CHƯƠNG I.
Tôi buộc phải lên tiếng vì các nhà khoa học đã từ chối nghe theo lời khuyên của tôi mà không rõ lý do. Trái với ý muốn của bản thân, tôi phải nói ra những lý do khiến mình phản đối cuộc thâm nhập dự kiến này vào Nam Cực, cùng kế hoạch mở rộng nhằm săn lùng hóa thạch quy mô lớn, khoan phá và làm tan chảy hàng loạt những chỏm băng cổ đại. Và tôi càng miễn cưỡng hơn bởi cảnh báo của tôi có thể sẽ vô ích.
Sự hoài nghi dành cho những sự thật thực tế mà tôi sắp sửa phơi bày là điều khó tránh; thế nhưng, nếu tôi cứ giấu đi những thứ tưởng chừng như hoang đường và khó tin ấy, thì sẽ chẳng còn lại gì. Những bức ảnh chưa từng được công bố cho đến nay, cả ảnh chụp thông thường lẫn ảnh chụp từ trên không, sẽ là bằng chứng thép củng cố cho những lập luận của tôi. Chúng hiện lên sống động và sắc nét đến mức ám ảnh. Dẫu vậy, chúng hẳn sẽ bị hoài nghi, bởi những kỹ xảo làm giả tinh vi ngày nay đã tiến quá xa. Những bức ký họa bằng mực, hiển nhiên, sẽ bị nhạo báng là đồ giả mạo rành rành; bất chấp vẻ dị hợm cùng những kỹ thuật hội họa quái gở mà lẽ ra các học giả nghệ thuật phải lưu tâm và nhức óc giải mã.
Rốt cuộc, tôi đành phải trông cậy vào sự phán xét và uy tín của một vài nhà lãnh đạo khoa học kiệt xuất. Đó là những người, một mặt, sở hữu tư duy độc lập đủ để đánh giá dữ liệu của tôi dựa trên chính những giá trị thuyết phục đến mức đáng sợ của nó, hoặc dưới lăng kính của những chu kỳ thần thoại nguyên thủy và bí ẩn khôn cùng; mặt khác, họ có đủ tầm ảnh hưởng để ngăn cản giới thám hiểm khỏi những tham vọng liều lĩnh và chương trình bành trướng quá mức tại khu vực của những ngọn núi điên loạn đó.
Thật không may là những người khá vô danh như tôi và các cộng sự, vốn chỉ gắn bó với một ngôi trường đại học nhỏ bé, lại có quá ít cơ hội tạo ra tiếng vang khi vô tình chạm trán với những điều kỳ quái tột độ hay những vấn đề gây tranh cãi gay gắt.
Thêm một điểm bất lợi nữa là, xét một cách nghiêm ngặt, chúng tôi không hẳn là chuyên gia trong những lĩnh vực rốt cuộc lại trở thành tâm điểm chính. Với tư cách là một nhà địa chất học, mục đích duy nhất của tôi khi dẫn dắt Đoàn thám hiểm Đại học Miskatonic1 chỉ thuần túy là thu thập các mẫu đá và đất ở tầng sâu từ nhiều khu vực dị biệt của lục địa Nam Cực. Chúng tôi được trang bị mũi khoan ưu việt do giáo sư Frank H. Pabodie thuộc khoa kỹ thuật của trường chế tạo.
Tôi không hề có ý định trở thành người tiên phong trong bất kỳ lĩnh vực nào khác ngoài chuyên môn của mình, nhưng tôi đã từng hy vọng rằng việc ứng dụng cỗ máy cơ khí tân tiến này tại các địa điểm khác nhau, dọc theo những tuyến đường từng được khám phá, sẽ đưa ra ánh sáng những vật chất ẩn sâu mà các phương pháp thu thập thông thường vẫn luôn bó tay.
Thiết bị khoan của giáo sư Pabodie, như các vị đã biết qua những bản báo cáo được công bố, độc đáo và tân tiến ở chỗ nó vô cùng gọn nhẹ, dễ dàng di chuyển. Nó là sự kết hợp hoàn hảo giữa nguyên lý mũi khoan Artesian2 thông thường và mũi khoan đá tròn nhỏ, linh hoạt đối phó với các tầng địa chất có độ cứng thiên biến vạn hóa.
Đầu khoan bằng thép, các thanh nối kiên cố, động cơ xăng, tháp khoan bằng gỗ có thể gập lại, đồ nghề đánh mìn, dây thừng, mũi khoan dọn dẹp đất đá vụn, và đường ống nối đoạn cho các lỗ khoan rộng năm inch, sâu tới một nghìn feet... Tất cả những thứ đó, kết hợp cùng các phụ kiện thiết yếu, tạo thành một khối lượng vừa vặn không vượt quá sức kéo của ba chiếc xe trượt tuyết, mỗi chiếc bảy con chó. Sự cơ động này có được là nhờ loại hợp kim nhôm thông minh mà ông đã dùng để chế tạo phần lớn các bộ phận kim loại.
Bốn chiếc máy bay Dornier3 cỡ lớn, được thiết kế đặc biệt cho các chuyến bay ở độ cao không tưởng-điều kiện bắt buộc trên cao nguyên Nam Cực-đã được trang bị thêm các thiết bị làm ấm nhiên liệu cùng hệ thống khởi động nhanh do giáo sư Pabodie nghiên cứu. Chúng có thể vận chuyển toàn bộ đoàn thám hiểm từ một căn cứ ở rìa rào chắn băng khổng lồ đến nhiều điểm tập kết thuận lợi sâu trong đất liền, và từ những điểm này, bầy chó kéo xe sẽ tiếp quản nhiệm vụ phục vụ chúng tôi.
Chúng tôi đã lên kế hoạch càn quét một khu vực rộng lớn nhất có thể mà một mùa Nam Cực-hoặc lâu hơn thế, nếu thật sự cần thiết-cho phép. Khu vực hoạt động chủ yếu trải dài ở các dãy núi và trên cao nguyên phía nam Biển Ross; những vùng đất từng in dấu chân của Shackleton, Amundsen, Scott, và Byrd4 ở những mức độ khác nhau. Bằng chiến thuật thường xuyên dịch chuyển điểm cắm trại bằng máy bay, bao trùm những khoảng cách đủ lớn để mang lại ý nghĩa sâu sắc về mặt địa chất, chúng tôi những tưởng sẽ khai quật được một khối lượng vật liệu khổng lồ chưa từng có-đặc biệt là ở tầng địa chất tiền Cambri5, nơi mà trước đây người ta chỉ mới thu thập được một phạm vi vô cùng hạn hẹp các mẫu vật Nam Cực.
Chúng tôi cũng khao khát thu thập được nhiều nhất có thể các loại đá chứa hóa thạch ở tầng trên, bởi lịch sử sự sống sơ khai của vương quốc băng giá, chết chóc và cằn cỗi này vô cùng quan trọng trong việc tìm hiểu quá khứ của Trái Đất. Việc lục địa Nam Cực từng sở hữu khí hậu ôn đới, hay thậm chí là nhiệt đới, với hệ động thực vật phong phú-nơi mà giờ đây địa y, hệ động vật biển, lớp hình nhện, và chim cánh cụt ở rìa phía bắc là những sinh vật thoi thóp sống sót duy nhất-đã là một kiến thức phổ thông. Chúng tôi chỉ hy vọng sẽ mở rộng tầm vóc của tri thức đó, bổ sung thêm sự đa dạng, độ chính xác, và từng chi tiết nhỏ nhiệm. Khi một lỗ khoan đơn giản phát lộ những dấu vết mờ nhạt của hóa thạch, chúng tôi sẽ nổ mìn mở rộng miệng hố để đoạt lấy những mẫu vật với kích thước và tình trạng nguyên vẹn nhất có thể.
Các lỗ khoan của chúng tôi, với độ sâu biến thiên tùy thuộc vào những dấu hiệu hứa hẹn từ lớp đất đá phía trên, sẽ bị giới hạn ở những bề mặt lộ thiên, hoặc gần như lộ thiên-đó chắc chắn là những sườn dốc và gờ núi nhô lên từ lớp băng rắn chắc, dày đặc một đến hai dặm đang nuốt chửng các khu vực thấp hơn.
Chúng tôi không thể phung phí độ sâu khoan vào bất kỳ khối lượng băng khổng lồ nào nữa, dẫu cho giáo sư Pabodie đã vạch ra một kế hoạch thả các điện cực đồng vào những cụm lỗ khoan san sát và làm tan chảy những khu vực băng nhất định bằng dòng điện từ một máy phát điện chạy bằng xăng.
Chính kế hoạch này-thứ mà chúng tôi không thể đưa vào áp dụng ngoại trừ việc thử nghiệm trên một chuyến thám hiểm như của chúng tôi-lại là điều mà Đoàn thám hiểm Starkweather-Moore sắp tới đề xuất thực hiện, bất chấp những lời cảnh báo mà tôi đã đưa ra kể từ khi chúng tôi trở về từ Nam Cực.
Công chúng hẳn đã biết đến Đoàn thám hiểm Miskatonic qua những bản tin vô tuyến mà chúng tôi đều đặn gửi về cho tờ Arkham Advertiser cùng hãng thông tấn Associated Press, và sau này là qua những bài viết của giáo sư Pabodie cũng như của chính tôi. Đoàn chúng tôi có bốn người đến từ Đại học Miskatonic-gồm giáo sư Pabodie, anh Lake ở khoa sinh học, anh Atwood thuộc khoa vật lý kiêm luôn vai trò nhà khí tượng học, cùng tôi, đại diện cho ngành địa chất và giữ quyền chỉ huy danh nghĩa. Đi cùng chúng tôi là mười sáu trợ lý: bảy nghiên cứu sinh từ Đại học Miskatonic và chín thợ cơ khí lành nghề.
Trong số mười sáu trợ lý ấy, có tới mười hai phi công đủ điều kiện, và tất cả-chỉ trừ hai người-đều là những nhân viên điện đài điêu luyện. Tám người trong bọn họ sử dụng thành thạo la bàn định vị và kính lục phân, hệt như giáo sư Pabodie, anh Atwood và tôi vậy. Tất nhiên, hai con tàu của chúng tôi-những chiếc tàu săn cá voi bằng gỗ đã cũ, được gia cố cẩn thận để chống chọi với băng giá và trang bị thêm hệ thống động cơ hơi nước phụ trợ-đều có đủ thủy thủ đoàn dày dạn kinh nghiệm.
Quỹ Nathaniel Derby Pickman, với sự chống lưng từ một vài khoản quyên góp đặc biệt, đã tài trợ cho chuyến thám hiểm này. Nhờ đó, khâu chuẩn bị của chúng tôi diễn ra vô cùng kỹ lưỡng, dù không hề được báo giới rầm rộ đưa tin.
Những bầy chó kéo, xe trượt tuyết, máy móc, vật tư hạ trại cùng các linh kiện chưa lắp ráp của năm chiếc phi cơ được chuyển tới Boston, và tại đó, hai con tàu của chúng tôi bắt đầu chất đầy số hàng hóa vào khoang.
Chúng tôi được trang bị vô cùng kỹ lưỡng cho những mục tiêu cụ thể. Về mọi mặt, từ nhu yếu phẩm, chế độ ăn uống, phương tiện di chuyển cho đến việc dựng trại, chúng tôi đã hưởng lợi to lớn nhờ noi theo những tấm gương xuất chúng từ vô số các bậc tiền bối kiệt xuất gần đây. Chính quy mô và danh tiếng quá đỗi lẫy lừng của những bậc đi trước ấy đã khiến chuyến đi của chúng tôi-dù có quy mô đồ sộ đến đâu-cũng chẳng mấy thu hút được sự chú ý của thế giới rộng lớn ngoài kia.
Đúng như báo chí đưa tin, chúng tôi nhổ neo rời cảng Boston vào ngày 2 tháng 9 năm 1930, thong dong rẽ sóng dọc theo bờ biển, xuyên qua Kênh đào Panama, rồi dừng chân tại Samoa và Hobart thuộc Tasmania. Tại chặng dừng cuối cùng này, chúng tôi đã nạp nốt đợt tiếp tế sau chót.
Trong đoàn, chưa một ai từng đặt chân đến miền cực địa, thế nên tất cả đều phải trông cậy cả vào các vị thuyền trưởng-J. B. Douglas, người chỉ huy chiếc thuyền buồm hai cột Arkham kiêm luôn vai trò thống lĩnh đội tàu biển, và Georg Thorfinnssen, chỉ huy chiếc thuyền buồm ba cột Miskatonic. Cả hai đều là những tay thợ săn cá voi cựu trào nơi vùng biển Nam Cực.
Khi chúng tôi bỏ lại thế giới loài người ở phía sau lưng, vầng thái dương ngày càng hạ thấp về phương bắc, rồi cứ thế nán lại lâu dần trên đường chân trời mỗi ngày. Ở khoảng vĩ độ 62° Nam, chúng tôi nhìn thấy những núi băng trôi đầu tiên-những khối băng mang hình thù như chiếc bàn với các vách dựng đứng. Và ngay trước khi chạm ngõ Vòng Nam Cực6-ranh giới mà chúng tôi đã vượt qua vào ngày 20 tháng 10 với những nghi thức kỳ quặc nhưng hợp cảnh-chúng tôi đã phải chật vật chống đỡ với lớp băng dày đặc trên mặt biển.
Cái lạnh thấu xương đã làm tôi khá khó chịu sau chuyến hải trình dài qua vùng nhiệt đới, nhưng tôi vẫn ráng xốc lại tinh thần để đương đầu với những sự khắc nghiệt kinh khủng hơn còn đang chực chờ phía trước. Có những bận, các hiện tượng khí quyển kỳ ảo đã thu hút tôi vô cùng. Trong số đó có một ảo ảnh vô cùng sống động-ảo ảnh đầu tiên tôi từng chứng kiến-biến những núi băng trôi mờ xa thành rặng tường thành của những tòa lâu đài vũ trụ không sao tưởng tượng nổi.
Xuyên qua lớp băng biển lởm chởm-may thay không quá rộng hay quá dày-chúng tôi lọt vào vùng nước mở ở vĩ độ 67° Nam, kinh độ 175° Đông. Rạng sáng ngày 26 tháng 10, một dải sáng phản chiếu rực rỡ từ đất liền hiện lên mạnh mẽ ở phương nam. Ngay trước buổi trưa, tất thảy chúng tôi đều cảm thấy một niềm phấn khích tột độ khi chiêm ngưỡng dãy núi tuyết khổng lồ, cao ngất ngưởng và trải dài vô tận, chiếm trọn toàn bộ khung cảnh phía trước. Rốt cuộc thì chúng tôi cũng đã chạm trán với tiền đồn của một lục địa vĩ đại chưa từng được biết tới, cùng với thế giới bí ẩn của cái chết băng giá đang ngự trị nơi đây.
Những đỉnh núi uy nghi kia hiển nhiên là Dãy Admiralty do Ross khám phá ra, và giờ đây nhiệm vụ của chúng tôi là đi vòng qua Mũi Adare, căng buồm xuôi theo bờ biển phía đông của Victoria Land để tiến tới căn cứ dự kiến nằm trên bờ biển McMurdo Sound, nép mình dưới chân ngọn núi lửa Erebus7 ở vĩ độ 77° 9´ Nam.
Chặng cuối cùng của hải trình hiện lên thật sống động, nhưng lại không ngừng khơi gợi trí tưởng tượng phong phú trong tôi. Suốt dọc bầu trời phía tây, những đỉnh núi cằn cỗi, vĩ đại và tăm tối không ngừng vươn mình sừng sững. Dưới ánh mặt trời phương bắc chúi thấp đổ bóng giữa trưa, hay khi vầng thái dương phương nam lướt nhẹ ngang đường chân trời lúc nửa đêm, muôn vàn tia sáng đỏ nhạt mờ ảo tuôn trào, hắt thứ ánh sáng sắc đỏ dị thường lên nền tuyết trắng toát, lên những dải băng và luồng nước xanh biếc, ôm trọn những mảng đen kịt của sườn đá granite lộ thiên trơ trọi.
Xuyên qua những đỉnh chóp hoang vu tàn lụi ấy, cuồng phong Nam Cực từng đợt gào thét hung bạo. Có đôi lúc, nhịp điệu của trận cuồng phong mang theo âm hưởng mơ hồ của một tiếng sáo hoang dại và dường như có một nửa ý thức, vang vọng qua những nốt nhạc vút lên vặn vẹo trải dài. Và vì một lý do ký ức tiềm thức nào đó, thứ âm thanh ấy khiến tôi cảm thấy bất an và thậm chí là đáng sợ một cách mơ hồ.
Khung cảnh hoang lương này bất chợt gọi về trong tâm trí tôi những bức họa châu Á kỳ dị và ám ảnh của Nicholas Roerich, cũng như những ghi chép thậm chí còn rùng rợn và tà ác hơn về cao nguyên Leng8 ma quái được lưu truyền trong cuốn Necronomicon9 gở điềm của gã Ả Rập điên rồ Abdul Alhazred10. Mãi về sau này, tôi đã cảm thấy khá hối tiếc vì từng lật giở cuốn sách quái đản đó trong thư viện đại học.
Ngày 7 tháng 11, khi dãy núi phía tây chìm khuất khỏi tầm mắt, chúng tôi vượt qua Đảo Franklin. Ngay ngày hôm sau, những hình nón khổng lồ của Núi Erebus và Núi Terror trên Đảo Ross đã sừng sững hiện ra phía trước, lồng lộng giữa dải Dãy núi Parry mờ xa. Giờ đây, trải dài về phương đông là đường viền trắng toát, lúp xúp của rào chắn băng vĩ đại; nó dựng đứng vuông góc ở độ cao hai trăm feet, hệt như những vách đá sừng sững ở Quebec, đánh dấu điểm kết thúc cho mọi chuyến hải hành xuôi về phương nam.
Vào buổi chiều, đoàn thám hiểm tiến vào McMurdo Sound và thả neo ngoài khơi, nép vào mạn khuất gió của ngọn Erebus đang không ngừng nhả khói. Chóp núi phủ đầy xỉ nhô cao mười hai nghìn bảy trăm feet vươn lên bầu trời phía đông, trông xa tựa bức tranh khắc gỗ Nhật Bản vẽ ngọn Phú Sĩ linh thiêng. Xa hơn nữa là bóng dáng trắng dã, mang vẻ ma quái của ngọn Terror, sừng sững ở độ cao mười nghìn chín trăm feet, vốn dĩ giờ chỉ còn là một ngọn núi lửa đã tắt.
Từng luồng khói từ ngọn Erebus thi thoảng lại cuộn lên từng đợt. Một trong những nghiên cứu sinh-cậu Danforth, một thanh niên xuất chúng-chỉ tay vào những vệt trông như dung nham trên sườn núi phủ tuyết trắng. Cậu nhận xét rằng, được khám phá vào năm 1840, chắc hẳn ngọn núi này chính là ngọn nguồn cảm hứng cho những vần thơ của Poe11 bảy năm sau đó:
"-những dòng dung nham không ngừng cuộn chảy
Những dòng chảy sặc mùi lưu huỳnh của chúng trút xuống Yaanek
Trong những miền khí hậu tận cùng của các vì cực-
Rằng chúng gầm rên khi cuộn trào xuống Núi Yaanek
Trong các vương quốc của vùng cực quang."
Cậu Danforth vốn là người say mê những tư liệu dị thường, và cậu đã thao thao bất tuyệt về Poe. Bản thân tôi cũng bị lôi cuốn bởi bối cảnh Nam Cực trong câu chuyện dài duy nhất của Poe-tác phẩm Arthur Gordon Pym12 chất chứa đầy phiền muộn và bí ẩn. Trải dọc bờ biển cằn cỗi, với phông nền là rào chắn băng dựng đứng khổng lồ, vô số những con chim cánh cụt mang hình thù kỳ cục thi nhau kêu quang quác, vỗ vỗ đôi vây. Trong khi đó, hàng bầy hải cẩu béo mập nổi rõ trên mặt nước, con thì bơi lội tung tăng, con lại nằm ườn vắt vẻo trên những tảng băng lớn đang lững lờ trôi.
Chuyển sang những chiếc thuyền nhỏ, chúng tôi đã thực hiện cuộc đổ bộ đầy gian nan lên Đảo Ross ngay sau nửa đêm. Vào rạng sáng ngày 9, với đường cáp chăng từ mỗi con tàu, chúng tôi hối hả chuẩn bị dỡ hàng tiếp tế qua hệ thống ròng rọc.
Cảm xúc của chúng tôi khi lần đầu tiên đặt chân lên cõi Nam Cực này thật mãnh liệt và phức tạp, dẫu biết rằng ngay tại chính nơi đây, những đoàn thám hiểm lừng danh của Scott và Shackleton đã in dấu chân đi trước.
Khu trại của đoàn trên bờ biển đóng băng dưới sườn núi lửa thực chất chỉ là một trạm dừng chân tạm thời, còn trụ sở chính vẫn được duy trì trên tàu Arkham. Chúng tôi hối hả dỡ lên bờ toàn bộ dàn khoan, chó kéo, xe trượt tuyết, lều bạt, lương thực, thùng xăng, cùng hàng loạt thiết bị làm tan băng thử nghiệm. Đi kèm với đó là đủ loại máy ảnh-cả cầm tay lẫn chụp từ không trung-phụ tùng máy bay, cùng vô số vật dụng thiết yếu khác. Đáng chú ý nhất là ba thiết bị vô tuyến di động nhỏ-hoàn toàn tách biệt với dàn máy trên không-có khả năng giữ liên lạc với hệ thống chính yếu của tàu Arkham từ bất cứ xó xỉnh hoang vu nào trên lục địa Nam Cực mà chúng tôi có thể đặt chân tới.
Hệ thống vô tuyến trên tàu sẽ đảm đương nhiệm vụ kết nối với thế giới bên ngoài, liên tục phát đi các báo cáo tới trạm thu phát mạnh mẽ của tờ Arkham Advertiser tại Kingsport Head, Mass. Chúng tôi hy vọng có thể hoàn tất chiến dịch này chỉ trong một mùa hè duy nhất ở Nam Cực. Dù vậy, nếu điều đó trở nên bất khả thi, cả đoàn sẽ trú đông trên con tàu Arkham, đồng thời cử con tàu Miskatonic đi ngược về phương bắc trước khi những dải băng đóng chặt, nhằm mang về thêm nguồn tiếp tế cho một mùa hè thứ hai.
Tôi hẳn không cần lặp lại những gì báo chí đã đăng tải về giai đoạn đầu của công cuộc khám phá: từ việc chúng tôi chinh phục núi Erebus, hay những mũi khoan khoáng sản thành công trên đảo Ross. Thiết bị do ông Pabodie chế tạo đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với tốc độ phi thường, dễ dàng xuyên thủng cả những tầng đá rắn chắc nhất. Sau đó là cuộc thử nghiệm sơ bộ hệ thống làm tan băng cỡ nhỏ, rồi chuyến hành trình đầy hiểm nguy trên xe trượt tuyết để đưa đồ tiếp tế vượt qua rào chắn vĩ đại. Và cuối cùng là việc lắp ráp thành công năm chiếc máy bay khổng lồ ngay tại khu trại trên đỉnh rào chắn.
Sức khỏe của đội thám hiểm đường bộ-gồm hai mươi người đàn ông và năm mươi lăm con chó kéo xe Alaska-vẫn duy trì ở mức đáng kinh ngạc. Tất nhiên, điều này một phần là do chúng tôi chưa phải đối mặt với mức nhiệt độ khắc nghiệt hay những trận cuồng phong mang sức mạnh hủy diệt thực sự nào.
Phần lớn thời gian, nhiệt kế chỉ dao động trong khoảng từ 0 đến 20° hoặc 25° trên mức 0. Những kinh nghiệm sinh tồn qua các mùa đông ở New England đã giúp chúng tôi dễ dàng thích nghi với cái lạnh chừng ấy. Trại rào chắn được thiết lập như một căn cứ bán kiên cố, nhằm mục đích tàng trữ xăng dầu, lương thực, thuốc nổ mìn cùng nhiều nhu yếu phẩm khác.
Chúng tôi chỉ cần bốn chiếc máy bay để vận chuyển toàn bộ vật tư thám hiểm. Chiếc thứ năm được lưu lại trại dự trữ cùng một viên phi công và hai thủy thủ điều động từ tàu lên. Việc này nhằm thiết lập một phương án dự phòng, để tàu Arkham có thể tiếp cận chúng tôi trong trường hợp toàn bộ phi đội thám hiểm gặp nạn.
Theo kế hoạch, khi không còn phải huy động toàn bộ máy bay để vận chuyển thiết bị, chúng tôi sẽ dùng một hoặc hai chiếc làm phương tiện luân chuyển. Chúng sẽ bay lại giữa khu trại này và một căn cứ thường trực khác trên vùng cao nguyên rộng lớn, cách đó chừng sáu, bảy trăm dặm về hướng nam, vượt ra ngoài cả dòng sông băng Beardmore.
Bất chấp vô số những báo cáo tương đồng về những trận giông bão và cuồng phong kinh hoàng thường trực trút xuống từ cao nguyên, chúng tôi vẫn quyết định không lập thêm các trạm trung gian. Chúng tôi chấp nhận rủi ro này, nhằm đổi lấy sự hiệu quả và tiết kiệm tối đa thời gian lẫn vật lực.
Những bản tin vô tuyến hẳn đã truyền đi thông tin về chuyến bay thẳng kéo dài bốn giờ đồng hồ ngoạn mục của phi đội chúng tôi vào ngày 21 tháng 11. Chúng tôi bay vút qua những thềm băng cao ngất, với vô vàn những đỉnh núi bao la sừng sững vươn lên ở phía tây, nơi sự tĩnh lặng khôn dò của hoang mạc trắng chỉ bị phá vỡ bởi tiếng gầm rú vọng lại từ động cơ.
Sức gió cản trở chỉ ở mức vừa phải, và hệ thống la bàn vô tuyến đã giúp phi đội dễ dàng xuyên qua dải sương mù mờ đục duy nhất trên đường đi. Khi sườn dốc khổng lồ dần hiện ra lờ mờ phía trước, nằm giữa Vĩ độ 83° và 84°, chúng tôi hiểu mình đã chạm đến Beardmore, dòng sông băng thung lũng lớn nhất thế giới. Vùng biển đóng băng giờ đây nhường chỗ cho một đường bờ biển lởm chởm rặng núi, nom như một thế trận cau mày đầy đe dọa.
Cuối cùng thì chúng tôi cũng thực sự bước chân vào thế giới trắng toát, chìm trong cái chết muôn thuở nơi phương nam tận cùng. Ngay khi vừa nhận thức được điều đó, chúng tôi liền nhìn thấy đỉnh núi Nansen ở tít tắp mờ xa về phía đông, sừng sững vươn lên tới độ cao gần mười lăm nghìn feet.
Việc thiết lập thành công căn cứ phía nam bên trên dòng sông băng, ở tọa độ 86° 7´ Vĩ độ Nam và 174° 23´ Kinh độ Đông, nay đã trở thành lịch sử. Những mũi khoan cùng những đợt nổ mìn nhanh chóng và hiệu quả phi thường cũng vậy; chúng được tiến hành dọc theo vô số những điểm dừng chân từ các chuyến bay ngắn và những lộ trình của xe trượt tuyết. Thêm vào đó còn là cuộc leo dốc đầy tự hào nhưng cũng lắm gian truân lên đỉnh núi Nansen, do ông Pabodie cùng hai nghiên cứu sinh-cậu Gedney và cậu Carroll-thực hiện từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 12.
Lúc bấy giờ, chúng tôi đang ở độ cao khoảng tám nghìn năm trăm feet so với mực nước biển. Tại vài điểm cụ thể, những mũi khoan thử nghiệm đã phát lộ ra một nền đất cứng nằm khuất chỉ khoảng mười hai feet bên dưới tầng tầng tuyết băng. Nắm lấy cơ hội, chúng tôi tận dụng tối đa thiết bị làm tan băng cỡ nhỏ, tiến hành khoét sâu các lỗ khoan và nổ mìn ở khắp mọi nơi-những nơi mà trước đây chưa một nhà thám hiểm nào dám mơ tới việc thu thập mẫu vật.
Những khối đá sa thạch ngọn hải đăng13 và granite thuộc kỷ tiền Cambri thu được từ lòng đất đã củng cố thêm giả thuyết của đoàn thám hiểm. Chúng tôi tin rằng cao nguyên này có tính đồng nhất và gắn liền với khối lục địa vĩ đại ở phía tây. Tuy nhiên, nó lại có phần khác biệt so với những vùng nằm xa về phía đông, bên dưới Nam Mỹ. Hồi ấy, chúng tôi vẫn đinh ninh rằng phần phía đông kia tạo thành một lục địa độc lập và nhỏ bé hơn, bị chia cắt khỏi đại lục địa bởi dải ngã ba đóng băng nơi biển Ross và biển Weddell giao nhau, mặc cho sau này Byrd đã lên tiếng bác bỏ báo cáo đó.
Quá trình khoan đục và nổ mìn đã phơi bày bản chất thực sự của một số vỉa sa thạch nhất định, nơi chúng tôi phát hiện ra những vết hằn cùng các mảnh hóa thạch cực kỳ thú vị. Đáng chú ý nhất là dấu vết của dương xỉ, rong biển, bọ ba thùy14, huệ biển, và cả những động vật thân mềm như động vật tay cuộn15 hay động vật chân bụng. Tất cả những phát hiện này dường như ẩn chứa một ý nghĩa thực sự, một mối liên kết mật thiết với lịch sử nguyên thủy của vùng đất chết này. Đặc biệt hơn cả, chúng tôi còn tìm thấy một vết hằn kỳ lạ hình tam giác, điểm xuyết bằng những rãnh khía với đường kính lớn nhất lên tới khoảng một foot. Vết hằn này đã được anh Lake cẩn thận chắp vá lại từ ba mảnh đá phiến, vốn được lấy lên từ một lỗ hổng sâu hoắm do thuốc nổ tạo ra.
Những mảnh đá vỡ này được khai quật từ một địa điểm nằm chếch về hướng tây, giáp ranh với dãy núi Queen Alexandra. Dưới góc nhìn của một nhà sinh học như anh Lake, những vết hằn kỳ lạ đó dường như mang đến một sự bối rối, khơi gợi trong anh lòng hiếu kỳ cao độ. Thế nhưng, đối với đôi mắt thấm đẫm chuyên môn địa chất của tôi, nó trông chẳng khác nào một vài hiệu ứng gợn sóng vẫn thường xuất hiện nhan nhản trên bề mặt các lớp đá trầm tích.
Suy cho cùng, đá phiến vốn dĩ chỉ là một dạng thức biến chất hình thành khi một tầng trầm tích bị nén chặt. Và một khi bản thân áp lực khổng lồ ấy có thể bóp méo hình dạng của bất kỳ dấu tích nào còn sót lại trên đá, tôi thực sự chẳng thấy có lý do gì để phải tỏ ra ngạc nhiên thái quá trước một cái hố lõm có rãnh khía cỏn con như thế.
Ngày 6 tháng 1 năm 1931, anh Lake, giáo sư Pabodie, Daniels, cùng tất cả sáu cậu nghiên cứu sinh, bốn thợ cơ khí và tôi đã bay vút qua ngay trên Nam Cực trên hai chiếc phi cơ cỡ lớn. Chúng tôi từng phải hạ cánh khẩn cấp một lần vì một luồng gió mạnh bất thần ập tới, nhưng ơn trời, nó không tiến triển thành một cơn bão thực sự. Đây vốn là một trong những chuyến bay trinh sát - như báo chí đã đưa tin - nhằm xác định những đặc điểm địa hình mới lạ tại những vùng đất hoang sơ chưa từng in dấu chân của bất kỳ nhà thám hiểm nào.
Thành thực mà nói, những chuyến bay đầu tiên lại mang đến nỗi thất vọng tràn trề ở khía cạnh địa hình, dẫu bù lại, chúng phô diễn trước mắt chúng tôi những ảo ảnh vùng cực tráng lệ và đầy dối trá - những ảo ảnh huyễn hoặc mà chúng tôi mới chỉ được nếm trải đôi chút trong hành trình trên biển trước đó.
Những rặng núi xa xăm lơ lửng giữa lưng chừng trời tựa hồ những đô thành bị ma thuật phù phép, và thường thì, toàn bộ thế giới trắng toát ấy sẽ tan chảy, hóa thành một cõi mộng mị ngập tràn sắc vàng, bạc và đỏ thắm. Đó là cõi mộng theo kiểu Dunsany16, khơi gợi khao khát phiêu lưu mãnh liệt dưới ánh hào quang diệu kỳ của mặt trời hạ thấp lúc nửa đêm.
Vào những ngày u ám, việc điều khiển máy bay gặp muôn vàn trắc trở, bởi mặt tuyết trắng xóa và bầu trời dường như hòa quyện làm một. Chúng quyện vào nhau thành một khoảng không trắng đục, huyền bí, tước đi mọi đường chân trời hữu hình để đánh dấu ranh giới giao thoa của đất và trời.
Rốt cuộc, chúng tôi quyết tâm bám sát kế hoạch ban đầu: điều động toàn bộ bốn chiếc máy bay thám hiểm tiến về phía đông năm trăm dặm để thiết lập một căn cứ phụ mới. Điểm đến này - theo những suy đoán sai lầm lúc bấy giờ - có lẽ nằm trên vùng phân chia lục địa nhỏ hơn. Những mẫu vật địa chất thu thập từ đó sẽ là tư liệu vô giá để phục vụ công tác đối chiếu.
Cho tới thời điểm đó, thể trạng của cả đoàn vẫn duy trì ở mức tuyệt hảo. Nước chanh đã bù đắp xuất sắc cho một thực đơn nhàm chán chỉ rặt đồ hộp và đồ ướp muối, còn nhiệt độ thì luôn giữ ở mức trên không độ, cho phép chúng tôi thoải mái hoạt động mà chẳng màng tới những bộ đồ lông thú dày cộm nhất.
Bấy giờ đang độ giữa hè, và nếu tiến hành khẩn trương nhưng cẩn trọng, chúng tôi hẳn sẽ hoàn thành công việc vào tháng Ba, qua đó né tránh được kỳ trú đông tẻ ngắt mịt mùng giữa đêm đen Nam Cực đằng đẵng. Đã có vài trận cuồng phong man rợ quét qua từ hướng tây, nhưng chúng tôi bình an vô sự nhờ tài trí của anh Atwood. Anh đã sáng chế ra những hầm trú ẩn máy bay thô sơ, dựng nên những bức tường chắn gió từ những khối tuyết nén chặt, đồng thời gia cố vững chắc các công trình chính trong trại bằng tuyết. Sự may mắn cũng như hiệu suất làm việc của chúng tôi quả thực phi thường đến mức gần như ẩn chứa điều gì đó kỳ lạ và bí ẩn.
Chắc hẳn thế giới bên ngoài đã nắm rõ lịch trình của chúng tôi, và có lẽ cũng đã nghe đồn về sự bướng bỉnh kỳ quặc đến ngoan cố của anh Lake khi khăng khăng đòi thực hiện một chuyến thăm dò về hướng tây - hay chính xác hơn là tây bắc - trước khi chúng tôi chính thức dời toàn bộ sang căn cứ mới.
Dường như anh ta đã trăn trở rất nhiều, và với một tư duy táo bạo đến mức đáng báo động, anh ta đã lý giải vết hằn hình tam giác có rãnh khía trên tảng đá phiến nọ. Anh ta nhận ra những điểm mâu thuẫn bất thường về mặt tự nhiên và niên đại địa chất hằn sâu trong đó. Khám phá ấy đã kích thích trí tò mò của anh lên đến đỉnh điểm, khiến anh ta vô cùng khao khát được cắm mũi khoan sâu hơn, được giật mìn phá đá ở dải địa tầng trải dài về phía tây - nơi mà những mảnh vụn vừa khai quật chắc chắn thuộc về.
Anh ta mang một niềm tin dị thường rằng vết hằn nọ chính là dấu vết của một sinh vật khổng lồ, vô danh và hoàn toàn không thể phân loại. Nó phải sở hữu một quá trình tiến hóa cực kỳ tân tiến, bất chấp sự thật hiển nhiên rằng tảng đá lưu giữ vết hằn đó lại có niên đại cổ xưa đến mức phi lý - thuộc kỷ Cambri, nếu không muốn nói là tiền Cambri. Niên đại xa xưa đó vốn dĩ đã bác bỏ hoàn toàn sự tồn tại của mọi sinh vật bậc cao, hay đúng hơn là mọi sinh vật vượt quá cấp độ đơn bào, hoặc cùng lắm là bọ ba thùy. Những mảnh vỡ ấy, cùng với vết hằn kỳ quái kia, chắc chắn phải trôi dạt từ năm trăm triệu cho đến một tỷ năm trước.
-
Một trường đại học hư cấu trong vũ trụ văn học của H.P. Lovecraft, tọa lạc tại thành phố giả tưởng Arkham, Massachusetts. Nơi đây nổi tiếng với thư viện lưu giữ những cuốn sách ma thuật cấm kỵ và là trung tâm nghiên cứu các hiện tượng siêu nhiên. ↩
-
Mũi khoan Artesian (giếng Artesian) là loại thiết bị khoan sâu chuyên dụng để tạo giếng tự phun, lợi dụng áp suất ngầm để tự đẩy nước lên. Trong ngữ cảnh này, nó ám chỉ hệ thống mũi khoan mạnh mẽ có thể đâm xuyên các tầng đá cứng ở độ sâu lớn. ↩
-
Hãng sản xuất máy bay danh tiếng của Đức vào đầu thế kỷ 20, nổi bật với các thiết kế máy bay cánh quạt lớn và thân tàu bay vững chắc, thường được trọng dụng trong các cuộc thám hiểm địa cực thời bấy giờ. ↩
-
Những nhà thám hiểm vĩ đại trong Kỷ nguyên Anh hùng của Thám hiểm Nam Cực (cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20). Amundsen là người đầu tiên chinh phục Nam Cực, Byrd đi tiên phong thám hiểm bằng đường không, trong khi Scott và Shackleton có những chuyến thám hiểm đầy bi tráng. ↩
-
Kỷ Tiền Cambri (Precambrian) là liên đại đầu tiên và dài nhất trong lịch sử Trái Đất, kéo dài từ khi hành tinh hình thành đến khoảng 541 triệu năm trước, ngay trước thời điểm sinh vật đa bào bùng nổ. ↩
-
Vòng Nam Cực là vĩ tuyến khoảng 66°33′ Nam. Tại ranh giới này, có ít nhất một ngày trong năm Mặt Trời không bao giờ lặn (mùa hè) và một ngày không bao giờ mọc (mùa đông). ↩
-
Ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất và cao thứ hai ở Nam Cực. Tên của nó được nhà thám hiểm James Clark Ross đặt theo con tàu của ông, vốn bắt nguồn từ tên vị thần bóng tối trong thần thoại Hy Lạp. ↩
-
Một địa danh hư cấu lạnh lẽo và hoang vắng trong vũ trụ thần thoại Lovecraft, nơi cư ngụ của những thực thể tà ác, dị giáo và những giáo phái suy tôn Tà thần. ↩
-
Cuốn ma đạo thư hư cấu nổi tiếng nhất do Lovecraft sáng tạo ra, được cho là ghi chép các nghi thức gọi hồn, ma thuật hắc ám và những bí mật cấm kỵ về các Cổ Thần (Old Ones). ↩
-
Nhân vật hư cấu được mệnh danh là 'gã Ả Rập điên rồ', tác giả của cuốn sách ma thuật cấm kỵ Necronomicon trong thần thoại Lovecraft. ↩
-
Edgar Allan Poe (1809-1849), nhà văn Mỹ vĩ đại, bậc thầy tiên phong của thể loại truyện kinh dị Gothic, trinh thám và viễn tưởng. ↩
-
Ám chỉ tiểu thuyết 'The Narrative of Arthur Gordon Pym of Nantucket' của Edgar Allan Poe, một tác phẩm ảnh hưởng mạnh mẽ đến Lovecraft, kể về một chuyến hải trình đầy rùng rợn tiến về Nam Cực. ↩
-
Một tổn thất về mặt biên dịch (Translation loss). Nguyên tác tiếng Anh là 'Beacon Sandstone' (hệ tầng Sa thạch Beacon) - một cấu trúc địa chất thực tế ở Nam Cực. Việc chuyển ngữ chữ 'Beacon' thành 'ngọn hải đăng' đã làm mất đi tính danh xưng của địa danh. ↩
-
Một lớp động vật chân khớp cổ đại sống ở biển đã tuyệt chủng. Chúng rất phổ biến trong kỷ Cambri và thường được giới cổ sinh vật học dùng làm hóa thạch chỉ thị để xác định niên đại địa tầng. ↩
-
Nguyên tác là 'brachiopods' (động vật tay cuộn / động vật vỏ tay), một ngành động vật biển có vỏ sống cố định ở đáy biển. ↩
-
Ám chỉ Lord Dunsany (1878-1957), nhà văn người Ireland, người tiên phong của thể loại kỳ ảo (fantasy). Các tác phẩm vẽ nên những thế giới thần tiên tráng lệ và mộng mị của ông đã ảnh hưởng rất lớn đến văn phong thời kỳ đầu của H.P. Lovecraft. ↩
CHAPTER I.
I am forced into speech because men of science have refused to follow my advice without knowing why. It is altogether against my will that I tell my reasons for opposing this contemplated invasion of the antarctic-with its vast fossil hunt and its wholesale boring and melting of the ancient ice caps. And I am the more reluctant because my warning may be in vain.
Doubt of the real facts, as I must reveal them, is inevitable; yet, if I suppressed what will seem extravagant and incredible there would be nothing left. The hitherto withheld photographs, both ordinary and aërial, will count in my favor, for they are damnably vivid and graphic. Still, they will be doubted because of the great lengths to which clever fakery can be carried. The ink drawings, of course, will be jeered at as obvious impostures; notwithstanding a strangeness and technique which art experts ought to remark and puzzle over.
In the end I must rely on the judgment and standing of the few scientific leaders who have, on the one hand, sufficient independence of thought to weigh my data on its own hideously convincing merits or in the light of certain primordial and highly baffling myth cycles; and on the other hand, sufficient influence to deter the exploring world in general from any rash and over-ambitious program in the region of those mountains of madness.
It is an unfortunate fact that relatively obscure men like myself and my associates, connected only with a small university, have little chance of making an impression where matters of a wildly bizarre or highly controversial natures are concerned.
It is further against us that we are not, in the strictest sense, specialists in the fields which came primarily to be concerned. As a geologist, my object in leading the Miskatonic University Expedition was wholly that of securing deep-level specimens of rock and soil from various parts of the antarctic continent, aided by the remarkable drill devised by Professor Frank H. Pabodie of our engineering department.
I had no wish to be a pioneer in any other field than this, but I did hope that the use of this new mechanical appliance at different points along previously explored paths would bring to light materials of a sort hitherto unreached by the ordinary methods of collection.
Pabodie's drilling apparatus, as the public already knows from our reports, was unique and radical in its lightness, portability, and capacity to combine the ordinary Artesian drill principle with the principle of the small circular rock drill in such a way as to cope quickly with strata of varying hardness.
Steel head, jointed rods, gasoline motor, collapsible wooden derrick, dynamiting paraphernalia, cording, rubbish-removal auger, and sectional piping for bores five inches wide and up to one thousand feet deep all formed, with needed accessories, no greater load than three seven-dog sledges could carry. This was made possible by the clever aluminum alloy of which most of the metal objects were fashioned.
Four large Dornier aëroplanes, designed especially for the tremendous altitude flying necessary on the antarctic plateau and with added fuel-warming and quick-starting devices worked out by Pabodie, could transport our entire expedition from a base at the edge of the great ice barrier to various suitable inland points, and from these points a sufficient quota of dogs would serve us.
We planned to cover as great an area as one antarctic season-or longer, if absolutely necessary-would permit, operating mostly in the mountain ranges and on the plateau south of Ross Sea; regions explored in varying degree by Shackleton, Amundsen, Scott, and Byrd. With frequent changes of camp, made by aëroplane and involving distances great enough to be of geological significance, we expected to unearth a quite unprecedented amount of material-especially in the pre-Cambrian strata of which so narrow a range of antarctic specimens had previously been secured.
We wished also to obtain as great as possible a variety of the upper fossiliferous rocks, since the primal life history of this bleak realm of ice and death is of the highest importance to our knowledge of the earth's past. That the antarctic continent was once temperate and even tropical, with a teeming vegetable and animal life of which the lichens, marine fauna, arachnida, and penguins of the northern edge are the only survivors, is a matter of common information; and we hoped to expand that information in variety, accuracy, and detail. When a simple boring revealed fossiliferous signs, we would enlarge the aperture by blasting, in order to get specimens of suitable size and condition.
Our borings, of varying depth according to the promise held out by the upper soil or rock, were to be confined to exposed, or nearly exposed, land surfaces-these inevitably being slopes and ridges because of the mile or two-mile thickness of solid ice overlying the lower levels.
We could not afford to waste drilling depth on any considerable amount of more glaciation, though Pabodie had worked out a plan for sinking copper electrodes in thick clusters of borings and melting off limited areas of ice with current from a gasoline-driven dynamo.
It is this plan-which we could not put into effect except experimentally on an expedition such as ours-that the coming Starkweather-Moore Expedition proposes to follow, despite the warnings I have issued since our return from the antarctic.
The public knows of the Miskatonic Expedition through our frequent wireless reports to the Arkham Advertiser and Associated Press, and through the later articles by Pabodie and myself. We consisted of four men from the University-Pabodie, Lake of the biology department, Atwood of the physics department-also a meteorologist-and myself, representing geology and having nominal command, also sixteen assistants: seven graduate students from Miskatonic and nine skilled mechanics.
Of these sixteen, twelve were qualified aëroplane pilots, all but two of whom were competent wireless operators. Eight of them understood navigation with compass and sextant, as did Pabodie, Atwood and I. In addition, of course, our two ships-wooden exwhalers, reinforced for ice conditions and having auxiliary steam-were fully manned.
The Nathaniel Derby Pickman Foundation, aided by a few special contributions, financed the expedition; hence our preparations were extremely thorough, despite the absence of great publicity.
The dogs, sledges, machines, camp materials, and unassembled parts of our five planes were delivered in Boston, and there our ships were loaded.
We were marvelously well-equipped for our specific purposes, and in all matters pertaining to supplies, regimen, transportation, and camp construction we profited by the excellent example of our many recent and exceptionally brilliant predecessors. It was the unusual number and fame of these predecessors which made our own expedition-ample though it was-so little noticed by the world at large.
As the newspapers told, we sailed from Boston Harbor on September 2nd, 1930, taking a leisurely course down the coast and through the Panama Canal, and stopping at Samoa and Hobart, Tasmania, at which latter place we took on final supplies.
None of our exploring party had ever been in the polar regions before, hence we all relied greatly on our ship captains-J. B. Douglas, commanding the brig Arkham, and serving as commander of the sea party, and Georg Thorfinnssen, commanding the barque Miskatonic-both veteran whalers in antarctic waters.
As we left the inhabited world behind the sun sank lower and lower in the north, and stayed longer and longer above the horizon each day. At about 62° South Latitude we sighted our first icebergs-tablelike objects with vertical sides-and just before reaching the antarctic circle, which we crossed on October 20th with appropriately quaint ceremonies, we were considerably troubled with field ice.
The falling temperature bothered me considerably after our long voyage through the tropics, but I tried to brace up for the worse rigors to come. On many occasions the curious atmospheric effects enchanted me vastly; these included a strikingly vivid mirage-the first I had ever seen-in which distant bergs became the battlements of unimaginable cosmic castles.
Pushing through the ice, which was fortunately neither extensive nor thickly packed, we regained open water at South Latitude 67°, East Longitude 175°. On the morning of October 26th a strong land blink appeared on the south, and before noon we all felt a thrill of excitement at beholding a vast, lofty, and snow-clad mountain chain which opened out and covered the whole vista ahead. At last we had encountered an outpost of the great unknown continent and its cryptic world of frozen death.
These peaks were obviously the Admiralty Range discovered by Ross, and it would now be our task to round Cape Adare and sail down the east coast of Victoria Land to our contemplated base on the shore of McMurdo Sound, at the foot of the volcano Erebus in South Latitude 77° 9´.
The last lap of the voyage was vivid and fancy-stirring. Great barren peaks of mystery loomed up constantly against the west as the low northern sun of noon or the still lower horizon-grazing southern sun of midnight poured its hazy reddish rays over the white snow, bluish ice and water lanes, and black bits of exposed granite slope.
Through the desolate summits swept raging, intermittent gusts of the terrible antarctic wind, whose cadences sometimes held vague suggestions of a wild and half-sentient musical piping, with notes extending over a wide range, and which for some subconscious mnemonic reason seemed to me disquieting and even dimly terrible.
Something about the scene reminded me of the strange and disturbing Asian paintings of Nicholas Roerich, and of the still stranger and more disturbing descriptions of the evilly fabled plateau of Leng which occur in the dreaded Necronomicon of the mad Arab Abdul Alhazred. I was rather sorry, later on, that I had ever looked into that monstrous book at the college library.
On the 7th of November, sight of the westward range having been temporarily lost, we passed Franklin Island; and the next day descried the cones of Mts. Erebus and Terror on Ross Island ahead, with the long line of the Parry Mountains beyond. There now stretched off to the east the low, white line of the great ice barrier, rising perpendicularly to a height of two hundred feet like the rocky cliffs of Quebec, and marking the end of southward navigation.
In the afternoon we entered McMurdo Sound and stood off the coast in the lee of smoking Mt. Erebus. The scoriaceous peak towered up some twelve thousand seven hundred feet against the eastern sky, like a Japanese print of the sacred Fujiyama, while beyond it rose the white, ghostlike height of Mt. Terror, ten thousand nine hundred feet in altitude, and now extinct as a volcano.
Puffs of smoke from Erebus came intermittently, and one of the graduate assistants-a brilliant young fellow named Danforth-pointed out what looked like lava on the snowy slope, remarking that this mountain, discovered in 1840, had undoubtedly been the source of Poe's image when he wrote seven years later:
"-the lavas that restlessly roll
Their sulphurous currents down Yaanek
In the ultimate climes of the pole-
That groan as they roll down Mount Yaanek
In the realms of the boreal pole."
Danforth was a great reader of bizarre material, and had talked a good deal of Poe. I was interested myself because of the antarctic scene of Poe's only long story-the disturbing and enigmatical Arthur Gordon Pym. On the barren shore, and on the lofty ice barrier in the background, myriad of grotesque penguins squawked and flapped their fins, while many fat seals were visible on the water, swimming or sprawling across large cakes of slowly drifting ice.
Using small boats, we effected a difficult landing on Ross Island shortly after midnight, on the morning of the 9th, carrying a line of cable from each of the ships and preparing to unload supplies by means of a breeches-buoy arrangement.
Our sensations on first treading antarctic soil were poignant and complex, even though at this particular point the Scott and Shackleton expeditions had preceded us.
Our camp on the frozen shore below the volcano's slope was only a provisional one, headquarters being kept aboard the Arkham. We landed all our drilling apparatus, dogs, sledges, tents, provisions, gasoline tanks, experimental ice-melting outfit, cameras, both ordinary and aërial, aëroplane parts, and other accessories, including three small portable wireless outfits-besides those in the planes-capable of communicating with the Arkham's large outfit from any part of the antarctic continent that we would be likely to visit.
The ship's outfit, communicating with the outside world, was to convey press reports to the Arkham Advertiser's powerful wireless station on Kingsport Head, Mass. We hoped to complete our work during a single antarctic summer; but if this proved impossible we would winter on the Arkham, sending the Miskatonic north before the freezing of the ice for another summer's supplies.
I need not repeat what the newspapers have already published about our early work: of our ascent of Mt. Erebus; our successful mineral borings at several points on Ross Island and the singular speed with which Pabodie's apparatus accomplished them, even through solid rock layers; our provisional test of the small ice-melting equipment; our perilous ascent of the great barrier with sledges and supplies; and our final assembling of five huge aëroplanes at the camp atop the barrier.
The health of our land party-twenty men and fifty-five Alaskan sledge dogs-was remarkable, though of course we had so far encountered no really destructive temperatures or windstorms.
For the most part, the thermometer varied between zero and 20° or 25° above, and our experience with New England winters had accustomed us to rigors of this sort. The barrier camp was semipermanent, and destined to be a storage cache for gasoline, provisions, dynamite, and other supplies.
Only four of our planes were needed to carry the actual exploring material, the fifth being left with a pilot and two men, from the ships, at the storage cache to form a means of reaching us from the Arkham in case all our exploring planes were lost.
Later, when not using all the other planes for moving apparatus, we would employ one or two in a shuttle transportation service between this cache and another permanent base on the great plateau from six hundred to seven hundred miles southward, beyond Beardmore Glacier.
Despite the almost unanimous accounts of appalling winds and tempests that pour down from the plateau, we determined to dispense with intermediate bases, taking our chances in the interest of economy and probable efficiency.
Wireless reports have spoken of the breathtaking, four-hour, nonstop flight of our squadron on November 21st over the lofty shelf ice, with vast peaks rising on the west, and the unfathomed silences echoing to the sound of our engines.
Wind troubled us only moderately, and our radio compasses helped us through the one opaque fog we encountered. When the vast rise loomed ahead, between Latitudes 83° and 84°, we knew we had reached Beardmore Glacier, the largest valley glacier in the world, and that the frozen sea was now giving place to a frowning and mountainous coast line.
At last we were truly entering the white, æon-dead world of the ultimate south. Even as we realized it we saw the peak of Mt. Nansen in the eastern distance, towering up to its height of almost fifteen thousand feet.
The successful establishment of the southern base above the glacier in Latitude 86° 7´, East Longitude 174° 23´, and the phenomenally rapid and effective borings and blastings made at various points reached by our sledge trips and short aëroplane flights, are matters of history; as is the arduous and triumphant ascent of Mt. Nansen by Pabodie and two of the graduate students-Gedney and Carroll-on December 13th to 15th.
We were some eight thousand five hundred feet above sea-level. When experimental drillings revealed solid ground only twelve feet down through the snow and ice at certain points, we made considerable use of the small melting apparatus and sunk bores and performed dynamiting at many places, where no previous explorer had ever thought of securing mineral specimens.
The pre-Cambrian granites and beacon sandstones thus obtained confirmed our belief that this plateau was homogeneous, with the great bulk of the continent to the west, but somewhat different from the parts lying eastward below South America-which we then thought to form a separate and smaller continent divided from the larger one by a frozen junction of Ross and Weddell Seas, though Byrd has since disproved the report.
In certain of the sandstones, dynamited and chiseled after boring revealed their nature, we found some highly interesting fossil markings and fragments; notably ferns, seaweeds, trilobites, crinoids, and such mollusks as linguellæ and gastropods-all of which seemed of real significance in connection with the region's primordial history. There was also a queer triangular, striated marking, about a foot in greatest diameter, which Lake pieced together from three fragments of slate brought up from a deep-blasted aperture.
These fragments came from a point to the westward, near the Queen Alexandra Range; and Lake, as a biologist, seemed to find their curious marking unusually puzzling and provocative, though to my geological eye it looked not unlike some of the ripple effects reasonably common in the sedimentary rocks.
Since slate is no more than a metamorphic formation into which a sedimentary stratum is pressed, and since the pressure itself produces odd distorting effects on any markings which may exist, I saw no reason for extreme wonder over the striated depression.
On January 6, 1931, Lake, Pabodie, Daniels, all six of the students, four mechanics, and myself flew directly over the south pole in two of the great planes, being forced down once by a sudden high wind, which, fortunately, did not develop into a typical storm. This was, as the papers have stated, one of several observation flights, during others of which we tried to discern new topographical features in areas unreached by previous explorers.
Our early flights were disappointing in this latter respect, though they afforded us some magnificent examples of the richly fantastic and deceptive mirages of the polar regions, of which our sea voyage had given us some brief foretastes.
Distant mountains floated in the sky as enchanted cities, and often the whole white world would dissolve into a gold, silver, and scarlet land of Dunsanian dreams and adventurous expectancy under the magic of the low midnight sun.
On cloudy days we had considerable trouble in flying, owing to the tendency of snowy earth and sky to merge into one mystical opalescent void with no visible horizon to mark the junction of the two.
At length we resolved to carry out our original plan of flying five hundred miles eastward with all four exploring planes and establishing a fresh sub-base at a point which would probably be on the smaller continental division, as we mistakenly conceived it. Geological specimens obtained there would be desirable for purposes of comparison.
Our health so far had remained excellent-lime juice well offsetting the steady diet of tinned and salted food, and temperatures generally above zero enabling us to do without our thickest furs.
It was now midsummer, and with haste and care we might be able to conclude work by March and avoid a tedious wintering through the long antarctic night. Several savage windstorms had burst upon us from the west, but we had escaped damage through the skill of Atwood in devising rudimentary aëroplane shelters and windbreaks of heavy snow blocks, and in reinforcing the principal camp buildings with snow. Our good luck and efficiency had indeed been almost uncanny.
The outside world knew, of course, of our program, and was told also of Lake's strange and dogged insistence on a westward-or rather, northwestward-prospecting trip before our radical shift to the new base.
It seems that he had pondered a great deal and with alarmingly radical daring over that triangular striated marking in the slate; reading into it certain contradictions in nature and geological period which whetted his curiosity to the utmost, and made him avid to sink more borings and blastings in the west-stretching formation to which the exhumed fragments evidently belonged.
He was strangely convinced that the marking was the print of some bulky, unknown, and radically unclassifiable organism of considerably advanced evolution, notwithstanding that the rock which bore it was of so vastly ancient a date-Cambrian if not actually pre-Cambrian-as to preclude the probable existence not only of all highly evolved life, but of any life at all above the unicellular or at most the trilobite stage. These fragments, with their odd marking, must have been five hundred million to a thousand million years old.