái bên cạnh mình lại, siết chặt vòng tay. Đôi môi nhợt nhạt, thoáng nét kiêu kỳ của em mỉm cười. Và rồi, tôi lại kéo em sát vào mình hơn chút nữa, lần này, áp hẳn vào mặt tôi.



  1. Paul von Hindenburg là một Thống chế nổi tiếng của Đế quốc Đức trong Thế chiến I, sau này trở thành Tổng thống Đức. Việc đồn đại Gatsby là cháu trai của nhân vật này phản ánh sự hoang đường và nỗi ám ảnh của xã hội Mỹ đối với kẻ thù cũ sau chiến tranh. 

  2. Charles Becker là một trung úy cảnh sát tham nhũng ở New York. Hắn là người đã chủ mưu ám sát Herman Rosenthal và sau đó bị kết án tử hình trên ghế điện. 

  3. Một trong những trường đại học tư thục thuộc nhóm Ivy League danh giá nhất nước Mỹ, tọa lạc tại New Haven, Connecticut. Sự hiện diện của những cựu sinh viên Yale ở các bữa tiệc phản ánh sự giao thoa giữa giới tinh hoa học thuật và những kẻ mới nổi. 

  4. Trường đại học lâu đời và danh giá bậc nhất nước Anh. Việc được theo học tại Oxford thời bấy giờ thường được xem là đặc quyền của giới quý tộc hoặc những gia đình có truyền thống trí thức lâu đời tại châu Âu. 

  5. Một công viên công cộng lớn nằm ở ngoại ô phía tây Paris. Việc hình dung cảnh săn hổ ở đây là một sự châm biếm có chủ ý, vì Bois de Boulogne chỉ là một công viên đô thị yên bình, hoàn toàn không có thú dữ hoang dã. 

  6. Trận rừng Argonne (Meuse-Argonne Offensive) là một trong những chiến dịch quân sự lớn và đẫm máu nhất của Lực lượng Viễn chinh Mỹ trong Thế chiến I, diễn ra vào mùa thu năm 1918. 

  7. Một quốc gia nhỏ bé ở vùng Balkan. Trong Thế chiến I, Montenegro là một vương quốc đứng về phe Hiệp ước. Sự kiện một quốc gia bé nhỏ trao huân chương cho một sĩ quan Mỹ mang đậm tính khoa trương. 

  8. Huân chương Vương công Danilo I (Order of Prince Danilo I) là huân chương hiệp sĩ đầu tiên của Montenegro. Lời khắc chỉ danh xưng của Vua Nicholas I xứ Montenegro. 

  9. Khuôn viên (quadrangle) chính của Trinity College, một trong những trường thành viên danh giá thuộc Viện Đại học Oxford. 

  10. Grand Canal (Canal Grande) là con kênh chính chảy qua trung tâm Venice, Ý, hai bên bờ là những cung điện nguy nga xưa kia của giới quý tộc. 

  11. Bản gốc là 'faded gilt nineteen-hundreds', ám chỉ đến Thời kỳ Mạ vàng (Gilded Age) ở Mỹ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thời kỳ của sự phồn vinh bề ngoài nay đã bắt đầu phai tàn, nhường chỗ cho sự trần trụi của các khu ổ chuột. 

  12. Một khu vực công nghiệp có thật ở Queens, New York (Corona Ash Dumps), nơi đổ tro than từ các lò đốt của thành phố. Nó đại diện cho sự tàn lụi và cái giá phải trả cho sự phồn thịnh công nghiệp. 

  13. Nay là Đảo Roosevelt, nằm trên Sông East của Thành phố New York. Vào đầu thế kỷ 20, hòn đảo này nổi tiếng vì là nơi đặt các bệnh viện từ thiện, nhà tù và trại tị nạn. 

  14. Hotel Metropole là một khách sạn và tụ điểm ăn chơi có thật tại New York. Đây là nơi xảy ra vụ ám sát ông trùm cờ bạc Herman Rosenthal vào năm 1912, gây chấn động dư luận. 

  15. Herman 'Rosy' Rosenthal là một tay cá cược và trùm cờ bạc ở New York, bị sát hại năm 1912 ngay bên ngoài khách sạn Metropole sau khi đe dọa phanh phui nạn tham nhũng của cảnh sát. 

  16. Cách phát âm sai của từ 'Oxford'. Điều này ám chỉ nguồn gốc nhập cư, sự thiếu học thức hoặc sự lai tạp văn hóa của nhân vật Meyer Wolfshiem. 

  17. Vụ bê bối 'Black Sox Scandal' nổi tiếng, khi tám cầu thủ của đội Chicago White Sox nhận tiền hối lộ từ một băng đảng để cố tình để thua trong loạt trận chung kết giải bóng chày. Meyer Wolfshiem được cho là xây dựng dựa trên nguyên mẫu Arnold Rothstein, trùm băng đảng ngoài đời thực. 

  18. Camp Zachary Taylor là một căn cứ huấn luyện quân sự lớn nằm gần Louisville, Kentucky, nơi đào tạo hàng chục ngàn binh sĩ Hoa Kỳ trong Thế chiến I. 

  19. Tổ chức nhân đạo quốc tế. Trong Thế chiến I, phụ nữ Mỹ thường tham gia làm tình nguyện viên cho Hội Chữ thập đỏ như một phần của nỗ lực hậu phương hỗ trợ quân đội. 

  20. Lời bài hát ám chỉ đến ca khúc nổi tiếng 'The Sheik of Araby' (1921). Nó phản ánh sự thịnh hành của văn hóa đại chúng thời đại Jazz và hình mẫu những lãng tử phương Đông đầy sức hút trên màn ảnh.