CHƯƠNG II

Khoảng giữa chặng đường từ West Egg đến New York, con đường nhựa vội vã sáp lại gần đường sắt và chạy song song chừng một phần tư dặm, tựa hồ đang cố lùi bước để lẩn tránh một vùng đất hoang vu nào đó. Đây là một thung lũng tro bụi-một trang trại kỳ dị nơi tro bụi nảy mầm như lúa mì, kết lại thành những gờ đất, những ngọn đồi và những khu vườn quái gở. Tro bụi ở đây đắp điếm nên hình hài của những mái nhà, những ống khói, những cuộn khói vươn cao. Và rồi, bằng một nỗ lực siêu việt cuối cùng, tro bụi tạc nên dáng hình của những con người xám ngoét, lờ mờ chuyển động và như thể đang tan vụn ra trong một bầu không khí nghẹt thở mùi bụi phấn. Thỉnh thoảng, một đoàn xe goòng xám xịt trườn dọc theo một đường ray vô hình. Nó rít lên những tiếng cọt kẹt rợn người rồi dừng khựng lại. Ngay tắp lự, những bóng người xám xịt ùa tới. Họ vung những chiếc xẻng màu chì, hất tung lên một đám mây bụi mờ mịt, đặc quánh đến mức che lấp hoàn toàn những hoạt động mờ ám của họ khỏi những đôi mắt tò mò.

Thế nhưng, lơ lửng bên trên cái vùng đất xám xịt và những cơn bụi không ngừng co thắt ấy, nếu nhìn kỹ một lúc, người ta sẽ nhận ra đôi mắt của Bác sĩ T. J. Eckleburg1. Đôi mắt của Bác sĩ T. J. Eckleburg mang màu xanh lam thẳm và to lớn dị thường-mỗi con ngươi phải cao tới cả thước. Chúng chẳng thuộc về một khuôn mặt nào cả. Thay vào đó, chúng trố ra từ một cặp kính viền vàng khổng lồ vắt vẻo trên một chiếc mũi không tồn tại. Rõ ràng là gã bác sĩ nhãn khoa thích đùa nào đó đã dựng chúng lên để câu khách cho phòng khám của mình ở quận Queens, rồi bản thân gã lại chìm vào sự mù lòa vĩnh viễn, hoặc gã đã quên béng chúng mà dọn đi nơi khác. Nhưng đôi mắt gã, dẫu đã phai mờ đôi chút bởi bao tháng ngày dãi dầu mưa nắng không được sơn phết lại, vẫn miệt mài găm cái nhìn đăm đăm xuống bãi rác tĩnh lặng này.

Một con sông nhỏ bốc mùi hôi hám bao bọc lấy một bên thung lũng tro bụi. Mỗi khi cây cầu kéo được nâng lên để nhường đường cho xà lan đi qua, những hành khách trên các chuyến tàu đang chờ đợi có thể phóng tầm mắt chằm chằm vào khung cảnh ảm đạm ấy suốt cả nửa giờ đồng hồ. Nơi đó lúc nào cũng có một khoảng dừng ít nhất là một phút. Và chính nhờ sự chậm trễ này, tôi mới có dịp chạm trán nhân tình của Tom Buchanan lần đầu tiên.

Việc cậu ta có nhân tình là điều ai cũng đinh ninh ở bất cứ nơi nào cái tên Tom Buchanan được nhắc tới. Những người quen của cậu ta cảm thấy gai mắt khi thấy cậu ta dẫn cô ả lượn lờ ở các quán cà phê danh tiếng. Cậu ta thường bỏ mặc cô ngồi trơ trọi ở một bàn nào đó, trong khi bản thân thì thong thả dạo quanh, bá vai bá cổ trò chuyện với bất kỳ người quen nào. Dẫu cũng khá tò mò muốn biết mặt mũi cô ả ra sao, tôi lại chẳng hề có ý định muốn gặp gỡ cô ta-vậy mà rốt cuộc tôi lại phải gặp. Một buổi chiều nọ, tôi cùng Tom bắt tàu lên New York. Khi tàu vừa dừng lại cạnh những đống tro bụi, cậu ta đã bật phắt dậy, túm lấy khuỷu tay tôi và, đúng nghĩa đen, lôi tuột tôi ra khỏi toa xe.

“Chúng ta xuống thôi,” cậu ta nằng nặc. “Tôi muốn cậu gặp cô gái của tôi.”

Tôi đồ rằng cậu ta đã nốc kha khá rượu vào bữa trưa, và cái sự kiên quyết bắt tôi đi cùng gần như chạm tới ngưỡng bạo lực. Gã ta cứ mang cái thói bề trên mà tự huyễn rằng vào một chiều Chủ nhật, tôi chẳng có việc quái gì tốt hơn để làm.

Tôi bám gót cậu ta băng qua hàng rào đường sắt bằng gỗ thấp sơn trắng. Chúng tôi đi ngược lại khoảng một trăm thước dọc theo con đường, dưới ánh nhìn chằm chằm không chớp của Bác sĩ Eckleburg. Tòa nhà duy nhất lọt vào tầm mắt là một khối gạch vàng nhỏ nhắn nằm chễm chệ bên rìa vùng đất hoang. Nó trông như một khu Phố Chính thu nhỏ chuyên phục vụ cho vùng này, hoàn toàn lạc lõng với mọi thứ xung quanh. Trong số ba cửa tiệm ở đó, một chỗ đang treo biển cho thuê, một chỗ là nhà hàng mở cửa thâu đêm dẫn lối bằng một con đường rải đầy tro bụi. Tiệm thứ ba là một gara ô tô-Sửa chữa. George B. Wilson. Mua bán xe.-và tôi theo Tom bước vào trong.

Bên trong gara trông thật đìu hiu và trống hoác. Cỗ xe duy nhất đập vào mắt là một chiếc Ford tàn tạ, phủ đầy bụi bặm đang nép mình trong góc tối lờ mờ. Tôi chợt nghĩ cái gara tồi tàn này có lẽ chỉ là một tấm bình phong, che giấu những căn hộ xa hoa, lãng mạn nằm ở tầng trên. Thế nhưng ngay lúc đó, đích thân người chủ ló dạng nơi ngưỡng cửa văn phòng, tay đang dùng nùi giẻ lau vội vết bẩn. Anh ta là một người đàn ông tóc vàng, mang vẻ uể oải, xanh xao nhưng lại toát lên chút thanh tú. Vừa thấy chúng tôi, một tia hy vọng ướt át chợt lóe lên trong đôi mắt xanh nhạt của anh ta.

“Chào Wilson, anh bạn cũ,” Tom cất lời, vỗ mạnh vào vai anh ta với vẻ ân cần hồ hởi. “Làm ăn dạo này thế nào rồi?”

“Tôi chẳng dám than phiền gì,” Wilson đáp lại, giọng điệu thiếu hẳn sự tự tin. “Thế chừng nào anh mới tính bán chiếc xe đó cho tôi?”

“Tuần tới. Người của tôi đang tân trang lại nó rồi.”

“Làm ăn có vẻ hơi lề mề nhỉ, phải không?”

“Không hề,” Tom lạnh lùng đáp trả. “Và nếu anh đã nghĩ vậy, thì có lẽ tôi nên bán nó cho kẻ khác thì hơn.”

“Tôi đâu có ý đó,” Wilson luống cuống thanh minh. “Tôi chỉ định nói-”

Giọng anh ta nhỏ dần rồi tắt hẳn. Tom đưa mắt quét quanh gara với vẻ sốt ruột. Chợt, tôi nghe thấy tiếng bước chân nện trên cầu thang, và giây lát sau, thân hình đẫy đà của một người phụ nữ đã che khuất ánh sáng hắt ra từ cửa văn phòng. Cô trạc tuổi băm, hơi đẫy đà, nhưng từng thớ thịt trên người cô lại toát lên vẻ nhục dục đắm say mà chỉ một số ít phụ nữ mới có được. Phía trên chiếc váy lụa crêpe-de-chine xanh sẫm điểm những chấm bi, khuôn mặt cô chẳng sở hữu lấy một nét yêu kiều hay rạng rỡ nào, nhưng lại bừng bừng một thứ sức sống mãnh liệt. Cứ như thể mọi dây thần kinh trên cơ thể cô đều đang râm ran cháy. Cô chậm rãi mỉm cười, bước lướt qua mặt chồng như thể anh ta chỉ là một bóng ma vô hình. Cô bước tới bắt tay Tom, ánh mắt nhìn xoáy thẳng vào cậu ta. Rồi cô đưa lưỡi liếm ướt đôi môi, chẳng thèm ngoảnh đầu lại mà cất giọng bảo chồng bằng một tông điệu êm ái nhưng cộc cằn:

“Đi lấy mấy cái ghế ra đây mau, để khách khứa còn có chỗ mà ngồi.”

“Ồ, tất nhiên rồi,” Wilson lật đật vâng lời, xoay người đi về phía căn phòng nhỏ và ngay lập tức tiệp hẳn vào màu xi măng xám xịt của những bức tường. Một lớp bụi tro trắng phếch phủ lên bộ vest sẫm màu cùng mái tóc nhợt nhạt của anh ta, y hệt như cách nó đang bám víu lấy mọi thứ xung quanh-ngoại trừ vợ anh, người lúc này đang rướn sát lại gần Tom.

“Anh muốn gặp em,” Tom rù rì, ánh mắt đăm đắm. “Lên chuyến tàu tiếp theo đi.”

“Được thôi.”

“Anh sẽ đợi em ở quầy báo tầng dưới.”

Cô gật đầu, vội vã lùi ra xa khỏi cậu ta ngay cái khoảnh khắc George Wilson khệ nệ bê hai chiếc ghế ló mặt ra từ cửa văn phòng.

Chúng tôi đứng đợi cô ở dưới đường, nơi khuất khỏi mọi ánh nhìn. Lúc đó chỉ còn vài ngày nữa là tới mùng Bốn tháng Bảy2. Một thằng nhóc người Ý gầy gò, xám ngoét đang cặm cụi xếp một dải pháo dọc theo đường ray xe lửa.

“Một nơi tồi tệ nhỉ,” Tom cất giọng, khẽ nhíu mày trao đổi ánh nhìn với Bác sĩ Eckleburg.

“Tồi tệ thật.”

“Rời khỏi nơi quỷ quái này sẽ tốt cho cô ấy.”

“Thế chồng cô ấy không phản đối sao?”

“Wilson á? Hắn cứ đinh ninh cô ấy lên New York thăm chị gái. Hắn ngu ngốc đến độ còn chẳng mường tượng nổi bản thân mình đang sống đâu cơ chứ.”

Thế là Tom Buchanan, cô nhân tình của cậu ta và tôi cùng nhau lên đường tới New York-hoặc nói chính xác thì không hẳn là đi cùng nhau, bởi bà Wilson đã ý tứ chọn ngồi ở một toa tàu khác. Tom chịu nhún nhường như vậy âu cũng là để giữ thể diện, đề phòng ánh mắt soi mói của những người quen từ East Egg có thể đang hiện diện trên cùng chuyến tàu này.

Cô đã kịp thay một chiếc váy muslin họa tiết nâu, căng bó sát vòng hông đẫy đà khi Tom đỡ cô xuống sân ga New York. Ghé qua quầy báo, cô mua một tờ Town Tattle3 cùng một cuốn tạp chí điện ảnh, rồi rẽ vào hiệu thuốc trong nhà ga sắm một lọ kem lạnh và chai nước hoa nhỏ xíu. Lên đến tầng trên, giữa lối đi vang vọng âm thanh tĩnh mịch, cô làm ngơ để bốn chiếc taxi vụt qua trước khi chọn được một chiếc mới cáu, màu hoa oải hương với nội thất bọc da xám. Và rồi, trên chiếc xe ấy, chúng tôi lướt khỏi đám đông nhà ga để hòa vào ánh nắng chói chang. Nhưng đột nhiên, cô quay phắt đi khỏi cửa sổ, rướn người tới trước và gõ nhẹ tay lên tấm kính tài xế.

“Tôi muốn mua một trong mấy con chó kia,” cô nghiêm túc bảo. “Tôi muốn nuôi một con trong căn hộ. Nuôi một con chó cũng hay mà.”

Chúng tôi lùi xe lại chỗ một ông lão tóc xám, người có vẻ ngoài giống John D. Rockefeller4 đến mức buồn cười. Trong chiếc giỏ đung đưa trước ngực ông ta là khoảng chục con chó con mang dòng giống chẳng rõ ràng, đang co rúm vào nhau.

“Chúng thuộc giống gì vậy?” bà Wilson háo hức hỏi khi ông lão tiến đến bên cửa sổ taxi.

“Đủ giống cả. Bà muốn loại nào, thưa bà?”

“Tôi muốn mua một con chó cảnh sát; chắc ông không có giống đó đâu nhỉ?”

Ông lão nheo mắt nhìn vào giỏ vẻ đầy dò xét, thọc tay vào và túm lấy phần gáy lôi ra một con đang không ngừng vặn vẹo vùng vẫy.

“Đó đâu phải chó cảnh sát,” Tom lên tiếng.

“Vâng, không hẳn là chó cảnh sát,” ông lão đáp với giọng điệu có phần hụt hẫng. “Nó lai giống Airedale nhiều hơn.” Bàn tay ông ta vuốt dọc theo tấm lưng trông như chiếc giẻ lau màu nâu của nó. “Hãy nhìn bộ lông này xem. Thật là một bộ lông tuyệt vời. Đây là con chó sẽ không bao giờ làm bà phải phiền muộn vì dăm ba cái bệnh cảm lạnh đâu.”

“Tôi thấy nó rất dễ thương,” bà Wilson hào hứng reo lên. “Bao nhiêu tiền vậy ông?”

“Con chó đó ấy à?” Ông ta nhìn nó bằng ánh mắt đầy ngưỡng mộ. “Con chó đó sẽ ngốn của ông mười đô la.”

Thế là con chó Airedale-mà chắc mẩm phải mang chút dòng máu Airedale nào đó dẫu cho đôi chân nó lại trắng đến kinh ngạc-chính thức đổi chủ. Nó ngoan ngoãn nằm yên trên đùi bà Wilson, mặc cho cô say sưa vuốt ve cái bộ lông chống chịu thời tiết ấy.

“Nó là đực hay cái vậy?” cô tế nhị hỏi.

“Con chó này ấy hả? Nó là đực.”

“Chó cái thì có,” Tom quả quyết gạt đi. “Tiền của ông đây. Đi mà mua thêm mười con chó nữa đi.”

Chúng tôi thong dong lái xe xuôi theo Đại lộ Năm5, trong một buổi chiều Chủ nhật mùa hè ấm áp, êm ả và đậm chất điền viên đến nỗi, tôi sẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên nếu bỗng dưng thấy một bầy cừu trắng lớn rẽ ngang qua góc phố.

“Khoan đã,” tôi nói, “tôi phải xuống ở đây thôi.”

“Không được,” Tom vội vàng ngắt lời. “Myrtle sẽ tổn thương nếu cậu không ghé lên căn hộ. Phải không, Myrtle?”

“Lên đi mà anh,” cô nài nỉ. “Tôi sẽ gọi điện cho chị gái Catherine của tôi. Những người biết rõ đều bảo chị ấy xinh đẹp lắm đấy.”

“Thôi được, tôi cũng muốn lên, nhưng-”

Chúng tôi tiếp tục chạy băng qua Công viên thêm bận nữa để hướng về phía West Hundreds. Tại Phố 158, chiếc taxi đỗ xịch trước cửa một tòa chung cư trải dài, trắng toát như một ổ bánh kem khổng lồ. Đưa mắt phóng một cái nhìn đầy uy quyền tựa nữ hoàng vừa hồi cung quét quanh khu phố, bà Wilson gom con chó cùng mớ đồ mới sắm, kiêu hãnh sải bước đi vào.

“Tôi sẽ gọi vợ chồng nhà McKee lên,” cô thông báo khi chúng tôi đang theo thang máy lên trên. “Và tất nhiên, tôi cũng phải gọi cho chị gái tôi nữa.”

Căn hộ nằm ở tầng cao nhất-bao gồm một phòng khách nhỏ, một phòng ăn nhỏ, một phòng ngủ nhỏ và một phòng tắm. Không gian phòng khách chật ních những món nội thất bọc vải thêu quá khổ, đến mức chỉ cần nhích chân là người ta đã vấp phải những bức họa thêu cảnh các quý bà đong đưa trên xích đu giữa vườn ngự uyển Versailles6. Bức tranh duy nhất trên tường là một bức ảnh được phóng to quá đà, thoạt nhìn cứ ngỡ một con gà mái đang nằm ấp trứng trên mỏm đá mờ sương. Thế nhưng, nếu lùi lại từ xa, hình ảnh con gà mái ấy lại hóa thành một chiếc mũ trùm đầu, tôn lên khuôn mặt của một bà lão đẫy đà đang mỉm cười rạng rỡ nhìn xuống căn phòng. Vài cuốn Town Tattle cũ kỹ vứt la liệt trên bàn cạnh cuốn Simon Called Peter7, xen lẫn vài tờ tạp chí đầy những tin giật gân rẻ tiền của giới Broadway8. Mối bận tâm đầu tiên của bà Wilson lúc này là con chó. Cậu bé trực thang máy vẻ mặt miễn cưỡng đi lấy một chiếc hộp lót rơm và chút sữa, cậu ta còn tự ý quẳng thêm vào một hộp bánh quy to cứng ngắc dành cho chó-một trong số đó đã rã ra vô hồn trong đĩa sữa suốt cả buổi chiều. Trong lúc đó, Tom lôi ra một chai whisky từ ngăn tủ khóa kín.

Cả đời tôi mới chỉ say rượu đúng hai lần, và lần thứ hai rơi vào chính buổi chiều hôm ấy. Vì thế, mọi chuyện diễn ra đều khoác lên một vẻ lờ mờ, ảo não, dù cho mãi tới tận sau tám giờ tối, căn hộ vẫn ngập tràn ánh nắng rực rỡ. Ngồi gọn lỏn trên đùi Tom, bà Wilson gọi điện cho vài người quen; chẳng bao lâu sau, thuốc lá hết sạch, buộc tôi phải cuốc bộ ra hiệu thuốc ở góc phố để mua. Lúc tôi quay lại, cả hai người bọn họ đã bặt tăm, thế nên tôi đành lặng lẽ ngồi xuống phòng khách, lật giở một chương của cuốn Simon Called Peter. Chẳng rõ đó thực sự là một cuốn sách rác rưởi hay ma men whisky đã bóp méo mọi thứ, mà những dòng chữ ấy đối với tôi hoàn toàn vô nghĩa.

Ngay khi Tom và Myrtle (chỉ sau ly rượu đầu tiên, bà Wilson và tôi đã tự nhiên gọi nhau bằng tên thật) ló mặt trở lại, khách khứa cũng bắt đầu rục rịch kéo đến trước cửa căn hộ.

Chị gái của cô, Catherine, trạc ba mươi, là một người phụ nữ mảnh khảnh và sành sỏi. Cô ta để mái tóc đỏ cắt ngắn, cứng quèo và bết dính vào nhau, tương phản với làn da được trát phấn trắng toát như sữa. Đôi lông mày cũ bị nhổ trụi để xăm đè lên một đường xếch ngược, nhưng những dấu vết tự nhiên đang cố phục hồi lại đường nét cũ lại khoác lên khuôn mặt cô một vẻ mờ ảo kỳ quái. Mỗi nhịp bước của cô đều kéo theo những tiếng leng keng không ngớt, phát ra từ vô số chiếc vòng gốm va đập vào nhau dọc hai cánh tay. Cô ta bước vào với dáng vẻ vội vã đầy tính sở hữu, đưa mắt rà soát khắp lượt đồ đạc với thái độ lấn lướt đến độ tôi phải tự hỏi liệu đây có phải là nhà của cô không. Nhưng khi nghe tôi hỏi, cô ta chỉ cười ngặt nghẽo, vồn vã nhắc lại câu hỏi của tôi thật to, rồi thủng thẳng đáp rằng cô đang sống cùng một cô bạn gái ở khách sạn.

Ông McKee là một người đàn ông nhợt nhạt, ẻo lả sống ở ngay căn hộ tầng dưới. Hẳn là anh ta vừa mới cạo râu xong, bởi trên gò má vẫn còn vương lại một vệt bọt trắng xóa, và anh ta tỏ ra vô cùng khúm núm khi chào hỏi mọi người trong phòng. Anh ta khoe với tôi rằng mình làm việc trong “lĩnh vực nghệ thuật,” rồi mãi sau đó tôi mới lờ mờ hiểu ra anh ta là nhiếp ảnh gia, đồng thời là tác giả của bức ảnh lờ mờ chụp mẹ bà Wilson-bức ảnh đang lơ lửng trên tường tựa một bóng ma. Vợ anh ta thì lại là một người phụ nữ chói tai, uể oải, có chút nhan sắc nhưng tính tình thật kinh khủng. Cô ta hãnh diện khoe khoang với tôi rằng từ lúc lấy nhau tới giờ, chồng cô đã chụp cho cô đúng một trăm hai mươi bảy bức ảnh.

Bà Wilson đã kịp thay trang phục từ lúc nào, và giờ đây đang diện một chiếc váy dạo phố buổi chiều cầu kỳ may bằng voan màu kem, thứ phát ra tiếng sột soạt không ngớt mỗi bận cô lướt qua lướt lại trong phòng. Dường như bộ váy ấy đã phù phép lên cả tính cách của cô. Cái sức sống mãnh liệt từng bừng sáng giữa khu gara cũ nát giờ đây đã biến chất thành một thứ kiêu ngạo rởm đời. Tiếng cười, điệu bộ, cho đến những lời quả quyết của cô mỗi lúc một thêm giả tạo và phô trương; và khi cô càng tỏ vẻ quan trọng, thì căn phòng dường như càng co rúm lại, cho đến khi cô trông như đang xoay tít trên một trục quay ồn ã, kẽo kẹt giữa bầu không khí đặc quánh khói thuốc.

“Em yêu à,” cô nói oang oang với em gái bằng chất giọng chói lói, đỏng đảnh, “lũ đàn ông rặt một phường lừa lọc. Trong đầu chúng chỉ chứa mỗi tiền thôi. Tuần trước chị có gọi một mụ đàn bà đến khám chân, mà lúc mụ ta chìa hóa đơn ra, em sẽ tưởng như mụ vừa mới cắt ruột thừa cho chị vậy.”

“Mụ đó tên gì thế?” bà McKee tò mò chen ngang.

“Bà Eberhardt. Mụ ta hay lân la đến tận nhà để xem bệnh chân cho người ta.”

“Tôi mê cái váy của cô quá,” bà McKee tấm tắc khen ngợi, “Tôi thấy nó đáng yêu vô cùng.”

Bà Wilson hờ hững gạt phắt lời khen bằng cái nhướng mày đầy khinh khỉnh.

“Ôi dào, toàn đồ cũ kỹ vớ vẩn ấy mà,” cô ta bĩu môi. “Thỉnh thoảng không thiết tha gì đến ăn diện thì tôi mới vơ bừa mặc tạm thôi.”

“Nhưng trông cô diện lên người tuyệt lắm, cô hiểu ý tôi chứ,” bà McKee vẫn không buông tha. “Giá mà Chester chụp được cô trong dáng điệu đó, tôi đồ rằng anh ấy sẽ tạo ra một kiệt tác đấy.”

Tất thảy chúng tôi đều nín lặng dồn mắt vào bà Wilson. Cô hất một lọn tóc rủ xuống mắt, đoạn nở một nụ cười rạng rỡ đáp lễ mọi người. Ông McKee nghiêng đầu đăm đăm nhìn cô, bàn tay từ từ khua qua khua lại trước mặt.

“Tôi nên đổi góc sáng,” một lát sau anh ta lên tiếng. “Tôi muốn tôn lên sự sắc sảo của những đường nét. Và tôi sẽ cố thâu tóm toàn bộ dải tóc buông phía sau.”

“Tôi thì chả dại gì mà đổi ánh sáng,” bà McKee gào lên. “Tôi thấy thế là-”

Chồng cô ta suỵt một tiếng “Suỵt!” khiến tất cả lại chăm chú đổ dồn vào vấn đề nhiếp ảnh, thì đúng lúc ấy Tom Buchanan ngáp cái rõ to rồi nặng nề đứng dậy.

“Vợ chồng nhà McKee, hai người muốn uống gì không?” cậu ta nói. “Đi lấy thêm đá với nước khoáng đi, Myrtle, trước khi mọi người gục xuống ngủ hết cả lượt bây giờ.”

“Em dặn cái thằng nhãi kia lấy đá rồi mà.” Myrtle nhướng mày ngán ngẩm trước thói lề mề của lũ hạ lưu. “Cái bọn này! Lúc nào cũng phải gào thét thúc đít thì mới chịu làm.”

Cô quay sang tôi, bật lên một tràng cười vô nghĩa. Kế đó, cô ả nhún nhảy sà vào con chó, hôn hít nó một cách đê mê, rồi lướt thướt bước vào bếp với dáng điệu oai phong như thể đang có cả tá đầu bếp xếp hàng chực lệnh bên trong.

“Tôi đã chụp được vài tác phẩm khá tốt ngoài Long Island,” ông McKee tự đắc khẳng định.

Tom nhìn anh ta bằng một ánh mắt trống rỗng.

“Hai bức trong số đó đã được đóng khung treo ở nhà dưới.”

“Hai cái gì cơ?” Tom gặng hỏi.

“Hai tác phẩm nghiên cứu. Một bức tôi đặt tựa là Mũi Montauk9-Những chú hải âu, và bức kia là Mũi Montauk-Biển cả.”

Người chị gái Catherine tiến tới, buông mình xuống cạnh tôi trên chiếc sô pha.

“Anh cũng sống ngoài Long Island à?” cô hỏi.

“Tôi sống ở West Egg.”

“Thật á? Hồi tháng trước tôi có ghé dưới đó dự tiệc đấy. Tại biệt thự của một người đàn ông tên là Gatsby. Anh biết anh ta không?”

“Tôi sống sát vách nhà anh ấy.”

“Chà, thiên hạ đồn đại anh ta là cháu trai hay anh em họ gì đấy của Hoàng đế Wilhelm10 cơ. Của nả của anh ta từ đó mà ra cả.”

“Thật vậy sao?”

Cô gật đầu cái rụp.

“Tôi hãi anh ta lắm. Sẽ thật tồi tệ nếu để anh ta nắm thóp được mình.”

Thông tin đầy hấp dẫn về người hàng xóm của tôi đột ngột bị cắt ngang khi bà McKee chĩa tay thẳng về phía Catherine:

“Chester, em đồ rằng anh sẽ làm được điều gì đó với cô ấy đấy,” cô ta thốt lên, thế nhưng ông McKee chỉ gật đầu thiểu não, đoạn lại lân la quay sang Tom.

“Tôi rất muốn được làm việc nhiều hơn ở Long Island, miễn là có cơ hội đặt chân vào giới đó. Tất cả những gì tôi khao khát lúc này chỉ là một sự khởi đầu.”

“Hỏi Myrtle xem,” Tom nói, bật ra một tiếng cười lớn ngắn ngủi đúng lúc bà Wilson bưng khay đồ uống bước vào. “Cô ấy sẽ đưa cho anh một lá thư giới thiệu, đúng không, Myrtle?”

“Làm gì cơ?” cô giật mình ngơ ngác.

“Em sẽ đưa cho McKee một lá thư tiến cử với chồng em, để anh ta tiện đường thực hiện vài nghiên cứu về cậu ta.” Đôi môi Tom mấp máy vô thanh trong chốc lát như đang mải mê tự biên tự diễn, “ ‘George B. Wilson bên Trụ Bơm Xăng,’ hay thứ gì đó đại loại thế.”

Catherine rướn người sát lại, thì thầm rủ rỉ bên tai tôi:

“Cả hai người họ, chẳng ai chịu đựng nổi người mà họ đang kết hôn cùng.”

“Vậy sao?”

“Không thể chịu đựng nổi.” Cô liếc nhìn Myrtle, rồi lại đưa mắt sang Tom. “Tôi tự hỏi, tại sao phải tiếp tục chung sống với những người đó nếu họ đã không thể chịu đựng được nhau? Đổi lại là tôi, tôi sẽ ly hôn và cưới nhau ngay lập tức.”

“Cô ấy cũng không thích Wilson sao?”

Lời đáp lại bật ra đường đột đến không ngờ. Nó đến từ chính Myrtle-kẻ vừa tình cờ nghe lỏm được câu hỏi-với những ngôn từ mang tính bạo lực và thô tục.

“Anh thấy chưa,” Catherine hân hoan rít lên. Cô hạ giọng thậm thụt. “Sự thật là chính mụ vợ anh ta mới là người chia cắt họ. Cô ấy là người Công giáo, và họ không tin vào chuyện ly hôn.”

Daisy nào phải người Công giáo, và tôi thoáng rùng mình trước sự tinh vi của lời dối trá ấy.

“Đợi lúc cưới nhau rồi,” Catherine nói tiếp, “họ sẽ dọn sang miền Tây sống tạm một thời gian cho đến khi mọi chuyện lắng xuống.”

“Sang châu Âu thì nghe chừng kín đáo hơn.”

“Ồ, thế anh có mê châu Âu không?” cô ta tròn mắt kinh ngạc thốt lên. “Tôi cũng vừa từ Monte Carlo11 trở về đấy.”

“Thật sao.”

“Mới độ năm ngoái thôi. Tôi đi chung với một cô bạn gái.”

“Lưu lại có lâu không?”

“Không, bọn tôi chỉ nán lại Monte Carlo rồi quay về. Chúng tôi đi ngả Marseilles. Bận đi mang theo hơn mười hai trăm đô la, vậy mà chỉ trong đúng hai ngày, tụi này bị lừa sạch bách trong mấy sòng bài riêng tư. Bọn tôi đã nếm mùi địa ngục mới tìm được cách quay về, tôi có thể cam đoan với anh như vậy. Lạy Chúa, tôi ghét cái thị trấn đó biết bao!”

Trong khoảnh khắc, vòm trời chiều muộn bừng nở ngoài khuôn cửa sổ tựa như giọt mật ong xanh thẳm của vùng Địa Trung Hải-nhưng rồi chất giọng eo éo của bà McKee đã giật tôi quay trở lại thực tại căn phòng.

“Hồi xưa tôi cũng suýt nữa thì mắc phải một sai lầm,” cô ta oang oang tuyên bố. “Tí nữa thì tôi gật đầu lấy một gã Do Thái lùn tịt, cái loại bám đuôi tôi ròng rã suốt bao năm trời. Dù thừa biết gã ta ở đẳng cấp thấp hơn mình. Ai nấy đều can: ‘Lucille ơi, gã đàn ông đó ở dưới tầm của cô rất nhiều!’ Nhưng giá mà tôi không gặp Chester, thì gã ta chắc chắn đã vớ được tôi rồi.”

“Đúng thế, nhưng nghe này,” Myrtle Wilson gật gật đầu tiếp lời, “ít nhất thì cô cũng chả đâm đầu vào gã đó.”

“Tôi biết thừa là không mà.”

“Chà, tôi thì lại kết hôn với anh ta mất rồi,” Myrtle buông một tiếng hững hờ. “Đấy, điểm khác biệt giữa trường hợp của cô và của tôi là ở chỗ đó.”

“Nhưng cớ sao chị lại làm thế hở Myrtle?” Catherine gặng hỏi. “Đâu có ai ép buộc chị.”

Myrtle chìm vào dòng suy nghĩ trầm ngâm.

“Chị ưng lấy anh ta vì ngỡ anh ta là một trang nam nhi đích thực,” cuối cùng cô ả cất lời. “Chị cứ tưởng anh ta hiểu biết chút ít về cách cư xử, nhưng hóa ra anh ta còn không xứng xách dép cho chị.”

“Nhưng rõ ràng đã có một khoảng thời gian chị phát điên vì anh ta cơ mà,” Catherine nói.

“Phát điên vì anh ta á!” Myrtle rít lên, vẻ mặt đầy hoài nghi. “Ai nói chị phát điên vì anh ta? Chị chưa bao giờ phát điên vì anh ta hơn cái mức chị đang phát điên vì gã đàn ông ngồi lù lù đằng kia cả.”

Cô ta đột ngột chỉ thẳng tay vào tôi, và mọi người đều nhìn tôi bằng ánh mắt buộc tội. Tôi cố gắng biểu lộ qua nét mặt rằng mình chẳng hề mong đợi chút tình cảm nào.

“Lần duy nhất tôi phát điên là khi tôi kết hôn với anh ta. Tôi biết ngay lập tức là mình đã mắc phải sai lầm. Anh ta đi mượn bộ vest bảnh bao nhất của người khác để mặc trong lễ cưới, mà chẳng hề hé răng nói với tôi lời nào, rồi một ngày nọ, nhân lúc anh ta vắng nhà, gã đàn ông kia đến đòi: ‘Ồ, đó là bộ vest của anh sao?’ tôi ngơ ngác nói. ‘Nay tôi mới nghe nói về chuyện này đấy.’ Thế nhưng tôi vẫn ngậm đắng nuốt cay trả lại đồ cho gã và sau đó tôi nằm lăn ra khóc lóc thảm thiết suốt cả buổi chiều hôm đó.”

“Chị ấy thực sự nên rời xa gã,” Catherine quay sang thủ thỉ với tôi. “Họ đã chui rúc ở cái gác xép gara đó ròng rã mười một năm trời. Và Tom mới chính là người tình đầu tiên mà chị ấy có được.”

Chai whisky thứ hai-giờ đây liên tục được truyền tay giữa tất cả những người có mặt, ngoại trừ Catherine, kẻ luôn quả quyết rằng mình “cảm thấy tuyệt vời dù chẳng có gì trong tay.” Tom bấm chuông gọi tay quản gia, sai ông ta đi chuẩn bị vài chiếc bánh mì kẹp hảo hạng, thứ vốn dĩ đã được xem là một bữa tối trọn vẹn. Ngay lúc đó, tôi chỉ khao khát được thoát ra ngoài, tản bộ về phía đông hướng tới công viên, thả mình vắt ngang qua ánh hoàng hôn dịu nhẹ. Nhưng khốn nỗi, cứ mỗi bận nhấp nhổm định rời đi, tôi lại bị kéo tuột vào một cuộc cãi vã ầm ĩ, hoang dã nào đó, dính chặt lấy chiếc ghế tựa hồ bị trói gông. Thế nhưng, lơ lửng trên cao nhìn xuống thành phố, dải cửa sổ hắt ánh sáng vàng vọt của chúng tôi hẳn đã đóng góp một phần những bí mật loài người cho ánh nhìn vô tình của những gã bộ hành trên những con phố đang dần chìm vào bóng tối, và tôi dường như cũng đang nhìn thấy gã bộ hành ấy, ngước mắt nhìn lên và trầm tư tự hỏi. Tôi vừa kẹt lại bên trong lại vừa lơ lửng bên ngoài, bị mê hoặc nhưng cũng đồng thời cảm thấy ghê tởm trước sự thiên hình vạn trạng của cõi nhân sinh.

Myrtle kéo ghế xích lại sát tôi, và đột nhiên hơi thở ấm sực của cô phả thẳng vào tôi khi cô tuôn trào kể về lần đầu tiên chạm trán Tom.

“Đó là hai cái ghế nhỏ đặt úp mặt vào nhau, bao giờ cũng là hai chỗ trống cuối cùng còn sót lại trên tàu. Chị đang trên đường lên New York thăm em gái và định ngủ lại qua đêm. Lúc ấy, anh mặc một bộ vest bảnh bao, đi đôi giày da lộn bóng loáng, và chị đã đắm đuối ngắm anh không chớp mắt, nhưng cứ hễ anh liếc sang là chị lại vờ vĩnh ngó lên mấy tấm biển quảng cáo phía trên đầu anh. Khi tàu cập bến, anh đứng sát rạt vào chị, vạt áo sơ mi trắng tinh của anh cọ nhẹ vào cánh tay chị. Thế là chị dọa sẽ gọi cảnh sát, nhưng anh thừa biết chị chỉ đang già mồm. Chị phấn khích rần rần trong huyết quản, đến mức lúc nhấc chân lên taxi cùng anh, chị hầu như chẳng còn nhận thức được rằng mình không phải đang bước xuống hầm tàu điện ngầm. Tất cả những gì chị không ngừng nghĩ đến, hết lần này đến lần khác, chỉ là ‘Mày đâu thể sống mãi được; mày đâu thể sống mãi được.’ ”

Cô ả quay sang bà McKee, và cả căn phòng lại ngập chìm trong tiếng cười giả tạo của cô.

“Em yêu à,” cô ré lên, “chị sẽ để lại cái váy này cho em ngay khi chị mặc chán. Mai chị phải tậu thêm một cái mới. Chị sẽ lên một danh sách tất cả những thứ chị phải mua. Một suất mát xa, một kiểu tóc uốn lượn sóng, một cái vòng cổ cho con chó, rồi cả một chiếc gạt tàn nhỏ nhắn tinh xảo chỉ cần chạm vào một cái lò xo, cộng thêm một vòng hoa kết nơ lụa đen viếng mộ mẹ để trưng cho cả mùa hè. Chị phải ghi lại thành một danh sách để khỏi quên mất tất cả những việc cần làm.”

Lúc đó là chín giờ-gần như ngay sau đó, tôi liếc nhìn đồng hồ và giật mình phát hiện ra đã là mười giờ đêm. Ông McKee đang gà gật ngủ gục trên ghế, hai tay nắm chặt đặt ngay ngắn trên đùi, tạo dáng y hệt một người đàn ông hành động trong một bức ảnh. Rút chiếc khăn tay ra, tôi lặng lẽ lau vệt bọt cạo râu đã khô cáu trên má anh ta-thứ chướng mắt đã làm tôi bận tâm suốt cả buổi chiều nay.

Con chó nhỏ vẫn ngồi yên trên bàn, hướng đôi mắt mù lòa thấu qua màn khói đặc quánh và thi thoảng lại cất lên vài tiếng rên rỉ yếu ớt. Xung quanh, những bóng người cứ thoắt ẩn rồi thoắt hiện; họ bàn tính chuyện đi đâu đó, để lạc mất nhau, cuống cuồng đi tìm, rồi rốt cuộc lại sờ sờ đụng mặt ngay cách đó chỉ vài bước chân. Khoảng nửa đêm, lúc nào chẳng rõ, Tom Buchanan và bà Wilson đứng chĩa mặt vào nhau. Họ đôi co bằng những giọng điệu đay nghiến, gay gắt, cốt chỉ để tranh cãi xem liệu bà Wilson có cái quyền được nhắc đến tên Daisy hay không.

"Daisy! Daisy! Daisy!" bà Wilson thét lên. "Tôi sẽ gọi tên cô ta bất cứ khi nào tôi muốn! Daisy! Dai-"

Bằng một cú vung tay vừa gọn gàng vừa điêu luyện, Tom Buchanan tát mạnh, đánh gãy mũi cô.

Thế rồi những chiếc khăn tắm đẫm máu bắt đầu vương vãi khắp sàn phòng tắm. Tiếng đàn bà tru tréo trách móc chói tai cất lên, lấn át trong mớ hỗn loạn ấy là một tiếng kêu rên kéo dài, đứt đoạn vì đớn đau khôn cùng. Ông McKee bừng tỉnh sau cơn ngái ngủ và lảo đảo bước về phía cửa. Đi được nửa chừng, anh ta quay đầu lại, trân trân nhìn vào cảnh tượng trước mắt-vợ anh ta và Catherine đang vừa lớn tiếng mắng mỏ vừa cuống quýt an ủi, loạng choạng vấp váp giữa đống đồ đạc chật ních cùng mớ đồ nghề sơ cứu. Trên chiếc ghế dài là một hình hài tuyệt vọng đang tuôn máu không ngừng, loay hoay trải phẳng tờ tạp chí Town Tattle hòng che đi những bức tranh thêu cảnh cung điện Versailles. Một lúc sau, ông McKee xoay người và tiếp tục lững thững bước ra cửa. Vớ lấy chiếc mũ của mình từ ngọn đèn chùm, tôi liền bám gót theo sau.

"Hôm nào đó đi ăn trưa nhé," anh ta buông lời đề nghị, giữa lúc chiếc thang máy chở chúng tôi rên rỉ đi xuống.

"Ở đâu?"

"Đâu cũng được."

"Bỏ tay ông ra khỏi cái cần gạt ngay," thằng bé trực thang máy gắt gỏng.

"Tôi xin lỗi nhé," ông McKee đáp lời với một vẻ đầy phẩm giá. "Tôi không biết là mình đang chạm vào nó."

"Được thôi," tôi đồng ý. "Tôi sẽ rất vui nếu được đi cùng anh."

… Chẳng hiểu sao tôi lại thấy mình đang đứng bên mép giường của anh ta. Anh ta ngồi bật dậy giữa lớp ga giường lộn xộn, trên người mặc độc một bộ đồ lót, tay ôm khư khư một tập hồ sơ lớn.

"Người đẹp và Quái vật… Sự cô đơn… Con ngựa thồ hàng già nua… Cầu Brooklyn…"

Và rồi tôi lại thấy mình đang nằm thiu thiu ngủ dưới tầng hầm lạnh lẽo của Nhà ga Pennsylvania12, đăm đăm nhìn vào tờ nhật báo Tribune và mòn mỏi chờ đợi chuyến tàu lúc bốn giờ sáng.



  1. Tên một bác sĩ nhãn khoa trên tấm biển quảng cáo khổng lồ bị bỏ hoang. Vào thập niên 1920, quảng cáo khổ lớn bắt đầu bùng nổ tại Mỹ dọc theo các tuyến đường cao tốc và đường sắt mới xây dựng. 

  2. Ngày 4 tháng 7 là Ngày Độc lập (Quốc khánh) của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Vào dịp này, người Mỹ có truyền thống đốt pháo sáng, bắn pháo hoa để ăn mừng sự kiện lập quốc. 

  3. Một cuốn tạp chí có thật xuất bản vào thập niên 1920 ở Mỹ, chuyên đăng tải các tin đồn nhảm, chuyện giật gân và đời tư về giới thượng lưu. 

  4. John D. Rockefeller (1839-1937) là một tỷ phú và ông trùm dầu mỏ người Mỹ. Ông được coi là người giàu có nhất trong lịch sử hiện đại Hoa Kỳ và là biểu tượng của sự giàu sang tột đỉnh. 

  5. Fifth Avenue (Đại lộ 5) là một trục đường chính ở trung tâm quận Manhattan, thành phố New York, nổi tiếng là khu phố mua sắm vô cùng sầm uất, xa xỉ và đắt đỏ dành cho giới nhà giàu. 

  6. Versailles là cung điện hoàng gia lộng lẫy bậc nhất của Pháp. Các khu vườn ngự uyển tại đây nổi tiếng là biểu tượng của sự quyền quý, xa hoa vương giả. 

  7. Một cuốn tiểu thuyết tôn giáo bán chạy nhưng gây tranh cãi xuất bản năm 1921 của tác giả Robert Keable, bị nhiều người đương thời đánh giá là có nội dung suy đồi, dung tục. 

  8. Khu vực trung tâm kịch nghệ và giải trí xa hoa tại New York, biểu tượng của nền công nghiệp biểu diễn và văn hóa thị thành Mỹ. 

  9. Mũi Montauk (Montauk Point) là điểm cực đông của đảo Long Island, một địa danh du lịch nổi tiếng với phong cảnh biển hoang sơ và ngọn hải đăng lịch sử. 

  10. Wilhelm II là vị Hoàng đế cuối cùng của Đế quốc Đức, người trị vì trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918) và là kẻ thù lớn của nước Mỹ, nên cái tên này luôn gắn liền với sự nguy hiểm, đáng sợ trong mắt người Mỹ thời đó. 

  11. Một khu vực thuộc công quốc Monaco nằm ven bờ Địa Trung Hải, nổi tiếng toàn thế giới với những sòng bạc xa hoa và là điểm nghỉ dưỡng đắt đỏ bậc nhất của giới siêu giàu. 

  12. Penn Station là một nhà ga xe lửa lịch sử khổng lồ tại trung tâm thành phố New York, từng là một công trình kiến trúc tráng lệ bậc nhất trước khi bị phá bỏ vào thập niên 1960.