CHƯƠNG VIII

Tôi không tài nào chợp mắt được suốt cả đêm; tiếng còi sương mù cứ rên rỉ không ngừng nghỉ trên eo biển, và tôi trằn trọc trong cảm giác nôn nao giữa thực tại lố bịch với những giấc mơ man rợ, đáng sợ. Gần sáng, tôi nghe thấy tiếng một chiếc taxi chạy dọc lên lối đi nhà Gatsby. Ngay lập tức, tôi nhảy khỏi giường và bắt đầu mặc quần áo-tôi cảm thấy mình có chuyện cần nói với anh, một chuyện cần cảnh báo anh, và đợi đến sáng thì sẽ quá muộn.

Băng qua bãi cỏ nhà anh, tôi thấy cửa trước vẫn mở toang và anh đang tựa lưng vào một chiếc bàn trong sảnh, trĩu nặng sự chán nản hoặc buồn ngủ.

“Không có chuyện gì xảy ra cả,” anh nói một cách nhợt nhạt. “Tôi đã đợi, và khoảng bốn giờ cô ấy đi đến cửa sổ, đứng đó một phút rồi tắt đèn.”

Ngôi nhà của anh chưa bao giờ trông to lớn đến thế đối với tôi như đêm đó, khi chúng tôi lùng sục khắp những căn phòng rộng lớn để tìm thuốc lá. Chúng tôi kéo sang một bên những tấm rèm khổng lồ giống như những gian lều, và lần mò dọc theo những mảng tường tối tăm để tìm công tắc điện-có lúc tôi ngã nhào vào những phím của một cây đàn piano ma quái, tạo ra một âm thanh dội lại vang vọng. Có một lượng bụi bặm khó hiểu ở khắp mọi nơi, và các căn phòng đều mang một mùi ẩm mốc, như thể chúng chưa được thông gió trong nhiều ngày liền. Tôi tìm thấy hộp đựng xì gà trên một chiếc bàn lạ lẫm, bên trong chỉ còn lại hai điếu thuốc khô khốc, cũ rích. Mở toang những cánh cửa sổ kiểu Pháp của phòng khách, chúng tôi ngồi hút thuốc, hướng mắt ra ngoài bóng tối bao la.

“Anh nên rời đi thôi,” tôi nói. “Rất có thể họ sẽ lần ra xe của anh đấy.”

“Rời đi bây giờ sao, anh bạn?”

“Đi đến Atlantic City một tuần, hoặc lên Montreal đi.”

Anh không hề đoái hoài đến điều đó. Anh không thể rời xa Daisy cho đến khi anh biết cô ấy định làm gì. Anh đang tuyệt vọng bám víu vào một niềm hy vọng cuối cùng nào đó và tôi không nỡ lòng kéo anh ra khỏi nó.

Chính trong đêm đó, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện kỳ lạ về thời trẻ của mình với Dan Cody-kể cho tôi nghe bởi lẽ cái vỏ bọc “Jay Gatsby” đã vỡ vụn như thủy tinh trước ác tâm sắt đá của Tom, và vở kịch bí mật dài dằng dặc ấy đã đi đến hồi kết. Tôi nghĩ giờ đây anh sẽ thừa nhận bất cứ điều gì, không chút dè dặt, nhưng anh lại chỉ muốn nói về Daisy.

Cô là cô gái “tử tế” đầu tiên mà anh từng quen biết. Trong nhiều vai trò không được tiết lộ, anh đã từng tiếp xúc với những người như vậy, nhưng luôn có một hàng rào kẽm gai vô hình ngăn cách. Anh thấy cô tỏa ra một sức hấp dẫn đầy phấn khích. Anh đến nhà cô, ban đầu là cùng các sĩ quan khác từ Trại Taylor, sau đó là đi một mình. Nó làm anh kinh ngạc-anh chưa bao giờ bước chân vào một ngôi nhà đẹp đến thế. Nhưng điều mang lại cho nơi đó một không khí mãnh liệt đến nghẹt thở, chính là việc Daisy sống ở đó-đối với cô, nơi ấy bình thường như chiếc lều ngoài trại đối với anh vậy. Có một sự bí ẩn chín muồi bao trùm, một gợi ý về những căn phòng ngủ trên lầu đẹp đẽ và mát mẻ hơn những phòng ngủ khác, về những cuộc vui rạng rỡ diễn ra dọc theo các hành lang, và về những mối tình lãng mạn không hề mốc meo hay bị cất đậy đi trong mùi oải hương mà luôn tươi mới, phập phồng nhịp thở và thoang thoảng hương thơm của những chiếc ô tô sáng bóng năm nay cùng những buổi khiêu vũ mà hoa vẫn chưa kịp tàn. Việc có nhiều người đàn ông đã từng yêu Daisy cũng làm anh kích thích-nó càng làm tăng giá trị của cô trong mắt anh. Anh cảm nhận được sự hiện diện của họ khắp ngôi nhà, lan tỏa trong không khí với những bóng hình và tiếng vọng của những cảm xúc vẫn còn mãnh liệt.

Nhưng anh biết rằng anh có mặt trong nhà Daisy là nhờ một sự tình cờ to lớn. Dù tương lai của anh với tư cách là Jay Gatsby có huy hoàng đến đâu, thì hiện tại anh chỉ là một chàng trai trẻ không một xu dính túi, không có quá khứ, và chiếc áo choàng vô hình từ bộ quân phục của anh có thể tuột khỏi vai bất cứ lúc nào. Vì vậy, anh đã tận dụng tối đa thời gian của mình. Anh lấy những gì anh có thể lấy, một cách ngấu nghiến và không ngần ngại-cuối cùng anh đã lấy Daisy vào một đêm tháng Mười tĩnh lặng, lấy cô vì anh không có quyền thực sự nào để chạm vào tay cô.

Lẽ ra anh có thể khinh bỉ chính mình, vì anh chắc chắn đã lấy cô bằng những lời dối trá. Ý tôi không phải là anh đã lợi dụng hàng triệu đô la ảo ảnh của mình, nhưng anh đã cố ý mang lại cho Daisy cảm giác an toàn; anh để cô tin rằng anh là một người có cùng đẳng cấp với cô-rằng anh hoàn toàn có khả năng chăm sóc cho cô. Thực tế, anh không có những phương tiện như vậy-anh không có một gia đình bề thế đứng sau lưng, và anh có thể bị thổi dạt đến bất cứ đâu trên thế giới theo ý thích bất chợt của một chính phủ vô cảm.

Nhưng anh không hề khinh bỉ bản thân và mọi chuyện đã không diễn ra như anh từng tưởng tượng. Có lẽ anh đã định lấy những gì có thể rồi rời đi-nhưng giờ đây anh nhận ra mình đã dấn thân vào một cuộc hành trình kiếm tìm Chén Thánh1. Anh biết Daisy là một người phi thường, nhưng anh không ngờ một cô gái “tử tế” có thể phi thường đến mức nào. Cô biến mất vào ngôi nhà sang trọng của mình, vào cuộc sống giàu có, viên mãn của mình, để lại cho Gatsby-chẳng có gì cả. Anh cảm thấy như mình đã kết hôn với cô, chỉ có thế thôi.

Khi họ gặp lại nhau hai ngày sau đó, chính Gatsby mới là người hụt hẫng, người mà bằng cách nào đó, bị phản bội. Mái hiên nhà cô bừng sáng vẻ xa hoa vương giả dưới ánh sao; lớp liễu gai của chiếc ghế dài kêu cọt kẹt một cách thời thượng khi cô quay về phía anh và anh hôn lên cái miệng tò mò, đáng yêu của cô. Cô đã bị cảm, và điều đó khiến giọng cô khàn hơn, quyến rũ hơn bao giờ hết, và Gatsby nhận thức một cách choáng ngợp về tuổi trẻ và sự bí ẩn mà sự giàu có giam cầm và gìn giữ, về sự tươi mới của những bộ quần áo, và về Daisy, lấp lánh như bạc, an toàn và kiêu hãnh đứng trên những cuộc đấu tranh nóng bỏng của người nghèo.


“Tôi không thể tả cho anh nghe tôi đã ngạc nhiên như thế nào khi phát hiện ra mình yêu cô ấy, anh bạn ạ. Thậm chí có lúc tôi còn mong cô ấy sẽ đá tôi, nhưng cô ấy không làm vậy, vì cô ấy cũng yêu tôi. Cô ấy nghĩ tôi biết nhiều thứ vì tôi biết những điều khác với cô ấy… Chà, tôi ở đó, trượt dài khỏi những tham vọng của mình, chìm đắm vào tình yêu ngày một sâu đậm, và đột nhiên tôi không còn bận tâm gì nữa. Làm những điều vĩ đại thì có ích lợi gì nếu tôi có thể có khoảng thời gian tuyệt vời hơn khi kể cho cô ấy nghe tôi dự định làm gì?”

Vào buổi chiều cuối cùng trước khi anh ra nước ngoài, anh ôm Daisy trong vòng tay một khoảng thời gian dài và tĩnh lặng. Đó là một ngày mùa thu lạnh giá, với ngọn lửa ấm áp trong phòng và đôi má cô ửng hồng. Thỉnh thoảng cô cử động và anh thay đổi tư thế cánh tay một chút, và có một lần anh hôn lên mái tóc đen bóng của cô. Buổi chiều đã khiến họ trở nên tĩnh lặng một lúc, như thể mang đến cho họ một kỷ niệm sâu sắc cho cuộc chia ly dài đằng đẵng mà ngày mai đã hứa hẹn. Họ chưa bao giờ gần gũi nhau hơn trong những tháng ngày yêu đương, chưa bao giờ giao tiếp sâu sắc với nhau hơn lúc cô lướt đôi môi lặng lẽ lên vai áo khoác của anh, hay khi anh chạm nhẹ vào những đầu ngón tay cô như thể cô đang say ngủ.


Anh đã thể hiện cực kỳ xuất sắc trong chiến tranh. Anh đã làm đại úy trước khi ra mặt trận, và sau các trận đánh ở Argonne2, anh được thăng hàm thiếu tá và chỉ huy đội súng máy của sư đoàn. Sau hiệp định đình chiến, anh cố gắng tìm mọi cách để trở về nhà, nhưng một sự phức tạp hay hiểu lầm nào đó đã đưa anh đến Oxford. Lúc này, anh đang lo lắng-có một sự tuyệt vọng đầy lo âu trong những bức thư của Daisy. Cô không hiểu tại sao anh không thể trở về. Cô đang cảm nhận áp lực của thế giới bên ngoài, và cô khao khát muốn gặp anh, muốn cảm nhận sự hiện diện của anh bên cạnh và được trấn an rằng rốt cuộc cô đang làm điều đúng đắn.

Bởi vì Daisy còn trẻ, và thế giới nhân tạo của cô thoang thoảng hương phong lan, sự hợm hĩnh vui vẻ, dễ chịu cùng những dàn nhạc định hình nhịp điệu cho cả một năm, tóm gọn nỗi buồn và sự khơi gợi của cuộc sống trong những giai điệu mới. Suốt đêm, tiếng saxophone than vãn bình luận vô vọng của bài “Beale Street Blues3” trong khi hàng trăm đôi giày khiêu vũ vàng và bạc lê bước trên lớp bụi lấp lánh. Vào buổi trà chiều ảm đạm, luôn có những căn phòng đập thình thịch không ngừng với cơn sốt êm ái, trầm thấp này, trong khi những khuôn mặt tươi tắn trôi dạt đây đó như những cánh hoa hồng bị những chiếc kèn buồn bã thổi quanh sàn.

Qua vũ trụ chạng vạng này, Daisy bắt đầu chuyển động trở lại cùng với mùa; đột nhiên cô lại có nửa tá cuộc hẹn mỗi ngày với nửa tá người đàn ông, và ngủ gật lúc bình minh với những hạt cườm và vải voan của chiếc váy dạ hội vướng vào những bông lan đang tàn trên sàn bên cạnh giường cô. Và trong suốt thời gian đó, một điều gì đó sâu thẳm bên trong cô đang kêu gào đòi hỏi một quyết định. Cô muốn cuộc đời mình được định hình ngay bây giờ, ngay lập tức-và quyết định đó phải được đưa ra bởi một thế lực nào đó-tình yêu, tiền bạc, tính thực tế không thể chối cãi-nằm ngay trong tầm tay.

Thế lực đó đã thành hình vào giữa mùa xuân với sự xuất hiện của Tom Buchanan. Có một sự đồ sộ lành mạnh về con người và vị thế của anh ta, và Daisy cảm thấy được tâng bốc. Chắc chắn đã có một sự giằng xé và một sự giải thoát nhất định. Bức thư đến tay Gatsby khi anh vẫn đang ở Oxford.


Bây giờ trời đã rạng sáng ở Long Island và chúng tôi đi mở những cánh cửa sổ còn lại ở tầng dưới, lấp đầy ngôi nhà bằng thứ ánh sáng chuyển dần từ xám sang vàng. Bóng của một cái cây đổ ập xuống lớp sương sớm và những con chim ma quái bắt đầu hót râm ran giữa những chiếc lá xanh. Có một sự chuyển động chậm rãi, dễ chịu trong không khí, hầu như không có gió, hứa hẹn một ngày mát mẻ, đáng yêu.

“Tôi không nghĩ cô ấy từng yêu hắn ta.” Gatsby quay lại từ cửa sổ và nhìn tôi với vẻ thách thức. “Anh phải nhớ, anh bạn ạ, cô ấy đã rất hoảng loạn chiều nay. Hắn ta nói với cô ấy những điều đó theo một cách khiến cô ấy khiếp sợ-làm cho có vẻ như tôi là một loại kẻ lừa đảo rẻ tiền. Và kết quả là cô ấy hầu như không biết mình đang nói gì.”

Anh ngồi xuống một cách ủ rũ.

“Tất nhiên, cô ấy có thể đã yêu hắn ta trong một phút, khi họ mới cưới nhau-và thậm chí lúc đó còn yêu tôi nhiều hơn, anh hiểu không?”

Đột nhiên anh thốt ra một nhận xét thật kỳ lạ.

“Dù sao đi nữa,” anh nói, “đó chỉ là chuyện cá nhân.”

Ta có thể hiểu được gì từ điều đó, ngoại trừ việc nghi ngờ một cường độ nào đó trong quan niệm của anh về mối tình này vốn không thể đo đếm được?

Anh trở về từ Pháp khi Tom và Daisy vẫn đang trong chuyến đi hưởng tuần trăng mật, và thực hiện một chuyến đi khốn khổ nhưng không thể cưỡng lại đến Louisville bằng chút tiền lương quân đội cuối cùng của mình. Anh ở lại đó một tuần, bước đi trên những con phố nơi bước chân của họ từng nhịp nhàng bên nhau qua những đêm tháng Mười một và thăm lại những nơi chốn xa xôi mà họ từng lái chiếc xe trắng của cô đến. Giống như ngôi nhà của Daisy luôn có vẻ bí ẩn và vui tươi hơn những ngôi nhà khác đối với anh, ý niệm của anh về chính thành phố này, ngay cả khi cô đã rời xa nó, cũng tràn ngập một vẻ đẹp u sầu.

Anh rời đi với cảm giác rằng nếu anh tìm kiếm kỹ hơn, anh có thể đã tìm thấy cô-rằng anh đang để lại cô phía sau. Chiếc xe lửa chạy ban ngày-bây giờ anh đã nhẵn túi-thật nóng bức. Anh bước ra khoang mở và ngồi xuống một chiếc ghế xếp, và nhà ga trôi tuột đi rồi mặt sau của những tòa nhà xa lạ lướt qua. Rồi ra đến những cánh đồng mùa xuân, nơi một chiếc xe điện màu vàng chạy đua với họ trong một phút, mang theo những người bên trong có thể đã từng nhìn thấy phép màu nhợt nhạt của khuôn mặt cô dọc theo con phố tình cờ nào đó.

Đường ray uốn cong và bây giờ nó đang đi xa khỏi mặt trời, khi vầng thái dương lặn xuống thấp hơn, dường như trải mình ra ban phước lành trên thành phố đang biến mất nơi cô đã từng hít thở. Anh tuyệt vọng dang tay ra như thể chỉ để tóm lấy một luồng không khí, để níu giữ lại một phần nhỏ của nơi mà cô đã làm cho trở nên đáng yêu đối với anh. Nhưng tất cả đang trôi qua quá nhanh so với đôi mắt nhòe lệ của anh và anh biết rằng anh đã đánh mất phần đó, phần tươi mới nhất và tốt đẹp nhất, mãi mãi.

Đã chín giờ khi chúng tôi ăn sáng xong và bước ra hiên. Đêm qua đã tạo ra một sự khác biệt rõ rệt về thời tiết và có một hương vị mùa thu phảng phất trong không khí. Người làm vườn, người cuối cùng trong số những người hầu cũ của Gatsby, bước đến chân cầu thang.

“Hôm nay tôi sẽ tháo nước hồ bơi, ngài Gatsby ạ. Lá sẽ bắt đầu rụng sớm thôi, và rồi đường ống sẽ lại gặp vấn đề.”

“Bác đừng làm hôm nay,” Gatsby trả lời. Anh quay sang tôi với vẻ có lỗi. “Anh biết không, anh bạn, tôi chưa từng sử dụng hồ bơi đó suốt cả mùa hè này?”

Tôi nhìn đồng hồ và đứng dậy.

“Mười hai phút nữa là đến chuyến tàu của tôi.”

Tôi không muốn vào thành phố. Tôi không có tâm trạng để làm việc tử tế, nhưng còn hơn thế nữa-tôi không muốn rời xa Gatsby. Tôi đã lỡ chuyến tàu đó, rồi một chuyến nữa, trước khi tôi có thể dứt mình ra khỏi anh.

“Tôi sẽ gọi cho anh,” tôi nói cuối cùng.

“Nhớ nhé, anh bạn.”

“Tôi sẽ gọi cho anh vào khoảng buổi trưa.”

Chúng tôi chậm rãi bước xuống những bậc thang.

“Tôi đoán Daisy cũng sẽ gọi.” Anh nhìn tôi lo lắng, như thể khát khao tôi sẽ xác nhận điều này.

“Tôi đoán vậy.”

“Thôi, tạm biệt.”

Chúng tôi bắt tay và tôi bắt đầu rời đi. Ngay trước khi chạm đến hàng rào, tôi nhớ ra một điều và quay lại.

“Họ là một đám thối nát,” tôi hét lên qua bãi cỏ. “Anh đáng giá hơn cả bọn họ gộp lại.”

Tôi luôn cảm thấy vui vì mình đã nói điều đó. Đó là lời khen ngợi duy nhất tôi từng dành cho anh, bởi vì tôi không tán thành anh từ đầu đến cuối. Đầu tiên anh gật đầu lịch sự, rồi khuôn mặt anh nở một nụ cười rạng rỡ và thấu hiểu, như thể chúng tôi đã cùng đồng lòng một cách ngây ngất về sự thật đó suốt thời gian qua. Bộ vest màu hồng rực rỡ tuyệt đẹp của anh tạo thành một đốm màu sáng chói trên nền những bậc thang trắng, và tôi nghĩ đến cái đêm tôi lần đầu tiên đến ngôi nhà tổ tiên của anh, ba tháng trước. Bãi cỏ và lối đi đã chật kín những khuôn mặt phỏng đoán về sự hủ bại của anh-và anh đã đứng trên những bậc thang đó, che giấu giấc mơ không thể hủ bại của mình, khi anh vẫy tay chào tạm biệt họ.

Tôi cảm ơn anh vì sự hiếu khách của anh. Chúng tôi luôn cảm ơn anh vì điều đó-tôi và những người khác.

“Tạm biệt,” tôi gọi. “Tôi rất thích bữa sáng, Gatsby.”


Lên đến thành phố, tôi cắm mặt vào danh sách dài dằng dặc những báo giá cổ phiếu được một lát, rồi gục đầu ngủ thiếp đi trên chiếc ghế xoay. Ngay trước buổi trưa, tiếng chuông điện thoại réo vang đánh thức tôi dậy. Tôi choàng tỉnh, trán vã đầy mồ hôi. Đó là Jordan Baker. Cô vẫn thường gọi cho tôi vào tầm này, bởi lịch trình di chuyển vội vã, vô định của cô giữa các khách sạn, câu lạc bộ và tư dinh khiến chẳng còn cách nào khác để tìm được cô. Mọi khi, giọng nói của cô truyền qua đường dây mang theo một cảm giác tươi mới và thanh mát, ngỡ như có một mảng cỏ xanh mướt từ sân golf vừa lướt qua khung cửa sổ văn phòng. Thế nhưng sáng nay, âm điệu ấy lại trở nên chói tai và khô khốc.

"Tôi đã rời khỏi nhà Daisy," cô nói. "Tôi đang ở Hempstead, và chiều nay sẽ xuống Southampton."

Có lẽ việc cô dời đi là một động thái tế nhị, nhưng điều đó vẫn khiến tôi bực bội, và câu nói tiếp theo của cô càng làm tôi thêm điếng người.

"Tối qua anh cư xử với tôi chẳng tử tế chút nào."

"Lúc đó thì chuyện ấy còn ý nghĩa gì chứ?"

Một khoảng lặng. Rồi cô tiếp tục:

"Dù sao thì... tôi cũng muốn gặp anh."

"Tôi cũng muốn gặp cô."

"Giả sử chiều nay tôi không đi Southampton, mà vào thành phố thì sao?"

"Không... tôi không nghĩ chiều nay là lúc thích hợp."

"Tốt thôi."

"Chiều nay thì không thể. Còn quá nhiều..."

Chúng tôi cứ đưa đẩy nhạt nhẽo như thế một lúc, rồi đột nhiên cuộc trò chuyện chìm vào thinh lặng. Tôi chẳng rõ ai trong hai chúng tôi là người đã dập máy tạo nên cái tiếng "cạch" chát chúa ấy, nhưng tôi biết mình chẳng mảy may bận tâm. Trưa hôm đó, tôi không tài nào chịu đựng nổi việc phải ngồi chung một bàn trà để trò chuyện với cô, dẫu cho cái giá phải trả là từ nay về sau chẳng bao giờ tôi được nói chuyện với cô nữa trên cõi đời này.

Vài phút sau, tôi gọi đến nhà Gatsby, nhưng đường dây báo bận. Tôi kiên nhẫn gọi lại tới bốn lần. Cuối cùng, một nhân viên trực tổng đài gắt gỏng báo với tôi rằng đường dây bên ấy đang được giữ mở để chờ một cuộc gọi đường dài từ Detroit. Rút tờ lịch trình tàu chạy ra, tôi khoanh một vòng tròn nhỏ quanh chuyến tàu lúc ba giờ rưỡi. Xong xuôi, tôi ngả lưng ra ghế và cố gắng thu nhặt lại mớ suy nghĩ ngổn ngang. Lúc đó vừa đúng giữa trưa.

Sáng hôm ấy, khi chuyến tàu đưa tôi ngang qua thung lũng tro tàn, tôi đã cố ý bước sang phía bên kia của toa xe. Tôi hình dung cả ngày hôm đó sẽ có một đám đông tò mò xúm xít quanh hiện trường. Những cậu bé tọc mạch sẽ bới móc tìm kiếm những vết sẫm màu vương vãi trên cát bụi, trong khi một gã lắm mồm nào đó sẽ không ngừng lải nhải kể lại những gì đã xảy ra. Hắn sẽ kể mãi, kể mãi cho đến khi câu chuyện trở nên nhạt nhòa với chính hắn và hắn chẳng buồn mở miệng nữa. Cứ thế, cái kết bi thảm của Myrtle Wilson sẽ dần chìm vào quên lãng. Giờ thì, tôi muốn quay ngược thời gian một chút, để kể lại những gì đã diễn ra ở xưởng xe sau khi chúng tôi rời đi vào đêm hôm trước.

Mọi người đã khá vất vả mới tìm được Catherine, chị gái của nạn nhân. Hẳn là đêm đó cô ta đã phá lệ không uống rượu của mình, bởi vì khi xuất hiện, cô ta đã say khướt và chẳng thể hiểu nổi rằng xe cấp cứu đã chuyển bánh đến Flushing. Tới lúc mọi người giải thích được điều đó cho cô, cô lập tức ngất lịm đi, cứ như thể đó là phần đau đớn nhất không sao chịu đựng nổi của vụ việc. Ai đó, vì lòng tốt hay vì sự tò mò, đã bế cô lên xe rồi chở cô bám theo thi thể của em gái mình.

Cho đến tận khuya, hết tốp người này đến tốp người khác vẫn tò mò kéo đến xúm xít trước xưởng xe. Bên trong, George Wilson ngồi gục trên chiếc ghế dài, thân hình không ngừng đung đưa qua lại. Có một lúc, cánh cửa văn phòng mở toang, và bất cứ ai bước vào xưởng cũng không cưỡng nổi việc liếc nhìn vào trong. Cuối cùng, có người lên tiếng rằng làm vậy thật tàn nhẫn, rồi tiện tay khép cửa lại. Michaelis cùng vài người đàn ông khác nán lại túc trực bên Wilson. Ban đầu là bốn, năm người, sau đó thưa dần chỉ còn hai, ba người. Muộn hơn chút nữa, Michaelis phải nhờ người lạ mặt cuối cùng nán lại thêm mười lăm phút để anh chạy về nhà pha bình cà phê. Kể từ lúc đó, chỉ còn mình anh túc trực bên Wilson cho đến khi trời hửng sáng.

Khoảng ba giờ sáng, âm điệu trong những tiếng lầm bầm đứt quãng của Wilson bắt đầu thay đổi. Anh ta dần trở nên điềm tĩnh hơn và bắt đầu lẩm nhẩm về chiếc xe màu vàng. Anh ta quả quyết rằng mình có cách tìm ra chủ nhân của nó, rồi đột ngột buột miệng kể về chuyện vài tháng trước, vợ anh ta từ thành phố trở về với khuôn mặt bầm tím và chiếc mũi sưng vù.

Nhưng ngay khi nhận ra mình vừa nói điều gì, Wilson co rúm người lại, rồi lại cất lên tiếng rên rỉ não nề: "Ôi, Chúa ơi!". Michaelis lóng ngóng tìm cách đánh trống lảng để xoa dịu anh ta.

“Anh kết hôn bao lâu rồi, George? Thôi nào, hãy cố ngồi yên một phút, và trả lời câu hỏi của tôi. Anh kết hôn bao lâu rồi?”

“Mười hai năm.”

“Hai người đã từng có mụn con nào chưa? Thôi nào, George, ngồi yên đi. Tôi hỏi anh một câu nhé. Anh đã bao giờ có con chưa?”

Những con bọ hung màu nâu cứ đập lạch cạch vào bóng đèn mờ đục. Mỗi khi nghe tiếng một chiếc xe xé gió vụt qua trên con đường bên ngoài, Michaelis lại rùng mình, ngỡ như đó chính là chiếc xe định mệnh đã không chịu dừng lại cách đây vài giờ. Anh ta không muốn bước ra ngoài xưởng, bởi bàn làm việc vẫn còn vấy máu nơi thi thể từng nằm. Thế nên, anh cứ chồn chân bước đi qua lại một cách bồn chồn quanh văn phòng. Cho đến lúc rạng đông, anh đã thuộc lòng từng món đồ vật trong căn phòng nhỏ ấy. Thỉnh thoảng, anh lại ngồi xuống bên cạnh Wilson, cố gắng giữ cho người đàn ông này bớt kích động.

“Anh có thỉnh thoảng đến nhà thờ nào không, George? Dù có lẽ đã lâu anh không đặt chân đến đó? Hay là để tôi gọi điện nhờ một linh mục đến đây nhé. Ông ấy có thể trò chuyện với anh, anh hiểu không?”

“Tôi chẳng thuộc về nơi nào cả.”

“Anh nên có một nhà thờ để nương tựa, George ạ, nhất là vào những lúc thế này. Chắc hẳn anh từng đến nhà thờ rồi chứ. Anh không kết hôn trong nhà thờ sao? Nghe này, George, nghe tôi nói đi. Anh không kết hôn trong nhà thờ sao?”

“Chuyện đó đã xảy ra từ rất lâu rồi.”

Nỗ lực cất lời đã làm đứt quãng nhịp đung đưa của Wilson. Trong một khoảnh khắc, anh ta chìm vào tĩnh lặng. Rồi ánh nhìn lờ đờ, mang theo vẻ nửa cam chịu nửa hoang mang quen thuộc, lại hiện lên trong đôi mắt nhạt nhòa của anh ta.

“Nhìn vào ngăn kéo kia xem,” anh ta nói, tay chỉ về phía bàn làm việc.

“Ngăn kéo nào cơ?”

“Ngăn kéo đó-ngay chỗ đó.”

Michaelis kéo ngăn tủ gần tay mình nhất. Chẳng có gì bên trong, ngoại trừ một sợi dây dắt chó nhỏ xíu, đắt tiền, làm bằng da bọc bạc. Trông nó có vẻ như vẫn còn mới tinh.

“Cái này à?” anh ta hỏi, giơ sợi dây lên.

Wilson trừng trừng nhìn nó rồi gật đầu.

“Tôi tìm thấy nó từ chiều qua. Cô ấy cố lấp liếm để giải thích về nó, nhưng tôi biết thừa đó chỉ là lời dối trá nực cười.”

“Ý anh là vợ anh đã mua nó sao?”

“Cô ấy đã cẩn thận bọc nó trong lớp giấy lụa mỏng, giấu trên tủ trang điểm của mình.”

Michaelis chẳng thấy có gì mờ ám trong chuyện đó, nên anh bèn đưa ra hàng tá lý do để giải thích tại sao vợ Wilson có thể đã mua sợi dây dắt chó. Thế nhưng, có lẽ Wilson đã nghe chán chê những lời nguỵ biện tương tự thế này từ miệng Myrtle, bởi anh ta lại bắt đầu thì thào nức nở: "Ôi, Chúa ơi!". Lời than vãn ấy khiến người đàn ông đang cố an ủi anh phải bỏ lửng câu nói giữa chừng.

“Và rồi, hắn đã giết cô ấy,” Wilson nói, miệng anh ta đột ngột há hốc.

“Ai làm cơ?”

“Tôi có cách để tìm ra hắn.”

“Anh ốm mệt quá rồi, George ạ,” người bạn ái ngại nói. “Cú sốc này đã vắt kiệt sức lực của anh, và anh chẳng biết mình đang lảm nhảm gì nữa đâu. Tốt nhất là anh cứ ngồi yên nghỉ ngơi cho đến sáng đi.”

“Hắn đã giết cô ấy.”

“Đó chỉ là một vụ tai nạn thôi, George.”

Wilson kiên quyết lắc đầu. Mắt anh ta nheo lại, miệng hơi hé mở, phát ra một âm thanh lạnh lẽo nghe như tiếng "Hừ!" đầy vẻ khinh khỉnh.

“Tôi biết chứ,” anh ta quả quyết. “Tôi luôn là kẻ nhẹ dạ cả tin và tôi chẳng bao giờ nghĩ xấu cho bất kỳ ai, nhưng khi tôi đã tường tận một chuyện, thì tôi nắm chắc mười mươi. Kẻ đó chính là gã đàn ông ngồi trong chiếc xe ấy. Cô ấy đã nhào ra để nói chuyện với hắn, nhưng hắn ta lại nhấn ga lạnh lùng chạy thẳng.”

Bản thân Michaelis cũng chứng kiến cảnh tượng này, nhưng anh chẳng cho rằng có uẩn khúc gì đặc biệt đằng sau. Anh tin chắc rằng bà Wilson chỉ đang cố sức chạy trốn khỏi người chồng, chứ không hề có ý định chặn một chiếc xe nào lại cả.

“Làm sao cô ấy có thể hành động như thế được cơ chứ?”

“Cô ấy thâm sâu lắm,” Wilson cay đắng thốt lên, như thể câu nói đó đã giải thích tất cả. “Ah-h-h-”

Anh ta lại bắt đầu đung đưa thân mình. Michaelis chỉ biết câm lặng, hai tay lúng túng vò nhàu sợi dây dắt chó.

“George này, có lẽ anh có người bạn nào đó để tôi gọi điện nhờ đến giúp chăng?”

Đó quả là một tia hy vọng mong manh. Michaelis gần như dám chắc Wilson chẳng có lấy một mống bạn bè. Ngay cả bản thân anh ta còn chẳng đủ sức níu giữ vợ mình kia mà. Lát sau, anh cảm thấy trút được gánh nặng khi lờ mờ nhận ra sự biến chuyển trong căn phòng. Một luồng ánh sáng xanh thẫm hắt qua khung cửa sổ, báo hiệu rạng đông đang kề cận. Khoảng năm giờ sáng, bầu trời bên ngoài đã đủ sáng tỏ để có thể tắt đèn.

Đôi mắt đờ đẫn của Wilson vô hồn hướng về phía thung lũng tro tàn. Nơi đó, những đám mây xám xịt mang muôn hình vạn trạng đang cuống cuồng đuổi theo nhau trong cơn gió bình minh yếu ớt.

“Tôi đã nói thẳng vào mặt cô ấy,” anh ta lầm bầm, xé toạc một khoảng lặng dài. “Tôi bảo cô ấy có thể qua mặt tôi, nhưng chẳng thể nào qua mắt được Chúa. Tôi kéo cô ấy ra cửa sổ”-nói đoạn, anh ta gắng gượng đứng dậy, khó nhọc bước tới khung cửa sổ phía sau và áp mặt vào tấm kính-“và tôi quát lên: ‘Chúa thấu tỏ cô đang làm gì, mọi tội lỗi cô đang gây ra. Cô có thể lừa dối tôi, nhưng cô không thể nào đánh lừa được Chúa!’”

Đứng phía sau anh ta, Michaelis giật thót mình khi nhận ra Wilson đang trừng trừng nhìn vào đôi mắt của Bác sĩ T. J. Eckleburg. Đôi mắt ấy vừa mới từ từ nhô ra, nhợt nhạt và khổng lồ, xuyên qua lớp màn đêm đang dần tan biến.

“Chúa nhìn thấu vạn vật,” Wilson ám ảnh lặp lại.

“Đó chỉ là một tấm biển quảng cáo thôi,” Michaelis cố gắng trấn an anh ta. Một nỗi sợ hãi vô hình nào đó thôi thúc anh phải vội vã quay mặt đi và nhìn lại vào trong phòng. Nhưng Wilson vẫn chôn chân ở đó rất lâu, khuôn mặt gí sát vào tấm kính, gật gù một cách điên dại trong ánh chạng vạng của buổi hừng đông.


Vào lúc sáu giờ, Michaelis đã rã rời kiệt sức. Anh thầm tạ ơn trời đất khi nghe thấy tiếng một chiếc xe đỗ xịch bên ngoài. Đó là một trong những người thức canh đêm qua giữ đúng lời hứa quay lại. Michaelis vội vã nấu bữa sáng cho cả ba, rồi ngồi xuống dùng bữa cùng người đàn ông nọ. Wilson lúc này đã tĩnh trí hơn. Thấy vậy, Michaelis bèn trở về nhà chợp mắt. Bốn giờ sau, khi anh choàng tỉnh và tức tốc chạy sang xưởng xe, thì Wilson đã hoàn toàn biến mất.

Lần theo tung tích của Wilson-anh ta đã cuốc bộ suốt toàn bộ quãng đường-người ta phát hiện anh ta đã đến Cảng Roosevelt, rồi lê bước tới Gad’s Hill. Tại đây, anh ta mua một chiếc bánh mì kẹp nhưng chẳng hề động đến, cùng một tách cà phê. Hẳn là anh ta đã rã rời kiệt sức và bước đi rất chậm, bởi mãi đến tận trưa anh ta mới tới được Gad’s Hill. Cho đến thời điểm đó, việc lần theo quỹ thời gian của anh ta không gặp chút khó khăn nào. Vài cậu bé khai đã nhìn thấy một gã đàn ông “hành động như kẻ điên rồ,” còn những tài xế ngang qua thì rùng mình trước ánh nhìn kỳ quặc của anh ta từ bên đường. Thế nhưng, trong suốt ba giờ đồng hồ sau đó, anh ta bỗng dưng bặt vô âm tín. Dựa trên lời khai của Michaelis rằng Wilson quả quyết “có cách để tìm ra,” cảnh sát phỏng đoán anh ta đã dành quãng thời gian lẩn khuất đó để lê la từ gara này sang gara khác quanh vùng, ráo riết dò hỏi về một chiếc xe màu vàng. Ở chiều ngược lại, chẳng có người thợ sửa xe nào từng gặp anh ta bước ra làm chứng. Rất có thể, anh ta đã có một lối tắt dễ dàng và chắc chắn hơn để tóm được thứ mà anh ta muốn biết. Đến hai giờ rưỡi chiều, người ta phát hiện anh ta đã có mặt ở West Egg, ngập ngừng hỏi một người đi đường lối dẫn đến dinh thự của Gatsby. Vậy là, vào ngay lúc đó, cái tên Gatsby đã nằm gọn trong tâm trí của kẻ báo thù.


Vào lúc hai giờ, Gatsby thay đồ bơi và dặn dò người quản gia rằng nếu có bất cứ cuộc gọi nào, hãy báo cho anh ngoài hồ bơi. Dọc đường, anh tạt qua gara để lấy chiếc nệm bơm hơi, món đồ chơi từng mang lại niềm vui thích cho bao vị khách trong suốt mùa hè, và nhờ người tài xế bơm căng lên. Sau đó, anh nghiêm giọng dặn người tài xế tuyệt đối không được lái chiếc xe mui trần ra ngoài dưới bất kỳ tình huống nào-một chỉ thị thật kỳ lạ, bởi phần chắn bùn phía trước bên phải đang cần được sửa chữa.

Gatsby vác chiếc nệm lên vai rồi thả bộ về phía hồ bơi. Giữa chừng, anh dừng lại một nhịp để xốc lại tư thế. Người tài xế khẽ lên tiếng hỏi liệu anh có cần giúp một tay không, nhưng Gatsby chỉ lẳng lặng lắc đầu. Khoảnh khắc sau, bóng dáng anh đã hoàn toàn khuất lấp giữa những vòm cây đang chớm ngả sắc vàng.

Chẳng có cuộc điện thoại nào gọi tới, dù người quản gia đã thức chong chong để đợi tin nhắn đến tận bốn giờ chiều-đợi cho đến tận lúc dẫu tin báo có đến thì cũng chẳng còn ai ở đó để mà nhận nữa. Tôi cứ mường tượng rằng tự sâu thẳm, Gatsby cũng chẳng còn thiết tha tin vào một sự hồi đáp, và có lẽ anh cũng chẳng màng bận tâm thêm. Nếu quả thực là vậy, thì anh hẳn đã thấm thía nỗi đau vuột mất thế giới ấm áp thuở xưa, rốt cuộc phải trả một cái giá quá đắt chỉ vì trót sống mòn mỏi bấy lâu cho một giấc mộng duy nhất. Có lẽ lúc ấy anh đã ngước nhìn một bầu trời xa lạ qua kẽ lá mịt mùng, khẽ rùng mình khi nhận ra sự tồn tại của một đóa hồng mới gớm ghiếc làm sao, và ánh nắng hắt lên thảm cỏ mới tươm kia thật thô ráp nhường nào. Một thế giới mới, rặt vật chất mà trống rỗng vô hồn, nơi những bóng ma tội nghiệp đành hít thở những ảo mộng thay cho không khí, dạt trôi vật vờ quẩn quanh... hệt như cái bóng hình tái nhợt, kỳ dị đang trườn về phía anh xuyên qua những hàng cây vô định kia.

Người tài xế-một gã tay chân dưới trướng Wolfshiem-đã nghe thấy những tiếng súng vỡ toác. Sau này, gã chỉ phân trần rằng lúc bấy giờ gã chẳng hề mảy may bận tâm. Tôi lái xe chạy một mạch từ nhà ga lao thẳng đến dinh thự của Gatsby, và chính dáng vẻ hớt hải phi như bay lên những bậc thềm của tôi là mồi lửa đầu tiên thổi bùng sự hoảng loạn nơi đám gia nhân. Nhưng rồi họ cũng lờ mờ hiểu ra cớ sự, tôi tin chắc là vậy. Không cần ai phải thốt lên lời nào, cả bốn người chúng tôi-người tài xế, quản gia, người làm vườn và tôi-cuống cuồng lao thẳng xuống hồ bơi.

Mặt nước khẽ xao động một cách nhạt nhòa, mỏng manh như ảo ảnh khi dòng chảy mới từ một đầu luân chuyển về phía miệng cống xả ở đầu kia. Giữa những gợn lăn tăn nhỏ bé chừng như chưa đủ thành hình những con sóng, chiếc nệm đang oằn mình gánh một vật nặng nề từ từ trôi dạt vô định trên mặt hồ. Chỉ một luồng gió thoảng qua, chưa đủ sức làm rối mặt nước, cũng đã đủ làm trệch hướng đi hờ hững của gánh nặng lạnh lẽo nọ. Một cụm lá rụng tình cờ vướng phải đã khiến chiếc nệm xoay vòng chầm chậm, rạch xuống mặt nước-giống như chân đế của một chiếc máy kinh vĩ4-một vòng tròn đỏ mỏng manh, nhức nhối.

Mãi đến khi chúng tôi khiêng Gatsby trở lại dinh thự, người làm vườn mới chợt sững lại khi phát hiện ra thi thể của Wilson nằm phơi mình trên bãi cỏ cách đó chẳng bao xa. Thế là, mọi sự hủy diệt đã hoàn tất.



  1. Trong truyền thuyết phương Tây, Chén Thánh là chiếc cốc Chúa Jesus đã sử dụng trong Bữa ăn tối cuối cùng. Trong văn học, 'tìm kiếm Chén Thánh' là một thành ngữ ám chỉ việc theo đuổi một mục tiêu vô cùng cao cả, thiêng liêng nhưng cũng vô cùng khó khăn, gần như không thể đạt được. 

  2. Chiến dịch Meuse-Argonne là một trong những trận đánh lớn và đẫm máu nhất của quân đội Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (năm 1918), diễn ra tại khu vực rừng Argonne ở Pháp. 

  3. Một bản nhạc blues nổi tiếng sáng tác năm 1916 bởi W.C. Handy. 'Blues' là dòng nhạc mang âm hưởng u buồn, phản ánh tâm trạng chán chường, cô đơn của giới trẻ Mỹ thời bấy giờ. 

  4. Máy kinh vĩ là một thiết bị quang học chuyên dụng trong trắc địa và xây dựng để đo góc.