CÂU CHUYỆN VỀ CÁNH CỬA
Luật sư Utterson mang một gương mặt khắc khổ, chưa một lần bừng sáng dưới nụ cười. Ông lạnh lùng, kiệm lời, lóng ngóng trong những cuộc chuyện trò; dè dặt đến tận cùng trong tình cảm; người gầy gò, dong dỏng cao, phủ đầy vẻ bụi bặm, tẻ nhạt - thế nhưng, chẳng hiểu vì sao, trông ông vẫn khá dễ mến. Những lúc họp mặt thân tình, khi chén rượu vang vừa chạm đúng khẩu vị của ông, ánh mắt ông lại le lói một điều gì đó vô cùng nhân tính; một thứ chưa bao giờ chịu cất lên thành lời, nhưng lại biết lên tiếng - không chỉ qua những biểu hiện lặng lẽ trên khuôn mặt ông sau bữa tối, mà còn qua chính những hành động trong đời ông, và những hành động ấy còn vang vọng mạnh mẽ và thường trực hơn nhiều.
Ông nghiêm khắc với chính mình đến tận xương tuỷ: khi chỉ có một mình, ông uống rượu gin để kìm nén cơn thèm những chai vang hảo hạng; và dù say mê nhà hát đến quên lối về, ông đã suốt hai mươi năm ròng không một lần bước qua ngưỡng cửa nơi ấy. Vậy nhưng, đối với tha nhân, lòng ông lại rộng mở một sự bao dung đáng kinh ngạc. Đôi lúc ông tự hỏi, gần như ganh tị, trước những sức ép tinh thần khủng khiếp đã xô đẩy họ vào lầm lỡ; và trong bất kỳ nghịch cảnh nghiệt ngã nào, ông cũng nghiêng về nâng đỡ thay vì buông lời quở trách. "Tôi có phần ngả theo dị giáo của Cain1," ông thường buông một câu kỳ quặc: "Tôi để mặc người anh em mình tự tìm đường xuống địa ngục, theo cách riêng của anh ta." Với bản tính ấy, số phận thường run rủi cho ông trở thành người quen đáng kính cuối cùng - và cũng là ảnh hưởng tốt đẹp cuối cùng - trong cuộc đời những kẻ đang sa dần xuống vực. Và với những con người như thế, chừng nào họ còn ghé lại văn phòng ông, ông tuyệt nhiên không để lộ một chút thay đổi nào trong thái độ của mình.
Sự kiên định ấy, thực ra, chẳng hề khó khăn với ông Utterson; bởi lẽ cốt cách ông vốn dĩ là người không mấy biểu lộ cảm xúc, và ngay cả những mối tình bạn của ông, dường như cũng được gầy dựng trên cùng một nền tảng dễ chịu và thuận hoà ấy. Dấu hiệu của một kẻ khiêm nhường thường nằm ở chỗ anh ta sẵn lòng đón nhận vòng tròn bạn bè mà cơ duyên mang đến; và đó chính là lối sống của vị luật sư này. Bạn bè ông, hoặc là người chung huyết thống, hoặc là người ông đã quen biết tự thuở xa xưa nhất; tình cảm của ông, tựa như loài thường xuân, âm thầm lớn lên theo thời gian - chúng chẳng đòi hỏi ở đối tượng một sự tương hợp nào ráo trọi. Có lẽ chính cái mối liên kết âm thầm ấy đã gắn bó ông với anh Richard Enfield, người bà con xa, một tay hào hoa nức tiếng khắp phố phường. Nhiều kẻ thực sự bối rối không hiểu hai con người ấy nhìn thấy điểm gì ở nhau, hay họ moi đâu ra một chủ đề chung. Những ai tình cờ chạm mặt họ trong các cuộc tản bộ ngày Chủ nhật đều kể rằng: họ chẳng nói với nhau câu nào, trông buồn tẻ đến tột cùng, và sẽ thở phào nhẹ nhõm ngay khi bóng dáng một người quen xuất hiện. Thế nhưng, chính hai con người ấy lại nâng niu những cuộc dạo chơi kia hơn bất cứ thứ gì, coi chúng như viên ngọc quý nhất của mỗi tuần, và không những sẵn lòng gạt bỏ mọi thú vui khác, mà còn khước từ cả những cuộc gọi công việc, chỉ để được tận hưởng chúng thật trọn vẹn, không một chút gián đoạn.
Tình cờ trong một lần tản bộ, con đường dẫn họ lạc xuống một con phố nhỏ nằm trong khu sầm uất của London. Con phố hẹp và yên ắng, nhưng vào những ngày trong tuần, việc buôn bán lại rất thịnh vượng. Dường như cư dân nơi đây ai cũng làm ăn khấm khá, và người người đều ganh đua mong làm tốt hơn nữa, trích một phần lợi nhuận dôi dư để tô điểm cho cửa tiệm; bởi vậy, những mặt tiền dọc theo con phố khoác lên mình vẻ mời gọi, tựa như những dãy nữ nhân viên bán hàng đang mỉm cười. Ngay cả vào ngày Chủ nhật, khi con phố đã cất đi vẻ quyến rũ lộng lẫy thường ngày và trở nên vắng vẻ hơn hẳn, nó vẫn bừng sáng rực rỡ giữa khu phố lân cận xỉn màu, như ngọn lửa bập bùng trong cánh rừng; với những cánh cửa chớp mới sơn, những tay nắm đồng đánh bóng loáng, cùng vẻ sạch sẽ và tươi vui lan tỏa, con phố lập tức thu hút và làm hài lòng ánh mắt của bất kỳ người qua đường nào.
Cách góc phố chừng hai căn nhà, phía bên trái khi đi về hướng đông, dãy phố bị ngắt quãng bởi một lối vào sân; và ngay tại điểm đó, một khối nhà xám xịt, gở kỳ đâm chìa phần mái hồi ra mặt đường. Nó cao hai tầng, không có lấy một cửa sổ, chẳng có gì ngoài một cánh cửa ở tầng dưới và một mảng tường mù lòa, bạc màu ở tầng trên. Trên từng chi tiết, nó hằn in dấu vết của sự bỏ bê lâu ngày và bẩn thỉu. Cánh cửa không chuông, không tay gõ, đã rộp lên và phai màu. Những kẻ lang thang rảo bước vào hốc tường và quẹt diêm lên những tấm ván cửa; đám trẻ con bày trò bán hàng trên những bậc thềm; thằng học trò thử con dao của mình lên những đường viền trang trí; và suốt gần một thế hệ, chẳng có ai xuất hiện để xua đuổi những vị khách ngẫu nhiên ấy hay sửa chữa những hư hại mà chúng gây ra.
Anh Enfield và vị luật sư đang đi ở phía bên kia con phố nhỏ; nhưng khi họ đi ngang qua lối vào, người thanh niên nhấc cây gậy lên và chỉ.
"Ông đã bao giờ để ý cánh cửa đó chưa?" cậu hỏi; và khi người bạn đồng hành trả lời khẳng định, "Trong tâm trí tôi," cậu nói thêm, "nó gắn liền với một câu chuyện vô cùng kỳ lạ."
"Thật sao?" ông Utterson nói, giọng hơi đổi khác, "và đó là chuyện gì vậy?"
"Chuyện là thế này," anh Enfield đáp. "Tôi đang trên đường về nhà từ một nơi tận cùng thế giới, vào khoảng ba giờ sáng của một đêm mùa đông đen kịt, và đường về của tôi phải băng qua một khu vực của thị trấn nơi đúng nghĩa chẳng có gì để nhìn ngoài những ngọn đèn đường. Hết con phố này đến con phố khác, tất cả mọi người đều đang say ngủ - hết con phố này đến con phố khác, tất cả đều được thắp sáng như để dành cho một cuộc diễu hành và tất cả đều trống rỗng như một nhà thờ - cho đến cuối cùng tôi rơi vào trạng thái tâm lý của một kẻ cứ lắng nghe, lắng nghe mãi và bắt đầu khao khát được nhìn thấy bóng dáng của một viên cảnh sát.
Đột nhiên, tôi nhìn thấy hai dáng người: một là gã đàn ông nhỏ thó đang lê bước nhanh về phía đông, và người kia là một bé gái chừng tám hay mười tuổi đang chạy thục mạng xuống một con phố giao cắt. Vâng, thưa ông, cả hai đâm sầm vào nhau ở góc phố - đó là chuyện hết sức tự nhiên; và sau đó mới là phần kinh khủng của sự việc. Gã đàn ông ấy bình thản giẫm đạp lên người đứa trẻ rồi bỏ mặc con bé la hét trên mặt đất. Nghe thì có vẻ chẳng là gì, nhưng nhìn thì đúng là địa ngục. Hắn không giống một con người; hắn giống như một cỗ xe Juggernaut2 chết tiệt nào đó. Tôi hét lên vài tiếng, vắt chân lên cổ chạy, tóm cổ quý ông của tôi lại và lôi hắn quay trở lại nơi đã có một đám đông tụ tập quanh đứa trẻ đang gào khóc.
Hắn ta hoàn toàn điềm tĩnh và không hề chống cự, nhưng hắn ném cho tôi một cái nhìn gớm ghiếc đến mức khiến tôi toát mồ hôi như đang chạy bộ. Những người đổ ra đường chính là gia đình của bé gái; và một lúc sau, vị bác sĩ mà họ đã nhờ người đi gọi cũng xuất hiện. Chà, đứa trẻ không bị thương nặng lắm, chỉ là hoảng sợ nhiều hơn, theo lời vị bác sĩ; và ông có thể nghĩ rằng đến đó là kết thúc câu chuyện. Nhưng có một tình tiết kỳ lạ. Tôi đã thấy ghê tởm quý ông của tôi ngay từ cái nhìn đầu tiên. Gia đình đứa trẻ cũng vậy, điều đó là đương nhiên. Nhưng trường hợp của vị bác sĩ mới là điều khiến tôi chú ý. Ông ta là một gã dược sĩ khô khan, không rõ tuổi tác hay màu da, với giọng điệu Edinburgh đặc sệt và độ cảm xúc chỉ bằng một chiếc kèn túi3.
Vâng, thưa ông, ông ta cũng giống như phần còn lại của chúng tôi; mỗi lần nhìn gã tù nhân của tôi, tôi lại thấy tay bác sĩ đó trở nên nhợt nhạt và trắng bệch với khao khát muốn giết hắn. Tôi biết điều gì đang diễn ra trong đầu ông ta, cũng như ông ta biết điều gì đang diễn ra trong đầu tôi vậy; và vì việc giết chóc là điều không thể, chúng tôi đã làm điều tốt nhất tiếp theo. Chúng tôi nói với hắn rằng chúng tôi có thể và sẽ tạo ra một vụ bê bối từ chuyện này, khiến cái tên của hắn phải bốc mùi từ đầu này đến đầu kia của London. Nếu hắn có bất kỳ bạn bè hay uy tín nào, chúng tôi đảm bảo rằng hắn sẽ mất sạch. Và suốt thời gian đó, khi chúng tôi đang tuôn ra những lời lẽ gay gắt, chúng tôi đã phải cố gắng hết sức để cản những người phụ nữ lao vào hắn, vì họ điên cuồng như những con yêu quái.
Tôi chưa bao giờ thấy một vòng vây với những khuôn mặt đầy hận thù như vậy; và ở giữa là gã đàn ông đó, với vẻ lạnh lùng khinh khỉnh, đen tối - cũng có vẻ sợ hãi, tôi có thể thấy điều đó - nhưng hắn đã vượt qua, thưa ông, thực sự giống như quỷ Satan vậy. 'Nếu các vị chọn cách kiếm chác từ tai nạn này,' hắn nói, 'tôi dĩ nhiên là vô phương cứu chữa. Chẳng có quý ông nào lại không muốn tránh một cuộc cãi vã ầm ĩ. Hãy ra giá đi.'
Chà, chúng tôi đã ép hắn phải trả một trăm bảng Anh cho gia đình đứa trẻ; rõ ràng là hắn muốn phản đối, nhưng có một điều gì đó trong đám đông chúng tôi mang ý nghĩa đe dọa, và cuối cùng hắn đã phải chịu thua. Việc tiếp theo là đi lấy tiền; và ông nghĩ hắn đã dẫn chúng tôi đi đâu nếu không phải là cái nơi có cánh cửa kia? Hắn rút ra một chiếc chìa khóa, đi vào, và một lúc sau quay lại với mười bảng tiền vàng và một tờ séc cho số tiền còn lại được rút tại ngân hàng Coutts4 - ký phát trả cho người cầm séc và có chữ ký của một cái tên mà tôi không thể nhắc đến, mặc dù đó là một trong những điểm mấu chốt của câu chuyện, nhưng ít nhất đó là một cái tên rất nổi tiếng và thường xuyên được in ấn.
Con số đó khá cứng nhắc, nhưng chữ ký đó còn có giá trị hơn thế - nếu nó là hàng thật. Tôi đã mạn phép chỉ ra cho quý ông của tôi rằng toàn bộ sự việc có vẻ đáng ngờ, và trong đời thực, chẳng có người đàn ông nào lại bước vào một cánh cửa hầm lúc bốn giờ sáng và bước ra với tờ séc của một người khác với số tiền xấp xỉ một trăm bảng. Nhưng hắn lại tỏ ra khá thoải mái và khinh khỉnh. 'Hãy yên tâm đi,' hắn nói, 'tôi sẽ ở lại với các vị cho đến khi ngân hàng mở cửa và tự tay rút tiền mặt từ tờ séc.'
Thế là tất cả chúng tôi cùng lên đường - vị bác sĩ, cha của đứa trẻ, người bạn của chúng tôi và bản thân tôi - và dành phần còn lại của đêm đó trong phòng của tôi; và ngày hôm sau, khi chúng tôi đã dùng xong bữa sáng, chúng tôi cùng nhau đi đến ngân hàng. Chính tay tôi đã nộp tờ séc và nói rằng tôi có đủ mọi lý do để tin rằng đó là một tờ séc giả. Nhưng không hề. Tờ séc đó là thật."
"Chậc chậc!" ông Utterson nói.
"Tôi thấy ông cũng cảm thấy giống như tôi," anh Enfield nói. "Vâng, đó là một câu chuyện tồi tệ. Bởi vì gã đàn ông của tôi là một kẻ mà không ai muốn dính dáng tới, một kẻ thực sự đáng nguyền rủa; và người đã ký tờ séc lại là hình mẫu của sự đoan chính, rất nổi tiếng, và - điều khiến nó tồi tệ hơn - là một trong những người bạn của ông, những người làm điều mà họ gọi là tốt đẹp. Tống tiền, tôi đoán thế; một người đàn ông trung thực đang phải trả giá đắt cho một vài trò lố bịch thời tuổi trẻ của mình. Do đó, tôi gọi nơi có cánh cửa đó là Ngôi Nhà Tống Tiền. Mặc dù ngay cả điều đó, ông biết đấy, cũng chẳng giải thích được tất cả," cậu nói thêm, và cùng với những lời đó, cậu chìm vào dòng suy tư.
Ông Utterson kéo cậu ra khỏi dòng suy tư bằng một câu hỏi đường đột: "Thế cậu có biết người ký tấm séc kia có sống ở đó không?"
"Ở một nơi cũng khả dĩ, phải không ạ?" anh Enfield đáp. "Nhưng tôi có tình cờ để ý đến địa chỉ của ông ta; ông ta sống ở một quảng trường nào đó."
"Còn cậu chưa từng hỏi han gì về cái-nơi có cánh cửa ấy sao?" ông Utterson nói.
"Không, thưa ông; tôi e ngại lắm," là câu trả lời. "Tôi thấy rất áy náy mỗi khi phải đặt câu hỏi; chuyện ấy mang đầy cái điệu bộ của ngày phán xét. Ông mở lời hỏi một câu, và nó chẳng khác nào việc ném một hòn đá. Ông ngồi yên trên đỉnh đồi; rồi hòn đá lăn đi, va vào những hòn đá khác; và rồi một con chim già tội nghiệp nào đó (kẻ cuối cùng mà ông từng nghĩ tới) bị giáng trúng đầu ngay trong mảnh vườn sau nhà mình, thế là cả gia đình phải đổi tên. Không, thưa ông, tôi tự đặt ra cho mình một quy tắc: thứ gì càng giống Phố Queer5, tôi càng ít hỏi han."
"Một quy tắc rất hay đấy," vị luật sư nhận xét.
"Nhưng tự tôi cũng đã tìm hiểu về nơi đó," anh Enfield nói tiếp. "Trông nó chẳng giống một ngôi nhà cho lắm. Chẳng có thêm cánh cửa nào khác, và cũng chẳng ai ra vào qua cánh cửa ấy, ngoại trừ gã đàn ông trong cuộc phiêu lưu của tôi, mà cũng rất hiếm hoi thôi. Có ba ô cửa sổ nhìn ra khoảng sân ở tầng một; phía dưới thì không có lấy một cửa sổ nào; những ô cửa lúc nào cũng đóng kín nhưng lại rất sạch sẽ. Rồi còn có một ống khói thường xuyên nhả khói; vậy nên hẳn phải có người đang sống ở đó. Nhưng điều đó cũng chẳng có gì chắc chắn cho lắm; bởi lẽ mấy toà nhà quanh khoảng sân ấy chen chúc nhau đến nỗi khó lòng phân biệt nổi đâu là chỗ toà này kết thúc và đâu là chỗ toà kia bắt đầu."
Hai người lại sánh bước bên nhau trong thinh lặng thêm một quãng; rồi bất chợt, "Enfield này," ông Utterson cất lời, "cái quy tắc ấy của cậu quả là hay."
"Vâng, tôi cũng nghĩ thế ạ," Enfield đáp.
"Nhưng dẫu sao," vị luật sư nói tiếp, "có một điều tôi muốn được tỏ tường. Tôi muốn biết tên của kẻ đã giẫm đạp lên đứa trẻ."
"Chà," anh Enfield đáp, "tôi chẳng thấy có gì phương hại nếu nói ra. Đó là một gã tên là Hyde."
"Hm," ông Utterson khẽ nhếch môi. "Hắn ta trông ra làm sao?"
"Thật khó mà tả cho ra ngô ra khoai. Có điều gì đó chẳng ổn trong dáng vẻ bề ngoài của hắn; một thứ gì gây khó chịu, một thứ gì thực sự đáng ghê tởm. Tôi chưa từng thấy một người đàn ông nào mà mình lại không ưa đến nhường ấy, thế mà tôi lại gần như chẳng thể cắt nghĩa nổi vì sao. Hẳn là hắn phải có chỗ dị dạng nào đó; hắn toát ra một cảm giác dị dạng mạnh mẽ lạ thường, dù tôi chẳng thể chỉ ra được điểm ấy nằm ở đâu. Hắn là một kẻ có vẻ ngoài khác người, vậy mà tôi thực lòng không sao gọi tên nổi điều gì là khác người cả. Không, thưa ông; tôi không tài nào nắm bắt được; tôi chẳng thể miêu tả nổi hắn. Và điều ấy không phải do trí nhớ tôi có vấn đề; bởi tôi xin thề rằng ngay lúc này đây, tôi vẫn có thể hình dung ra hắn rành rành trước mắt."
Ông Utterson lại lặng lẽ bước thêm một đoạn, gương mặt hằn rõ vẻ đắm chìm trong những suy tư nặng trĩu. "Cậu có chắc là hắn đã dùng một chiếc chìa khoá chứ?" cuối cùng ông cũng cất tiếng hỏi.
"Ông bạn quý mến của tôi ơi..." Enfield buột miệng, chẳng buồn che giấu vẻ kinh ngạc.
"Phải rồi, tôi biết," Utterson nói; "tôi biết điều này nghe có vẻ kỳ quặc. Sự thật là, nếu tôi không hỏi cậu tên của bên còn lại, thì ấy là bởi tôi đã biết rồi. Cậu thấy đấy, Richard à, câu chuyện của cậu đã chạm đúng vào chỗ hiểm. Nếu cậu có điểm nào chưa chính xác, thì cậu nên sửa lại cho đúng đi."
"Tôi nghĩ lẽ ra ông nên báo trước cho tôi mới phải," người kia đáp lại, giọng pha chút phật ý. "Nhưng tôi đã kể hoàn toàn chính xác, như cách ông vừa gọi đấy. Gã đó có một chiếc chìa khoá; và hơn thế nữa, đến giờ hắn vẫn còn giữ nó. Tôi đã thấy hắn dùng nó, chưa đầy một tuần trước thôi."
Ông Utterson thở ra một hơi dài nặng nhọc, nhưng chẳng nói thêm lời nào; và chẳng mấy chốc người bạn trẻ đã nối lời. "Lại thêm một bài học nữa về cái sự không nên ba hoa gì hết," cậu nói. "Tôi thật hổ thẹn vì cái tật dài lưỡi của mình. Chúng ta thoả thuận với nhau là sẽ không bao giờ nhắc lại chuyện này nữa nhé."
"Nhất trí," vị luật sư đáp. "Tôi xin bắt tay cậu về điều đó, Richard."
-
Điển tích Kinh Thánh về Cain và Abel. Khi bị Chúa hỏi về người em trai Abel bị mình giết, Cain đáp: "Tôi là người giữ em tôi sao?". Ý Utterson là ông không can thiệp vào cuộc đời hay phán xét tội lỗi của người khác, để họ tự chịu trách nhiệm. ↩
-
Bắt nguồn từ 'Jagannath', hiện thân của thần Vishnu (Ấn Độ giáo). Trong lễ hội, tượng thần được rước trên cỗ xe khổng lồ, và theo truyền thuyết, nhiều tín đồ cuồng tín đã lao mình vào gầm xe để tử vì đạo. 'Juggernaut' chỉ một sức mạnh tàn nhẫn, mù quáng, nghiền nát mọi thứ cản đường. ↩
-
Kèn túi (bagpipe) là nhạc cụ truyền thống của Scotland (Edinburgh là thủ đô). Câu nói mang tính trào phúng, ám chỉ vị bác sĩ là một người Scotland đặc trưng với tính cách cứng nhắc, lạnh lùng và khô khan. ↩
-
Coutts là một trong những ngân hàng tư nhân lâu đời và danh giá nhất nước Anh, được giới quý tộc và Hoàng gia Anh tin dùng. Việc tờ séc được rút tại Coutts khẳng định người ký thuộc tầng lớp thượng lưu, vô cùng giàu có và uy tín. ↩
-
'Queer Street' (Phố Queer) là cụm từ lóng tiếng Anh thế kỷ 19, dùng để ám chỉ tình cảnh khó khăn, rắc rối, vỡ nợ, hoặc những sự việc mờ ám, bất chính. Enfield dùng từ này để nói rằng anh luôn tránh xa những chuyện có vẻ rắc rối hay mờ ám. ↩
STORY OF THE DOOR
Mr. Utterson the lawyer was a man of a rugged countenance that was never lighted by a smile; cold, scanty and embarrassed in discourse; backward in sentiment; lean, long, dusty, dreary and yet somehow lovable. At friendly meetings, and when the wine was to his taste, something eminently human beaconed from his eye; something indeed which never found its way into his talk, but which spoke not only in these silent symbols of the after-dinner face, but more often and loudly in the acts of his life. He was austere with himself; drank gin when he was alone, to mortify a taste for vintages; and though he enjoyed the theatre, had not crossed the doors of one for twenty years. But he had an approved tolerance for others; sometimes wondering, almost with envy, at the high pressure of spirits involved in their misdeeds; and in any extremity inclined to help rather than to reprove. “I incline to Cain’s heresy,” he used to say quaintly: “I let my brother go to the devil in his own way.” In this character, it was frequently his fortune to be the last reputable acquaintance and the last good influence in the lives of downgoing men. And to such as these, so long as they came about his chambers, he never marked a shade of change in his demeanour.
No doubt the feat was easy to Mr. Utterson; for he was undemonstrative at the best, and even his friendship seemed to be founded in a similar catholicity of good-nature. It is the mark of a modest man to accept his friendly circle ready-made from the hands of opportunity; and that was the lawyer’s way. His friends were those of his own blood or those whom he had known the longest; his affections, like ivy, were the growth of time, they implied no aptness in the object. Hence, no doubt the bond that united him to Mr. Richard Enfield, his distant kinsman, the well-known man about town. It was a nut to crack for many, what these two could see in each other, or what subject they could find in common. It was reported by those who encountered them in their Sunday walks, that they said nothing, looked singularly dull and would hail with obvious relief the appearance of a friend. For all that, the two men put the greatest store by these excursions, counted them the chief jewel of each week, and not only set aside occasions of pleasure, but even resisted the calls of business, that they might enjoy them uninterrupted.
It chanced on one of these rambles that their way led them down a by-street in a busy quarter of London. The street was small and what is called quiet, but it drove a thriving trade on the weekdays. The inhabitants were all doing well, it seemed, and all emulously hoping to do better still, and laying out the surplus of their gains in coquetry; so that the shop fronts stood along that thoroughfare with an air of invitation, like rows of smiling saleswomen. Even on Sunday, when it veiled its more florid charms and lay comparatively empty of passage, the street shone out in contrast to its dingy neighbourhood, like a fire in a forest; and with its freshly painted shutters, well-polished brasses, and general cleanliness and gaiety of note, instantly caught and pleased the eye of the passenger.
Two doors from one corner, on the left hand going east the line was broken by the entry of a court; and just at that point a certain sinister block of building thrust forward its gable on the street. It was two storeys high; showed no window, nothing but a door on the lower storey and a blind forehead of discoloured wall on the upper; and bore in every feature, the marks of prolonged and sordid negligence. The door, which was equipped with neither bell nor knocker, was blistered and distained. Tramps slouched into the recess and struck matches on the panels; children kept shop upon the steps; the schoolboy had tried his knife on the mouldings; and for close on a generation, no one had appeared to drive away these random visitors or to repair their ravages.
Mr. Enfield and the lawyer were on the other side of the by-street; but when they came abreast of the entry, the former lifted up his cane and pointed.
“Did you ever remark that door?” he asked; and when his companion had replied in the affirmative, “It is connected in my mind,” added he, “with a very odd story.”
“Indeed?” said Mr. Utterson, with a slight change of voice, “and what was that?”
“Well, it was this way,” returned Mr. Enfield: “I was coming home from some place at the end of the world, about three o’clock of a black winter morning, and my way lay through a part of town where there was literally nothing to be seen but lamps. Street after street and all the folks asleep-street after street, all lighted up as if for a procession and all as empty as a church-till at last I got into that state of mind when a man listens and listens and begins to long for the sight of a policeman. All at once, I saw two figures: one a little man who was stumping along eastward at a good walk, and the other a girl of maybe eight or ten who was running as hard as she was able down a cross street. Well, sir, the two ran into one another naturally enough at the corner; and then came the horrible part of the thing; for the man trampled calmly over the child’s body and left her screaming on the ground. It sounds nothing to hear, but it was hellish to see. It wasn’t like a man; it was like some damned Juggernaut. I gave a few halloa, took to my heels, collared my gentleman, and brought him back to where there was already quite a group about the screaming child. He was perfectly cool and made no resistance, but gave me one look, so ugly that it brought out the sweat on me like running. The people who had turned out were the girl’s own family; and pretty soon, the doctor, for whom she had been sent, put in his appearance. Well, the child was not much the worse, more frightened, according to the Sawbones; and there you might have supposed would be an end to it. But there was one curious circumstance. I had taken a loathing to my gentleman at first sight. So had the child’s family, which was only natural. But the doctor’s case was what struck me. He was the usual cut and dry apothecary, of no particular age and colour, with a strong Edinburgh accent and about as emotional as a bagpipe. Well, sir, he was like the rest of us; every time he looked at my prisoner, I saw that Sawbones turn sick and white with the desire to kill him. I knew what was in his mind, just as he knew what was in mine; and killing being out of the question, we did the next best. We told the man we could and would make such a scandal out of this as should make his name stink from one end of London to the other. If he had any friends or any credit, we undertook that he should lose them. And all the time, as we were pitching it in red hot, we were keeping the women off him as best we could for they were as wild as harpies. I never saw a circle of such hateful faces; and there was the man in the middle, with a kind of black sneering coolness-frightened too, I could see that-but carrying it off, sir, really like Satan. ‘If you choose to make capital out of this accident,’ said he, ‘I am naturally helpless. No gentleman but wishes to avoid a scene,’ says he. ‘Name your figure.’ Well, we screwed him up to a hundred pounds for the child’s family; he would have clearly liked to stick out; but there was something about the lot of us that meant mischief, and at last he struck. The next thing was to get the money; and where do you think he carried us but to that place with the door?-whipped out a key, went in, and presently came back with the matter of ten pounds in gold and a cheque for the balance on Coutts’s, drawn payable to bearer and signed with a name that I can’t mention, though it’s one of the points of my story, but it was a name at least very well known and often printed. The figure was stiff; but the signature was good for more than that if it was only genuine. I took the liberty of pointing out to my gentleman that the whole business looked apocryphal, and that a man does not, in real life, walk into a cellar door at four in the morning and come out with another man’s cheque for close upon a hundred pounds. But he was quite easy and sneering. ‘Set your mind at rest,’ says he, ‘I will stay with you till the banks open and cash the cheque myself.’ So we all set off, the doctor, and the child’s father, and our friend and myself, and passed the rest of the night in my chambers; and next day, when we had breakfasted, went in a body to the bank. I gave in the cheque myself, and said I had every reason to believe it was a forgery. Not a bit of it. The cheque was genuine.”
“Tut-tut!” said Mr. Utterson.
“I see you feel as I do,” said Mr. Enfield. “Yes, it’s a bad story. For my man was a fellow that nobody could have to do with, a really damnable man; and the person that drew the cheque is the very pink of the proprieties, celebrated too, and (what makes it worse) one of your fellows who do what they call good. Blackmail, I suppose; an honest man paying through the nose for some of the capers of his youth. Black Mail House is what I call the place with the door, in consequence. Though even that, you know, is far from explaining all,” he added, and with the words fell into a vein of musing.
From this he was recalled by Mr. Utterson asking rather suddenly: “And you don’t know if the drawer of the cheque lives there?”
“A likely place, isn’t it?” returned Mr. Enfield. “But I happen to have noticed his address; he lives in some square or other.”
“And you never asked about the-place with the door?” said Mr. Utterson.
“No, sir; I had a delicacy,” was the reply. “I feel very strongly about putting questions; it partakes too much of the style of the day of judgment. You start a question, and it’s like starting a stone. You sit quietly on the top of a hill; and away the stone goes, starting others; and presently some bland old bird (the last you would have thought of) is knocked on the head in his own back garden and the family have to change their name. No sir, I make it a rule of mine: the more it looks like Queer Street, the less I ask.”
“A very good rule, too,” said the lawyer.
“But I have studied the place for myself,” continued Mr. Enfield. “It seems scarcely a house. There is no other door, and nobody goes in or out of that one but, once in a great while, the gentleman of my adventure. There are three windows looking on the court on the first floor; none below; the windows are always shut but they’re clean. And then there is a chimney which is generally smoking; so somebody must live there. And yet it’s not so sure; for the buildings are so packed together about the court, that it’s hard to say where one ends and another begins.”
The pair walked on again for a while in silence; and then “Enfield,” said Mr. Utterson, “that’s a good rule of yours.”
“Yes, I think it is,” returned Enfield.
“But for all that,” continued the lawyer, “there’s one point I want to ask. I want to ask the name of that man who walked over the child.”
“Well,” said Mr. Enfield, “I can’t see what harm it would do. It was a man of the name of Hyde.”
“Hm,” said Mr. Utterson. “What sort of a man is he to see?”
“He is not easy to describe. There is something wrong with his appearance; something displeasing, something down-right detestable. I never saw a man I so disliked, and yet I scarce know why. He must be deformed somewhere; he gives a strong feeling of deformity, although I couldn’t specify the point. He’s an extraordinary looking man, and yet I really can name nothing out of the way. No, sir; I can make no hand of it; I can’t describe him. And it’s not want of memory; for I declare I can see him this moment.”
Mr. Utterson again walked some way in silence and obviously under a weight of consideration. “You are sure he used a key?” he inquired at last.
“My dear sir...” began Enfield, surprised out of himself.
“Yes, I know,” said Utterson; “I know it must seem strange. The fact is, if I do not ask you the name of the other party, it is because I know it already. You see, Richard, your tale has gone home. If you have been inexact in any point you had better correct it.”
“I think you might have warned me,” returned the other with a touch of sullenness. “But I have been pedantically exact, as you call it. The fellow had a key; and what’s more, he has it still. I saw him use it not a week ago.”
Mr. Utterson sighed deeply but said never a word; and the young man presently resumed. “Here is another lesson to say nothing,” said he. “I am ashamed of my long tongue. Let us make a bargain never to refer to this again.”
“With all my heart,” said the lawyer. “I shake hands on that, Richard.”