Đã hiệu đính

CHƯƠNG VI.

Sẽ là một việc dông dài quá mức nếu tôi cứ cố chép lại từng chi tiết rời rạc, miên man về những bước chân lang thang của chúng tôi bên trong cái tổ ong bằng đá nguyên thủy khổng lồ ấy - một chốn vùi mình dưới lớp bụi hàng thiên niên kỷ, cái hang ổ kỳ quái đang chứa đựng vô vàn bí mật cổ xưa mà giờ đây mới vang vọng những bước chân nhân loại đầu tiên sau vô số kỷ nguyên hoang phế.

Sự lược bỏ này lại càng xác đáng, bởi lẽ mọi mảnh ghép của tấn bi kịch và những chân lý kinh hoàng nhất đều được phơi bày qua chính công cuộc khảo sát các bức phù điêu nhan nhản trên khắp mặt tường. Những thước ảnh chụp dưới ánh đèn flash chớp nhoáng của chúng tôi sẽ gánh vác phần lớn trọng trách minh chứng cho sự thật trần trụi về những gì chúng tôi sắp sửa công bố, và thật đáng tiếc thay khi chúng tôi đã không chuẩn bị nhiều cuộn phim hơn. Vậy nên, khi số phim đã cạn kiệt, chúng tôi đành chuyển sang phác họa những đường nét nổi bật nhất lên những trang sổ tay thô kệch.

Tòa kiến trúc mà chúng tôi vừa dấn bước vào hiện lên với một quy mô đồ sộ và độ chế tác vô cùng tinh vi, mang lại cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc về trình độ kiến trúc của cái thời kỳ địa chất vô danh nào đó. Những vách ngăn bên trong tuy chẳng thể sánh được với lớp tường bao kiên cố bên ngoài, nhưng kỳ lạ thay, ở các tầng sâu thẳm bên dưới, chúng lại giữ được một sự toàn vẹn đáng kinh ngạc. Bản chất phức tạp hệt như một mê cung, với vô số sự chênh lệch chiều cao mặt sàn kỳ dị đến phi lý, dường như là họa tiết chủ đạo bao trùm toàn bộ không gian nơi đây; và tôi cam đoan rằng, nếu chẳng ném lại sau lưng những mẩu giấy xé vụn, chúng tôi đã vĩnh viễn lạc lối ngay từ những bước đi đầu tiên.

Chúng tôi nhất trí sẽ ưu tiên dò dẫm phần cấu trúc ọp ẹp phía trên, rồi cứ thế leo vút lên khoảng một trăm feet bên trong lòng mê cung ấy, trồi lên tới tận tầng cao nhất - nơi những căn phòng trống hoác, đầy rẫy tuyết lạnh và sự tàn lụi đang hiện ra dưới vòm trời xám xịt vùng cực. Việc đi lên chỉ có thể thực hiện thông qua những đoạn dốc bằng đá vắt ngang gờ tường hoặc những mặt phẳng nghiêng dựng đứng mà bọn chúng đã sử dụng ở khắp mọi nơi để thay cho bậc thang.

Những căn phòng chúng tôi đặt chân tới mang đủ mọi hình thái và tỷ lệ mà con người có thể mường tượng ra, kéo dài từ hình sao năm cánh, hình tam giác cho đến những khối lập phương hoàn hảo. Dù vẫn tồn tại những gian phòng rộng lớn hơn hẳn, nhưng theo ước tính an toàn của tôi, diện tích sàn trung bình của chúng rơi vào khoảng 30 x 30 feet, với trần cao hai mươi feet.

Khi đã khảo sát cặn kẽ các tầng trên cao và những dải nằm ngang mực sông băng, chúng tôi mới bắt đầu bước xuống từng tầng một, tiến sâu vào vùng tăm tối bị vùi lấp. Và rồi, chúng tôi dần nhận ra rằng: mình đang đứng giữa một mê cung vô tận của những căn phòng và lối đi chằng chịt, một mạng lưới tăm tối có thể dễ dàng dẫn dụ chúng tôi vào những vùng không gian xa xăm vô định nằm ngoài tòa nhà cụ thể này.

Sự đồ sộ khủng khiếp và cái vẻ uy nghi rợn ngợp mang đậm phong cách Cyclopean của mọi thứ xung quanh dần bao trùm lấy chúng tôi trong một cảm giác ngột ngạt dị thường. Phảng phất khắp nơi là một nét gì đó lờ mờ nhưng lại quái gở đến tột độ, một thứ gì đó hoàn toàn xa lạ với nhận thức của con người, len lỏi trong từng đường nét, từng kích thước, tỷ lệ, họa tiết trang trí cho đến những sắc thái cấu trúc nhỏ nhất của cái công trình đá cổ kính báng bổ thần linh này. Và thông qua những thông điệp câm lặng từ các bức chạm khắc, chúng tôi nhanh chóng phải thừa nhận rằng cái thành phố kỳ dị này đã sừng sững tồn tại từ hàng triệu năm trước.

Chúng tôi vẫn chưa thể lý giải những nguyên lý kỹ thuật được áp dụng để duy trì thăng bằng và hiệu chỉnh một cách dị thường những khối đá khổng lồ kia, dẫu rằng việc ứng dụng cấu trúc vòm rõ ràng là vô cùng phổ biến. Những căn phòng chúng tôi cẩn trọng bước qua đều trống rỗng, hoàn toàn không sót lại một món đồ vật nào có thể xê dịch được - một thực trạng càng củng cố thêm niềm tin của chúng tôi rằng, thành phố này đã bị bỏ lại trong một kế hoạch có chủ đích. Điểm nhấn trang trí chủ đạo là hệ thống phù điêu điêu khắc gần như bao phủ khắp nơi, chạy dài thành những dải ngang liên tục rộng chừng ba feet, xếp nối tiếp từ sàn lên trần nhà, xen kẽ với những dải có cùng chiều rộng dành cho các họa tiết hình học arabesque.

Tất nhiên, vẫn xuất hiện một vài ngoại lệ lệch khỏi quy tắc bài trí này, nhưng nhìn chung nó vẫn giữ thế chủ đạo tuyệt đối. Thường thấy nhất là những chuỗi khung viền nhẵn thín chứa bên trong các cụm dấu chấm hợp thành hoa văn kỳ dị, được chạm chìm một cách đầy chủ ý dọc theo một trong những dải arabesque ám ảnh ấy.

Chúng tôi sớm nhận ra kỹ thuật chạm khắc ở đây đã đạt đến đỉnh cao hoàn mỹ, một thứ thẩm mỹ tiến hóa tới tột cùng của sự tinh thông văn minh, dù cho từng đường nét của nó lại dị biệt hoàn toàn với bất cứ truyền thống nghệ thuật nào nhân loại từng biết đến. Xét về độ tinh xảo trong chế tác, tôi chưa từng thấy một tác phẩm điêu khắc nào trên đời có thể sánh kịp. Bất chấp quy mô đồ sộ của các bức bích họa, từng chi tiết nhỏ nhất của thảm thực vật phức tạp hay thế giới động vật đều hiển hiện với một sức sống đáng kinh ngạc; trong khi đó, những mẫu hoa văn lặp lại theo khuôn phép lại là những kỳ quan của sự tinh xảo điêu luyện.

Những dải hoa văn uốn lượn phô bày một nền tảng toán học uyên thâm, hình thành từ những đường cong và các góc đối xứng mờ ám, luôn xoay quanh con số năm đặc trưng.

Các dải tranh phù điêu tuân thủ một truyền thống vô cùng nghiêm ngặt, áp dụng những kỹ thuật phối cảnh kỳ dị; thế nhưng, chúng vẫn tỏa ra một sức mạnh nghệ thuật đến mức làm chúng tôi rúng động tận tâm can, vượt qua cả hố sâu ngăn cách của những kỷ nguyên địa chất thăm thẳm.

Phương pháp thiết kế của chúng xoay quanh một kiểu chắp ghép quái đản giữa mặt cắt ngang và hình chiếu hai chiều, phơi bày một tư duy phân tích vượt xa mọi chủng tộc cổ đại từng được biết đến. Thật hoài công khi cố đem thứ nghệ thuật này so sánh với bất kỳ hiện vật nào trong các viện bảo tàng của chúng ta. Những ai tận mắt xem lại xấp ảnh mà chúng tôi chụp có lẽ sẽ chỉ tìm thấy chút ít sự tương đồng qua vài ý niệm điên rồ của những họa sĩ theo chủ nghĩa vị lai1 cực đoan nhất.

Mạng lưới hoa văn uốn lượn được tạo nên hoàn toàn từ những đường khắc chìm, với độ sâu dao động từ một đến hai inch trên những mảng tường chưa bị phong hóa tàn phá. Nơi nào xuất hiện những dải khung chứa các cụm dấu chấm - hiển nhiên đóng vai trò như một dạng văn tự thuộc về một ngôn ngữ và bảng chữ cái nguyên thủy dị thường nào đó - thì bề mặt nhẵn bóng xung quanh bị đục lõm xuống chừng một inch rưỡi, còn bản thân các dấu chấm lại được khoét sâu thêm khoảng nửa inch nữa. Những dải tranh này thực chất là các bức phù điêu thấp, với phần nền bị phạt lõm xuống khoảng hai inch so với mặt phẳng ban đầu của bức tường.

Trên một số mẫu vật, chúng tôi vẫn còn soi ra được chút tàn tích của màu sắc thuở xưa, mặc dù dòng chảy của vô vàn niên kỷ đã bào mòn và tẩy sạch gần như toàn bộ mọi sắc tố từng được tô vẽ. Càng đào sâu nghiên cứu thứ kỹ thuật kỳ quái này, sự kinh ngạc trong chúng tôi càng trào dâng. Ẩn sau lớp vỏ khuôn phép hà khắc, ta vẫn có thể cảm nhận được con mắt quan sát tỉ mỉ, chính xác đến lạnh người cùng kỹ năng đồ họa siêu phàm của những kẻ kiến tạo; và quả thực, chính những quy chuẩn cứng nhắc ấy lại mang đậm tính biểu tượng, lột tả trần trụi bản chất thực sự cũng như những đặc tính cốt lõi của từng vật thể được khắc họa.

Nhưng song song với những tinh hoa hiển hiện đó, chúng tôi cũng cảm nhận được vẫn còn những nét tuyệt mĩ khác ẩn giấu vượt ngoài tầm cảm nhận của chúng tôi. Những nét chấm phá rải rác đưa ra vài gợi ý mơ hồ về các biểu tượng và sự kích thích ngầm ẩn. Phải chi chúng tôi mang một hệ tri thức và xúc cảm khác, hoặc sở hữu một bộ máy giác quan trọn vẹn hơn hay dị biệt hơn, thì có lẽ những nét chạm khắc này đã xoáy sâu vào tâm trí chúng tôi bằng một ý nghĩa nhức nhối, kinh hoàng.

Rõ ràng, nội dung của các bức điêu khắc đều bắt nguồn từ chính cuộc sống thuộc cái kỷ nguyên đã tàn lụi thuở chúng được sinh ra, qua đó chứa đựng một khối lượng khổng lồ những bằng chứng lịch sử rành rành. Chính cái ám ảnh kỳ dị về việc ghi chép lịch sử của chủng tộc nguyên thủy này - một tình huống vận hành hoàn toàn do ngẫu nhiên nhưng lại mang đến lợi thế không tưởng cho chúng tôi - đã biến các bức bích họa trở thành kho tàng thông tin đồ sộ đến ngộp thở. Điều này thôi thúc chúng tôi gạt mọi thứ sang một bên, ưu tiên tối đa cho việc chụp ảnh và sao chép lại toàn bộ.

Tại một vài căn phòng nhất định, bố cục chủ đạo lại được nhấn nhá thêm bằng sự hiện diện của những tấm bản đồ, biểu đồ thiên văn, và vô số bản vẽ thiết kế khoa học khác được phóng to hết cỡ - những thứ dị hợm này mang đến một sự xác thực trần trụi và kinh hoàng cho mọi thứ mà chúng tôi vừa góp nhặt được từ các dải bích họa trên tường lẫn dưới chân cột.

Khi hé lộ về những gì mà toàn bộ nơi này phơi bày, tôi chỉ hy vọng rằng những lời kể của mình sẽ không vô tình khơi dậy trí tò mò vượt khỏi ranh giới của sự cẩn trọng nơi những người vẫn còn đặt chút niềm tin vào tôi. Sẽ là một bi kịch tột cùng nếu bất kỳ ai bị cám dỗ mà dấn bước vào vương quốc của cái chết và nỗi kinh hoàng ngoài sức tưởng tượng ấy, chỉ vì lỡ đọc được chính những dòng cảnh báo vốn dĩ được viết ra để ngăn cản họ.


Xen giữa những bức tường chạm trổ là vô số ô cửa sổ vươn cao cùng hàng loạt ngưỡng cửa đồ sộ, ước chừng phải đến mười hai feet. Đôi chỗ trên các khung cửa ấy vẫn còn vương lại những phiến gỗ hóa thạch của thuở nào - từng được điêu khắc công phu và đánh bóng sáng loáng - tàn tích của những cánh cửa và khung sổ thực thụ. Toàn bộ bản lề hay phụ kiện kim loại đều đã tiêu biến từ thuở hồng hoang. Dẫu vậy, vài cánh cửa vẫn án ngữ ngay vị trí cũ, buộc chúng tôi phải gồng mình xô lệch chúng sang một bên để lách qua từng gian phòng.

Một vài khung sổ rải rác còn giữ được những tấm kính trong suốt đến dị kỳ - đa phần mang hình bầu dục - dù số lượng chẳng còn bao nhiêu. Dọc theo các vách tường, những hốc ngách với kích thước vĩ đại hiện diện dày đặc. Chúng gần như trống hoác, song thi thoảng lại chứa chấp một vài dị vật quái gở đẽo gọt từ đá steatit lục lam; những thứ nếu chưa dập nát thì cũng bị những kẻ thu nhặt trước đây bỏ lại vì quá đỗi tầm thường.

Nhiều lỗ hổng khác chắc chắn là tàn dư của các hệ thống cơ khí viễn cổ - hệ thống sưởi, chiếu sáng, và những thiết bị tương tự - vốn đã được phác họa rành rành qua vô số bức phù điêu. Trần nhà phần lớn được để trơn, thỉnh thoảng mới điểm xuyết những mảnh khảm từ đá steatit lục lam hay những loại gạch ốp khác, nhưng nay đã bong tróc gần hết. Nền nhà cũng được lát bằng loại gạch ấy, dù những phiến đá trơn nhẵn vẫn chiếm phần đa.

Như tôi từng đề cập, mọi món đồ nội thất cùng những vật dụng có thể di dời đều bốc hơi sạch sẽ. Tuy nhiên, các bức chạm khắc trên tường đã phơi bày một hình dung rõ nét về những cỗ máy dị thường từng lấp đầy những gian phòng vang vọng tựa hầm mộ này. Phía trên mặt băng, sàn nhà thường ngập trong một lớp dày cộm những vụn đá, rác rưởi và mảnh vỡ. Nhưng càng dấn sâu xuống dưới, đống tàn tích ấy lại càng thưa thớt dần.

Tại một số căn phòng và hành lang thuộc các tầng hầm, vương vãi đọng lại chỉ còn chút bụi cát hay lớp cặn bẩn từ nghìn xưa. Thế nhưng, thỉnh thoảng chúng tôi lại bắt gặp những khu vực toát lên một bầu không khí rợn gáy, sạch sẽ tinh tươm tựa hồ như vừa mới có kẻ quét tước bận rộn. Tất nhiên, tại những điểm nứt gãy hay sụp lún, các tầng dưới cũng ngổn ngang gạch vụn chẳng kém gì những tầng bên trên.

Một khoảng sân trung tâm - tương tự như những gì chúng tôi từng quan sát thấy ở các kiến trúc khác khi nhìn từ trên không - đã giải thoát toàn bộ không gian bên trong khỏi cảnh tối tăm mù mịt. Ánh sáng le lói dội xuống đủ để chúng tôi hiếm khi phải mượn đến đèn pin điện ở các tầng trên, trừ phi cần rọi sáng để săm soi từng chi tiết điêu khắc. Dẫu vậy, khi chìm sâu dưới chóp băng, khung cảnh tranh tối tranh sáng ngày một trở nên u ám và ngột ngạt. Và tại phần lớn cấu trúc tầng trệt đan xen rối rắm kia, bóng tối gần như nuốt chửng vạn vật một cách tuyệt đối.

Để có thể mường tượng dù chỉ một chút khái niệm sơ đẳng nhất về dòng suy nghĩ và cảm xúc của chúng tôi lúc dấn bước vào chốn mê cung bằng đá không thuộc về nhân loại, tĩnh lặng rợn ngợp qua bao kỷ nguyên này, người ta sẽ phải cố xâu chuỗi lại một mớ hỗn độn không sao gỡ nổi của những trạng thái tinh thần, ký ức và ấn tượng thoáng qua. Bản thân niên đại cổ xưa đến sửng sốt cùng vẻ hoang lương chết chóc của nơi đây vốn dĩ đã dư sức đè bẹp bất cứ tâm hồn nhạy cảm nào. Thế nhưng, đắp bồi thêm vào đó còn là nỗi kinh hoàng không sao lý giải nổi vừa ập xuống khu trại, cùng những sự thật nhớp nhúa phơi bày quá đỗi chóng vánh qua các bức phù điêu khủng khiếp đang vây bủa quanh chúng tôi.

Ngay khoảnh khắc bắt gặp một mảng chạm khắc còn nguyên vẹn, nơi mọi chi tiết đều rõ ràng đến mức không thể nào hiểu sai được nữa, chỉ cần một chút xem xét ngắn ngủi cũng đủ dội vào tâm trí chúng tôi một sự thật gớm ghiếc. Sẽ thật ngây thơ nếu bảo rằng Danforth và tôi chưa từng mảy may nghi ngờ về sự thật ấy từ trước, dù cho cả hai đã cẩn trọng kìm nén, thậm chí chẳng hề hé nửa lời để nhắc tới nó với nhau. Đến giờ phút này, mọi tia hoài nghi nhằm tự an ủi bản thân đã bị dập tắt hoàn toàn. Đã rõ mồn một bản chất thật của những sinh vật từng kiến tạo và trú ngụ tại cái thành phố chết chóc, quái đản này từ hàng triệu năm về trước, vào cái thời kỳ mà tổ tiên loài người chỉ mới là những giống thú có vú nguyên thủy bé nhỏ, còn loài Khủng long khổng lồ thì đang thống trị khắp các thảo nguyên nhiệt đới ở Châu Âu và Châu Á.

Trước đó, chúng tôi từng bám víu vào một cách giải thích đầy tuyệt vọng và khăng khăng tự nhủ - mỗi người tự giữ kín suy nghĩ của riêng mình - rằng sự xuất hiện dày đặc của mô-típ hình năm cánh chỉ đơn thuần mang ý nghĩa tôn vinh về mặt văn hóa hoặc tín ngưỡng đối với một vật thể tự nhiên vô tri nào đó thời Thái cổ; cũng tương tự như cách các họa tiết trang trí của nền văn minh Minoan ở Crete2 tôn thờ con bò đực thiêng liêng, của Ai Cập tôn vinh loài bọ hung, của La Mã sùng bái chó sói và đại bàng, hay của các bộ lạc hoang dã khác nhau sùng bái một loài vật tổ được chỉ định.

Thế nhưng, tấm màn trú ẩn mỏng manh duy nhất đó giờ đây đã hoàn toàn tan biến, ép chúng tôi buộc phải trực diện đối mặt với một nhận thức chấn động tột độ - điều mà chắc hẳn độc giả của những trang viết này đều đã dự đoán được từ lâu. Cho đến tận giây phút này, tôi vẫn khó lòng đủ sức chịu đựng nổi việc phải rạch ròi viết điều đó ra giấy trắng mực đen, nhưng có lẽ, chuyện ấy cũng chẳng còn cần thiết nữa.


Những sinh thể từng dựng lên và ngự trị bên trong công trình đá rợn người này vào thời đại Khủng long thực chất chẳng phải là Khủng long, mà là một thứ tồi tệ hơn muôn phần. Bọn Khủng long suy cho cùng cũng chỉ là loài non trẻ và gần như vô tri. Ngược lại, những kẻ kiến tạo nên thành phố này mang trong mình sự uyên thâm và cổ xưa tột độ. Chúng đã khắc tạc dấu ấn của mình vào tận những vỉa đá trầm tích hình thành từ cả tỷ năm trước. Đó là thời kỳ nằm ngoài sức tưởng tượng, trước cả khi mầm sống đích thực của trái đất kịp vượt xa hình hài những khối tế bào nhầy nhụa đơn sơ - hay nói đúng hơn, là trước cả khi sự sống trên hành tinh này kịp phôi thai.

Chính chúng là những đấng sáng thế, nhào nặn và nô dịch sự sống trần gian. Không còn một chút nghi ngờ nào nữa, chúng đích thị là cội nguồn của mọi truyền thuyết cổ xưa ác độc mà những pho sách cấm như Bản thảo Pnakotic hay cuốn Necronomicon từng run rẩy hé lộ. Bọn chúng chính là những "Cổ Thần" vĩ đại, đáp xuống từ giữa muôn vì sao khi trái đất còn chìm trong thuở hồng hoang. Cấu trúc sinh học kỳ lạ của chúng được định hình qua một dòng tiến hóa hoàn toàn xa lạ, nắm giữ những khả năng to lớn mà tinh cầu này chưa từng biết đến. Tôi vẫn không thôi nghĩ đến chuyện mới ngày hôm qua thôi, tôi và cậu Danforth đã thực sự tận mắt chứng kiến những mảnh vỡ từ di hài hóa thạch vùi lấp hàng thiên niên kỷ của chúng. Còn anh Lake tội nghiệp cùng cả đội của anh thì lại đối mặt với hình thù vẹn nguyên của những sinh vật đó--

Dĩ nhiên là tôi không thể nào tường thuật lại theo đúng trình tự từng giai đoạn mà chúng tôi đã chắp nhặt được về cái chương sử khủng khiếp của thời kỳ tiền nhân loại ấy. Cú sốc đầu tiên trước sự thật hiển hiện rành rành đã khiến chúng tôi chấn động, buộc chúng tôi phải dừng lại một lúc lâu để tĩnh tâm phục hồi. Mãi đến đúng ba giờ chiều, cả hai mới bắt tay vào chuyến khảo sát thực thụ và có hệ thống.

Những bức điêu khắc vặn vẹo trong tòa nhà mà chúng tôi bước vào có niên đại tương đối muộn - chừng hai triệu năm trước, dựa theo các dấu tích địa chất, sinh học và thiên văn mà chúng tôi đối chiếu. Thứ nghệ thuật chạm trổ nơi đây hoàn toàn có thể bị coi là suy đồi và thô kệch, nếu đem so sánh với vô vàn mẫu vật tuyệt mĩ mà chúng tôi phát hiện ở những công trình cổ xưa hơn, nằm tận phía bên kia những cây cầu ẩn sâu dưới tầng băng tuyết vĩnh cửu.

Có một công trình đẽo từ đá tảng nguyên khối, mang niên đại lùi xa đến mức rợn ngợp: bốn mươi hay thậm chí là năm mươi triệu năm - tức vào đầu thế Eocen (Thủy Tân)3 hoặc cuối kỷ Phấn trắng (Cretaceous)4. Bên trong nó ẩn chứa những bức phù điêu chạm nổi với nghệ thuật tinh xảo vượt xa bất cứ thứ gì chúng tôi từng bắt gặp, dĩ nhiên là trừ một ngoại lệ khổng lồ duy nhất sau này. Chúng tôi đồng tình với nhau rằng, đó chính là kiến trúc cư trú lâu đời nhất trên toàn bộ chặng đường mà mình vừa lê bước qua.

Nếu không có những bức ảnh chụp dưới ánh đèn flash chớp nhoáng sắp tới đây làm bằng chứng, hẳn tôi đã câm lặng chôn vùi vĩnh viễn những gì bản thân đã tìm thấy và suy luận ra, chỉ vì nỗi sợ bị tống vào nhà thương điên. Lẽ dĩ nhiên, những mảng ký ức cực kỳ sơ khai cấu thành nên câu chuyện chắp vá này - minh chứng cho sự tồn tại ngoài Trái đất của giống loài đầu hình sao trên các hành tinh, các dải ngân hà, và thậm chí trong những vũ trụ khác - hoàn toàn có thể bị gạt đi, xem như những huyền thoại dị giáo do chính bọn chúng thêu dệt nên. Thế nhưng, xen lẫn trong mớ tàn tích ấy lại là những bản thiết kế và biểu đồ kỳ quái, trùng khớp đến rợn người với những khám phá hiện đại nhất của toán học và vật lý thiên văn, khiến lý trí tôi hoàn toàn tê liệt. Hãy để thế giới tự phán xét khi họ tận mắt chứng kiến những bức ảnh mà tôi sắp phơi bày.

Hiển nhiên là, trong số vô vàn những bức phù điêu chạm khắc mà chúng tôi đụng độ, chẳng có bức nào phơi bày nhiều hơn một mảnh vỡ rời rạc của một câu chuyện hoàn chỉnh, và chúng tôi cũng không thể nào nắm bắt được các thời kỳ lịch sử của chúng theo bất kỳ một trình tự logic nào. Nhìn vào kết cấu kiến trúc, một số căn phòng khổng lồ đóng vai trò như những không gian biệt lập, trong khi vô số tàn tích khác lại trải dài thành một cuốn biên niên sử miên man, xuyên thấu qua hàng loạt hang động và những dãy hành lang hun hút.

Những tấm bản đồ và biểu đồ tinh xảo nhất lại được khắc họa trên vách đá của một vực thẳm kinh hoàng, nằm sâu bên dưới cả mặt đất cổ đại. Đó là một hang động khổng lồ, mỗi bề rộng chừng hai trăm feet và sừng sững cao đến sáu mươi feet, nơi gần như chắc chắn từng đóng vai trò như một trung tâm học thuật của nền văn minh xa xưa ấy.

Có nhiều sự lặp lại đầy khiêu khích của cùng một loại tư liệu ở các căn phòng và tòa nhà khác nhau, bởi lẽ một vài chương trải nghiệm, hay những bản tóm tắt và các giai đoạn lịch sử của chủng loài, hiển nhiên đã được các nghệ nhân trang trí hay cư dân khác nhau đặc biệt yêu thích. Dẫu sao đi nữa, chính những dị bản xoay quanh cùng một chủ đề đôi khi lại vô tình trở thành chiếc chìa khóa giải mã những góc khuất tăm tối, giúp chúng tôi chắp vá những mảnh ghép còn khuyết thiếu.

Đến tận bây giờ, tôi vẫn tự hỏi tại sao, trong một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi, chúng tôi lại có thể suy luận ra được ngần ấy thứ kinh hoàng. Dĩ nhiên, những gì chúng tôi nắm trong tay hiện tại mới chỉ là bề nổi mờ nhạt nhất - và phần lớn những dữ liệu ấy chỉ được chắt lọc sau này, nhờ vào việc soi xét lại những cuộn phim ám ảnh và các bức phác thảo điên rồ mà chúng tôi mang về.

Có lẽ chính dư chấn của những lần nghiên cứu sau đó - khi những mảnh ký ức gớm ghiếc không ngừng dội về, bủa vây tâm trí vốn dĩ nhạy cảm của cậu ấy, và đặc biệt là hình ảnh kinh hoàng tột độ cuối cùng mà Danforth nhất quyết không hé răng nửa lời ngay cả với tôi - đã trực tiếp đẩy cậu sinh viên tội nghiệp ấy vào tình trạng suy sụp tinh thần hiện tại.

Thế nhưng, cái giá đó là bắt buộc; bởi chúng tôi không thể nào đưa ra một lời cảnh báo thấu đáo nếu thiếu đi những dữ liệu tường minh nhất, và việc công bố lời cảnh báo đó đã trở thành một mệnh lệnh khẩn thiết đến tột cùng. Vẫn còn đó những thứ tà ác lẩn khuất giữa vùng Nam Cực vô danh, nơi dòng thời gian bị bóp méo và mọi quy luật tự nhiên đều trở nên dị hợm, buộc chúng tôi phải bằng mọi giá ngăn chặn bất kỳ nỗ lực thám hiểm nào đặt chân đến nơi đây.



  1. Chủ nghĩa vị lai (Futurism) là một phong trào nghệ thuật tiên phong đầu thế kỷ 20, đặc trưng bởi việc vứt bỏ các truyền thống nghệ thuật cũ để tôn vinh sự hỗn loạn, tốc độ, máy móc và công nghệ. ↩

  2. Nền văn minh Minoan là một nền văn minh thời đại đồ đồng (khoảng 3000-1100 TCN) rực rỡ trên đảo Crete (Hy Lạp). Tín ngưỡng của họ nổi bật với việc sùng bái bò đực, được xem là biểu tượng của sức mạnh tự nhiên và sự sinh sôi. ↩

  3. Thế Eocen (Thủy Tân) là một thế địa chất kéo dài từ khoảng 56 đến 33,9 triệu năm trước, đặc trưng bởi khí hậu rất ấm áp và sự phân hóa mạnh mẽ của động vật có vú. ↩

  4. Kỷ Phấn trắng (Cretaceous) là một kỷ địa chất kéo dài từ khoảng 145 đến 66 triệu năm trước. Đây là kỷ nguyên cuối cùng của khủng long trước khi biến cố tuyệt chủng hàng loạt xảy ra. ↩