CHƯƠNG V

Khi về đến nhà ở West Egg đêm đó, có khoảnh khắc tôi phát hoảng ngỡ nhà mình đang bốc cháy. Đã hai giờ sáng mà toàn bộ góc bán đảo rực rỡ trong ánh đèn, một thứ ánh sáng hắt xuống những bụi cây mờ ảo đến phi thực tế, vạch nên những vệt sáng lấp lánh mỏng manh vắt ngang các đường dây điện ven đường. Vừa ôm cua, tôi nhận ra đó là dinh thự của Gatsby, sáng rực rỡ từ ngọn tháp trên cao cho xuống tận tầng hầm.

Thoạt đầu, tôi đinh ninh anh lại mở tiệc, hẳn một đám đông cuồng nhiệt nào đó vừa chuyển sang trò "trốn tìm" hay "cá mòi đóng hộp1" và tung hê cả căn nhà lên để làm sân chơi. Nhưng tĩnh lặng tuyệt đối. Chẳng có lấy một tiếng động nào ngoài tiếng gió xào xạc luồn qua vòm cây, thổi tung những đường dây điện và khiến hệ thống đèn chập chờn tắt bật, tưởng chừng như chính căn nhà đang nháy mắt trêu đùa màn đêm bóng tối. Ngay khi chiếc taxi của tôi càu nhàu lăn bánh rời đi, tôi bắt gặp Gatsby đang rảo bước băng qua bãi cỏ tiến về phía mình.

"Nhà anh trông cứ như Hội chợ Thế giới2 ấy," tôi lên tiếng.

"Thế à?" Anh lơ đãng đưa mắt nhìn về phía ấy. "Tôi vừa rảo bước qua vài căn phòng. Chúng ta làm một cuốc đến Coney Island3 đi, anh bạn. Bằng xe của tôi."

"Khuya quá rồi."

"Thế, hay là chúng ta ra hồ bơi ngụp lặn một lát? Cả mùa hè này tôi chưa đụng đến nó."

"Tôi phải đi ngủ rồi."

"Được thôi."

Anh đứng chờ, ném về phía tôi một ánh nhìn háo hức đang cố ghìm lại.

"Tôi đã nói chuyện với cô Baker rồi," tôi lên tiếng sau một thoáng im lặng. "Ngày mai tôi sẽ gọi điện cho Daisy, mời em ấy sang đây uống trà."

"Ồ, được thôi," anh đáp lời bằng một giọng điệu hờ hững. "Tôi không muốn làm phiền cậu."

"Ngày nào thì tiện cho anh?"

"Ngày nào thì tiện cho cậu?" anh vội vàng sửa lời tôi. "Cậu thấy đấy, tôi chẳng muốn làm phiền cậu đâu."

"Ngày mốt thì sao?"

Anh trầm ngâm cân nhắc một lúc. Rồi, với vẻ ngập ngừng: "Tôi muốn cắt cỏ đã," anh nói.

Cả hai chúng tôi cùng đưa mắt nhìn xuống bãi cỏ-hiện lên một ranh giới rạch ròi, nơi vạt cỏ mọc lởm chởm của nhà tôi kết thúc và nhường chỗ cho thảm cỏ tối màu hơn, được chăm chút kỹ lưỡng bên nhà anh. Tôi đâm nghi ngờ rằng anh đang ám chỉ chính bãi cỏ nhà tôi.

"Còn một chuyện nhỏ nữa," anh ngập ngừng nói, vẻ thiếu chắc chắn.

"Anh muốn hoãn lại vài ngày sao?" tôi hỏi.

"Ồ, không phải chuyện đó. Ít ra là-" Anh lóng ngóng buông vài lời ngắc ngứ. "Chà, tôi nghĩ-chà, nghe này, anh bạn, cậu kiếm không được nhiều tiền lắm, đúng không?"

"Không nhiều lắm."

Câu trả lời ấy dường như khiến anh yên lòng, và anh tiếp tục với vẻ tự tin hơn hẳn.

"Tôi nghĩ là cậu không kiếm được nhiều, mong cậu bỏ qua cho-cậu thấy đấy, tôi có làm thêm chút việc kinh doanh, một kiểu nghề tay trái, cậu hiểu chứ. Và tôi nghĩ nếu cậu không kiếm được nhiều-Cậu đang bán trái phiếu đúng không, anh bạn?"

"Đang cố gắng bám trụ."

"Chà, việc này hẳn sẽ khiến cậu hứng thú đấy. Nó chẳng ngốn mấy thời gian mà cậu lại rủng rỉnh thêm được một khoản khá. Trùng hợp thay, đây lại là một mối làm ăn khá cơ mật."

Giờ đây ngẫm lại, tôi mới nhận ra rằng nếu rơi vào một hoàn cảnh khác, cuộc trò chuyện đêm ấy có lẽ đã trở thành một trong những bước ngoặt lớn của đời tôi. Nhưng bởi lẽ lời đề nghị ấy phơi bày quá rõ ràng vẻ thiếu tế nhị, hệt như một vụ đổi chác cho một ân huệ vừa được hứa hẹn, tôi chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc ngắt lời anh ngay tắp lự.

"Tôi đang bù đầu rồi," tôi đáp. "Tôi rất biết ơn nhưng thật sự không kham nổi thêm việc nào nữa đâu."

"Cậu sẽ không phải dính dáng gì đến Wolfshiem đâu." Rõ ràng anh đinh ninh rằng tôi đang muốn lảng tránh cái "mối quan hệ" được nhắc đến trong bữa trưa, nhưng tôi quả quyết rằng anh đã nhầm. Anh nán lại đợi thêm một chốc, mang theo hy vọng rằng tôi sẽ gợi mở một cuộc trò chuyện mới, nhưng tâm trí tôi lúc ấy đã quá bộn bề để có thể cất lời đáp lại, thế là anh đành miễn cưỡng quay bước về nhà.

Dư vị của buổi tối khiến tôi cảm thấy lâng lâng và ngập tràn hạnh phúc; tôi đồ rằng mình đã chìm sâu vào giấc mộng ngay khoảnh khắc vừa bước qua cửa trước. Nên tôi chẳng rõ Gatsby có thực sự làm cuốc xe đến Coney Island hay không, hoặc giả anh đã "rảo bước qua các căn phòng" trong bao nhiêu canh giờ giữa lúc dinh thự vẫn sáng rực lên một cách đầy lố lăng. Sáng hôm sau, từ văn phòng, tôi nhấc máy gọi điện cho Daisy và mời em sang uống trà.

"Đừng dẫn Tom theo nhé," tôi buông lời cảnh báo.

"Sao cơ?"

"Tuyệt đối đừng đưa Tom theo."

"'Tom' là ai cơ?" em hỏi lại bằng một giọng đầy ngây thơ.

Vào đúng ngày hẹn, trời đổ mưa tầm tã. Lúc mười một giờ, một người đàn ông mặc áo mưa trùm kín, lóc cóc kéo theo chiếc máy cắt cỏ gõ cửa nhà tôi, báo rằng chính ông Gatsby đã phái ông ấy sang dọn cỏ. Sự việc đó sực nhắc tôi nhớ ra mình đã quên bẵng việc dặn cô giúp việc người Phần Lan quay lại. Thế là tôi đành đánh xe chạy thẳng vào khu West Egg, lặn lội tìm cô ấy giữa những con hẻm quét vôi trắng xóa đang sũng nước mưa, tiện thể tạt qua mua vài cái tách, mấy quả chanh cùng chút hoa.

Mà thực ra hoa cũng chẳng cần thiết nữa, bởi đến đúng hai giờ, nguyên một nhà kính hoa đã được chuyển thẳng từ nhà Gatsby sang đây, đi kèm với vô số bình cắm đủ loại. Một tiếng sau, cánh cửa trước mở tung trong một sự bồn chồn lo lắng tột độ, và Gatsby-khoác trên mình bộ vest flannel trắng toát, áo sơ mi màu bạc, cùng chiếc cà vạt vàng óng ả-hớt hải bước vào. Gương mặt anh nhợt nhạt, mang theo những quầng thâm hằn sâu dưới đáy mắt, dấu vết để lại của một đêm trắng dài mất ngủ.

"Mọi chuyện vẫn ổn thỏa cả chứ?" anh vội vàng cất tiếng hỏi.

"Bãi cỏ trông rất ổn rồi, nếu ý anh là thế."

"Cỏ nào cơ?" anh thắc mắc bằng một giọng trống rỗng. "Ồ, cỏ ngoài sân." Anh ném ánh nhìn ra ngoài ô cửa sổ, nhưng, cứ phán đoán qua cái biểu cảm đờ đẫn trên gương mặt ấy, tôi đồ rằng anh chẳng mảy may nhìn thấy bất cứ thứ gì cả.

"Trông rất tuyệt," anh buông lời nhận xét bâng quơ. "Có tờ báo nói rằng mưa sẽ tạnh vào khoảng bốn giờ chiều. Tôi đoán là tờ The Journal. Cậu đã lo liệu đủ mọi thứ cần thiết cho buổi-buổi trà chưa?"

Tôi dẫn anh bước vào phòng thức ăn, nơi anh ném cái nhìn pha chút trách móc về phía cô giúp việc người Phần Lan. Rồi hai chúng tôi cùng nhau xem xét tỉ mỉ mười hai cái bánh chanh mua từ cửa hàng thực phẩm chín.

"Thế này được chứ?" tôi hỏi dò.

"Dĩ nhiên, dĩ nhiên rồi! Chúng tuyệt lắm!" anh đáp, rồi bất chợt buông thêm một tiếng trống rỗng, "… anh bạn."

Đến khoảng ba giờ rưỡi, mưa bắt đầu ngớt, dần chuyển thành một màn sương mù ẩm ướt, lác đác vài giọt nước mỏng manh rơi rụng như sương mai. Gatsby lướt đôi mắt vô hồn qua những trang sách cuốn Economics của Clay, chốc chốc lại giật bắn mình trước tiếng bước chân huỳnh huỵch làm rung chuyển cả sàn bếp của cô giúp việc người Phần Lan, rồi thi thoảng lại đưa mắt đánh sang những ô cửa sổ mờ nhòe, cư xử như thể có cả một loạt sự kiện vô hình nhưng đầy hiểm nguy đang lẩn khuất diễn ra ngoài kia. Cuối cùng, anh đột ngột đứng phắt dậy và thông báo với tôi, bằng một chất giọng đứt quãng thiếu chắc chắn, rằng anh sẽ đi về.

"Sao lại thế?"

"Chẳng có ai đến uống trà cả. Trễ quá rồi!" Anh cúi nhìn đồng hồ như thể đang bị một mệnh lệnh thời gian cấp bách nào đó thôi thúc từ nơi khác. "Tôi không thể cắm rễ ở đây chờ cả ngày được."

"Đừng ngớ ngẩn thế; mới kém hai phút nữa là bốn giờ thôi."

Anh buông mình ngồi sụp xuống đầy thảm hại, trông cứ như vừa bị tôi đẩy ngã. Và gần như cùng lúc đó, tiếng động cơ ô tô xé gió rẽ ngoặt vào ngõ nhà tôi. Cả hai chúng tôi nhảy dựng lên, và, trong một khoảnh khắc bản thân cũng bỗng chốc căng thẳng lây, tôi rảo bước đi ra ngoài sân.

Dưới những gốc tử đinh hương trơ trụi đương nhỏ giọt nước mưa, một chiếc xe mui trần lớn đang uyển chuyển lăn bánh lên đường lái xe. Chiếc xe phanh lại. Khuôn mặt Daisy, khẽ nghiêng nghiêng dưới vành chiếc nón ba góc màu hoa oải hương, ngước nhìn tôi bằng một nụ cười rạng rỡ đến ngây ngất.

"Đây có thực sự là nơi anh đang sống không, người anh họ yêu quý nhất trần đời của em?"

Sự ngân vang đầy phấn khích cất lên từ giọng nói của em hệt như một liều thuốc kích thích hoang dã giữa làn mưa. Trong một khoảnh khắc, tâm trí tôi buộc phải nương theo thứ âm thanh ấy, bềnh bồng lên xuống chỉ bằng đôi tai trần, trước khi kịp để lọt bất kỳ ngôn từ nào vào nhận thức. Một lọn tóc ẩm ướt vắt ngang gò má em tựa hồ một vệt sơn xanh, và bàn tay em ướt đẫm những giọt nước lấp lánh khi tôi vươn ra nắm lấy để đỡ em xuống xe.

"Anh có đang lén lút yêu em không đấy," em thì thầm khẽ vào tai tôi, "hay sao mà lại bắt em phải đến một mình thế này?"

"Đó là bí mật của Lâu đài Rackrent4. Bảo tài xế của em đánh xe ra chỗ khác và giết thời gian một tiếng đi."

"Một tiếng nữa quay lại nhé, Ferdie." Rồi trong một tiếng thì thầm nghiêm nghị: "Tên anh ấy là Ferdie."

"Mùi xăng có ảnh hưởng đến mũi anh ta không?"

"Em không nghĩ vậy," em ngây thơ đáp. "Sao cơ?"

Chúng tôi bước vào trong. Nhưng, thật sửng sốt, phòng khách trống trơn chẳng có lấy một bóng người.

"Chà, lạ lùng thật," tôi thốt lên.

"Có chuyện gì lạ vậy?"

Em vừa ngoái đầu lại thì có tiếng gõ cửa dè dặt, khẽ khàng vang lên từ ngoài cửa trước. Tôi bước ra và mở cửa. Gatsby đứng đó, mặt mày trắng bệch như xác chết. Hai bàn tay anh đút sâu vào túi áo khoác, trĩu nặng như đeo tạ. Anh đứng chôn chân giữa một vũng nước, buông ánh nhìn bi thảm, trừng trừng xoáy thẳng vào mắt tôi.

Vẫn khư khư giấu tay trong túi áo, anh lướt qua tôi để vào sảnh, rồi ngoặt người lại một cách chao đảo như thể đang đi trên dây, và nhanh chóng mất hút vào phòng khách. Cảnh tượng ấy chẳng có lấy nửa điểm buồn cười. Nghe rõ cả tiếng trái tim mình đang đập thình thịch trong lồng ngực, tôi vội vã sập cửa lại, nhốt cơn mưa rào đang ngày một nặng hạt ở bên ngoài.

Trọn nửa phút trôi qua trong thinh lặng vô hồn. Rồi từ phòng khách, tôi chợt nghe thấy tiếng thì thầm nghẹn ngào lẫn cùng một tiếng cười kìm nén. Ngay sau đó là giọng của Daisy, vút lên một cao độ giả tạo nhưng lại thật trong trẻo:

"Em thật sự rất mừng khi gặp lại anh."

Lại một khoảng lặng; sự im ắng lần này kéo dài tới mức nghẹt thở. Cứ đứng mãi ngoài sảnh cũng vô duyên, thế nên tôi đành cất bước vào phòng.

Gatsby, tay vẫn giấu nhẹm trong túi, đang tựa người vào bệ lò sưởi. Anh cố nặn ra một tư thế thư thả, thậm chí là hờ hững, nhưng lại căng cứng đến gượng gạo. Đầu anh ngả hẳn ra sau, ngả sâu tới mức tựa hẳn vào mặt một chiếc đồng hồ lò sưởi đã chết ngắc. Từ cái tư thế gò bó ấy, đôi mắt bấn loạn của anh cứ nhìn trừng trừng xuống Daisy. Còn em thì đang ngồi nép ở mép một chiếc ghế cứng, trông rõ vẻ sợ hãi nhưng vẫn không giấu được nét duyên dáng thường ngày.

"Chúng ta đã từng gặp nhau," Gatsby lúng búng. Mắt anh lướt vội qua tôi trong khoảnh khắc, đôi môi hé mở, cố nặn ra một nụ cười gượng gạo. May thay, đúng lúc ấy chiếc đồng hồ lại trượt nghiêng đi một cách chông chênh vì sức nặng từ đầu anh. Ngay lập tức, anh quay phắt lại, những ngón tay run rẩy luống cuống chụp lấy nó rồi đặt trở về vị trí cũ. Sau đó anh ngồi phịch xuống, cả người cứng đờ, chống tay lên bệ tựa sofa rồi tì cằm vào tay.

"Tôi xin lỗi vì chiếc đồng hồ," anh lúng túng cất lời.

Mặt tôi lúc này cũng đã đỏ lựng lên như đang bị thiêu đốt dưới cái nóng nhiệt đới. Hàng ngàn câu nói sáo rỗng đang chực chờ trong đầu, thế mà tôi chẳng thể thốt nổi một lời nào cho cam.

"Nó là một chiếc đồng hồ cũ thôi," tôi buột miệng nói một câu thật ngớ ngẩn.

Tôi cho rằng, trong khoảnh khắc vừa rồi, tất cả chúng tôi đều đinh ninh cái đồng hồ ấy đã rơi vỡ tan tành trên mặt sàn.

"Đã nhiều năm rồi chúng ta không gặp nhau," Daisy lên tiếng, cố giữ giọng điệu thật khách quan, bình thản.

"Đến tháng Mười Một này là tròn năm năm."

Sự vô thức mà bật ra chính xác đến từng chi tiết trong câu trả lời của Gatsby lại dìm tất cả chúng tôi vào một sự ngưng đọng kéo dài cả phút. Bí bách quá, tôi đành phải kéo cả hai người họ đứng dậy bằng một lời đề nghị trong tuyệt vọng: nhờ họ xuống bếp phụ tôi pha trà. Khốn nỗi, vừa dứt lời thì bà giúp việc người Phần Lan ồn ào như quỷ sứ đã bê thẳng chiếc khay trà vào phòng.

Nhờ tiếng lách cách rộn ràng của những tách trà và đĩa bánh ngọt - một sự xáo trộn đáng mừng, chút ít sự tự nhiên trong cử chỉ đã được vãn hồi. Gatsby tự thu mình lùi lại vào bóng râm. Trong lúc Daisy và tôi đang chuyện trò, anh cứ nhìn chằm chằm hết người này tới người kia bằng một ánh mắt căng thẳng, đầy đau khổ. Tuy nhiên, vì sự bình thản giả tạo ấy đâu phải là đích đến của buổi hội ngộ này, nên ngay khi có cơ hội, tôi lập tức viện một cớ nào đó để đứng dậy.

"Cậu đi đâu thế?" Gatsby hốt hoảng hỏi vội.

"Tôi sẽ quay lại ngay."

"Tôi phải nói với cậu chuyện này trước khi cậu đi."

Anh bước theo tôi vào bếp với dáng vẻ hoảng loạn. Vừa đóng cửa lại, anh đã thì thầm một cách thảm hại: "Ôi, Chúa ơi!"

"Có chuyện gì thế?"

"Thật là một sai lầm khủng khiếp," anh liên tục lắc đầu, "một sai lầm quá đỗi tồi tệ, tồi tệ."

"Anh chỉ đang lúng túng thôi, thế đấy," và may mắn làm sao tôi đã chêm thêm một câu: "Daisy cũng đang lúng túng không kém đâu."

"Em ấy đang lúng túng sao?" anh lặp lại, giọng đầy hoài nghi.

"Chẳng kém gì anh đâu."

"Đừng nói lớn thế."

"Anh đang cư xử như một thằng nhóc vậy," tôi mất kiên nhẫn càu nhàu. "Không chỉ thế, anh còn đang rất thô lỗ đấy. Daisy đang phải ngồi thui thủi một mình trong kia kìa."

Anh giơ tay lên để ngắt lời tôi, quẳng lại một ánh nhìn hờn trách mà có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quên được. Sau đó, anh cẩn thận hé cửa, rồi rón rén quay trở lại căn phòng.

Tôi vòng ra bằng cửa sau-y hệt cái cách Gatsby đã làm khi anh bồn chồn đi dạo một vòng quanh nhà hồi nửa giờ trước-rồi chạy vội về phía cái cây lớn chi chít những mắt đen ngoằn ngoèo. Đám lá xum xuê của nó bện lại thành một bức màn hoàn hảo chắn những hạt mưa. Trời lại một lần nữa đổ mưa xối xả. Bãi cỏ lởm chởm của tôi, dẫu đã được người làm vườn của Gatsby cắt tỉa cẩn thận, giờ đây lỗ rỗ những vũng lầy nho nhỏ đọng đầy bùn đất, hệt như những đầm lầy từ thời tiền sử. Đứng dưới tán cây, chẳng có gì để ngắm nghía ngoài tòa dinh thự khổng lồ của Gatsby. Thế là tôi cứ đứng trân trân nhìn nó suốt nửa giờ đồng hồ, hệt như cái cách triết gia Kant5 chiêm ngưỡng tháp chuông nhà thờ của ông vậy.

Khoảng một thập kỷ trước, vào thời kỳ đầu của cơn sốt kiến trúc "cổ điển", một tay ủ bia đã cho xây dựng tòa dinh thự này. Dân tình đồn râm ran rằng, lão ta đã gạ gẫm trả dùm tiền thuế tận năm năm liền cho tất cả những căn nhà tranh lân cận, đổi lại, những người chủ phải chịu lợp mái bằng rơm. Có lẽ sự khước từ phũ phàng của họ đã đập nát ảo mộng Lập Lên Một Gia Tộc quyền quý của lão-ngay sau đó, lão rơi vào tình trạng suy sụp trầm trọng. Đám con của lão đã bán tống bán tháo ngôi nhà, lúc bấy giờ, vòng hoa tang màu đen thảm đạm vẫn còn treo lủng lẳng trước cửa. Người Mỹ, dù rất sẵn lòng, thậm chí khao khát được phục dịch như nông nô, thế mà lại luôn cố chấp không chịu mang danh phận nông dân.

Nửa giờ sau, mặt trời lại rực rỡ ló dạng. Chiếc xe tải của người bán tạp hóa chạy loăng quăng trên lối đi nhà Gatsby, chở theo đống nguyên liệu thô chuẩn bị cho bữa tối của đám người hầu-tôi dám chắc mẩm rằng anh sẽ chẳng thiết nuốt trôi lấy một thìa. Một cô hầu gái bắt đầu mở tung các cửa sổ trên tầng gác ngôi nhà. Cô ả thoắt ẩn thoắt hiện ở từng ô cửa, và rồi, khi rướn nửa người ra từ khung cửa sổ lồi khổng lồ ở chính giữa, cô ả khạc nhổ một bãi nước bọt xuống khu vườn bên dưới với một vẻ mặt đầy trầm ngâm. Đã đến lúc tôi phải quay trở vào. Ban nãy, lúc trời vẫn còn mưa lâm râm, tôi mang máng nghe thấy tiếng thì thầm trò chuyện của họ, thỉnh thoảng lại vút cao và lớn dần theo những đợt bùng nổ cảm xúc. Thế nhưng, trong bầu không khí tĩnh mịch vừa mới vãn hồi này, tôi linh cảm một sự tĩnh lặng tương tự cũng đang bao trùm lấy không gian bên trong căn nhà.

Tôi bước vào-dĩ nhiên là sau khi đã cố ý tạo ra đủ thứ tiếng ồn váng tai trong bếp, chỉ thiếu nước xô đổ luôn cái lò sưởi-nhưng tôi cá là họ chẳng thèm để tai tới bất kỳ âm thanh nào. Họ đang ngồi ở hai đầu của chiếc ghế dài, đắm đuối nhìn nhau như thể một câu hỏi nào đó vừa được cất lên, hoặc đang lơ lửng đâu đó giữa không trung. Mọi tàn tích của sự ngượng ngùng vụng về ban nãy đã tan biến sạch sành sanh. Khuôn mặt Daisy nhòe nhoẹt nước mắt. Khi tôi vừa bước vào, em bật vội dậy và cuống cuồng lấy khăn tay lau mặt trước một tấm gương. Thế nhưng, sự thay đổi ngoạn mục ở Gatsby mới thật sự làm tôi choáng váng. Trông anh bừng bừng rạng rỡ; không cần bất kỳ một lời nói hay một cử chỉ hân hoan nào, chính thứ hào quang mới mẻ tỏa ra từ con người anh đã lấp đầy cả căn phòng nhỏ xíu.

"Ồ, chào anh bạn," anh cất tiếng, làm như thể chúng tôi đã xa cách nhau ngót nghét nhiều năm trời. Thậm chí có khoảnh khắc, tôi còn ngỡ anh định đưa tay ra bắt tay tôi nữa cơ.

"Trời tạnh mưa rồi kìa."

"Thế à?" Khi kịp nhận ra tôi đang nói về chuyện gì, rằng những vệt nắng đã bắt đầu nhảy nhót, lấp lánh trong phòng tựa hồ như những tiếng chuông ngân, anh nhoẻn miệng cười như một nhà dự báo thời tiết thực thụ. Anh hệt như một vị khách quen, đang say sưa đắm chìm trong sự trở lại của ánh sáng mặt trời, rồi hớn hở báo lại cái tin tức cỏn con ấy cho Daisy. "Em thấy sao nào? Trời đã tạnh mưa rồi đấy."

"Em mừng lắm, Jay." Từ sâu trong cổ họng em, dâng lên một vẻ đẹp đau đáu, xót xa, chất chứa trọn vẹn niềm hân hoan đến bất ngờ.

"Tôi muốn cậu và Daisy qua nhà tôi," anh háo hức đề nghị, "Tôi muốn dẫn cô ấy đi tham quan một vòng."

"Cậu có chắc là muốn tôi đi cùng không đấy?"

"Chắc chắn rồi, anh bạn."

Daisy xin phép lên lầu để rửa mặt-đến lúc này tôi mới chợt nhớ tới mấy cái khăn tắm cũ kỹ của mình, nhưng sự bối rối, xấu hổ ấy đã muộn màng quá rồi. Trong lúc đó, Gatsby và tôi đứng đợi ở ngoài bãi cỏ.

"Nhà tôi trông đẹp đấy chứ?" anh lên tiếng hỏi. "Nhìn kìa, toàn bộ mặt tiền của nó đang bừng lên đón ánh sáng mặt trời."

Tôi gật gù đồng ý rằng nó thực sự lộng lẫy.

"Ừ." Đôi mắt anh lướt dọc theo mặt tiền tòa nhà, từ những cánh cửa vòm cong vút cho tới ngọn tháp vuông vắn. "Tôi đã phải cày cuốc ròng rã suốt ba năm trời mới kiếm đủ số tiền để tậu nó đấy."

"Tôi cứ tưởng anh được thừa kế tiền chứ."

"À, tôi có chứ, anh bạn," anh buột miệng đáp, gần như trong vô thức, "nhưng tôi đã trắng tay mất phần lớn trong cuộc khủng hoảng tài chính-chính là cuộc hoảng loạn khơi mào từ chiến tranh ấy."

Tôi đoán chừng anh đang lơ lửng trên mây, gần như chẳng ý thức được mình đang nói gì. Bằng chứng là khi tôi dò hỏi xem anh đang kinh doanh ngành nghề gì, anh đã gắt lại: "Đó là chuyện riêng của tôi." Ngay tắp lự, anh mới nhận ra đó chẳng phải là một câu trả lời lịch sự cho cam.

"Ồ, tôi đã kinh doanh vài thứ," anh vội vàng sửa lời. "Tôi đã từng làm trong ngành dược phẩm, và sau đó chuyển sang kinh doanh dầu mỏ. Nhưng hiện tại thì tôi đã rút khỏi cả hai mảng đó rồi." Anh nhìn tôi với một vẻ chăm chú hơn hẳn. "Ý cậu là cậu đã suy nghĩ kỹ về những gì tôi đề xuất tối hôm nọ rồi sao?"

Trước khi tôi kịp mở lời đáp lại, Daisy đã bước ra khỏi nhà. Hai hàng khuy đồng đính trên chiếc váy của em lấp lánh, rực rỡ dưới ánh nắng.

"Cái nơi khổng lồ đó á?" em thốt lên kinh ngạc, tay chỉ về phía tòa dinh thự.

"Em có thích nó không?"

"Em yêu nó mê mệt, nhưng em thắc mắc không hiểu làm sao anh có thể sống lủi thủi trong đó một mình được."

"Lúc nào anh cũng giữ cho nơi này đầy ắp những con người thú vị, bất kể ngày đêm. Toàn là những người hay làm những chuyện hay ho. Những kẻ nổi tiếng đấy."

Thay vì đi theo con lối tắt dọc Eo biển, chúng tôi vòng xuống đường lớn và bước qua cánh cổng sau vĩ đại. Trong những tiếng thì thầm đầy mê hoặc, Daisy say sưa chiêm ngưỡng từng góc cạnh của tòa lâu đài oai vệ in bóng trên nền trời. Nàng thu vào tầm mắt những khu vườn ngát hương, hít căng lồng ngực mùi thủy tiên lấp lánh, hương táo gai và hoa mận sủi bọt đan xen cùng sắc vàng nhạt dịu dàng của nụ hôn cổng. Thật kỳ lạ khi bước lên những bậc thềm đá cẩm thạch mà chẳng mảy may thấy bóng dáng những chiếc váy rực rỡ lướt qua lại nơi ngưỡng cửa, cũng chẳng nghe thấy thanh âm nào khác ngoài tiếng chim lảnh lót vút lên từ vòm cây.

Và khi bước vào trong, lang thang qua hết phòng nhạc Marie Antoinette6 đến các gian phòng khách mang đậm phong cách Phục hoàng7, tôi có cảm giác như thể đang có vô số vị khách náu mình sau mỗi chiếc ghế dài, mỗi mặt bàn, nhận lệnh phải nín thở lặng im chờ chúng tôi đi khuất. Ngay lúc Gatsby khép lại cánh cửa "Thư viện Đại học Merton8", tôi dám thề là mình vừa nghe thấy tiếng cười ma quái của gã đàn ông mắt cú vang lên văng vẳng.

Chúng tôi tiếp tục lên lầu, dạo bước qua những phòng ngủ mang hơi hướm cổ điển, nơi những tấm lụa hồng và oải hương điểm xuyết bằng vô vàn đóa hoa tươi thắm, qua hàng loạt phòng thay đồ, phòng bida và cả những gian phòng tắm sở hữu bồn tắm chìm sâu. Rồi chúng tôi bước vào một căn phòng, nơi một gã đàn ông bù xù trong bộ đồ ngủ đang vặn mình tập thể dục gan ngay trên sàn nhà. Đó là ngài Klipspringer, kẻ "ăn nhờ ở đậu". Sáng hôm ấy, tôi đã bắt gặp gã lang thang bệ rạc dọc bờ biển. Rốt cuộc, chúng tôi cũng đến được chốn riêng tư của Gatsby, một không gian bao gồm phòng ngủ, phòng tắm cùng một phòng làm việc kiểu Adam9. Chúng tôi ngồi xuống, nhâm nhi ly rượu Chartreuse10 sóng sánh mà anh vừa lôi ra từ một chiếc tủ âm tường.

Chưa một giây nào anh rời mắt khỏi Daisy. Tôi đồ rằng anh đang đánh giá lại mọi thứ trong chính ngôi nhà của mình, lấy ánh mắt say đắm của nàng làm thước đo giá trị cho từng đồ vật. Lại có những lúc, anh thẫn thờ nhìn quanh đống tài sản khổng lồ ấy, như thể trước sự hiện diện chân thực đến choáng ngợp của nàng, vạn vật xung quanh đều tan biến thành ảo ảnh. Thậm chí có lúc anh suýt trượt ngã nhào khỏi bậc cầu thang.

Phòng ngủ của anh lại là nơi giản dị nhất trong toàn bộ cơ ngơi này-ngoại trừ chiếc tủ áo được điểm xuyết bằng bộ đồ dùng cá nhân đúc từ vàng mờ nguyên khối. Daisy thích thú cầm chiếc lược lên, âu yếm chải chuốt mái tóc mình. Ngay khoảnh khắc ấy, Gatsby ngồi phịch xuống, đưa tay ôm mặt và bật cười nắc nẻ.

"Đó là điều nực cười nhất, anh bạn ạ," anh thốt lên, giọng điệu vui vẻ lạ thường. "Tôi không thể-Khi tôi cố gắng-"

Anh đã bước qua hai trạng thái vô cùng rõ rệt và giờ đang tiến vào trạng thái thứ ba. Sau những bối rối ban đầu và niềm hân hoan tột độ, anh giờ đây hoàn toàn bị choáng ngợp trước sự hiện diện của nàng. Anh đã ấp ủ ảo ảnh ấy quá lâu, mơ về nó một cách cạn kiệt, cắn răng chờ đợi, nói một cách nào đó, ở một cường độ mãnh liệt đến mức không tưởng. Giờ đây, trong phút chốc phản ứng lại, anh như một chiếc đồng hồ được lên dây cót quá căng đang dần tuột dốc.

Mất một phút để bình tĩnh lại, anh mở tung hai chiếc tủ khổng lồ có bằng sáng chế, phô bày vô số bộ vest, áo choàng tắm, cà vạt và cả những chiếc sơ mi được xếp thành từng chồng cao ngất như những khối gạch.

"Tôi có một người quen ở Anh chuyên lo chuyện mua sắm quần áo. Cứ đầu mỗi mùa, mùa xuân hay mùa thu, ông ấy lại gửi sang một bộ sưu tập mới."

Anh lôi ra một chồng áo sơ mi rồi bắt đầu quăng từng chiếc, từng chiếc một ra trước mắt chúng tôi. Những lớp vải lanh mỏng manh, lụa là dày dặn và cả flannel mềm mại bung nếp gấp, rơi lả tả xuống mặt bàn tạo thành một mớ hỗn độn rực rỡ sắc màu. Trong lúc chúng tôi còn mải mê chiêm ngưỡng, anh lại vác thêm ra, khiến đống áo mềm mại ấy ngày một chất cao thêm-những chiếc sơ mi kẻ sọc, họa tiết cuộn trào hay caro với đủ sắc san hô, xanh táo, oải hương và cam nhạt, nổi bật lên là những chữ lồng thêu chỉ xanh da trời. Bất chợt, phát ra một âm thanh nghẹn ngào, Daisy vùi đầu vào đống áo sơ mi, bật khóc nức nở.

"Những chiếc áo này đẹp quá," nàng nức nở, giọng nói nghẹn lại giữa những lớp vải dày dặn. "Điều đó khiến em thấy buồn, bởi em chưa từng-chưa từng được thấy những chiếc áo sơ mi nào đẹp đến thế này trước đây."


Sau khi tham quan hết các căn phòng, chúng tôi dự định sẽ dạo bước ra khuôn viên ngắm hồ bơi, chiếc thủy phi cơ cùng những khóm hoa đua nở giữa độ giữa hè-nhưng ngoài khung cửa sổ của Gatsby, trời lại lất phất đổ mưa. Thế là chúng tôi đành đứng thành một hàng, lặng lẽ ngắm nhìn mặt nước gợn sóng lăn tăn của Eo biển.

"Nếu không có màn sương mù này, chúng ta hoàn toàn có thể nhìn thấy nhà em ở bờ bên kia vịnh," Gatsby lên tiếng. "Nơi cuối bến tàu nhà em luôn có một đốm sáng xanh biếc rực cháy suốt đêm thâu."

Daisy chợt luồn tay qua cánh tay anh, nhưng dường như anh vẫn đang chìm đắm trong chính những lời mình vừa nói. Có lẽ anh vừa chua chát nhận ra rằng ý nghĩa to lớn của ánh đèn ấy giờ đây đã vỡ tan vĩnh viễn. So với khoảng cách diệu vợi từng chia cắt anh và Daisy, ánh sáng ấy đã từng ngỡ như rất gần, gần đến mức tưởng chừng có thể chạm tới nàng. Nó từng hiện diện lấp trực như một vì sao sáng lòa bên cạnh vầng trăng. Nhưng giờ đây, nó lại trở về nguyên dạng chỉ là một ánh đèn xanh đơn độc trên bến tàu. Số lượng những vật thể mang phép màu của anh lại vơi đi mất một.

Tôi bắt đầu dạo quanh phòng, đưa mắt quan sát đủ loại đồ vật ẩn hiện trong màn sương mờ ảo. Một bức ảnh lớn chụp một người đàn ông luống tuổi trong bộ đồ du thuyền được treo ngay ngắn trên bức tường phía sau bàn làm việc của anh đã thu hút sự chú ý của tôi.

"Đây là ai vậy?"

"Đó sao? Đó là ông Dan Cody, anh bạn ạ."

Cái tên nghe thoang thoảng chút quen thuộc.

"Ông ấy đã qua đời rồi. Nhiều năm trước, ông ấy từng là người bạn chí cốt của tôi."

Trên tủ đồ còn có một bức ảnh nhỏ của Gatsby, cũng vận trang phục du thuyền-Gatsby với mái đầu ngả ra sau đầy vẻ thách thức-dường như được chụp vào thuở anh mới chừng mười tám tuổi.

"Em thích bức ảnh này," Daisy reo lên. "Cái kiểu tóc bồng bềnh này! Anh chưa bao giờ kể với em rằng anh có một mái tóc bồng bềnh như thế-hay là cả một chiếc du thuyền nữa."

"Nhìn cái này đi," Gatsby vội vàng đánh trống lảng. "Ở đây có rất nhiều bài báo được cắt ra-viết về em đấy."

Họ kề vai sát cánh cùng nhau lật giở những mảnh giấy. Ngay lúc tôi định cất lời yêu cầu được chiêm ngưỡng những viên hồng ngọc thì chuông điện thoại chợt reo vang, và Gatsby nhấc ống nghe lên.

"Vâng… Chà, bây giờ tôi không thể nói chuyện được… Lúc này tôi không thể nói chuyện được đâu, anh bạn… Tôi đã bảo nó là một thị trấn nhỏ cơ mà… Hắn ta phải biết một thị trấn nhỏ là như thế nào chứ… Chà, hắn chẳng tích sự gì cho chúng ta nếu Detroit lại là khái niệm của hắn về một thị trấn nhỏ…"

Anh dập máy.

"Lại đây nhanh lên!" Daisy gọi với lại từ phía cửa sổ.

Mưa vẫn rả rích tuôn rơi, nhưng bóng tối đã dần tản đi ở phía tây, nhường chỗ cho một dải mây màu hồng và vàng sủi bọt đang lững lờ trôi trên mặt biển bao la.

"Nhìn kìa," nàng thì thầm, rồi một lát sau cất tiếng: "Em chỉ muốn vớt lấy một trong những đám mây màu hồng kia, đặt anh ngồi lên đó rồi đẩy anh trôi dạt khắp chốn."

Khi ấy, tôi đã cố gắng tìm cách cáo lui, nhưng họ nào chịu để tâm; có lẽ chính sự hiện diện của tôi lại càng khiến họ cảm thấy thỏa mãn hơn việc chỉ có hai người ở bên nhau.

"Tôi biết chúng ta sẽ làm gì rồi," Gatsby chợt nói, "chúng ta sẽ bảo Klipspringer đánh một bản piano."

Anh bước ra khỏi phòng, cất tiếng gọi "Ewing!" và trở lại vài phút sau đó cùng một gã thanh niên có vẻ lúng túng, gương mặt hơi phờ phạc, cặp mắt kính gọng mai rùa trễ nải cùng vài lọn tóc vàng lưa thưa. Gã ta giờ đây đã khoác lên mình bộ cánh tươm tất hơn với chiếc "áo sơ mi thể thao" phanh cổ, đôi giày thể thao năng động và chiếc quần vải bạt nhạt màu.

"Chúng tôi có làm gián đoạn bài tập thể dục của anh không?" Daisy cất tiếng hỏi đầy lịch sự.

"Tôi đang ngủ," ngài Klipspringer kêu lên, cơ mặt khẽ giật giật vì bối rối. "Ý tôi là, tôi đã đang ngủ. Rồi tôi tỉnh giấc…"

"Klipspringer đánh piano rất cừ," Gatsby lên tiếng, cắt ngang lời gã. "Có đúng vậy không, Ewing, anh bạn?"

"Tôi chơi không giỏi đâu. Tôi không-tôi gần như chẳng biết chơi chút nào cả. Tôi đã bỏ tập hẳn rồi-"

"Chúng ta sẽ xuống lầu," Gatsby ngắt lời. Anh với tay gạt phăng công tắc. Những ô cửa sổ xám xịt nhạt nhòa lùi bước, nhường chỗ cho căn nhà rực rỡ bừng sáng.

Trong phòng nhạc, Gatsby thắp lên một ngọn đèn đơn độc bên phím dương cầm. Anh châm điếu thuốc cho Daisy bằng ngọn lửa từ tàn diêm run rẩy, rồi đến ngồi cạnh em trên chiếc ghế dài tít tận góc phòng, nơi thứ ánh sáng duy nhất hắt lại là vệt lấp lánh phản chiếu từ mặt sàn bóng loáng ngoài tiền sảnh.

Khi Klipspringer dứt những nốt nhạc cuối của bản "The Love Nest", gã xoay người trên ghế, buồn bã kiếm tìm bóng dáng Gatsby giữa khoảng tối mờ.

"Tôi bỏ tập lâu lắm rồi, anh thấy đó. Tôi đã bảo là tôi không đàn được mà. Tôi thực sự cứng tay rồi-"

"Đừng nói nhiều nữa, anh bạn," Gatsby ra lệnh. "Đàn tiếp đi!"

"Sáng bừng lên,
Chiều buông xuống,
Chẳng phải đôi ta đã từng đắm say-"

Bên ngoài, gió rít từng hồi và những tràng sấm âm ỉ dội về dọc theo eo biển. Mọi ngọn đèn ở West Egg giờ đây đều đã thắp sáng rực rỡ; những chuyến tàu điện chật ních người đang xuyên qua màn mưa xối xả lao về nhà từ New York. Đó là giờ khắc của những đổi thay sâu sắc trong lòng người, phảng phất một nỗi niềm hưng phấn cuộn trào tan vào không khí.

"Có một điều chắc chắn, chẳng gì có thể thật hơn
Kẻ giàu càng thêm giàu, còn người nghèo thì thêm-những đứa con.
Trong khi đó,
Giữa những quãng thời gian luân chuyển-"

Lúc tôi bước tới định nói lời cáo từ, vẻ bàng hoàng dường như lại thoáng hiện trên gương mặt Gatsby, tựa hồ một nỗi hoài nghi mờ nhạt vừa trỗi dậy trong anh về hiện thực của niềm hạnh phúc ngất ngây này. Đã gần năm năm trời! Chắc hẳn đã có những khoảnh khắc, ngay trong chính buổi chiều hôm nay, khi Daisy chẳng thể nào lấp đầy trọn vẹn những mộng tưởng của anh-không phải vì bản thân em có lỗi, mà bởi sức sống mãnh liệt đến huyễn hoặc từ chính cõi mộng của anh. Nó đã vượt xa em, vượt xa mọi thứ trên đời. Anh đã gieo mình vào ảo ảnh ấy bằng một niềm say mê mang tính kiến tạo, không ngừng vun đắp, điểm tô cho nó bằng mọi chiếc lông vũ rực rỡ nhất tình cờ dạt ngang đời mình. Chẳng một ngọn lửa hay một vẻ thanh xuân rạng rỡ nào có thể so bì được với những gì một người đàn ông đủ sức cất giấu sâu thẳm trong trái tim cuồng si và ma mị của anh ta.

Khi tôi khẽ quan sát, anh dường như bừng tỉnh và nhanh chóng chấn chỉnh lại dáng vẻ. Tay anh siết lấy tay em, và khi em kề tai thì thầm một điều gì đó bé nhỏ, anh quay sang nhìn em với một luồng cảm xúc dâng trào mãnh liệt. Tôi nghĩ rằng chính giọng nói ấy mới là thứ trói buộc anh nhiều nhất, với hơi ấm cuồng nhiệt, không ngừng réo rắt luyến láy, bởi vì ngay cả trong những giấc mộng hoang đường nhất thì giọng nói ấy vẫn chẳng thể nào bị thổi phồng hơn được nữa-một giọng nói như bản tình ca bất tử.

Cả hai người họ đã hoàn toàn lãng quên tôi, chỉ có Daisy vô tình ngước lên và chìa tay ra; còn Gatsby lúc này thậm chí chẳng màng nhớ tôi là ai. Tôi nhìn họ thêm một lần nữa, và họ cũng đưa mắt nhìn lại tôi, bằng một ánh nhìn xa xăm, thăm thẳm, như thể đang bị cuốn vào một cõi sống cuồng si nào đó. Rồi tôi lặng lẽ bước ra khỏi căn phòng, bước xuống những bậc thềm cẩm thạch trơn tuột dưới màn mưa, để mặc họ lại đó, bên nhau.



  1. Tên gốc là trò chơi 'Sardines', một biến thể của trốn tìm. Trong đó, một người đi trốn và những ai tìm thấy sẽ phải chui vào trốn cùng, cho đến khi chỗ trốn chật cứng như cá mòi xếp trong hộp. 

  2. Những kỳ triển lãm quốc tế quy mô khổng lồ giới thiệu thành tựu công nghệ và văn hóa. Ở Mỹ, các hội chợ này nổi tiếng với việc sử dụng hàng triệu bóng đèn điện để thắp sáng các công trình kiến trúc đồ sộ giữa đêm. 

  3. Một khu vực bán đảo ở New York, nổi tiếng với các công viên giải trí sầm uất, nhộn nhịp và rực rỡ ánh đèn màu vào đầu thế kỷ 20. 

  4. Ám chỉ tiểu thuyết 'Castle Rackrent' (1800) của Maria Edgeworth. Tên gọi này thường được dùng như một cách ví von về một nơi chứa đựng nhiều bí mật mờ ám, sự suy tàn hoặc những câu chuyện gia tộc che giấu bên trong. 

  5. Immanuel Kant (1724-1804), triết gia vĩ đại người Đức. Tương truyền ông có thói quen luôn nhìn đăm đăm vào một tháp chuông nhà thờ qua cửa sổ mỗi khi tập trung cao độ để suy ngẫm. 

  6. Nữ hoàng cuối cùng của Pháp trước Cách mạng. Việc trang trí phòng theo phong cách của bà tượng trưng cho vẻ đẹp tinh tế, xa hoa và vương giả tột bậc. 

  7. Phong cách nội thất và kiến trúc ở Anh vào cuối thế kỷ 17, mang đặc trưng của sự phô trương, lộng lẫy và các chi tiết gỗ chạm trổ cực kỳ hoa mỹ để thể hiện sự giàu có. 

  8. Merton College là một trong những trường cổ kính nhất thuộc Đại học Oxford (Anh). Tên gọi này được vay mượn để tạo ra vẻ trí thức uyên bác và quyền quý lâu đời cho căn nhà. 

  9. Trường phái thiết kế kiến trúc và nội thất tân cổ điển thế kỷ 18 do anh em nhà Adam người Scotland sáng tạo, nổi tiếng với sự thanh lịch, sang trọng và tỷ lệ chuẩn xác. 

  10. Một loại rượu mùi thảo mộc đắt tiền, có màu xanh ngọc lục bảo hoặc vàng chanh, do các tu sĩ dòng Carthusian ở Pháp chưng cất, đại diện cho lối sống hưởng thụ xa xỉ.