CHƯƠNG III

Đêm hè nào cũng thế, từ nhà hàng xóm luôn vọng sang tai tôi những thanh âm rộn rã. Dưới bóng râm nhuốm màu xanh thẳm của khu vườn nhà anh, đám đàn ông và những cô đào dập dìu qua lại như những bầy thiêu thân, lướt giữa những lời thì thầm to nhỏ, men sâm panh và muôn vàn tinh tú lấp lánh. Vào những buổi chiều nước lớn, tôi thường lặng ngắm khách khứa của anh gieo mình xuống mặt nước từ ngọn tháp trên chiếc bè gỗ, hay thảnh thơi tắm nắng trên bãi cát bỏng rát. Trong lúc ấy, hai chiếc xuồng máy của anh thi nhau xé toạc làn nước Eo biển Sound1, kéo theo sau những tấm ván lướt bồng bềnh trên dải bọt trắng xóa. Cuối tuần đến, chiếc Rolls-Royce của anh hóa thành một chiếc xe buýt thực thụ, cần mẫn chở từng tốp khách đi và về từ thành phố, hoạt động không ngừng nghỉ từ chín giờ sáng cho tới tận khuya khoắt. Trong khi đó, chiếc xe thùng của anh lại lăng xăng chạy ngược xuôi, tựa như một con bọ màu vàng lanh lợi, chực chờ đón mọi chuyến tàu. Và rồi thứ Hai đến, tám người hầu cùng một gã làm vườn thuê thêm phải vắt kiệt sức quần quật suốt ngày với cơ man nào là giẻ lau, bàn chải, búa và kéo tỉa cành, chật vật dọn dẹp mớ hỗn độn của đêm tiệc tàn.

Mỗi độ thứ Sáu, năm thùng cam và chanh tươi rói được chở đến từ một cửa tiệm hoa quả tận New York-thế mà thứ Hai nào, cũng chính những quả cam và chanh ấy lại bị ném không thương tiếc ra cửa sau, hóa thành một đống vỏ nát tươm. Trong bếp có đặt một cỗ máy kỳ diệu, đủ sức vắt cạn hai trăm quả cam chỉ trong chừng nửa giờ, miễn là ngón tay cái của gã quản gia chịu khó ấn vào một nút nhỏ đúng hai trăm lần.

Cứ độ hai tuần một lần, một đội phục vụ lại khuân xuống hàng trăm mét bạt cùng đủ loại đèn màu, hô biến khu vườn thênh thang của Gatsby thành một cây thông Noel rực rỡ. Trên những bàn tiệc tự chọn, điểm xuyết những món khai vị lóng lánh, cơ man là dăm bông nướng tẩm gia vị chen chúc bên những đĩa salad sặc sỡ và cả những con lợn, gà tây làm bằng bánh ngọt, óng lên sắc vàng rộm ngon mắt. Ngay sảnh chính, người ta cho dựng một quầy bar với thanh vịn bằng đồng xịn, chất đầy ắp rượu gin, rượu mùi và những thứ rượu bổ béo đã bị lãng quên từ thuở nảo thuở nào, đến mức hầu hết các nữ khách mời đều quá đỗi non nớt để phân biệt được sự khác nhau giữa chúng.

Mới bảy giờ, dàn nhạc đã có mặt. Chẳng phải loại ban nhạc năm người mỏng manh, mà là cả một hố nhạc hoành tráng, hội tụ đủ kèn oboe, trombone, saxophone, violon, cornet, piccolo, xen lẫn tiếng trống trầm và trống bổng. Những người bơi lội muộn nhất đã rời bãi biển và đang thay đồ trên lầu. Ngoài kia, xe hơi từ New York ùn ùn kéo đến, đậu thành năm hàng dài trên lối vào. Các sảnh lớn, phòng khách cùng hàng hiên bừng sáng với những gam màu rực rỡ, những mái tóc cắt ngắn theo những kiểu dáng kỳ lạ, và những chiếc khăn choàng khoe sắc vượt xa trí tưởng tượng của xứ Castile2. Quầy bar bắt đầu hoạt động hết công suất, những khay cocktail dập dềnh len lỏi khắp khu vườn, cho tới khi bầu không khí ngập ngụa tiếng chuyện trò và những tràng cười giòn giã, hòa cùng những lời bóng gió bâng quơ, những màn giới thiệu trôi tuột khỏi tâm trí ngay tắp lự, và cả những cuộc hội ngộ tay bắt mặt mừng giữa những người đàn bà vốn chưa từng biết tên nhau.

Trái đất càng lùi xa mặt trời, ánh đèn lại càng thêm rực rỡ, và giờ đây dàn nhạc đang cất lên những giai điệu vàng óng của bữa tiệc cocktail, trong khi vở opera của những giọng nói đồng loạt vút lên một tông cao. Tiếng cười nổ ra dễ dàng hơn sau mỗi phút, tuôn trào phóng khoáng, chực chờ bật ra chỉ nhờ một từ vui nhộn. Các nhóm thay đổi đội hình với tốc độ chóng mặt, phình to ra mỗi khi có người mới đến, vỡ tan rồi lại tụ hợp chỉ trong chớp mắt. Đã có những bóng hồng dạo bước, những cô gái ngẩng cao đầu tự tin lướt qua lướt lại giữa những người vững chãi hơn, chễm chệ trở thành tâm điểm của một nhóm trong một khoảnh khắc sắc nét, hân hoan, để rồi sau đó, lòng ngất ngây men chiến thắng, lại lướt tiếp qua chuỗi thay đổi chóng mặt của những khuôn mặt, giọng nói và sắc màu dưới ánh đèn liên tục đổi thay.

Đột nhiên, một trong những cô gái du mục này, thướt tha trong chiếc váy ngọc thạch lấp lánh, vươn tay chộp lấy một ly cocktail giữa không trung. Nốc cạn một hơi lấy can đảm, cô múa may đôi tay tựa như Frisco3, rồi uyển chuyển nhảy múa một mình trên bục vải bạt. Một sự im lặng thoáng qua; vị nhạc trưởng tinh tế đổi nhịp điệu cho cô, và một tràng xì xầm lập tức nổ ra khi có tin đồn thất thiệt râm ran rằng cô là người đóng thế cho Gilda Gray từ đoàn Follies4. Bữa tiệc chính thức khai màn.

Tôi tin rằng trong cái đêm đầu tiên đặt chân đến nhà Gatsby, tôi là một trong số ít những vị khách thực sự được mời. Ở đây, người ta không cần thiệp mời-họ tự mò đến. Lên những chiếc xe hơi hướng về Long Island, và chẳng hiểu bằng cách nào, hành trình của họ lại kết thúc ngay trước cửa nhà Gatsby. Đến nơi, họ được một người quen của Gatsby giới thiệu, rồi cứ thế hành xử theo đúng những phép tắc thường thấy ở một công viên giải trí. Đôi khi họ đến và đi mà chẳng hề giáp mặt Gatsby, lao vào bữa tiệc với một sự vô tư lự, thứ vốn đã nghiễm nhiên trở thành tấm vé vào cửa.

Nhưng tôi thì thực sự được mời. Một gã tài xế bận đồng phục màu xanh trứng sáo5 đã băng qua bãi cỏ nhà tôi vào sáng thứ Bảy đó, mang theo một lời mời trang trọng đến bất ngờ từ ông chủ: bức thư viết rằng, sẽ là một niềm vinh hạnh lớn lao cho Gatsby nếu tôi đến dự "bữa tiệc nhỏ" của anh đêm nay. Anh bảo đã thấy tôi vài lần, và đã định sang thăm tôi từ lâu, ngặt nỗi một chuỗi hoàn cảnh kỳ lạ đã cản bước anh-bức thư kết thúc bằng chữ ký Jay Gatsby, với nét chữ đầy uy nghi.

Khoác lên mình bộ đồ flannel trắng, tôi bước sang bãi cỏ nhà anh lúc hơn bảy giờ, rụt rè lảng vảng với vẻ khó chịu giữa những vòng xoáy của những người xa lạ-mặc dù lác đác đâu đó vài khuôn mặt tôi từng bắt gặp trên chuyến tàu đi làm. Tôi lập tức bị ấn tượng bởi vô số những thanh niên Anh quốc rảiাস্থ rác khắp nơi; ai nấy đều chải chuốt bóng bẩy, phảng phất vẻ đói khát, và tất thảy đều đang trò chuyện bằng tông giọng trầm ấm, thiết tha với những người Mỹ vững chãi, thịnh vượng. Tôi đồ rằng họ đang rao bán một thứ gì đó: trái phiếu, bảo hiểm hay xe hơi. Ít ra thì họ cũng ý thức một cách khổ sở về những món tiền dễ dãi đang phô bày xung quanh, và đinh ninh rằng số tiền đó sẽ sớm lọt vào tay họ chỉ cần vài lời nói đúng trọng tâm.

Ngay khi đến nơi, tôi đã đảo mắt tìm người chủ nhà, nhưng hai ba người mà tôi hỏi thăm tung tích đều nhìn tôi bằng ánh mắt sửng sốt cực độ, rồi một mực chối đây đẩy mọi sự hiểu biết về hành tung của anh. Sự thờ ơ ấy đẩy tôi lủi thủi về phía bàn cocktail-nơi duy nhất trong vườn mà một gã độc thân có thể nán lại mà không mang dáng vẻ của một kẻ vô dụng, lạc lõng.

Ngay lúc tôi định nốc cho say khướt vì quá đỗi ngượng ngùng, Jordan Baker bước ra khỏi nhà. Cô đứng trên bậc thềm cẩm thạch, hơi ngả người ra sau, phóng tầm mắt xuống khu vườn với sự thích thú pha lẫn vẻ khinh khỉnh thường trực.

Chẳng cần biết có được chào đón hay không, tôi thấy mình buộc phải bám víu vào một ai đó trước khi bắt đầu tuôn ra những lời xã giao vô vị với những người qua đường.

"Chào cô!" tôi cất tiếng gọi, sải bước về phía cô. Giọng tôi nghe chừng vang vọng một cách bất thường khắp khu vườn.

"Tôi đoán anh sẽ ở đây," cô buông lời lơ đãng khi tôi đến gần. "Tôi nhớ anh sống ở căn nhà bên cạnh-"

Cô nắm tay tôi một cách đầy khách sáo, như thể ngầm hứa sẽ để mắt tới tôi trong chốc lát, rồi dỏng tai dóng nghe hai cô gái diện váy vàng giống hệt nhau, những người vừa dừng bước dưới chân bậc thềm.

"Chào cô!" họ đồng thanh réo lên. "Tiếc là cô đã không thắng."

Họ đang nói về giải đấu golf. Tuần trước, cô ấy đã để thua trong trận chung kết.

"Anh không biết chúng tôi là ai đâu," một trong hai cô gái váy vàng lên tiếng, "nhưng chúng tôi đã gặp anh ở đây khoảng chừng một tháng trước."

"Cô đã nhuộm tóc từ hồi đó," Jordan nhận xét, làm tôi giật mình. Nhưng các cô gái đã thản nhiên rảo bước đi, và lời bình phẩm của cô rốt cuộc chỉ hướng về phía mặt trăng vừa ló rạng, cái mặt trăng không nghi ngờ gì nữa, được tạo ra từ giỏ của một gã phục vụ tiệc, y hệt như bữa ăn nhẹ vậy. Khoác tay tôi bằng cánh tay thon thả, rám nắng, Jordan cùng tôi bước xuống bậc thềm, tản bộ quanh vườn. Một khay cocktail trôi dạt về phía chúng tôi trong ánh chạng vạng, và chúng tôi yên vị tại một bàn cùng hai cô gái váy vàng và ba người đàn ông, những người mà ai nấy đều được giới thiệu với chúng tôi dưới cái tên ông Mumble.

"Cô có hay lui tới những bữa tiệc này không?" Jordan quay sang hỏi cô gái bên cạnh.

"Lần trước chính là lúc tôi gặp cô đấy," cô gái đáp lại bằng chất giọng lanh lảnh, tự tin. Cô quay sang người bạn: "Đúng không, Lucille?"

Lucille gật đầu xác nhận.

"Tôi thích đến đây," Lucille mỉm cười. "Tôi chẳng bao giờ bận tâm mình làm gì, nên lúc nào cũng thấy vui. Lần trước tới đây, tôi lỡ làm rách váy vào một cái ghế, thế là anh ấy hỏi han tên tuổi, địa chỉ của tôi-chưa đầy một tuần sau, tôi nhận được một bưu kiện từ Croirier's, bên trong là một chiếc váy dạ hội mới tinh tươm."

"Cô có giữ nó không?" Jordan hỏi.

"Tất nhiên là có. Đáng lẽ tối nay tôi đã mặc nó, nhưng ngực hơi rộng nên phải đem đi sửa. Một chiếc váy màu xanh nhạt đính cườm màu hoa oải hương tuyệt đẹp. Những hai trăm sáu mươi lăm đô la đấy."

"Có điều gì đó là lạ về một người sẵn sàng vung tiền cho những chuyện như thế," cô gái kia háo hức chen vào. "Anh ta không muốn chuốc lấy rắc rối với bất cứ ai."

"Ai cơ?" tôi tò mò.

"Gatsby chứ ai. Có người đã kể với tôi-"

Hai cô gái và Jordan chụm đầu vào nhau với vẻ đầy bí ẩn.

"Có người đã kể với tôi rằng họ tin anh ta từng giết người."

Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng tất cả chúng tôi. Ba ông Mumble cũng nhoài người tới trước, vểnh tai nghe ngóng.

"Tôi thì không nghĩ đến mức đó đâu," Lucille nghi ngờ lên tiếng; "Giống như việc anh ta từng làm điệp viên Đức trong thời chiến6 thì nghe còn có lý hơn."

Một trong những gã đàn ông gật gù tán thành.

"Tôi nghe một gã rành rẽ về anh ta nói thế, gã đó lớn lên cùng anh ta ở Đức mà," anh ta quả quyết đoan chắc với chúng tôi.

"Ồ, không phải đâu," cô gái đầu tiên bác bỏ, "không thể nào, bởi anh ta ở trong quân đội Mỹ suốt thời chiến cơ mà." Nhận thấy sự nhẹ dạ của chúng tôi lại chuyển hướng về phía mình, cô ấy nhiệt tình nhoài người tới. "Đôi khi cô thử quan sát anh ta lúc anh ta nghĩ không có ai nhìn mình mà xem. Tôi dám cá là anh ta từng giết người."

Cô nheo mắt, khẽ rùng mình. Lucille cũng rùng mình theo. Chúng tôi đồng loạt quay lại, đưa mắt dò xét tìm Gatsby. Đó chính là minh chứng rõ ràng nhất cho cái quầng sáng lãng mạn mà anh khơi gợi, rằng đã có những lời xì xầm bàn tán về anh từ chính những kẻ vốn hiếm khi thấy thứ gì trên đời này đáng để bận tâm.

Bữa ăn nhẹ đầu tiên-sẽ còn một bữa nữa khi nửa đêm điểm-đang được dọn ra, và Jordan ngỏ ý mời tôi nhập hội với nhóm của cô, những người đang rải rác quanh một chiếc bàn tít bên kia khu vườn. Nhóm có ba cặp vợ chồng và người tháp tùng Jordan, một cậu sinh viên đại học dai như đỉa với những lời bóng gió thô thiển, kẻ dường như vẫn ôm ấp ảo tưởng rằng sớm muộn gì Jordan cũng sẽ dâng hiến bản thân cho cậu ta ở một mức độ nào đó. Thay vì đi lại lộn xộn, nhóm này cố tình duy trì một sự tách biệt trang nghiêm, tự khoác lên mình sứ mệnh đại diện cho tầng lớp quý tộc cổ hủ của vùng quê-East Egg hạ mình chiếu cố West Egg7, và cẩn trọng đề phòng sự vui tươi rực rỡ chốn này.

"Đi thôi," Jordan thì thầm, sau nửa giờ đồng hồ trôi qua đầy hoang phí và lạc điệu; "chỗ này quá sức lịch sự với tôi."

Chúng tôi đứng dậy. Jordan bảo rằng chúng tôi sẽ đi tìm người chủ tiệc: cô ấy bảo tôi chưa từng gặp mặt anh ta, và điều đó khiến tôi cảm thấy áy náy. Cậu sinh viên đại học u sầu gật đầu, vẻ mặt cay đắng đầy hoài nghi.

Nơi đầu tiên chúng tôi đảo mắt tìm kiếm là quầy bar chật ních người, nhưng Gatsby chẳng có ở đó. Đứng trên bậc thềm nhìn xuống, cô cũng chẳng thấy tăm hơi anh đâu, và ngoài hiên nhà lại càng vắng bóng. Trông chờ vào vận may, chúng tôi thử đẩy một cánh cửa trông có vẻ quan trọng và bước vào một gian thư viện mang phong cách Gothic8 với trần nhà cao vút, ốp những ván gỗ sồi Anh chạm trổ tinh xảo, mà dường như đã được người ta bứng nguyên vẹn từ một tàn tích nào đó bên kia đại dương mang về.

Một người đàn ông to béo, trạc tuổi trung niên, đeo cặp kính gọng to như mắt cú, đang chệnh choạng ngồi trên mép một chiếc bàn lớn. Men say làm ông ta ngả nghiêng, nhưng ánh mắt vẫn dán chặt vào những giá sách. Ngay khi chúng tôi bước vào, ông ta háo hức quay ngoắt lại, nhìn Jordan chằm chằm từ đầu đến chân.

"Cô nghĩ sao?" ông ta xốc nổi vặn hỏi.

"Về chuyện gì cơ?"

Ông ta vẫy tay về phía những giá sách.

"Về thứ đó. Thật ra thì cô khỏi cần cất công xác minh làm gì. Tôi đã kiểm tra rồi. Chúng là hàng thật đấy."

"Những cuốn sách kia ư?"

Ông ta gật gù.

"Hoàn toàn là đồ thật-có cả những trang giấy và đủ mọi thứ. Tôi cứ ngỡ chúng chỉ là những miếng bìa cứng đóng gáy xinh xắn. Sự thật thì, chúng hoàn toàn là đồ thật. Cả những trang giấy và-Đây! Để tôi chỉ cho cô xem."

Chắc mẩm rằng sự hoài nghi của chúng tôi là điều hiển nhiên, ông ta lao đến tủ sách và quay lại với Tập Một của bộ Stoddard Lectures9.

"Thấy chưa!" ông ta đắc thắng kêu lên. "Đây là một ấn phẩm chân chính. Nó đã đánh lừa được tôi. Gã chủ nhà này đúng là một Belasco thứ thiệt10. Quả là một kiệt tác. Thật công phu! Thật sống động! Hắn còn biết dừng lại đúng lúc nữa chứ-chưa thọc tay vào rọc các trang sách ra. Nhưng các người đòi hỏi gì cơ chứ? Các người còn kỳ vọng điều gì nữa?"

Ông ta giật phắt cuốn sách khỏi tay tôi rồi vội vàng nhét lại lên kệ, miệng lầm bầm rằng nếu lỡ rút một viên gạch ra thì toàn bộ thư viện này có nguy cơ đổ sập mất.

"Ai dẫn các người tới đây?" ông ta gặng hỏi. "Hay là các người tự vác mặt đến? Tôi thì được người ta dẫn tới. Hầu hết mọi người ở đây đều được người ta dắt đến cả."

Jordan lanh lợi nhìn ông ta vẻ thích thú mà chẳng buồn đáp lời.

"Tôi được một người phụ nữ tên Roosevelt dẫn tới," ông ta lại thao thao bất tuyệt. "Bà Claud Roosevelt ấy. Cô biết bà ấy chứ? Tôi tình cờ gặp bà ấy ở đâu đó vào tối qua. Tôi đã say khướt ngót nghét cả tuần nay rồi, nên tôi tính vào thư viện ngồi một lát cho tỉnh rượu."

"Thế có ích gì không?"

"Chút đỉnh, tôi đoán vậy. Tôi cũng chẳng dám chắc nữa. Tôi mới chui rúc ở đây độ một tiếng đồng hồ. Tôi đã kể cho các người nghe về mấy cuốn sách chưa nhỉ? Chúng là đồ thật đấy. Chúng-"

"Ông đã kể cho chúng tôi rồi."

Chúng tôi trịnh trọng bắt tay ông ta rồi quay gót bước ra ngoài trời.

Lúc này, trên tấm bạt trải ngoài vườn đã ngập tràn những bước khiêu vũ. Vài ông lão lóng ngóng đẩy những cô đào trẻ đi lùi trong những vòng xoay vô tận chẳng mảy may duyên dáng. Những cặp đôi kiêu kỳ thì ôm ghì lấy nhau, uốn éo theo những điệu nhảy sành điệu, khó nhọc và cố thu mình ở tít trong góc. Cùng với đó là vô số những cô nàng độc thân tự do nhảy múa, hoặc đôi lúc hăng hái nhảy vào thay thế ban nhạc gõ trống hay gảy banjo vài nhịp. Khi màn đêm trôi dần về khuya, sự cuồng nhiệt càng thêm sục sôi. Một giọng nam cao danh tiếng cất lên những giai điệu tiếng Ý, một giọng nữ trầm khét tiếng lả lướt với nhạc jazz, và xen giữa các màn trình diễn, người ta thi nhau trổ những trò "tài lẻ" khắp khu vườn, hòa cùng những tràng cười sảng khoái nhưng rỗng tuếch vút thẳng lên bầu trời đêm mùa hè. Hai chị em sinh đôi làm diễn viên sân khấu, hóa ra chính là hai cô nàng mặc váy vàng lúc trước, đã khoác lên mình bộ đồ hóa trang và diễn một vở hài nhi đồng, trong khi sâm panh được rót tràn trề vào những chiếc ly còn to hơn cả bát rửa tay. Vầng trăng đã lên cao vằng vặc, in xuống mặt nước eo biển Sound một ảo ảnh hình tam giác lấp lánh những vảy bạc, khẽ rung động nhịp nhàng theo tiếng gảy banjo đều đều, chói tai vọng ra từ bãi cỏ.

Tôi vẫn nán lại bên Jordan Baker. Lúc này, chúng tôi đang ngồi cùng bàn với một người đàn ông trạc tuổi tôi và một cô nàng nhỏ nhắn luôn miệng ồn ào, chỉ chực chờ một cớ nhỏ là có thể bật cười nắc nẻ. Bây giờ, tôi đang cảm thấy vô cùng khoan khoái. Hai ly sâm panh lớn cỡ cái bát rửa tay đã cạn đáy, và khung cảnh trước mắt tôi như bừng nở thành một thứ gì đó ngập tràn ý nghĩa, vừa nguyên sơ lại vừa sâu thẳm.

Giữa lúc không khí giải trí tạm lắng xuống, người đàn ông kia nhìn tôi, nở một nụ cười.

"Trông anh quen quen," anh lên tiếng bằng giọng lịch thiệp. "Có phải anh từng phục vụ ở Sư đoàn Số một hồi chiến tranh không?"

"Đúng vậy. Tôi ở Trung đoàn Bộ binh 28."

"Còn tôi ở Trung đoàn 16 cho đến tháng Sáu năm mười chín mười tám. Thảo nào tôi cứ đinh ninh là mình từng gặp anh ở đâu đó rồi."

Thế rồi chúng tôi dông dài kể về vài ngôi làng nhỏ nhấp nháp, xám xịt bên Pháp. Rõ ràng anh ta sống loanh quanh đâu đây, bởi anh kể vừa tậu một chiếc thủy phi cơ và định đem đi chạy thử vào sáng ngày mai.

"Muốn bay cùng tôi không, anh bạn? Ngay sát bờ dọc theo eo biển Sound thôi."

"Mấy giờ?"

"Giờ nào tiện cho anh nhất."

Một câu hỏi về tên anh ta vừa trào lên chót lưỡi tôi thì Jordan quay sang, mỉm cười.

"Bây giờ đã thấy vui chưa?" cô hỏi.

"Tốt hơn nhiều rồi." Tôi lại hướng ánh nhìn về phía người bạn mới quen. "Bữa tiệc này lạ lẫm với tôi quá. Tôi thậm chí còn chưa diện kiến chủ nhà. Tôi sống ở ngay đằng kia-" Tôi khẽ vẫy tay về phía hàng rào vô hình lẩn khuất ở đằng xa, "và người đàn ông tên Gatsby này đã phái tài xế của anh ta sang tận nơi đưa giấy mời."

Trong khoảnh khắc, anh ta nhìn tôi như thể chẳng hiểu chuyện gì.

"Tôi là Gatsby," anh buông một câu đột ngột.

"Cái gì cơ!" tôi thảng thốt. "Ồ, tôi vô cùng xin lỗi."

"Tôi cứ ngỡ anh phải biết rồi chứ, anh bạn. E rằng tôi chưa làm tròn bổn phận của một người chủ nhà rồi."

Anh mỉm cười bằng một vẻ thấu hiểu-mà có lẽ, còn sâu sắc hơn cả thấu hiểu. Đó là một trong những nụ cười hiếm hoi mang theo sự trấn an vĩnh cửu, thứ mà một người may mắn lắm cũng chỉ bắt gặp bốn, năm lần trong đời. Nó đối mặt-hay chí ít là có vẻ như đang đối mặt-với toàn bộ thế giới vĩnh hằng trong một thoáng chốc, và rồi hội tụ lại nơi bạn cùng một sự thiên vị không sao cưỡng nổi chỉ dành riêng cho bạn. Nó thấu hiểu bạn sâu sát đến đúng mức bạn khát khao được người khác thấu hiểu, đặt niềm tin vào bạn đúng như cách bạn muốn tin vào chính mình, và cam đoan với bạn rằng, nó đang lưu giữ một ấn tượng chuẩn xác về bạn đúng như những gì bạn muốn phô bày vào lúc bản thân tỏa sáng nhất. Thế nhưng, ngay lúc đó, nụ cười ấy chợt tắt-và hiện diện trước mắt tôi giờ đây là một gã thô lỗ, trẻ trung và bảnh bao trạc độ ngoài ba mươi, đi kèm một lối ăn nói kiểu cách đến mức gần như nực cười. Một thoáng trước khi anh ta tự xưng danh, tôi đã mơ hồ nhận ra người này đang cẩn trọng lựa lời đến mức nào.

Gần như ngay khi ngài Gatsby vừa xưng danh, một tay quản gia đã hối hả bước đến báo tin đầu dây bên Chicago đang chờ anh. Anh cúi chào nhẹ nhàng với từng người chúng tôi để xin cáo lỗi.

"Nếu anh cần bất cứ điều gì thì cứ yêu cầu nhé, anh bạn," anh tha thiết dặn dò tôi. "Xin lỗi nhé. Tôi sẽ quay lại sau."

Bóng anh vừa khuất, tôi lập tức quay sang Jordan-bởi không thể kìm nén nổi sự kinh ngạc đang trào dâng. Tôi đã đinh ninh ngài Gatsby phải là một gã đàn ông trung niên, béo tốt và phương phi kìa.

"Anh ta rốt cuộc là ai thế?" tôi hỏi dồn dập. "Cô có biết gì không?"

"Anh ta chỉ đơn thuần là một gã tên Gatsby thôi."

"Ý tôi là xuất thân của anh ta từ đâu? Và anh ta làm nghề gì?"

"Chà, giờ thì anh cũng bắt đầu bị cuốn vào chủ đề này rồi đấy," cô đáp lời, môi điểm một nụ cười nhạt. "Anh ta từng kể với tôi anh ta là người của trường Oxford11."

Một lai lịch lờ mờ vừa chớm thành hình đằng sau chân dung anh ta, thì lời nhận xét tiếp theo của cô đã lập tức đánh tan tất cả.

"Tuy nhiên, tôi chẳng tin đâu."

"Sao lại không tin?"

"Tôi không biết," cô khăng khăng, "tôi chỉ không cho rằng anh ta từng theo học ở chốn ấy."

Có điều gì đó trong giọng điệu của cô khiến tôi nhớ lại cái câu "Tôi nghĩ anh ta từng giết người" của cô gái kia, và nó lập tức khơi dậy trí tò mò trong tôi. Tôi hẳn sẽ chấp nhận một cách vô điều kiện nếu nghe phong thanh Gatsby xuất thân từ những bãi lầy ở Louisiana hay từ khu lao động Lower East Side dưới New York. Điều đó thì quá đỗi dễ hiểu. Nhưng những gã trai trẻ-hoặc chí ít, với cái tầm nhìn tỉnh lẻ nông cạn của mình, tôi tin là như vậy-hiếm khi nào lại cứ thế điềm nhiên trôi dạt từ một cõi hư vô nào đó đến đây rồi vung tiền sắm một tòa cung điện ngay bên bờ eo biển Long Island Sound.

"Nhưng dẫu sao thì, anh ta cũng rất chịu khó tổ chức những bữa tiệc lớn," Jordan lên tiếng, chuyển hướng câu chuyện bằng một vẻ chán ghét đặc trưng của dân thành thị đối với những tiểu tiết rườm rà. "Và tôi thì lại chuộng những bữa tiệc lớn. Chúng vô cùng thân mật. Còn ở những bữa tiệc nhỏ, thật chẳng bói đâu ra chút không gian riêng tư nào."

Một nhịp trống trầm bất chợt bùng nổ, kéo theo giọng nói của tay nhạc trưởng vang lên, lớn át cả mớ thanh âm hỗn tạp đang cuộn chảy giữa khu vườn.

"Thưa quý bà và quý ông," ông ta hắng giọng hét lớn. "Thể theo lời yêu cầu từ ngài Gatsby, chúng tôi sẽ trình diễn phục vụ quý vị nhạc phẩm mới nhất của ngài Vladmir Tostoff, một tác phẩm đã thu hút vô số sự chú ý tại Carnegie Hall12 hồi tháng Năm vừa qua. Nếu có theo dõi tin tức trên báo, hẳn quý vị cũng biết nó đã tạo ra một sự giật gân lớn đến nhường nào." Ông ta mỉm cười, vẻ trịch thượng mà đầy hoan hỉ, rồi bồi thêm: "Quả là một sự giật gân chấn động!" Đám đông nghe vậy liền bật cười ồ lên.

"Bản nhạc này được biết đến," ông ta hăng hái chốt lời, "dưới cái tên ‘Lịch Sử Nhạc Jazz Của Thế Giới’ của Vladmir Tostoff!"

Bản chất trong sáng tác của ngài Tostoff cứ thế trôi tuột khỏi tâm trí tôi, bởi ngay từ nốt nhạc đầu tiên cất lên, ánh mắt tôi đã bị ghim chặt vào Gatsby. Anh đang đứng lẻ loi trên bậc thềm cẩm thạch, phóng tầm mắt đầy vẻ tán thưởng lướt qua hết nhóm này đến nhóm khác. Làn da rám nắng rạng rỡ căng tràn trên khuôn mặt anh, và mái tóc cắt ngắn kia trông như thể ngày nào cũng được đưa ra tỉa tót kỹ lưỡng. Tôi tịnh không nhìn ra chút gì mờ ám nơi con người này. Tôi tự hỏi, liệu việc anh cự tuyệt men rượu có vô tình tạo ra một lằn ranh ngăn cách anh với đám thực khách hay không, bởi dường như tình huynh đệ chung quanh càng dâng cao men say hân hoan, thì anh lại càng trở nên chỉn chu hơn hẳn. Khi bản "Lịch Sử Nhạc Jazz Của Thế Giới" khép lại, các cô đào bắt đầu ngoan ngoãn, vui vẻ ngả đầu lên vai những gã đàn ông; họ ngả ngớn ngã ngửa vào những vòng tay sẵn sàng dang rộng, thậm chí ngã nhào vào cả các đám đông vì đinh ninh kiểu gì cũng có người đỡ lấy-nhưng tuyệt nhiên chẳng một ai ngã ngửa vào người Gatsby, không một mái tóc cắt ngắn kiểu Pháp nào cọ qua vai anh, và cũng chẳng có nhóm ca bốn người nào được lập ra mà lấy đầu anh làm điểm tựa.

"Xin thứ lỗi."

Gã quản gia của Gatsby đột ngột xuất hiện ngay sát cạnh chúng tôi.

"Cô Baker?" anh ta cất lời. "Xin thứ lỗi, nhưng ngài Gatsby muốn được trò chuyện riêng với cô."

"Với tôi ư?" cô thốt lên đầy kinh ngạc.

"Vâng, thưa cô."

Cô chậm rãi đứng dậy, nhướng mày ném cho tôi một ánh nhìn ngạc nhiên, rồi cất bước theo gã quản gia hướng về phía ngôi nhà. Tôi chợt để ý thấy chiếc váy dạ hội cô đang mặc-cũng hệt như bao bộ váy khác của cô-trông chẳng khác nào trang phục thể thao. Từng chuyển động của cô đều toát lên một vẻ hoạt bát, như thể cô đã lỡ học những bước đi đầu tiên của đời mình ngay trên sân golf, giữa những buổi sớm mai trong trẻo và buốt lạnh.

Lúc tôi bị bỏ lại một mình, đồng hồ đã điểm gần hai giờ sáng. Từ lâu, mớ âm thanh hỗn độn mà cuốn hút đã vẳng lại từ căn phòng dài nhiều cửa sổ nhô ra phía sân hiên. Lách mình qua cậu sinh viên đại học của Jordan - người đang say sưa bàn chuyện sản khoa với hai cô nàng ca sĩ hợp xướng và cứ nài nỉ tôi nhập hội - tôi cất bước vào trong.

Căn phòng lớn chật ních người. Một trong hai cô nàng diện váy vàng đang lướt tay trên phím dương cầm, còn đứng cạnh là quý cô trẻ cao lớn, tóc đỏ rực đến từ dàn hợp xướng danh tiếng, đang say sưa nhả chữ. Cô ả đã nốc cơ man nào là sâm panh, để rồi đang hát, cô bỗng đi đến một kết luận lố bịch rằng mọi thứ trên đời này đều bi đát quá đỗi. Thế là cô chẳng những hát, mà còn khóc nức nở. Hễ giữa bài hát có quãng lặng, cô lại lấp vào bằng những tiếng nấc nghẹn ngào, đứt quãng, trước khi cất lên chất giọng nữ cao run rẩy bần bật. Những giọt lệ thi nhau lăn dài trên đôi gò má - dẫu cho hành trình ấy chẳng suôn sẻ mấy, bởi khi chạm vào hàng mi đính cườm của cô, chúng liền nhuốm một màu đen kịt, rồi rề rà chảy xuống thành những dòng suối nhỏ nhem nhuốc. Ai đó đùa cợt buông lời khuyên cô nên hát luôn cả những giọt nước mắt trên mặt mình đi; nghe vậy, cô ả liền vung tay lên trời, gục xuống ghế và chìm vào giấc mộng mị sặc sụa hơi men.

"Cô ả vừa cãi lộn với một gã tự xưng là chồng mình," một cô gái đứng cạnh tôi giải thích.

Tôi đưa mắt nhìn quanh. Hầu hết những quý bà còn lại giờ đây cũng đang cấu xé mấy gã đàn ông mang danh chồng họ. Ngay cả nhóm của Jordan, bộ tứ danh giá đến từ East Egg, cũng bị xé toạc bởi những màn cự cãi. Một trong những người đàn ông đang trò chuyện với thái độ mãnh liệt đến kỳ quặc cùng một nữ diễn viên trẻ, còn cô vợ, sau hồi lâu gồng mình cười nhạo tình cảnh ấy bằng vẻ trang nghiêm và dửng dưng, rốt cuộc cũng suy sụp hoàn toàn. Cô ta bắt đầu tung ra những đòn tấn công bất ngờ - chốc chốc lại thình lình xuất hiện cạnh chồng tựa một viên kim cương ngùn ngụt lửa giận, rít lên chói tai: "Anh đã hứa rồi mà!"

Sự dùng dằng không muốn tàn cuộc chẳng phải là đặc quyền riêng của những gã đàn ông ương ngạnh. Sảnh đường lúc này đang bị chiếm cứ bởi hai quý ông vô cùng tỉnh táo, bên cạnh những bà vợ đang sục sôi phẫn nộ. Các phu nhân đang ra sức đồng cảm với nhau bằng chất giọng the thé.

"Cứ hễ thấy tôi đang vui vẻ là anh ta lại nằng nặc đòi về."

"Chưa bao giờ thấy ai ích kỷ như vậy trên đời."

"Chúng tôi lúc nào cũng phải về sớm nhất."

"Chúng tôi cũng thế chứ kém gì."

"Chà, đêm nay chúng ta gần như là những người bám trụ đến phút cuối rồi đấy," một người đàn ông rụt rè lên tiếng. "Dàn nhạc đã cuốn gói về từ nửa tiếng trước rồi còn gì."

Bất chấp sự đồng thuận cao độ của các bà vợ rằng sự tàn nhẫn của đàn ông đã vượt ngưỡng tưởng tượng, cuộc cãi vã vẫn khép lại bằng một màn giằng co chóng vánh. Cả hai phu nhân bị nhấc bổng lên, dẫu chân vẫn đang vùng vằng loạn xạ, rồi bị tống thẳng vào màn đêm.

Lúc tôi đứng đợi lấy mũ ở sảnh, cửa thư viện bật mở, Jordan Baker cùng Gatsby bước ra. Anh đang dở dang vài lời cuối với cô, nhưng vẻ hăm hở trên nét mặt bỗng chốc đông cứng lại thành nét trang trọng khi vài vị khách tiến đến nói lời cáo từ.

Nhóm của Jordan đã bắt đầu sốt ruột réo gọi cô từ ngoài hiên, nhưng cô vẫn nán lại chút đỉnh để bắt tay chào tôi.

"Tôi vừa nghe được một chuyện cực kỳ kinh ngạc," cô thì thầm. "Chúng tôi ở trong đó bao lâu rồi?"

"À, độ một tiếng."

"Thật... hết sức kinh ngạc," cô lơ đãng nhắc lại. "Nhưng tôi đã thề sẽ giữ kín miệng, thế mà giờ tôi lại đứng đây trêu ngươi anh." Cô duyên dáng buông một cái ngáp dài ngay trước mặt tôi. "Làm ơn đến thăm tôi nhé... Tìm trong danh bạ điện thoại... Dưới tên bà Sigourney Howard... Dì của tôi đấy..." Cô vừa dứt lời đã vội vã rời đi - bàn tay rám nắng khẽ vẫy một lời chào điệu đà trước khi cô hòa vào nhóm bạn mình nơi ngưỡng cửa.

Phần vì khá xấu hổ khi vừa ló mặt lần đầu đã chôn chân ở đây tới tận khuya lơ khuya lắc, tôi đành hòa vào nhóm những vị khách cuối cùng đang vây quanh Gatsby. Tôi muốn thanh minh rằng mình đã cất công tìm anh từ đầu buổi tối, đồng thời xin lỗi vì sự vô ý chẳng nhận ra anh lúc ở ngoài vườn.

"Đừng bận tâm chuyện đó," anh sốt sắng gạt đi. "Đừng bận tâm nữa, anh bạn." Cụm từ quen thuộc cất lên, chẳng mảy may mang lại chút thân tình nào hơn cái vỗ vai trấn an nhẹ nhàng của anh. "Và đừng quên chúng ta có hẹn bay thủy phi cơ lúc chín giờ sáng mai đấy nhé."

Rồi người quản gia, nãy giờ vẫn đứng lặng sau lưng anh, cất tiếng:

"Philadelphia muốn gặp ngài qua điện thoại, thưa ngài."

"Được rồi, đợi một lát. Bảo họ tôi đến ngay... Chúc ngủ ngon."

"Chúc ngủ ngon."

"Chúc ngủ ngon." Anh mỉm cười - và đột nhiên, tôi cảm nhận được một niềm hân hoan kỳ lạ len lỏi trong việc mình là một trong những kẻ cuối cùng rời đi, tựa hồ đó là điều anh vẫn luôn mong mỏi. "Chúc ngủ ngon, anh bạn... Chúc ngủ ngon."

Nhưng khi vừa lê bước xuống những bậc thềm, tôi chợt nhận ra màn đêm nay vẫn chưa chịu buông màn. Cách cánh cửa năm mươi feet, hàng tá ngọn đèn pha rực rỡ đang soi rọi một cảnh tượng hỗn độn và quái gở. Nằm chỏng chơ dưới rãnh nước ven đường là một chiếc xe mui kín mới cáu cạnh, vừa rời khỏi lối đi nhà Gatsby chưa đầy hai phút trước, giờ đây bị vặt mất một bên bánh một cách tàn bạo. Chính mép tường nhô ra sắc lẹm là thủ phạm cắn đứt lìa chiếc bánh xe, thứ giờ đang trở thành tâm điểm chú ý của chừng nửa tá tài xế tò mò. Khốn nỗi, vì họ tiện tay vứt xe chặn ngang giữa đường, một dàn hợp xướng còi xe inh ỏi, chói tai từ những kẻ kẹt lại phía sau đã gào rú suốt một hồi lâu, đổ thêm dầu vào mớ bòng bong vốn đã rối tinh rối mù của cảnh tượng.

Một gã đàn ông vận áo khoác dài vừa lê thân khỏi đống đổ nát, giờ đây đang đứng chôn chân giữa đường. Ông ta đưa mắt nhìn từ chiếc xe sang cái lốp văng, rồi từ cái lốp lại nhìn sang đám đông đứng xem với vẻ bối rối mà hiền lành lạ lùng.

"Thấy chưa!" ông ta thanh minh. "Nó lao tọt xuống rãnh nước rồi."

Sự việc này dường như khiến ông ta ngỡ ngàng tột độ, và tôi nhận ra vẻ ngạc nhiên bất thường ấy trước cả khi nhận ra danh tính của người đàn ông - chẳng ai khác ngoài vị khách quen trong thư viện của Gatsby lúc nãy.

"Sao lại xảy ra cớ sự này?"

Ông ta dửng dưng nhún vai.

"Tôi mù tịt về mấy thứ cơ khí này," ông ta quả quyết phân trần.

"Nhưng sao lại thế? Ông đâm vào tường à?"

"Đừng hỏi tôi," Người đàn ông mắt cú nói, giũ sạch mọi trách nhiệm liên quan đến cớ sự này. "Tôi biết cực kỳ ít về việc lái xe - nói đúng hơn là mù tịt. Chuyện xảy ra thế nào thì nó là thế ấy, đó là tất cả những gì tôi biết thưa các anh."

"Chà, nếu tay lái yếu thì ông không nên cố cầm tài vào ban đêm chứ."

"Nhưng tôi có thèm cố đâu," ông ta ấm ức giải thích, "Tôi thậm chí còn chẳng cố."

Một sự im lặng đầy vẻ kính sợ bao trùm lấy đám đông đứng xem.

"Ông muốn tự tử đấy à?"

"Ông còn phước chán vì rụng mỗi cái bánh xe đấy! Lái dở tệ mà lại còn không thèm cố nữa chứ!"

"Các anh không hiểu rồi," kẻ tội đồ phân bua. "Tôi không phải người lái. Có một gã khác ở trong xe."

Cú sốc từ lời tuyên bố ấy bung vỡ thành một tiếng "Á à à!" kéo dài thườn thượt khi cánh cửa chiếc xe mui kín từ từ hé mở. Đám đông - giờ đây đã tụ tập đông nghẹt - bất giác lùi lại, và khoảnh khắc cánh cửa mở toang, một sự tĩnh lặng đầy ma mị buông xuống. Sau đó, thật chậm chạp, từng phần từng phần một, một gã nhợt nhạt, oặt ẹo trườn ra khỏi đống đổ nát, dùng chiếc giày khiêu vũ quá khổ chông chênh quờ quạng chạm đất.

Lóa mắt trước ánh đèn pha chói lòa và mụ mị bởi tiếng còi xe rên rỉ liên hồi, bóng ma ấy đứng lảo đảo một chốc trước khi nhận ra người đàn ông vận áo khoác dài.

"Có chuyện gì thế?" anh ta cất giọng bình thản. "Chúng ta hết xăng à?"

"Nhìn kìa!"

Nửa tá ngón tay đồng loạt chĩa về phía chiếc bánh xe bị phạt đứt. Anh ta chằm chằm ngó nó một hồi lâu, rồi lại ngước nhìn lên bầu trời như thể hồ nghi rằng vật nọ vừa rơi từ trên đó xuống.

"Nó rụng ra rồi," ai đó giải thích.

Anh ta gật gù.

"Lúc đầu tôi còn chẳng nhận ra là chúng ta đã dừng lại cơ đấy."

Một khoảng lặng kéo dài. Kế đó, hít một hơi thật sâu và rướn thẳng vai lên, anh ta đưa ra yêu cầu bằng chất giọng đầy kiên quyết:

"Các anh làm ơn chỉ cho tôi trạm xăng ở đâu được không?"

Tức thì, chí ít cũng chục gã đàn ông, mà vài người trong số đó còn tỉnh táo hơn anh ta đôi chút, thi nhau giảng giải cho anh ta hiểu rằng cái bánh xe và cái xe hơi giờ đã đoạn tuyệt, chẳng còn chút liên kết vật lý nào nữa.

"Lùi lại đi," anh ta hiến kế sau một lúc đắn đo. "Cài số lùi xem nào."

"Nhưng cái bánh xe nó rụng ra rồi cơ mà!"

Anh ta ngập ngừng.

"Cứ thử xem sao, có mất mát gì đâu," anh ta nói.

Những tiếng còi xe the thé đã gào thét lên đến đỉnh điểm, tôi quay bước đi, băng qua bãi cỏ thẳng tiến về nhà. Tôi ngoái đầu nhìn lại lần cuối. Một vầng trăng mỏng manh thanh tao đang dát bạc lên tòa dinh thự của Gatsby, ướp màn đêm trong vẻ đẹp nguyên sơ như thủa ban đầu, gác lại sau lưng những tiếng cười cợt và thanh âm vọng ra từ khu vườn rực rỡ ánh đèn. Chợt có một sự trống trải miên man dường như tuôn trào từ các ô cửa sổ cùng những cánh cửa lớn, phác họa nên một sự cô độc đến kiệt cùng bủa vây lấy hình bóng người chủ nhà. Anh đứng đó trên mái hiên, cánh tay giơ cao trong một cử chỉ cáo từ đầy trang trọng.

Đọc lại những dòng đã viết từ đầu đến giờ, tôi e rằng mình đã vô tình tạo ra ấn tượng: hệt như những sự kiện trong ba đêm cách nhau vài tuần ấy là tất thảy những gì chiếm trọn tâm trí tôi. Kỳ thực, đó chỉ là vài biến cố tình cờ chèn ngang giữa một mùa hè hối hả. Phải đến tận mãi sau này, chúng mới khiến tôi bận lòng đôi chút, còn khi ấy, những chuyện cá nhân vẫn vắt kiệt sự chú tâm của tôi.

Hầu hết thời gian tôi đều cắm đầu vào công việc. Buổi sớm mai, vạt nắng xiên đổ dài cái bóng tôi về phía tây, trong lúc tôi tất tả rảo bước qua những khe vực trắng lóa của khu hạ Manhattan để tới công ty Probity Trust. Tôi thuộc nằm lòng tên thật của đám thư ký cùng những tay môi giới trái phiếu trẻ tuổi. Chúng tôi vẫn hay tụ tập ăn trưa ở những nhà hàng tối tăm, ngột ngạt, nhấm nháp mấy cái xúc xích heo bé xíu, khoai tây nghiền và cà phê. Tôi thậm chí còn vướng vào một mối tình chớp nhoáng với cô nàng ở Jersey City làm bên phòng kế toán. Nhưng rồi ông anh trai của cô ta bắt đầu ném về phía tôi những ánh nhìn hằn học. Thế nên, nhân dịp cô nàng đi nghỉ mát hồi tháng Bảy, tôi lặng lẽ để mối quan hệ ấy trôi vào dĩ vãng.

Tôi thường dùng bữa tối ở Câu lạc bộ Yale13-chẳng hiểu sao, với tôi, đó lại là khoảng thời gian ảm đạm nhất trong ngày. Xong bữa, tôi lê bước lên thư viện trên lầu, vùi đầu ngâm cứu hàng mớ tài liệu về đầu tư và chứng khoán suốt một giờ đồng hồ với sự tận tụy đáng kinh ngạc. Thi thoảng cũng có vài kẻ ưa quậy phá lảng vảng quanh đó, nhưng bọn họ chẳng đời nào chịu bước chân vào thư viện. Bởi vậy, chốn ấy đích thị là một nơi lý tưởng để làm việc. Về sau, hễ đêm nào trời quang mây tạnh, tôi lại thả bộ dọc đại lộ Madison, tạt qua khách sạn Murray Hill cổ kính, rồi rẽ ngang đường 33 để tiến về ga Pennsylvania.

Tôi bắt đầu phải lòng New York. Tôi si mê cái không khí rộn rã, đậm chất phiêu lưu của chốn này khi đêm về. Tôi tìm thấy niềm mãn nguyện trào dâng khi ngắm nhìn những dòng người và xe cộ không ngớt lại qua, thỏa mãn đôi mắt chưa từng ngơi nghỉ. Tôi thích rảo bước trên đại lộ số Năm, nhặt nhạnh những bóng hồng lãng mạn lẩn khuất giữa đám đông, rồi thả hồn tưởng tượng rằng chỉ ít phút nữa thôi, tôi sẽ đường hoàng bước vào cuộc đời họ, chẳng ai hay biết, cũng chẳng một lời can ngăn. Đôi khi, trong tâm tưởng, tôi còn dõi theo gót ngà của họ bước vào những căn hộ nơi góc phố quạnh hiu. Ở đó, họ sẽ ngoái lại mỉm cười với tôi trước khi bóng dáng nhạt nhòa lẩn khuất sau cánh cửa vùi vào màn đêm ấm áp. Giữa buổi chạng vạng đầy mị lực của chốn phồn hoa, đôi lúc, một nỗi cô đơn sắc lẹm cứ bám riết lấy tâm trí tôi. Tôi cũng bắt gặp nỗi niềm ấy ở những kẻ khác-những cậu thư ký trẻ tuổi tội nghiệp bồn chồn lảng vảng trước những ô cửa kính, thấp thỏm chờ đến giờ dùng bữa tối vò võ một mình giữa nhà hàng. Những gã thư ký trẻ chìm trong bóng hoàng hôn, đang phung phí những khắc khoải xót xa nhất của màn đêm và của cả kiếp người.

Rồi khi đồng hồ điểm tám giờ, giữa lúc những con đường nhập nhoạng tối của khu phố số Bốn Mươi chật ních năm hàng taxi đang rồ máy sốt sắng hướng về khu nhà hát, cõi lòng tôi bỗng chùng xuống. Những bóng hình nép sát vào nhau trong những chiếc xe chờ đợi. Những giọng ca ngân vang. Những tràng cười khúc khích cất lên từ những câu đùa nghe không rõ. Và cả những đốm thuốc lá đỏ rực vẽ nên vô vàn vòng tròn bí ẩn bên trong ô cửa kính. Tôi mường tượng rằng chính mình cũng đang hối hả lao đến chốn tiệc tùng, đang đắm chìm trong niềm hưng phấn thầm kín của bọn họ. Tôi thầm chúc họ mọi điều tốt đẹp.

Bẵng đi một thời gian, tôi mất liên lạc với Jordan Baker, mãi tới giữa mùa hè tôi mới gặp lại cô. Ban đầu, tôi cảm thấy phổng mũi tự hào khi được sánh vai cùng cô, bởi cô là nhà vô địch golf và cái tên ấy ai ai cũng biết. Nhưng rồi, thứ tình cảm ấy dần tiến xa hơn. Tôi chẳng hẳn là đã trót yêu, nhưng quả thực, tôi thấy lòng mình dấy lên một sự tò mò êm ái, vương chút dịu dàng. Cố giấu sau vẻ mặt chán chường, kiêu kỳ mà cô phơi ra trước thiên hạ là một bí mật nào đó-chẳng phải hầu hết những lớp ngụy trang rốt cuộc đều dùng để che đậy một điều gì đó sao, dẫu cho thoạt nhìn không phải vậy-và rồi một ngày nọ, tôi đã tự mình khám phá ra sự thật. Lần ấy, khi chúng tôi cùng tham dự một bữa tiệc tại dinh thự ở Warwick, cô đã để mặc chiếc xe mui trần mượn của người khác phơi mình dưới mưa, rồi sau đó dửng dưng nói dối về sự vụ này. Đột nhiên, mẩu chuyện về cô mà tôi cố mãi vẫn không tài nào nhớ nổi trong cái đêm ở nhà Daisy lại ùa về tâm trí. Lần đó, trong giải đấu golf lớn đầu tiên của sự nghiệp, cô vướng vào một vụ lùm xùm suýt chút nữa thì bị bêu tên trên mặt báo. Người ta bóng gió rằng cô đã lén nhích quả bóng của mình ra khỏi một vị trí nằm bất lợi trong vòng bán kết. Sự vụ suýt bùng lên thành một vụ bê bối chấn động-rồi bỗng dưng chìm vào quên lãng. Một cậu bé nhặt bóng đột ngột rút lại lời khai, và nhân chứng duy nhất còn lại cũng ngập ngừng thừa nhận rằng mình có thể đã nhìn nhầm. Thế là, cái sự cố mờ ám ấy đã dính chặt lấy tên tuổi cô trong tâm trí tôi.

Jordan Baker sở hữu thứ bản năng luôn trốn chạy khỏi những gã đàn ông thông minh, sắc sảo. Giờ thì tôi mới vỡ lẽ: cô luôn cảm thấy an toàn hơn khi đứng ở một chốn mà mọi sự phá cách khỏi những chuẩn mực ứng xử đều bị xem là chuyện hoang đường. Cô đích thị là kẻ dối trá hết phương cứu chữa. Cô chẳng thể cam chịu cảm giác mình bị rơi vào thế yếu. Và với cái tính khí ngang ngạnh ấy, tôi đoán chừng cô đã bắt đầu lôi những mánh khóe này ra xài từ hồi còn rất trẻ. Chẳng thế mà cô mới giữ nổi nụ cười lạnh tanh, xấc xược để ném vào mặt cõi đời, đồng thời thỏa mãn vô vàn những đòi hỏi từ một thân thể dẻo dai và căng tràn sức sống.

Dẫu vậy, với tôi, chuyện đó chẳng mảy may thay đổi điều gì. Một người đàn bà dối trá-đó là thứ bạn chẳng bao giờ bận tâm trách móc quá nặng nề. Tôi chỉ thoáng thấy tiếc nuối một cách bâng quơ, rồi mọi chuyện cũng trôi tuột vào dĩ vãng. Cũng trong bữa tiệc tại dinh thự năm ấy, chúng tôi đã có một cuộc tranh luận kỳ quặc về chuyện cầm lái. Chuyện bắt đầu chỉ vì cô lạng xe quá sát chỗ một đám thợ, sát đến mức thanh cản xe của chúng tôi quệt đứt cả cái cúc áo khoác của một gã đàn ông.

"Cô lái xe dở tệ," tôi cự nự. "Hoặc là cô nên cẩn thận hơn, hoặc là dẹp luôn chuyện lái xe đi."

"Tôi cẩn thận mà."

"Không, cô có cẩn thận chút nào đâu."

"Chà, những người khác thì cẩn thận," cô đáp tỉnh bơ.

"Thế thì liên quan gì chứ?"

"Họ sẽ phải tránh đường tôi," cô khăng khăng. "Phải có tận hai người thì mới gây ra tai nạn được cơ mà."

"Giả dụ cô đụng phải một kẻ cũng bất cẩn như cô thì sao."

"Tôi hy vọng sẽ chẳng bao giờ gặp," cô thản nhiên trả lời. "Tôi chúa ghét những kẻ bất cẩn. Đó chính là lý do tôi thích anh."

Đôi mắt màu xám tro, hơi nheo lại vì chói nắng của cô cứ đăm đăm nhìn về phía trước. Nhưng cô đã cố tình lái mối quan hệ của chúng tôi sang một hướng khác, và trong thoáng chốc, tôi đã ngỡ mình yêu cô. Khốn nỗi, tôi lại là kẻ nghĩ chậm, tâm can luôn trĩu nặng những nguyên tắc ngầm đóng vai trò như chiếc phanh hãm lại mọi khao khát của chính mình. Tôi thừa hiểu rằng, trước tiên, tôi phải gỡ thân mình cho dứt khoát khỏi cái mớ bòng bong ở quê nhà. Tôi vẫn đều đặn gửi thư mỗi tuần một lần, dưới thư luôn ký dòng chữ: "Yêu em, Nick." Thế mà, tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến lại là khoảnh khắc cô gái đặc biệt ấy ra sân chơi quần vợt, một vệt mồ hôi mờ mờ tựa như ria mép lấm tấm hiện ra trên vành môi trên của cô. Nhưng dẫu sao, vẫn còn đó một sự thấu hiểu mơ hồ cần phải được cắt đứt một cách khéo léo trước khi tôi thực sự được tự do.

Ở đời, ai cũng thường tự huyễn hoặc rằng mình nắm giữ ít nhất một trong số những đức tính nền tảng của con người. Và đây là đức tính của tôi: Tôi là một trong số ít những người trung thực hiếm hoi mà tôi từng biết.



  1. Eo biển Long Island Sound, ngăn cách đảo Long Island với bang Connecticut. Đây là tuyến đường thủy và khu vực nghỉ dưỡng xa hoa của giới nhà giàu New York trong những năm 1920. 

  2. Castile là một vương quốc lịch sử trên bán đảo Iberia (Tây Ban Nha ngày nay), nơi vốn nổi tiếng với những trang phục rực rỡ, lộng lẫy và nền văn hóa đậm chất lãng mạn. 

  3. Ám chỉ Joe Frisco (1889-1958), một nghệ sĩ tạp kỹ người Mỹ cực kỳ nổi tiếng trong kỷ nguyên Jazz, được biết đến với điệu nhảy rung giật đặc trưng và chiếc mũ derby đội lệch. 

  4. Gilda Gray là một vũ công nổi tiếng thời bấy giờ, người đã phổ biến điệu nhảy 'shimmy' (lắc hông và vai). 'Đoàn Follies' ám chỉ Ziegfeld Follies, chuỗi các chương trình tạp kỹ sân khấu vô cùng hoành tráng và xa xỉ tại Broadway từ 1907 đến 1931. 

  5. Màu xanh ngọc lam nhạt (robin's-egg blue), giống màu vỏ trứng của loài chim cổ đỏ. Đây là màu sắc thường gắn liền với sự sang trọng và tinh tế, cũng là màu đặc trưng của thương hiệu trang sức Tiffany & Co. 

  6. Ám chỉ bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), khi Mỹ và Đức là kẻ thù. Trong thời kỳ này, tâm lý bài Đức và nỗi sợ gián điệp lan rộng trong xã hội Mỹ, dẫn đến nhiều lời đồn đại vô căn cứ. 

  7. Sự phân chia giai cấp trong giới thượng lưu Mỹ. East Egg tượng trưng cho giới 'tiền cũ' (old money) - những gia tộc giàu có lâu đời, coi trọng nề nếp và coi thường giới 'tiền mới' (new money) ở West Egg - những kẻ mới phất lên và chuộng lối sống tiệc tùng xa hoa. 

  8. Phong cách kiến trúc thời Trung cổ ở châu Âu, đặc trưng bởi trần nhà cao vút, cấu trúc đồ sộ và các chi tiết chạm trổ tinh xảo bằng gỗ hoặc đá, mang lại cảm giác cổ kính, uy nghiêm. 

  9. Tập hợp các bài giảng về du lịch thế giới của nhà văn John L. Stoddard xuất bản cuối thế kỷ 19. Bộ sách này thường được giới nhà giàu Mỹ thời bấy giờ mua về trưng bày trên giá sách để chứng tỏ sự học thức và hiểu biết, dù hiếm khi họ đọc chúng. 

  10. Ví von với David Belasco (1853-1931), một đạo diễn sân khấu lừng danh người Mỹ, nổi tiếng với khả năng tạo ra các bối cảnh sân khấu vô cùng chân thực. 

  11. Đại học Oxford tại Anh, một trong những trường đại học lâu đời và danh giá nhất thế giới. Theo học tại đây thường là biểu tượng của xuất thân quyền quý hoặc những người cực kỳ tinh hoa. 

  12. Một trong những phòng hòa nhạc danh giá nhất thế giới tại New York. Việc tác phẩm được trình diễn ở đây là một bảo chứng cho đẳng cấp nghệ thuật xuất chúng và mang tính hàn lâm cao. 

  13. Một câu lạc bộ tư nhân độc quyền và sang trọng tại New York, dành riêng cho cựu sinh viên Đại học Yale - một trong những trường đại học danh giá nhất nước Mỹ thuộc nhóm Ivy League.