CHƯƠNG VI

Vào khoảng thời gian ấy, một buổi sáng nọ, có một gã nhà báo trẻ đầy tham vọng từ New York tìm đến tận cửa nhà Gatsby, dò hỏi xem anh có điều gì muốn phát ngôn không.

"Muốn phát ngôn về chuyện gì cơ?" Gatsby lịch sự hỏi lại.

"Chà-bất cứ tuyên bố nào ngài muốn công bố."

Sau năm phút vòng vo bối rối, hóa ra gã nhà báo này đã nghe lõm được cái tên Gatsby được nhắc đến đâu đó trong tòa soạn, gắn liền với một sự vụ gì đó mà gã hoặc là cố tình giấu giếm, hoặc là chính gã cũng chẳng tường tận. Hôm ấy là ngày nghỉ của gã, và với một sự hăng hái đáng khen ngợi, gã đã tất tả mò đến tận đây "để xem thử tình hình ra sao".

Đó chỉ là một sự đánh hơi tình cờ, nhưng linh cảm của gã nhà báo quả không sai. Sự nổi tiếng của Gatsby-vốn được thêu dệt bởi hàng trăm kẻ từng đến ăn chực uống chực nơi anh rồi nghiễm nhiên tự phong mình là chuyên gia sành sỏi về quá khứ của vị chủ nhà-đã phình to suốt mùa hè ấy, cho đến khi anh suýt chút nữa trở thành giật tít trên mặt báo. Những huyền thoại thêu dệt của thời đại, chẳng hạn như "đường ống ngầm dẫn tới Canada1", cứ thế tự nhiên bám chặt lấy anh. Thậm chí, còn có lời đồn dai dẳng cho rằng anh chẳng hề sống trong một biệt thự nào cả, mà trú ngụ trên một con thuyền khổng lồ ngụy trang thành nhà ở, cứ thoắt ẩn thoắt hiện dọc theo bờ biển Long Island. Còn vì sao những lời đồn thổi vô căn cứ ấy lại có thể mang đến niềm vui sướng tột độ cho gã trai James Gatz đến từ vùng North Dakota, thì thật chẳng dễ gì để lý giải nổi.

James Gatz-đó mới thực sự là cái tên khai sinh, hay chí ít là cái tên hợp pháp của anh. Anh đã tự đổi tên mình vào năm mười bảy tuổi, ngay tại cái khoảnh khắc định mệnh đánh dấu sự khởi đầu cho toàn bộ cơ đồ của anh-khi anh nhìn thấy chiếc du thuyền của Dan Cody buông neo trên bãi cạn hiểm trở nhất ở hồ Superior. Chiều hôm ấy, chính gã trai James Gatz trong chiếc áo len màu xanh rách bươm và chiếc quần vải bạt lùng thùng đã lang thang dọc theo bãi biển; thế nhưng, cũng chính chàng thanh niên Jay Gatsby là người đã mượn tạm một chiếc thuyền chèo, rẽ sóng tiến thẳng ra chỗ chiếc Tuolomee, để lớn tiếng cảnh báo cho Cody biết rằng có một cơn cuồng phong sắp ập tới và dư sức xé toạc con thuyền của ông chỉ trong nửa giờ nữa.

Tôi đoán chừng anh đã nung nấu cái tên ấy từ rất lâu rồi, thậm chí là ngay từ những ngày tháng đó. Cha mẹ anh vốn chỉ là những người nông dân lười biếng và thất bại-trí tưởng tượng không biên giới của anh chưa bao giờ thực sự thừa nhận họ là đấng sinh thành của mình. Sự thật là hình tượng Jay Gatsby ở West Egg, Long Island, đã phôi thai từ chính khao khát lý tưởng hóa bản thân của anh. Anh là một người con của Chúa-nếu cái cụm từ ấy mang bất kỳ một hàm ý thiêng liêng nào, thì chắc chắn đó phải là hàm ý này-và anh mang trên vai sứ mệnh phải thực thi công việc của Đức Chúa Cha, đó là cống hiến đời mình cho một thứ cái đẹp lớn lao, hào nhoáng và phô trương. Thế nên, anh đã tự nhào nặn ra chính xác cái chân dung Jay Gatsby mà một cậu nhóc mười bảy tuổi có thể tưởng tượng ra, và anh đã một mực trung thành với cái ảo ảnh đó cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Suốt hơn một năm trời, anh đã lăn lộn bươn chải dọc theo bờ nam hồ Superior, làm đủ mọi nghề từ đào nghêu, đánh bắt cá hồi cho đến bất cứ công việc tạp vụ nào miễn là đổi lại được chỗ ăn chỗ ngủ. Cơ thể rắn rỏi, sạm nắng của anh cứ thế trui rèn một cách hoang dã qua những công việc nửa nhọc nhằn, nửa nhàn nhã trong những tháng ngày căng tràn nhựa sống. Anh sành sỏi đàn bà từ rất sớm, và cũng chính vì họ quá đỗi nuông chiều anh, nên đâm ra anh sinh lòng coi thường họ. Anh khinh miệt những cô thiếu nữ trẻ ranh vì thói ngây ngô nông cạn, và chán ngán những người phụ nữ trưởng thành vì họ cứ hay nhặng xị lên trước những điều mà, với một kẻ quá mức đắm chìm vào bản thân như anh, chỉ là lẽ hiển nhiên thường tình.

Thế nhưng, sâu thẳm trong tim, anh lại luôn quằn quại trong một trạng thái hỗn loạn và nổi loạn triền miên. Những mộng tưởng kỳ quặc và hoang đường nhất cứ chập chờn ám ảnh anh mỗi đêm khi ngả lưng xuống giường. Cả một vũ trụ lộng lẫy và rực rỡ đến mức không từ ngữ nào tả xiết cứ thế xoay vần trong tâm trí anh, hòa nhịp cùng tiếng đồng hồ gõ nhịp đều đều trên bồn rửa mặt, trong khi ánh trăng đang rót thứ ánh sáng ẩm ướt, đẫm lệ lên mớ quần áo vứt lộn xộn trên sàn nhà. Hết đêm này qua đêm khác, anh không ngừng đắp điếm thêm vào cái khuôn mẫu mộng mị của đời mình, cho đến khi cơn buồn ngủ kéo đến, vỗ về khép lại một khung cảnh rực rỡ nào đó bằng một vòng tay quên lãng. Đã có một thời gian dài, những huyễn hoặc này chính là lối thoát duy nhất cho trí tưởng tượng bay bổng của anh; chúng mang đến một lời gợi ý đầy thỏa mãn về tính phi thực tế của cõi thực này, tựa như một lời hứa hẹn rằng nền móng bằng đá tảng của thế giới thực chất lại được xây dựng vững chãi trên đôi cánh mong manh của một nàng tiên.

Vài tháng trước đó, một bản năng khao khát thứ vinh quang đang vẫy gọi trong tương lai đã dẫn dắt anh tìm đến trường Cao đẳng dòng Luther nhỏ bé mang tên St. Olaf ở tận miền nam Minnesota. Anh nán lại nơi ấy vỏn vẹn hai tuần, chán nản tột độ trước sự thờ ơ lạnh lùng, tàn nhẫn của ngôi trường đối với những nhịp trống dồn dập vang lên từ định mệnh của đời anh, đối với chính cái định mệnh ấy, và anh căm ghét cay đắng cái công việc tạp vụ thấp hèn mà anh buộc phải làm để có tiền đóng học phí. Rồi anh lại trôi dạt trở về bến cũ ở hồ Superior, và vẫn đang vật vờ tìm kiếm một kế sinh nhai vào đúng cái ngày mà chiếc du thuyền của Dan Cody buông neo ở vùng nước nông dọc bờ biển.

Cody vào thời điểm đó đã bước sang tuổi năm mươi, là một sản phẩm điển hình nhào nặn từ những mỏ bạc ở Nevada, từ vùng Yukon khắc nghiệt, và từ mọi cuộc đổ xô đi đào vàng đào bạc kể từ năm bảy mươi lăm. Những phi vụ buôn bán đồng béo bở ở Montana đã năm lần bảy lượt biến ông thành triệu phú, mang lại cho ông một thể chất tráng kiện nhưng đồng thời cũng đẩy trí óc ông đến sát bờ vực của sự suy nhược tinh thần. Đánh hơi được điểm yếu này, vô số đàn bà đã tìm đủ mọi thủ đoạn để bòn rút tài sản của ông. Những mánh khóe chẳng mấy tốt đẹp mà Ella Kaye, ả nữ nhà báo ranh mãnh, đã sử dụng để sắm vai Madame de Maintenon2 lợi dụng điểm yếu của ông và đẩy ông lênh đênh ra biển khơi trên chiếc du thuyền, đã từng là câu chuyện cửa miệng của giới báo lá cải năm 1902. Ông cứ thế trôi dạt dọc theo những bờ biển hiếu khách đến mức mờ ám suốt năm năm trời, cho đến ngày ông hiện diện như một vị thần định mệnh gõ cửa cuộc đời James Gatz tại vịnh Little Girl.

Đối với chàng thanh niên Gatz, lúc bấy giờ đang tựa mình vào mái chèo và ngước mắt đăm đăm nhìn lên boong tàu có lan can bao quanh, chiếc du thuyền ấy chính là hiện thân cho tất thảy mọi vẻ đẹp và sự lộng lẫy rực rỡ nhất thế gian. Tôi đoán chừng anh đã nở nụ cười với ông Cody-có lẽ anh đã sớm nhận ra rằng người ta luôn có thiện cảm với anh mỗi khi anh mỉm cười. Dù sao đi nữa, Cody đã hỏi han cậu thanh niên vài câu (mà một trong số đó đã mồi ra cái tên mới toanh kia) và tinh ý nhận ra gã trai này không chỉ cực kỳ lanh lợi mà còn ôm ấp một dã tâm ngút ngàn. Vài ngày sau, ông đưa cậu đến Duluth, sắm sửa cho cậu một chiếc áo khoác xanh, sáu chiếc quần vải thô màu trắng và một chiếc mũ thuỷ thủ. Để rồi, khi chiếc Tuolomee nhổ neo rẽ sóng hướng về Tây Ấn và Bờ Biển Barbary3, Gatsby cũng theo bước con thuyền rời đi.

Anh được nhận vào làm việc dưới một chức danh cá nhân mập mờ chẳng rõ ràng-trong suốt quãng thời gian kề cận Cody, anh lần lượt kinh qua đủ mọi vai trò: từ quản gia, thủy thủ, thuyền trưởng, thư ký, cho đến tận việc làm cai ngục; bởi lẽ, Dan Cody những lúc tỉnh táo thừa hiểu rõ cái gã Dan Cody khi say xỉn có thể ném tiền qua cửa sổ vào những thứ hoang đường đến nhường nào, và ông buộc phải rào trước đón sau cho những khoảnh khắc mất kiểm soát ấy bằng cách ngày càng trao trọn niềm tin vào tay Gatsby. Sự giao kèo ngầm ấy kéo dài ròng rã năm năm trời, khoảng thời gian đủ để con thuyền đi vòng quanh Lục địa tới ba vòng. Có lẽ mọi chuyện đã cứ thế tiếp diễn mãi mãi nếu như không có cái đêm ả Ella Kaye xách hành lý bước lên tàu ở Boston, để rồi chỉ vỏn vẹn một tuần sau, Dan Cody đột ngột qua đời một cách phũ phàng.

Tôi vẫn còn nhớ như in bức chân dung của ông ta treo trong phòng ngủ của Gatsby: một người đàn ông lớn tuổi với khuôn mặt xam xám, ửng đỏ, hằn lên những nét thô cứng và trống rỗng-cái kiểu của những kẻ tiên phong chìm đắm trong men say dục vọng, những kẻ mà vào một thời kỳ hỗn mang của nước Mỹ, đã mang theo toàn bộ sự bạo lực man rợ đầy máu lửa từ những nhà thổ và quán rượu vùng biên giới để gieo rắc trở lại dọc bờ biển miền Đông. Việc Gatsby uống rất ít rượu âu cũng là do ảnh hưởng gián tiếp từ Cody. Đôi khi, giữa những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, bọn đàn bà lả lơi thường cố ý lấy rượu sâm panh thoa lên mái tóc anh; nhưng về phần mình, anh tự rèn dũa được thói quen tránh xa ma men.

Và cũng chính từ Cody mà anh được thừa kế một khoản tiền-một di sản trị giá hai mươi lăm nghìn đô la. Thế nhưng, anh chẳng bao giờ chạm tay được vào nó. Cho đến tận sau này, anh vẫn không sao hiểu nổi những thủ đoạn pháp lý mờ ám nào đã được tung ra để chống lại mình, chỉ biết rằng phần còn lại của khối tài sản hàng triệu đô la ấy cuối cùng đã trọn vẹn chui tọt vào túi của ả Ella Kaye. Anh bị bỏ lại bơ vơ với một nền tảng giáo dục đặc biệt đến kỳ lạ; dẫu vậy, những đường nét phác thảo mờ nhạt thuở nào của Jay Gatsby giờ đây đã được bồi đắp và đúc kết thành cốt cách thực thụ của một người đàn ông.


Mãi đến một thời gian rất lâu sau này anh mới trút bầu tâm sự, kể cho tôi nghe toàn bộ những chuyện đó, nhưng tôi vẫn cố tình chép lại ở đây cốt để đập tan những lời đồn thổi hoang đường đầu tiên về gốc gác của anh, những mẩu chuyện thêu dệt vốn dĩ chẳng chứa đựng lấy một nửa sự thật. Hơn nữa, anh đã tâm sự với tôi vào một thời điểm đầy hoang mang và bối rối, khi bản thân tôi đã bị đẩy đến cái giới hạn của việc sẵn sàng tin tưởng vào mọi thứ, nhưng đồng thời lại chẳng dám tin vào bất cứ điều gì về anh. Vậy nên, tôi đành mạn phép tận dụng cái quãng ngắt quãng ngắn ngủi này, khi Gatsby-nói một cách dễ hiểu-đang cố gắng lấy lại hơi thở, để xóa sạch đi chuỗi những hiểu lầm quái gở kia.

Quãng thời gian đó cũng đánh dấu một nhịp chững lại trong sự dính líu của tôi với những công việc của anh. Suốt vài tuần liền, tôi chẳng gặp mặt hay nghe giọng anh qua điện thoại-vì tôi chủ yếu ở New York, tất bật chạy theo Jordan và tìm cách lấy lòng bà dì già khó tính của cô ấy. Nhưng rồi, vào một chiều Chủ nhật nọ, tôi rốt cuộc cũng ghé sang nhà anh. Tôi bước vào chưa đầy hai phút thì ai đó đã đưa Tom Buchanan đến uống một ly. Khỏi phải nói tôi giật mình đến thế nào, song điều thực sự đáng kinh ngạc lại là việc chuyện này chưa từng xảy ra trước đây.

Bọn họ là một nhóm ba người đi cưỡi ngựa-Tom, một người đàn ông tên Sloane, và một phụ nữ xinh đẹp bận bộ đồ cưỡi ngựa màu nâu, người từng đôi lần ghé lại nơi này.

"Rất hân hạnh được đón tiếp các vị," Gatsby cất lời khi đang đứng trên mái hiên. "Rất vui vì các vị đã quá bộ ghé chơi."

Cứ làm như bọn họ để tâm không bằng!

"Xin mời ngồi. Các vị dùng một điếu thuốc hay xì gà nhé." Anh rảo bước quanh phòng thật nhanh, bấm chuông gọi người làm. "Sẽ có đồ uống cho các vị ngay trong chốc lát."

Sự xuất hiện của Tom rõ ràng đã tác động mạnh đến anh. Nhưng đằng nào thì anh cũng sẽ bứt rứt không yên cho đến khi mời họ được chút gì đó, phần nào lờ mờ nhận ra đấy chính là mục đích duy nhất họ tìm đến đây. Ông Sloane chẳng muốn gì cả. Một ly nước chanh ư? Không, cảm ơn. Một chút sâm panh nhé? Không cần đâu, cảm ơn... Tôi xin lỗi-

"Các vị cưỡi ngựa dạo quanh đây có thú vị không?"

"Đường sá quanh vùng này rất đẹp."

"Tôi đồ rằng những chiếc ô tô-"

"Đúng vậy."

Bị thôi thúc bởi một ý nghĩ chẳng thể kìm nén, Gatsby quay sang Tom-kẻ vừa nhận lời giới thiệu ban nãy như thể hai người hoàn toàn xa lạ.

"Tôi tin là chúng ta đã từng gặp nhau ở đâu đó rồi thì phải, anh Buchanan."

"Ồ, vâng," Tom đáp, giữ phép lịch sự đầy cộc lằn, dù mười mươi là gã chẳng nhớ nổi một mảy may. "Đúng vậy. Tôi nhớ rất rõ."

"Khoảng chừng hai tuần trước."

"Đúng rồi. Lúc đó anh đi cùng với Nick ở đây."

"Tôi có quen biết vợ anh đấy," Gatsby tiếp lời, giọng điệu gần như mang vẻ khiêu khích.

"Thế à?"

Tom quay ngoắt sang tôi.

"Cậu sống gần đây sao, Nick?"

"Ngay căn nhà ngay sát vách."

"Thế à?"

Ông Sloane chẳng hề tham gia vào câu chuyện. Ông ta ngả người ra lưng ghế bằng thái độ kiêu kỳ, ngạo mạn; người phụ nữ kia cũng lặng thinh-cho đến khi uống cạn hai ly rượu highball, cô ta bỗng dưng trở nên niềm nở đến lạ.

"Tất cả chúng tôi sẽ tới dự bữa tiệc tiếp theo của anh, anh Gatsby nhé," cô ta ngỏ ý. "Anh thấy sao?"

"Chắc chắn rồi; tôi sẽ rất hân hạnh được đón tiếp cô."

"Thế thì tuyệt quá," ông Sloane cất lời, chẳng thèm mảy may tỏ vẻ hàm ơn. "Chà-tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải về rồi."

"Xin đừng vội," Gatsby cố níu giữ. Anh đã lấy lại được vẻ điềm tĩnh thường ngày, và dường như muốn dò xét Tom thêm chút nữa. "Sao các vị không-sao các vị không nán lại dùng bữa tối luôn? Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu có thêm vài người bạn từ New York ghé qua đâu."

"Anh đến dùng bữa tối với tôi đi," người phụ nữ hào hứng thốt lên. "Cả hai anh."

Lời mời ấy bao trùm luôn cả tôi. Ông Sloane liền đứng phắt dậy.

"Đi thôi," ông ta nói-nhưng ánh mắt chỉ ghim thẳng vào cô ả.

"Tôi nói thật lòng đấy," cô ta một mực khăng khăng. "Tôi rất muốn mời anh. Vẫn còn dư dả chỗ ngồi mà."

Gatsby nhìn tôi mang vẻ dò hỏi. Anh thực lòng muốn đi, và chẳng hề mường tượng được rằng ông Sloane trong thâm tâm đã tự định đoạt rằng anh không nên đi.

"Tôi e là mình không thể đi được rồi," tôi đáp.

"Chà, vậy thì anh đến đi," cô ta giục giã, dồn mọi sự chú ý vào Gatsby.

Ông Sloane lầm bầm điều gì đó sát tai cô ta.

"Chúng ta sẽ không trễ nếu xuất phát ngay bây giờ," cô ta khăng khăng nói lớn.

"Tôi không có ngựa," Gatsby nói. "Tôi từng cưỡi ngựa hồi còn trong quân ngũ, nhưng lại chưa từng tậu một con nào. Chắc tôi sẽ phải lái xe theo sau các vị thôi. Xin thứ lỗi cho tôi một phút nhé."

Những người còn lại trong chúng tôi bước ra ngoài mái hiên. Tại đó, ông Sloane và người phụ nữ bắt đầu tranh luận sôi nổi ở một góc.

"Lạy Chúa tôi, tôi tin là gã đó sắp đến thật đấy," Tom thốt lên. "Cậu ta không nhận ra là cô ấy chẳng hề muốn cậu ta đi cùng sao?"

"Cô ấy bảo là muốn cậu ta đi cùng mà."

"Cô ấy đang tổ chức một bữa tiệc tối sang trọng, và gã đó sẽ chẳng quen biết một mống nào ở đấy cả." Gã cau mày khó chịu. "Tôi tự hỏi gã đó đã gặp Daisy ở cái xó xỉnh quái quỷ nào cơ chứ. Lạy Chúa, tôi có thể là kẻ cổ hủ trong suy nghĩ, nhưng phụ nữ thời nay chạy rông ngoài đường quá nhiều so với ý thích của tôi. Họ gặp gỡ đủ mọi thành phần kỳ quặc trên đời."

Đột nhiên, ông Sloane và người phụ nữ bước xuống những bậc thềm rồi leo lên lưng ngựa.

"Đi nào," ông Sloane giục Tom, "chúng ta trễ mất rồi. Phải đi thôi." Rồi ông ta ngoái lại bảo tôi: "Nói với cậu ta là chúng tôi không thể nán lại đợi được nhé, anh bạn?"

Tom và tôi bắt tay nhau, những người còn lại chỉ khẽ gật đầu chào qua loa nhạt nhẽo. Bọn họ thúc ngựa chạy nước kiệu, lao nhanh xuống con đường rải sỏi rồi mất hút dưới những tán lá tháng Tám, ngay khoảnh khắc Gatsby bước ra khỏi cửa trước, tay cầm theo chiếc mũ cùng chiếc áo khoác mỏng.

Tom rõ ràng bực bội vì Daisy dạo chơi một mình, nên vào tối thứ Bảy tuần sau đó, anh ta tháp tùng cô đến dự tiệc nhà Gatsby. Có lẽ chính sự hiện diện của anh ta đã phả vào buổi tối một cảm giác ngột ngạt đến lạ thường-một dấu ấn in đậm trong tâm trí tôi, hoàn toàn khác biệt so với những đêm tiệc mùa hè trước đó của Gatsby. Vẫn là những gương mặt ấy, hoặc chí ít cũng là cùng một kiểu người; vẫn sâm panh chảy tràn trề; vẫn là mớ âm thanh ồn ào đa sắc đa thanh. Thế nhưng, tôi lại mơ hồ nhận ra một bầu không khí oi bức, một vẻ thô kệch đặc quánh lan tỏa mà trước đây chưa từng hiện hữu. Hoặc cũng có thể, tôi vốn dĩ đã quá quen thuộc, đã chấp nhận West Egg như một thế giới trọn vẹn, tự thiết lập nên những lề thói và tôn vinh những vĩ nhân của riêng mình, chẳng hề e dè hay lép vế trước bất kỳ nơi đâu chỉ bởi nó chưa từng có ý thức về điều đó. Và giờ đây, tôi lại đang nhìn nhận nó qua lăng kính của Daisy. Thật buồn biết bao khi phải dùng một đôi mắt xa lạ để ngắm nhìn lại những thứ mà bản thân đã phải nỗ lực để ép mình thích nghi và quen thuộc.

Họ đến vào lúc chạng vạng. Khi chúng tôi tản bộ giữa hàng trăm con người lấp lánh ánh lụa là, giọng nói của Daisy khẽ buông lơi thành những lời thì thầm đùa bỡn ngọt ngào trong cổ họng.

"Những thứ này làm em phấn khích quá," cô thầm thì. "Nếu đêm nay anh muốn hôn em vào bất cứ lúc nào, Nick à, cứ nói cho em biết, em sẽ sẵn lòng thu xếp cho. Chỉ cần nhắc đến tên em thôi. Hoặc đưa ra một tấm thẻ xanh cũng được. Em đang phân phát thẻ xanh đây-"

"Em hãy ngắm nhìn xung quanh đi," Gatsby gợi ý.

"Em đang nhìn đây. Em đang có một trải nghiệm thật tuyệt vời-"

"Em sẽ được thấy nhiều gương mặt mà em vốn đã nghe danh đấy."

Ánh mắt kiêu ngạo của Tom lướt quanh đám đông.

"Chúng ta ít khi đi chơi quá," anh ta buông lời; "thực ra, anh vừa nhận ra mình chẳng quen một ai ở đây cả."

"Có lẽ anh biết quý cô đằng kia." Gatsby chỉ tay về phía một người phụ nữ lộng lẫy, kiêu sa tựa hồ một nhành lan trắng muốt quý hiếm đang ngự dưới tán mận trắng. Tom và Daisy chằm chằm nhìn theo. Họ mang một cảm giác kỳ lạ, phi thực tế như thể đang chứng kiến một ngôi sao điện ảnh bằng xương bằng thịt-người vốn dĩ chỉ tồn tại như những ảo ảnh vô thực trên màn bạc.

"Cô ấy thật đáng yêu," Daisy tán thưởng.

"Người đàn ông đang cúi người cạnh cô ấy chính là đạo diễn của cô ta."

Anh trang trọng dẫn họ đi chào hỏi từ nhóm này sang nhóm khác:

"Cô Buchanan... và anh Buchanan-" Sau một thoáng ngập ngừng, anh cố tình nói thêm: "một người chơi polo."

"Ồ không," Tom nhanh chóng gạt đi, "không phải tôi."

Nhưng có vẻ như cách gọi đó khiến Gatsby đặc biệt thích thú, bởi Tom vẫn phải khoác cái danh "người chơi polo" ấy trong suốt phần còn lại của buổi tối.

"Em chưa bao giờ gặp nhiều người nổi tiếng đến thế," Daisy thốt lên. "Em thích người đàn ông kia-ông ấy tên là gì nhỉ?-cái người có chiếc mũi hơi xanh ấy."

Gatsby gọi tên người đàn ông nọ, rồi nói thêm rằng ông ta chỉ là một nhà sản xuất nhỏ.

"Chà, dù sao thì em cũng thấy mến ông ấy."

"Anh thì chẳng muốn làm một người chơi polo," Tom cợt nhả, "anh thà ngắm nhìn đám người nổi tiếng này chìm vào-vào sự lãng quên còn hơn."

Daisy và Gatsby khiêu vũ cùng nhau. Tôi nhớ mình đã vô cùng ngạc nhiên trước điệu foxtrot uyển chuyển và chừng mực của anh-bởi trước đây, tôi chưa từng thấy Gatsby khiêu vũ bao giờ. Lát sau, họ thong thả tản bộ qua nhà tôi rồi cùng ngồi trò chuyện trên bậc thềm chừng nửa giờ đồng hồ. Theo yêu cầu của Daisy, tôi đành nán lại trong vườn để làm người gác cổng canh chừng. "Đề phòng có hỏa hoạn hay lũ lụt," cô giải thích, "hoặc bất kỳ sự trừng phạt nào của Chúa."

Khi chúng tôi vừa ngồi xuống dùng bữa tối thì Tom bỗng xuất hiện từ cõi lãng quên của anh ta. "Em có phiền không nếu anh sang ăn cùng nhóm người đằng kia?" anh ta lên tiếng. "Có một gã đang kể mấy chuyện khá buồn cười."

"Anh cứ tự nhiên," Daisy đáp lời với vẻ rạng rỡ, "và nếu anh cần ghi lại bất kỳ địa chỉ nào thì cầm lấy cây bút chì vàng bé nhỏ này của em nhé."... Một lúc sau, cô đưa mắt nhìn quanh rồi ghé tai tôi thì thầm rằng cô gái kia "trông thì bình thường nhưng cũng khá xinh xắn." Nghe vậy, tôi chợt hiểu ra rằng, ngoại trừ nửa giờ đồng hồ riêng tư ngắn ngủi bên Gatsby, Daisy đã chẳng hề có lấy một giây phút nào thực sự tận hưởng buổi tối nay.

Chúng tôi ngẫu nhiên ngồi vào một chiếc bàn mà ai nấy đều đã say khướt. Đó hoàn toàn là lỗi của tôi-Gatsby đã bị gọi đi nghe điện thoại, còn tôi thì vốn dĩ rất có cảm tình với những con người này chỉ mới hai tuần trước. Thế nhưng, chính những điều từng mang lại cho tôi niềm vui khi ấy, giờ đây lại bốc lên một thứ mùi vị độc hại, ngột ngạt lởn vởn trong không khí.

"Cô cảm thấy thế nào rồi, cô Baedeker?"

Cô gái được hỏi đang loạng choạng cố gắng tựa đầu gục vào vai tôi, nhưng thất bại. Nghe thấy câu hỏi, cô ta giật mình ngồi thẳng dậy và hé mở đôi mắt lờ đờ.

"Hả?"

Một người phụ nữ to lớn và đờ đẫn-người trước đó đã nài nỉ Daisy chơi gôn cùng mình tại câu lạc bộ địa phương vào ngày mai-lên tiếng bênh vực cô Baedeker:

"Ồ, cô ấy không sao đâu. Cứ hễ nốc cạn năm hay sáu ly cocktail là cô nàng lại bắt đầu gào thét như thế đấy. Tôi đã bảo cô ấy nên cạch mặt rượu chè ra rồi cơ mà."

"Tôi có cạch mặt đấy chứ," người bị buộc tội buông lời thanh minh một cách trống rỗng.

"Chúng tôi nghe thấy cô la hét ỏm tỏi, nên tôi mới bảo Bác sĩ Civet đang đứng ở đây: 'Có người đang cần ông ra tay cứu giúp kìa, thưa Bác sĩ.'"

"Chắc hẳn cô ấy biết ơn cô lắm," một người bạn khác chen vào với giọng điệu mỉa mai, "nhưng cô đã làm ướt sũng bộ váy của cô ấy khi nhúng đầu người ta xuống hồ bơi đấy."

"Điều tôi ghét nhất trên đời chính là bị chúi đầu xuống hồ bơi," cô Baedeker lầm bầm bực dọc. "Đám người đó từng suýt dìm chết đuối tôi một lần ở New Jersey rồi đấy."

"Vậy thì cô càng nên tránh xa rượu ra," Bác sĩ Civet đốp chát lại.

"Ông hãy lo cho cái thân ông trước đi!" cô Baedeker nổi đóa hét lên. "Tay ông thì đang run bần bật ra kia kìa. Có chết tôi cũng không thèm để ông phẫu thuật cho tôi đâu!"

Câu chuyện rốt cuộc là vậy đấy. Ký ức cuối cùng còn đọng lại trong tôi là lúc đứng cạnh Daisy, mắt dõi theo tay đạo diễn điện ảnh và nàng Ngôi sao của ông ta. Họ vẫn ngự dưới tán mận trắng ấy, và khuôn mặt hai người gần như đang kề sát vào nhau, chỉ cách biệt bởi một vệt trăng mỏng manh, bợt bạt vắt ngang. Tôi bỗng nhận ra rằng suốt cả buổi tối hôm ấy, gã đạo diễn đã cố tình rướn người về phía cô đào một cách cực kỳ chậm rãi để đạt được khoảng cách gần gũi này. Và rồi, ngay trong khoảnh khắc tôi đang mải miết quan sát, ông ta rướn người thêm một chút cuối cùng rồi dịu dàng đặt một nụ hôn lên má cô ấy.

"Em thích cô ấy," Daisy cất lời, "em thấy cô ấy đáng yêu thật đấy."

Nhưng tất thảy những phần còn lại của bữa tiệc đều khiến cô chướng mắt-và chắc chắn điều đó bắt nguồn từ một luồng cảm xúc chân thực chứ không đơn thuần chỉ là một thái độ bốc đồng. Cô bàng hoàng trước West Egg, cái "nơi chốn" chưa từng có tiền lệ, một hiện tượng được Broadway hoài thai ngay trên chính một ngôi làng chài Long Island hẻo lánh. Cô kinh hãi trước sức sống thô ráp, mãnh liệt của nó, thứ cọ xát dữ dội vào những lề thói nói giảm nói tránh mòn cũ hủ lậu. Và hơn hết, cô ghê sợ cái định mệnh trần trụi đang lùa cư dân của chốn này đi dọc theo một lối tắt vô vọng: trôi dạt từ con số không, rồi lại bẽ bàng quay về với con số không tròn trĩnh. Cô nhìn thấu một sự mục nát tồi tệ ẩn sâu bên trong chính sự giản đơn mà bản thân cô không sao thấu hiểu nổi.

Tôi cùng họ ngồi nán lại trên bậc thềm trước nhà để đợi xe. Phía trước là một màn đêm đen kịt; chỉ duy nhất có khung cửa chính đang rực sáng, hắt một vạt ánh sáng chói lòa rộng chừng mười feet vuông vào sớm tinh sương đen thẫm tĩnh lặng. Thi thoảng, một cái bóng mờ ảo lướt qua trên tấm rèm của phòng thay đồ lầu trên, rồi vội vã nhường chỗ cho một bóng hình khác. Cứ thế, một đoàn diễu hành vô định của những chiếc bóng lần lượt kéo qua, phác họa hình ảnh những con người đang mải miết tô son điểm phấn trước một tấm gương vô hình nào đó.

"Rốt cuộc cái gã Gatsby này là ai thế?" Tom đột ngột vặn vẹo. "Một tay trùm buôn lậu rượu khét tiếng nào đó à?"

"Anh nghe được chuyện đó ở đâu ra vậy?" tôi gặng hỏi.

"Tôi chẳng nghe ở đâu cả. Tôi tự đoán thế thôi. Cậu biết đấy, đám trọc phú mới nổi này đa phần toàn là bọn buôn lậu rượu chứ gì nữa."

"Gatsby thì không phải người như vậy," tôi đáp lại cộc lốc.

Tom im lặng chốc lát. Có tiếng lạo xạo của những viên sỏi nghiến dưới gót chân anh ta trên lối lái xe.

"Chà, cậu ta chắc hẳn đã phải bỏ ra không ít công sức mới gom được cả cái sở thú này về đây nhỉ."

Một làn gió khẽ lướt qua, khuấy động lớp lông sương xám trên chiếc cổ áo khoác của Daisy.

"Ít nhất thì họ cũng thú vị hơn đám người mà chúng ta vẫn giao du," cô gắng gượng đáp lời.

"Trông em chẳng có vẻ gì là đang thấy thú vị cả."

"Chà, em có đấy chứ."

Tom bật cười rồi quay sang phía tôi.

"Cậu có để ý thấy vẻ mặt của Daisy lúc cô ả kia rủ cô ấy đi tắm vòi sen nước lạnh không?"

Daisy bắt đầu ngâm nga theo tiếng nhạc với một giọng thầm thì, khàn khàn đầy tính nhịp điệu. Cô thổi vào mỗi ca từ một nét nghĩa mới mẻ chưa từng hiện hữu và rồi sẽ chẳng bao giờ lặp lại lần nữa. Khi giai điệu vút cao, chất giọng của cô bỗng vỡ òa ra ngọt ngào, nương mình thả trôi theo nốt nhạc, đúng cái cách mượt mà vốn dĩ của những giọng nữ trầm. Và cứ sau mỗi nhịp ngân nga luyến láy, cô lại rưới thêm một giọt ma thuật ấm áp từ con người mình vào thinh không.

"Rất nhiều người kéo đến đây mà chẳng hề được mời mọc," cô đột nhiên lên tiếng. "Cô gái đó đâu có được mời. Họ cứ thế trơ tráo chen ngang vào bữa tiệc, và anh ấy thì lại quá lịch thiệp để mở lời từ chối."

"Anh thực sự muốn biết cậu ta là ai và làm cái nghề ngỗng gì," Tom vẫn khăng khăng không buông tha. "Và anh nhất định sẽ phải tìm hiểu cho ra nhẽ cái chuyện này."

"Thế thì em có thể nói cho anh biết ngay bây giờ," cô đáp lại. "Anh ấy từng sở hữu một chuỗi các hiệu thuốc, rất nhiều hiệu thuốc là đằng khác. Chính anh ấy đã tự tay gây dựng lên chúng đấy."

Chiếc xe limousine chầm chậm lăn bánh tiến lên lối đi.

"Chúc ngủ ngon, Nick," Daisy nói.

Ánh mắt cô dứt khỏi tôi, mải miết hướng về phía đỉnh thềm ngập ngụa ánh sáng, nơi bản nhạc "Three O'Clock in the Morning"4-một điệu waltz u buồn, gãy gọn đặc trưng của năm ấy-đang du dương vọng ra từ khung cửa mở toang. Xét cho cùng, ẩn sâu trong chính cái vẻ xô bồ, hời hợt của bữa tiệc nhà Gatsby, vẫn tồn tại những khả năng lãng mạn nhiệm màu mà thế giới thực tại của cô vốn dĩ đã vĩnh viễn vắng bóng. Điều gì lẩn khuất trong bài hát ấy đang thiết tha vẫy gọi cô quay bước trở vào? Chuyện gì sẽ xảy đến tiếp theo trong cái khung giờ mờ ảo, nhập nhoạng khôn lường này? Biết đâu đấy, một vị khách khó tin nào đó sẽ bất chợt ghé thăm-một nhân vật vô cùng hiếm hoi và kinh ngạc-một thiếu nữ trẻ trung rạng rỡ với vẻ đẹp đích thực nhường nào. Một người mà, chỉ bằng một cái nhìn lướt qua Gatsby đầy tươi mới, một khoảnh khắc gặp gỡ nhuốm màu kỳ diệu, cũng sẽ đủ sức xóa sạch sành sanh cả năm năm trời chung thủy, tận tụy không mảy may lay chuyển của anh.

Tôi nán lại rất khuya đêm đó. Gatsby bảo tôi chờ đến khi anh xong việc, thế là tôi thẩn thơ dạo bước ngoài vườn, mãi cho tới khi đám đông tắm đêm ồn ào và lạnh buốt lũ lượt kéo nhau lên từ bãi biển đen ngòm, và những ngọn đèn trong các phòng dành cho khách trên lầu dần tắt lịm. Lúc Gatsby bước xuống thềm, làn da rám nắng của anh hằn lên những nét căng thẳng khác thường, còn đôi mắt thì ánh lên vẻ mệt mỏi rã rời.

"Em ấy không thích nó," anh cất tiếng ngay tức khắc.

"Tất nhiên là có rồi."

"Em ấy không hề thích," anh khăng khăng. "Em ấy chẳng thấy vui vẻ chút nào."

Anh chìm vào im lặng, và tôi có thể cảm nhận được sự tuyệt vọng không thể nói thành lời trong anh.

"Tôi thấy mình đang xa cách với em ấy," anh buồn bã nói. "Thật khó để khiến em ấy hiểu."

"Ý anh là về điệu khiêu vũ sao?"

"Điệu khiêu vũ à?" Anh búng tay một cái, gạt phắt mọi nỗ lực tổ chức khiêu vũ bấy lâu nay. "Anh bạn ạ, mấy điệu nhảy đó chẳng quan trọng gì đâu."

Anh chẳng mong muốn gì hơn ở Daisy, ngoài việc cô sẽ bước đến trước mặt Tom và thẳng thừng nói: "Em chưa bao giờ yêu anh". Một khi cô dùng câu nói ấy để xóa bỏ hoàn toàn bốn năm bên nhau, họ mới có thể tính đến những bề bộn thiết thực cần phải làm. Một trong số đó là, ngay sau khi cô được tự do, hai người sẽ quay về Louisville và tổ chức đám cưới ngay tại nhà cô-như thể thời gian đã lùi lại đúng năm năm về trước.

"Vậy mà em ấy không hiểu," anh than thở. "Trước đây em ấy từng rất hiểu tôi. Bọn tôi đã từng ngồi bên nhau hàng giờ liền..."

Anh chợt nín bặt, rồi bắt đầu bước tới bước lui dọc theo lối đi hoang vắng, nơi vương vãi những vỏ trái cây, ruy băng trang trí bị vứt lăn lóc và những cánh hoa bầm dập dưới gót giày.

"Tôi nghĩ anh không nên đòi hỏi ở cô ấy quá nhiều," tôi đánh bạo lên tiếng. "Anh không thể lặp lại quá khứ đâu."

"Không thể lặp lại quá khứ ư?" anh kêu lên vẻ kinh ngạc tột độ. "Sao lại không thể chứ, tất nhiên là được!"

Anh đảo mắt nhìn quanh quất một cách hoang dại, như thể quá khứ đang lẩn khuất đâu đây trong bóng tối của tòa dinh thự, chỉ chực chờ anh vươn tay là chạm tới.

"Tôi sẽ sắp xếp mọi thứ lại đúng y như cũ," anh gật đầu quả quyết. "Rồi em ấy sẽ thấy."

Anh nói rất nhiều về quá khứ, và tôi lờ mờ hiểu ra rằng anh đang khao khát lấy lại một điều gì đó-có lẽ là một phần con người của chính anh, thứ đã mãi mãi tan biến kể từ khi anh đem lòng yêu Daisy. Cuộc đời anh đã trở nên rối ren và hỗn độn từ dạo ấy, nhưng nếu anh có thể lần mò về đúng một vạch xuất phát nào đó, rồi chầm chậm nhìn nhận lại tất thảy, hẳn anh sẽ tìm ra thứ đó là gì...

... Một đêm mùa thu của năm năm về trước, họ cùng nhau sóng bước trên con phố ngập lá vàng rơi, rồi dừng chân tại một ngã rẽ vắng bóng cây, nơi vỉa hè được nhuộm trắng bởi ánh trăng. Họ đứng đó, khẽ quay mặt vào nhau. Tiết trời đêm ấy se lạnh, mang theo sự háo hức bí ẩn của khoảnh khắc giao mùa. Ánh đèn bình yên từ những ngôi nhà hắt bóng lung linh vào màn đêm, còn những vì sao thì như đang khẽ khàng lay động. Trong tầm mắt của Gatsby, những phiến đá lót đường dường như đang xếp thành một nấc thang vươn lên chốn thâm u phía trên những ngọn cây-anh có thể trèo lên đó, miễn là anh đi một mình, và một khi lên tới đỉnh cao ấy, anh sẽ được tận hưởng trọn vẹn sức sống của thế gian, được thỏa thuê uống cạn dòng sữa ngọt ngào của những điều kỳ diệu.

Tim anh đập thình thịch khi khuôn mặt trắng ngần của Daisy nhích lại gần sát mặt anh. Anh biết rõ rằng, hễ môi mình chạm vào cô gái này, hễ đem gắn chặt những viễn cảnh không sao tả xiết của mình vào hơi thở mong manh của cô, thì tâm trí anh sẽ chẳng bao giờ còn được tự do bay bổng như tâm trí của Chúa nữa. Thế là anh ngập ngừng, cố lắng nghe thêm một thoáng nữa âm vang của chiếc âm thoa vừa gõ vào một vì sao. Rồi anh hôn cô. Khoảnh khắc đôi môi anh vừa chạm tới, cô bừng nở vì anh như một đóa hoa, và sự hóa thân đã trọn vẹn hoàn tất.

Xuyên suốt những gì anh nói, dù là trong thứ cảm xúc đa sầu đến kinh ngạc ấy, tôi vẫn bị bủa vây bởi một hồi ức mơ hồ-một nhịp điệu chập chờn khó nắm bắt, một mảnh vỡ của những ngôn từ đã đánh mất, mà tôi dường như từng thoảng nghe ở đâu đó từ thuở rất xa xôi. Trong một thoáng chốc, một cụm từ chực chờ thành hình trên đầu lưỡi, môi tôi đã hé mở như của một gã câm, như thể có thứ gì đó đang mãnh liệt quẫy đạp trên ấy hơn cả một luồng hơi thở vừa bị nghẹn lại. Nhưng rốt cuộc chẳng có âm thanh nào thốt lên, và cái điều tôi ngỡ như sắp nhớ ra ấy, đã vĩnh viễn không thể nào biểu đạt được nữa.



  1. Trong bối cảnh Lệnh cấm rượu (Prohibition) ở Mỹ thập niên 1920, Canada vẫn cho phép sản xuất và nấu rượu. 

  2. Người vợ thứ hai của Vua Louis XIV nước Pháp, vốn xuất thân bình dân nhưng vô cùng khôn khéo và có khả năng thao túng quyền lực đằng sau ngai vàng. 

  3. Tây Ấn (West Indies) là vùng đảo ở biển Caribbean, còn Bờ Biển Barbary là vùng ven biển Bắc Phi, từng nổi tiếng là sào huyệt của cướp biển trong lịch sử. Cả hai địa danh này gợi lên những cuộc phiêu lưu viễn dương đầy nguy hiểm, hoang dã và kỳ thú. 

  4. Một bản waltz vô cùng thịnh hành vào đầu thập niên 1920, thường được các ban nhạc chơi vào cuối buổi dạ tiệc như một lời chào tạm biệt đầy lãng mạn và tiếc nuối.