CHƯƠNG IX

Hai năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn nhớ như in phần còn lại của ngày hôm ấy. Đêm đó và cả ngày hôm sau chỉ còn đọng lại thành một cuộc diễu hành bất tận của cảnh sát, thợ nhiếp ảnh và cánh nhà báo ồn ào ra vào cửa chính nhà Gatsby. Một sợi dây thừng vắt ngang qua cổng chính, cạnh đó là viên cảnh sát đứng gác để ngăn những kẻ tò mò. Nhưng đám con trai thoắt cái đã phát hiện ra chúng có thể lẻn vào qua khoảng sân nhà tôi. Thế là lúc nào cũng có một bầy trẻ con há hốc mồm bu quanh hồ bơi. Chiều hôm đó, một gã có vẻ tự tin, có lẽ là thám tử, đã buông một câu “kẻ điên” khi cúi xuống nhìn thi thể Wilson. Và chính cái giọng điệu đầy thẩm quyền thốt ra ngẫu nhiên của gã đã định hình luôn sắc thái cho mọi bài báo vào sáng hôm sau.

Hầu hết những bản tin đó giống như một cơn ác mộng-kỳ cục, vẽ vời, xun xoe và đầy dối trá. Khi lời khai của Michaelis tại cuộc điều tra hé lộ những nghi ngờ của Wilson về vợ mình, tôi cứ ngỡ rằng toàn bộ câu chuyện sẽ sớm bị mang ra châm biếm bôi bác. Thế nhưng Catherine, người đáng lẽ có thể bô bô mọi chuyện, lại chẳng hé nửa lời. Về điểm này, cô ta bộc lộ một bản lĩnh đáng ngạc nhiên. Cô ta nhìn thẳng viên chức điều tra bằng ánh mắt kiên định dưới hàng lông mày được tỉa tót kỹ lưỡng, rồi thề thốt rằng chị mình chưa từng gặp Gatsby. Rằng chị mình hoàn toàn hạnh phúc bên chồng, và chẳng hề dính dáng đến bất kỳ trò lừa dối nào. Thậm chí cô ta tự thuyết phục bản thân tin vào điều đó, rồi khóc nức nở vào chiếc khăn tay, như thể chỉ cần một lời bóng gió thôi cũng đủ vượt quá sức chịu đựng của cô. Vì thế, Wilson bị phán định đơn thuần là một kẻ “mất trí vì đau buồn” để vụ án có thể khép lại một cách gọn gàng nhất. Và mọi chuyện dừng lại ở đó.

Nhưng tất cả những ồn ào ấy với tôi có vẻ xa xôi và vô nghĩa. Tôi thấy mình đứng về phía Gatsby, hoàn toàn đơn độc. Kể từ giây phút tôi gọi điện báo hung tin cho làng West Egg, mọi phỏng đoán về anh, và mọi vấn đề thực tế, đều đổ dồn lên vai tôi. Thoạt đầu, tôi ngạc nhiên và bối rối. Nhưng rồi, khi thấy anh nằm đó trong chính ngôi nhà của mình, không động đậy, không thở cũng chẳng nói năng gì, giờ này qua giờ khác, tôi dần nhận ra mình phải chịu trách nhiệm. Bởi lẽ chẳng có ai khác bận tâm-ý tôi là thực sự quan tâm, với cái sự quan tâm cá nhân sâu sắc mà bất cứ ai cũng có một đặc quyền mơ hồ được nhận vào phút cuối đời.

Tôi gọi cho Daisy chỉ nửa giờ sau khi chúng tôi tìm thấy anh. Tôi gọi theo bản năng, không một chút đắn đo. Nhưng cô ấy và Tom đã rời đi từ sớm chiều hôm đó, mang theo toàn bộ hành lý.

“Không để lại địa chỉ à?”

“Không.”

“Có nói khi nào họ quay lại không?”

“Không.”

“Có biết họ đang ở đâu không? Làm sao tôi có thể liên lạc với họ?”

“Tôi không biết. Chịu thôi.”

Tôi muốn tìm ai đó cho anh. Tôi muốn bước vào căn phòng nơi anh nằm và thì thầm trấn an: “Tôi sẽ tìm người đến với cậu, Gatsby. Đừng lo. Cứ tin tôi, tôi sẽ tìm người đến với cậu-”

Tên của Meyer Wolfshiem không có trong danh bạ điện thoại. Người quản gia đưa tôi địa chỉ văn phòng của ông ta trên đường Broadway. Tôi gọi cho tổng đài thông tin, nhưng đến khi xin được số thì đã quá năm giờ chiều từ lâu, và đầu dây bên kia chẳng có ai nhấc máy.

“Cô có thể gọi lại lần nữa được không?”

“Tôi đã gọi ba lần rồi.”

“Chuyện này rất quan trọng.”

“Xin lỗi. Tôi e là không có ai ở đó đâu.”

Tôi quay lại phòng khách. Trong một khoảnh khắc, tôi đã tưởng những người thi hành công vụ bỗng nhiên lấp đầy căn phòng kia là những vị khách tình cờ ghé thăm. Nhưng, dù họ có kéo tấm khăn trải giường lại và nhìn Gatsby bằng ánh mắt bàng hoàng, thì lời khẩn cầu của anh vẫn tiếp tục vang vọng trong đầu tôi:

“Nghe này, anh bạn, anh phải tìm ai đó cho tôi. Anh phải cố gắng lên. Tôi không thể vượt qua chuyện này một mình được.”

Ai đó bắt đầu hỏi tôi vài câu, nhưng tôi dứt ra và đi lên gác, vội vã lục lọi những ngăn kéo không khóa trong bàn làm việc của anh-bởi anh chưa bao giờ nói thẳng với tôi rằng cha mẹ mình đã qua đời. Nhưng chẳng có gì cả. Chỉ có bức ảnh của Dan Cody, kỷ vật của một thời bạo lực đã trôi vào dĩ vãng, đang lặng lẽ nhìn chằm chằm từ trên tường xuống.

Sáng hôm sau, tôi cử người quản gia đến New York mang theo một lá thư cho Wolfshiem. Trong thư, tôi hỏi thăm thông tin và giục ông ta bắt chuyến tàu tiếp theo ra đây. Ngay khi đặt bút viết, tôi đã thấy yêu cầu đó có vẻ thừa thãi. Tôi đinh ninh ông ta sẽ khởi hành ngay khi đọc được tin trên các tờ báo, giống như tôi từng tin chắc sẽ có một bức điện tín từ Daisy trước buổi trưa. Nhưng chẳng có bức điện tín nào, ông Wolfshiem cũng không đến. Chẳng có ai đến ngoại trừ thêm vô số cảnh sát, thợ nhiếp ảnh và đám nhà báo. Khi người quản gia mang về câu trả lời của Wolfshiem, trong tôi bắt đầu nhen nhóm một sự phản kháng-một tình đoàn kết đầy khinh bỉ giữa Gatsby và tôi để chống lại tất cả bọn họ.

Gửi cậu Carraway. Chuyện này đối với tôi là một trong những cú sốc khủng khiếp nhất đời, tôi hầu như không thể tin rằng nó là sự thật. Một hành động điên rồ như gã đó đã làm đáng để tất cả chúng ta phải suy ngẫm. Hiện tại tôi không thể xuống đó vì tôi đang kẹt vài vụ làm ăn rất quan trọng và không thể dính líu vào chuyện này lúc này. Nếu sau này có gì tôi có thể giúp thì hãy cho tôi biết qua một lá thư gửi Edgar. Tôi như chẳng biết mình đang ở đâu khi nghe về một chuyện như thế này và hoàn toàn bị hạ đo ván.

Kính thư

Meyer Wolfshiem

và sau đó là dòng chữ viết thêm vội vã bên dưới:

Hãy cho tôi biết về đám tang v.v... tôi hoàn toàn không biết gì về gia đình cậu ấy.

Khi chuông điện thoại reo vào chiều hôm đó và tổng đài đường dài báo có cuộc gọi từ Chicago, tôi tưởng cuối cùng thì cũng là Daisy. Nhưng đường dây kết nối lại phát ra giọng một người đàn ông, rất mỏng và xa xăm.

“Slagle đang nói đây…”

“Vâng?” Cái tên này nghe thật lạ lẫm.

“Mẹ kiếp thật chứ? Nhận được điện tín của tôi chưa?”

“Chưa có bức điện tín nào cả.”

“Thằng nhóc Parke gặp rắc rối rồi,” hắn nói nhanh. “Bọn chúng tóm nó khi nó vừa giao trái phiếu qua quầy. Chúng nhận được thông báo từ New York báo số sê-ri chỉ năm phút trước đó. Anh nghĩ sao về chuyện này, hả? Chẳng thể lường trước được điều gì ở mấy cái thị trấn nhà quê này-”

“Chào anh!” Tôi thở hổn hển ngắt lời. “Nghe này-đây không phải là Gatsby. Gatsby chết rồi.”

Có một sự im lặng kéo dài ở đầu dây bên kia. Tiếp theo là một tiếng kêu thảng thốt… rồi một tiếng rít cộc lốc khi đường dây bị ngắt.


Tôi nhớ hình như vào ngày thứ ba, có một bức điện tín từ một thị trấn ở Minnesota gửi đến, ký tên Henry C. Gatz. Bức điện vỏn vẹn mấy chữ thông báo người gửi sẽ lên đường ngay lập tức và mong nán lại tang lễ cho đến khi ông có mặt.

Đó là cha của Gatsby. Dưới cái nắng ấm áp của ngày tháng Chín, ông lão trang nghiêm nhưng lại toát lên vẻ thảng thốt và bất lực tột cùng, thu mình trong chiếc áo khoác dài rẻ tiền. Đôi mắt ông ướt đẫm vì xúc động. Khi tôi đỡ lấy chiếc ô và túi xách, ông cứ liên tục đưa tay giật giật chòm râu xám lưa thưa, bần thần đến mức tôi phải rất vất vả mới cởi nổi chiếc áo khoác cho ông. Trông ông như chực ngã quỵ. Tôi vội dìu ông vào phòng nhạc, đỡ ông ngồi xuống rồi sai người đi chuẩn bị chút thức ăn. Nhưng ông chẳng màng ăn uống, tay cứ run lẩy bẩy khiến ly sữa sóng sánh tràn cả ra ngoài.

“Bác đọc được tin trên tờ Chicago,” ông nói. “Trên tờ Chicago đăng hết mọi chuyện. Thế là bác lên đường ngay.”

“Cháu không biết làm sao để báo tin cho bác.”

Đôi mắt ông vô hồn, đảo lơ láo khắp căn phòng.

“Kẻ đó bị điên rồi,” ông nói. “Chắc chắn hắn ta bị điên.”

“Bác uống chút cà phê nhé?” tôi nài nỉ.

“Bác không cần gì đâu. Bác ổn rồi, cậu-”

“Carraway ạ.”

“À, bác ổn rồi. Họ để Jimmy nhà bác nằm ở đâu?”

Tôi đưa ông sang phòng khách, nơi thi hài con trai ông đang quàn tại đó, rồi để ông lại một mình. Có mấy cậu nhóc tò mò đã lẻn lên thềm nhà, thò đầu dòm ngó vào trong sảnh; phải đến khi tôi cho biết người vừa tới là ai, bọn chúng mới chịu miễn cưỡng tản đi.

Một lát sau, bác Gatz hé cửa bước ra. Miệng ông hơi há, gương mặt ửng đỏ, đôi mắt ứa ra vài giọt lệ mồ côi tuôn rơi không đúng lúc. Ở cái tuổi của ông, cái chết chẳng còn là nỗi kinh hoàng tột độ nữa. Giờ đây, khi đưa mắt nhìn quanh, lần đầu tiên chứng kiến sự bề thế, tráng lệ của sảnh đường cùng hàng loạt những gian phòng rộng lớn nối tiếp nhau vô tận, nỗi bi thương trong ông dần hòa lẫn với niềm tự hào đầy kính sợ. Tôi dìu ông lên một phòng ngủ trên gác. Trong lúc ông cởi áo khoác và áo gi-lê, tôi báo cho ông hay mọi việc lo liệu đã được tạm hoãn để chờ ông tới.

“Cháu không rõ ý bác ra sao, thưa bác Gatsby-”

“Bác là Gatz.”

“-Dạ bác Gatz. Cháu nghĩ có lẽ bác muốn đưa thi hài anh ấy về miền Tây.”

Ông lão lắc đầu.

“Jimmy lúc nào cũng thích sống ở miền Đông hơn. Nó đã tạo dựng được cơ đồ tại miền Đông mà. Cậu là bạn của con trai bác hả, cậu-?”

“Chúng cháu là bạn thân ạ.”

“Cậu biết đấy, một tương lai xán lạn đang chờ nó phía trước. Dù chỉ mới là một thanh niên trẻ tuổi, nhưng nó có một bộ óc phi phàm ở trong này.”

Ông lão tự hào gõ gõ ngón tay lên đầu mình, và tôi gật gù đồng tình.

“Giá như còn sống, chắc chắn nó sẽ trở thành một bậc vĩ nhân. Một con người kiệt xuất như James J. Hill1 vậy. Nó sẽ góp phần kiến thiết đất nước này.”

“Đúng thế ạ,” tôi đáp, lòng ngập ngừng, lúng túng.

Ông vụng về lôi tấm khăn trải giường thêu, cố kéo nó ra, rồi ngả lưng xuống với một tư thế cứng đơ-và chìm vào giấc ngủ gần như ngay tức khắc.

Đêm hôm đó, có một người gọi điện tới. Giọng anh ta nghe đầy vẻ hốt hoảng, một mực vặn hỏi xem tôi là ai rồi mới chịu xưng danh.

“Tôi là Carraway đây,” tôi đáp.

“Ồ!” Đầu dây bên kia nghe chừng thở phào nhẹ nhõm. “Klipspringer đây.”

Tôi cũng cảm thấy nhẹ nhõm lây, bởi điều đó dường như nhen nhóm hy vọng sẽ có thêm một người bạn nữa đến viếng trước mộ Gatsby. Không muốn chuyện này rùm beng lên mặt báo để rồi thu hút đám đông hiếu kỳ, tôi đành tự tay gọi điện thông báo cho một vài người. Quả tình tìm họ rất khó.

“Ngày mai sẽ cử hành tang lễ,” tôi báo tin. “Ba giờ chiều, ngay tại nhà này. Phiền anh chuyển lời giúp tới những ai quan tâm nhé.”

“Ồ, tôi sẽ báo,” anh ta vội vã cướp lời. “Đương nhiên là tôi chẳng có cơ hội gặp ai cả, nhưng nếu rủi có gặp thì tôi sẽ nói.”

Cái giọng điệu ấy khiến tôi bắt đầu sinh nghi.

“Chắc chắn anh cũng đến chứ.”

“À, chắc chắn là tôi sẽ cố gắng thu xếp. Thật ra tôi gọi là muốn hỏi-”

“Khoan đã,” tôi chặn ngang. “Sao anh không khẳng định luôn là anh sẽ đến?”

“À, thú thực là-sự tình là tôi đang nán lại với vài người bạn trên Greenwich, và họ rất muốn tôi ở lại cùng họ vào ngày mai. Thật ra thì có một buổi dã ngoại hay đại loại thế. Đương nhiên tôi sẽ cố hết sức để có mặt.”

Không kiềm chế nổi, tôi buột miệng thốt lên một tiếng “Hả!”. Chắc mẩm anh ta đã nghe thấy, vì anh ta vội vàng phân trần trong nỗi bồn chồn:

“Chuyện tôi muốn hỏi ban nãy là về đôi giày tôi vô tình bỏ quên ở đó. Liệu có phiền quá không nếu anh nhờ quản gia gửi lại cho tôi. Anh thấy đấy, đó là đôi giày tennis, không có nó thì tôi cũng hơi bất tiện. Địa chỉ của tôi thì cứ gửi qua B. F.-”

Tôi dập máy ngang, chẳng thèm nghe nốt đoạn tên còn lại.

Sau đó, tôi trào dâng một nỗi hổ thẹn thay cho Gatsby. Một kẻ mang danh quý ông mà tôi vừa gọi điện lại ngấm ngầm ngụ ý rằng cái kết này là do Gatsby tự chuốc lấy. Tuy nhiên, đó là lỗi của tôi. Lẽ ra tôi phải biết điều hơn thay vì đi gọi cho một kẻ thường xuyên mượn rượu của Gatsby để thêm phần can đảm mà cười nhạo anh một cách cay độc nhất.

Buổi sáng hôm diễn ra tang lễ, tôi lên New York để tìm gặp Meyer Wolfshiem. Có vẻ như tôi không còn cách nào khác để liên lạc với ông ta. Theo lời chỉ dẫn của cậu bé bấm thang máy, tôi đẩy cánh cửa có đề dòng chữ “Công ty Cổ phần Swastika”. Thoạt nhìn, bên trong vắng tanh không một bóng người. Nhưng sau mấy tiếng “xin chào” gọi vóng vào trong vô vọng, một trận cãi vã chợt nổ ra ngay sau tấm vách ngăn. Ngay sau đó, từ cánh cửa bên trong, một cô gái Do Thái xinh đẹp bước ra, ném về phía tôi cái nhìn dò xét đầy thù địch bằng đôi mắt đen láy.

“Không có ai ở nhà đâu,” cô ta lạnh lùng. “Ông Wolfshiem đi Chicago rồi.”

Hiển nhiên nửa đầu câu nói là dối trá, bởi đang có ai đó huýt sáo bài “The Rosary” một cách lạc điệu ở ngay bên trong.

“Làm ơn báo lại có ông Carraway muốn gặp ông ấy.”

“Tôi đâu thể gọi ông ấy từ Chicago về đây được, đúng không?”

Đúng lúc đó, từ phía bên kia cánh cửa vọng ra một tiếng gọi “Stella!”. Cái giọng không lẫn vào đâu được của Wolfshiem.

“Cứ để lại tên trên bàn,” cô ta nhanh nhảu lấp liếm. “Khi nào ông ấy về tôi sẽ đưa.”

“Nhưng tôi biết ông ấy đang ở trong đó mà.”

Cô ta bước vội về phía tôi, phẫn nộ chống hai tay lên hông.

“Đám thanh niên các người tưởng muốn xông vào đây lúc nào cũng được à,” cô ta the thé mắng mỏ. “Chúng tôi phát ốm và chán ngấy cái cảnh này rồi. Khi tôi đã nói ông ấy đang ở Chicago, thì có nghĩa là ông ấy đang ở Chi-ca-go.”

Tôi bèn nhắc đến cái tên Gatsby.

“Ồ-ồ!” Cô ta đưa mắt nhìn tôi thêm một lượt. “Ông có thể-Tên ông là gì ấy nhỉ?”

Cô ta biến mất dạng. Một lát sau, Meyer Wolfshiem trang nghiêm xuất hiện trước ngưỡng cửa, giang rộng cả hai tay đón lấy tôi. Ông ta kéo tôi vào văn phòng, cất cái giọng điệu thành kính để giãi bày rằng đây quả là khoảng thời gian đau thương đối với tất cả chúng ta, rồi lịch sự mời tôi một điếu xì gà.

“Ký ức của tôi lại ngược về cái ngày đầu tiên tôi gặp cậu ấy,” ông ta kể. “Một vị thiếu tá trẻ vừa giải ngũ, mang trên mình đầy rẫy huân chương chiến công. Cậu ta túng quẫn đến độ chẳng sắm nổi vài bộ đồ tử tế, đành phải vận bộ quân phục mãi. Lần đầu tôi chạm mặt là khi cậu ta bước vào quán bi-da của Winebrenner trên Phố 43 để xin việc. Cậu ta đã nhịn đói suốt mấy ngày trời. ‘Lại đây ăn trưa với tôi,’ tôi gọi. Cậu ta ngấu nghiến sạch bách số thức ăn trị giá hơn bốn đô-la chỉ vỏn vẹn trong nửa giờ đồng hồ.”

“Chính ông đã dẫn dắt anh ấy bước vào con đường kinh doanh sao?” tôi tò mò.

“Dẫn dắt ư! Là tôi đã tạo ra cậu ta đấy.”

“Ồ.”

“Tôi đã nhào nặn cậu ta từ con số không, lôi cậu ta lên ngay từ dưới đáy xã hội. Tôi nhận ra ngay đó là một gã thanh niên sáng sủa, lịch thiệp, và khi cậu ta tự xưng từng theo học ở Oggsford, tôi biết mình có thể trọng dụng con người này. Tôi đưa cậu ta vào Quân đoàn Mỹ2, nơi cậu ta từng nắm giữ vị thế cao. Cậu ta lập tức hoàn thành trót lọt vài phi vụ cho một vị khách của tôi trên Albany. Trong mọi việc, chúng tôi đã gắn bó khăng khít với nhau”-ông ta giơ hai ngón tay phình to lên-“như hình với bóng vậy.”

Tôi thầm tự hỏi liệu cái sự hợp tác ấy có bao gồm cả phi vụ dàn xếp tỷ số giải bóng chày World Series hồi năm 19193 hay không.

“Bây giờ anh ấy đã mất,” một lúc sau tôi lên tiếng. “Ông là người bạn thân thiết nhất, thế nên tôi biết ông sẽ muốn đến dự tang lễ của anh ấy vào chiều nay.”

“Tôi rất muốn đến.”

“Vậy thì, ông hãy đến đi.”

Mấy sợi lông mũi của ông ta khẽ rung lên. Lúc ông ta lắc đầu, đôi mắt đã bắt đầu ngấn lệ.

“Tôi không thể-Tôi không thể dính líu vào chuyện này được,” ông ta nói.

“Chẳng có gì để phải dính líu cả. Mọi chuyện đã kết thúc rồi mà.”

“Khi một người bị giết hại, tôi không bao giờ muốn dính líu dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi luôn chọn cách đứng ngoài cuộc. Hồi tôi còn trẻ, mọi chuyện lại khác-nếu một người anh em của tôi nằm xuống, bất kể vì lý do gì, tôi cũng sẽ theo họ đi đến tận cùng. Cậu có thể chê cười tôi là kẻ ủy mị, nhưng tôi nói thật lòng đấy-cho đến tận phút cuối cùng.”

Nhận ra ông ta đã hạ quyết tâm không đến vì một lý do riêng nào đó, tôi bèn đứng dậy.

“Cậu từng học đại học à?” ông ta bất chợt hỏi.

Trong thoáng chốc, tôi tưởng ông ta lại định mồi chài một “phi vụ kết nối”, nhưng ông ta chỉ gật đầu rồi đưa tay ra bắt.

“Chúng ta hãy học cách trân trọng tình bạn khi người ta còn sống, chứ đừng đợi đến khi người ta đã khuất,” ông ta gợi ý. “Sau đó, quy tắc sống của tôi là phó mặc mọi chuyện.”

Lúc tôi bước ra khỏi văn phòng của ông ta, bầu trời đã tối sầm. Tôi lội ngược về West Egg giữa màn mưa bụi lất phất. Thay quần áo xong xuôi, tôi đi sang nhà bên cạnh. Bác Gatz đang đi tới đi lui ngoài sảnh, vẻ mặt đầy phấn khích. Niềm tự hào về cậu con trai cùng khối tài sản đồ sộ của anh trong ông cứ lớn dần lên, và giờ đây ông đang háo hức muốn cho tôi xem một thứ.

“Jimmy gửi cho bác bức ảnh này.” Ông run rẩy móc ví ra. “Cậu nhìn này.”

Đó là bức ảnh chụp ngôi nhà. Bốn góc ảnh đã sờn rách, bám đầy bụi bẩn vì qua tay cơ man nào là người. Ông háo hức trỏ cho tôi xem từng chi tiết. “Nhìn này!” ông reo lên, rồi kiếm tìm một ánh mắt ngưỡng mộ từ tôi. Ông đã đem bức ảnh này ra khoe nhiều đến mức, tôi có cảm giác giờ đây đối với ông, tấm ảnh ấy còn chân thực hơn cả chính ngôi nhà.

“Jimmy đã gửi nó cho bác. Bác thấy đây là một bức ảnh rất đẹp. Nó lột tả được mọi thứ.”

“Đẹp lắm ạ. Gần đây bác có gặp anh ấy không?”

“Nó về thăm bác cách đây hai năm, rồi mua cho bác căn nhà bác đang ở bây giờ. Tất nhiên là gia đình đã tan nát kể từ lúc nó bỏ nhà ra đi, nhưng giờ thì bác hiểu nó có lý do để làm thế. Nó biết trước mình sẽ có một tương lai xán lạn. Và từ dạo làm ăn khấm khá, nó đối xử vô cùng hào phóng với bác.”

Ông lão có vẻ chần chừ chưa muốn cất bức ảnh đi. Ông cứ lưu luyến giữ nó trước mặt tôi thêm một phút nữa. Rồi ông cất ví lại, móc từ trong túi ra một cuốn sách cũ mềm, rách nát mang tựa đề Hopalong Cassidy4.

“Cậu nhìn này, đây là cuốn sách của nó hồi còn bé. Cậu cứ xem thì biết.”

Ông mở trang bìa sau rồi xoay lại cho tôi xem. Trên trang gác trần cuối cùng có in dòng chữ thời gian biểu, và mốc ngày 12 tháng 9 năm 1906. Còn bên dưới là:

Ngủ dậy 6:00 sáng
Tập tạ và leo tường 6:15⁠-⁠6:30
Học về điện lực, v.v... 7:15⁠-⁠8:15
Làm việc 8:30⁠-⁠4:30 chiều
Chơi bóng chày và thể thao 4:30⁠-⁠5:00
Luyện tập hùng biện, phong thái và cách đạt được nó 5:00⁠-⁠6:00
Nghiên cứu những phát minh cần thiết 7:00⁠-⁠9:00

Quyết tâm chung

- Không lãng phí thời gian ở Shafters hay [một cái tên không thể đọc được]

- Không hút thuốc hay nhai thuốc lá nữa.

- Tắm hai ngày một lần

- Đọc một cuốn sách hoặc tạp chí mở mang kiến thức mỗi tuần

- Tiết kiệm $5.00 [bị gạch bỏ] $3.00 mỗi tuần

- Đối xử tốt hơn với cha mẹ

“Bác vô tình tìm lại được cuốn sách này,” ông lão nói. “Cậu xem đấy, đúng không?”

“Đúng là thế ạ.”

“Jimmy chắc chắn sẽ còn tiến xa. Nó lúc nào cũng lập ra những bản quyết tâm như thế này hoặc đại loại vậy. Cậu có để ý những gì nó viết về việc mở mang đầu óc không? Khoản này thì nó luôn tuyệt vời. Nó từng bảo bác ăn uống như một con lợn, và bác đã tẩn nó một trận vì chuyện đó.”

Ông miễn cưỡng gấp cuốn sách lại, không quên đọc to từng mục rồi háo hức nhìn tôi. Tôi nghĩ bụng ông có phần trông đợi tôi sẽ chép lại cái danh sách ấy để dùng cho bản thân.

Khoảng chừng ba giờ, vị mục sư phái Lutheran5 từ Flushing đến nơi. Tôi bắt đầu đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ một cách vô thức, ngóng chờ những chiếc xe khác. Bác Gatz cũng vậy. Thế nhưng thời gian cứ thế trôi đi, đám người hầu lần lượt kéo vào, chôn chân đứng đợi ở sảnh. Đôi mắt ông lão bắt đầu chớp chớp đầy âu lo, ông lầm bầm càu nhàu về cơn mưa bằng một giọng điệu bồn chồn, thảng thốt. Vị mục sư đã liếc nhìn đồng hồ vài lần, tôi đành kéo ông ta ra một góc, khẩn khoản xin ông ta nán lại thêm nửa giờ nữa. Nhưng mọi sự chờ đợi đều vô ích. Chẳng có lấy một ai đến dự.


Khoảng năm giờ chiều, đoàn xe ba chiếc của chúng tôi đến nghĩa trang. Tất cả dừng lại dưới cơn mưa rả rích bên cổng-đi đầu là một cỗ xe tang đen đặc và ướt sũng; tiếp đến là bác Gatz, vị mục sư và tôi trong chiếc limousine; và ngay sau đó là bốn năm người hầu cùng anh đưa thư vùng West Egg, ngồi chen chúc trong chiếc xe hòm của Gatsby. Ai nấy đều ướt lướt thướt. Khi chúng tôi vừa lách qua cổng để vào nghĩa trang, tôi chợt nghe thấy tiếng thắng xe, rồi tiếng bước chân ai đó đang lội bì bõm, vội vã đuổi theo chúng tôi trên mặt đất sũng nước. Tôi ngoái đầu nhìn lại. Đó chính là người đàn ông đeo cặp kính mắt cú, người mà tôi từng bắt gặp đang đứng sững sờ trước những cuốn sách của Gatsby trong thư viện vào một đêm của ba tháng về trước.

Kể từ dạo ấy, tôi chưa từng gặp lại ông ta. Tôi chẳng hiểu làm cách nào ông ta lại biết về đám tang này, hay thậm chí là làm sao ông ta biết được tên của Gatsby. Mưa xối xả tuôn trên cặp kính dày cộp, ông ta đành phải tháo ra, cẩn thận lau chùi để nhìn cho rõ tấm bạt bảo vệ đang dần được kéo ra khỏi huyệt mộ của Gatsby.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi cố gắng nghĩ về Gatsby, nhưng anh dường như đã trôi dạt đến một nơi nào đó quá đỗi xa xôi. Trong tâm trí tôi lúc này, không hề vương chút oán giận, chỉ đọng lại một ý nghĩ miên man rằng Daisy đã không gửi đến dù chỉ một lời nhắn nhủ hay một cành hoa. Tôi loáng thoáng nghe ai đó lầm bầm: “Phước cho người chết khi có mưa rơi,” và rồi người đàn ông mắt cú cất tiếng: “Amen,” bằng một giọng đầy dõng dạc.

Chúng tôi rảo bước thật nhanh dưới màn mưa trắng xóa để quay về phía những chiếc xe. Người đàn ông mắt cú bắt chuyện với tôi ngay bên cổng.

“Tôi đã không thể đến tận nhà được,” ông ta bùi ngùi cất lời.

“Những người khác cũng vậy thôi.”

“Trời đất ơi!” Ông ta giật bắn mình. “Thật sao! Hàng trăm người từng kéo đến đó cơ mà.”

Ông ta lại tháo kính ra, lóng ngóng lau đi lau lại cả mặt trong lẫn mặt ngoài.

“Gã khốn khổ,” ông ta thì thầm.

Một trong những ký ức sống động nhất đời tôi là những chuyến tàu trở về miền Tây từ trường dự bị, và sau này là từ trường đại học, mỗi dịp Giáng sinh. Những ai đi xa hơn Chicago thường tụ tập tại Nhà ga Union tối tăm, nhuốm màu xưa cũ, vào lúc sáu giờ tối một ngày tháng Mười Hai. Ở đó, cùng vài người bạn trọ học tại Chicago, những kẻ đã sớm đắm chìm vào không khí hội hè của kỳ nghỉ, chúng tôi trao nhau những lời tạm biệt vội vã. Tôi vẫn nhớ những chiếc áo khoác lông thú của các cô gái trở về từ hết trường nữ sinh này đến trường nữ sinh khác, tiếng ríu rít trò chuyện phả ra thành những luồng hơi trắng lạnh toát, những cánh tay vẫy ríu rít trên đầu khi tình cờ bắt gặp người quen cũ. Và cả những lời so dò giấy mời rôm rả: “Cậu có đến nhà Ordway không? Nhà Hersey thì sao? Còn nhà Schultz?” xen lẫn trong những tấm vé dài màu xanh lục được kẹp chặt trong bàn tay đeo găng ấm áp. Và rồi, cuối cùng là những toa xe màu vàng xỉn của tuyến đường sắt Chicago, Milwaukee và St. Paul, nằm ngóng chờ bên những đường ray cạnh nhà ga, trông rạng rỡ và vui tươi như chính lễ Giáng sinh vậy.

Khi chúng tôi lao vút vào màn đêm mùa đông, và những bông tuyết thực sự - tuyết của riêng chúng tôi - bắt đầu lấp lánh qua những ô cửa sổ và trải dài bên ngoài, lúc những ánh đèn le lói của các nhà ga nhỏ bé xứ Wisconsin vụt qua, một luồng sinh khí hoang dã, sắc lạnh chợt ùa vào không trung. Chúng tôi hít một hơi thật sâu khi từ phòng ăn bước về qua những hành lang buốt giá, chợt nhận thức sâu sắc về sự đồng điệu giữa mình và vùng đất này trong một giờ đồng hồ kỳ lạ, ngay trước khi chúng tôi lại hòa tan vào nó đến mức chẳng thể nào tách biệt được nữa.

Đó là miền Trung Tây của tôi - không phải là những vựa lúa mì, không phải những thảo nguyên mênh mông, hay những thị trấn của người Thụy Điển bị thời gian bỏ quên, mà là những chuyến tàu trở về đong đầy nhịp đập hồi hộp của tuổi trẻ. Là những ngọn đèn đường và tiếng chuông xe trượt tuyết trong bóng tối giá lạnh, là bóng của những vòng nguyệt quế nhựa rọi qua những ô cửa sổ, hắt ánh đèn vàng xuống nền tuyết trắng. Tôi vốn là một phần của nơi đó, mang đôi chút trang nghiêm bởi cảm giác về những mùa đông dằng dặc ấy, lại có chút tự mãn vì được lớn lên trong ngôi nhà họ Carraway, ở một thành phố nơi mà qua nhiều thập kỷ, các ngôi nhà vẫn được gọi bằng tên của từng dòng họ. Giờ đây tôi mới chợt nhận ra rằng, rốt cuộc, đây vẫn là một câu chuyện của miền Tây - Tom và Gatsby, Daisy, Jordan và tôi, tất cả chúng tôi đều là người miền Tây. Và có lẽ, chúng tôi có chung một khiếm khuyết nào đó, một thứ rạn nứt chung khiến chúng tôi vĩnh viễn không thể âm thầm thích nghi với cuộc sống ở miền Đông.

Ngay cả khi miền Đông khiến tôi say mê nhất, ngay cả khi tôi nhận thức sâu sắc nhất về sự hoa lệ vượt trội của nó so với những thị trấn buồn tẻ, ngổn ngang và phình to bên kia bờ sông Ohio - với những cuộc thẩm tra dài dằng dặc chẳng chừa một ai ngoài trẻ con và những người quá già - thì ngay cả lúc ấy, đối với tôi, miền Đông vẫn luôn mang một vẻ gì đó méo mó. Đặc biệt là West Egg, nơi vẫn thường hiện diện trong những giấc mơ kỳ dị nhất của tôi. Tôi thấy nó hệt như một bức tranh cảnh đêm của El Greco6: hàng trăm ngôi nhà, vừa quy chuẩn lại vừa kỳ dị, đang thu mình dưới một bầu trời xám xịt, trĩu nặng và một vầng trăng xỉn màu. Ở phía trước, bốn người đàn ông nghiêm trang trong bộ lễ phục đang khiêng một chiếc cáng dọc theo vỉa hè, trên cáng là một người phụ nữ say khướt mặc chiếc váy dạ hội màu trắng. Bàn tay cô thõng xuống một bên, lấp lánh thứ ánh sáng lạnh lẽo của những món đồ trang sức. Bọn họ trang nghiêm rẽ vào một ngôi nhà - nhầm nhà. Nhưng chẳng ai biết tên người phụ nữ, và cũng chẳng ai bận tâm.

Sau cái chết của Gatsby, miền Đông luôn ám ảnh tôi như thế, méo mó đến mức vượt ngoài khả năng điều chỉnh của đôi mắt tôi. Vậy nên, khi khói xanh từ những chiếc lá giòn tan bắt đầu bay lên trong không trung và gió thổi tung mớ quần áo ướt cứng đơ trên dây phơi, tôi quyết định trở về nhà.

Có một việc cần phải làm trước khi rời đi, một việc khó xử, khó chịu mà lẽ ra cứ bỏ qua thì tốt hơn. Nhưng tôi muốn thu xếp mọi thứ cho ổn thỏa, chứ không chỉ phó mặc cho đại dương dễ dãi và thờ ơ cuốn phăng đi rác rưởi của mình. Tôi đi gặp Jordan Baker và nói chuyện quanh co về những gì đã xảy ra với chúng tôi, và những gì đã xảy đến với tôi sau đó. Còn cô, cô cứ nằm im lìm lắng nghe trên một chiếc ghế lớn.

Lúc ấy, cô đang mặc đồ chơi gôn, và tôi nhớ mình đã nghĩ trông cô giống hệt một hình minh họa tuyệt đẹp, cằm hơi hếch lên vẻ tự đắc, mái tóc mang màu lá thu, còn gương mặt mang sắc nâu y hệt chiếc găng tay hở ngón vắt trên đầu gối. Khi tôi nói xong, cô chẳng bình luận gì, chỉ bảo với tôi rằng cô đã đính hôn với người khác. Tôi không tin, bởi lẽ chỉ cần cô gật đầu, có đến vài người sẵn sàng cưới cô, nhưng tôi vẫn vờ tỏ ra ngạc nhiên. Chỉ trong một khoảnh khắc, tôi tự hỏi không biết mình có đang phạm sai lầm hay không, rồi tôi nhanh chóng dứt khoát suy nghĩ lại mọi chuyện, đứng dậy và nói lời tạm biệt.

“Dù sao thì anh cũng đã bỏ rơi tôi,” Jordan bất chợt lên tiếng. “Anh bỏ rơi tôi qua điện thoại. Giờ tôi chả quan tâm gì đến anh nữa, nhưng đó là một trải nghiệm mới đối với tôi, và tôi đã thấy hơi váng vất trong một chốc.”

Chúng tôi bắt tay.

“Ồ, và anh có nhớ,” cô nói thêm, “một cuộc trò chuyện chúng ta từng có về chuyện lái xe không?”

“Sao cơ? Tôi không nhớ chính xác lắm.”

“Anh từng nói rằng một tay lái tồi chỉ an toàn cho đến khi cô ta gặp một tay lái tồi khác đúng không? Chà, tôi đã gặp một tay lái tồi khác, phải không? Ý tôi là, do tôi đã bất cẩn đưa ra một phán đoán sai lầm. Tôi từng nghĩ anh là một người khá trung thực và thẳng thắn. Tôi cứ nghĩ đó là niềm kiêu hãnh thầm kín của anh.”

“Tôi ba mươi rồi,” tôi đáp. “Tôi đã quá già để tự dối lòng và gọi đó là danh dự sau ngần ấy năm.”

Cô không trả lời. Tức giận, lại nửa vời yêu cô, và vô cùng hối tiếc, tôi quay bước rời đi.


Một buổi chiều cuối tháng Mười, tôi tình cờ gặp Tom Buchanan. Anh ta đang bước đi phía trước tôi dọc theo Đại lộ số 5, dáng vẻ vẫn đầy cảnh giác và hung hăng, hai tay hơi dang ra như để gạt phăng mọi chướng ngại, cái đầu ngoảnh sang hai bên một cách dứt khoát, vừa vặn với ánh nhìn bồn chồn không ngơi nghỉ. Ngay khi tôi vừa cố bước chậm lại để tránh mặt, anh ta bỗng khựng lại, nhíu mày đăm đăm nhìn vào cửa sổ của một tiệm trang sức. Đột nhiên, anh ta nhìn thấy tôi, liền quay ngoắt lại và chìa tay ra.

“Sao thế, Nick? Cậu định không bắt tay tôi à?”

“Đúng thế. Anh thừa biết tôi nghĩ gì về anh mà.”

“Cậu điên rồi, Nick,” anh ta bô bô đáp trả. “Điên thật rồi. Tôi chẳng hiểu cậu bị làm sao nữa.”

“Tom,” tôi chất vấn, “anh đã nói gì với Wilson vào buổi chiều hôm đó?”

Anh ta nhìn chằm chằm vào tôi không chớp mắt, và tôi biết mình đã đoán đúng về những khoảng thời gian mất tích của anh ta. Tôi toan quay bước, nhưng anh ta bám theo và túm chặt lấy tay tôi.

“Tôi đã nói cho hắn nghe sự thật,” anh ta phân trần. “Hắn đến ngay trước cửa đúng lúc chúng tôi đang rục rịch rời đi. Và khi tôi sai người xuống báo rằng chúng tôi không có nhà, hắn đã chực xông thẳng lên lầu. Hắn đủ điên để giết tôi nếu tôi không nói cho hắn biết ai là chủ nhân của chiếc xe đó. Tay hắn cứ khư khư đặt lên khẩu súng lục trong túi suốt thời gian loanh quanh trong nhà-” Anh ta khựng lại, vẻ ngang ngược xấc xược lại nổi lên. “Nếu tôi nói cho hắn biết thì đã sao cơ chứ? Gã đó đáng bị như vậy. Hắn đã ném cát vào mắt cậu y hệt như những gì hắn đã làm với Daisy, đúng là một gã cứng đầu ngạo mạn. Hắn đã cán qua Myrtle như thể cán qua một con chó mà chẳng thèm mảy may dừng lại.”

Tôi cạn lời, không thể thốt lên nổi một sự thật phũ phàng rằng mọi chuyện hoàn toàn không phải như vậy.

“Và nếu cậu nghĩ tôi không phải chịu đựng nỗi đau của riêng mình thì-nghe này, khi tôi đến trả lại căn hộ đó và nhìn thấy cái hộp bánh quy cho chó chết tiệt nằm chễm chệ trên tủ búp-phê, tôi đã ngồi phịch xuống và khóc tu tu như một đứa trẻ. Lạy Chúa, chuyện đó mới kinh khủng làm sao-”

Tôi chẳng thể tha thứ, cũng chẳng thể nào có chút thiện cảm với anh ta, nhưng tôi chợt nhận ra rằng, trong tâm trí anh ta, những gì anh ta làm là hoàn toàn chính đáng. Tất cả chỉ là một mớ hỗn độn vô tâm. Họ là những kẻ tàn nhẫn và vô trách nhiệm, Tom và Daisy-họ mặc sức đập nát đồ đạc, nghiền nát con người, rồi lại rút êm vào đống tiền bạc hay cái sự vô cảm bao la của mình, hay bất cứ thứ gì đã trói buộc họ lại với nhau, mặc kệ kẻ khác gồng mình thu dọn đống đổ nát do chính họ gây ra…

Tôi đành bắt tay anh ta; sẽ thật nực cười nếu từ chối, bởi tôi chợt cảm thấy như mình đang đứng cãi cọ với một đứa trẻ con. Rồi anh ta bước vào tiệm trang sức để tậu một chuỗi ngọc trai-hoặc có lẽ chỉ là một cặp khuy măng sét-bỏ lại phía sau mãi mãi cái sự đa cảm có phần quê mùa của tôi.


Dinh thự của Gatsby vẫn bỏ trống khi tôi rời đi-cỏ trên thảm cỏ nhà anh đã mọc hoang dại hệt như vườn nhà tôi. Có một lão tài xế taxi trong làng, không bao giờ chở khách lướt qua cổng chính mà không nán lại một phút để chỉ trỏ vào trong; có lẽ chính ông ta là người đã chở Daisy và Gatsby qua East Egg vào cái đêm định mệnh ấy, và cũng có lẽ, ông ta đã tự thêu dệt nên một giai thoại của riêng mình về tất thảy những gì đã xảy ra. Tôi chẳng bận tâm lắng nghe và luôn tìm cách lẩn tránh ông ta mỗi khi bước xuống tàu.

Tôi vùi mình vào những đêm thứ Bảy ở New York, bởi những bữa tiệc rực rỡ, phồn hoa của anh vẫn hiện lên quá đỗi sống động trong tâm trí tôi, đến mức tôi vẫn loáng thoáng nghe thấy tiếng nhạc và tiếng cười đùa râm ran không ngớt, vọng lại từ khu vườn nhà anh, với hình bóng những chiếc xe lượn tới lượn lui trên lối mòn. Thậm chí có một đêm, tôi đinh ninh mình đã nghe thấy tiếng động cơ của một chiếc xe thực sự, và thấy ánh đèn pha của nó le lói dừng lại trước thềm nhà anh. Nhưng tôi chẳng buồn dò xét. Rất có thể đó chỉ là một vị khách muộn màng, vừa lặn lội trở về từ tận cùng trái đất và chẳng hề hay biết rằng tàn tiệc đã điểm.

Vào đêm cuối cùng, khi chiếc rương đã đóng chặt và chiếc xe hơi đã bán đứt cho ông chủ tiệm tạp hóa, tôi dạo bước qua và đưa mắt nhìn lại dinh thự khổng lồ, thất bại và lạc lõng đó một lần chót. Trên những bậc thềm trắng toát, một từ ngữ tục tĩu do một cậu nhóc nào đó dùng mảnh gạch ngoệch ngoạc vạch lên, hằn rõ dưới ánh trăng vằng vặc, và tôi đã cặm cụi xóa nó đi bằng cách miết mạnh đế giày chà xát xuống mặt đá. Rồi tôi thẩn thơ bước xuống bãi biển và buông mình nằm dài trên bãi cát.

Hầu hết những dinh thự bề thế dọc theo bờ biển nay đã cửa đóng then cài, và xung quanh gần như chẳng còn le lói ánh đèn nào, ngoại trừ vệt sáng mờ ảo, chập chờn của một chuyến phà băng qua Eo biển Sound. Và khi mặt trăng lên cao hơn, những tòa nhà chẳng còn chút ý nghĩa nào bắt đầu nhạt nhòa rồi tan biến vào hư không, cho đến khi tôi dần nhận thức được hòn đảo cổ kính từng một thời nở hoa trước con mắt ngỡ ngàng của những thủy thủ Hà Lan-một bầu vú tươi non, xanh mướt của thế giới mới. Những bóng cây đã lùi vào dĩ vãng, nhường chỗ cho dinh thự của Gatsby, từng một thời thì thầm những lời mơn trớn, đánh thức giấc mơ cuối cùng và vĩ đại nhất của nhân loại; bởi trong một khoảnh khắc đắm say phù du, con người hẳn đã phải nín thở trước dáng hình của lục địa này, bị cuốn vào một sự chiêm ngưỡng thẩm mỹ mà họ chưa từng hiểu thấu cũng chẳng hề khao khát, để rồi lần cuối cùng trong lịch sử loài người, họ được đối diện với một thứ gì đó thực sự xứng tầm với khả năng kinh ngạc của chính mình.

Và khi tôi ngồi đó, miên man suy tưởng về cái thế giới cũ kỹ, xa lạ ấy, tôi chợt nghĩ đến sự sững sờ của Gatsby trong lần đầu tiên anh nhìn thấy ánh sáng xanh nhấp nháy nơi cuối bến tàu nhà Daisy. Anh đã vượt qua một chặng đường dài đằng đẵng để đặt chân đến thảm cỏ xanh này, và giấc mơ của anh hẳn đã lấp lánh ở một khoảng cách gần đến mức anh tưởng chừng không thể nào đánh mất. Nhưng anh đâu biết rằng, giấc mơ ấy đã rớt lại phía sau lưng mình từ lúc nào, chìm khuất ở đâu đó tận chốn tăm tối bao la phía bên kia thành phố, nơi những cánh đồng hoang lạnh của nước cộng hòa đang cuộn mình trôi đi dưới màn đêm vô tận.

Gatsby đã trọn vẹn đặt niềm tin vào ánh sáng xanh, vào cái tương lai nồng nhiệt và rạo rực đang ngày một lùi xa trước mắt chúng ta qua từng năm tháng. Nó đã tuột khỏi tầm tay ta lúc đó, nhưng cũng chẳng hề hấn gì-ngày mai chúng ta sẽ lại chạy nhanh hơn, sải cánh tay vươn dài hơn nữa... Để rồi vào một buổi sáng đẹp trời nọ-

Thế là chúng ta cứ tiếp tục vung mái chèo, như những chiếc thuyền miệt mài rẽ sóng ngược dòng, không ngừng bị trôi dạt về cõi quá khứ xa xăm.



  1. James Jerome Hill (1838-1916), một ông trùm ngành đường sắt người Mỹ, người có công lớn xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa. Ông là biểu tượng của sự thành đạt và phát triển kinh tế vĩ đại của nước Mỹ đương thời. 

  2. Tổ chức (American Legion) của các cựu chiến binh Hoa Kỳ được thành lập năm 1919 sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, nhằm tương trợ và bảo vệ quyền lợi cho những người từng phục vụ trong quân đội. 

  3. Nhắc đến vụ bê bối có thật mang tên 'Black Sox Scandal' nổi tiếng trong lịch sử thể thao Mỹ, khi tám cầu thủ của đội bóng chày Chicago White Sox nhận hối lộ để cố tình thua trong loạt trận chung kết năm 1919. 

  4. Một nhân vật cao bồi hư cấu nổi tiếng trong văn học Mỹ thế kỷ 20, đại diện cho tinh thần phiêu lưu, dũng cảm và sự phóng khoáng của miền Tây hoang dã. 

  5. Giáo phái Lu-thơ (Lutheranism), một nhánh lớn của đạo Tin Lành. Phái này rất phổ biến ở khu vực Trung Tây nước Mỹ, nơi có nhiều người gốc Đức và Bắc Âu sinh sống. 

  6. Một họa sĩ lừng danh thời kỳ Phục hưng Tây Ban Nha (1541-1614). Tranh của ông thường mang phong cách u ám, với những hình khối bị kéo dài và màu sắc kịch tính, tạo ra cảm giác kỳ ảo như một cơn ác mộng.