CHƯƠNG VII.
Toàn bộ câu chuyện này, theo những gì chúng tôi đã cố công giải mã, rồi cũng sẽ được công bố trong một bản tin chính thức của Đại học Miskatonic. Tại đây, tôi chỉ xin phác lại những điểm cốt lõi nhất qua một dòng hồi tưởng rời rạc, miên man. Dẫu có là huyền thoại hay không, những bức phù điêu kia đã kể lại sự xuất hiện của những sinh vật đầu hình sao xuống bề mặt Trái Đất nguyên sơ, cằn cỗi từ không gian vũ trụ sâu thẳm. Sự xuất hiện của chúng, cùng với vô vàn những thực thể ngoại lai khác, tựa như những bước chân tiên phong khai phá vũ trụ vào những cột mốc thời gian nhất định.
Chúng dường như sở hữu năng lực xuyên qua cõi ête giữa các vì sao bằng đôi cánh màng khổng lồ - một chi tiết xác nhận lại một cách kỳ dị thứ văn hóa dân gian miền sơn cước quái gở mà một đồng nghiệp đam mê cổ vật từng kể cho tôi nghe từ lâu. Suốt một thời gian dài, chúng cư ngụ dưới đáy đại dương, kiến tạo nên những đô thị kỳ ảo và lao vào những trận tử chiến kinh hoàng với những kẻ thù vô danh, sử dụng những cỗ máy tinh vi vận hành bằng các nguyên lý năng lượng vượt ngoài tầm hiểu biết.
Rõ ràng, nền tảng tri thức khoa học và cơ khí của chúng bỏ xa nhân loại ngày nay, dù rằng chúng chỉ viện đến những hình thái công nghệ phổ biến và phức tạp nhất khi tình thế thực sự bắt buộc.
Một vài bức điêu khắc ngụ ý rằng, trên các hành tinh khác, giống loài này đã từng trải qua một thời kỳ tiến hóa cơ giới hóa, nhưng rồi thoái trào khi nhận ra máy móc không thể thỏa mãn những nhu cầu cảm xúc của chúng. Chính cấu trúc cơ thể bền bỉ phi thường cùng những nhu cầu sinh tồn tối giản đã ban cho chúng khả năng đặc biệt để tồn tại ở một đẳng cấp thượng thừa. Chúng chẳng cần đến những thành tựu chế tác nhân tạo chuyên biệt, thậm chí chẳng cần khoác lên mình lớp y phục nào, ngoại trừ đôi khi để che chắn trước sự khắc nghiệt của thời tiết.
Và chính tại nơi đáy biển sâu thẳm ấy, thoạt tiên là vì mục đích duy trì nguồn thức ăn rồi sau đó là vì những mục đích khác, chúng đã gieo mầm sự sống đầu tiên trên trái đất - nhào nặn những vật chất có sẵn bằng những phương thức đã nắm vững từ lâu.
Những thí nghiệm phức tạp hơn tiếp tục diễn ra sau khi chúng triệt hạ vô số kẻ thù vũ trụ. Cũng như từng làm trên các tinh cầu khác, chúng không chỉ lai tạo ra các nguồn lương thực thiết yếu, mà còn nhào nặn nên những khối chất nguyên sinh đa bào. Dưới tác động của thuật thôi miên, những khối chất lỏng lẻo này có khả năng biến đổi các mô cơ thể thành đủ mọi loại cơ quan tạm thời, từ đó định hình nên lớp nô lệ hoàn hảo, chuyên gánh vác mọi công việc nặng nhọc cho cả cộng đồng.
Những khối chất nhầy nhụa ấy, không còn nghi ngờ gì nữa, chính là những thực thể mà gã Abdul Alhazred từng thì thầm nhắc tới dưới cái tên "Shoggoth"1 trong cuốn Necronomicon khủng khiếp của hắn. Ấy thế mà, ngay cả gã học giả Ả Rập điên rồ đó cũng chưa từng dám mường tượng rằng có một giống loài như thế thực sự hiện diện trên trái đất, họa chăng chỉ là trong những cơn ác mộng của những kẻ đã lỡ nhai phải thứ thảo mộc chứa ancaloit2.
Một khi các Cổ Thần3 đầu hình sao tổng hợp thành công các dạng thức ăn đơn giản và nhân giống được một bầy Shoggoth khổng lồ, chúng bắt đầu để cho các nhóm tế bào khác tự do tiến hóa thành vô vàn dạng động thực vật nhằm phục vụ cho hàng loạt mục đích khác nhau. Đồng thời, chúng cũng thẳng tay tuyệt diệt bất cứ giống loài nào vô tình gây phiền toái.
Nhờ sức mạnh của các Shoggoth - những sinh vật có thể phình to cơ thể để nâng vác những khối trọng lượng khổng lồ - các thành phố thấp bé, chật hẹp dưới đáy biển dần vươn mình thành những mê cung đá kỳ vĩ và tráng lệ, chẳng mấy khác biệt so với những đô thị mọc lên trên cạn sau này. Quả thực, với khả năng thích nghi siêu việt, những Cổ Thần đã từng định cư rất nhiều trên phần đất liền ở những góc khuất khác của vũ trụ, và hẳn nhiên đã lưu giữ lại bao truyền thống kiến trúc trên cạn.
Khi nghiên cứu kiến trúc của tất cả những đô thị thời Cổ sinh4 được khắc họa lại này - bao gồm cả cái thành phố mà ngay lúc đó chúng tôi đang lang thang qua những hành lang đã chết từ hàng liên kỷ - chúng tôi bị ấn tượng bởi một sự trùng hợp kỳ lạ mà chẳng ai dám thốt lời giải thích, dù chỉ là với chính bản thân mình. Đỉnh của các tòa kiến trúc - thứ mà trong cái thành phố thực tại quanh chúng tôi đã bị thời gian bào mòn thành những tàn tích vô dạng từ bao kiếp trước - lại hiện lên sắc nét trên các bức phù điêu. Chúng phô bày những cụm tháp khổng lồ nhọn hoắt như kim, những chóp nhọn tinh xảo vươn lên từ các đỉnh nón và kim tự tháp, cùng với những tầng đĩa xếp lớp như vỏ sò mỏng manh đậy lên các trục hình trụ.
Đó chính xác là những gì chúng tôi đã chớp thấy trong cái ảo ảnh kỳ quái và nhuốm màu điềm báo, phản chiếu lên từ một thành phố đã chết - nơi mà những đường chân trời phồn hoa như thế đã biến mất hàng ngàn, hàng vạn năm nay. Nó đã hiện lù lù trước đôi mắt ngây thơ của chúng tôi, xuyên qua những rặng núi điên rồ chưa từng được in dấu chân người, vào đúng cái ngày chúng tôi lần đầu tiên đặt chân đến khu trại xấu số của anh bạn Lake tội nghiệp.
Về cuộc đời của các Cổ Thần, cả thuở còn ngụp lặn dưới đại dương sâu thẳm lẫn khi một nhánh trong số chúng trồi lên bờ, hẳn người ta có thể viết thành hàng pho sách. Những cá thể lưu lại nơi vùng nước nông vẫn tận dụng tối đa những con mắt nằm ở đầu năm xúc tu chính, và duy trì nghệ thuật điêu khắc, viết lách theo một phương thức khá tuần tự - chúng dùng một chiếc bút trâm sắc nhọn để khắc chữ lên những bề mặt sáp chống thấm.
Trong khi đó, những thực thể ẩn mình nơi đáy biển sâu - dù đã sử dụng một giống loài phát quang quái dị để thắp sáng bóng tối - lại tự bổ khuyết cho thị giác của mình bằng những giác quan đặc biệt, có phần khó hiểu. Giác quan này vận hành thông qua các tiêm mao hình lăng trụ trên đỉnh đầu, giúp toàn bộ giống loài Cổ Thần phần nào vượt ra khỏi sự phụ thuộc vào ánh sáng trong những tình huống nguy cấp. Càng chìm sâu xuống đáy đại dương, các hình thức điêu khắc và viết lách của chúng càng biến đổi một cách dị thường. Chúng áp dụng một quy trình phủ bề mặt nào đó - dường như bằng hóa chất, có lẽ để duy trì sự phát quang - mà những bức phù điêu chúng tôi tìm thấy không làm rõ được cho chúng tôi.
Loài sinh vật này di chuyển dưới đại dương một phần nhờ bơi lội - chúng dùng những cánh tay mang hình thù huệ biển ở hai bên hông - và phần khác nhờ việc luồn lách bằng tầng xúc tu thấp hơn chứa đầy chân giả. Đôi khi, chúng còn thực hiện những cú lướt dài nhờ sự trợ lực của hai hay nhiều bộ cánh có thể xếp nếp, trông hệt như những chiếc quạt.
Khi ở trên cạn, chúng lê bước ở những cự ly gần bằng đám chân giả. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng vẫn vút bay lên những tầm cao đáng kinh ngạc, hoặc vượt qua những khoảng cách xa xăm bằng đôi cánh quái dị. Vô số những xúc tu thon dài tủa ra từ các cánh tay huệ biển, linh hoạt và tinh xảo lạ thường. Nhờ sự phối hợp cơ - thần kinh mạnh mẽ và chuẩn xác tuyệt đối, chúng đạt đến độ khéo léo tối thượng trong mọi hoạt động nghệ thuật cũng như thủ công.
Sức sống mãnh liệt của chúng đạt đến một mức độ khó tin. Dường như ngay cả áp suất kinh hồn nơi đáy biển sâu thẳm nhất cũng hoàn toàn bất lực trong việc nghiền nát chúng. Rất hiếm khi có cá thể nào bỏ mạng, ngoại trừ những trường hợp tử vong do bạo lực, thế nên những khu mộ táng của chúng cực kỳ thưa thớt. Việc chúng đắp lên những thi thể bị chôn đứng các nấm mồ hình ngôi sao năm cánh có khắc ký tự đã khơi dậy những dòng suy tưởng ám ảnh trong tâm trí tôi và cậu Danforth. Khám phá từ những bức điêu khắc ấy khiến chúng tôi buộc phải tạm dừng một lần nữa, để cố gắng định thần và lấy lại sức lực.

Sức sống mãnh liệt của chúng đạt đến một mức độ khó tin. Dường như ngay cả áp suất kinh hồn nơi đáy biển sâu thẳm nhất cũng hoàn toàn bất lực trong việc nghiền nát chúng!
Đúng như anh Lake đã từng hoài nghi, loài sinh vật này sinh sản bằng bào tử, hệt như những cây dương xỉ. Thế nhưng, chính nhờ sức sống dai dẳng và tuổi thọ kéo dài, cộng với việc không phải chịu áp lực thay thế nòi giống liên tục, chúng hoàn toàn không màng đến việc nhân rộng các nguyên tản5 mới ở quy mô lớn, trừ phi tìm thấy những vùng đất mới để sinh sôi.
Những cá thể non lớn lên với một tốc độ đáng kinh ngạc, và được thụ hưởng một nền giáo dục siêu việt, vượt xa bất kỳ chuẩn mực nào mà trí óc con người có thể tưởng tượng ra. Đời sống trí tuệ và thẩm mỹ của chúng đã tiến hóa đến đỉnh cao rực rỡ, kết tinh thành một hệ thống phong tục và định chế vô cùng vững chắc, những thứ mà tôi sẽ mô tả cặn kẽ hơn trong chuyên khảo sắp tới. Các tập tục này có thể biến thiên đôi chút tùy thuộc vào môi trường sống dưới nước hay trên cạn, nhưng vẫn luôn bám rễ trên những nền tảng và yếu tố cốt lõi không thể suy suyển.
Mặc dù sở hữu khả năng hấp thụ dưỡng chất từ các hợp chất vô cơ hệt như thực vật, chúng lại đặc biệt chuộng nguồn thức ăn hữu cơ, nhất là động vật. Chúng thường ăn sống trực tiếp các sinh vật nơi đáy biển, nhưng lại nấu chín thức ăn khi sống trên mặt đất. Chẳng những đi săn thú hoang, chúng còn biết chăn nuôi những bầy gia súc để lấy thịt. Chúng tiến hành mổ thịt bằng những món vũ khí vô cùng sắc bén - những lưỡi dao đã để lại các vết khía kỳ lạ trên một số mảnh xương hóa thạch, thứ mà đoàn thám hiểm của chúng tôi từng ghi nhận được.
Sức chịu đựng của chúng trước mọi mức nhiệt độ thông thường thực sự đáng kinh ngạc, và trong trạng thái tự nhiên, chúng hoàn toàn có thể sinh tồn dưới làn nước buốt giá đến mức đóng băng. Dẫu vậy, khi kỷ băng hà Pleistocen6 tràn tới cách đây chừng một triệu năm, mang theo đợt giá lạnh lớn, những cư dân trên cạn đã buộc phải dùng đến các biện pháp đặc thù, kể cả việc sưởi ấm nhân tạo - cho đến khi, cuối cùng, đợt lạnh giá ấy dường như đã đẩy chúng quay trở về với lòng đại dương sâu thẳm.
Liên quan đến những chuyến du hành không gian thời tiền sử, truyền thuyết xa xưa kể lại rằng, chúng từng hấp thụ những hợp chất đặc biệt để đạt đến trạng thái gần như hoàn toàn độc lập với các nhu cầu sinh tồn cơ bản như ăn uống, hít thở hay sự thay đổi của nhiệt độ - nhưng vào thời điểm đợt giá rét lớn ập đến, chúng dường như đã đánh mất phương pháp bí truyền ấy. Song, xét cho cùng, chúng cũng chẳng thể duy trì thứ trạng thái nhân tạo đó mãi mãi mà không gánh chịu những tổn hại khôn lường.
Là giống loài sinh sản vô tính mang cấu tạo bán thực vật, các Cổ Thần thiếu hẳn nền tảng sinh học cho cấu trúc gia đình đặc trưng của động vật có vú, nhưng dường như chúng vẫn biết cách tổ chức nên những hộ quần cư khổng lồ dựa trên các nguyên tắc về không gian, sự tiện lợi, và - như chúng tôi suy luận từ những hình ảnh phác họa nghề nghiệp cùng thú tiêu khiển của các thành viên sống chung - cả sự đồng điệu về mặt tinh thần.
Về cách bài trí nội thất, chúng thường tập trung mọi thứ vào chính giữa những căn phòng thênh thang, chừa lại toàn bộ phần tường trống trải cho các tác phẩm chạm trổ trang trí. Đối với những cư dân trên mặt đất, công việc thắp sáng có lẽ được vận hành bởi một thiết bị mang bản chất điện - hóa học.
Dù ở trên cạn hay dưới nước, chúng đều sử dụng những chiếc bàn, ghế dựa và ghế kỷ có hình thù quái gở trông tựa như các bộ khung hình trụ - nguyên do là vì chúng nghỉ ngơi và ngủ trong tư thế đứng, với hàng loạt xúc tu cuộn gập xuống - cùng với những chiếc giá đỡ khổng lồ dành cho các bề mặt điểm xuyết lỗ chấm, được nối ghép với nhau bằng bản lề để tạo nên những cuốn sách của chúng.
Hệ thống chính quyền của chúng rõ ràng vô cùng phức tạp và có lẽ mang hơi hướm xã hội chủ nghĩa, dù rằng những bức điêu khắc chúng tôi chiêm ngưỡng chẳng thể cung cấp thêm bất cứ manh mối nào chắc chắn hơn. Một mạng lưới thương mại rộng lớn đã từng tồn tại, cả ở phạm vi cục bộ lẫn giữa các đô thị với nhau - sử dụng những đồng phỉnh nhỏ bé, dẹt, hình ngôi sao năm cánh có khắc chữ làm tiền tệ. Rất có thể những khối đá xà phòng màu lục với kích cỡ to nhỏ khác nhau mà đoàn thám hiểm tìm thấy chính là những đồng tiền thuộc loại này.
Tuy nền văn hóa ấy mang đậm tính đô thị, song ngành nông nghiệp và đặc biệt là chăn nuôi vẫn được duy trì. Hoạt động khai mỏ và một nền sản xuất quy mô nhỏ cũng xuất hiện. Việc đi lại diễn ra tấp nập, nhưng những cuộc thiên di vĩnh viễn lại khá hiếm hoi, ngoại trừ các đợt di dân ồ ạt nhằm mục đích khai hoang lập ấp, nhờ đó mà chủng tộc này mới mở rộng quy mô dân số.
Đối với việc di chuyển cá nhân, chúng chẳng cần nhờ cậy tới bất kỳ phương tiện ngoại lai nào; bởi lẽ dù trên cạn, trên không hay dưới nước, các Cổ Thần dường như đều sở hữu thứ tốc độ kinh hoàng bẩm sinh. Tuy vậy, hàng hóa nặng nề vẫn phải do các loài vật thồ kéo - lũ Shoggoth cày ải dưới đáy biển, cùng vô số những sinh vật có xương sống nguyên thủy mang hình thù kỳ dị trong những kỷ nguyên chúng bắt đầu sinh sống trên cạn.
Những loài động vật có xương sống ấy, cũng như vô vàn các hình thái sự sống khác - cả động vật lẫn thực vật, quần tụ nơi đại dương, trên đất liền hay vút bay giữa không trung - đều là sản phẩm từ một quá trình tiến hóa vô định, bắt nguồn từ những tế bào sống do chính các Cổ Thần cấy nặn nhưng rồi vuột khỏi tầm kiểm soát của chúng. Lũ sinh vật này được mặc sức sinh sôi nảy nở, cốt bởi chúng chẳng mảy may gây xung đột với những kẻ thống trị tối cao. Lẽ dĩ nhiên, bất cứ mầm mống nào gây phiền toái đều bị chúng loại bỏ một cách máy móc và có hệ thống.
Thật thú vị khi chúng tôi nhận ra trong vài bức điêu khắc thuộc giai đoạn cuối cùng, mang đậm vẻ suy đồi, có khắc họa hình ảnh một sinh vật có xương sống nguyên thủy, dáng vẻ lạch bạch. Chủng loài này đôi khi bị đem làm thức ăn, khi lại bị lũ cư dân trên cạn lôi ra làm trò hề tiêu khiển. Ở chúng, ta có thể nhận thấy rõ mồn một những đường nét lờ mờ báo trước hình hài của các loài linh trưởng và con người sau này. Trong quá trình kiến tạo các đô thị trên đất liền, những khối đá khổng lồ để dựng nên vô số tòa tháp chọc trời thường được nhấc bổng bởi những con thằn lằn sấm có cánh khổng lồ - một chủng loài mà giới cổ sinh vật học chưa từng biết tới.
Việc các Cổ Thần dai dẳng sống sót qua vô vàn biến thiên địa chất và những cơn chấn động kinh thiên động địa của vỏ trái đất quả thực giống như một phép màu quái gở. Dẫu hiếm có, hoặc chẳng còn bất kỳ đô thị sơ khai nào của chúng trụ vững qua Kỷ Thái Cổ, nhưng nền văn minh ấy chưa bao giờ đứt đoạn, và những ghi chép của chúng vẫn được lưu truyền nguyên vẹn.
Nơi đầu tiên chúng đặt chân xuống hành tinh này chính là Nam Băng Dương, và nhiều khả năng là chỉ một thời gian ngắn sau khi khối vật chất cấu tạo nên mặt trăng bị xé toạc khỏi vùng Nam Thái Bình Dương lân cận. Theo một tấm bản đồ điêu khắc, toàn bộ địa cầu thuở ấy còn chìm sâu dưới màn nước, với những đô thị bằng đá nằm rải rác, ngày càng vươn xa khỏi vùng nam cực khi các liên kỷ lặng lẽ trôi qua.
Một tấm bản đồ khác lại phác họa một khối bình nguyên khô cằn khổng lồ bao quanh nam cực, nơi một số sinh vật rõ ràng đã tiến hành những bước thử nghiệm định cư, mặc cho các trung tâm quyền lực chính vẫn được dời đến những vùng đáy biển lân cận.
Những tấm bản đồ sau này lại vẽ cảnh khối đất liền ấy nứt toác và trôi dạt, đẩy một số mảng vỡ lên phía bắc, qua đó củng cố một cách đáng kinh ngạc cho những lý thuyết về trôi dạt lục địa mà Taylor, Wegener và Joly7 mới đề xướng gần đây.
Với sự trồi lên của những vùng đất mới ở Nam Thái Bình Dương, những biến cố kinh hoàng bắt đầu giáng xuống. Một số đô thị dưới biển bị nghiền nát không thương tiếc, song đó vẫn chưa phải là thảm họa tồi tệ nhất. Một chủng tộc khác - những sinh vật trên cạn mang hình hài giống loài bạch tuộc, và có lẽ chính là nguyên mẫu của mầm mống tiền nhân loại thần thoại mang tên Cthulhu - đã từ cõi hư vô của vũ trụ dần dần đáp xuống. Chúng châm ngòi cho một cuộc chiến tranh quái dị, có thời điểm đã dồn ép toàn bộ Cổ Thần phải rút lui về lại biển sâu - một đòn giáng chí tử nếu xét đến sự phát triển hưng thịnh của các khu định cư trên đất liền lúc bấy giờ.
Về sau, nền hòa bình được vãn hồi. Những vùng đất mới được cắt nhượng cho mầm mống Cthulhu, trong khi các Cổ Thần tiếp tục cai quản đại dương cùng những lục địa già cỗi. Các đô thị trên cạn mới được dựng lên - mà vĩ đại nhất trong số đó tọa lạc ở nam cực, bởi chính nơi đầu tiên chúng đặt chân xuống này luôn được coi là vùng đất thánh.
Từ đó trở đi, cũng giống như thuở trước, nam cực vẫn luôn là trái tim của nền văn minh Cổ Thần, còn toàn bộ những thành trì do mầm mống Cthulhu xây dựng tại nơi đây đều bị xóa sổ không còn một dấu vết.
Thế rồi, đột ngột thay, những vùng đất thuộc Thái Bình Dương lại chìm nghỉm xuống đáy sâu, kéo theo cả thành phố đá R'lyeh đầy hắc ám cùng toàn bộ bầy bạch tuộc vũ trụ kia. Các Cổ Thần một lần nữa vươn lên trở thành thế lực độc tôn trên toàn hành tinh, ngoại trừ một nỗi kinh hoàng vô danh ẩn khuất trong bóng tối mà chúng không bao giờ dám nhắc tên.
Vào một kỷ nguyên khá muộn màng sau này, những đô thị của chúng đã rải rác khắp mọi vùng đất liền và mặt nước trên địa cầu. Chính vì thế, trong bài chuyên khảo sắp tới, tôi sẽ kiến nghị rằng một nhà khảo cổ học nào đó nên tiến hành các cuộc khoan thăm dò có hệ thống bằng loại thiết bị của giáo sư Pabodie tại một số khu vực cách xa nhau.
Xu thế tất yếu và ổn định xuyên suốt các thời đại là cuộc di cư từ nước lên bờ. Sự trồi lên của vô số khối lục địa mới đã thúc đẩy phong trào này, dẫu đại dương chưa bao giờ bị bỏ hoang hoàn toàn. Một nguyên nhân khác cho cuộc chuyển dịch hướng về đất liền chính là những rắc rối mới nảy sinh trong việc chăn nuôi và kiểm soát đám Shoggoth - lũ sinh vật từng là chìa khóa sống còn cho một nền văn minh phồn thịnh dưới đáy biển.
Theo bước đi của thời gian, có một sự thật mà những bức điêu khắc dường như cũng phải ngậm ngùi thú nhận: nghệ thuật kiến tạo sự sống từ vật chất vô cơ đã hoàn toàn thất truyền. Giờ đây, các Cổ Thần đành phải chật vật uốn nắn những dạng sống đã có sẵn. Trên cạn, những loài bò sát khổng lồ tỏ ra ngoan ngoãn và dễ thuần hóa. Thế nhưng, bọn Shoggoth dưới biển sâu lại là một câu chuyện khác. Việc chúng tự sinh sản bằng cách phân đôi, và nguy hiểm hơn cả là vô tình thu nhận một mức độ trí thông minh nhất định, đã đặt ra một bài toán vô cùng nan giải trong suốt một thời gian dài.
Trước đây, các Cổ Thần luôn thao túng chúng bằng thuật ám thị thôi miên, uốn nắn màng nhầy dẻo dai của chúng thành đủ loại chi và cơ quan tạm thời để phục vụ công việc. Nhưng giờ đây, khả năng tự tạo hình ấy đôi lúc lại tự hoạt động một cách độc lập! Chúng mô phỏng lại những hình hài từng được cấy vào tiềm thức từ vô số lần ám thị trong quá khứ. Dường như lũ sinh vật nhớp nháp này đã phát triển một dạng não bộ bán ổn định, nơi một ý chí độc lập, và lắm khi vô cùng cứng đầu, đang âm thầm phản kháng lại mệnh lệnh của các Cổ Thần mà không còn nhất nhất tuân theo.
Chỉ riêng những hình ảnh điêu khắc về đám Shoggoth này cũng đủ khiến tôi và cậu Danforth tràn ngập trong nỗi kinh hoàng và ghê tởm. Bản chất chúng là những khối thực thể vô định hình, được cấu tạo từ thứ thạch nhầy nhụa gớm ghiếc, trông như một đám bong bóng dính nhớp nháp vón cục lại với nhau. Khi ở dạng hình cầu, mỗi con có đường kính trung bình khoảng mười lăm feet. Tuy nhiên, hình dạng và thể tích của chúng lại liên tục biến đổi không ngừng - chúng có thể bất thần phóng ra những khối u thịt tạm thời, hay tự hình thành các cơ quan thị giác, thính giác và cả cơ quan phát âm để bắt chước chủ nhân, có thể là một cách tự phát hoặc do bị ám thị.
Đỉnh điểm của sự bất trị dường như rơi vào khoảng giữa Kỷ Permi, tức là chừng một trăm năm mươi triệu năm trước. Một cuộc chiến tranh thực sự nhằm tái khuất phục lũ sinh vật này đã được các Cổ Thần dưới đại dương phát động. Xuyên qua vực thẳm của những thời đại không kể xiết, những hình ảnh chạm khắc về cuộc huyết chiến ấy, cùng với cách thức tàn sát rợn người của lũ Shoggoth - để lại những cái xác không đầu, phủ đầy chất nhờn tởm lợm - vẫn còn giữ nguyên một chất đáng sợ đến kỳ lạ.
Các Cổ Thần đành phải viện đến những món vũ khí kỳ lạ có khả năng phá vỡ cấu trúc phân tử để chống lại bầy lũ nổi loạn. Cuối cùng, một chiến thắng hoàn toàn cũng được thiết lập. Những bức điêu khắc sau đó họa lại một thời kỳ mà lũ Shoggoth đã bị các Cổ Thần nai nịt vũ trang thuần hóa và chế ngự thành công, hệt như cái cách những gã cao bồi viễn tây nước Mỹ khuất phục những con ngựa hoang bất kham.
Mặc dù trong suốt cuộc nổi loạn, lũ Shoggoth đã chứng tỏ khả năng sinh tồn đáng sợ ngay cả khi rời khỏi mặt nước, nhưng các Cổ Thần lại không hề mặn mà với việc đưa chúng lên cạn. Sự hữu dụng của lũ quái vật này trên đất liền chẳng thể nào bù đắp nổi những hiểm họa khôn lường trong việc kiểm soát chúng.
Bước sang Kỷ Jura, các Cổ Thần lại phải đối mặt với một thảm họa mới: cuộc xâm lăng từ ngoài không gian. Kẻ thù lần này là những sinh vật gớm ghiếc mang hình hài nửa nấm, nửa loài giáp xác - chắc chắn chính là những thực thể từng được nhắc đến trong những truyền thuyết rỉ tai nhau nơi vùng sơn cước phương bắc, và được lưu truyền ở dãy Himalaya dưới cái tên Mi-Go8, hay Người Tuyết Gớm Ghiếc.
Để chống lại những dị nhân này, lần đầu tiên kể từ khi đặt chân đến trái đất, các Cổ Thần đã nỗ lực vươn mình trở lại cõi ête bao la của hành tinh. Nhưng bất chấp mọi sự chuẩn bị kỹ lưỡng theo đúng truyền thống, họ nhận ra rằng: việc thoát khỏi bầu khí quyển của trái đất nay đã hoàn toàn bất khả thi. Dù cho bí mật cổ xưa của thuật du hành giữa các vì sao có là gì đi chăng nữa, thì giờ đây, nó cũng đã bị tước đoạt vĩnh viễn khỏi chủng tộc này.
Kết cục, bầy Mi-Go đã đánh bật các Cổ Thần ra khỏi tất cả những vùng lãnh thổ phía bắc, dù cho chúng hoàn toàn bất lực trong việc quấy nhiễu những cư dân dưới biển. Từng chút một, cuộc rút lui chậm chạp của chủng tộc cổ đại về môi trường sống nguyên thủy ở nam cực đã bắt đầu.
Một chi tiết kỳ lạ và đáng chú ý từ những trận chiến được khắc họa là cả bầy lũ Cthulhu lẫn giống loài Mi-Go dường như đều được cấu thành từ một dạng vật chất dị biệt, vượt xa những định luật thông thường nếu so với cấu tạo cơ thể của các Cổ Thần. Chúng sở hữu khả năng biến đổi và tái cấu trúc đến mức phi lý, hoàn toàn bất khả xâm phạm với kẻ thù của chúng, và do đó, có vẻ như cội nguồn thực sự của lũ quái dị này xuất phát từ những vực thẳm xa xôi và tăm tối hơn nhiều trong không gian vũ trụ.
Ngoại trừ sức chịu đựng phi thường cùng những đặc tính sinh tồn quái gở, các Cổ Thần thực chất mang cấu tạo thuần vật lý, và chắc chắn nguồn gốc của chúng nằm trọn vẹn bên trong dải không - thời gian đã biết - trong khi xuất xứ thật sự của những sinh vật kia chỉ có thể là những phỏng đoán khiến người ta phải nín thở vì kinh hãi. Tất nhiên, tất cả những điều này chỉ là giả định, rằng những mối liên kết ngoài Trái Đất cùng những dị thường gán cho lũ giặc ngoại xâm kia không đơn thuần là thần thoại thuần túy. Ta có thể hình dung rằng, các Cổ Thần hoàn toàn có thể đã tự thêu dệt nên một trật tự vũ trụ nhằm bao biện cho những thất bại hiếm hoi của chúng, bởi lẽ lòng kiêu hãnh và nhu cầu ghi chép lịch sử rõ ràng đã cấu thành nên nền tảng tâm lý cốt lõi của giống loài này. Thật đáng kinh ngạc khi biên niên sử của chúng lại cố tình phớt lờ vô số chủng tộc sinh vật thượng đẳng và hùng mạnh khác - những kẻ mà nền văn hóa vĩ đại cùng đạo đức chói lọi của họ vẫn luôn ám ảnh dai dẳng qua những truyền thuyết tăm tối nhất.
Những biến thiên của Trái Đất qua các kỷ nguyên địa chất dài đằng đẵng hiện lên với một sự chân thực đến rợn người trong vô số bản đồ và những bức phù điêu chạm khắc. Có những trường hợp, khoa học hiện đại chắc chắn sẽ phải xem xét sửa đổi lại, nhưng cũng có những trường hợp, các suy luận táo bạo của nó lại được xác nhận một cách đầy vinh quang.
Như tôi đã từng đề cập, giả thuyết của Taylor, Wegener và Joly cho rằng mọi lục địa đều là những mảnh vỡ nứt ra từ một siêu lục địa nguyên thủy ở Nam Cực do lực ly tâm, rồi trôi dạt ra xa nhau trên một tầng vật chất dẻo bên dưới - một giả thuyết được nhen nhóm từ những nét tương đồng ở rìa mép lục địa Châu Phi và Nam Mỹ, cũng như cách các chuỗi núi khổng lồ cuộn trào và xô đẩy lẫn nhau - nay đã nhận được minh chứng chấn động từ cội nguồn bí ẩn này.
Những tấm bản đồ mô tả Kỷ Than Đá từ một trăm triệu năm trước, hoặc thậm chí xa hơn, đã chỉ rõ những khe nứt và vực thẳm khổng lồ. Chính những đứt gãy này là mầm mống định mệnh, sau này sẽ xé toạc Châu Phi khỏi những cõi từng một thời liền mạch của Châu Âu (thuở ấy là vùng đất Valusia trong những truyền thuyết sơ khai), Châu Á, Châu Mỹ, và lục địa Nam Cực.
Những biểu đồ khác - và có lẽ đáng chú ý nhất là một biểu đồ khắc họa lại quá trình kiến thiết nên thành phố chết khổng lồ đang bủa vây chúng tôi vào khoảng năm mươi triệu năm trước - cho thấy mọi lục địa như ta biết ngày nay đều đã được định hình rõ rệt. Và trong tấm bản đồ muộn nhất mà chúng tôi có thể tìm thấy - có lẽ thuộc Kỷ Pliocen - hình hài thế giới hiện đại đã hiện ra gần như trọn vẹn, dẫu cho vẫn còn những dải đất nối liền Alaska với Siberia, Bắc Mỹ với Châu Âu qua ngả Greenland, và Nam Mỹ nối với lục địa Nam Cực xuyên qua Graham Land9.
Trong tấm bản đồ Kỷ Than Đá, toàn bộ địa cầu - từ những vực sâu dưới đáy đại dương cho đến những vùng đất nứt nẻ - đều hằn in dấu ấn về những đô thị đá khổng lồ của các Cổ Thần. Thế nhưng, trong những biểu đồ sau này, sự thoái lui không ngừng về phía Nam Cực đã hiện ra rất rõ ràng.
Tấm bản đồ cuối cùng của Kỷ Pliocen không còn lưu lại bóng dáng của bất kỳ thành phố nào trên đất liền, ngoại trừ phần nằm trên lục địa Nam Cực và mũi cực nam Châu Mỹ. Tương tự, chẳng còn một thành phố đại dương nào tồn tại ở phía bắc vĩ tuyến 50 Nam. Sự hiểu biết và mối quan tâm đối với thế giới phương Bắc, ngoại trừ vài nghiên cứu về đường bờ biển có lẽ được thực hiện trong những chuyến bay thám hiểm dằng dặc trên đôi cánh màng hình quạt gớm ghiếc đó, rõ ràng đã hoàn toàn bị các Cổ Thần rũ bỏ xuống mức số không.
Các tài liệu ghi chép lại đầy rẫy về việc các thành phố bị diệt vong do biến động trồi sụt của các dãy núi, lục địa nứt vỡ dưới sức kéo ly tâm, những cơn địa chấn dữ dội làm chao đảo đất liền hay xé toạc đáy biển, cùng vô số thảm họa tự nhiên khác. Và thật kỳ lạ khi nhận ra rằng, qua từng thời đại trôi đi, những nỗ lực kiến thiết và thay thế ngày càng trở nên thưa thớt.
Siêu đô thị khổng lồ, một nấm mồ đá vĩ đại đang trải rộng mênh mông bao quanh chúng tôi, dường như là thủ phủ chung cuối cùng của giống loài này - được khởi dựng vào đầu Kỷ Phấn Trắng, ngay sau khi một cơn chấn động kinh hoàng của vỏ Trái Đất đã hoàn toàn xóa sổ một trung tâm tiền nhiệm thậm chí còn kỳ vĩ hơn nằm cách đó không xa.
Có vẻ như, vùng đất chung này chính là nơi tôn nghiêm nhất trong tất cả, nơi được cho là những Cổ Thần đầu tiên đã gieo mình xuống định cư trên một đáy biển sơ khai. Tại thành phố mới này - nơi mà chúng tôi có thể nhận ra vô số đường nét trong những bức điêu khắc, dù nó trải dài ngút ngàn hàng trăm dặm dọc theo dãy núi ở mỗi hướng, vượt xa khỏi mọi ranh giới xa nhất mà cuộc khảo sát trên không của chúng tôi có thể với tới - người ta vẫn rỉ tai nhau rằng đã bảo tồn được một số khối đá thiêng liêng. Những khối đá ấy, từng là một phần của thành phố đáy biển nguyên thủy, nay đã bị đẩy lên đón lấy ánh sáng mặt trời sau những kỷ nguyên đằng đẵng vùi mình trong những đợt xô đẩy, vặn xoắn nghiệt ngã của các tầng địa chất.
-
Một loài sinh vật giả tưởng trong hệ thống thần thoại Cthulhu của H.P. Lovecraft, được mô tả là những khối vật chất nguyên sinh khổng lồ, vô định hình, thường đóng vai trò nô lệ cho các Cổ Thần. ↩
-
Alkaloid là một nhóm hợp chất hữu cơ có nguồn gốc thực vật, thường có tác dụng dược lý mạnh lên hệ thần kinh, nhiều loại có thể gây ảo giác hoặc độc tính cao. ↩
-
Elder Things, một chủng tộc ngoài hành tinh giả tưởng trong tác phẩm của Lovecraft, có hình dáng lai giữa thực vật và động vật với cấu trúc đối xứng tỏa tròn hình sao. ↩
-
Thời Cổ sinh (Palæogæan): Thuật ngữ sinh địa lý học dùng để chỉ những khu vực trên Trái Đất thuộc về các kỷ nguyên địa chất xa xưa, gắn liền với sự phân bố của các loài động thực vật cổ đại. ↩
-
Prothallus, thể giao tử hình tim, nhỏ bé ở thực vật có mạch bậc thấp (như dương xỉ), phát triển từ bào tử và mang các cơ quan sinh dục độc lập với cây mẹ. ↩
-
Thế Canh Tân, một thế địa chất kéo dài từ khoảng 2,58 triệu đến 11.700 năm trước, đặc trưng bởi các đợt băng hà lặp đi lặp lại bao phủ phần lớn bề mặt Trái Đất. ↩
-
Frank Bursley Taylor, Alfred Wegener và John Joly là những nhà khoa học đầu thế kỷ 20 tiên phong đề xuất và phát triển thuyết trôi dạt lục địa, giải thích sự dịch chuyển của các mảng kiến tạo. ↩
-
Còn gọi là Fungi from Yuggoth, một chủng tộc ngoài hành tinh giả tưởng trong thần thoại Cthulhu, có hình dáng giống côn trùng hoặc giáp xác với cánh màng. ↩
-
Vùng đất Graham, một phần của Bán đảo Nam Cực nằm gần Nam Mỹ nhất. Tên gọi này từng được người Anh sử dụng để chỉ toàn bộ bán đảo. ↩
CHAPTER VII.
The full story, so far as deciphered, will eventually appear in an official bulletin of Miskatonic University. Here I shall sketch only the salient highlights in a formless, rambling way. Myth or otherwise, the sculptures told of the coming of those star-headed things to the nascent, lifeless earth out of cosmic space-their coming, and the coming of many other alien entities such as at certain times embark upon spatial pioneering.
They seemed able to traverse the interstellar ether on their vast membranous wings-thus oddly confirming some curious hill folklore long ago told me by an antiquarian colleague. They had lived under the sea a good deal, building fantastic cities and fighting terrific battles with nameless adversaries by means of intricate devices employing unknown principles of energy.
Evidently their scientific and mechanical knowledge far surpassed man's to-day, though they made use of its more widespread and elaborate forms only when obliged to.
Some of the sculptures suggested that they had passed through a stage of mechanized life on other planets, but had receded upon finding its effects emotionally unsatisfying. Their preternatural toughness of organization and simplicity of natural wants made them peculiarly able to live on a high plane without the more specialized fruits of artificial manufacture, and even without garments, except for occasional protection against the elements.
It was under the sea, at first for food and later for other purposes, that they first created earth life-using available substances according to long-known methods.
The more elaborate experiments came after the annihilation of various cosmic enemies. They had done the same thing on other planets, having manufactured not only necessary foods, but certain multicellular protoplasmic masses capable of molding their tissues into all sorts of temporary organs under hypnotic influence and thereby forming ideal slaves to perform the heavy work of the community.
These viscous masses were without doubt what Abdul Alhazred whispered about as the "Shoggoths" in his frightful Necronomicon, though even that mad Arab had not hinted that any existed on earth except in the dreams of those who had chewed a certain alkaloidal herb.
When the star-headed Old Ones on this planet had synthesized their simple food forms and bred a good supply of Shoggoths, they allowed other cell groups to develop into other forms of animal and vegetable life for sundry purposes, extirpating any whose presence became troublesome.
With the aid of the Shoggoths, whose expansions could be made to lift prodigious weights, the small, low cities under the sea grew to vast and imposing labyrinths of stone not unlike those which later rose on land. Indeed, the highly adaptable Old Ones had lived much on land in other parts of the universe, and probably retained many traditions of land construction.
As we studied the architecture of all these sculptured Palæogæan cities, including that whose æon-dead corridors we were even then traversing, we were impressed by a curious coincidence which we have not yet tried to explain, even to ourselves. The tops of the buildings, which in the actual city around us had, of course, been weathered into shapeless ruins ages ago, were clearly displayed in the bas-reliefs, and showed vast clusters of needlelike spires, delicate finials on certain cone and pyramid apexes, and tiers of thin, horizontal scalloped disks capping cylindrical shafts.
This was exactly what we had seen in that monstrous and portentous mirage, cast by a dead city whence such sky-line features had been absent for thousands and ten of thousands of years, which loomed on our ignorant eyes across the unfathomed mountains of madness as we first approached poor Lake's ill-fated camp.
Of the life of the Old Ones, both under the sea and after part of them migrated to land, volumes could be written. Those in shallow water had continued the fullest use of the eyes at the ends of their five main head tentacles, and had practiced the arts of sculpture and of writing in quite the usual way-the writing accomplished with a stylus on waterproof waxen surfaces.
Those lower down in the ocean depths, though they used a curious phosphorescent organism to furnish light, pieced out their vision with obscure special senses operating through the prismatic cilia on their heads-senses which rendered all the Old Ones partly independent of light in emergencies. Their forms of sculpture and writing had changed curiously during the descent, embodying certain apparently chemical coating processes-probably to secure phosphorescence-which the bas-reliefs could not make clear to us.
The beings moved in the sea partly by swimming-using the lateral crinoid arms-and partly by wriggling with the lower tier of tentacles containing the pseudofeet. Occasionally they accomplished long swoops with the auxiliary use of two or more sets of their fan-like folding wings.
On land they locally used the pseudofeet, but now and then flew to great heights or over long distances with their wings. The many slender tentacles into which the crinoid arms branched were infinitely delicate, flexible, strong, and accurate in muscular-nervous coördination-ensuring the utmost skill and dexterity in all artistic and other manual operations.
The toughness of the things was almost incredible. Even the terrific pressure of the deepest sea bottoms appeared powerless to harm them. Very few seemed to die at all except by violence, and their burial places were very limited. The facts that they covered their vertically inhumed dead with five-pointed inscribed mounds set up thoughts in Danforth and me which made a fresh pause and recuperation necessary after the sculptures revealed it.

The toughness of the things was almost incredible. Even terrific pressures were powerless to harm them!
The beings multiplied by means of spores-like vegetable pteridophyta, as Lake had suspected-but, owing to their prodigious toughness and longevity, and consequent lack of replacement needs, they did not encourage the large-scale development of new prothallia except when they had new regions to colonize.
The young matured swiftly, and received an education evidently beyond any standard we can imagine. The prevailing intellectual and æsthetic life was highly evolved, and produced a tenaciously enduring set of customs and institutions which I shall describe more fully in my coming monograph. These varied slightly according to sea or land residence, but had the same foundations and essentials.
Though able, like vegetables, to derive nourishment from inorganic substances; they vastly preferred organic and especially animal food. They ate uncooked marine life under the sea, but cooked their viands on land. They hunted game and raised meat herds-slaughtering with sharp weapons whose odd marks on certain fossil bones our expedition had noted.
They resisted all ordinary temperatures marvelously, and in their natural state could live in water down to freezing. When the great chill of the Pleistocene drew on, however-nearly a million years ago-the land dwellers had to resort to special measures, including artificial heating-until, at last, the deadly cold appears to have driven them back into the sea.
For their prehistoric flights through cosmic space, legend said, they had absorbed certain chemicals and become almost independent of eating, breathing, or heat conditions-but by the time of the great cold they had lost track of the method. In any case, they could not have prolonged the artificial state indefinitely without harm.
Being nonpairing and semivegetable in structure, the Old Ones had no biological basis for the family phase of mammal life, but seemed to organize large households on the principles of comfortable space-utility and-as we deduced from the pictured occupations and diversions of codwellers-congenial mental association.
In furnishing their homes they kept everything in the center of the huge rooms, leaving all wall spaces free for decorative treatment. Lighting, in the case of the land inhabitants, was accomplished by a device probably electro-chemical in nature.
Both on land and under water they used curious tables, chairs and couches like cylindrical frames-for they rested and slept upright with folded-down tentacles-and racks for the hinged sets of dotted surfaces forming their books.
Government was evidently complex and probably socialistic, though no certainties in this regard could be deduced from the sculptures we saw. There was extensive commerce, both local and between different cities-certain small, flat counters, five-pointed and inscribed, serving as money. Probably the smaller of the various greenish soapstones found by our expedition were pieces of such currency.
Though the culture was mainly urban, some agriculture and much stock raising existed. Mining and a limited amount of manufacturing were also practiced. Travel was very frequent, but permanent migration seemed relatively rare except for the vast colonizing movements by which the race expanded.
For personal locomotion no external aid was used, since in land, air, and water movement alike the Old Ones seemed to possess excessively vast capacities for speed. Loads, however, were drawn by beasts of burden-Shoggoths under the sea, and a curious variety of primitive vertebrates in the later years of land existence.
These vertebrates, as well as an infinity of other life forms-animal and vegetable, marine, terrestrial, and aërial-were the products of unguided evolution acting on life cells made by the Old Ones, but escaping beyond their radius of attention. They had been suffered to develop unchecked because they had not come in conflict with the dominant beings. Bothersome forms, of course, were mechanically exterminated.
It interested us to see in some of the very last and most decadent sculptures a shambling, primitive mammal, used sometimes for food and sometimes as an amusing buffoon by the land dwellers, whose vaguely simian and human foreshadowings were unmistakable. In the building of land cities the huge stone blocks of the high towers were generally lifted by vast-winged pterodactyls of a species heretofore unknown to palæontology.
The persistence with which the Old Ones survived various geologic changes and convulsions of the earth's crust was little short of miraculous. Though few or none of their first cities seem to have remained beyond the Archæan Age, there was no interruption in their civilization or in the transmission of their records.
Their original place of advent to the planet was the Antarctic Ocean, and it is likely that they came not long after the matter forming the moon was wrenched from the neighboring South Pacific. According to one of the sculptured maps, the whole globe was then under water, with stone cities scattered farther and farther from the antarctic as æons passed.
Another map shows a vast bulk of dry land around the south pole, where it is evident that some of the beings made experimental settlements, though their main centers were transferred to the nearest sea bottom.
Later maps, which display this land mass as cracking and drifting, and sending certain detached parts northward, uphold in a striking way the theories of continental drift lately advanced by Taylor, Wegener, and Joly.
With the upheaval of new land in the South Pacific, tremendous events began. Some of the marine cities were hopelessly shattered, yet that was not the worst misfortune. Another race-a land race of beings shaped like octopi and probably corresponding to the fabulous prehuman spawn of Cthulhu-soon began filtering down from cosmic infinity and precipitated a monstrous war which for a time drove the Old Ones wholly back to the sea-a colossal blow in view of the increasing land settlements.
Later, peace was made, and the new lands were given to the Cthulhu spawn whilst the Old Ones held the sea and the older lands. New land cities were founded-the greatest of them in the antarctic, for this region of first arrival was sacred.
From then on, as before, the antarctic remained the center of the Old Ones' civilization, and all the cities built there by the Cthulhu spawn were blotted out.
Then, suddenly, the lands of the Pacific sank again, taking with them the frightful stone city of R'lyeh and all the cosmic octopi, so that the Old Ones were again supreme on the planet, except for one shadowy fear about which they did not like to speak.
At a rather later age their cities dotted all the land and water areas of the globe-hence the recommendation in my coming monograph that some archæologist make systematic borings with Pabodie's type of apparatus in certain widely separated regions.
The steady trend down the ages was from water to land-a movement encouraged by the rise of new land masses, though the ocean was never wholly deserted. Another cause of the landward movement was the new difficulty in breeding and managing the Shoggoths upon which successful sea life depended.
With the march of time, as the sculptures sadly confessed, the art of creating new life from inorganic matter had been lost, so that the Old Ones had to depend on the molding of forms already in existence. On land the great reptiles proved highly tractable; but the Shoggoths of the sea, reproducing by fission and acquiring a dangerous degree of accidental intelligence, presented for a time a formidable problem.
They had always been controlled through the hypnotic suggestion of the Old Ones, and had modeled their tough plasticity into various useful temporary limbs and organs; but now their self-modeling powers were sometimes exercised independently, and in various imitative forms implanted by past suggestion. They had, it seems, developed a semistable brain whose separate and occasionally stubborn volition echoed the will of the Old Ones without always obeying it.
Sculptured images of these Shoggoths filled Danforth and me with horror and loathing. They were normally shapeless entities composed of a viscous jelly which looked like an agglutination of bubbles, and each averaged about fifteen feet in diameter when a sphere. They had, however, a constantly shifting shape and volume-throwing out temporary developments or forming apparent organs of sight, hearing, and speech in imitation of their masters, either spontaneously or according to suggestion.
They seem to have become peculiarly intractable toward the middle of the Permian Age, perhaps one hundred and fifty million years ago, when a veritable war of resubjugation was waged upon them by the marine Old Ones. Pictures of this war, and of the headless, slime-coated fashion in which the Shoggoths typically left their slain victims, held a marvelously fearsome quality despite the intervening abyss of untold ages.
The Old Ones had used curious weapons of molecular disturbance against the rebel entities, and in the end had achieved a complete victory. Thereafter the sculptures showed a period in which Shoggoths were tamed and broken by armed Old Ones as the wild horses of the American west were tamed by cowboys.
Though during the rebellion the Shoggoths had shown an ability to live out of water, this transition was not encouraged-since their usefulness on land would hardly have been commensurate with the trouble of their management.
During the Jurassic Age the Old Ones met fresh adversity in the form of a new invasion from outer space-this time by half-fungous, half-crustacean creatures-creatures undoubtedly the same as those figuring in certain whispered hill legends of the north, and remembered in the Himalayas as the Mi-Go, or Abominable Snow Men.
To fight these beings the Old Ones attempted, for the first time since their terrene advent, to sally forth again into the planetary ether; but, despite all traditional preparations, found it no longer possible to leave the earth's atmosphere. Whatever the old secret of interstellar travel had been, it was now definitely lost to the race.
In the end the Mi-Go drove the Old Ones out of all the northern lands, though they were powerless to disturb those in the sea. Little by little the slow retreat of the elder race to their original antarctic habitat was beginning.
It was curious to note from the pictured battles that both the Cthulhu spawn and the Mi-Go seem to have been composed of matter more widely different from that which we know than was the substance of the Old Ones. They were able to undergo transformations and reintegrations impossible for their adversaries, and seem therefore to have originally come from even remoter gulfs of cosmic space.
The Old Ones, but for their abnormal toughness and peculiar vital properties, were strictly material, and must have had their absolute origin within the known space-time continuum-whereas the first sources of the other beings can only be guessed at with bated breath. All this, of course, assuming that the nonterrestrial linkages and the anomalies ascribed to the invading foes are not pure mythology. Conceivably, the Old Ones might have invented a cosmic framework to account for their occasional defeats, since historical interest and pride obviously formed their chief psychological element. It is significant that their annals failed to mention many advanced and potent races of beings whose mighty cultures and towering ethics figure persistently in certain obscure legends.
The changing state of the world through long geologic ages appeared with startling vividness in many of the sculptured maps and scenes. In certain cases existing science will require revision, while in other cases its bold deductions are magnificently confirmed.
As I have said, the hypothesis of Taylor, Wegener, and Joly that all the continents are fragments of an original antarctic land mass which cracked from centrifugal force and drifted apart over a technically viscous lower surface-an hypothesis suggested by such things as the complimentary outlines of Africa and South America, and the way the great mountain chains are rolled and shoved up-receives striking support from this uncanny source.
Maps evidently showing the Carboniferous of a hundred million or more years ago displayed significant rifts and chasms destined later to separate Africa from the once continuous realms of Europe (then the Valusia of primal legend), Asia, the Americas, and the antarctic continent.
Other charts-and most significantly one in connection with the founding fifty million years ago of the vast dead city around us-showed all the present continents well differentiated. And in the latest discoverable specimen-dating perhaps from the Pliocene Age-the approximate world of to-day appeared quite clearly despite the linkage of Alaska with Siberia, of North America with Europe through Greenland, and of South America with the antarctic continent through Graham Land.
In the Carboniferous map the whole globe-ocean floor and rifted land mass alike-bore symbols of the Old Ones' vast stone cities, but in the later charts the gradual recession toward the antarctic became very plain.
The final Pliocene specimen showed no land cities except on the antarctic continent and the tip of South America, nor any ocean cities north of the fiftieth parallel of South Latitude. Knowledge and interest in the northern world, save for a study of coast lines probably made during long exploration flights on those fan-like membranous wings, had evidently declined to zero among the Old Ones.
Destruction of cities through the up-thrust of mountains, the centrifugal rending of continents, the seismic convulsions of land or sea bottom, and other natural causes was a matter of common record; and it was curious to observe how fewer and fewer replacements were made as the ages wore on.
The vast dead megalopolis that yawned around us seemed to be the last general center of the race-built early in the Cretaceous Age after a titanic earth buckling had obliterated a still vaster predecessor not far distant.
It appeared that this general region was the most sacred spot of all, where reputedly the first Old Ones had settled on a primal sea bottom. In the new city-many of whose features we could recognize in the sculptures, but which stretched fully a hundred miles along the mountain range in each direction beyond the farthest limits of our aërial survey-there were reputed to be preserved certain sacred stones forming part of the first sea-bottom city, which were thrust up to light after long epochs in the course of the general crumpling of strata.