CHƯƠNG VIII.
Đương nhiên, Danforth và tôi đã dành một sự quan tâm đặc biệt, cùng một nỗi sợ hãi riêng tư và kỳ lạ, để nghiên cứu mọi thứ thuộc về khu vực lân cận nơi chúng tôi đang đứng. Và dĩ nhiên, lượng tài liệu ghi chép về vùng đất này là vô cùng khổng lồ.
Trên tầng trệt ngổn ngang của thành phố, chúng tôi may mắn tìm thấy một ngôi nhà được xây dựng vào thời kỳ rất muộn. Dù các bức tường đã bị hư hại ít nhiều bởi một khe nứt gần đó, nơi đây vẫn còn lưu giữ những bức điêu khắc mang đậm dấu ấn của một nền nghệ thuật đang trên đà suy tàn. Chúng phơi bày lịch sử của khu vực này, vượt xa tấm bản đồ thế Pliocene - thứ từng cho chúng tôi cái nhìn bao quát cuối cùng về thế giới tiền nhân loại. Đây cũng là nơi cuối cùng chúng tôi nán lại để xem xét tỉ mỉ, bởi lẽ những gì được khám phá tại đây đã buộc chúng tôi phải lập tức vạch ra một mục tiêu mới.
Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đang đứng ở một trong những góc khuất kỳ dị, quái đản và kinh hoàng nhất trên toàn bộ địa cầu. So với tất cả những vùng đất hiện hữu, nơi này còn cổ xưa hơn gấp vạn lần. Niềm tin ngày càng lớn dần trong tâm trí chúng tôi rằng: vùng cao nguyên gớm ghiếc này hẳn phải là cao nguyên Leng đầy ác mộng trong truyền thuyết, nơi mà ngay cả gã tác giả điên loạn của cuốn Necronomicon cũng thường ngần ngại mỗi khi nhắc tới.
Dãy núi vĩ đại vươn mình với độ dài khủng khiếp. Bắt đầu như một dải đồi thấp ở Vùng đất Luitpold trên bờ Biển Weddell, nó gần như vắt ngang toàn bộ lục địa. Phần thực sự cao uốn lượn thành một vòng cung hùng vĩ từ khoảng Vĩ độ 82°, Kinh độ Đông 60° đến Vĩ độ 70°, Kinh độ Đông 115°. Vòng cung này có phần lõm hướng về phía khu trại của chúng tôi, còn đầu hướng ra biển thì nằm trong khu vực bờ biển băng giá kéo dài, nơi Wilkes và Mawson từng loáng thoáng nhìn thấy những ngọn đồi ở vòng cực nam.
Thế nhưng, tạo hóa dường như còn cất giấu những sự vĩ cuồng quái dị hơn thế nữa ở một khoảng cách gần đến mức gây bất an. Tôi từng khẳng định những đỉnh núi chúng tôi vượt qua còn cao hơn cả dãy Himalaya, song những bức điêu khắc tại đây lại buộc tôi phải thừa nhận rằng: chúng chưa phải là những ngọn núi cao nhất trái đất. Cái vinh dự nghiệt ngã ấy, không nghi ngờ gì nữa, được dành cho một thực thể mà một nửa số bức điêu khắc đã hoàn toàn ngần ngại ghi lại, trong khi nửa còn lại chỉ dám khắc họa với sự ghê tởm và nỗi khiếp sợ hằn rõ.
Dường như, có một phần của vùng đất cổ xưa này-phần đất đầu tiên từng nhô lên khỏi mặt nước sau khi trái đất hất văng mặt trăng và các Cổ Thần đáp xuống từ những vì sao-đã bị xa lánh vì mang trong mình một sự tà ác mơ hồ, không tên. Những thành phố được xây dựng ở đó đã sụp đổ quá sớm, và người ta phát hiện ra chúng đã bị bỏ hoang một cách đột ngột.
Rồi khi đợt uốn nếp vĩ đại đầu tiên của trái đất làm chấn động toàn bộ khu vực này trong Kỷ Comanche, một dãy đỉnh núi đáng sợ đã bất thần bắn vọt lên giữa những tiếng ầm ĩ và sự hỗn loạn kinh hoàng nhất. Và thế là, trái đất đã mang trên mình những ngọn núi cao nhất, khủng khiếp nhất.
Nếu tỷ lệ của các bức chạm khắc là chính xác, thì những thực thể đáng ghê tởm này hẳn phải cao hơn bốn mươi nghìn feet rất nhiều-khổng lồ vượt bậc so với cả những ngọn núi điên loạn gây chấn động mà chúng tôi từng băng qua. Theo những gì được phác họa, chúng kéo dài từ khoảng Vĩ độ 77°, Kinh độ Đông 70° đến Vĩ độ 70°, Kinh độ Đông 100°-cách thành phố chết chưa đầy ba trăm dặm. Đáng lẽ ra, chúng tôi đã có thể nhìn thấy những đỉnh núi đáng sợ của chúng ở phía tây mờ ảo, nếu không có màn sương mù mờ đục, lấp lánh ấy che khuất. Tương tự, đầu phía bắc của chúng hẳn cũng phải nhìn thấy được từ đường bờ biển dài của vòng cực nam tại Vùng đất Queen Mary.
Trong những tháng ngày suy tàn, một số Cổ Thần đã thực hiện những nghi thức cầu nguyện kỳ lạ hướng về những ngọn núi đó-nhưng tuyệt nhiên không một ai từng đến gần, hay dám phỏng đoán xem thứ gì đang ẩn náu ở phía bên kia. Chưa từng có con mắt người nào nhìn thấy chúng. Và khi đi sâu nghiên cứu những cảm xúc được truyền tải qua các bức chạm khắc, tôi đã cầu nguyện rằng: sẽ không bao giờ có bất kỳ ai phải nhìn thấy chúng.
Dọc theo bờ biển phía sau chúng-Vùng đất Queen Mary và Kaiser Wilhelm-có những ngọn đồi làm nhiệm vụ bảo vệ, và tôi tạ ơn Trời vì chưa một ai có thể đổ bộ và leo lên những ngọn đồi đó. Tôi không còn hoài nghi về những câu chuyện và nỗi sợ hãi cổ xưa như trước đây nữa. Giờ đây, tôi không còn dám cười nhạo ý niệm của nhà điêu khắc thời tiền nhân loại rằng: thi thoảng, tia chớp lại dừng lại đầy ẩn ý trên từng đỉnh núi chập chùng, và rằng một luồng sáng không thể giải thích được đã phát ra từ một trong những đỉnh nhọn khủng khiếp đó, chiếu sáng suốt cả đêm dài vùng cực. Có thể có một ý nghĩa rất thực và vô cùng quái dị trong những lời thì thầm cổ xưa của người Pnakotic về Kadath trong vùng Hoang mạc Lạnh lẽo1.
Thế nhưng, địa hình ở ngay gần đó cũng kỳ quái không kém, dẫu cho nó ít mang tiếng xấu vô hình hơn. Ngay sau khi thành phố được thiết lập, dãy núi vĩ đại đã trở thành nơi tọa lạc của các đền thờ chính. Rất nhiều bức chạm khắc cho thấy những tòa tháp kỳ cục, huyễn hoặc từng đâm toạc bầu trời, ngay tại nơi mà giờ đây chúng tôi chỉ còn thấy những khối lập phương và thành lũy bám vào nhau một cách gượng gạo.
Trải qua vô số thời đại, các hang động đã dần hình thành và được đẽo gọt thành những công trình phụ của các đền thờ. Khi những kỷ nguyên muộn hơn tiếp nối, nước ngầm đã âm thầm khoét rỗng tất cả các mạch đá vôi của khu vực. Kết quả là, những ngọn núi, vùng đồi thấp và vùng bình nguyên bên dưới chúng thực chất chỉ là một lớp vỏ bọc cho một mạng lưới các hang động và hành lang thông nhau. Vô số bức điêu khắc đồ họa đã kể về những cuộc thám hiểm sâu dưới lòng đất, và về sự kiện cuối cùng khi họ khám phá ra vùng biển không ánh mặt trời-một vùng biển chìm khuất trong màn đêm, tĩnh lặng ngay trong ruột trái đất.
Vực thẳm chìm sâu trong đêm đen vô tận này chắc chắn là vết tích bào mòn của con sông vĩ đại đổ xuống từ những rặng núi vô danh, kinh hoàng ở phương tây. Thuở xa xưa, con sông ấy đã uốn khúc quanh chân rặng núi của các Cổ Thần, nương theo đó đổ thẳng vào Ấn Độ Dương, băng qua dải đất nằm giữa Vùng đất Budd và Totten trên bờ biển Wilkes. Thời gian trôi đi, từng chút một, dòng nước âm thầm khoét sâu vào chân đồi đá vôi tại khúc quanh uốn lượn ấy. Đến cuối cùng, những luồng chảy xiết đã xuyên thủng lớp vỏ, chạm đến tầng hang động ngầm và hòa vào nhau để đục khoét nên một vực thẳm sâu thẳm hơn bên dưới.
Cuối cùng, toàn bộ khối lượng nước khổng lồ đổ ập vào ruột những ngọn đồi rỗng không, bỏ lại phần lòng sông cũ khô cạn hướng về phía đại dương. Phần lớn cấu trúc của thành phố hậu kỳ, thứ mà chúng tôi đang tận mắt chứng kiến đây, đã được dựng lên ngay trên chính lòng sông cạn khô ấy. Các Cổ Thần, thấu hiểu tận cùng sự biến thiên của tự nhiên và bằng khiếu thẩm mỹ luôn sắc sảo đến kinh ngạc, đã tạc nên những tháp môn công phu tuyệt mỹ trên các mũi đất thấp. Nơi đó đánh dấu điểm khởi đầu cho hành trình lao dốc của dòng sông vĩ đại, chìm khuất vào màn bóng tối vĩnh hằng.
Con sông này, từng được bắc qua bởi hàng chục cây cầu đá tráng lệ, rõ ràng chính là dòng chảy đã chết khô mà chúng tôi từng thấy qua máy bay khảo sát. Việc đối chiếu vị trí của nó trên các bức phù điêu khác nhau khắp thành phố đã giúp chúng tôi định hướng được không gian. Nó phơi bày cảnh quan qua từng thời kỳ lịch sử kéo dài hàng kỷ nguyên, phủ đầy bầu không khí chết chóc hàng niên kỷ của khu vực. Dựa vào đó, chúng tôi có thể phác thảo vội vã nhưng cực kỳ cẩn trọng một tấm bản đồ về các tụ điểm nổi bật-những quảng trường rộng lớn, các công trình trọng yếu và những thứ tương tự-làm kim chỉ nam cho các cuộc thám hiểm tiến sâu hơn vào lòng đất.
Chẳng bao lâu, chúng tôi đã có thể tái hiện lại trong tâm trí toàn bộ một siêu cấu trúc tuyệt mỹ và khổng lồ, hệt như cách nó từng tồn tại vào một triệu, mười triệu, hay thậm chí là năm mươi triệu năm về trước. Bởi lẽ, những bức phù điêu đã phô bày vô cùng chuẩn xác hình dáng của các tòa nhà, núi non, quảng trường, vùng ngoại vi, cùng toàn bộ cảnh quan thiên nhiên và thảm thực vật Kỷ Đệ Tam xanh tươi mơn mởn.
Nơi đây hẳn từng tỏa ra một vẻ đẹp diệu kỳ và huyễn hoặc. Đã có lúc chìm đắm trong suy tưởng về nó, tôi gần như quên bẵng đi cái cảm giác ngột ngạt, buốt giá và sặc mùi điềm gở. Sự đồ sộ, chết chóc, xa xôi, tuổi đời vượt khỏi giới hạn nhân loại cùng cái bóng tối lờ mờ lạnh lẽo của thành phố như đang siết chặt, đè bẹp lấy tâm hồn tôi.
Thế nhưng, dựa theo một số bức chạm khắc nhất định, chính những cư dân kiến tạo nên thành phố này cũng đã từng trải qua vòng kìm kẹp của nỗi kinh hoàng tột độ. Có một khung cảnh u ám cứ lặp đi lặp lại: các Cổ Thần được phác họa trong tư thế lùi bước đầy khiếp đảm trước một vật thể bí ẩn nào đó-thứ mà dường như đã bị cấm cản, không bao giờ được phép xuất hiện trong bất kỳ nét vẽ nào. Vật thể vô danh ấy được tìm thấy trên con sông lớn, dường như đã bị dòng nước cuốn trôi qua những khu rừng dương xỉ rậm rạp dây leo rủ bóng, bắt nguồn từ những rặng núi kinh hoàng chọc trời ở phía tây.
Phải đến khi đặt chân vào một ngôi nhà được xây cất muộn màng duy nhất với những bức điêu khắc mang đậm dấu ấn suy tàn, chúng tôi mới lần ra điềm báo về thảm họa mạt vận đã biến thành phố thành chốn hoang phế. Chắc chắn vẫn còn tồn tại nhiều tác phẩm điêu khắc cùng thời đại rải rác đâu đó, bất chấp sự suy kiệt về sức sống lẫn khát vọng kiến tạo trong một thời kỳ căng thẳng và đầy biến động. Quả thực, ngay sau đó, những bằng chứng xác đáng về sự tồn tại của các tác phẩm khác đã dần phơi bày trước mắt chúng tôi. Nhưng vào khoảnh khắc ấy, đây là bộ phù điêu đầu tiên và duy nhất mà chúng tôi trực tiếp chạm mặt.
Chúng tôi dự tính sẽ tiếp tục lùng sục xa hơn; nhưng như tôi đã nói, hoàn cảnh cấp bách trước mắt đã ép buộc chúng tôi phải chuyển hướng sang một mục tiêu khác. Mặc dù vậy, mọi thứ hẳn phải có một giới hạn-bởi lẽ một khi hy vọng bám trụ lâu dài tại nơi này trong tâm trí các Cổ Thần đã hoàn toàn lụi tàn, thì hoạt động chạm khắc trang trí trên các bức tường không thể nào không đi đến hồi kết thúc. Và đòn ập xuống cuối cùng, không gì khác, chính là sự giáng lâm của cơn đại hàn vĩ đại từng phong ấn phần lớn địa cầu. Nó chưa bao giờ chịu buông tha hai đầu cực mang số phận nghiệt ngã này-cái lạnh chết chóc mà ở nửa kia của thế giới, đã đặt dấu chấm hết cho những vùng đất huyền thoại Lomar và Hyperborea2.
Thật khó để ấn định chính xác bằng những con số cụ thể thời điểm khuynh hướng này bắt đầu nhen nhóm ở Nam Cực. Ngày nay, khoa học thường xác định mốc mở màn của các kỷ băng hà vào khoảng năm trăm nghìn năm trước, thế nhưng ở các vùng cực, tai họa tàn khốc đó hẳn phải khởi nguồn từ sớm hơn rất nhiều. Mọi ước tính định lượng đều ít nhiều mang tính phỏng đoán, nhưng khả năng cao là những bức phù điêu suy tàn kia đã được tạc ra cách đây chưa tới một triệu năm. Và sự diệt vong thực sự của thành phố kinh hoàng này hẳn đã hoàn tất từ rất lâu trước thời điểm bắt đầu quen thuộc của kỷ nguyên Pleistocen-năm trăm nghìn năm trước-nếu chiếu theo toàn bộ bề mặt của trái đất.
Trên những bức phù điêu ngày càng suy tàn và thô ráp, chúng tôi bắt đầu nhận thấy những dấu hiệu rõ rệt của một thế giới đang dần cằn cỗi. Thảm thực vật ở khắp nơi thưa thớt dần, và cuộc sống thôn dã của các Cổ Thần cũng theo đó mà thu hẹp lại. Những thiết bị sưởi ấm bắt đầu xuất hiện bên trong các công trình kiến trúc, trong khi những kẻ phải băng qua cái rét buốt giá của mùa đông được khắc họa trùm kín mít trong những lớp vải bảo vệ dày cộm. Đảo mắt qua một loạt các đồ trang trí hình ô van (cartouches)-nơi mà lối bố cục dải băng liên tục đã bị đứt đoạn trong những nét chạm trổ muộn màng này-chúng tôi chứng kiến một cuộc di cư ngày càng rầm rộ. Cả một giống loài hối hả tìm đường di tản đến những nơi ẩn náu gần nhất còn sót lại chút hơi ấm-một số di chuyển về những thành phố dưới đáy đại dương nơi bờ biển xa xôi, trong khi số khác men theo những mạng lưới hang động đá vôi tối tăm, lần mò sâu xuống những ngọn đồi rỗng tuếch, để rồi tiến vào vực thẳm đen ngòm của vùng biển ngầm bí ẩn dưới lòng đất.
Và rồi, chính cái vực thẳm lân cận rợn ngợp ấy lại trở thành chốn dung thân chính của bọn chúng. Dường như sự thiêng liêng từ ngàn xưa của vùng đất này đóng vai trò lôi kéo, nhưng quyết định cuối cùng hẳn được thúc đẩy bởi sự thực dụng lạnh lẽo: vực thẳm cho phép chúng tiếp tục lui tới các đền thờ vĩ đại trên những ngọn núi tổ ong gớm ghiếc, đồng thời giữ lại đại đô thị rộng lớn trên mặt đất làm nơi cư trú vào mùa hè và trạm trung chuyển để kết nối với các khu mỏ rải rác.
Để duy trì hiệu quả mối liên kết giữa tàn tích cũ và tổ ấm mới, lũ sinh vật ấy đã tiến hành phân cấp và cải thiện dọc theo các tuyến đường nối kết bằng một kỹ thuật vô cùng tinh vi, bao gồm việc bền bỉ đục đẽo vô số đường hầm đâm xuyên thẳng từ đại đô thị cổ đại xuống cái vực sâu đen ngòm kia-những miệng hầm dốc thẳng xuống vực sâu mà chúng tôi đã cẩn thận, dẫu có e ngại, chấm lại từng vị trí trên tấm bản đồ hướng dẫn sơ bộ của mình, dựa vào những ước tính thận trọng nhất có thể.
Đáng sợ thay, rõ ràng là có ít nhất hai trong số những hầm ngầm địa ngục ấy nằm ngay trong cự ly thám hiểm hợp lý so với nơi chúng tôi đang đứng-cả hai đều há miệng ở rìa thành phố hướng về phía núi, một cái cách lòng sông cổ chưa tới một phần tư dặm, và cái còn lại cách đó có lẽ xa gấp đôi nằm ở hướng đối diện.
Dù vực thẳm ngầm này, có vẻ như, thi thoảng lộ ra những bãi bồi nông bằng đất khô ở vài nơi nhất định, các Cổ Thần vẫn kiên quyết dựng lên thành phố mới của chúng chìm sâu dưới mặt nước-không nghi ngờ gì là để bấu víu lấy sự bảo đảm chắc chắn hơn của dòng nhiệt độ ấm áp đồng đều. Vùng biển ẩn giấu tối tăm ấy sâu thẳm đến mức, hơi nóng bên trong lõi trái đất cũng đủ để nuôi dưỡng sự sống ở đó trong một khoảng thời gian dài vô hạn.
Những sinh vật này dường như không mảy may gặp khó khăn gì khi thích nghi với cuộc sống cư trú bán thời gian-và cuối cùng, tất nhiên là toàn thời gian-dưới nước, bởi lẽ chúng chưa bao giờ để cho hệ thống mang của mình bị thoái hóa hay teo đi.
Vô số bức chạm khắc ám ảnh đã phơi bày sự thật rằng, chúng vẫn luôn thường xuyên lặn lội đến thăm viếng những đồng loại dưới đáy biển ở nơi khác, và đã quen với việc tắm mình dưới những đáy sâu của con sông lớn. Bóng tối dày đặc vĩnh cửu của cõi hạ giới tương tự cũng chẳng thể là rào cản đối với một chủng tộc đã sinh trưởng và quen thuộc với những đêm vùng cực kéo dài bất tận.
Tuy phong cách điêu khắc của chúng không nghi ngờ gì nữa là đã suy tàn đến thảm hại, nhưng những bức phù điêu cuối cùng này vẫn toát lên một phẩm chất sử thi chân thực rợn ngợp khi tái hiện lại quá trình kiến tạo thành phố mới dưới biển hang động. Các Cổ Thần đã tiến hành công việc đó một cách khoa học-khai thác những khối đá không hòa tan khổng lồ từ trung tâm của các ngọn núi tổ ong, và điều động những công nhân lão luyện nhất từ thành phố dưới biển gần đó để thực thi công trình kiến trúc bằng những phương pháp tối ưu nhất.
Những công nhân khổng lồ ấy mang theo tất cả những gì cần thiết để thiết lập khu định cư mới-những mô cơ thể của loài Shoggoth để từ đó lai tạo nên những sinh vật nâng đá, thứ sau này trở thành những con thú thồ hàng vạm vỡ cho thành phố hang động, và mang theo cả những khối vật chất nguyên sinh mềm dẻo khác, chuẩn bị nhào nặn thành các sinh vật phát quang kỳ lạ dùng để chiếu sáng cái bóng tối vĩnh cửu dưới đáy sâu.
Cuối cùng, một đô thị hùng vĩ cũng vươn lên dưới đáy vùng biển Stygian3 tăm tối kia. Cấu trúc của nó gợi nhớ mạnh mẽ đến thành phố ngự trên mặt đất, và kỹ nghệ xây dựng cũng chưa bộc lộ quá nhiều dấu hiệu suy tàn, chủ yếu nhờ vào tính chuẩn xác về mặt toán học đã ăn sâu vào cốt lõi của mọi công trình kiến trúc nơi đây.
Thế hệ Shoggoth mới lai tạo đã phát triển đến một kích thước khổng lồ cùng trí thông minh dị biệt. Những bức phù điêu khắc họa cảnh chúng tiếp nhận và thực thi mệnh lệnh với một tốc độ diệu kỳ. Dường như lũ quái vật giao tiếp với các Cổ Thần bằng cách bắt chước giọng nói của họ-một kiểu âm thanh rền rĩ như tiếng sáo trải dài trên một âm vực rộng, giả sử kết quả giải phẫu của anh bạn Lake đáng thương là chính xác-và giờ đây chúng làm việc chủ yếu dựa trên khẩu lệnh thay vì chịu sự điều khiển bằng ám thị thôi miên như ở các kỷ nguyên trước.
Mặc dù vậy, lũ sinh vật này vẫn bị kiềm tỏa dưới một sự kiểm soát đáng nể. Hàng loạt sinh vật phát quang cung cấp ánh sáng cực kỳ hiệu quả, chắc chắn đã lấp đầy khoảng trống khi những vầng cực quang Nam Cực quen thuộc của màn đêm thế giới bên ngoài biến mất.
Nghệ thuật và trang trí vẫn được duy trì, dẫu cho, hiển nhiên, đã có những biểu hiện suy tàn nhất định. Bản thân các Cổ Thần dường như cũng ý thức được sự tụt dốc này. Trong nhiều trường hợp, chúng đã đi trước cả chính sách của Constantine Đại đế4 khi tiến hành di dời những khối điêu khắc cổ đại đặc biệt tinh xảo từ thành phố trên mặt đất xuống dưới, hệt như vị hoàng đế nọ. Trong một thời kỳ suy thoái tương tự, ông đã tước đoạt những tuyệt tác nghệ thuật của Hy Lạp và Châu Á để khoác lên thủ đô Byzantine mới một vẻ huy hoàng vĩ đại hơn mức thần dân của ông có thể tự tay tạo ra. Việc vận chuyển các khối điêu khắc này không diễn ra trên quy mô lớn hơn, hẳn là bởi thực tế lúc bấy giờ thành phố trên bộ vẫn chưa hoàn toàn bị bỏ hoang.
Khi cuộc di tản toàn diện thực sự diễn ra-và biến cố này chắc chắn phải xảy ra trước khi kỷ nguyên Pleistocen vùng cực tiến triển xa-có lẽ các Cổ Thần đã trở nên tự mãn với nền nghệ thuật đương thời đang trên đà lụi tàn của họ, hoặc đã không còn khả năng nhận thức được giá trị vượt trội từ những bức chạm khắc cổ xưa. Dù với bất kỳ lý do nào, những tàn tích đã im lìm ngủ vùi suốt hàng kỷ nguyên quanh chúng tôi chắc chắn đã không phải gánh chịu một cuộc cướp phá điêu khắc hàng loạt nào, dù cho toàn bộ những bức tượng rời rạc tinh xảo nhất, cũng như vô số vật dụng có thể di dời khác, đều đã bị mang đi.
Những món đồ trang trí cùng các tấm ốp chân tường mang dấu ấn suy tàn thuật lại câu chuyện này, như tôi đã từng đề cập, chính là những kỷ vật muộn màng nhất mà chúng tôi khai quật được trong cuộc tìm kiếm vô cùng eo hẹp của mình. Chúng vẽ nên trong tâm trí chúng tôi một bức tranh về những Cổ Thần liên tục qua lại như con thoi giữa thành phố mặt đất vào mùa hè và thành phố hang động dưới đáy biển vào mùa đông, thậm chí đôi khi còn giao thương với những đô thị ngập dưới đáy đại dương ngoài khơi bờ biển Nam Cực.
Đến thời điểm này, số phận tàn lụi không thể đảo ngược của thành phố trên bộ hẳn đã được định đoạt, bởi các bức phù điêu đã phơi bày vô số dấu hiệu về những cuộc xâm thực hiểm độc của cái lạnh. Thảm thực vật đang ngày một héo mòn, và những lớp tuyết khủng khiếp của mùa đông đã không còn tan chảy hoàn toàn ngay cả khi giữa mùa hè.
Bầy gia súc bò sát gần như đã chết sạch, và những loài động vật có vú cũng chẳng thể chống chọi khá hơn là bao. Nhằm duy trì công việc ở thế giới bên trên, việc điều chỉnh một số loài Shoggoth vô định hình cùng khả năng chịu lạnh kỳ lạ của chúng để thích nghi với cuộc sống trên cạn đã trở thành một đòi hỏi bức thiết-một nước cờ mà các Cổ Thần trước đây từng vô cùng miễn cưỡng khi thực hiện. Con sông lớn giờ đây đã vắng bóng sự sống, và vùng biển phía trên cũng mất đi hầu hết cư dân của nó, ngoại trừ lũ hải cẩu và cá voi. Tất cả các loài chim đều đã vỗ cánh bay đi, chỉ chừa lại những con chim cánh cụt to lớn và kỳ cục.
Những gì đã xảy ra sau đó, chúng tôi chỉ có thể lờ mờ suy đoán. Thành phố hang động dưới biển mới kia đã bám trụ được bao lâu? Liệu nó vẫn còn tồn tại ở dưới đó, như một cái xác bằng đá chìm nghỉm trong bóng tối vĩnh hằng? Có phải cuối cùng mạch nước ngầm cũng đã đóng băng? Những thành phố dưới đáy đại dương của thế giới bên ngoài đã bị phó mặc cho số phận nghiệt ngã nào? Có bất kỳ Cổ Thần nào kịp tháo chạy về phương bắc trước khi chỏm băng chết chóc kia trườn tới không? Cổ sinh vật học hiện đại chưa từng hé lộ bất kỳ dấu vết nào về sự hiện diện của chúng. Phải chăng loài Mi-Go khủng khiếp vẫn là một mối đe dọa túc trực ở thế giới đất liền bên ngoài của phương bắc? Liệu có ai dám chắc về những gì có thể hoặc không thể đang lẩn khuất, cho đến tận ngày nay, trong những vực thẳm không một tia sáng và chưa từng được dò tới của vùng nước sâu thẳm nhất trên trái đất?
Những sinh vật đó dường như có khả năng chịu đựng bất kỳ áp lực nào-và những ngư dân đi biển thỉnh thoảng vẫn câu lên được những dị vật đầy bí hiểm. Và liệu giả thuyết về cá voi sát thủ đã thực sự lý giải được nguồn gốc của những vết sẹo man rợ và đầy bí ẩn trên mình những con hải cẩu Nam Cực mà Borchgrevingk từng lưu tâm tới vào một thế hệ trước hay không?
Những mẫu vật mà anh bạn Lake đáng thương tìm thấy không hề nằm trong những dự đoán này, bởi bối cảnh địa chất của chúng đã làm bằng chứng đanh thép rằng chúng từng tồn tại vào một thời điểm hẳn phải là rất xa xưa trong lịch sử của thành phố mặt đất. Dựa trên vị trí được khai quật, chắc chắn chúng không thể dưới ba mươi triệu năm tuổi, và chúng tôi chợt nhận ra rằng vào thời đại của chúng, thành phố hang động dưới đáy biển kia, và thực chất là cả bản thân cái hang động đó, vẫn chưa hề được sinh ra.
Chúng hẳn đã ghi tạc vào tâm trí một bối cảnh nguyên thủy hơn, với những thảm thực vật Kỷ Đệ Tam xanh tốt bủa vây khắp chốn, một thành phố trên bộ hãy còn son trẻ với những nền nghệ thuật nở rộ vây quanh, và một con sông lớn sục sôi cuồn cuộn chảy về phương bắc dọc theo chân của dãy núi hùng vĩ hướng tới một đại dương nhiệt đới xa xăm.
Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn không thể gạt bỏ những suy nghĩ ám ảnh về các mẫu vật này-đặc biệt là về tám mẫu vật nguyên vẹn đã mất tích khỏi khu trại bị tàn phá một cách man rợ của Lake. Rõ ràng có một điều gì đó hết sức bất thường bao trùm lên toàn bộ thảm kịch ấy-những thứ quái gở mà chúng tôi đã dốc sức hòng đổ vấy cho cơn điên loạn của một cá nhân nào đó-những nấm mồ rợn người-số lượng và cả bản chất của những vật dụng bị mất tích-Gedney-sức chịu đựng siêu phàm phi trần thế của những thực thể quái dị cổ xưa ấy, cùng với những sinh vật mang sức sống dai dẳng đến quái đản mà giờ đây các bức điêu khắc đã minh chứng rằng chủng tộc này từng sở hữu--Danforth và tôi đã tận mắt chứng kiến quá nhiều thứ trong suốt vài giờ qua, đến mức cả hai đều đã chuẩn bị tinh thần để tin vào, cũng như giữ im lặng về vô số những bí mật kinh hoàng và đến mức phi lý của thế giới tự nhiên sơ khai.

-
Một thành phố vĩ đại nhưng rùng rợn trong truyền thuyết Lovecraft, được cho là nơi ngự trị của các vị thần cổ đại, thường chìm trong sương mù vô định ở vùng cực hoặc trong Cõi Mộng. ↩
-
Trong hệ thống thần thoại của Lovecraft, đây là những lục địa cổ đại từng ngự trị ở phương Bắc, nơi tồn tại những nền văn minh rực rỡ trước khi bị kỷ băng hà chôn vùi vĩnh viễn. ↩
-
Bắt nguồn từ dòng sông Styx trong thần thoại Hy Lạp - con sông ranh giới phân chia trần gian và âm phủ. Tính từ này được dùng để miêu tả sự tăm tối, lạnh lẽo và chết chóc đặc trưng của cõi địa ngục. ↩
-
Hoàng đế La Mã (trị vì 306-337). Việc ông ra lệnh lấy đi nhiều tuyệt tác nghệ thuật cổ đại đem về trang hoàng cho thủ đô mới Constantinople (đế quốc Byzantine) được so sánh với hành động di dời các tác phẩm nghệ thuật của những Cổ Thần. ↩
CHAPTER VIII.
Naturally, Danforth and I studied with special interest and a peculiarly personal sense of awe everything pertaining to the immediate district in which we were. Of this local material there was naturally a vast abundance.
On the tangled ground level of the city we were lucky enough to find a house of very late date whose walls, though somewhat damaged by a neighboring rift, contained sculptures of decadent workmanship carrying the story of the region, much beyond the Pliocene map, whence we derived our last general glimpse of the prehuman world. This was the last place we examined in detail, since what we found there set upon us a fresh, immediate objective.
Certainly, we were in one of the strangest, weirdest, and most terrible of all the corners of earth's globe. Of all existing lands it was infinitely the most ancient. The conviction grew upon us that this hideous upland must indeed be the fabled nightmare plateau of Leng which even the mad author of the Necronomicon was reluctant to discuss.
The great mountain chain was tremendously long-starting as a low range at Luitpold Land on the coast of Weddell Sea and virtually crossing the entire continent. The really high part stretched in a mighty arc from about Latitude 82°, E. Longitude 60° to Latitude 70°, East Longitude 115°, with its concave side toward our camp and its seaward end in the region of that long, ice-locked coast whose hills were glimpsed by Wilkes and Mawson at the antarctic circle.
Yet even more monstrous exaggerations of nature seemed disturbingly close at hand. I have said that these peaks are higher than the Himalayas, but the sculptures forbid me to say that they are earth's highest. That grim honor is beyond doubt reserved for something which half the sculptures hesitated to record at all, whilst others approached it with obvious repugnance and trepidation.
It seems that there was one part of the ancient land-the first part that ever rose from the waters after the earth had flung off the moon and the Old Ones had seeped down from the stars-which had come to be shunned as vaguely and namelessly evil. Cities built there had crumbled before their time, and had been found suddenly deserted.
Then when the first great earth buckling had convulsed the region in the Comanchean Age, a frightful line of peaks had shot suddenly up amidst the most appalling din and chaos-and earth had received her loftiest and most terrible mountains.
If the scale of the carvings was correct, these abhorred things must have been much over forty thousand feet high-radically vaster than even the shocking mountains of madness we had crossed. They extended, it appeared, from about Latitude 77°, E. Longitude 70° to Latitude 70°, E. Longitude 100°-less than three hundred miles away from the dead city, so that we would have spied their dreaded summits in the dim western distance had it not been for that vague, opalescent haze. Their northern end must likewise be visible from the long antarctic circle coast line at Queen Mary Land.
Some of the Old Ones, in the decadent days, had made strange prayers to those mountains-but none ever went near them or dared to guess what lay beyond. No human eye had ever seen them, and as I studied the emotions conveyed in the carvings I prayed that none ever might.
There are protecting hills along the coast beyond them-Queen Mary and Kaiser Wilhelm Lands-and I thank Heaven no one has been able to land and climb those hills. I am not as sceptical about old tales and fears as I used to be, and I do not laugh now at the prehuman sculptor's notion that lightning paused meaningfully now and then at each of the brooding crests, and that an unexplained glow shone from one of those terrible pinnacles all through the long polar night. There may be a very real and very monstrous meaning in the old Pnakotic whispers about Kadath in the Cold Waste.
But the terrain close at hand was hardly less strange, even if less namelessly accursed. Soon after the founding of the city the great mountain range became the seat of the principal temples, and many carvings showed what grotesque and fantastic towers had pierced the sky where now we saw only the curiously clinging cubes and ramparts.
In the course of ages the caves had appeared, and had been shaped into adjuncts of the temples. With the advance of still later epochs all the limestone veins of the region were hollowed out by ground waters, so that the mountains, the foothills, and the plains below them were a veritable network of connected caverns and galleries. Many graphic sculptures told of explorations deep underground, and of the final discovery of the Stygian sunless sea that lurked at earth's bowels.
This vast nighted gulf had undoubtedly been worn by the great river which flowed down from the nameless and horrible westward mountains, and which had formerly turned at the base of the Old Ones' range and flowed beside that chain into the Indian Ocean between Budd and Totten Lands on Wilkes's coast line. Little by little it had eaten away the limestone hill base at its turning, till at last its sapping currents reached the caverns of the ground waters and joined with them in digging a deeper abyss.
Finally its whole bulk emptied into the hollow hills and left the old bed toward the ocean dry. Much of the later city as we now found it had been built over that former bed. The Old Ones, understanding what had happened, and exercising their always keen artistic sense, had carved into ornate pylons those headlands of the foothills where the great stream began its descent into eternal darkness.
This river, once crossed by scores of noble stone bridges, was plainly the one whose extinct course we had seen in our aëroplane survey. Its position in different carvings of the city helped us to orient ourselves to the scene as it had been at various stages of the region's age-long, æon-dead history, so that we were able to sketch a hasty but careful map of the salient features-squares, important buildings, and the like-for guidance in further explorations.
We could soon reconstruct in fancy the whole stupendous thing as it was a million or ten million or fifty million years ago, for the sculptures told us exactly what the buildings and mountains and squares and suburbs and landscape setting and luxuriant Tertiary vegetation had looked like.
It must have had a marvelous and mystic beauty, and as I thought of it I almost forgot the clammy sense of sinister oppression with which the city's inhuman age and massiveness and deadness and remoteness and glacial twilight had choked and weighed on my spirit.
Yet, according to certain carvings the denizens of that city had themselves known the clutch of oppressive terror; for there was a somber and recurrent type of scene in which the Old Ones were shown in the act of recoiling affrightedly from some object-never allowed to appear in the design-found in the great river and indicated as having been washed down through waving, vine-draped cycad forests from those horrible westward mountains.
It was only in the one late-built house with the decadent carvings that we obtained any foreshadowing of the final calamity leading to the city's desertion. Undoubtedly there must have been many sculptures of the same age elsewhere, even allowing for the slackened energies and aspirations of a stressful and uncertain period; indeed, very certain evidence of the existence of others came to us shortly afterward. But this was the first and only set we directly encountered.
We meant to look farther later on; but as I have said, immediate conditions dictated another present objective. There would, though, have been a limit-for after all hope of a long future occupancy of the place had perished among the Old Ones, there could not but have been a complete cessation of mural decoration. The ultimate blow, of course, was the coming of the great cold which once held most of the earth in thrall, and which has never departed from the ill-fated poles-the great cold that, at the world's other extremity, put an end to the fabled lands of Lomar and Hyperborea.
Just when this tendency began in the antarctic it would be hard to say in terms of exact years. Nowadays we set the beginning of the general glacial periods at a distance of about five hundred thousand years from the present, but at the poles the terrible scourge must have commenced much earlier. All quantitative estimates are partly guesswork, but it is quite likely that the decadent sculptures were made considerably less than a million years ago, and that the actual desertion of the city was complete long before the conventional opening of the Pleistocene-five hundred thousand years ago-as reckoned in terms of the earth's whole surface.
In the decadent sculptures there were signs of thinner vegetation everywhere, and of a decreased country life on the part of the Old Ones. Heating devices were shown in the houses, and winter travelers were represented as muffled in protective fabrics. Then we saw a series of cartouches-the continuous band arrangement being frequently interrupted in these late carvings-depicting a constantly growing migration to the nearest refuges of greater warmth-some fleeing to cities under the sea off the far-away coast, and some clambering down through networks of limestone caverns in the hollow hills to the neighboring black abyss of subterrane waters.
In the end, it seems to have been the neighboring abyss which received the greatest colonization. This was partly due, no doubt, to the traditional sacredness of this special region, but may have been more conclusively determined by the opportunities it gave for continuing the use of the great temples on the honeycombed mountains, and for retaining the vast land city as a place of summer residence and base of communication with various mines.
The linkage of old and new abodes was made more effective by means of several gradings and improvements along the connecting routes, including the chiseling of numerous direct tunnels from the ancient metropolis to the black abyss-sharply down-pointing tunnels whose mouths we carefully drew, according to our most thoughtful estimates, on the guide map we were compiling.
It was obvious that at least two of these tunnels lay within a reasonable exploring distance of where we were-both being on the mountainward edge of the city, one less than a quarter of a mile toward the ancient rivercourse, and the other perhaps twice that distance in the opposite direction.
The abyss, it seems, had shelving shores of dry land at certain places, but the Old Ones built their new city under water-no doubt because of its greater certainty of uniform warmth. The depth of the hidden sea appears to have been very great, so that the earth's internal heat could insure its habitability for an indefinite period.
The beings seem to have had no trouble in adapting themselves to part-time-and eventually, of course, whole-time-residence under water, since they had never allowed their gill systems to atrophy.
There were many sculptures which showed how they had always frequently visited their submarine kinsfolk elsewhere, and how they had habitually bathed on the deep bottom of their great river. The darkness of inner earth could likewise have been no deterrent to a race accustomed to long antarctic nights.
Decadent though their style undoubtedly was, these latest carvings had a truly epic quality where they told of the building of the new city in the cavern sea. The Old Ones had gone about it scientifically-quarrying insoluble rocks from the heart of the honeycombed mountains, and employing expert workers from the nearest submarine city to perform the construction according to the best methods.
These workers brought with them all that was necessary to establish the new venture-Shoggoth tissue from which to breed stone lifters and subsequent beasts of burden for the cavern city, and other protoplasmic matter to mold into phosphorescent organisms for lighting purposes.
At last a mighty metropolis rose on the bottom of that Stygian sea, its architecture much like that of the city above, and its workmanship displaying relatively little decadence because of the precise mathematical element inherent in building operations.
The newly bred Shoggoths grew to enormous size and singular intelligence, and were represented as taking and executing orders with marvelous quickness. They seemed to converse with the Old Ones by mimicking their voices-a sort of musical piping over a wide range, if poor Lake's dissection had indicated aright-and to work more from spoken commands than from hypnotic suggestions as in earlier times.
They were, however, kept in admirable control. The phosphorescent organisms supplied light with vast effectiveness, and doubtless atoned for the loss of the familiar polar auroras of the outer-world night.
Art and decoration were pursued, though, of course, with a certain decadence. The Old Ones seemed to realize this falling off themselves, and in many cases anticipated the policy of Constantine the Great by transplanting especially fine blocks of ancient carving from their land city, just as the emperor, in a similar age of decline, stripped Greece and Asia of their finest art to give his new Byzantine capital greater splendors than its own people could create. That the transfer of sculptured blocks had not been more extensive, was doubtless owing to the fact that the land city was not at first wholly abandoned.
By the time total abandonment did occur-and it surely must have occurred before the polar Pleistocene was far advanced-the Old Ones had perhaps become satisfied with their decadent art-or had ceased to recognize the superior merit of the older carvings. At any rate, the æon-silent ruins around us had certainly undergone no wholesale sculptural denudation, though all the best separate statues, like other movables, had been taken away.
The decadent cartouches and dados telling this story were, as I have said, the latest we could find in our limited search. They left us with a picture of the Old Ones shuttling back and forth betwixt the land city in summer and the sea-cavern city in winter, and sometimes trading with the sea-bottom cities off the antarctic coast.
By this time the ultimate doom of the land city must have been recognized, for the sculptures showed many signs of the cold's malign encroachments. Vegetation was declining, and the terrible snows of the winter no longer melted completely even in midsummer.
The saurian live stock were nearly all dead, and the mammals were standing it none too well. To keep on with the work of the upper world it had become necessary to adapt some of the amorphous and curiously cold-resistant Shoggoths to land life-a thing the Old Ones had formerly been reluctant to do. The great river was now lifeless, and the upper sea had lost most of its denizens except the seals and whales. All the birds had flown away, save only the great, grotesque penguins.
What had happened afterward we could only guess. How long had the new sea-cavern city survived? Was it still down there, a stony corpse in eternal blackness? Had the subterranean waters frozen at last? To what fate had the ocean-bottom cities of the outer world been delivered? Had any of the Old Ones shifted north ahead of the creeping ice cap? Existing geology shows no trace of their presence. Had the frightful Mi-Go been still a menace in the outer land world of the north? Could one be sure of what might or might not linger, even to this day, in the lightless and unplumbed abysses of earth's deepest water?
Those things had seemingly been able to withstand any amount of pressure-and men of the sea have fished up curious objects at times. And has the killer-whale theory really explained the savage and mysterious scars on antarctic seals noticed a generation ago by Borchgrevingk?
The specimens found by poor Lake did not enter into these guesses, for their geologic setting proved them to have lived at what must have been a very early date in the land city's history. They were, according to their location, certainly not less than thirty million years old, and we reflected that in their day the sea-cavern city, and indeed the cavern itself, had had no existence.
They would have remembered an older scene, with lush Tertiary vegetation everywhere, a younger land city of flourishing arts around them, and a great river sweeping northward along the base of the mighty mountains toward a far-away tropic ocean.
And yet we could not help thinking about these specimens-especially about the eight perfect ones that were missing from Lake's hideously ravaged camp. There was something abnormal about that whole business-the strange things we had tried so hard to lay to somebody's madness-those frightful graves-the amount and nature of the missing material-Gedney-the unearthly toughness of those archaic monstrosities, and the queer vital freaks the sculptures now showed the race to have--Danforth and I had seen a good deal in the last few hours, and were prepared to believe and keep silent about many appalling and incredible secrets of primal nature.
