TỰ THUẬT CỦA BÁC SĨ LANYON

Vào ngày mùng chín tháng Giêng, cách đây bốn ngày, qua chuyến thư chiều1 tôi nhận được một phong bì bảo đảm. Địa chỉ trên đó do chính tay người đồng nghiệp kiêm bạn học cũ của tôi, Henry Jekyll, viết. Tôi vô cùng sửng sốt. Chúng tôi vốn chẳng có thói quen trao đổi thư từ; tôi vừa gặp hắn, thậm chí còn ăn tối cùng hắn ngay đêm hôm trước. Tôi không sao hình dung nổi điều gì trong mối quan hệ giữa hai bên lại đòi hỏi đến nghi thức long trọng của một bức thư bảo đảm. Nội dung bức thư càng khiến tôi kinh ngạc hơn nữa. Thư viết như sau:

"Ngày 10 tháng 12, năm 18-.

"Lanyon thân mến,-Anh là một trong những người bạn lâu năm nhất của tôi. Dẫu đôi lúc chúng ta bất đồng về các vấn đề khoa học, tôi không sao nhớ nổi, ít nhất là về phần mình, bất kỳ vết rạn nào trong tình cảm giữa đôi bên. Chưa từng có ngày nào mà, nếu anh nói với tôi, 'Jekyll, mạng sống của tôi, danh dự của tôi, lý trí của tôi, tất thảy đều trông cậy vào anh,' thì tôi lại không sẵn lòng hy sinh cánh tay trái của mình để giúp anh. Lanyon, mạng sống của tôi, danh dự của tôi, lý trí của tôi - tất cả giờ đây đều nằm trọn trong tay anh. Nếu đêm nay anh không ra tay cứu giúp, tôi sẽ mất hết. Anh có thể nghĩ rằng, sau khúc dạo đầu ấy, tôi sắp sửa yêu cầu anh một điều gì đó đáng hổ thẹn. Xin anh hãy tự mình phán xét.

"Tôi muốn anh gác lại mọi cuộc hẹn khác trong đêm nay - đúng vậy, ngay cả khi anh được triệu tập đến bên giường bệnh của một vị hoàng đế. Hãy bắt một chiếc xe ngựa, trừ phi xe của anh đã đợi sẵn ngoài cửa, và mang theo bức thư này để tham khảo, đi thẳng đến nhà tôi. Poole, quản gia của tôi, đã nhận được chỉ thị; anh sẽ thấy ông ấy cùng một thợ khóa đang chờ. Sau đó, các anh phải phá cửa phòng làm việc của tôi. Anh phải bước vào đó một mình, mở chiếc tủ kính có đánh chữ E ở phía tay trái - phá khóa nếu tủ đang khóa - và kéo ra, với nguyên vẹn tất cả những thứ bên trong, ngăn kéo thứ tư từ trên xuống, hay cũng chính là ngăn thứ ba từ dưới lên. Trong cơn hoảng loạn tột cùng, tôi mang một nỗi sợ bệnh hoạn rằng mình sẽ chỉ dẫn sai; nhưng ngay cả khi tôi nhầm lẫn, anh vẫn có thể nhận ra đúng ngăn kéo nhờ những thứ chứa trong đó: một ít thuốc bột, một lọ nhỏ và một cuốn sổ giấy. Tôi cầu xin anh hãy mang ngăn kéo này, giữ nguyên hiện trạng, về nhà anh ở Quảng trường Cavendish.

"Đó là phần thứ nhất của sự giúp đỡ. Giờ đến phần thứ hai. Nếu anh khởi hành ngay khi nhận được thư này, anh sẽ về đến nhà rất lâu trước nửa đêm. Nhưng tôi vẫn chừa cho anh một khoảng thời gian dự phòng như vậy, không chỉ vì lo sợ những trở ngại không thể ngăn chặn hay lường trước, mà còn bởi lẽ khoảng thời gian sau khi những người hầu của anh đã đi ngủ mới chính là lúc lý tưởng nhất cho những việc còn lại. Vậy thì, vào lúc nửa đêm, tôi phải yêu cầu anh ở một mình trong phòng khám, chính tay anh mở cửa cho một người đàn ông sẽ nhân danh tôi mà đến, và trao vào tay ông ta ngăn kéo mà anh đã mang về từ phòng làm việc của tôi. Khi đó, vai trò của anh coi như hoàn tất, và anh sẽ nhận được trọn vẹn lòng biết ơn của tôi. Năm phút sau, nếu anh khăng khăng đòi một lời giải thích, anh sẽ hiểu rằng những sắp đặt này mang tầm quan trọng sống còn; và rằng nếu bỏ qua bất kỳ chi tiết nào trong số đó, dù chúng có vẻ hoang đường đến mấy, anh có thể sẽ phải gánh chịu nỗi dằn vặt lương tâm vì cái chết của tôi hay sự sụp đổ lý trí của tôi.

"Dù tôi tin chắc anh sẽ không coi nhẹ lời cầu khẩn này, trái tim tôi vẫn chùng xuống và tay tôi run rẩy khi chỉ mới nghĩ đến một khả năng như vậy. Hãy nghĩ về tôi trong giờ phút này, ở một nơi xa lạ, đang oằn mình dưới bóng đen tăm tối của nỗi thống khổ mà không trí tưởng tượng nào có thể phóng đại nổi. Đồng thời, tôi cũng biết rõ rằng, nếu anh phục vụ tôi một cách chuẩn xác, những rắc rối của tôi sẽ tan biến như một câu chuyện đã kể xong. Hãy giúp tôi, Lanyon thân mến của tôi, và cứu rỗi

"Bạn của anh,

"H.J.

"Tái bút.-Tôi đã niêm phong bức thư này thì một nỗi kinh hoàng mới lại giáng xuống tâm hồn tôi. Rất có thể bưu điện sẽ làm tôi thất vọng, và bức thư này không đến được tay anh cho đến tận sáng mai. Trong trường hợp đó, Lanyon thân mến, hãy thực hiện việc tôi nhờ vào lúc nào thuận tiện nhất cho anh trong ngày; và một lần nữa hãy chờ đợi sứ giả của tôi vào lúc nửa đêm. Khi ấy có lẽ đã quá muộn; và nếu đêm đó trôi qua mà không có chuyện gì xảy ra, anh sẽ biết rằng anh đã gặp Henry Jekyll lần cuối cùng."

Đọc xong bức thư này, tôi chắc mẩm đồng nghiệp của mình đã mất trí. Nhưng chừng nào điều đó chưa được chứng minh một cách rõ ràng, tôi cảm thấy mình có nghĩa vụ phải làm theo những gì hắn yêu cầu. Càng không hiểu nổi cái mớ hỗn độn ấy bao nhiêu, tôi lại càng không có cơ sở để đánh giá tầm quan trọng của nó bấy nhiêu. Một lời cầu khẩn được diễn đạt như vậy không thể bị gạt sang một bên mà không kèm theo trách nhiệm nặng nề. Thế là tôi đứng dậy khỏi bàn, bước lên một chiếc xe ngựa hansom2, đi thẳng đến nhà Jekyll. Người quản gia đang chờ tôi. Cùng chuyến thư với tôi, ông ấy cũng nhận được một bức thư chỉ dẫn bảo đảm, và đã lập tức cho gọi một thợ khóa cùng một thợ mộc đến. Những người thợ tới nơi khi chúng tôi vẫn còn đang nói chuyện. Tất cả cùng tiến vào phòng phẫu thuật cũ của Bác sĩ Denman, nơi - như anh hẳn đã biết - là lối vào thuận tiện nhất dẫn đến phòng làm việc riêng của Jekyll. Cánh cửa rất chắc chắn, ổ khóa thì tuyệt hảo. Người thợ mộc thú nhận ông ta sẽ gặp rắc rối lớn và phải gây ra nhiều hư hại nếu phải dùng sức mạnh; còn người thợ khóa thì gần như tuyệt vọng. Nhưng anh chàng thợ khóa lại là một kẻ tháo vát, và sau hai giờ miệt mài, cánh cửa đã mở tung. Chiếc tủ đánh dấu chữ E không bị khóa. Tôi rút ngăn kéo ra, cho người lấy rơm chèn kín lại, buộc trong một tấm khăn trải giường, rồi mang nó trở về Quảng trường Cavendish.

Tại đây, tôi bắt tay vào kiểm tra những thứ bên trong. Các gói thuốc bột được gói ghém khá gọn gàng, nhưng không đạt tới sự tinh tế của một dược sĩ chuyên nghiệp; rõ ràng chúng là sản phẩm do chính tay Jekyll pha chế. Khi mở một trong những lớp giấy gói, tôi thấy thứ trông giống như một loại muối kết tinh đơn giản, màu trắng. Chiếc lọ nhỏ, thứ tiếp theo thu hút sự chú ý của tôi, chứa khoảng một nửa chất lỏng màu đỏ như máu, tỏa ra một mùi hăng hắc kích thích mạnh khứu giác - tôi đoán trong đó có phốt pho cùng một loại ête3 dễ bay hơi nào đó. Còn những thành phần khác, tôi không tài nào đoán ra. Cuốn sổ chỉ là một cuốn sổ tay bình thường, hầu như chẳng chứa gì ngoài một chuỗi những ngày tháng. Chúng trải dài suốt nhiều năm, nhưng tôi nhận thấy các ghi chép đã dừng lại cách đây gần một năm và hết sức đột ngột. Chỗ này chỗ kia, thỉnh thoảng có vài dòng nhận xét ngắn ngủi đính kèm một ngày, thường không quá một từ: "nhân đôi" xuất hiện khoảng sáu lần trong tổng số vài trăm mục; và có một lần, từ rất sớm trong danh sách, kèm theo nhiều dấu chấm than: "hoàn toàn thất bại!!!" Tất cả những thứ này, dù có khơi gợi trí tò mò trong tôi, cũng chẳng mang lại chút thông tin rõ ràng nào. Đây là một lọ muối nào đó, cùng hồ sơ về một chuỗi thí nghiệm đã dẫn đến - như quá nhiều cuộc nghiên cứu của Jekyll - chẳng một kết quả thực tiễn nào. Việc những món đồ này hiện diện trong nhà tôi thì có thể ảnh hưởng ra sao tới danh dự, sự tỉnh táo hay mạng sống của người đồng nghiệp nông nổi của tôi? Nếu sứ giả của hắn có thể đi đến một nơi, thì cớ sao ông ta lại không thể đến một nơi khác? Và ngay cả khi thừa nhận có trở ngại nào đó, thì tại sao vị quý ông ấy lại phải được tôi tiếp đón trong bí mật? Càng suy ngẫm, tôi càng tin chắc mình đang đối phó với một ca bệnh lý về não bộ. Dù vậy, sau khi đã cho những người hầu đi ngủ, tôi vẫn nạp đạn vào một khẩu súng lục cũ, để đề phòng trường hợp phải tự vệ.

Đồng hồ vừa điểm mười hai giờ trên khắp thành London thì có tiếng gõ cửa rất khẽ vang lên. Chính tôi ra mở cửa khi nghe tiếng gọi, và tôi thấy một người đàn ông nhỏ thó đang co ro nép mình vào những cây cột ngoài mái hiên.

“Anh đến từ chỗ Bác sĩ Jekyll phải không?” tôi hỏi.

Hắn ta ra hiệu “phải” bằng một cử chỉ gượng gạo. Khi tôi mời hắn vào, hắn không tuân theo ngay mà còn ngoái lại, ném một ánh nhìn dò xét vào màn đêm đen kịt của quảng trường. Không xa đó, một viên cảnh sát đang tiến lại gần, chiếc đèn pin4 trên tay bật sáng. Thấy cảnh ấy, tôi cho rằng vị khách của mình đã giật thót mình và vội vã bước vào nhanh hơn.

Thú thực, những chi tiết này để lại trong tôi một ấn tượng hết sức khó chịu. Khi bước theo hắn vào căn phòng khám sáng rực, tay tôi luôn đặt sẵn trên vũ khí. Và rồi, cuối cùng tôi cũng có dịp quan sát hắn thật kỹ. Tôi chưa từng gặp hắn trước đây, điều đó thì chắc chắn. Hắn nhỏ thó, như tôi đã nói. Nhưng tôi còn bị chấn động bởi vẻ mặt kinh khủng của hắn - bởi sự pha trộn kỳ quái giữa sự linh hoạt cơ bắp đến tột cùng với vẻ yếu ớt suy nhược lộ rõ của thân thể. Và cuối cùng, không kém phần quan trọng, tôi bị chấn động bởi chính cảm giác xáo trộn chủ quan, kỳ dị mà sự hiện diện gần gũi của hắn gây ra. Cảm giác ấy hao hao như cơn rùng mình vừa mới khởi phát, kèm theo nhịp mạch tụt xuống trông thấy. Lúc đó, tôi gán cảm giác ấy cho một nỗi ghê tởm thuần túy cá nhân, và chỉ tự hỏi về sự dữ dội của các triệu chứng. Nhưng kể từ bấy đến nay, tôi có lý do để tin rằng nguyên nhân của nó nằm sâu xa hơn nhiều trong bản chất con người, và xoay quanh một cái bản lề cao quý hơn nhiều so với nguyên lý của nỗi căm ghét.

Con người này - kẻ mà ngay từ khoảnh khắc đầu tiên bước vào đã dấy lên trong tôi thứ mà tôi chỉ có thể gọi là một sự tò mò đầy ghê tởm - ăn mặc theo một lối sẽ khiến bất kỳ ai bình thường cũng phải bật cười. Ý tôi là, quần áo của hắn, dẫu may bằng loại vải đắt tiền và trang nhã, lại quá rộng so với hắn ở mọi số đo. Quần thì lùng bùng trên chân và phải xắn lên để khỏi quệt đất. Eo áo khoác tụt xuống dưới hông. Còn cổ áo thì bành rộng ra hai bên vai. Thật lạ lùng khi phải nói ra điều này, nhưng bộ dạng lố bịch ấy lại chẳng khiến tôi buồn cười chút nào. Trái lại, dường như có điều gì đó dị thường và méo mó nằm ngay trong chính bản chất của sinh vật đang đối diện với tôi lúc này - một điều gì đó lôi cuốn, đáng kinh ngạc và gớm ghiếc - khiến cho sự mất cân xứng mới mẻ kia lại hòa hợp và củng cố thêm cho cái bản chất ấy. Đến nỗi, bên cạnh mối quan tâm về bản chất và tính cách của con người này, trong tôi còn nảy sinh thêm một sự tò mò về nguồn gốc, cuộc sống, vận mệnh và địa vị của hắn trên thế gian.

Những quan sát này, dẫu chiếm quá nhiều chữ để viết ra, thực chất chỉ diễn ra trong vài giây đồng hồ. Vị khách của tôi, quả thực, đang bùng cháy trong một cơn kích động u ám.

“Ông có nó chưa?” hắn kêu lên. “Ông có nó chưa?” Và nỗi sốt ruột của hắn sống động đến mức hắn còn đặt tay lên cánh tay tôi, định lắc tôi nữa.

Tôi gạt hắn ra, ý thức rõ một cơn ớn lạnh chạy dọc huyết quản khi bị hắn chạm vào. “Kìa, anh bạn,” tôi nói. “Anh quên mất rằng tôi vẫn chưa có hân hạnh được quen biết anh đấy. Xin mời ngồi, nếu anh muốn.” Rồi tôi làm mẫu cho hắn và tự mình ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc của mình. Tôi cố hết sức bắt chước phong thái thường ngày vẫn dành cho một bệnh nhân, bất chấp sự tĩnh mịch của đêm khuya, bản chất của những mối bận tâm trong lòng, và nỗi kinh hoàng mà vị khách này gieo vào tôi.

“Tôi xin lỗi, Bác sĩ Lanyon,” hắn đáp lời với một thái độ khá lịch sự. “Những gì ông nói là hoàn toàn có cơ sở. Sự nôn nóng của tôi đã lấn át cả phép lịch sự rồi. Tôi đến đây theo yêu cầu của người đồng nghiệp của ông, Bác sĩ Henry Jekyll, vì một công việc khá quan trọng. Và tôi hiểu là…” Hắn khựng lại, đưa tay lên cổ họng. Tôi có thể thấy, bất chấp vẻ điềm tĩnh mà hắn cố giữ, rằng hắn đang vật lộn với những triệu chứng sắp sửa lên cơn kích động -“…Tôi hiểu là, một cái ngăn kéo…”

Nhưng đến đây, tôi đâm ra thương hại cho nỗi hồi hộp của vị khách. Và có lẽ cũng thương hại cho cả sự tò mò đang ngày một lớn dần của chính mình.

“Nó ở kia kìa, thưa anh,” tôi nói và chỉ tay về phía chiếc ngăn kéo đang nằm trên sàn, sau lưng cái bàn, vẫn được phủ kín bằng tấm khăn trải giường.

Hắn lao tới đó, rồi đột ngột khựng lại và đặt tay lên ngực. Tôi có thể nghe thấy tiếng răng hắn nghiến trèo trẹo qua chuyển động co giật của quai hàm. Khuôn mặt hắn trông ghê rợn đến nỗi tôi bắt đầu hoảng sợ cho cả tính mạng lẫn lý trí của hắn.

“Bình tĩnh lại đi,” tôi nói.

Hắn quay sang, ném cho tôi một nụ cười khủng khiếp. Rồi như thể hành động theo một quyết định của sự tuyệt vọng, hắn giật phăng tấm khăn trải giường. Ngay khi nhìn thấy những thứ bên trong, hắn buông ra một tiếng nức nở lớn - một tiếng nức nở chất chứa nỗi nhẹ nhõm vô bờ bến, khiến tôi ngồi chết lặng. Ngay khoảnh khắc sau, bằng một giọng nói đã lấy lại được khá nhiều sự kiểm soát, hắn hỏi: “Ông có một chiếc cốc chia vạch không?”

Tôi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, hơi khó nhọc một chút, và đưa cho hắn thứ hắn yêu cầu.

Hắn cảm ơn tôi bằng một cái gật đầu mỉm cười, rồi đong vài giọt dung dịch màu đỏ, thêm vào một trong những gói bột. Hỗn hợp lúc đầu có màu hơi đỏ. Khi các tinh thể tan ra, màu sắc bắt đầu sáng lên, sủi bọt nghe rõ mồn một và tỏa ra những làn khói hơi nước nhỏ. Đột nhiên và cùng lúc đó, hiện tượng sủi bọt chấm dứt. Hợp chất chuyển sang một sắc tím sẫm, rồi lại từ từ nhạt dần, phai thành một màu xanh lá cây nhạt như nước. Vị khách của tôi, nãy giờ vẫn dán mắt theo dõi những biến đổi này, khẽ mỉm cười. Hắn đặt chiếc cốc xuống bàn, rồi quay lại nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét.

“Và bây giờ,” hắn nói, “để giải quyết nốt những việc còn lại. Ông sẽ hành xử một cách khôn ngoan chứ? Ông có chịu để tôi dẫn dắt không? Ông có để tôi cầm chiếc cốc này trên tay mà bước ra khỏi nhà ông, không nói thêm lời nào không? Hay lòng tham của sự tò mò đã sai khiến ông quá nhiều rồi? Hãy suy nghĩ trước khi trả lời, vì mọi việc sẽ được thực hiện đúng như ông quyết định. Nếu ông chọn cách thứ nhất, ông sẽ được bỏ lại y như cũ, chẳng giàu có hơn cũng chẳng khôn ngoan hơn - trừ phi cái cảm giác được giúp đỡ một người đang trong cơn nguy kịch sống còn có thể được coi là một thứ tài sản của tâm hồn. Hoặc, nếu ông muốn chọn cách kia, một lĩnh vực tri thức mới mẻ cùng những con đường mới dẫn đến danh vọng và quyền lực sẽ mở ra cho ông. Ngay tại đây, trong căn phòng này, ngay lúc này. Và tầm mắt của ông sẽ choáng ngợp trước một sự kỳ diệu có thể làm chao đảo cả sự vô thần của quỷ Satan5.”

“Thưa anh,” tôi nói, cố tỏ ra một vẻ điềm tĩnh mà bản thân tôi hoàn toàn không có, “anh đang nói những lời đầy bí ẩn. Và có lẽ anh sẽ không ngạc nhiên khi tôi lắng nghe anh với một ấn tượng chẳng lấy gì làm tin cậy cho lắm. Nhưng tôi đã lún quá sâu vào con đường của những sự phục vụ không thể lý giải này, đến mức không thể dừng bước trước khi nhìn thấy điểm kết thúc được nữa.”

“Tốt lắm,” vị khách của tôi đáp. “Lanyon, ông hãy nhớ lại lời thề của mình: những gì xảy ra tiếp theo đây đều nằm dưới sự niêm phong của nghề nghiệp chúng ta. Và bây giờ, hỡi kẻ đã từ lâu bị trói buộc vào những quan điểm hẹp hòi và vật chất nhất, kẻ đã phủ nhận sức mạnh của nền y học siêu nhiên, kẻ đã chế nhạo những bậc bề trên của mình - hãy chiêm ngưỡng!”

Hắn đưa chiếc cốc lên môi và uống cạn một hơi. Một tiếng thét xé toang không gian vang lên. Hắn lảo đảo, chao đảo, bám chặt lấy mặt bàn mà cố trụ vững, hai con mắt đỏ ngầu trợn trừng, miệng há hốc thở hổn hển từng hơi dồn dập. Và ngay trước mắt tôi - dường như có một sự biến đổi đang diễn ra. Hắn như thể đang phình to ra. Khuôn mặt hắn đột nhiên tối sầm lại, những đường nét dường như đang tan chảy và biến dạng đi - rồi trong khoảnh khắc tiếp theo, tôi bật dậy khỏi ghế, lùi bước dán lưng vào tường, hai tay giơ lên che chắn trước cảnh tượng kỳ dị ấy, tâm trí tôi chìm nghỉm trong nỗi kinh hoàng tột bậc.

“Ôi lạy Chúa!” tôi thét lên. Và “Ôi lạy Chúa!” tôi lại thét lên, hết lần này đến lần khác. Bởi ngay trước mắt tôi - gương mặt nhợt nhạt, thân hình run rẩy, nửa như đã lịm đi, hai tay mò mẫm chìa ra phía trước tựa một kẻ vừa từ cõi chết bước về - đang đứng đó, chính là Henry Jekyll!

Những gì hắn nói với tôi suốt một giờ đồng hồ sau đó, tôi không cách nào bắt tâm trí mình ghi chép lại được. Tôi đã thấy những gì tôi thấy, tôi đã nghe những gì tôi nghe, và linh hồn tôi phát ốm vì những điều ấy. Thế nhưng giờ đây, khi cảnh tượng kia đã phai nhòa khỏi đôi mắt, tôi tự hỏi liệu mình có thực sự tin vào nó hay không - và tôi không sao trả lời được. Cuộc đời tôi đã bị rúng động đến tận gốc rễ. Giấc ngủ đã rời bỏ tôi. Nỗi kinh hoàng chết chóc nhất cứ bám riết lấy tôi vào mọi giờ mọi khắc, cả ngày lẫn đêm. Tôi cảm nhận được rằng những ngày tháng của mình chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, rằng cái chết đã cận kề. Thế nhưng tôi sẽ chết trong hoài nghi. Còn về cái sự đồi bại đạo đức mà con người ấy đã phơi bày trước mắt tôi - ngay cả khi nó đi kèm những giọt nước mắt ăn năn - tôi cũng không thể, ngay trong ký ức, nhớ lại mà khỏi rùng mình kinh hãi. Tôi sẽ chỉ nói với anh một điều này thôi, Utterson, và điều đó - nếu anh có thể thuyết phục tâm trí mình mà tin - sẽ là quá đủ. Cái sinh vật đã lẻn vào nhà tôi đêm hôm ấy, đúng như lời Jekyll thú nhận, chính là kẻ được biết đến dưới cái tên Hyde, và đang bị săn lùng khắp mọi ngóc ngách trên đất nước này với tư cách là kẻ đã sát hại Ngài Carew.

HASTIE LANYON.



  1. Ở London thời Victoria, dịch vụ bưu điện nội thành hoạt động rất năng suất. Thư từ được thu gom và phân phát nhiều lần trong ngày. 'Chuyến thư chiều' phản ánh việc một bức thư có thể được gửi đi và nhận được ngay trong cùng một ngày. 

  2. Hansom cab là loại xe ngựa kéo hai bánh, do một con ngựa kéo, được dùng làm phương tiện giao thông công cộng phổ biến ở London cuối thế kỷ 19. Đặc trưng của xe là người đánh xe ngồi ở vị trí cao phía sau thùng xe, cho phép hành khách có tầm nhìn thoáng đãng phía trước. 

  3. Ether (ête) là một hợp chất hóa học dạng lỏng, cực kỳ dễ bay hơi và dễ cháy. Trong y học thế kỷ 19, nó bắt đầu được ứng dụng làm thuốc gây mê qua đường hô hấp hoặc làm dung môi trong các thí nghiệm khoa học. 

  4. Bản gốc tiếng Anh sử dụng từ 'bull's-eye lantern'. Ở thế kỷ 19 chưa có đèn pin chạy bằng điện; cảnh sát thời đó tuần tra đêm bằng một loại đèn lồng đốt dầu hoặc nến, có gắn thấu kính lồi để hội tụ ánh sáng thành luồng chiếu xa. 

  5. Một cách nói cường điệu. Theo quan điểm tôn giáo phương Tây, quỷ Satan là hiện thân của sự phủ nhận và chống đối tột cùng. Câu nói ngụ ý hiện tượng sắp xảy ra phi thường đến mức ngay cả kẻ vô thần, hoài nghi kiên định nhất cũng phải bị khuất phục và tin tưởng.