CHƯƠNG II.
Theo đánh giá của tôi, công chúng đã phản ứng rất sôi nổi trước những bản tin vô tuyến mà chúng tôi gửi về, thông báo việc Lake khởi hành tiến về phía tây bắc. Anh đang dấn thân vào những cõi hoang vu chưa từng in dấu chân người, nơi mà thậm chí chẳng ai dám mường tượng tới. Dẫu vậy, chúng tôi vẫn hoàn toàn giữ kín những kỳ vọng ngông cuồng của anh về một cuộc cách mạng sâu rộng, thứ sẽ làm thay đổi toàn bộ nền tảng của ngành sinh học và địa chất học.
Từ ngày 11 đến 18 tháng 1, anh đã tiến hành chuyến đi sơ bộ bằng xe trượt tuyết và khoan thăm dò cùng giáo sư Pabodie và năm người khác. Chuyến đi này dù bị phủ một lớp mây u ám bởi sự cố lật xe khi băng qua một rặng băng nén khổng lồ khiến hai con chó kéo thiệt mạng, song lại mang về ngày càng nhiều mảnh đá phiến thuộc niên đại Thái Cổ1. Đến ngay cả tôi cũng bị mê hoặc trước vô vàn dấu tích hóa thạch hằn in rõ rệt trên tầng địa chất cổ xưa đến mức khó tin ấy.
Tuy nhiên, những dấu tích này chỉ thuộc về các dạng sống hết sức nguyên thủy. Chúng chẳng tạo ra một nghịch lý vĩ đại nào, ngoại trừ thực tế rành rành rằng: bằng cách nào đó, sự sống lại có thể tồn tại bên trong một lớp đá rõ ràng thuộc kỷ tiền Cambri. Chính vì thế, tôi vẫn không nhận thấy bất kỳ lý do chính đáng nào để chấp thuận yêu cầu của Lake. Anh muốn đục thủng lịch trình vốn đã được tối ưu hóa khắt khe của chúng tôi bằng một khoảng thời gian gián đoạn-một sự xen ngang đòi hỏi phải huy động toàn bộ nhân lực, thiết bị cơ khí và cả bốn chiếc máy bay của đoàn thám hiểm.
Cuối cùng, tôi đã không phủ quyết kế hoạch này. Thế nhưng, bất chấp những lời nài nỉ của Lake mong muốn tôi đi cùng để cố vấn địa chất, tôi kiên quyết không tham gia vào đội hướng tây bắc. Trong lúc họ rời đi, tôi sẽ ở lại căn cứ cùng giáo sư Pabodie và năm người khác để chốt hạ kế hoạch di tản về phía đông. Để chuẩn bị cho cuộc dịch chuyển này, một chiếc máy bay đã bắt đầu vận chuyển khối lượng lớn xăng từ Eo biển McMurdo lên; song, công việc này hoàn toàn có thể tạm hoãn. Tôi đã giữ lại cho mình một chiếc xe trượt tuyết cùng chín con chó. Suy cho cùng, ở giữa một thế giới hoàn toàn vắng bóng sự sống và chìm ngập trong cõi chết dai dẳng kéo dài hàng liên kỷ, việc tước đoạt toàn bộ phương tiện di chuyển trong bất kỳ thời điểm nào cũng là một quyết định thiếu khôn ngoan.
Đội thám hiểm phụ của Lake cứ thế tiến sâu vào vùng vô định. Như mọi người hẳn còn nhớ, họ đã truyền về những bản báo cáo riêng biệt thông qua máy phát sóng ngắn trên máy bay. Các thiết bị vô tuyến của chúng tôi ở căn cứ phía nam và tàu Arkham thả neo tại Eo biển McMurdo đã đồng thời thu nhận được những tín hiệu này, rồi từ đó tiếp tục phát chúng ra thế giới bên ngoài trên các dải sóng dài đến năm mươi mét.
Chuyến hành trình khởi hành vào lúc 4 giờ sáng ngày 22 tháng 1. Chỉ vỏn vẹn hai giờ sau đó, tin nhắn vô tuyến đầu tiên dội về, báo cáo việc Lake đã hạ cánh và bắt đầu đợt làm tan băng cũng như khoan thăm dò quy mô nhỏ tại một địa điểm cách chúng tôi chừng ba trăm dặm. Sáu giờ tiếp theo, một bức điện thứ hai mang âm hưởng vô cùng kích động tường thuật lại công việc hối hả, điên cuồng hệt như bầy hải ly làm tổ. Qua đó, một giếng mỏ nông đã được đào xới và nổ mìn phá đá, đỉnh điểm là khoảnh khắc họ đào lên những mảnh đá phiến mang dấu vết gần giống với những họa tiết đã gieo rắc nỗi hoang mang tột độ ban đầu.
Ba giờ trôi qua, một bản tin ngắn ngủi dội về, thông báo họ tiếp tục cất cánh giữa những trận cuồng phong lạnh lẽo cắt da cắt thịt. Khi tôi gửi đi một bức điện phản đối gay gắt việc bất chấp rủi ro lao xa hơn nữa, Lake chỉ cộc lốc đáp lời rằng những mẫu vật mới của anh hoàn toàn xứng đáng để đánh đổi bằng bất cứ giá nào.
Tôi nhận ra sự kích động của anh đã chạm đến ngưỡng cửa của sự nổi loạn, và bản thân tôi hoàn toàn bất lực trong việc kìm hãm sự liều lĩnh mù quáng đang chực chờ nuốt chửng sự thành công của toàn bộ đoàn thám hiểm. Thật đáng sợ khi nghĩ đến việc anh đang ngày một dấn thân sâu hơn vào cái khoảng không trắng xóa mênh mông, đầy dối trá và rình rập hiểm ác của những cơn bão tuyết cùng vô vàn bí ẩn chưa từng được khám phá. Khoảng không ấy trải dài dằng dặc chừng một ngàn năm trăm dặm, vươn mãi tới tận vùng duyên hải nửa tỏ nửa mờ của Vùng đất Queen Mary và Knox.
Rồi, khoảng một tiếng rưỡi sau, lại có thêm một tin nhắn truyền về từ chiếc máy bay đang lao đi của Lake, thổi bùng lên sự phấn khích tột độ. Nó gần như lật nhào mọi cảm xúc trong tôi, khiến tôi vô cùng tiếc nuối giá như mình đã đi cùng đoàn thám hiểm:
"10:05 tối. Đang bay. Vừa thoát khỏi cơn bão tuyết. Hiện ra ngay trước mắt là một dãy núi cao sừng sững, vượt xa mọi đỉnh núi chúng ta từng chứng kiến. Nếu cộng thêm độ cao của cao nguyên, nó hoàn toàn sánh ngang với Himalaya. Vĩ độ ước tính 76° 15´, Kinh độ 113° 10´ Đông. Dãy núi vươn dài tít tắp về cả hai phía tả hữu. Trông giống như có hai nón núi lửa đang phun nhả khói trắng. Toàn bộ các đỉnh núi đều đen kịt, trơ trọi, hoàn toàn sạch bóng tuyết. Những luồng gió rít gào luồn qua khe núi đang cản trở việc điều hướng bay."
Sau đó, giáo sư Pabodie, những thành viên khác và tôi nín thở, chú tâm theo dõi máy thu sóng. Ý niệm về một bức tường thành núi non hùng vĩ án ngữ cách đó bảy trăm dặm đã thổi bùng ngọn lửa khao khát phiêu lưu mạnh mẽ trong chúng tôi. Chúng tôi rất đỗi vui mừng khi biết rằng, dù không phải chính tay chúng tôi, nhưng ít nhất đoàn thám hiểm này đã trở thành những người đầu tiên vén màn bí mật của nó. Nửa giờ sau, Lake lại kết nối vô tuyến:
"Máy bay của Moulton đã buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống cao nguyên ở khu vực chân núi. Rất may, không ai bị thương và có lẽ chúng ta có thể sửa chữa được nó. Lát nữa, tôi sẽ chuyển toàn bộ vật dụng thiết yếu sang ba chiếc máy bay còn lại để quay về hoặc tiến xa hơn nếu tình huống đòi hỏi. Nhưng hiện tại, chúng ta không cần dùng đến các máy bay tải trọng lớn nữa. Sự hùng vĩ của dãy núi này vượt qua mọi giới hạn của trí tưởng tượng. Tôi đang ngồi trên máy bay của Carroll, bỏ lại toàn bộ hành lý để bay lên thám thính.
"Anh tuyệt đối không thể hình dung được một cảnh tượng nào giống như thế này đâu. Những đỉnh vút lên cao nhất chắc hẳn phải vượt ngưỡng ba mươi lăm ngàn feet. Đỉnh Everest huyền thoại thậm chí chẳng có tư cách để so sánh. Atwood sẽ sử dụng máy kinh vĩ để đo đạc độ cao trong lúc Carroll và tôi bay vút lên. Có lẽ tôi đã nhầm lẫn về các nón núi lửa, vì các tầng đá lộ ra vẻ phân lớp rõ rệt. Có thể đó là đá phiến thuộc kỷ tiền Cambri, trộn lẫn với nhiều địa tầng khác. Hiệu ứng đường chân trời thật quái gở-những khối hình lập phương bị cắt gọt đều đặn một cách dị thường đang bám chặt vào các đỉnh núi chót vót. Toàn bộ quang cảnh hiện lên quá đỗi kỳ diệu dưới luồng ánh sáng rực rỡ hắt ra từ mặt trời ở góc thấp. Nơi này mang dáng dấp của một cõi mộng mị bí ẩn, hay một cánh cổng dẫn vào thế giới cấm kỵ chứa đựng muôn vàn kỳ quan chưa từng nhuốm hơi thở con người. Giá như anh có mặt ở đây để đích thân nghiên cứu."
Mặc dù trên lý thuyết thì đã đến giờ đi ngủ, nhưng chẳng một ai trong số những người đang dán tai vào máy thu thanh lại mảy may nghĩ đến việc chợp mắt dù chỉ một giây. Chắc hẳn tình trạng tương tự cũng diễn ra ở Eo biển McMurdo, nơi trạm tiếp tế và tàu Arkham cũng đang thu nhận những dòng tin nhắn này. Thuyền trưởng Douglas đã phát đi một bức điện chúc mừng toàn thể mọi người vì khám phá mang tính lịch sử, và Sherman, gã điều hành trạm tiếp tế, cũng vang lên những lời tán đồng đầy xúc động. Tất nhiên, chúng tôi vô cùng tiếc nuối về sự cố chiếc máy bay bị hỏng, nhưng thâm tâm vẫn nuôi hy vọng nó có thể dễ dàng được khắc phục. Sau đó, đúng vào lúc 11 giờ đêm, Lake lại phát đi một cuộc gọi khác:
"Tôi đang cùng Carroll lượn vòng qua những ngọn đồi cao nhất ở khu vực chân núi. Chẳng dám đánh liều tiếp cận những đỉnh núi chóp nhọn trong điều kiện thời tiết hiện tại, nhưng chúng tôi chắc chắn sẽ thử vào một dịp khác. Cảm giác leo cao quả thực kinh hồn bạt vía, và việc điều khiển phi cơ ở độ cao này vô cùng chật vật, nhưng mọi thứ đều hoàn toàn xứng đáng. Dãy núi khổng lồ này nằm liền một khối, kín mít, che khuất hoàn toàn tầm nhìn về bất cứ thứ gì nằm ở mặt khuất bên kia. Những đỉnh chóp vĩ đại nhất đã vượt xa rặng Himalaya, lại mang hình thù dị hợm đến khó tin. Dãy núi giống hệt như một khối đá phiến tiền Cambri vĩ đại, rải rác những dấu tích đứt gãy rõ rệt của nhiều địa tầng khác. Tôi đã nhầm lẫn về hiện tượng núi lửa. Dãy núi trải dài dằng dặc về cả hai hướng, xa vượt ngoài tầm mắt của chúng ta. Và ở độ cao trên hai mươi mốt ngàn feet, tuyết trắng hoàn toàn bị quét sạch.
"Có những kiến tạo kỳ quái bám dọc sườn của những ngọn núi cao nhất. Đó là những khối vuông đồ sộ, thấp bè, mang bề mặt thẳng đứng một cách hoàn hảo, cùng những đường vát vuông góc của các bức tường thành thấp, dựng thẳng đứng. Chúng gợi nhắc đến những tòa thành quách cổ xưa ở Châu Á, treo mình chênh vênh trên các sườn núi dốc đứng trong các bức họa của Roerich2. Trông chúng thực sự áp đảo khi nhìn từ xa. Tôi đã yêu cầu bay sát lại gần vài khối kiến trúc, và Carroll cho rằng chúng được bồi đắp từ những mảnh vỡ nhỏ hơn, riêng biệt, nhưng rất có thể đó chỉ là hệ quả của quá trình phong hóa. Hầu hết các bờ cạnh đều đã vỡ vụn và bị bào nhẵn, hệt như đã phải phơi thân chống chọi với cuồng phong và những biến thiên khí hậu ròng rã suốt hàng triệu năm.
"Rất nhiều phần kiến tạo, đặc biệt là những cấu trúc ngự trị trên cao, dường như được đúc từ một loại đá mang màu sắc sáng hơn bất kỳ địa tầng nào hiện diện trên các sườn dốc thoai thoải, do đó nguồn gốc tinh thể của chúng là không thể chối cãi. Khi bay sát lại gần, chúng tôi phát hiện vô số miệng hang, một vài trong số đó sở hữu những đường nét bo tròn quái lạ, hoặc có hình vuông, hình bán nguyệt. Các anh nhất định phải thân chinh đến đây để điều tra. Tôi đồ rằng mình vừa thoáng thấy một bức tường thành vuông vức ngự trị ngay trên đỉnh của một ngọn núi. Độ cao ước chừng khoảng ba mươi ngàn đến ba mươi lăm ngàn feet. Bản thân tôi lúc này đang ở độ cao hai mươi mốt ngàn năm trăm feet, ngập chìm trong cái lạnh thấu xương đến quỷ quái. Gió rít gào man rợ, luồn lách thô bạo qua các khe hẻm, ùa ra tràn vào miệng các hang động, nhưng ơn trời, cho đến nay chuyến bay vẫn chưa gặp phải mối đe dọa trực tiếp nào."
Trong suốt nửa giờ tiếp theo, Lake liên tục tuôn ra hàng loạt bình luận phấn khích, đồng thời bày tỏ ý định muốn tự mình đi bộ chinh phục một vài đỉnh núi cao. Tôi đáp lại qua vô tuyến rằng mình sẽ tới sát cánh cùng anh ngay khi anh điều một chiếc máy bay về đón. Trong thời gian chờ đợi, giáo sư Pabodie và tôi sẽ phác thảo một phương án tối ưu về cung ứng nhiên liệu-tính toán chi tiết vị trí và phương thức tập kết các nguồn tiếp tế, nhất là khi tính chất cốt lõi của chuyến thám hiểm giờ đây đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.
Rõ ràng, các mũi khoan thăm dò cũng như hoạt động phi cơ của Lake sẽ đòi hỏi vô số vật tư phải được vận chuyển lên khu căn cứ mới mà anh sắp sửa dựng lên dưới chân núi. Do đó, khả năng cao là chuyến bay dự định tiến về phía đông sẽ không thể diễn ra trong mùa này. Liên quan đến vấn đề này, tôi đã liên lạc với Thuyền trưởng Douglas, đề nghị ông dỡ xuống càng nhiều vật tư càng tốt từ các con tàu và dùng đàn chó kéo duy nhất còn lại ở đó để chuyển chúng lên thềm băng. Lúc này, điều thực sự cấp thiết là phải mở một tuyến đường giao thông trực tiếp băng ngang qua vùng đất vô danh nằm giữa khu vực của Lake và Eo biển McMurdo.
Một lúc sau, Lake lại gọi, thông báo rằng anh đã quyết định hạ trại ngay tại vị trí chiếc máy bay của Moulton buộc phải đáp khẩn cấp, nơi công tác sửa chữa đã có chút biến chuyển khả quan. Ở đó, lớp băng bao phủ khá mỏng, để lộ ra từng mảng đất đá sẫm màu lởm chởm. Anh dự định sẽ cho tiến hành ngay vài mũi khoan và nổ mìn phá đá tại địa điểm này, trước khi bắt tay vào bất kỳ chuyến thám hiểm nào bằng xe trượt tuyết hay leo núi.
Qua sóng vô tuyến, anh không ngớt lời ca ngợi vẻ uy nghiêm đến vô thực, không ngòi bút nào tả xiết của toàn bộ khung cảnh. Cùng với đó là trạng thái cảm xúc dị thường, choáng ngợp len lỏi trong anh khi đứng chôn chân dưới bóng râm của những ngọn tháp đá khổng lồ, câm lặng, nơi những dãy núi vươn mình sừng sững như một bức tường thành chạm đến tận cùng bầu trời của thế giới.

Đó là một trạng thái cảm xúc dị thường-khi đứng chôn chân dưới bóng râm của những ngọn tháp đá khổng lồ, câm lặng, nơi những dãy núi vươn mình sừng sững như một bức tường thành chạm đến tận cùng bầu trời của thế giới.
Những số liệu thu thập được từ máy kinh vĩ của Atwood đã chính thức xác nhận: năm đỉnh núi chót vót nhất mang độ cao dao động từ ba mươi ngàn đến ba mươi tư ngàn feet.
Bản chất lộng gió của vùng địa hình này rõ ràng đã gieo vào lòng Lake một nỗi bất an sâu sắc. Nó là minh chứng trần trụi cho sự xuất hiện bất thần của những cơn bão tuyết cuồng nộ, mang sức mạnh hủy diệt tàn bạo vượt xa bất cứ thứ gì chúng tôi từng đối mặt cho đến tận lúc này. Khu trại của anh được cắm cách cái nơi mà những ngọn đồi chân núi bỗng chốc vút cao hơn hẳn chừng năm dặm.
Qua làn sóng vô tuyến mỏng manh, băng qua khoảng không giá rét dài bảy trăm dặm, tôi dường như có thể dò được một sự hoảng loạn vô thức thoáng qua trong giọng nói của anh. Nó vang lên dồn dập khi anh hối thúc tất cả chúng tôi phải khẩn trương giải quyết vấn đề và mau chóng dọn sạch vùng đất hoang sơ, quái lạ này. Bấy giờ, anh chuẩn bị nghỉ ngơi sau một ngày vắt kiệt sức lực, làm việc với tốc độ, cường độ căng thẳng và thu về những thành quả gần như vô tiền khoáng hậu.
Bình minh vừa hé dạng, tôi đã thiết lập một cuộc liên lạc vô tuyến ba bên, kết nối với Lake và Thuyền trưởng Douglas, những người đang chốt giữ ở các căn cứ nằm cách xa nhau vạn dặm. Chúng tôi cùng nhau đi đến thống nhất: một trong những chiếc phi cơ của Lake sẽ bay tới căn cứ của tôi để đón giáo sư Pabodie, năm thành viên khác và tôi, đồng thời thồ theo lượng nhiên liệu lớn nhất có thể. Bài toán về số nhiên liệu còn lại sẽ phụ thuộc vào phán quyết cuối cùng của chúng tôi đối với chuyến thám hiểm về phía đông, nên có thể tạm gác lại vài ngày. Dù sao, Lake hiện đã nắm trong tay đủ nhiên liệu để duy trì lò sưởi cho khu trại và tiến hành khoan thăm dò ngay lập tức.
Cuối cùng, dù thế nào thì khu căn cứ phía nam cũ kỹ kia cũng cần được bổ sung thêm nguồn dự trữ. Tuy nhiên, một khi chuyến đi về phía đông bị đình hoãn, chúng tôi sẽ chẳng còn lý do gì để dùng tới nó cho đến tận mùa hè năm sau. Trong lúc chờ đợi, Lake bắt buộc phải cử một máy bay đi mở đường, vạch ra một lộ trình bay thẳng băng qua khoảng không nối liền rặng núi mới khám phá của anh và Eo biển McMurdo.
Giáo sư Pabodie và tôi đã rục rịch chuẩn bị đóng cửa căn cứ. Thời gian niêm phong sẽ ngắn hay dài hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình sắp tới. Nếu buộc phải qua đông tại Nam Cực, nhiều khả năng chúng tôi sẽ bay một mạch từ căn cứ của Lake thẳng đến tàu Arkham mà chẳng buồn quay lại chốn này. Vài chiếc lều hình nón của chúng tôi vốn đã được gia cố cẩn thận bằng những khối tuyết đông cứng, và giờ đây, chúng tôi quyết tâm hoàn thiện nốt công đoạn cuối cùng để biến bãi trại này thành một cụm làng cố định. Nhờ nguồn dự trữ lều bạt dồi dào, Lake đã mang theo mọi thứ thiết yếu để dựng nên căn cứ của anh, dư sức chứa thêm tất cả chúng tôi. Tôi lập tức đánh điện báo cáo rằng giáo sư Pabodie và tôi sẽ hoàn toàn sẵn sàng nhổ neo tiến về phía tây bắc, chỉ ngay sau một ngày dốc sức làm việc và một đêm nghỉ ngơi.
Tuy nhiên, công việc của chúng tôi dần chệch choạc sau bốn giờ chiều, khi Lake bắt đầu dội về máy đài vô tuyến những báo cáo đầy kích động và phi thường. Ngày làm việc của anh vốn mở màn không mấy suôn sẻ. Chuyến bay trinh sát quanh những sườn đá trơ trọi đã hoàn toàn không phát hiện thấy vết tích nào của các địa tầng Thái Cổ mà anh khao khát tìm kiếm - những tầng đá đóng vai trò kiến tạo nên phần lớn dải núi khổng lồ đang lờ mờ hiện ra ở một khoảng cách xa vợi như trêu ngươi ngay phía trên khu trại.
Hầu hết các mỏm đá lộ thiên dường như chỉ là sa thạch thuộc kỷ Jura và kỷ Comanche, chen lẫn với đá phiến kỷ Permi và Trias, thi thoảng điểm xuyết những mỏm đá đen bóng lấp lánh như một dạng than đá cứng nứt nẻ.
Thực tế này khiến Lake không khỏi chán nản, bởi toàn bộ kế hoạch của anh đều đặt cược vào việc khai quật được các mẫu vật từ kỷ nguyên hằng trăm triệu năm trước. Rõ ràng, để tìm lại được đúng cái mạch đá phiến Thái Cổ từng lưu giữ những dấu vết dị thường kia, anh sẽ phải dấn thân vào một chuyến đi dài bằng xe trượt tuyết, băng từ vùng đồi chân núi lên tận những triền dốc dựng đứng của vùng rặng núi khổng lồ.
Dẫu vậy, anh vẫn quyết tâm thực hiện vài mũi khoan tại chỗ để hoàn thành chỉ tiêu chung của đoàn thám hiểm. Anh cho dựng tháp khoan, phân công năm người điều hành máy móc trong khi những người còn lại tất bật củng cố khu trại và sửa chữa chiếc máy bay gặp sự cố. Khối đá mềm nhất lọt vào tầm mắt-một tảng sa thạch nằm cách trại chừng một phần tư dặm-được chọn làm mục tiêu lấy mẫu đầu tiên. Mũi khoan lao xuống với tốc độ hoàn hảo mà chẳng cần phải viện đến quá nhiều chất nổ.
Độ ba tiếng sau, ngay khi dư âm của đợt nổ mìn quy mô lớn đầu tiên vừa dứt, những tiếng hô hoán đã dội lại từ phía tháp khoan. Chàng trai trẻ Gedney-người giữ vai trò quản đốc-lao bổ vào trại, mang theo một tin tức vô cùng sửng sốt.
Họ vừa khoan trúng một hang động. Ở những thước khoan đầu, lớp sa thạch nhanh chóng nhường chỗ cho một mạch đá vôi từ kỷ Comanche. Lớp đá này đặc kín những hóa thạch li ti của động vật chân đầu, san hô, nhím biển và động vật tay cuộn. Thi thoảng, người ta còn bắt gặp cả tàn tích của bọt biển silic và mảnh xương của các loài động vật có xương sống dưới đại dương-rất có thể là cá xương, cá mập và cá láng.
Phát hiện này tự thân nó đã mang tầm vóc to lớn, bởi đây là những hóa thạch động vật có xương sống đầu tiên mà đoàn thám hiểm tìm thấy. Thế nhưng, ngay giây phút mũi khoan xuyên thủng địa tầng và chìm vào một khoảng không hun hút, một luồng hưng phấn mới mẻ và mãnh liệt gấp bội đã quét qua toàn bộ đội khai quật.
Một khối lượng chất nổ đáng kể được kích nổ, xé toạc tấm màn bí mật giấu kín dưới lòng đất. Giờ đây, qua một kẽ hở lởm chởm rộng chừng năm feet và dày ba feet, lòng hang đá vôi nông-được đục rỗng từ hơn năm mươi triệu năm trước bởi những dòng nước ngầm rỉ rả của một thế giới nhiệt đới đã lụi tàn-đang há chiếc miệng tối tăm về phía những con người đang sôi sục khát khao tìm kiếm.
Phần hang bị khoét rỗng không sâu quá bảy, tám feet, nhưng lại vươn dài hút tầm mắt về mọi hướng. Một luồng không khí trong lành, khẽ khàng luân chuyển, ngầm khẳng định nơi đây chỉ là một phần nhỏ của mạng lưới ngầm khổng lồ. Trần và nền hang ken đặc những nhũ đá và măng đá đồ sộ, nhiều cột đá đã chạm vào nhau, tạo thành những trụ chống sừng sững.
Nhưng trên hết, điều trọng đại nhất nằm ở khối lượng trầm tích vỏ và xương khổng lồ, dồn ứ đến mức có đoạn gần như bít kín lối đi. Bị cuốn phăng xuống từ những cánh rừng rậm rạp của dương xỉ thân gỗ và nấm kỷ Mesozoi chưa từng được biết đến, cùng những cánh rừng tuế, cọ quạt và thực vật hạt kín nguyên thủy của kỷ Đệ Tam, mớ xương xẩu hỗn độn này là đại diện của vô số sinh vật kỷ Phấn Trắng, kỷ Eocen và nhiều thời kỳ khác-nhiều đến mức một nhà cổ sinh vật học vĩ đại nhất cũng không thể đếm hay phân loại xuể trong vòng một năm. Động vật thân mềm, lớp mai của động vật giáp xác, cá, lưỡng cư, bò sát, chim muông, cho đến các loài thú sơ khai-đủ mọi kích cỡ, từ những sinh vật đã được ghi nhận cho đến những loài hoàn toàn vô danh.
Chẳng trách Gedney lại vắt chân lên cổ chạy về trại mà gào thét, và cũng chẳng trách những người còn lại lập tức buông thõng mọi công việc, điên cuồng lao xuyên qua cái lạnh cắt da cắt thịt để đến nơi tháp khoan sừng sững-dấu mốc của một cánh cổng vừa hé mở, dẫn lối vào những bí ẩn thăm thẳm của lòng đất và những liên kỷ đã vĩnh viễn lùi vào dĩ vãng.
Ngay khi thỏa mãn được cơn tò mò đang rực cháy, Lake vội vã cào những dòng chữ lên cuốn sổ tay rồi ra lệnh cho chàng trai trẻ Moulton chạy thục mạng về trại để đánh điện báo cáo.
Đó là những thông tin đầu tiên tôi nhận được về khám phá vĩ đại này. Bản báo cáo liệt kê hàng loạt danh tính: những mảnh vỏ sơ khai, di cốt cá láng và cá da phiến, tàn tích của động vật răng mê lộ và thecoiidea, những mảng sọ khổng lồ của thương long (mosasaur), đốt sống và lớp giáp khủng long, răng cùng mẩu xương cánh của thằn lằn bay (pterodactyl), những mảnh vụn của chim thủy tổ (Archaeopteryx), răng cá mập kỷ Miocen, sọ của những loài chim nguyên thủy, và vô vàn mảnh xương của các loài thú cổ đại như Palæothere, Xiphodon, Eohippus, Oreodon, cùng Titanotheriidae.
Hoàn toàn vắng bóng những sinh vật gần gũi như voi răng mấu, voi, lạc đà đích thực, hươu hay động vật họ bò. Từ đó, Lake quả quyết rằng những lớp trầm tích muộn nhất đã kết thúc vào kỷ Oligocen, và cái tầng đá rỗng ruột này đã nằm im lìm trong trạng thái khô cằn, chết chóc và nội bất xuất ngoại bất nhập ít nhất ba mươi triệu năm đằng đẵng.
Mặt khác, sự xuất hiện dày đặc của những dạng sống cực kỳ sơ khai lại mang một sự độc đáo tột cùng. Dù sự hình thành của mạch đá vôi-dựa trên những bằng chứng hóa thạch đặc trưng khảm sâu bên trong như ventriculites-chắc chắn thuộc kỷ Comanche mà không thể nhầm lẫn hay sớm hơn; thì những mảnh vụn nằm rải rác trong khoảng không gian rỗng này lại chứa đựng một tỷ lệ đáng kinh ngạc các sinh vật vốn được xem là đặc hữu của những kỷ nguyên xa xưa hơn rất nhiều-thậm chí là sự hiện diện của những loài cá, động vật thân mềm và san hô thô sơ từ tận kỷ Silur hay kỷ Ordovic.
Một hệ quả suy luận tất yếu là tại cái vùng đất này, từng tồn tại một sự tiếp nối đáng kinh ngạc và vô tiền khoáng hậu giữa những dạng sống từ hơn ba trăm triệu năm trước với những dạng sống của ba mươi triệu năm gần đây. Mức độ tiếp diễn này đã vươn xa đến đâu sau kỷ Oligocen-thời điểm hang động bị niêm phong-là điều vĩnh viễn vượt ngoài mọi nỗ lực phỏng đoán của con người.
Dù sự thật có ra sao, thì sự càn quét của kỷ băng hà kinh hoàng trong kỷ Pleistocen cách đây chừng năm trăm ngàn năm-vốn dĩ chỉ như ngày hôm qua nếu so với tuổi đời của hang động này-chắc chắn đã tận diệt mọi hình thái sống sơ khai nào vô tình trụ lại được sau vòng tuần hoàn sinh diệt chung của chúng tại khu vực này.
Lake vốn chẳng bao giờ thỏa mãn với chỉ một bức điện duy nhất. Anh ta vội vã chắp bút viết thêm một thông báo nữa, cử người băng qua lớp tuyết dày để đưa về trại ngay trước khi Moulton kịp quay lại. Kể từ đó, Moulton bám trụ bên chiếc máy vô tuyến trên một trong những chiếc phi cơ, liên tục truyền cho tôi-đồng thời chuyển tiếp đến tàu Arkham để phát đi toàn thế giới-những đoạn báo cáo dồn dập mà Lake gửi đến tay anh thông qua những người đưa tin qua lại không ngừng.
Bất cứ ai từng theo dõi báo chí hẳn sẽ không thể nào quên cơn chấn động tột độ quét qua giới khoa học từ những báo cáo trong buổi chiều định mệnh ấy. Trớ trêu thay, chính những báo cáo đó-sau ngần ấy năm trời-lại là mồi lửa châm ngòi cho Đoàn thám hiểm Starkweather-Moore, chuyến đi mà tôi đang thiết tha tìm cách ngăn chặn. Thiết nghĩ, tôi nên trích dẫn nguyên văn những thông điệp của Lake, chính xác như những gì anh ta đã phát đi và được McTighe-điều phối viên vô tuyến tại căn cứ của chúng tôi-giải mã từ những dòng tốc ký viết vội bằng bút chì:
"Fowler vừa có một phát hiện mang tầm vóc vô tiền khoáng hậu từ những mảnh sa thạch và đá vôi văng ra sau vụ nổ mìn. Chúng tôi tìm thấy vô số dấu vết hình tam giác mang những đường vân sắc nét, trùng khớp hoàn toàn với những dấu ấn từng thấy trong tầng đá phiến kỷ Thái Cổ. Điều này cung cấp bằng chứng thép rằng sinh vật nguyên thủy kia đã tồn tại lay lắt hơn sáu trăm triệu năm, vắt ngang qua dòng thời gian cho đến tận kỷ Comanche, mà chẳng hề biến đổi đáng kể về mặt hình thái ngoại trừ việc kích thước trung bình có phần thu nhỏ đi. Kỳ lạ thay, những dấu vết thời Comanche dường như lại thô sơ, hay nói đúng hơn là thoái hóa so với những mẫu vật cổ xưa. Phải nhấn mạnh ngay tầm quan trọng của phát kiến này trên mặt báo! Đây sẽ là một cú sốc đối với ngành sinh học, vĩ đại ngang ngửa những gì thuyết tương đối của Einstein đã làm với toán học và vật lý học. Phát hiện này liên kết chặt chẽ với những công trình trước đây của tôi và mở ra vô vàn kết luận sâu rộng."
"Dường như nó chỉ ra-đúng như tôi hằng nghi ngờ-rằng hành tinh của chúng ta đã từng trải qua một, hoặc thậm chí nhiều chu kỳ trọn vẹn của sự sống hữu cơ từ rất lâu trước cái chu kỳ quen thuộc bắt đầu bằng các tế bào kỷ Thái Cổ. Những sinh vật này đã tiến hóa và chuyên biệt hóa từ không dưới một tỷ năm trước, vào cái thời điểm mà trái đất vẫn còn là một tinh cầu non trẻ, hỗn mang và lẽ ra là một môi trường hoàn toàn chết chóc đối với bất kỳ dạng sống nào có cấu tạo nguyên sinh chất thông thường. Câu hỏi hóc búa nhất giờ đây là: Quá trình phát triển phi thường ấy đã diễn ra vào lúc nào, ở đâu, và bằng cách nào?"
"Sau đó. Vừa kiểm tra một số mảnh vỡ bộ xương của loài bò sát khổng lồ cả trên cạn lẫn dưới nước cùng vài loài động vật có vú nguyên thủy. Tôi phát hiện ra những vết thương cục bộ hoặc cấu trúc xương bị tổn thương một cách vô cùng quái gở-tuyệt nhiên không thể quy cho bất kỳ loài thú săn mồi hay ăn thịt nào từng được biết đến trong mọi thời kỳ. Có hai dạng vết thương: những lỗ thủng như bị xuyên thủng thẳng tắp, và những dấu vết giống hệt các vết chém sâu hoắm. Thậm chí có một, hai trường hợp xương bị cắt lìa ngọt xớt. Không có nhiều mẫu vật chịu tổn thương dạng này. Đang phái người quay về trại lấy thêm đèn pin. Chúng tôi sẽ khoét sâu vào khu vực tìm kiếm dưới lòng đất bằng cách đập bỏ các cột nhũ đá."
"Vẫn sau đó. Vừa tìm thấy một phiến đá xà phòng có hình thù cực kỳ dị thường, đường kính chừng sáu inches và dày khoảng một inch rưỡi. Khối đá này hoàn toàn lạc lõng với mọi hệ tầng địa chất có thể quan sát được trong khu vực-nó mang một sắc xanh lục nhạt, nhưng lại vắng bóng mọi dấu hiệu để xác định niên đại. Bề mặt phiến đá nhẵn thín và hoàn hảo đến mức phi lý. Nó mang hình dáng của một ngôi sao năm cánh, với các đỉnh đã bị gãy nát, đồng thời rải rác những vết nứt chằng chịt ở các góc lõm và ngay chính giữa bề mặt. Nằm ngay tâm điểm của phần mặt đá chưa bị tổn hại là một vết lõm nhỏ, nhẵn thín. Khối đá này đang khơi dậy trong chúng tôi một sự tò mò mãnh liệt về nguồn gốc cũng như quá trình phong hóa của nó. Có lẽ nó chỉ là một kiệt tác ngẫu nhiên của dòng chảy. Tuy nhiên, Carroll khi soi bằng kính lúp, lại quả quyết rằng có thể lờ mờ nhận ra những dấu vết chạm khắc có ý nghĩa sâu xa về mặt địa chất: những cụm chấm li ti được sắp xếp thành các hoa văn đối xứng có chủ đích. Lũ chó kéo xe đang ngày một trở nên kích động và bồn chồn trong lúc chúng tôi làm việc; chúng dường như căm ghét cay đắng khối đá xà phòng này. Phải kiểm tra xem liệu thứ này có phát ra thứ mùi mẫn cảm nào không. Sẽ báo cáo lại ngay khi Mills đem đèn pin tới và chúng tôi bắt đầu tiến sâu vào khu vực ngầm dưới lòng đất."
"10:15 tối. Khám phá trọng đại! Orrendorf và Watkins, trong lúc làm việc dưới hầm ngầm lúc 9:45 với đèn pin, đã tình cờ phát hiện ra một hóa thạch khổng lồ có hình dáng như một chiếc thùng phuy, mang một bản chất sinh học hoàn toàn xa lạ với nhân loại. Nó có thể là thực vật, hoặc chăng là một cá thể phát triển đột biến của một loài động vật tỏa tia3 dưới đại dương sâu thẳm chưa từng được phân loại. Các mô tế bào của sinh vật này rõ ràng đã được ướp hoàn hảo bởi các tinh thể muối khoáng. Bề mặt của nó dẻo dai và cứng cáp như thuộc da, thế nhưng ở một vài điểm, độ linh hoạt và đàn hồi vẫn được bảo lưu một cách phi thường. Nhìn rõ những dấu vết đứt gãy gớm ghiếc ở cả hai đầu và mọc tủa ra xung quanh các cạnh bên. Toàn bộ cơ thể dài chừng sáu feet, với phần giữa phình to đạt đường kính ba phẩy năm feet, rồi thuôn nhọn dần về mức một foot ở hai đầu. Hình thù của nó gợi liên tưởng mạnh mẽ đến một chiếc thùng phuy bị phồng rộp với năm nếp gấp lồi lên thay vì các thanh ván gỗ. Những điểm đứt vỡ chạy dọc hai bên sườn, trông như những đoạn cuống mỏng manh, nằm vắt ngang đường xích đạo giữa các nếp gấp này. Đặc biệt, ẩn giấu trong những rãnh sâu kẹp giữa các nếp gấp là những phần phụ lồi ra vô cùng kỳ dị-những thứ có vẻ như là mào, hay những đôi cánh màng có khả năng gập lại và xòe tung ra như những chiếc quạt khổng lồ. Hầu hết chúng đều đã nát bấy, ngoại trừ một chiếc còn nguyên vẹn, phô bày một sải cánh vĩ đại lên tới gần bảy feet. Cấu trúc quái gở này gợi nhắc mạnh mẽ đến một vài giống loài ác quỷ trong các truyền thuyết nguyên thủy, đặc biệt là giống loài Cổ Thần được nhắc đến trong cuốn cổ thư Necronomicon."
"Những đôi cánh này mang cấu trúc dạng màng mỏng, được căng cứng trên một bộ khung xương tạo bởi các ống hình tuyến. Ở phần chóp của những khung ống này chi chít những lỗ nhỏ li ti. Hai đầu cơ thể của sinh vật đã bị teo tóp và co rút tồi tệ, không hé lộ bất kỳ manh mối nào về cấu tạo nội tạng bên trong hay những bộ phận đã bị đứt lìa ở đó. Bắt buộc phải tiến hành giải phẫu ngay khi chúng tôi cẩu nó về trại. Đến giờ phút này, vẫn chưa thể kết luận chắc chắn thứ này là động vật hay thực vật. Nó phô bày vô số đặc điểm hiển nhiên của một nấc thang tiến hóa nguyên thủy đến mức không tưởng. Đã ra lệnh cho toàn bộ thành viên đập nát thạch nhũ và điên cuồng lùng sục thêm các mẫu vật khác. Đã tìm thấy thêm vô số mảnh xương hằn những vết sẹo dị thường, nhưng đành phải gác lại việc đó. Chúng tôi đang vấp phải sự phản kháng điên cuồng từ lũ chó. Bầy chó tuyệt đối không thể chịu đựng nổi sự hiện diện của mẫu vật mới này, và chúng chắc chắn sẽ xé xác sinh vật đó ra thành trăm mảnh nếu chúng tôi không giữ nó ở một khoảng cách thật an toàn."
"11:30 tối. Xin chú ý, anh Dyer, giáo sư Pabodie, và thuyền trưởng Douglas! Đây là một vấn đề mang tầm vóc tối quan trọng-thậm chí, tôi dám khẳng định là siêu việt! Yêu cầu tàu Arkham phải chuyển tiếp ngay bức điện này đến Trạm Chính ở Kingsport không chậm trễ một giây. Cái dạng sống hình thùng phuy kỳ dị này chính là chủ nhân thực sự của những dấu vết Thái Cổ hằn sâu trong các lớp đá! Mills, Boudreau và Fowler vừa phát hiện thêm một quần thể gồm mười ba tiêu bản y hệt, nằm quây quần tại một hốc tối dưới lòng đất, cách miệng hang chừng bốn mươi feet. Chúng nằm xen lẫn với vô số những khối đá xà phòng mang hình thù và đường nét uốn lượn kỳ quái, kích cỡ nhỏ hơn khối đá được tìm thấy ban đầu-vẫn là hình sao năm cánh, nhưng hoàn toàn nguyên vẹn, không có dấu vết đứt vỡ ngoại trừ sứt mẻ ở vài đỉnh nhọn."
"Trong số các mẫu vật sinh học này, có tám cá thể dường như được bảo quản ở tình trạng hoàn mỹ, nguyên vẹn đến từng phần phụ. Chúng tôi đã cẩu toàn bộ lên mặt đất và phải xua bầy chó lùi ra xa tít tắp. Bầy chó đang phát điên, chúng hoàn toàn không thể dung nạp sự hiện diện của lũ quái vật này. Hãy chú ý lắng nghe, ghi chép thật cẩn thận phần mô tả dưới đây và lặp lại để đảm bảo không sai một ly. Báo chí toàn cầu bắt buộc phải đăng tải chính xác những chi tiết này."
"Các mẫu vật có tổng chiều dài lên tới tám feet. Phần thân hình thùng dài sáu feet, nổi bật với năm nếp gấp cơ bắp, đường kính trung tâm đạt ba phẩy năm feet, và thuôn nhỏ lại còn một foot ở hai đầu. Lớp da mang màu xám sẫm ảm đạm, vô cùng linh hoạt và dai dẳng như không thể phá hủy. Những đôi cánh màng dài bảy feet, mang cùng sắc xám sẫm, được tìm thấy trong trạng thái cuộn gập vào trong, vươn ra từ những rãnh sâu ngăn cách các nếp gấp. Bộ khung cánh mang cấu trúc hình ống hoặc dạng tuyến sinh dục, tiệp màu xám nhưng nhạt hơn đôi chút, với vô số lỗ hổng bí ẩn ở đầu cánh. Khi xòe tung ra, viền cánh lởm chởm những mép răng cưa gớm ghiếc. Bao quanh phần giữa thân của cơ thể, ngự trị ngay trên đỉnh trung tâm của mỗi nếp gấp thẳng đứng trông như những thanh ván gỗ, là năm cụm hệ thống cánh tay-hay đúng hơn là những xúc tu vươn dài màu xám nhạt. Chúng cực kỳ linh hoạt, được tìm thấy đang bám chặt vào thân mình nhưng khi duỗi thẳng có thể vươn dài hơn ba feet. Cấu trúc này gợi nhớ đến những nhánh tay của loài huệ biển nguyên thủy. Từ một thân cuống chính đường kính ba inches, chúng vươn dài sáu inches trước khi tẻ ra thành năm cuống phụ; mỗi cuống phụ này lại tiếp tục phân nhánh sau tám inches, sinh ra thêm năm xúc tu hoặc tua cuốn thon dần. Cứ như thế, mỗi nhánh cuống chính sở hữu tổng cộng hai mươi lăm xúc tu xoắn xuýt."
"Ngự trên đỉnh thân hình là một khối cổ thô kệch, sưng phồng mang sắc xám nhợt nhạt, chi chít những khe nứt trông như mang cá. Khối cổ này nâng đỡ một bộ phận có hình thù quái gở tựa như một cái đầu hình sao biển năm cánh nhuốm màu vàng ệch. Bao phủ kín cái đầu quái đản ấy là một lớp lông mao thô ráp, cứng như dây thép, dài chừng ba inches và lấp lánh phản chiếu đủ mọi sắc độ quang phổ."
"Cái đầu sao biển ấy dày cộp và căng phồng, sải dài khoảng hai feet từ đỉnh này sang đỉnh nọ, với những ống nhục thể màu vàng linh hoạt dài ba inches mọc tủa ra từ mỗi chóp. Ngay chính giữa đỉnh đầu khoét sâu một khe hở nứt toác-rất có thể là một lỗ thở. Nằm vắt vẻo ở đầu mút của mỗi ống nhục thể là một khối cầu phình to. Phủ trên khối cầu đó là một lớp màng màu vàng ươm, thứ màng sẽ tự động cuộn rút lại mỗi khi bị chạm vào, phơi bày ra một nhãn cầu trong vắt như thủy tinh, chính giữa là một con ngươi đỏ rực như máu. Hiển nhiên, đó là những con mắt."
"Bên cạnh đó, có năm ống nhục thể dài hơn một chút mang sắc đỏ ối, mọc ra từ những góc lõm kẹp giữa các cánh của cái đầu sao biển. Những ống này vươn dài và kết thúc bằng những bọc sưng tấy trông như những cái túi chứa dịch lỏng cùng màu. Khi bị bóp mạnh, những cái túi này sẽ tòe ra thành những lỗ hổng hình quả chuông, đường kính có thể giãn nở tối đa lên tới hai inches. Lót dọc theo mép trong của những lỗ chuông này là vô số những mấu thịt nhô ra sắc lẻm, trắng ởn như những chiếc răng nanh-rất có thể, đây chính là những cái miệng của chúng. Khi được khai quật, toàn bộ hệ thống ống, lớp lông mao rực rỡ và cả những đỉnh nhọn của cái đầu sao biển này đều đang ở trong trạng thái gập quặp xuống; các ống và chóp bám riết vào khối cổ sưng phồng và ôm lấy thân mình. Mức độ đàn hồi và linh hoạt của những sinh vật này quả thực nằm ngoài sức tưởng tượng, bất chấp việc lớp da của chúng sở hữu một độ dẻo dai gần như bất hoại."
"Dưới đáy thân mình của con quái vật, tồn tại những hệ thống cơ quan vận động khác biệt nhưng lại sở hữu cấu trúc mô phỏng một cách kỳ dị sự sắp xếp của phần đầu. Nơi đó có một phần cổ giả cũng sưng phồng và nhuốm màu xám nhợt, dù thiếu vắng hẳn những khe nứt giống mang cá. Phần cổ giả này đóng vai trò như bệ đỡ cho một cấu trúc hình sao biển năm cánh thứ hai, nhưng mang một màu xanh lục xỉn."
"Từ đây mọc ra những cánh tay cơ bắp gân guốc dài tới bốn feet, thuôn nhọn dần từ đường kính bảy inches ở gốc xuống chỉ còn khoảng hai phẩy năm inches ở đầu mút. Vắt vẻo nơi đầu mút của mỗi cánh tay cơ bắp ấy là phần cuống đuôi của một màng bơi hình tam giác màu xanh lục, căng bởi năm đường gân. Cấu trúc màng này sải dài tám inches và xòe rộng sáu inches ở phần mép ngoài cùng. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính những chân chèo, vây bơi, hay những bàn chân giả dị thường này là tác giả của những dấu vết Thái Cổ đã in hằn sâu vào các lớp đá có niên đại từ một tỷ cho đến năm mươi hay sáu mươi triệu năm trước."
"Phụt ra từ các góc lõm của cấu trúc sao biển dưới đáy này là những ống cơ thịt mang sắc đỏ rực dài hai feet, thuôn dần từ đường kính ba inches ở gốc xuống còn một inch nơi đầu chóp. Tại chính những đầu chóp ấy là các lỗ hổng đen ngòm. Toàn bộ chuỗi cơ quan này dai dẳng và cứng cáp như da thuộc, nhưng độ đàn hồi lại dẻo dai đến kinh ngạc. Những cánh tay sải dài bốn feet kết hợp cùng bộ chân chèo này chắc chắn là công cụ phục vụ cho một phương thức di chuyển chuyên biệt nào đó-có thể là trườn lặn dưới đáy đại dương nguyên thủy, hoặc bằng một cách thức đặc thù nào khác mà chúng ta chưa thể mường tượng ra. Dựa trên kết cấu, một khi chuyển động, chúng sẽ bộc phát một nguồn sức mạnh bạo liệt vượt xa mọi giới hạn sinh học thông thường. Lúc được đưa lên ánh sáng, tất cả những chi thể này đang quặp chặt quanh phần cổ giả và nửa dưới của thân mình, đối xứng hoàn hảo với các phần phụ vươn ra từ đỉnh đầu."
"Giới khoa học chắc chắn sẽ đau đầu vì chưa thể phân loại chính xác giống loài này thuộc giới động vật hay thực vật, nhưng tính đến hiện tại, cán cân đang nghiêng hẳn về phía động vật. Phải chăng nó là minh chứng cho một đỉnh cao tiến hóa vượt bậc của loài động vật tỏa tia, một sự tiến hóa phi thường mà ở đó, sinh vật vẫn giữ lại được những đặc tính nguyên thủy cốt lõi nhất? Một điều không thể phủ nhận là nó mang những nét tương đồng rõ rệt với ngành da gai, bất chấp một vài bằng chứng mâu thuẫn về mặt giải phẫu cục bộ."
"Cấu trúc cánh màng quả thực là một câu đố hóc búa nếu xét trên giả định rằng môi trường sống chủ đạo của chúng là dưới đáy biển sâu, nhưng biết đâu đấy, chúng lại đóng vai trò như những hệ thống chân vịt hỗ trợ bơi lội. Đáng sợ hơn cả là tính đối xứng ma quái mang đậm hơi hướng thực vật của sinh vật này. Nó bám theo cấu trúc phát triển trục dọc lên-xuống đặc trưng của cây cỏ thay vì trục ngang trước-sau của các loài động vật. Niên đại tiến hóa của giống loài này xa xưa đến mức phi lý, vượt mặt cả những dạng động vật nguyên sinh cổ đại và tối giản nhất từng được khoa học ghi nhận. Nó hất đổ mọi nền tảng lý thuyết và làm phá sản mọi giả thuyết về nguồn gốc sự sống."
"Nhìn ngắm những mẫu vật hoàn hảo này, người ta sẽ bị rùng mình bởi sự tương đồng quái gở giữa chúng với vô số sinh vật ma quỷ trong các truyền thuyết nguyên thủy, đến mức ta không thể không rùng mình ớn lạnh khi nghĩ về một sự tồn tại cổ xưa vươn xa khỏi biên giới của lục địa Nam Cực băng giá. Anh Dyer và giáo sư Pabodie, các anh hẳn đã lật mở cuốn cổ thư Necronomicon và chiêm ngưỡng những bức họa nhuốm màu ác mộng của Clark Ashton Smith4 phác thảo dựa trên văn bản đó. Các anh sẽ hiểu ngay cảm giác kinh hoàng của tôi lúc này khi nhắc đến loài Cổ Thần-những thực thể tối cao được truyền tụng là đã kiến tạo nên toàn bộ sự sống trên quả địa cầu này, vô tình như một trò đùa quái gở hay một sai lầm tai hại. Giới sinh viên đại học từ lâu vẫn luôn huyễn hoặc nhau rằng khái niệm này chỉ là sản phẩm bóp méo từ trí tưởng tượng bệnh hoạn của nhân loại khi đối diện với các loài động vật tỏa tia nhiệt đới thời thượng cổ. Lạ lùng thay, sinh vật trước mắt tôi cũng trùng khớp đến gai người với những thực thể trong các thần thoại tiền sử mà Wilmarth từng run rẩy nhắc tới-những bầy tôi ma quái của giáo phái Cthulhu5 khát máu, và vô vàn những thứ tương tự."
"Phát hiện này sẽ xé toạc chân trời tri thức, mở ra một lĩnh vực nghiên cứu bao la và vô tận! Xét theo các mẫu hóa thạch đi kèm, lớp trầm tích này có lẽ thuộc về giai đoạn cuối Kỷ Phấn Trắng hoặc đầu Kỷ Eocen. Những cột măng đá khổng lồ đã bồi đắp và bao trùm lên xác của chúng qua hàng triệu năm. Công đoạn đục đẽo để giải phóng các mẫu vật diễn ra cực kỳ trầy trật, nhưng may mắn thay, nhờ lớp da dẻo dai bất hoại mà chúng không mảy may xước xát. Trạng thái bảo quản hoàn mỹ của các xác ướp này chỉ có thể dùng từ 'phép màu' để hình dung, một phép màu hiển nhiên được tạo ra nhờ tác dụng hóa học kỳ diệu của đá vôi. Tính đến hiện tại, chúng tôi chưa phát hiện thêm cá thể nào, nhưng chiến dịch lùng sục sẽ sớm được nối lại. Nhiệm vụ cấp bách nhất bây giờ là phải cẩu toàn bộ mười bốn mẫu vật khổng lồ này về trại, hoàn toàn bằng sức người mà không có sự trợ giúp của bầy chó. Lũ chó đang sủa lên điên cuồng, lồng lộn và tuyệt đối không thể mạo hiểm cho chúng tới gần những sinh vật này thêm một tấc nào nữa."
"Với chín người đàn ông lực lưỡng-trong khi ba người khác phải nán lại để kìm hãm bầy chó đang phát dại-chúng tôi có lẽ sẽ xoay xở ổn thỏa với ba chiếc xe trượt, dẫu cho cuồng phong đang rít gào dữ dội ngoài kia. Bước tiếp theo là phải khẩn trương thiết lập cầu hàng không với Eo biển McMurdo và bắt đầu quá trình không vận các vật phẩm vô giá này. Nhưng tôi, bằng mọi giá, phải mổ phanh một trong những con quái vật này ra trước khi bất kỳ ai trong chúng ta được phép nhắm mắt chợp mắt. Giá như tôi có một phòng thí nghiệm đúng nghĩa ngay tại chốn hoang vu này! Thiết nghĩ, anh Dyer à, anh nên tự trách mình vì đã từng tìm cách cản bước tiến về phía Tây của tôi. Đầu tiên là việc bóc trần dãy núi vĩ đại nhất hành tinh, và giờ đây... là thứ quái quỷ này! Nếu cái phát kiến kinh thiên động địa này mà vẫn chưa phải là vinh quang tột đỉnh của toàn bộ chuyến thám hiểm, thì tôi thực sự cạn lời, chẳng biết thứ gì mới có thể vượt mặt nó nữa. Xét trên bình diện khoa học, tên tuổi của chúng ta đã được khắc sâu vào biên niên sử rồi! Xin gửi lời chúc mừng nồng nhiệt đến giáo sư Pabodie, bởi chính mũi khoan thần thánh của ông đã chọc thủng lớp vỏ băng, phơi bày cái hang động bí ẩn này. Và bây giờ, tàu Arkham, các anh vui lòng phát lại nguyên văn đoạn mô tả vừa rồi để đối chiếu được chứ?"

"Tôi phải mổ phanh một trong những con quái vật này ra trước khi--"
"Đầu tiên là dãy núi vĩ đại nhất hành tinh-rồi đến thứ này!"
Cảm xúc của giáo sư Pabodie và tôi khi nhận được báo cáo này dường như vượt quá mọi ngôn từ, và những người bạn đồng hành cũng bùng nổ trong niềm phấn khích tột độ. Ngay khi những tiếng rền rĩ từ bộ thu sóng vừa dứt, McTighe - người đã hối hả dịch lại những điểm chính yếu - liền chép lại toàn bộ tin nhắn từ bản tốc ký của mình sau khi nhân viên vô tuyến của Lake ngắt kết nối.
Mọi người đều thấu hiểu tầm vóc lịch sử của khám phá này. Ngay khi nhân viên vô tuyến trên tàu Arkham đọc lại các đoạn mô tả theo yêu cầu, tôi lập tức gửi lời chúc mừng tới Lake; theo sau là Sherman từ trạm tiếp tế Eo biển McMurdo và thuyền trưởng Douglas của tàu Arkham.
Sau đó, với tư cách trưởng đoàn thám hiểm, tôi gửi thêm vài lời bình luận để tàu Arkham chuyển tiếp ra thế giới bên ngoài. Lúc này, ý nghĩ nghỉ ngơi quả thật lố bịch giữa cơn sục sôi tột độ. Mong mỏi duy nhất của tôi là đến trại của Lake càng nhanh càng tốt. Thế nhưng, nỗi thất vọng ập đến khi anh báo tin một cơn bão núi đang kéo tới, khiến các chuyến bay không thể cất cánh trong nay mai.
Nhưng chỉ trong vòng một giờ rưỡi, sự hứng khởi lại dâng trào, quét sạch đi nỗi thất vọng. Lake gửi thêm tin nhắn, báo cáo đã vận chuyển trót lọt mười bốn mẫu vật khổng lồ về trại. Đó hẳn là một quá trình chuyên chở cực nhọc, bởi những thứ đó nặng nề đến kinh ngạc; nhưng chín người đàn ông đã hoàn thành công việc hết sức gọn ghẽ. Vài người trong đoàn đang hối hả đắp một hàng rào tuyết cách trại một khoảng an toàn để nhốt bầy chó lại, tiện cho việc cho ăn. Các mẫu vật được đặt trên lớp tuyết cứng cạnh trại, ngoại trừ một cá thể mà Lake đang vụng về thử mổ xẻ.
Cuộc giải phẫu dường như gian nan hơn dự kiến. Dù đã có hơi ấm từ chiếc bếp xăng trong lều thí nghiệm mới dựng, các mô tưởng chừng như rất mềm dẻo của mẫu vật - một cá thể nguyên vẹn và sung mãn - vẫn không hề mất đi sự dai ngoách như da thuộc. Lake bối rối không biết làm sao để rạch những nhát cắt cần thiết mà không phải dùng sức quá mạnh, thứ có thể phá nát những chi tiết cấu trúc tinh vi mà anh đang tìm kiếm.
Quả thực anh còn đến bảy mẫu vật hoàn hảo khác, nhưng ngần ấy là quá ít để làm vật thí nghiệm liều lĩnh, trừ phi sau này cái hang có thể cung cấp một nguồn hàng vô tận. Do đó, anh đã mang mẫu vật kia ra ngoài và kéo vào một cái khác; sinh vật này, dù vẫn giữ được tàn tích của cấu trúc hình sao biển ở cả hai đầu, lại bị dập nát nghiêm trọng và đứt gãy một phần dọc theo một trong những nếp gấp khổng lồ trên thân.
Những kết quả nhanh chóng được báo về qua vô tuyến thực sự gây hoang mang và khơi gợi trí tò mò tột độ. Khó lòng đòi hỏi sự tinh tế hay chính xác từ những dụng cụ gần như bất lực trước thứ mô dị thường đó, nhưng chút ít dữ liệu thu thập được cũng đủ khiến tất thảy chúng tôi phải kinh hãi và bối rối.
Nền sinh học hiện đại chắc chắn sẽ phải xới tung lên để đánh giá lại toàn bộ, bởi thứ này tuyệt nhiên không phải là sản phẩm từ bất kỳ quá trình phát triển tế bào nào mà khoa học từng biết. Hầu như không có dấu hiệu của quá trình khoáng hóa thay thế, và bất chấp tuổi đời có lẽ lên tới bốn mươi triệu năm, các cơ quan nội tạng của nó vẫn vẹn nguyên một cách khó tin.
Đặc tính dai như da thuộc và gần như bất hoại, vốn là thuộc tính bẩm sinh trong cấu trúc cơ thể chúng. Nó thuộc về một chu kỳ tiến hóa của động vật không xương sống thời Paleocen, hoàn toàn nằm ngoài giới hạn nhận thức của chúng tôi.
Ban đầu, tất thảy những gì Lake tìm thấy đều khô khốc. Nhưng khi hơi ấm từ lều tạo ra hiệu ứng rã đông, một thứ chất lỏng hữu cơ mang mùi hôi thối, hăng hắc bắt đầu rỉ ra từ bên sườn chưa bị tổn thương của sinh vật. Nó không phải là máu, mà là một thứ dịch đặc quánh, màu xanh lục sẫm dường như mang chức năng tương đương. Ngay khi Lake tiến hành đến giai đoạn này, tất cả ba mươi bảy con chó đã được lùa vào khu chuồng quây tạm gần trại. Dù ở khoảng cách xa như vậy, chúng vẫn sủa lên điên cuồng và tỏ ra kích động trước thứ mùi hăng hắc đang váng vất trong không khí.
Thay vì làm rõ danh tính của thực thể dị hợm kia, cuộc mổ xẻ chớp nhoáng này chỉ càng làm dày thêm tấm màn bí ẩn. Mọi suy đoán về cấu trúc bên ngoài của nó đều chuẩn xác, và chỉ dựa vào đó, ta sẽ không ngần ngại xếp sinh vật này vào giới động vật. Tuy nhiên, việc kiểm tra nội tạng lại phơi bày quá nhiều bằng chứng của loài thực vật, đẩy Lake vào trạng thái bàng hoàng và mất phương hướng tột độ. Nó sở hữu hệ tiêu hóa và tuần hoàn, đồng thời bài tiết chất thải qua các ống màu đỏ ở phần gốc hình sao biển.
Đánh giá sơ bộ cho thấy bộ máy hô hấp của nó xử lý oxy thay vì carbon dioxide. Thêm vào đó là những dấu vết kỳ lạ về các khoang trữ khí cùng cơ chế chuyển đổi hô hấp từ lỗ thở bên ngoài sang ít nhất hai hệ thống hô hấp hoàn chỉnh khác - mang và lỗ chân lông.
Rõ ràng đây là một sinh vật lưỡng cư, và có lẽ nó cũng thích nghi được với những đợt ngủ đông thiếu khí kéo dài. Các cơ quan phát âm dường như có tồn tại và được kết nối với hệ hô hấp chính, nhưng lại mang những nét dị biệt vượt ngoài khả năng giải mã tức thời. Khó lòng mường tượng việc nó có thể phát âm rành rọt từng âm tiết, nhưng những tiếng huýt sáo như tiếng kèn với âm vực rộng lại là điều hoàn toàn khả thi. Hệ thống cơ bắp của sinh vật này cũng phát triển tới mức gần như dị thường.
Hệ thần kinh phức tạp và tinh vi của nó khiến Lake phải sửng sốt. Dù vương lại một vài tàn tích của sự nguyên thủy và cổ sơ, sinh vật này sở hữu một bộ trung khu hạch thần kinh cùng các dây thần kinh liên kết minh chứng cho mức độ tiến hóa chuyên biệt hóa đến tột cùng.
Bộ não năm thùy của sinh vật tiến bộ một cách đáng kinh ngạc. Ngoài ra, còn có dấu vết của một cơ quan cảm giác - hoạt động một phần qua các lông mao cứng cáp trên đầu - liên kết với những yếu tố hoàn toàn xa lạ với mọi sinh vật dị giới. Rất có thể nó sở hữu nhiều hơn năm giác quan, khiến cho mọi nỗ lực dự đoán tập tính của nó dựa trên các hệ quy chiếu hiện tại đều trở nên vô vọng.
Lake tin rằng trong thế giới sơ khai của mình, sinh vật này hẳn phải sở hữu độ nhạy cảm tinh tế cùng các chức năng phân hóa sắc sảo - rất giống với loài kiến hay ong ngày nay. Nó sinh sản y hệt thực vật không hoa (cryptogam), đặc biệt là ngành quyết (pteridophyta); nó có các túi bào tử ở đầu cánh và hiển nhiên sinh trưởng từ một tản (thallus) hoặc nguyên tản (prothallus).
Tuy vậy, việc gán tên cho nó vào lúc này quả là một sự điên rồ. Trông nó giống động vật tỏa tia, nhưng rõ ràng bản chất của nó còn vượt xa hơn thế. Nó mang trong mình một phần đặc tính của thực vật, nhưng lại sở hữu tới ba phần tư các yếu tố cốt lõi của cấu trúc động vật. Nguồn gốc đại dương của sinh vật được thể hiện rõ qua hình dáng đối xứng và vài thuộc tính khác; thế nhưng, không ai có thể vạch ra ranh giới chính xác về năng lực thích nghi sau này của nó.
Dẫu sao, những chiếc cánh kia vẫn luôn ám ảnh tâm trí ta về khả năng bay lượn trên không trung của chúng. Bằng cách nào sinh vật này có thể trải qua quá trình tiến hóa phức tạp nhường ấy trên một trái đất hãy còn non trẻ, vừa vặn để in hằn dấu vết lại các tầng đá thời Thái Cổ, quả thực vượt quá sức tưởng tượng của con người. Điều này bất chợt gợi cho Lake nhớ đến những thần thoại nguyên thủy về các Cựu Thần6 đã giáng trần từ những vì sao, nhào nặn ra sự sống trên địa cầu như một trò đùa xảo trá hay một sai lầm đáng tiếc; và cả những câu chuyện điên loạn về những sinh vật vũ trụ trú ngụ nơi núi cao mà một đồng nghiệp nghiên cứu văn hóa dân gian tại khoa tiếng Anh trường Miskatonic từng kể.
Dĩ nhiên, anh cũng từng tính đến giả thuyết rằng những dấu vết thời tiền Cambri thuộc về một tổ tiên kém phát triển hơn của mẫu vật hiện tại. Tuy nhiên, Lake nhanh chóng gạt phăng cái lý thuyết quá đỗi hời hợt đó sau khi xem xét những đặc điểm cấu trúc siêu việt của các hóa thạch cổ xưa kia. Có chăng, những đường nét của thế hệ sau này chỉ phơi bày sự thoái hóa hơn là một nấc thang tiến hóa mới.
Kích thước của các chân giả đã thu hẹp lại, và toàn bộ hình thái dường như trở nên thô kệch, đơn giản hóa đi rất nhiều. Hơn thế nữa, mạng lưới thần kinh và các cơ quan nội tạng vừa được kiểm tra lại ẩn chứa những bằng chứng kỳ lạ về sự thoái hóa từ các cấu trúc phức tạp hơn thế. Các bộ phận teo tóp, chỉ còn là những di tích hiện diện nhiều đến mức đáng ngạc nhiên. Nhìn chung, hầu như chưa có câu đố nào được giải đáp; Lake đành phải mượn đến thần thoại để đặt một cái tên tạm thời - nửa đùa nửa thật gọi những sinh vật mình vừa khai quật là "Những Cổ Thần".
Khoảng 2:30 sáng, Lake quyết định tạm gác lại công việc để chợp mắt. Anh phủ một tấm bạt lên xác sinh vật vừa bị mổ xẻ, bước ra khỏi lều thí nghiệm và bắt đầu săm soi những mẫu vật còn nguyên vẹn với niềm hưng phấn trào dâng.
Ánh mặt trời chói chang không bao giờ tắt ở Nam Cực đã bắt đầu làm cho các mô của chúng giãn nở đôi chút, đến mức chóp đầu và các ống của hai ba cá thể có dấu hiệu bung mở; nhưng Lake không tin rằng chúng có thể phân hủy ngay tức khắc giữa bầu không khí lạnh ngắt xấp xỉ không độ này. Dẫu vậy, anh vẫn kéo các mẫu vật chưa bị mổ xẻ lại gần nhau hơn, phủ lên chúng một chiếc lều dự phòng để che chắn khỏi ánh nắng trực tiếp. Việc này cũng sẽ ngăn bất kỳ mùi lạ nào tản ra bay đến chỗ đàn chó. Sự hoảng loạn và thù địch của bầy chó đang thực sự trở thành một vấn đề nan giải, ngay cả khi chúng đang ở một khoảng cách khá xa và được che khuất bởi những bức tường tuyết ngày một cao dần - công trình mà một nhóm người đông đảo đang hối hả đắp lên quanh khu nhà ở.
Anh phải chặn những khối tuyết lớn lên các góc bạt để giữ chiếc lều không bị thổi bay giữa cơn gió dữ dội đang gào thét. Những ngọn núi khổng lồ kia dường như sắp sửa trút xuống những luồng cuồng phong tàn khốc nhất. Nỗi kinh hoàng ban đầu về những cơn gió Nam Cực bất thần lại trỗi dậy. Dưới sự chỉ đạo của Atwood, cả đội hối hả đắp tuyết gia cố các căn lều, chuồng chó mới và nơi trú ẩn tạm bợ cho máy bay, đặc biệt ở hướng hứng gió núi. Những lán trú ẩn cho máy bay vốn được dựng từ các khối tuyết cứng vào lúc rảnh rỗi, nay lại không đạt đủ chiều cao cần thiết; cuối cùng, Lake đành phải rút mọi người khỏi các công việc khác để dồn sức hoàn thiện chúng.
Đã hơn 4 giờ sáng, Lake rốt cuộc cũng chuẩn bị ngắt kết nối vô tuyến. Anh khuyên tất cả chúng tôi nên tranh thủ chợp mắt, đồng thời nhóm của anh cũng sẽ nghỉ ngơi ngay khi những bức tường tuyết được đắp cao thêm chút nữa. Anh thân tình gửi lời chào đến giáo sư Pabodie qua điện đài, không quên ca ngợi những chiếc mũi khoan kỳ diệu đã giúp anh làm nên khám phá vĩ đại này. Atwood cũng góp lời chào và gửi gắm những lời tán dương.
Tôi gửi tới Lake những lời chúc mừng nồng nhiệt nhất, thừa nhận rằng anh đã đúng về chuyến thám hiểm về phía tây; tất cả chúng tôi đồng ý sẽ nối lại liên lạc vô tuyến vào lúc 10 giờ sáng. Nếu lúc ấy bão đã tan, Lake sẽ phái một chiếc máy bay đến căn cứ để đón đoàn tôi. Ngay trước khi ngả lưng, tôi còn gửi một bức điện cuối tới tàu Arkham, dặn dò họ phải làm dịu đi sự giật gân của những tin tức trong ngày trước khi công bố ra thế giới. Những chi tiết quá đỗi kinh hoàng này chắc chắn sẽ thổi bùng lên một làn sóng hoài nghi, trừ phi chúng tôi có thêm nhiều bằng chứng xác thực.
-
Liên đại Thái Cổ (Archean Eon) là một thời kỳ địa chất kéo dài từ khoảng 4 tỷ đến 2,5 tỷ năm trước, khi Trái Đất hãy còn non trẻ và sự sống chỉ mới ở dạng vi sinh vật đơn bào sơ khai. ↩
-
Nicholas Roerich (1874-1947) là một họa sĩ và nhà thám hiểm người Nga. Ông nổi tiếng với những bức tranh miêu tả phong cảnh hùng vĩ, kỳ bí và mang màu sắc tâm linh của dãy núi Himalaya và Tây Tạng, thường khắc họa những khối kiến trúc cổ xưa chênh vênh giữa thiên nhiên khắc nghiệt. ↩
-
Động vật tỏa tia (Radiata) là một phân loại sinh học lịch sử dùng để chỉ những loài động vật có cấu trúc cơ thể đối xứng tỏa tròn, xoay quanh một trục trung tâm như sứa, sao biển hay hải quỳ. ↩
-
Clark Ashton Smith (1893-1961) là một nhà văn, họa sĩ người Mỹ, đồng thời là bạn tâm giao của H. P. Lovecraft. Ông là một trong những thành viên cốt cán đã sáng tạo và mở rộng vũ trụ thần thoại Cthulhu, nổi tiếng với những bức tranh minh họa đậm chất kỳ quái, mô tả các thực thể vượt ngoài nhận thức nhân loại. ↩
-
Một hội nhóm cuồng tín hư cấu tôn thờ Cthulhu - một thực thể vũ trụ quyền năng mang hình dáng pha trộn giữa người, bạch tuộc và rồng đang ngủ say dưới đáy đại dương. Đây là một tổ chức cốt lõi trong Thần thoại Lovecraft, tượng trưng cho sự quy phục của nhân loại trước những thế lực vũ trụ tà ác. ↩
-
Trong thần thoại Lovecraft, Cựu Thần (Great Old Ones) là những thực thể vũ trụ vô cùng cổ xưa và quyền năng, sở hữu hình thù kỳ dị và trí tuệ siêu việt. Chúng đến Trái Đất từ những vì sao xa xôi trước cả khi loài người xuất hiện và hiện đang bị phong ấn trong những giấc ngủ sâu tại nhiều nơi bí mật trên thế giới. ↩
CHAPTER II.
Popular imagination, I judge, responded actively to our wireless bulletins of Lake's start northwestward into regions never trodden by human foot or penetrated by human imagination, though we did not mention his wild hopes of revolutionizing the entire sciences of biology and geology.
His preliminary sledging and boring journey of January 11th to 18th with Pabodie and five others-marred by the loss of two dogs in an upset when crossing one of the great pressure ridges in the ice-had brought up more and more of the Archæan slate; and even I was interested by the singular profusion of evident fossil markings in that unbelievably ancient stratum.
These markings, however, were of very primitive life forms involving no great paradox except that any life forms should occur in rock as definitely pre-Cambrian as this seemed to be; hence I still failed to see the good sense of Lake's demand for an interlude in our time-saving program-an interlude requiring the use of all four planes, many men, and the whole of the expedition's mechanical apparatus.
I did not, in the end, veto the plan, though I decided not to accompany the northwestward party despite Lake's plea for my geological advice. While they were gone, I would remain at the base with Pabodie and five men and work out final plans for the eastward shift. In preparation for this transfer, one of the planes had begun to move up a good gasoline supply from McMurdo Sound; but this could wait temporarily. I kept with me one sledge and nine dogs, since it is unwise to be at any time without possible transportation in an utterly tenantless world of æon-long death.
Lake's subexpedition into the unknown, as every one will recall, sent out its own reports from the short-wave transmitters on the planes; these being simultaneously picked up by our apparatus at the southern base and by the Arkham at McMurdo Sound, whence they were relayed to the outside world on wave lengths up to fifty meters.
The start was made January 22nd at 4 a.m.; and the first wireless message we received came only two hours later, when Lake spoke of descending and starting a small-scale ice-melting and bore at a point some three hundred miles away from us. Six hours after that a second and very excited message told of the frantic, beaverlike work whereby a shallow shaft had been sunk and blasted, culminating in the discovery of slate fragments with several markings approximately like the one which had caused the original puzzlement.
Three hours later a brief bulletin announced the resumption of the flight in the teeth of a raw and piercing gale; and when I dispatched a message of protest against further hazards, Lake replied curtly that his new specimens made any hazard worth taking.
I saw that his excitement had reached the point of mutiny, and that I could do nothing to check this headlong risk of the whole expedition's success; but it was appalling to think of his plunging deeper and deeper into that treacherous and sinister white immensity of tempests and unfathomed mysteries which stretched off for some fifteen hundred miles to the half-known, half-suspected coast line of Queen Mary and Knox Lands.
Then, in about an hour and a half more, came that doubly excited message from Lake's moving plane, which almost reversed my sentiments and made me wish I had accompanied the party:
"10:05 p.m. On the wing. After snowstorm, have spied mountain range ahead higher than any hitherto seen. May equal Himalayas, allowing for height of plateau. Probable Latitude 76° 15´, Longitude 113° 10´ E. Reaches far as can see to right and left. Suspicion of two smoking cones. All peaks black and bare of snow. Gale blowing off them impedes navigation."
After that Pabodie, the men, and I hung breathlessly over the receiver. Thought of this titanic mountain rampart seven hundred miles away inflamed our deepest sense of adventure; and we rejoiced that our expedition, if not ourselves personally, had been its discoverers. In half an hour Lake called us again:
"Moulton's plane forced down on plateau in foothills, but nobody hurt and perhaps can repair. Shall transfer essentials to other three for return or further moves if necessary, but no more heavy plane travel needed just now. Mountains surpass anything in imagination. Am going up scouting in Carroll's plane, with all weight out.
"You can't imagine anything like this. Highest peaks must go over thirty-five thousand feet. Everest out of the running, Atwood to work out height with theodolite while Carroll and I go up. Probably wrong about cones, for formations look stratified. Possibly pre-Cambrian slate with other strata mixed in. Queer sky line effects-regular sections of cubes clinging to highest peaks. Whole thing marvelous in red-gold light of low sun. Like land of mystery in a dream or gateway to forbidden world of untrodden wonder. Wish you were here to study."
Though it was technically sleeping time, not one of us listeners thought for a moment of retiring. It must have been a good deal the same at McMurdo Sound, where the supply cache and the Arkham were also getting the messages; for Captain Douglas gave out a call congratulating everybody on the important find, and Sherman, the cache operator, seconded his sentiments. We were sorry, of course, about the damaged aëroplane, but hoped it could be easily mended. Then, at eleven p.m., came another call from Lake:
"Up with Carroll over highest foothills. Don't dare try really tall peaks in present weather, but shall later. Frightful work climbing, and hard going at this altitude, but worth it. Great range fairly solid, hence can't get any glimpses beyond. Main summits exceed Himalayas, and very queer. Range looks like pre-Cambrian slate, with plain signs of many other upheaved strata. Was wrong about volcanism. Goes farther in either direction than we can see. Swept clear of snow above about twenty-one thousand feet.
"Odd formations on slopes of highest mountains. Great low square blocks with exactly vertical sides, and rectangular lines of low, vertical ramparts, like the old Asian castles clinging to steep mountains in Roerich's paintings. Impressive from distance. Flew close to some, and Carroll thought they were formed of smaller separate pieces, but that is probably weathering. Most edges crumbled and rounded off as if exposed to storms and climate changes for millions of years.
"Parts, especially upper parts, seem to be of lighter-colored rock than any visible strata on slopes proper, hence an evidently crystalline origin. Close flying shows many cave mouths, some unusually regular in outline, square or semicircular. You must come and investigate. Think I saw rampart squarely on top of one peak. Height seems about thirty thousand to thirty-five thousand feet. Am up twenty-one thousand five hundred myself, in devilish, gnawing cold. Wind whistles and pipes through passes and in and out of caves, but no flying danger so far."
From then on for another half hour Lake kept up a running fire of comment, and expressed his intention of climbing some of the peaks on foot. I replied that I would join him as soon as he could send a plane, and that Pabodie and I would work out the best gasoline plan-just where and how to concentrate our supply in view of the expedition's altered character.
Obviously, Lake's boring operations, as well as his aëroplane activities, would need a great deal delivered at the new base which he was to establish at the foot of the mountains; and it was possible that the eastward flight might not be made, after all, this season. In connection with this business I called Captain Douglas and asked him to get as much as possible out of the ships and up the barrier with the single dog team we had left there. A direct route across the unknown region between Lake and McMurdo Sound was what we really ought to establish.
Lake called me later to say that he had decided to let the camp stay where Moulton's plane had been forced down, and where repairs had already progressed somewhat. The ice sheet was very thin, with dark ground here and there visible, and he would sink some borings and blasts at that very point before making any sledge trips or climbing expeditions.
He spoke of the ineffable majesty of the whole scene, and the queer state of his sensations at being in the lee of vast, silent pinnacles, whose ranks shot up like a wall reaching the sky at the world's rim.

It was a queer state of sensations-being in the lee of vast, silent pinnacles, where ranks shot up like a wall reaching the sky at the world's rim.
Atwood's theodolite observations had placed the height of the five tallest peaks at from thirty thousand to thirty-four thousand feet.
The windswept nature of the terrain clearly disturbed Lake, for it argued the occasional existence of prodigious gales, violent beyond anything we had so far encountered. His camp lay a little more than five miles from where the higher foothills rose abruptly.
I could almost trace a note of subconscious alarm in his words-flashed across a glacial void of seven hundred miles-as he urged that we all hasten with the matter and get the strange, new region disposed of as soon as possible. He was about to rest now, after a continuous day's work of almost unparalleled speed, strenuousness, and results.
In the morning I had a three-cornered wireless talk with Lake and Captain Douglas at their widely separated bases. It was agreed that one of Lake's planes would come to my base for Pabodie, the five men, and myself, as well as for all the fuel it could carry. The rest of the fuel question, depending on our decision about an easterly trip, could wait for a few days, since Lake had enough for immediate camp heat and borings.
Eventually the old southern base ought to be restocked, but if we postponed the easterly trip we would not use it till the next summer, and, meanwhile, Lake must send a plane to explore a direct route between his new mountains and McMurdo Sound.
Pabodie and I prepared to close our base for a short or long period, as the case might be. If we wintered in the antarctic we would probably fly straight from Lake's base to the Arkham without returning to this spot. Some of our conical tents had already been reinforced by blocks of hard snow, and now we decided to complete the job of making a permanent village. Owing to a very liberal tent supply, Lake had with him all that his base would need, even after our arrival. I wirelessed that Pabodie and I would be ready for the northwestward move after one day's work and one night's rest.
Our labors, however, were not very steady after four p.m., for about that time Lake began sending in the most extraordinary and excited messages. His working day had started unpropitiously, since an aëroplane survey of the nearly exposed rock surfaces showed an entire absence of those Archæan and primordial strata for which he was looking, and which formed so great a part of the colossal peaks that loomed up at a tantalizing distance from the camp.
Most of the rocks glimpsed were apparently Jurassic and Comanchean sandstones and Permian and Triassic schists, with now and then a glossy black outcropping suggesting a hard and slaty coal.
This rather discouraged Lake, whose plans all hinged on unearthing specimens more than five hundred million years older. It was clear to him that in order to recover the Archæan slate vein in which he had found the odd markings, he would have to make a long sledge trip from these foothills to the steep slopes of the gigantic mountains themselves.
He had resolved, nevertheless, to do some local boring as part of the expedition's general program; hence, he set up the drill and put five men to work with it while the rest finished settling the camp and repairing the damaged aëroplane. The softest visible rock-a sandstone about a quarter of a mile from the camp-had been chosen for the first sampling; and the drill made excellent progress without much supplementary blasting.
It was about three hours afterward, following the first really heavy blast of the operation, that the shouting of the drill crew was heard; and that young Gedney-the acting foreman-rushed into the camp with the startling news.
They had struck a cave. Early in the boring the sandstone had given place to a vein of Comanchean limestone, full of minute fossil cephalopods, corals, echini, and spirifera, and with occasional suggestions of siliceous sponges and marine vertebrate bones-the latter probably of teliosts, sharks, and ganoids.
This, in itself, was important enough, as affording the first vertebrate fossils the expedition had yet secured; but when shortly afterward the drill head dropped through the stratum into apparent vacancy, a wholly new and doubly intense wave of excitement spread among the excavators.
A good-sized blast had laid open the subterrane secret; and now, through a jagged aperture perhaps five feet across and three feet thick, there yawned before the avid searchers a section of shallow limestone hollowing worn more than fifty million years ago by the trickling ground waters of a bygone tropic world.
The hollowed layer was not more than seven or eight feet deep, but extended off indefinitely in all directions and had a fresh, slightly moving air which suggested its membership in an extensive subterranean system. Its roof and floor were abundantly equipped with large stalactites and stalagmites, some of which met in columnar form.
But important above all else was the vast deposit of shells and bones, which in places nearly choked the passage. Washed down from unknown jungles of Mesozoic tree ferns and fungi, and forests of Tertiary cycads, fan palms, and primitive angiosperms, this osseous medley contained representatives of more Cretaceous, Eocene, and other animal species than the greatest palæontologist could have counted or classified in a year. Mollusks, crustacean armor, fishes, amphibians, reptiles, birds, and early mammals-great and small, known and unknown.
No wonder Gedney ran back to the camp shouting, and no wonder every one else dropped work and rushed headlong through the biting cold to where the tall derrick marked a new-found gateway to secrets of inner earth and vanished æons.
When Lake had satisfied the first keen edge of his curiosity he scribbled a message in his notebook and had young Moulton run back to the camp to dispatch it by wireless.
This was my first word of the discovery, and it told of the identification of early shells, bones of ganoids and placoderms, remnants of labyrinthodonta and thecoiidea, great mosasaur skull fragments, dinosaur vertebræ and armor plates, pterodactyl teeth and wing bones, Archaeopteryx débris, Miocene sharks' teeth, primitive bird skulls, and other bones of archaic mammals such as Palæotheres, Xiphodons, Eohippi, Oreodons, and Titanotheriidæ.
There was nothing as recent as a mastodon, elephant, true camel, deer, or bovine animal; hence Lake concluded that the last deposits had occurred during the Oligocene Age, and that the hollowed stratum had lain in its present dried, dead, and inaccessible state for at least thirty million years.
On the other hand, the prevalence of very early life forms was singular in the highest degree. Though the limestone formation was, on the evidence of such typical imbedded fossils as ventriculites, positively and unmistakably Comanchean and not a particle earlier; the free fragments in the hollow space included a surprising proportion from organisms hitherto considered as peculiar to far older periods-even rudimentary fishes, mollusks, and corals as remote as the Silurian or Ordovician.
The inevitable inference was that in this part of the world there had been a remarkable and unique degree of continuity between the life of over three hundred million years ago and that of only thirty million years ago. How far this continuity had extended beyond the Oligocene Age when the cavern was closed was of course past all speculation.
In any event, the coming of the frightful ice in the Pleistocene some five hundred thousand years ago-a mere yesterday as compared with the age of this cavity-must have put an end to any of the primal forms which had locally managed to outlive their common terms.
Lake was not content to let his first message stand, but had another bulletin written and dispatched across the snow to the camp before Moulton could get back. After that Moulton stayed at the wireless in one of the planes, transmitting to me-and to the Arkham for relaying to the outside world-the frequent postscripts which Lake sent him by a succession of messengers.
Those who followed the newspapers will remember the excitement created among men of science by that afternoon's reports-reports which have finally led, after all these years, to the organization of that very Starkweather-Moore Expedition which I am so anxious to dissuade from its purposes. I had better give the messages literally as Lake sent them, and as our base operator McTighe translated them from his pencil shorthand:
Fowler makes discovery of highest importance in sandstone and limestone fragments from blasts. Several distinct triangular striated prints like those in archæan slate, proving that source survived from over six hundred million years ago to Comanchean times without more than moderate morphological changes and decrease in average size. Comanchean prints apparently more primitive or decadent, if anything, than older ones. Emphasize importance of discovery in press. Will mean to biology what Einstein has meant to mathematics and physics. Joins up with my previous work and amplifies conclusions.
Appears to indicate, as I suspected, that earth has seen whole cycle or cycles of organic life before known one that begins with Archæozoic cells. Was evolved and specialized not later than a thousand million years ago, when planet was young and recently uninhabitable for any life forms of normal protoplasmic structure. Question arises when, where, and how development took place.
Later. Examining certain skeletal fragments of large land and marine saurians and primitive mammals, find singular local wounds or injuries to bony structure not attributable to any known predatory or carnivorous animal of any period. Of two sorts-straight, penetrant bores, and apparently hacking incisions. One or two cases of cleanly severed bones. Not many specimens affected. Am sending to camp for electric torches. Will extend search area underground by hacking away stalactites.
Still later. Have found peculiar soapstone fragment about six inches across and an inch and a half thick, wholly unlike any visible local formation-greenish, but no evidences to place its period. Has curious smoothness and regularity. Shaped like five-pointed star with tips broken off, and signs of other cleavage at inward angles and in center of surface. Small, smooth depression in center of unbroken surface. Arouses much curiosity as to source and weathering. Probably some freak of water action. Carroll, with magnifier, thinks he can make out additional markings of geologic significance. Groups of tiny dots in regular patterns. Dogs growing uneasy as we work, and seem to hate this soapstone. Must see if it has any peculiar odor. Will report again when Mills gets back with light and we start on underground area.
10:15 p.m. Important discovery. Orrendorf and Watkins, working underground at 9:45 with light, found monstrous barrel-shaped fossil of wholly unknown nature; probably vegetable unless overgrown specimen of unknown marine radiata. Tissue evidently preserved by mineral salts. Tough as leather, but astonishing flexibility retained in places. Marks of broken-off parts at ends and around sides. Six feet end to end, three and five tenths feet central diameter, tapering to one foot at each end. Like a barrel with five bulging ridges in place of staves. Lateral breakages, as of thinnish stalks, are at equator in middle of these ridges. In furrows between ridges are curious growths-combs or wings that fold up and spread out like fans. All greatly damaged but one, which gives almost seven-foot wing spread. Arrangement reminds one of certain monsters of primal myth, especially fabled Elder Things in Necronomicon.
These wings seem to be membranous, stretched on framework of glandular tubing. Apparent minute orifices in frame tubing at wing tips. Ends of body shriveled, giving no clue to interior or to what has been broken off there. Must dissect when we get back to camp. Can't decide whether vegetable or animal. Many features obviously of almost incredible primitiveness. Have set all hands cutting stalactites and looking for further specimens. Additional scarred bones found, but these must wait. Having trouble with dogs. They can't endure the new specimen, and would probably tear it to pieces if we didn't keep it at a distance from them.
11:30 p.m. Attention, Dyer, Pabodie, Douglas. Matter of highest-I might say transcendent-importance. Arkham must relay to Kingsport Head Station at once. Strange barrel growth is the archæan thing that left prints in rocks. Mills, Boudreau, and Fowler discover cluster of thirteen more at underground point forty feet from aperture. Mixed with curiously rounded and configured soapstone fragments smaller than one previously found-star-shaped, but no marks of breakage except at some of the points.
Of organic specimens, eight apparently perfect, with all appendages. Have brought all to surface, leading off dogs to distance. They cannot stand the things. Give close attention to description and repeat back for accuracy. Papers must get this right.
Objects are eight feet long all over. Six-foot, five-ridged barrel torso three and five tenths feet central diameter, one foot end diameters. Dark gray, flexible, and infinitely tough. Seven-foot membranous wings of same color, found folded, spread out of furrows between ridges. Wing framework tubular or glandular, or lighter gray, with orifices at wing tips. Spread wings have serrated edge. Around equator, one at central apex of each of the five vertical, stavelike ridges, are five systems of light-gray flexible arms or tentacles found tightly folded to torso but expansible to maximum length of over three feet. Like arms of primitive crinoid. Single stalks three inches diameter branch after six inches into five substalks, each of which branches after eight inches into five small, tapering tentacles or tendrils, giving each stalk a total of twenty-five tentacles.
At top of torso blunt, bulbous neck of lighter gray, with gill-like suggestions, holds yellowish five-pointed starfish-shaped apparent head covered with three-inch wiry cilia of various prismatic colors.
Head thick and puffy, about two feet point to point, with three-inch flexible yellowish tubes projecting from each point. Slit in exact center of top probably breathing aperture. At end of each tube is spherical expansion where yellowish membrane rolls back on handling to reveal glassy, red-irised globe, evidently an eye.
Five slightly longer reddish tubes start from inner angles of starfish-shaped head and end in saclike swellings of same color which, upon pressure, open to bell-shaped orifices two inches maximum diameter and lined with sharp, white tooth-like projections-probable mouths. All these tubes, cilia, and points of starfish head, found folded tightly down; tubes and points clinging to bulbous neck and torso. Flexibility surprising despite vast toughness.
At bottom of torso, rough but dissimilarly functioning counterparts of head arrangements exist. Bulbous light-gray pseudoneck, without gill suggestions, holds greenish five-pointed starfish arrangement.
Tough, muscular arms four feet long and tapering from seven inches diameter at base to about two and five tenths at point. To each point is attached small end of a greenish five-veined membranous triangle eight inches long and six wide at farther end. This is the paddle, fin, or pseudofoot which had made prints in rocks from a thousand million to fifty or sixty million years old.
From inner angles of starfish arrangement project two-foot reddish tubes tapering from three inches diameter at base to one at tip. Orifices at tips. All these parts infinitely tough and leathery, but extremely flexible. Four-foot arms with paddles undoubtedly used for locomotion of some sort, marine or otherwise. When moved, display suggestions of exaggerated muscularity. As found, all these projections tightly folded over pseudoneck and end of torso, corresponding to projections at other end.
Cannot yet assign positively to animal or vegetable kingdom, but odds now favor animal. Probably represents incredibly advanced evolution of radiata without loss of certain primitive features. Echinoderm resemblances unmistakable despite local contradictory evidences.
Wing structure puzzles in view of probable marine habitat, but may have use in water navigation. Symmetry is curiously vegetablelike, suggesting vegetable's essential up-and-down structure rather than animal's fore-and-aft structure. Fabulously early date of evolution, preceding even simplest archæan Protozoa hitherto known, baffles all conjecture as to origin.
Complete specimens have such uncanny resemblance to certain creatures of primal myth that suggestion of ancient existence outside antarctic becomes inevitable. Dyer and Pabodie have read Necronomicon and seen Clark Ashton Smith's nightmare paintings based on text, and will understand when I speak of Elder Things supposed to have created all earth life as jest or mistake. Students have always thought conception formed from morbid imaginative treatment of very ancient tropical radiata. Also like prehistoric folklore things Wilmarth has spoken of-Cthulhu cult appendages, etc.
Vast field of study opened. Deposits probably of late Cretaceous or early Eocene period, judging from associated specimens. Massive stalagmites deposited above them. Hard work hewing out, but toughness prevented damage. State of preservation miraculous, evidently owing to limestone action. No more found so far, but will resume search later. Job now to get fourteen huge specimens to camp without dogs, which bark furiously and can't be trusted near them.
With nine men-three left to guard the dogs-we ought to manage the three sledges fairly well, though wind is bad. Must establish plane communication with McMurdo Sound and begin shipping material. But I've got to dissect one of these things before we take any rest. Wish I had a real laboratory here. Dyer better kick himself for having tried to stop my westward trip. First the world's greatest mountains, and then this. If this last isn't the high spot of the expedition, I don't know what is. We're made scientifically. Congrats, Pabodie, on the drill that opened up the cave. Now will Arkham please repeat description?

"I've got to dissect one of these things before--"
"First the world's greatest mountains-then this!"
The sensations of Pabodie and myself at receipt of this report were almost beyond description, nor were our companions much behind us in enthusiasm. McTighe, who had hastily translated a few high spots as they came from the droning receiving set, wrote out the entire message from his shorthand version, as soon as Lake's operator signed off.
All appreciated the epoch-making significance of the discovery, and I sent Lake congratulations as soon as the Arkham's operator had repeated back the descriptive parts as requested; and my example was followed by Sherman from his station at the McMurdo Sound supply cache, as well as by Captain Douglas of the Arkham.
Later, as head of the expedition, I added some remarks to be relayed through the Arkham to the outside world. Of course, rest was an absurd thought amidst this excitement; and my only wish was to get to Lake's camp as quickly as I could. It disappointed me when he sent word that a rising mountain gale made early aërial travel impossible.
But within an hour and a half interest again rose to banish disappointment. Lake, sending more messages, told of the completely successful transportation of the fourteen great specimens to the camp. It had been a hard pull, for the things were surprisingly heavy; but nine men had accomplished it very neatly. Now some of the party were hurriedly building a snow corral at a safe distance from the camp, to which the dogs could be brought for greater convenience in feeding. The specimens were laid out on the hard snow near the camp, save for one on which Lake was making crude attempts at dissection.
This dissection seemed to be a greater task than had been expected, for, despite the heat of a gasoline stove in the newly raised laboratory tent, the deceptively flexible tissues of the chosen specimen-a powerful and intact one-lost nothing of their more than leathery toughness. Lake was puzzled as to how he might make the requisite incisions without violence destructive enough to upset all the structural niceties he was looking for.
He had, it is true, seven more perfect specimens; but these were too few to use up recklessly unless the cave might later yield an unlimited supply. Accordingly, he removed the specimen and dragged in one which, though having remnants of the starfish arrangements at both ends, was badly crushed and partly disrupted along one of the great torso furrows.
Results, quickly reported over the wireless, were baffling and provocative indeed. Nothing like delicacy or accuracy was possible with instruments hardly able to cut the anomalous tissue, but the little that was achieved left us all awed and bewildered.
Existing biology would have to be wholly revised, for this thing was no product of any cell growth science knows about. There had been scarcely any mineral replacement, and despite an age of perhaps forty million years the internal organs were wholly intact.
The leathery, undeteriorative, and almost indestructible quality was an inherent attribute of the thing's form of organization, and pertained to some paleocene cycle of invertebrate evolution utterly beyond our powers of speculation.
At first all that Lake found was dry, but as the heated tent produced its thawing effect, organic moisture of pungent and offensive odor was encountered toward the thing's uninjured side. It was not blood, but a thick, dark-green fluid apparently answering the same purpose. By the time Lake reached this stage all thirty-seven dogs had been brought to the still uncompleted corral near the camp, and even at that distance set up a savage barking and show of restlessness at the acrid, diffusive smell.
Far from helping to place the strange entity, this provisional dissection merely deepened its mystery. All guesses about its external members had been correct, and on the evidence of these one could hardly hesitate to call the thing animal, but internal inspection brought up so many vegetable evidences that Lake was left hopelessly at sea. It had digestion and circulation, and eliminated waste matter through the reddish tubes of its starfish-shaped base.
Cursorily, one would say that its respiratory apparatus handled oxygen rather than carbon dioxide; and there were odd evidences of air-storage chambers and methods of shifting respiration from the external orifice to at least two other fully developed breathing systems-gills and pores.
Clearly, it was amphibian and probably adapted to long airless hibernation periods as well. Vocal organs seemed present in connection with the main respiratory system, but they presented anomalies beyond immediate solution. Articulate speech, in the sense of syllable utterance, seemed barely conceivable, but musical piping notes covering a wide range were highly probable. The muscular system was almost pre-naturally developed.
The nervous system was so complex and highly developed as to leave Lake aghast. Though excessively primitive and archaic in some respects, the thing had a set of gangliar centers and connectives arguing the very extremes of specialized development.
Its five-lobed brain was surprisingly advanced, and there were signs of a sensory equipment, served in part through the wiry cilia of the head, involving factors alien to any other terrestrial organism. Probably it had more than five senses, so that its habits could not be predicted from any existing analogy.
It must, Lake thought, have been a creature of keen sensitiveness and delicately differentiated functions in its primal world-much like the ants and bees of to-day. It reproduced like the vegetable cryptogams, especially the pteridophyta; having spore cases at the tips of the wings and evidently developing from a thallus or prothallus.
But to give it a name at this stage was mere folly. It looked like a radiate, but was clearly something more. It was partly vegetable, but had three fourths of the essentials of animal structure. That it was marine in origin, its symmetrical contour and certain other attributes clearly indicated; yet one could not be exact as to the limit of its later adaptations.
The wings, after all, held a persistent suggestion of the aërial. How it could have undergone its tremendously complex evolution on a new-born earth in time to leave prints in archæan rocks was so far beyond conception as to make Lake whimsically recall the primal myths about Great Old Ones who filtered down from the stars and concocted earth life as a joke or mistake; and the wild tales of cosmic hill things from outside told by a folklorist colleague in Miskatonic's English department.
Naturally, he considered the possibility of the pre-Cambrian prints having been made by a less evolved ancestor of the present specimens, but quickly rejected this too-facile theory upon considering the advanced structural qualities of the older fossils. If anything, the later contours showed decadence rather than higher evolution.
The size of the pseudofeet had decreased, and the whole morphology seemed coarsened and simplified. Moreover, the nerves and organs, just examined, held singular suggestions of retrogression from forms still more complex. Atrophied and vestigial parts were surprisingly prevalent. Altogether, little could be said to have been solved; and Lake fell back on mythology for a provisional name-jocosely dubbing his finds "The Elder Ones."
At about two-thirty a.m., having decided to postpone further work and get a little rest, he covered the dissected organism with a tarpaulin, emerged from the laboratory tent, and studied the intact specimens with renewed interest.
The ceaseless antarctic sun had begun to limber up their tissues a trifle, so that the head points and tubes of two or three showed signs of unfolding; but Lake did not believe there was any danger of immediate decomposition in the almost subzero air. He did, however, move all the undissected specimens closer together and throw a spare tent over them in order to keep off the direct solar rays. That would also help to keep their possible scent away from the dogs, whose hostile unrest was really becoming a problem, even at their substantial distance and behind the higher and higher snow walls, which an increased quota of the men were hastening to raise around their quarters.
He had to weight down the corners of the tent cloth with heavy blocks of snow to hold it in place amidst the rising gale, for the titan mountains seemed about to deliver some gravely severe blasts. Early apprehensions about sudden antarctic winds were revived, and under Atwood's supervision precautions were taken to bank the tents, new dog corral, and crude aëroplane shelters with snow, on the mountainward side. These latter shelters, begun with hard snow blocks during odd moments, were by no means as high as they should have been; and Lake finally detached all hands from other tasks to work on them.
It was after four when Lake at last prepared to sign off and advised us all to share the rest period his outfit would take when the shelter walls were a little higher. He held some friendly chat with Pabodie over the ether, and repeated his praise of the really marvelous drills that had helped him make his discovery. Atwood also sent greetings and praises.
I gave Lake a warm word of congratulation, owning up that he was right about the western trip, and we all agreed to get in touch by wireless at ten in the morning. If the gale was then over, Lake would send a plane for the party at my base. Just before retiring I dispatched a final message to the Arkham, with instructions about toning down the day's news for the outside world, since the full details seemed radical enough to rouse a wave of incredulity until further substantiated.