CHƯƠNG III.
Tôi dám chắc sáng hôm ấy chẳng một ai trong đoàn có thể chợp mắt, hay chí ít là ngủ được một giấc tử tế. Sự phấn khích tột độ trước phát kiến của anh Lake cộng hưởng cùng cơn cuồng phong ngày một gầm gào bên ngoài đã đánh bạt mọi cơn buồn ngủ. Gió quất từng cơn kinh hoàng ngay tại khu trại của chúng tôi, khiến ai nấy đều không khỏi rùng mình khi nghĩ đến cảnh tượng ở nơi đóng quân của họ. Nơi anh Lake cắm trại nằm ngay dưới bóng sừng sững của những ngọn núi khổng lồ vô danh - vốn chính là đầu nguồn thai nghén và trút xuống những trận cuồng phong bạo liệt này.
Mười giờ sáng, McTighe tỉnh dậy. Anh vội vã đánh điện gọi anh Lake như kế hoạch đã định. Thế nhưng, một dạng nhiễu loạn điện từ khó hiểu nào đó chìm trong lớp không khí hỗn mang phía tây dường như đã cản trở mọi tín hiệu. Dẫu vậy, chúng tôi vẫn nối được liên lạc với tàu Arkham. Anh Douglas qua đường dây báo rằng bản thân anh cũng đang tuyệt vọng tìm mọi cách kết nối với anh Lake. Anh Douglas hoàn toàn không hay biết về trận bão, bởi vì khu vực eo biển McMurdo lúc này gió rất êm ả, đối nghịch hoàn toàn với cơn thịnh nộ dai dẳng không dứt ở chỗ chúng tôi.
Suốt cả một ngày dài đằng đẵng, chúng tôi chỉ biết ngồi chờ đợi, dỏng tai nghe ngóng trong sự bồn chồn lo âu. Điện đài liên tục réo gọi tên anh Lake, nhưng đáp trả chúng tôi chỉ là một sự im lặng bặt tăm. Khoảng giữa trưa, một luồng cuồng phong dị thường từ hướng tây ập tới. Nó càn quét vạn vật xung quanh, khiến tất thảy phải thấp thỏm lo âu cho số phận của khu trại. Phải đến hai giờ chiều, trận cuồng phong ấy mới dần suy yếu, chỉ còn lại vài đợt gió rít đứt quãng thưa thớt.
Sau ba giờ chiều, cơn bão đã lắng dịu trở lại. Cả đội càng cuống cuồng tìm cách liên lạc với anh Lake. Rõ ràng anh ấy đang nắm trong tay đến bốn chiếc máy bay, mỗi chiếc đều được trang bị bộ phát sóng ngắn thuộc hàng tân tiến nhất. Chúng tôi không tài nào tưởng tượng nổi một tai nạn thông thường lại có thể cùng lúc đánh sập toàn bộ hệ thống vô tuyến của anh. Sự im lặng chết chóc ấy vẫn cứ kéo dài. Cứ mỗi lần mường tượng đến sức tàn phá điên loạn của thiên nhiên ở nơi anh đóng trại, tâm trí chúng tôi lại tự động vẽ ra những viễn cảnh thê lương nhất.
Đến sáu giờ, nỗi lo âu trong chúng tôi càng lúc càng trở nên mãnh liệt và rõ rệt. Sau khi bàn bạc nhanh qua sóng vô tuyến với anh Douglas và anh Thorfinnssen, tôi quyết định phải lập tức hành động. Chiếc máy bay thứ năm mà chúng tôi cắm chốt lại ở trạm tiếp tế McMurdo Sound, do cậu Sherman cùng hai thủy thủ phụ trách, vẫn đang trong tình trạng hoàn hảo và sẵn sàng cất cánh bất cứ lúc nào. Giờ khắc khẩn cấp mà chúng tôi từng dè dặt dự báo cuối cùng cũng đã giáng xuống.
Tôi gọi điện đài cho cậu Sherman. Lệnh cho cậu mang máy bay cùng hai thủy thủ hội quân với tôi ở căn cứ phía nam càng nhanh càng tốt, bởi thời tiết lúc này đang vô cùng ủng hộ. Kế đó, cả đội chụm lại bàn phương án nhân sự. Quyết định cuối cùng: dốc toàn lực lượng. Chúng tôi mang theo cả xe kéo cùng bầy chó mà tôi đang trông coi. Dù tải trọng có đội lên mức khổng lồ, đó cũng chẳng phải trở ngại với một chiếc máy bay được thiết kế chuyên biệt để thồ máy móc hạng nặng. Thỉnh thoảng, tôi vẫn tuyệt vọng bấm máy gọi anh Lake, nhưng mọi nỗ lực đều rơi vào thinh không.
Bảy giờ ba mươi phút, cậu Sherman cùng hai thủy thủ Gunnarsson và Larsen cất cánh. Dọc đường bay, họ thỉnh thoảng báo về tình hình thuận lợi êm ả. Nửa đêm, họ đáp xuống căn cứ. Cả đội tức tốc tụ họp để vạch ra bước đi tiếp theo. Lao vào không phận Nam Cực với duy nhất một chiếc máy bay, không có lấy một trạm tiếp tế lót đường là một ván cược sinh tử. Nhưng chẳng một ai mảy may chùn bước trước điều hiển nhiên phải làm. Chúng tôi ngả lưng qua loa lúc hai giờ sáng sau khi đã chất lên khoang những vật dụng thiết yếu nhất. Bốn giờ, cả đội lại lồm cồm bò dậy để hối hả hoàn tất công đoạn đóng gói và khuân vác.
Bảy giờ mười lăm phút sáng ngày 25 tháng 1, dưới sự điều khiển của McTighe, chúng tôi đâm thẳng về hướng tây bắc. Phi hành đoàn gồm mười người, bảy con chó, một chiếc xe kéo, một đống nhiên liệu thực phẩm, cùng cơ man máy móc trong đó có cả bộ điện đài dự phòng. Bầu trời quang đãng, gió êm ru, nhiệt độ tương đối dễ chịu. Không có dấu hiệu nào báo trước bất kỳ khó khăn nào trên chặng đường tiến tới tọa độ mà anh Lake đã đánh dấu. Mối bận tâm thực sự của chúng tôi dồn cả vào điểm đến: chúng tôi sẽ tìm thấy - hay không tìm thấy - thứ gì ở cuối hành trình, bởi vì sự im lặng dai dẳng vẫn tiếp tục đáp trả mọi tín hiệu được gửi đến bấy lâu nay.
Từng biến cố trong chuyến bay kéo dài bốn tiếng rưỡi ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi bởi vị trí bước ngoặt của nó. Chính lúc ấy, ở tuổi năm mươi tư, tôi đã vĩnh viễn đánh mất sự bình yên và trạng thái cân bằng của một tâm trí vốn bám víu vào những ý niệm thông thường về thế giới tự nhiên cùng các quy luật của nó.
Kể từ khắc đó, mười người chúng tôi - đặc biệt là cậu sinh viên Danforth và tôi - đã bị đẩy vào một thế giới vây hãm bởi những nỗi kinh hoàng dị dạng, ám ảnh đến mức chẳng gì có thể tẩy xóa khỏi tâm can. Đó là những điều chúng tôi thà chôn chặt dưới đáy lòng chứ không đời nào muốn hé lộ cho nhân loại. Báo chí đã kịp đăng tải những bức điện tín chúng tôi gửi về từ không trung, thuật lại chặng bay liên tục không nghỉ, hai trận chiến sinh tử với bão táp xé toạc bầu trời. Những bản tin ấy cũng điểm qua khoảnh khắc chúng tôi thoáng thấy bề mặt đứt gãy nơi anh Lake đã đào một cái hố ngang đường ba ngày trước, và cả sự xuất hiện của những khối trụ tuyết kỳ quái từng được Amundsen và Byrd ghi nhận đã lăn theo chiều gió qua muôn dặm băng tuyết bao la.
Thế nhưng, khoảnh khắc ấy rồi cũng ập đến, khi những cảm xúc của chúng tôi vượt ngoài giới hạn của mọi ngôn từ mà giới truyền thông có thể thấu hiểu, buộc chúng tôi phải tự thiết lập một sự kiểm duyệt khắc nghiệt lên chính những phát ngôn của mình.
Thủy thủ Larsen là người đầu tiên phát hiện ra đường viền nhấp nhô của những chóp nón và đỉnh nhọn hoắt như nón phù thủy ở phía trước. Tiếng thét thất thanh của cậu ấy kéo cả đoàn lao đến các ô cửa sổ của khoang máy bay khổng lồ. Mặc cho tốc độ đang rất cao, hình thù của chúng lại hiện ra chậm chạp đến nghẹt thở; điều đó chứng tỏ chúng phải nằm cách xa một khoảng cách vô tận, và chỉ lọt vào tầm mắt nhờ một độ cao vĩ đại dị thường.
Từng chút một, chúng vươn lên đầy ám ảnh trên nền trời phía tây, phơi bày ra vô số những đỉnh núi đen ngòm, trơ trọi và hoang phế. Dưới ánh sáng đỏ quạch của bầu trời Nam Cực, nổi bật trên nền mây bụi băng óng ánh đến chói lóa, chúng toát ra một vẻ kỳ ảo đến lạ lùng.
Bao trùm lên toàn bộ cảnh tượng ấy là một dự cảm dai dẳng về một bí mật khổng lồ, một thứ mặc khải rùng rợn chực chờ. Cứ như thể những ngọn tháp đâm toạc ra từ ác mộng kia là những cột trụ của một cánh cổng kinh hoàng, dẫn lối vào những ranh giới cấm kỵ của cõi mộng, mở ra những vực thẳm phức hợp của thời gian, của không gian thẳm sâu, và của vô vàn chiều kích siêu việt. Tôi không thể gạt đi linh cảm rằng chúng là những thực thể tà ác tột độ - những ngọn núi của sự điên loạn, mà sườn dốc khuất lấp phía sau chúng đang đổ dốc xuống một vực thẳm nguyền rủa tận cùng nào đó.
Nền mây cuồn cuộn, nửa phát sáng trên bầu trời chứa đựng những ẩn ý không thể diễn tả bằng lời về một cõi siêu việt lờ mờ vượt xa mọi quy luật không gian trần thế. Chúng dội vào tâm trí tôi những lời nhắc nhở kinh hoàng về sự cô lập, hoang vu tột cùng và cái chết ngưng đọng suốt hằng sa số kỷ nguyên của thế giới phương nam xa lạ, chưa từng lưu dấu chân người này.
Chính cậu trẻ Danforth là người đầu tiên lôi kéo sự chú ý của chúng tôi về phía những đường nét đối xứng kỳ dị nhô lên nơi chân trời, ngay trên đỉnh ngọn núi cao nhất kia. Chúng mang hình dáng của vô vàn khối lập phương hoàn hảo đang bám dính vào nhau rạn nứt thành từng mảnh, hệt như những gì anh Lake từng mô tả trong điện báo. Hình ảnh ấy quả thực là minh chứng sống động cho những gì anh ví von: một phế tích đền đài nguyên thủy đẹp đẽ tựa cõi mộng, ẩn mình giữa màn mây mờ ảo trên những đỉnh núi Á Châu mà danh họa Roerich từng khắc họa một cách thật tài tình, kỳ bí.
Cả lục địa bí ẩn với vô vàn ngọn núi siêu thực này luôn toát ra một nét gì đó đậm chất Roerich đến ám ảnh. Tôi đã từng một lần cảm nhận được bầu không khí ấy vào tháng Mười, khi chúng tôi vừa chớm đặt chân đến Vùng đất Victoria, và giờ đây thứ cảm giác ấy lại một lần nữa ùa về. Kèm theo đó là một luồng ý thức đầy bất an về những điểm tương đồng với các truyền thuyết cổ xưa; vương quốc chết chóc này lại trùng khớp đến mức rợn người với cao nguyên Leng - vùng đất tà ác khét tiếng từng được ghi chép trong các thư tịch cấm kỵ thuở hồng hoang.
Giới thần thoại học từng mặc định cao nguyên Leng nằm đâu đó tại Trung Á, nhưng ký ức huyết thống của nhân loại - hay nói đúng hơn là của tổ tiên chúng ta - vốn dĩ sâu thẳm và xa xăm khôn cùng. Rất có thể, một vài cội nguồn truyền thuyết đã được kế thừa từ những cõi đất, những rặng núi và những đền đài kinh khiếp từng tồn tại trước cả khi châu Á thành hình, thậm chí trước cả sự hiện diện của thế giới loài người mà chúng ta hằng nhận thức.
Thậm chí, vài học giả thần bí táo bạo còn ngầm ám chỉ rằng những Mảnh Bản thảo Pnakotic1 vốn mang nguồn gốc từ tận kỷ tiền Pleistocen2; họ cho rằng những tín đồ sùng bái thực thể Tsathoggua3 thực chất cũng dị hợm và xa lạ với nhân loại chẳng kém gì chính bản thể của ngài.
Leng, dù có lẩn khuất ở bất kỳ xó xỉnh nào trong không gian hay thời gian, chắc chắn không bao giờ là nơi tôi muốn đặt chân đến hay dại dột bén mảng tới gần. Tôi cũng chẳng lấy làm mặn mà gì với ý tưởng phải tiếp cận một thế giới từng sản sinh ra lũ quái vật cổ đại đầy bí ẩn như những gì anh Lake đã nhắc đến. Ngay thời khắc ấy, tôi chợt thấy tiếc nuối vì đã lỡ đọc cuốn Necronomicon gớm ghiếc kia, hay vì đã trò chuyện quá nhiều với gã chuyên gia văn học dân gian Wilmarth, kẻ uyên bác đến mức khó chịu tại trường đại học.
Chính thứ tâm trạng ấy hẳn đã thổi bùng lên phản ứng mãnh liệt trong tôi trước ảo ảnh dị thường vừa bất thần đổ ập xuống từ tầng không rực rỡ, ngay khi chúng tôi đang áp sát rặng núi và dần nhận ra những nếp gấp nhấp nhô chồng chất lên nhau của các sườn đồi thoai thoải. Trong suốt mấy tuần qua, tôi đã từng chứng kiến hàng tá ảo ảnh vùng cực, đôi ba lần trong số đó cũng kỳ lạ và sống động một cách huyễn hoặc hệt như cảnh tượng lúc này; thế nhưng, ảo ảnh trước mắt lại mang đậm một phẩm chất u ám, xa lạ và nặc mùi đe dọa. Tôi run lên bần bật khi chiêm ngưỡng cái mê cung cuộn trào những bức tường thành, những tòa cổ tháp và những đỉnh chóp tuyệt mỹ đang lờ mờ hiện ra từ lớp hơi băng cuộn xiết trên đỉnh đầu.
Hiệu ứng thị giác ấy tạo nên hình ảnh của một siêu đô thị khổng lồ mang lối kiến trúc vô tiền khoáng hậu, nằm ngoài mọi biên giới tưởng tượng của nhân loại, nơi những khối đá đen ngòm khổng lồ đứng sừng sững như hiện thân cho sự đảo lộn quái đản của mọi quy luật hình học. Nơi đó ngổn ngang những hình nón cụt, khi thì xếp thành bậc thang, lúc lại mang rãnh khía, vươn lên trên là vô số thân trụ cao chót vót. Chỗ này chỗ kia, các thân trụ này phình to ra như hình củ hành, đội trên đỉnh là vô vàn lớp đĩa mỏng manh như vỏ sò. Lại có cả những cấu trúc kỳ dị nhô ra trông như chiếc bàn, gợi liên tưởng đến hàng đống phiến đá chữ nhật, đĩa tròn hay những ngôi sao năm cánh chồng chất lên nhau theo một trật tự quái gở.
Đan xen giữa chúng là những hình nón và kim tự tháp phức hợp, có cái đứng đơn độc, có cái lại ngự trị trên đỉnh các khối trụ, khối lập phương, hay trên chính những hình nón cụt và kim tự tháp đỉnh bằng khác. Thỉnh thoảng, lại có vài ngọn tháp sắc nhọn như kim mọc vút lên, kết thành từng cụm năm chóp đầy ma quái.
Toàn bộ hệ thống kiến trúc hỗn loạn ấy dường như được kết nối với nhau bởi những nhịp cầu hình ống, vắt vẻo đan chéo ở vô số độ cao đến chóng mặt. Quy mô ngầm hiểu của công trình vĩ đại này thực sự mang đến một cảm giác ngột ngạt và kinh hãi đến tột độ trước kích thước khổng lồ tuyệt đối của nó.
Nói chung, kiểu ảo ảnh này cũng không khác mấy so với những hình thái hoang dại mà người thợ săn cá voi Bắc Cực Scoresby4 từng quan sát và phác họa lại vào năm 1820. Nhưng ở thời điểm và địa điểm này, khi những đỉnh núi đen ngòm vô danh đang sừng sững vươn lên phía trước, khi tàn dư của phát kiến dị thường về một thế giới cổ xưa vẫn còn vương vấn trong tâm trí, và khi bức màn u ám của một thảm kịch kinh hoàng có thể đã giáng xuống phần lớn đội thám hiểm, tất thảy chúng tôi dường như đều đánh hơi thấy trong ảo ảnh đó một vết nhơ của ác ý rình rập và một điềm báo tà ác đến khôn cùng.
Tôi thở phào nhẹ nhõm khi ảo ảnh bắt đầu rạn nứt, dẫu cho trong quá trình tan vỡ ấy, vô vàn tháp pháo và khối chóp nón bước ra từ cơn ác mộng lại tiếp tục oằn mình thành những hình thù biến dạng, mang đến sự gớm ghiếc chớp nhoáng nhưng dữ dội gấp bội phần. Chỉ đến khi toàn bộ viễn cảnh ấy tan biến hoàn toàn thành ánh sáng lấp lánh cuộn trào, chúng tôi mới có thể cúi nhìn xuống mặt đất một lần nữa và chợt nhận ra điểm cuối của chặng hành trình đã ở ngay trước mắt.
Những rặng núi vô danh phía trước vươn cao đến chóng mặt, dựng đứng lên hệt như một bức thành lũy đáng sợ của lũ khổng lồ; những đường nét đối xứng kỳ dị của chúng hiển lộ sắc nét đến kinh ngạc ngay cả khi không cần dùng đến ống nhòm. Bấy giờ, chúng tôi đang là đà bay trên những sườn đồi thấp nhất, và đã lờ mờ phân biệt được giữa tuyết, băng cùng những mảng đất trơ trọi của cao nguyên là vài chấm đen li ti. Chúng tôi đinh ninh đó chính là khu trại và mũi khoan của anh Lake.
Những ngọn đồi lớn hơn nhô lên cách đó chừng năm sáu dặm, nối nhau tạo thành một dãy núi gần như tách biệt hẳn khỏi đường viền kinh hoàng của những đỉnh chóp cao hơn cả Himalaya ở mãi phía xa. Cuối cùng, Ropes - cậu sinh viên đang thay thế McTighe ở khoang lái - bắt đầu ghì cần điều khiển, cho mũi máy bay chúi xuống hướng về phía chấm đen bên trái, nơi có kích thước đồ sộ nhất và được cho là khu trại. Ngay khoảnh khắc cậu thao tác, McTighe cũng vừa kịp đánh đi thông điệp vô tuyến cuối cùng chưa qua kiểm duyệt mà thế giới này từng được nhận từ chuyến thám hiểm của chúng tôi.
Đương nhiên, công chúng hẳn đều đã được đọc những bản tin tóm tắt và không mấy thỏa mãn về phần còn lại trong chuyến hành trình Nam Cực của chúng tôi.
Chỉ vài giờ sau khi hạ cánh, chúng tôi đã đánh điện báo cáo một cách hết sức thận trọng về thảm kịch mà mình vừa khám phá, và miễn cưỡng phải thông báo về sự diệt vong của toàn bộ nhóm anh Lake do một cơn cuồng phong kinh hoàng quét qua vào ngày hôm trước, hoặc đêm trước đó. Đã có mười một thành viên được xác định là đã tử nạn, trong khi chàng thanh niên Gedney thì bặt vô âm tín.
May mắn thay, công chúng đã rộng lượng bỏ qua sự mơ hồ thiếu chi tiết trong các bản tin của chúng tôi khi thấu hiểu được cú sốc tàn khốc mà thảm kịch này hẳn đã giáng xuống cả đoàn. Họ hoàn toàn tin tưởng khi chúng tôi giải thích rằng chính sức tàn phá khủng khiếp của bão tuyết đã khiến việc vận chuyển mười một thi thể ra bên ngoài trở thành một nhiệm vụ bất khả thi.
Quả thực, tôi vẫn luôn tự an ủi mình rằng ngay cả trong những thời khắc tuyệt vọng, bối rối cùng cực và bị nỗi kinh hoàng bóp nghẹt cả tâm hồn, chúng tôi cũng hiếm khi đi chệch khỏi sự thật trong bất kỳ tình huống cụ thể nào. Tuy nhiên, tầng ý nghĩa khủng khiếp nhất lại nằm trọn trong những điều mà chúng tôi đã không dám hé môi; những bí mật tăm tối mà ngay lúc này đây, tôi cũng sẽ nguyện mang xuống mồ nếu không vì sứ mệnh phải cảnh báo những kẻ đi sau hãy tránh xa khỏi muôn vàn nỗi kinh hoàng không tên ấy.
Một sự thật hiển nhiên là cơn gió đã gây ra sự tàn phá thảm khốc. Thậm chí, nếu không có "thứ kia" xuất hiện, việc liệu có ai sống sót nổi qua thảm kịch này hay không vẫn là một câu hỏi đầy nghi hoặc. Trận bão, mang theo cơn cuồng nộ của vô vàn hạt băng bị cuốn đi điên loạn, chắc chắn đã vượt xa bất kỳ cơn thịnh nộ nào của thiên nhiên mà đoàn thám hiểm chúng tôi từng phải đối mặt.
Một hầm trú ẩn cho máy bay - dường như tất cả đã bị bỏ lại trong tình trạng quá đỗi mỏng manh và thiếu thốn - gần như bị nghiền nát; và giàn khoan ở mũi khoan phía xa đã bị rung lắc đến vỡ vụn thành từng mảnh.
Phần kim loại lộ ra của những chiếc máy bay nằm phơi mình trên mặt đất và hệ thống máy móc khoan lấp lánh như được đánh bóng. Hai trong số những chiếc lều nhỏ đã bị san phẳng bất chấp lớp tuyết dày đắp xung quanh. Bề mặt gỗ phơi mình trong bão tuyết bị rỗ lỗ chỗ, tróc sạch sơn, và mọi dấu vết trên tuyết đều bị xóa sạch, không còn một tì vết.
Sự thật là chúng tôi không tìm thấy bất kỳ mẫu vật sinh học cổ đại nào trong tình trạng nguyên vẹn để có thể mang toàn bộ ra ngoài. Chúng tôi chỉ thu thập được một số khoáng vật từ một đống đổ nát khổng lồ, bao gồm vài mảnh vỡ đá xà phòng màu lục nhạt mang hình tròn năm cánh kỳ dị cùng những hoa văn mờ nhạt từ các chấm gộp lại. Những hoa văn ấy đã gợi lên vô số những so sánh đầy hoang mang. Cùng với đó là một số mảnh xương hóa thạch, trong số đó có những mảnh vụn đặc trưng nhất của những mẫu vật đã bị tổn hại một cách dị thường.
Không một con chó nào sống sót. Hàng rào tuyết được dựng vội vã gần khu trại gần như đã bị phá hủy hoàn toàn. Gió có lẽ là thủ phạm, thế nhưng vết nứt lớn hơn nằm ở phía giáp ranh khu trại - vốn không phải là hướng đón gió - lại chỉ ra một cú nhảy vọt ra ngoài, hoặc một sự phá vỡ tuyệt vọng từ chính những con thú đang hoảng loạn tột độ.
Cả ba chiếc xe trượt tuyết đều không cánh mà bay, và chúng tôi cố gắng tự trấn an bằng lời giải thích rằng có lẽ cuồng phong đã cuốn chúng vào cõi hư vô. Mũi khoan cùng cỗ máy làm tan băng ở lỗ khoan đã hư hỏng quá nặng, không thể nào cứu vãn được nữa, vì vậy chúng tôi đã tận dụng luôn đống phế liệu ấy để bịt kín cánh cổng dẫn về cõi quá khứ đầy nhiễu loạn mà anh Lake đã dùng thuốc nổ mở ra.
Chúng tôi cũng bỏ lại khu trại hai chiếc máy bay bị rung lắc dữ dội nhất; bởi lẽ nhóm sống sót lúc này chỉ còn vỏn vẹn bốn phi công thực thụ - cậu Sherman, cậu Danforth, McTighe, và Ropes - mà cậu Danforth lại đang suy sụp thần kinh trầm trọng, không thể nào cầm lái. Chúng tôi đã mang theo tất cả sổ sách, thiết bị khoa học và những vật dụng lặt vặt khác có thể tìm thấy, dẫu phần lớn đã bị cuốn trôi một cách khó hiểu. Lều dự phòng và áo lông thú, một nửa thì mất tích, nửa còn lại cũng trong tình trạng rách nát thảm hại.
Mãi đến khoảng bốn giờ chiều, sau khi bay tìm kiếm trên diện rộng và buộc phải chấp nhận sự thật tàn nhẫn rằng Gedney đã chết, chúng tôi mới gửi một thông điệp cẩn trọng tới tàu Arkham để chuyển tiếp. Tôi cho rằng chúng tôi đã làm rất tốt trong việc giữ cho bức điện ấy bình tĩnh và trung lập hết mức có thể.
Sự kích động lớn nhất mà chúng tôi báo cáo chỉ xoay quanh bầy chó; sự bồn chồn hoảng loạn của chúng khi ở gần các mẫu vật sinh học vốn đã được lường trước qua lời kể của anh Lake tội nghiệp. Tôi tin là chúng tôi đã giấu kín việc lũ chó cũng thể hiện sự bất an y hệt khi đánh hơi xung quanh những phiến đá xà phòng màu lục nhạt kỳ quái và một vài vật thể khác giữa đống hỗn độn - những vật thể bao gồm các dụng cụ khoa học, máy bay, và máy móc ở cả khu trại lẫn lỗ khoan. Các bộ phận của chúng đã bị nới lỏng, bị dịch chuyển, hay bị tác động bởi những cơn gió hẳn phải mang trong mình một sự tò mò và tọc mạch đến mức rợn người.
Về mười bốn mẫu vật sinh học, sự mập mờ của chúng tôi có lẽ sẽ được thứ lỗi. Chúng tôi báo cáo rằng những mẫu vật duy nhất tìm thấy đều đã bị hư hỏng, nhưng phần còn lại của chúng đủ sức chứng minh những mô tả của anh Lake là hoàn toàn chính xác và vô cùng ấn tượng. Quả thực rất khó để tách bạch cảm xúc cá nhân khỏi vấn đề này - và chúng tôi đã không hề đả động đến số lượng hay nói chính xác cách thức mà chúng tôi tìm ra những thứ đó. Vào thời khắc ấy, tất cả đã thống nhất sẽ không truyền đi bất cứ điều gì có thể gợi lên sự điên loạn ở những người của anh Lake. Và chắc chắn, sẽ chẳng khác nào một sự điên rồ nếu tiết lộ việc tìm thấy sáu con quái vật không hoàn hảo, được chôn cất cẩn thận theo tư thế thẳng đứng trong những ngôi mộ tuyết sâu chín feet, dưới những nấm mồ hình ngôi sao năm cánh được đục lỗ. Những nhóm chấm đục trên ấy xếp theo mô hình giống hệt như trên những phiến đá xà phòng màu lục nhạt kỳ lạ được khai quật từ kỷ nguyên Mesozoic hoặc Tertiary5. Tám mẫu vật hoàn hảo mà anh Lake nhắc đến dường như đã bị cuốn bay không để lại dấu vết.
Chúng tôi ý thức sâu sắc về việc phải duy trì sự bình ổn trong tâm trí công chúng; do đó, vào ngày hôm sau, cậu Danforth và tôi đã giữ im lặng tuyệt đối về chuyến hành trình kinh hoàng vượt qua rặng núi. May mắn thay, chỉ một chiếc máy bay được lột bỏ mọi trọng lượng thừa thãi mới có hy vọng vút lên nổi độ cao ngút ngàn ấy, điều kiện khắc nghiệt này đã giới hạn chuyến trinh sát tử địa chỉ cho duy nhất hai người chúng tôi.
Lúc trở về vào khoảng một giờ sáng, cậu Danforth đã mấp mé bờ vực của sự suy sụp thần kinh, dù vẫn cố bám víu vào một vỏ bọc cứng cỏi đến đáng kinh ngạc. Tôi chẳng cần phải nhọc lòng thuyết phục để buộc cậu ấy thề sẽ giấu kín mọi bản phác thảo hay những vật thể kỳ dị nhét vội trong túi áo. Cậu ấy cam kết không hé răng nửa lời về bất cứ điều gì ngoài những chi tiết hai chúng tôi đã thống nhất, và giấu bặt các cuộn phim để tự tay tráng rửa sau này. Bằng cách đó, câu chuyện hiện tại này của tôi sẽ hoàn toàn xa lạ đối với Pabodie, McTighe, Ropes, cậu Sherman hay phần còn lại của đoàn thám hiểm, hệt như đối với phần còn lại của thế giới. Mà nói cho đúng thì - cậu Danforth còn khóa chặt miệng mình hơn cả tôi: bởi lẽ cậu ấy đã nhìn thấy, hay đinh ninh rằng mình đã nhìn thấy, một thực thể kinh hoàng mà cậu ấy sẽ vĩnh viễn mang theo xuống mồ, không bao giờ thốt ra dù chỉ với tôi.
Như công chúng đã biết, bản báo cáo của chúng tôi vẽ nên một chặng bay vượt dốc đầy gian truân - nó xác nhận phán đoán của anh Lake rằng những đỉnh núi hùng vĩ kia cấu thành từ lớp đá phiến cổ đại và những tầng địa chất nhăn nheo nguyên thủy vốn không hề biến đổi chí ít là từ giữa kỷ Comanche6. Chúng tôi ném vào đó vài lời bình phẩm nhạt nhẽo về sự đối xứng hình học của những khối lập phương hay các kiến trúc dạng thành lũy bám dính lấy nhau, phán đoán rằng các cửa hang chỉ là những kẽ nứt đá vôi bị hòa tan, và tung hỏa mù bằng giả thuyết rằng giới leo núi chuyên nghiệp có thể men theo các sườn dốc và đèo hẹp để chinh phục toàn bộ rặng núi. Chúng tôi cũng điểm xuyết thêm sự tồn tại của một siêu cao nguyên vô ngần rộng lớn nằm giấu mình ở sườn bên kia, một thế giới tĩnh lặng, cổ kính và bất biến hệt như những ngọn núi chở che nó - lơ lửng ở độ cao hai mươi nghìn feet, với những tảng đá dị dạng xuyên thủng lớp băng mỏng, cùng những triền đồi thoai thoải là đà lướt giữa bình nguyên bát ngát và các vách đá dựng đứng của những đỉnh cao chót vót.
Khối lượng dữ liệu học thuật này hoàn toàn xác thực về mọi mặt, và nó đủ sức xoa dịu những con người đang chờ đợi ở khu trại. Để khỏa lấp cho sự vắng mặt đằng đẵng mười sáu giờ đồng hồ - khoảng thời gian vượt xa lịch trình bay, hạ cánh, trinh sát và thu thập mẫu vật như đã thông báo - chúng tôi vịn cớ vào một luồng gió ngược dữ dội bất thường, và chỉ thuật lại một cách trung thực việc hạ cánh xuống những sườn đồi phía xa.
Thật may mắn làm sao, câu chuyện của chúng tôi nghe có vẻ đủ khô khan và nhàm chán, dập tắt mọi ý định bắt chước chuyến bay từ những người khác. Dù ai có cố nài nỉ thế nào đi nữa, tôi cũng sẽ dốc cạn sinh lực để can ngăn họ - và tôi không dám hình dung cậu Danforth sẽ phản ứng dữ dội ra sao.
Trong thời gian chúng tôi vắng mặt, Pabodie, cậu Sherman, Ropes, McTighe và Williamson đã lao lực không ngơi nghỉ, cố gắng hồi sinh hai chiếc máy bay tốt nhất của anh Lake, bất chấp tình trạng xáo trộn cơ học quái gở và hoàn toàn không thể lý giải nổi bên trong chúng.
Sáng hôm sau, chúng tôi quyết định dồn hết trang thiết bị lên các máy bay để rút chạy về căn cứ cũ càng nhanh càng tốt. Đó là một chặng đường vòng, nhưng là lối thoát duy nhất an toàn để hướng về McMurdo Sound; bởi một đường bay thẳng băng qua những dải đất hoàn toàn vô định của lục địa cằn cỗi đã chết từ vô lượng kiếp này sẽ chỉ rước lấy vô vàn những hiểm họa khôn lường khác.
Sự hao hụt lực lượng thê thảm cộng với việc máy khoan bị hủy hoại đã đập tan mọi cơ hội thám hiểm sâu hơn. Nhưng trên hết, chính những nỗi khiếp sợ và nghi ngờ vô danh đang gào thét bủa vây tâm trí - những ác mộng mà chúng tôi tuyệt đối chôn vùi - đã thôi thúc chúng tôi tháo chạy khỏi vùng đất phương Nam hoang tàn và ấp ủ cơn điên loạn này càng mau càng tốt.
Như công chúng đã biết, hành trình trốn chạy về với thế giới văn minh của chúng tôi đã kết thúc mà không phải hứng chịu thêm thảm kịch nào. Đến tối ngày hôm sau-ngày 27 tháng 1-toàn bộ phi đội đã tề tựu tại căn cứ cũ sau một chuyến bay tốc hành không mệt mỏi. Sang ngày 28, chúng tôi đặt chân đến McMurdo Sound qua hai chặng đường. Chỉ có một lần hạ cánh chớp nhoáng trên thềm băng vì trục trặc ở bánh lái, ngay giữa lúc cơn cuồng phong rít gào, sau khi chúng tôi vừa trốn thoát khỏi cao nguyên khổng lồ.
Năm ngày sau, hai con tàu Arkham và Miskatonic nhổ neo, mang theo toàn bộ thủy thủ đoàn cùng trang thiết bị lách qua lớp băng trôi đặc nghẹt để vươn ra Biển Ross. Nằm sừng sững ở phía tây, in hằn trên nền trời Nam Cực vần vũ bão táp là những ngọn núi mang vẻ chế nhạo của Vùng đất Victoria. Nơi ấy, tiếng thét gào của gió lộng bỗng hóa thành một khúc sáo ma quái, miên man ngân vang khắp chốn, xuyên thấu và đóng băng linh hồn tôi đến tận tâm can.
Chưa đầy nửa tháng sau, chúng tôi bỏ lại phía sau rặng núi băng cuối cùng của vùng cực tăm tối. Ơn Chúa, chúng tôi đã trốn thoát khỏi cái vương quốc bị nguyền rủa, vương quốc của những nỗi ám ảnh-nơi sự sống và cái chết, không gian và thời gian từng cấu kết thành những liên minh đen tối, báng bổ suốt những kỷ nguyên vô danh, kể từ cái thuở vật chất mới bắt đầu quằn quại và ngụp lặn trên lớp vỏ mỏng manh vừa nguội lạnh của hành tinh này.
Kể từ ngày trở về, tất cả chúng tôi đã dốc cạn sức lực để can ngăn những dự định thám hiểm Nam Cực, đồng thời chôn chặt những nghi ngờ và suy đoán kinh hoàng cho riêng mình bằng tinh thần đoàn kết và sự trung thành sắt đá. Ngay cả Danforth, dù có đang quằn quại trong cơn suy sụp tinh thần trầm trọng, cũng không hề nao núng hay lỡ lời tiết lộ nửa câu với các bác sĩ điều trị.
Quả thực, như tôi từng nhắc đến, có một thứ mà Danforth cho rằng chỉ một mình cậu nhìn thấy. Cậu nằng nặc giấu kín hình ảnh đó ngay cả với tôi, dù tôi tin việc giãi bày sẽ giúp ích rất nhiều cho tâm lý của cậu; nó có thể giải thích và xoa dịu bao nỗi hoảng loạn. Song, có lẽ thứ đó cũng chỉ là ảo giác, là di chứng từ cú sốc kinh hoàng trước đó. Đó là ấn tượng tôi chắp vá được qua những khoảnh khắc bốc đồng hiếm hoi, khi cậu thì thầm với tôi bằng những lời đứt đoạn-những lời mà cậu sẽ kịch liệt phủ nhận ngay khi chộp lại được chút nhận thức tỉnh táo.
Việc ngăn cản người khác dấn bước vào vùng đất trắng xóa, hoang lương tuyệt vĩ ở phương Nam là một nhiệm vụ vô cùng gian truân. Thậm chí, một vài hành động của chúng tôi lại vô tình phản tác dụng vì đã khơi dậy khát vọng tìm hiểu. Lẽ ra ngay từ đầu, chúng tôi phải thấu hiểu rằng sự hiếu kỳ của nhân loại là bất diệt; những thành tựu được công bố hoàn toàn đủ sức thôi thúc những kẻ đi sau lao về phía trước, tiếp nối cuộc rượt đuổi mù quáng vào những miền vô định chưa từng được biết đến trong mọi thời đại.
Những báo cáo của Lake về đám sinh vật quái dị đó đã kích thích sự tò mò của giới tự nhiên học và cổ sinh vật học đến tột đỉnh. Dẫu vậy, chúng tôi vẫn đủ tỉnh táo để giấu nhẹm đi những phần xác đứt lìa thu thập từ các mẫu vật chôn vùi trong băng đá, hay những bức ảnh chụp chúng ngay lúc vừa được khai quật. Chúng tôi cũng kìm nén không phơi bày những mảnh xương đầy vết xước xát và những phiến đá xà phòng màu lục nhạt mang vẻ quỷ dị gây bối rối. Trong khi đó, Danforth và tôi cẩn trọng cất giữ những bức ảnh và bản vẽ phác thảo trên siêu cao nguyên vượt ra bên kia rặng núi, cùng với những thứ nhàu nát mà chúng tôi từng vuốt phẳng, ngắm nhìn trong nỗi sợ hãi tột cùng, rồi nhét vội vào túi mang theo.
Nhưng giờ đây, khi đoàn thám hiểm Starkweather-Moore đang thành hình với sự chuẩn bị kỹ lưỡng vượt xa mọi nỗ lực của chúng tôi năm xưa-nếu không bị ngăn chặn, họ sẽ thọc sâu vào tận phần lõi trong cùng của Nam Cực, sẽ làm tan băng và khoan thẳng xuống lòng đất cho đến khi đánh thức một thứ mà chúng tôi biết rõ có thể sẽ đặt dấu chấm hết cho toàn bộ nhân loại. Chính vì vậy, rốt cuộc, tôi buộc phải phá vỡ mọi sự im lặng-thậm chí là hé lộ về thứ không tên, nỗi kinh hoàng tối hậu ngự trị bên kia những ngọn núi của sự điên loạn.

-
Pnakotic Manuscripts (hay Pnakotic Fragments), một cuốn sách ma thuật (grimoire) hư cấu do Lovecraft sáng tạo ra, được cho là tài liệu lâu đời nhất trong Vũ trụ Cthulhu, lưu giữ những tri thức cấm kỵ từ trước khi loài người xuất hiện. ↩
-
Thời kỳ địa chất trước thế Pleistocen (thế Cập Tân, bắt đầu khoảng 2,58 triệu năm trước). ↩
-
Một cựu thần (Great Old One) mang hình dáng quái dị lai giữa cóc, dơi và lười, do nhà văn Clark Ashton Smith sáng tạo và được Lovecraft vay mượn đưa vào hệ thống thần thoại chung (Cthulhu Mythos). ↩
-
William Scoresby (1789-1857), nhà thám hiểm, nhà khoa học và thợ săn cá voi người Anh. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu và vẽ lại các hiện tượng quang học, ảo ảnh kỳ lạ (như Fata Morgana) ở vùng Bắc Cực. ↩
-
Kỷ nguyên Mesozoic (Đại Trung Sinh, thời đại của khủng long) và Tertiary (Kỷ Đệ Tam, thời kỳ đầu của động vật có vú). Khoảng thời gian này kéo dài từ khoảng 252 triệu năm đến 2,6 triệu năm trước. ↩
-
Comanchean, một thuật ngữ địa chất cũ ở Bắc Mỹ, tương đương với kỷ Phấn Trắng Hạ (Lower Cretaceous, khoảng 145 đến 100 triệu năm trước). ↩
CHAPTER III.
None of us, I imagine, slept very heavily or continuously that morning. Both the excitement of Lake's discovery and the mounting fury of the wind were against such a thing. So savage was the blast even where we were, that we could not help wondering how much worse it was at Lake's camp, directly under the vast unknown peaks that bred and delivered it.
McTighe was awake at ten o'clock and tried to get Lake on the wireless, as agreed, but some electrical condition in the disturbed air to the westward seemed to prevent communication. We did, however, get the Arkham, and Douglas told me that he had likewise been vainly trying to reach Lake. He had not known about the wind, for very little was blowing at McMurdo Sound, despite its persistent rage where we were.
Throughout the day we all listened anxiously and tried to get Lake at intervals, but invariably without results. About noon a positive frenzy of wind stampeded out of the west, causing us to fear for the safety of our camp; but it eventually died down, with only a moderate relapse at two p.m.
After three o'clock it was very quiet, and we redoubled our efforts to get Lake. Reflecting that he had four planes, each provided with an excellent short-wave outfit, we could not imagine any ordinary accident capable of crippling all his wireless equipment at once. Nevertheless, the stony silence continued, and when we thought of the delirious force the wind must have had in his locality we could not help making the most direful conjectures.
By six o'clock our fears had become intense and definite, and after a wireless consultation with Douglas and Thorfinnssen I resolved to take steps toward investigation. The fifth aëroplane, which we had left at the McMurdo Sound supply cache with Sherman and two sailors, was in good shape and ready for instant use, and it seemed that the very emergency for which it had been saved was now upon us.
I got Sherman by wireless and ordered him to join me with the plane and the two sailors at the southern base as quickly as possible, the air conditions being apparently highly favorable. We then talked over the personnel of the coming investigation party, and decided that we would include all hands, together with the sledge and dogs which I had kept with me. Even so great a load would not be too much for one of the huge planes built to our special orders for heavy machinery transportation. At intervals I still tried to reach Lake with the wireless, but all to no purpose.
Sherman, with the sailors Gunnarsson and Larsen, took off at seven thirty; and reported a quiet flight from several points on the wing. They arrived at our base at midnight, and all hands at once discussed the next move. It was risky business sailing over the antarctic in a single aëroplane without any line of bases, but no one drew back from what seemed like the plainest necessity. We turned in at two o'clock for a brief rest after some preliminary loading of the plane, but were up again in four hours to finish the loading and packing.
At seven fifteen a.m., January 25th, we started northwestward under McTighe's pilotage with ten men, seven dogs, a sledge, a fuel and food supply, and other items including the plane's wireless outfit. The atmosphere was clear, fairly quiet, and relatively mild in temperature, and we anticipated very little trouble in reaching the latitude and longitude designated by Lake as the site of his camp. Our apprehensions were over what we might find, or fail to find, at the end of our journey, for silence continued to answer all calls dispatched to the camp.
Every incident of that four-and-a-half-hour flight is burned into my recollection because of its crucial position in my life. It marked my loss, at the age of fifty-four, of all that peace and balance which the normal mind possesses through its accustomed conception of external nature and nature's laws.
Thenceforward the ten of us-but the student Danforth and myself above all others-were to face a hideously amplified world of lurking horrors which nothing can erase from our emotions, and which we would refrain from sharing with mankind in general if we could. The newspapers have printed the bulletins we sent from the moving plane, telling of our nonstop course, our two battles with treacherous upper-air gales, our glimpse of the broken surface where Lake had sunk his mid-journey shaft three days before, and our sight of a group of those strange fluffy snow cylinders noted by Amundsen and Byrd as rolling in the wind across the endless leagues of frozen plateau.
There came a point, though, when our sensations could not be conveyed in any words the press would understand, and a later point when we had to adopt an actual rule of strict censorship.
The sailor Larsen was first to spy the jagged line of witchlike cones and pinnacles ahead, and his shouts sent every one to the windows of the great cabined plane. Despite our speed, they were very slow in gaining prominence; hence we knew that they must be infinitely far off, and visible only because of their abnormal height.
Little by little, however, they rose grimly into the western sky, allowing us to distinguish various bare, bleak, blackish summits, and to catch the curious sense of phantasy which they inspired as seen in the reddish antarctic light against the provocative background of iridescent ice-dust clouds.
In the whole spectacle there was a persistent, pervasive hint of stupendous secrecy and potential revelation. It was as if these stark, nightmare spires marked the pylons of a frightful gateway into forbidden spheres of dream, and complex gulfs of remote time, space, and ultradimensionality. I could not help feeling that they were evil things-mountains of madness whose farther slopes looked out over some accursed ultimate abyss.
That seething, half-luminous cloud background held ineffable suggestions of a vague, ethereal beyondness far more than terrestrially spatial, and gave appalling reminders of the utter remoteness, separateness, desolation, and æon-long death of this untrodden and unfathomed austral world.
It was young Danforth who drew our notice to the curious regularities of the higher mountain sky line-regularities like clinging fragments of perfect cubes, which Lake had mentioned in his messages, and which indeed justified his comparison with the dreamlike suggestions of primordial temple ruins, on cloudy Asian mountaintops so subtly and strangely painted by Roerich.
There was indeed something hauntingly Roerichlike about this whole unearthly continent of mountainous mystery. I had felt it in October when we first caught sight of Victoria Land, and I felt it afresh now. I felt, too, another wave of uneasy consciousness of archæan mythical resemblances, of how disturbingly this lethal realm corresponded to the evilly famed plateau of Leng in the primal writings.
Mythologists have placed Leng in Central Asia, but the racial memory of man-or of his predecessors-is long, and it may well be that certain tales have come down from lands and mountains and temples of horror earlier than Asia and earlier than any human world we know.
A few daring mystics have hinted at a pre-Pleistocene origin for the fragmentary Pnakotic Manuscripts, and have suggested that the devotees of Tsathoggua were as alien to mankind as Tsathoggua itself.
Leng, wherever in space or time it might brood, was not a region I would care to be in or near, nor did I relish the proximity of a world that had ever bred such ambiguous and archæan monstrosities as those Lake had just mentioned. At the moment I felt sorry that I had ever read the abhorred Necronomicon, or talked so much with that unpleasantly erudite folklorist Wilmarth at the university.
This mood undoubtedly served to aggravate my reaction to the bizarre mirage which burst upon us from the increasingly opalescent zenith as we drew near the mountains and began to make out the cumulative undulations of the foothills. I had seen dozens of polar mirages during the preceding weeks, some of them quite as uncanny and fantastically vivid as the present sample, but this one had a wholly novel and obscure quality of menacing symbolism, and I shuddered as the seething labyrinth of fabulous walls and towers and minarets loomed out of the troubled ice vapors above our heads.
The effect was that of a Cyclopean city of no architecture known to man or to human imagination, with vast aggregations of night-black masonry embodying monstrous perversions of geometrical laws. There were truncated cones, sometimes terraced or fluted, surmounted by tall cylindrical shafts here and there bulbously enlarged and often capped with tiers of thinnish scalloped disks, and strange, beetling, tablelike constructions suggesting piles of multitudinous rectangular slabs or circular plates or five-pointed stars with each one overlapping the one beneath.
There were composite cones and pyramids either alone or surmounting cylinders or cubes or flatter truncated cones and pyramids, and occasional needlelike spires in curious clusters of five.
All of these febrile structures seemed knit together by tubular bridges crossing from one to the other at various dizzy heights, and the implied scale of the whole was terrifying and oppressive in its sheer giganticism.
The general type of mirage was not unlike some of the wilder forms observed and drawn by the arctic whaler Scoresby in 1820, but at this time and place, with those dark, unknown mountain peaks soaring stupendously ahead, that anomalous elder-world discovery in our minds, and the pall of probable disaster enveloping the greater part of our expedition, we all seemed to find in it a taint of latent malignity and infinitely evil portent.
I was glad when the mirage began to break up, though in the process the various nightmare turrets and cones assumed distorted, temporary forms of even vaster hideousness. As the whole illusion dissolved to churning opalescence, we began to look earthward again, and saw that our journey's end was not far off.
The unknown mountains ahead rose dizzily up like a fearsome rampart of giants, their curious regularities showing with startling clearness even without a field glass. We were over the lowest foothills now, and could see amidst the snow, ice, and bare patches of their main plateau a couple of darkish spots which we took to be Lake's camp and boring.
The higher foothills shot up between five and six miles away, forming a range almost distinct from the terrifying line of more than Himalayan peaks beyond them. At length Ropes-the student who had relieved McTighe at the controls-began to head downward toward the left-hand dark spot whose size marked it as the camp. As he did so, McTighe sent out the last uncensored wireless message the world was to receive from our expedition.
Every one, of course, has read the brief and unsatisfying bulletins of the rest of our antarctic sojourn.
Some hours after our landing we sent a guarded report of the tragedy we found, and reluctantly announced the wiping out of the whole Lake party by the frightful wind of the preceding day, or of the night before that. There were eleven known dead, young Gedney was missing.
People pardoned our hazy lack of details through realization of the shock the sad event must have caused us, and believed us when we explained that the mangling action of the wind had rendered all eleven bodies unsuitable for transportation outside.
Indeed, I flatter myself that even in the midst of our distress, utter bewilderment, and soul-clutching horror, we scarcely went beyond the truth in any specific instance. The tremendous significance lies in what we dared not tell; what I would not tell now but for the need of warning others off from nameless terrors.
It is a fact that the wind had wrought dreadful havoc. Whether all could have lived through it, even without the other thing, is gravely open to doubt. The storm, with its fury of madly driven ice particles, must have been beyond anything our expedition had encountered before.
One aëroplane shelter-all, it seems, had been left in a far too flimsy and inadequate state-was nearly pulverized; and the derrick at the distant boring was entirely shaken to pieces.
The exposed metal of the grounded planes and drilling machinery was bruised into a high polish, and two of the small tents were flattened despite their snow banking. Wooden surfaces left out in the blast were pitted and denuded of paint, and all signs of tracks in the snow were completely obliterated.
It is also true that we found none of the archæan biological objects in a condition to take outside as a whole. We did gather some minerals from a vast, tumbled pile, including several of the greenish soapstone fragments whose odd five-pointed rounding and faint patterns of grouped dots caused so many doubtful comparisons, and some fossil bones, among which were the most typical of the curiously injured specimens.
None of the dogs survived, their hurriedly built snow inclosure near the camp being almost wholly destroyed. The wind may have done that, though the greater breakage, on the side next to the camp, which was not the windward one, suggests an outward leap or break of the frantic beasts themselves.
All three sledges were gone, and we have tried to explain that the wind may have blown them off into the unknown. The drill and ice-melting machinery at the boring were too badly damaged to warrant salvage, so we used them to choke up that subtly disturbing gateway to the past which Lake had blasted.
We likewise left at the camp the two most shaken up of the planes; since our surviving party had only four real pilots-Sherman, Danforth, McTighe, and Ropes-in all, with Danforth in a poor nervous shape to navigate. We brought back all the books, scientific equipment, and other incidentals we could find, though much was rather unaccountably blown away. Spare tents and furs were either missing or badly out of condition.
It was approximately four p.m., after wide plane cruising had forced us to give Gedney up for lost, that we sent our guarded message to the Arkham for relaying; and I think we did well to keep it as calm and noncommittal as we succeeded in doing.
The most we said about agitation concerned our dogs, whose frantic uneasiness near the biological specimens was to be expected from poor Lake's accounts. We did not mention, I think, their display of the same uneasiness when sniffing around the queer greenish soapstones and certain other objects in the disordered region-objects including scientific instruments, aëroplanes, and machinery, both at the camp and at the boring, whose parts had been loosened, moved, or otherwise tampered with by winds that must have harbored singular curiosity and investigativeness.
About the fourteen biological specimens we were pardonably indefinite. We said that the only ones we discovered were damaged, but that enough was left of them to prove Lake's description wholly and impressively accurate. It was hard work keeping our personal emotions out of this matter-and we did not mention numbers or say exactly how we had found those which we did find. We had by that time agreed not to transmit anything suggesting madness on the part of Lake's men, and it surely looked like madness to find six imperfect monstrosities carefully buried upright in nine-foot snow graves under five-pointed mounds punched over with groups of dots in patterns exactly like those on the queer greenish soapstones dug up from Mesozoic or Tertiary times. The eight perfect specimens mentioned by Lake seemed to have been completely blown away.
We were careful, too, about the public's general peace of mind; hence Danforth and I said little about that frightful trip over the mountains the next day. It was the fact that only a radically lightened plane could possibly cross a range of such height which mercifully limited that scouting tour to the two of us.
On our return at one a.m., Danforth was close to hysterics, but kept an admirably stiff upper lip. It took no persuasion to make him promise not to show our sketches and the other things we brought away in our pockets, not to say anything more to the others than what we had agreed to relay outside, and to hide our camera films for private development later on; so that part of my present story will be as new to Pabodie, McTighe, Ropes, Sherman, and the rest as it will be to that world in general. Indeed-Danforth is closer mouthed than I: for he saw, or thinks he saw, one thing he will not tell even me.
As all know, our report included a tale of a hard ascent-a confirmation of Lake's opinion that the great peaks are of archæan slate and other very primal crumpled strata unchanged since at least middle Comanchean time, a conventional comment on the regularity of the clinging cube and rampart formations, a decision that the cave mouths indicate dissolved calcareous veins, a conjecture that certain slopes and passes would permit of the scaling and crossing of the entire range by seasoned mountaineers, and a remark that the mysterious other side holds a lofty and immense superplateau as ancient and unchanging as the mountains themselves-twenty thousand feet in elevation, with grotesque rock formations protruding through a thin glacial layer and with low gradual foothills between the general plateau surface and the sheer precipices of the highest peaks.
This body of data is in every respect true so far as it goes, and it completely satisfied the men at the camp. We laid our absence of sixteen hours-a longer time than our announced flying, landing, reconnoitering, and rock-collecting program called for-to a long mythical spell of adverse wind conditions, and told truly of our landing on the farther foothills.
Fortunately our tale sounded realistic and prosaic enough not to tempt any of the others into emulating our flight. Had any tried to do that, I would have used every ounce of my persuasion to stop them-and I do not know what Danforth would have done.
While we were gone, Pabodie, Sherman, Ropes, McTighe, and Williamson had worked like beavers over Lake's two best planes, fitting them again for use, despite the altogether unaccountable juggling of their operative mechanism.
We decided to load all the planes the next morning and start back for our old base as soon as possible. Even though indirect, that was the safest way to work toward McMurdo Sound; for a straight-line flight across the most utterly unknown stretches of the æon-dead continent would involve many additional hazards.
Further exploration was hardly feasible in view of our tragic decimation and the ruin of our drilling machinery. The doubts and horrors around us-which we did not reveal-made us wish only to escape from this austral world of desolation and brooding madness as swiftly as we could.
As the public knows, our return to the world was accomplished without further disasters. All planes reached the old base on the evening of the next day-January 27th-after a swift nonstop flight; and on the 28th we made McMurdo Sound in two laps, the one pause being very brief, and occasioned by a faulty rudder, in the furious wind over the ice shelf after we had cleared the great plateau.
In five days more, the Arkham and Miskatonic, with all hands and equipment on board, were shaking clear of the thickening field ice and working up Ross Sea, with the mocking mountains of Victoria Land looming westward against a troubled antarctic sky and twisting the wind's wails into a wide-ranged musical piping which chilled my soul to the quick.
Less than a fortnight later we left the last hint of polar land behind us and thanked heaven that we were clear of a haunted, accursed realm where life and death, space and time, have made black and blasphemous alliances in the unknown epochs since matter first writhed and swam on the planet's scarce-cooled crust.
Since our return we have all constantly worked to discourage antarctic exploration, and have kept certain doubts and guesses to ourselves with splendid unity and faithfulness. Even young Danforth, with his nervous breakdown, has not flinched or babbled to his doctors.
Indeed, as I have said, there is one thing he thinks he alone saw which he will not tell even me, though I think it would help his psychological state if he would consent to do so. It might explain and relieve much, though perhaps the thing was no more than the delusive aftermath of an earlier shock. That is the impression I gather after those rare, irresponsible moments when he whispers disjointed things to me-things which he repudiates vehemently as soon as he gets a grip on himself again.
It will be hard work deterring others from the great white south, and some of our efforts may directly harm our cause by drawing inquiring notice. We might have known from the first that human curiosity is undying, and that the results we announced would be enough to spur others ahead on the same age-long pursuit of the unknown.
Lake's reports of those biological monstrosities had aroused naturalists and palæontologists to the highest pitch, though we were sensible enough not to show the detached parts we had taken from the actual buried specimens, or our photographs of those specimens as they were found. We also refrained from showing the more puzzling of the scarred bones and greenish soapstones; while Danforth and I have closely guarded the pictures we took or drew on the superplateau across the range, and the crumpled things we smoothed, studied in terror, and brought away in our pockets.
But now that Starkweather-Moore party is organizing, and with a thoroughness far beyond anything our outfit attempted-if not dissuaded, they will get to the innermost nucleus of the antarctic and melt and bore till they bring up that which we know may end the world. So I must break through all reticences at last-even about that ultimate, nameless thing beyond the mountains of madness.
