Đã hiệu đính

CHƯƠNG X.

Nhiều người hẳn sẽ cho rằng chúng tôi là những kẻ vô cảm, thậm chí điên rồ, khi lại nghĩ đến đường hầm hướng bắc và vực thẳm ngay sau phát hiện đầy bi thương vừa rồi. Quả thực, chính tôi cũng không dám chắc chúng tôi sẽ sớm nối lại những suy tính ấy, nếu không có một tình huống bất ngờ ập đến, mở ra cả một chuỗi phỏng đoán hoàn toàn mới mẻ.

Chúng tôi vừa đậy lại tấm bạt lên thi thể tội nghiệp của cậu ấy (Gedney), đứng lặng người trong sự bàng hoàng câm nín, thì những âm thanh ấy bất chợt lọt vào tai. Đó là những tiếng động đầu tiên chúng tôi nghe thấy kể từ lúc rời khỏi khoảng không gian mở, nơi tiếng gió núi chỉ rít lên khe khẽ từ những đỉnh cao phi phàm. Dù âm thanh này vô cùng quen thuộc và trần tục, sự xuất hiện của nó giữa thế giới chết chóc xa xăm này lại mang đến một cảm giác bất an dị thường - còn đáng sợ hơn bất kỳ âm sắc quái đản hay hoang đường nào khác. Bởi lẽ, nó một lần nữa đảo lộn mọi khái niệm của chúng tôi về trật tự tự nhiên của vũ trụ.

Giả sử đó là tàn âm của tiếng rít the thé, trải dài qua nhiều quãng âm kỳ dị, giống như những gì báo cáo giải phẫu của anh Lake đã khiến chúng tôi hình dung về bọn sinh vật kia, và thực chất cũng chính là thứ âm thanh mà trí tưởng tượng đang căng như dây đàn của chúng tôi đã gán ghép cho mọi tiếng gió rít kể từ khi đặt chân đến khu trại kinh hoàng này. Nếu quả là vậy, thì nó sẽ mang một sự tương hợp đầy địa ngục với cái thế giới hoang tàn đã chết từ muôn vàn kỷ nguyên đang bao quanh chúng tôi. Một giọng nói của kỷ nguyên xa xăm, vọng về từ nấm mồ của một thời đại khác.

Thế nhưng, âm thanh thực tại đó lại đập nát mọi sự thích nghi vốn đã định hình vững chắc trong chúng tôi. Nó phá vỡ cả sự chấp nhận ngầm rằng vùng trung tâm Nam Cực này là một cõi hoang tàn, vĩnh viễn vắng bóng mọi vết tích của sự sống bình thường.

Thứ chúng tôi vừa nghe thấy không phải là những nốt nhạc rợn người từ bất kỳ thực thể báng bổ nào đang bị chôn vùi dưới lòng đất cổ đại, những thực thể mà lớp màng bọc siêu phàm của chúng đã bị mặt trời vùng cực đánh thức một cách quái dị. Thay vào đó, nó lại bình thường đến mức như một lời nhạo báng. Nó quen thuộc không thể nhầm lẫn, gợi nhắc những ngày đi biển ngoài khơi Victoria Land1 hay lúc cắm trại ở McMurdo Sound2. Chính điều đó khiến chúng tôi rùng mình ớn lạnh, bởi sự hiện diện của một thứ như thế ở đây là hoàn toàn trái với quy luật tự nhiên. Nói một cách ngắn gọn, đó chỉ đơn thuần là tiếng kêu quàng quạc khàn khàn của một con chim cánh cụt.

Âm thanh oang oác, nghèn nghẹt ấy vọng ra từ những hốc ngầm dưới lớp sông băng, dường như nằm ngay đối diện với hành lang mà chúng tôi vừa bước ra. Rõ ràng, nó xuất phát từ những khu vực dọc theo hướng của đường hầm dẫn đến vực thẳm bao la kia. Sự hiện diện của một loài chim nước ở hướng đó - giữa một thế giới mà bề mặt chỉ là sự chết chóc đồng nhất, kéo dài suốt các thời đại - chỉ có thể dẫn đến một kết luận duy nhất. Vì vậy, ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu chúng tôi là phải xác minh thực tại khách quan của âm thanh này. Quả thực, tiếng kêu đó lại vang lên lần nữa, và đôi lúc dường như phát ra từ nhiều cá thể khác nhau.

Lần theo hướng âm thanh, chúng tôi tiến vào một cổng vòm nơi phần lớn các mảnh vỡ đã được dọn sạch. Để lại ánh sáng ban ngày ở phía sau, chúng tôi tiếp tục đánh dấu đường đi bằng những mẩu giấy lấy từ các bó bạt trên xe trượt tuyết - một công việc giờ đây nhuốm màu ghê tởm kỳ lạ.

Khi mặt sàn đóng băng nhường chỗ cho một lớp mảnh vụn rải rác, chúng tôi lờ mờ nhận ra vài vết kéo lê dị thường. Thậm chí có lúc, cậu (Danforth) đã tinh mắt tìm thấy một dấu vết rất riêng biệt - một loại dấu ấn mà mọi nỗ lực mô tả lại đều trở nên thừa thãi. Hướng đi được chỉ dẫn bởi tiếng chim cánh cụt hoàn toàn trùng khớp với đường đi trên bản đồ và la bàn, hướng thẳng đến lối tiếp cận miệng hầm phía bắc. Chúng tôi mừng thầm khi phát hiện ra một lối đi thông thoáng xuyên qua các tầng trệt và tầng hầm mà không cần phải dùng đến cầu nối.

Theo bản đồ, đường hầm này đáng lẽ phải bắt đầu từ tầng hầm của một cấu trúc hình chóp khổng lồ. Từ những bức ảnh khảo sát trên không, chúng tôi lờ mờ nhớ lại rằng công trình này vẫn còn nguyên vẹn một cách đáng kinh ngạc. Dọc theo con đường, ngọn đuốc duy nhất trên tay vẫn soi rọi vô số bức phù điêu quen thuộc trên các vách tường, nhưng chúng tôi không hề dừng chân để nhìn ngắm thêm bất kỳ một tác phẩm nào trong số đó.

Đột ngột, một khối trắng đồ sộ hiện ra lờ mờ ngay phía trước, khiến chúng tôi lập tức rọi sáng ngọn đuốc thứ hai. Thật kỳ lạ là nỗi thôi thúc của cuộc tìm kiếm này đã tạm thời tước đi mọi nỗi hoảng sợ vẫn luôn ám ảnh tâm trí chúng tôi về những thứ có thể đang rình rập quanh đây. Những sinh vật kia, sau khi trút lại đống đồ tiếp tế tại khoang vòm tròn rộng lớn, chắc hẳn đã lên kế hoạch quay về sau chuyến thám thính vực thẳm; vậy mà giờ đây, chúng tôi đã gạt bỏ mọi sự dè chừng về sự tồn tại của chúng một cách triệt để, tựa như chúng chưa từng hiện diện.

Cái sinh vật lạch bạch màu trắng ấy cao chừng sáu feet, nhưng dường như ngay tắp lự, cả hai chúng tôi đều nhận thức rõ rằng nó không phải là một trong những kẻ đó. Những kẻ kia to lớn và tối màu hơn nhiều, và chiểu theo những bức phù điêu khắc tạc, cách chúng di chuyển trên mặt đất dẫu dị hợm bởi những xúc tu sinh ra từ lòng biển sâu, nhưng lại vô cùng thoăn thoắt và vững chãi. Thế nhưng, nếu nói rằng thứ hình thù trắng toát ấy không khiến chúng tôi kinh khiếp thì quả là dối trá. Đúng vậy, trong một khoảnh khắc tê dại, chúng tôi đã bị bóp nghẹt bởi một nỗi kinh hoàng nguyên thủy, sắc bén và mãnh liệt hơn hẳn những nỗi sợ đầy lý trí về lũ sinh vật kia.

Ngay sau đó là một sự nhẹ nhõm đột ngột khi cái hình thù màu trắng ấy lạch bạch rẽ ngoặt vào một cổng vòm phụ bên trái để hội ngộ với hai đồng loại đang cất tiếng gọi nó bằng những âm thanh khàn đặc, thô ráp. Bởi lẽ, nó chỉ là một con chim cánh cụt - dù thuộc về một giống loài khổng lồ vô danh, to lớn hơn bất kỳ con chim cánh cụt hoàng đế nào từng được ghi nhận, và mang một vẻ ngoài gớm ghiếc bởi sự kết hợp dị thường giữa chứng bạch tạng và tình trạng gần như vô nhãn.

Bám theo nó qua cổng vòm và rọi thẳng hai ngọn đuốc vào nhóm ba con chim đang thản nhiên đứng đó, hoàn toàn phớt lờ vạn vật xung quanh, chúng tôi lập tức nhận ra tất cả bọn chúng đều là những sinh thể bạch tạng mù lòa của cùng một giống loài khổng lồ chưa từng được thế giới biết tới.

Kích thước dị thường của chúng ngay lập tức gợi nhắc chúng tôi về loài chim cánh cụt cổ đại từng được khắc họa trong những bức phù điêu của Cổ Nhân. Chẳng mất bao nhiêu thời gian, lý trí đã giúp chúng tôi đi đến kết luận: chúng chính là hậu duệ của dòng giống cổ xưa ấy - những sinh vật chắc chắn đã sống sót nhờ lẩn trốn vào một vùng nội tại ấm áp hơn nơi đáy sâu. Tại đó, bóng tối vĩnh hằng đã tước đoạt toàn bộ sắc tố và đánh teo đôi mắt chúng, chỉ để lại những khe nứt vô hồn và vô dụng.

Không còn chút nghi ngờ nào nữa, môi trường sống hiện tại của bọn chim chính là cái vực thẳm bao la mà chúng tôi đang hằng tìm kiếm; và bằng chứng rõ rệt này về hơi ấm cùng khả năng duy trì sự sống nơi đáy sâu thăm thẳm đã phủ ngập tâm trí chúng tôi bằng những mường tượng dị thường, nhuốm màu nhiễu loạn tinh vi.

Chúng tôi cũng không khỏi băn khoăn về lý do đã xui khiến ba con chim này mạo hiểm rời khỏi vùng lãnh địa quen thuộc. Bầu không khí chết chóc và tĩnh lặng đến rợn người của thành phố phế tích là minh chứng rõ ràng nhất cho việc nơi đây chưa từng là bãi đẻ trứng theo mùa, trong khi thái độ thờ ơ đến đáng sợ của cả ba trước sự hiện diện của chúng tôi lại khiến cho giả thuyết về việc chúng bị kinh động bởi một nhóm sinh vật đi ngang qua trở nên vô cùng khiên cưỡng.

Liệu có thể nào những kẻ kia đã manh nha một ý đồ hung hãn nào đó, hay đang cố lùng sục để vỗ béo nguồn dự trữ thịt? Chúng tôi ngờ rằng thứ mùi ngai ngái kinh tởm vốn khiến bầy chó phát rồ kia có thể cũng gây ra nỗi ác cảm tương tự ở bầy chim cánh cụt này; bởi lẽ tổ tiên của chúng, như đã rõ, từng chung sống vô cùng thuận hòa với Cổ Nhân - một mối giao hảo êm đềm hẳn đã tồn tại nơi vực sâu chừng nào Cổ Nhân còn ngự trị.

Mang theo một sự tiếc nuối thoảng qua - khi ngọn lửa nhiệt huyết của tinh thần khoa học thuần túy thuở nào chợt bùng lên mãnh liệt - vì không thể ghi hình lại những cá thể dị thường này, chẳng mấy chốc chúng tôi đã phải dứt khoát bỏ mặc chúng cùng những tiếng kêu quàng quạc vô nghĩa để hối hả lao về phía vực thẳm. Sự thông thoáng của nó giờ đây đã được chứng minh một cách không thể chối cãi, và hướng đi chính xác cũng đã được định đoạt bởi những dấu chân chim cánh cụt thỉnh thoảng lại in hằn trên mặt đất.


Chẳng bao lâu sau, một đoạn dốc đứng đổ nhào xuống một hành lang dài hun hút, thấp lè tè, không lấy một khe cửa và tuyệt nhiên vắng bóng mọi vết tích chạm trổ, khiến chúng tôi tin rằng miệng hầm cuối cùng đã ở ngay trước mặt. Chúng tôi lại vừa bước qua thêm hai con chim cánh cụt nữa.

Rồi hành lang ấy đột ngột bung ra thành một không gian mênh mông đến độ chúng tôi bất giác phải trút ra một tiếng thở hắt kinh ngạc. Đó là một bán cầu lật ngược hoàn hảo, hiển nhiên bị vùi sâu dưới lòng đất, với đường kính trọn một trăm feet và vòm trần cao tới năm mươi feet. Những cổng vòm thấp bé há miệng rải rác khắp chu vi, ngoại trừ một điểm duy nhất: một lỗ hổng đen ngòm, mang hình vòm cung khổng lồ, lún sâu vào vách tường như một hang động rộng lớn phá vỡ tính đối xứng hoàn mỹ của mái vòm để vươn tới độ cao ngót nghét mười lăm feet. Đó đích thị là lối vào của vực thẳm vĩ đại.

Bên trong bán cầu khổng lồ này, nơi vòm trần lõm sâu mang những nét chạm trổ dẫu đã nhạt phai nhưng vẫn lưu giữ nguyên vẹn tàn tích của một mái vòm thiên thể nguyên thủy, có vài con chim cánh cụt bạch tạng đang lạch bạch bước qua lại. Chúng hiện diện hệt như những kẻ lạc loài, song lại vô cảm và hoàn toàn mù lòa. Đường hầm đen ngòm mở rộng thênh thang vào vô định, trải dài xuống theo một sườn dốc dựng đứng, với phần cửa hầm được bao quanh bởi những trụ đứng và dầm ngang đục đẽo vô cùng dị hợm.

Từ chính cái miệng hầm kỳ dị ấy, chúng tôi lờ mờ cảm nhận được một luồng khí nong nóng, có lẽ mang theo cả làn hơi nước mờ mịt phả ra; và cả hai tự hỏi, ẩn sâu dưới cõi hư vô vô tận kia, chen chúc trong mạng lưới chằng chịt nối liền lòng đất với những ngọn núi khổng lồ, ngoài loài chim cánh cụt ra, cõi âm u ấy còn đang dung túng cho những thực thể sống nào khác?

Chúng tôi cũng không ngừng thắc mắc, liệu vệt khói phất phơ trên đỉnh núi mà anh Lake từng ngờ vực thuở ban đầu, hay chính cái màng sương mù quái đản quấn lấy dải núi đá lởm chởm rào chắn mà tự tay chúng tôi đã cảm nhận, có phải đều bắt nguồn từ lớp hơi nước hầm hập kia, len lỏi qua mạng lưới kênh rạch ngoằn ngoèo rồi trào lên từ tận đáy sâu khôn dò của lõi Trái Đất hay không.

Dấn bước vào đường hầm, chúng tôi nhận ra cấu trúc của nó - ít nhất là ở đoạn đầu tiên - mở rộng khoảng mười lăm feet cả bề ngang lẫn bề cao. Từ hai bên vách, mặt sàn cho đến vòm trần đều được ghép bằng những khối đá cự thạch3 quy chuẩn. Dọc theo hai bên thành hầm lác đác những khung hoa văn điêu khắc rập khuôn theo lối trang trí truyền thống, mang đậm dấu ấn của một thời kỳ suy tàn muộn màng; và kỳ lạ thay, toàn bộ kiến trúc lẫn mọi đường nét chạm trổ ấy lại nguyên vẹn đến mức kinh ngạc.

Mặt sàn hầm khá trơn láng, chỉ lấm tấm một lớp mùn mỏng phô bày chi chít những vết chân chim cánh cụt hướng ra ngoài, lẫn lộn cùng những vệt chân khác thường của lũ sinh vật kia hướng vào trong. Càng tiến sâu xuống dưới, không khí càng hầm hập; đến mức chẳng mấy chốc, chúng tôi đã vội vàng trút bỏ bớt đống áo quần sù sụ. Hai người miên man tự hỏi liệu dưới tận đáy sâu kia có đang sục sôi một mảng núi lửa nào không, và liệu chăng thứ nước lềnh bềnh của cái biển cả không bao giờ biết đến mặt trời ấy có đang sôi sục?

Trôi qua một đoạn ngắn, những khối đá tảng ghép nối bắt đầu nhường chỗ cho một nền đá đặc nguyên khối, dẫu vậy đường hầm vẫn duy trì y nguyên tỷ lệ kích thước và khoác lên mình vẻ trơn tru đều đặn của một công trình đục đẽo công phu. Đôi chỗ, độ dốc thất thường của nó cắm ngoặt xuống đến độ người ta đã phải cắt sâu những rãnh khía vào mặt sàn để bám víu.

Vài bận, đập vào mắt chúng tôi là miệng hầm của vô số những ngách đi nhỏ tỏa ra hai bên, vốn chưa từng được phác họa trên bản sơ đồ trong tay; dù sao không một lối rẽ nào trong số đó đủ sức làm nhiễu loạn chặng đường thoái lui của cả hai, và chúng tôi thầm chào đón tất thảy như những hốc trú ẩn cứu mạng tiềm tàng, phòng khi chẳng may đụng độ những thực thể quái gở đang lừ lừ quay về từ vực thẳm.

Thứ mùi hôi tanh vô danh của bọn sinh vật kia bốc lên đặc quánh. Chắc chắn rồi, việc đâm đầu vào cái hầm ngầm này giữa muôn trùng hiểm nguy đã rành rành ngay trước mắt không khác gì một hành động tự sát điên rồ, nhưng ma lực cám dỗ của những cõi vô hình chưa từng được khai phá lại luôn trỗi dậy mãnh liệt ở một số người, vượt xa mọi phỏng đoán thông thường của đám đông - rốt cuộc, chẳng phải chính ma lực đó đã thôi thúc chúng tôi đặt chân tới dải băng hoang sơ dị thường này ngay từ buổi sơ khai hay sao.

Vài con chim cánh cụt lảo đảo lướt qua tầm mắt, trong lúc chúng tôi mải miết phỏng đoán xem mình còn phải dấn bước bao xa nữa. Những bức phù điêu chạm trổ từng gieo rắc vào đầu chúng tôi niềm kỳ vọng về một cuộc đổ dốc chừng một dặm để chạm tới vực thẳm, nhưng những chuyến lang bạt rợn ngợp trước đó đã kịp dạy cho chúng tôi một bài học tàn khốc rằng, mọi thước đo tỷ lệ ở cái chốn quỷ quái này đều không thể tin cậy nổi.

Nuốt trọn thêm một phần tư dặm, cái thứ mùi tởm lợm vô danh kia đột ngột cô đặc lại sặc sụa, buộc chúng tôi phải căng mắt ra để canh chừng cẩn mật mọi lối mở phụ trượt qua. Tuyệt nhiên chẳng thấy gợn sương mù nào bủa vây như lúc ở cửa miệng hầm, nhưng điều này ắt hẳn là do sự thiếu vắng của những luồng khí lạnh tương phản. Nhiệt độ đang vọt lên chóng mặt, và hai người chẳng lấy gì làm lạ khi tình cờ bắt gặp một đống bùng nhùng bị vứt lăn lóc, cẩu thả, mang một vẻ quen thuộc đến lạnh buốt sống lưng. Chẳng gì khác, đó là túm lông thú và vải bạt lều được lấy đi từ khu trại của anh Lake; chúng tôi chẳng màng dừng chân lại để ngắm nghía những vết xé rách dị hợm hằn in trên mớ vải vóc xác xơ ấy.

Vượt qua trạm gác rùng rợn đó đôi chút, chúng tôi nhận ra các ngách hầm hai bên bỗng bành trướng thấy rõ cả về kích thước lẫn số lượng, và nhanh chóng kết luận rằng có lẽ mình đã đặt chân vào trung tâm của cái mạng lưới hang động chi chít như tổ ong nằm sâu dưới lòng những ngọn núi ngất ngưởng.

Cái thứ mùi hôi thối vô danh giờ đây đã bị hòa quyện một cách dị hợm với một mùi bốc lên tởm lợm không kém - mà về căn nguyên của nó, trí óc chúng tôi hoàn toàn bất lực trong việc mường tượng, dù cả hai đã cố gắng bám víu vào ý nghĩ về những cái xác sinh vật rữa nát, hay thậm chí là tàn dư của những chủng nấm mốc dị hình ngầm lẩn khuất dưới lòng đất sâu.

Ngay sau đó, đường hầm bỗng chốc mở rộng một cách đáng kinh ngạc, vượt ngoài mọi chuẩn bị tâm lý mà những bức chạm trổ từng gợi nhắc cho chúng tôi - trần hầm vút cao và vách đá bành trướng, tạo nên một hang động khổng lồ mang hình bầu dục, uy nghi vòi vọi. Cấu trúc ấy hằn lên vẻ kiến tạo nguyên sơ tự nhiên với bề mặt nền phẳng lì, dài độ bảy mươi lăm feet và rộng đến năm mươi feet, được bao quanh bởi hằng hà sa số những cửa phụ khổng lồ dẫn thẳng vào bóng tối đặc quánh đầy bí hiểm.


Khi thoạt nhìn, hang động này chỉ mang vẻ nguyên sơ của tạo hóa, nhưng khi chúng tôi lia cả hai ngọn đuốc soi rọi, những dấu vết phá hủy nhân tạo trên các vách ngăn giữa những cấu trúc tổ ong liền kề bắt đầu lộ rõ. Các vách tường đều nham nhở sần sùi, phần mái vòm vút cao chi chít nhũ đá rủ xuống; thế nhưng, mặt sàn bằng đá nguyên khối lại nhẵn thín đến lạnh người. Bề mặt ấy hoàn toàn vắng bóng mảnh vỡ, mùn đất, hay thậm chí là một hạt bụi mỏng manh-một sự sạch sẽ dị thường đến mức phi lý và đầy ám ảnh.

Trừ con đường chúng tôi vừa mạo hiểm bước qua, tình trạng quái gở này cũng lặp lại trên mặt sàn của mọi hành lang kỳ vĩ tỏa ra từ hang động. Sự vô lý tột cùng của hiện tượng này đã dìm chúng tôi vào một hố sâu bối rối, pha lẫn sự tuyệt vọng đến nghẹt thở.

Thứ mùi hôi thối lạ lẫm, tởm lợm vừa chèn lên thứ mùi vô danh kia giờ đây cuộn lên nồng nặc đến nghẹt thở, hung hãn đến mức triệt tiêu hoàn toàn mọi tàn dư của mùi hương trước đó. Bao trùm lên toàn bộ không gian này, với mặt sàn được mài nhẵn đến mức gần như sáng bóng lấp lánh, là một bầu không khí quái gở gieo rắc vào tâm trí chúng tôi một nỗi kinh hoàng mơ hồ nhưng bóp nghẹt-một sự bối rối tột độ vượt xa bất kỳ thực thể gớm ghiếc nào mà chúng tôi từng xui xẻo chạm trán.

May thay, sự thẳng tắp đều đặn của lối đi ngay phía trước đã giúp chúng tôi không bị lạc lối giữa vô vàn những miệng hang khổng lồ nhang nhác nhau. Dẫu vậy, chúng tôi vẫn quyết định tiếp tục rải giấy đánh dấu đường đi đề phòng bất trắc, bởi lẽ ở nơi chốn quái quỷ này, thật rồ dại nếu còn trông chờ vào bất kỳ dấu vết vụn đất hay bụi bặm nào.

Ngay khi tiếp tục dấn bước vào bóng tối câm lặng, chúng tôi lia một luồng đuốc lên các vách đường hầm-và lập tức khựng lại, bàng hoàng tột độ trước một sự biến đổi triệt để trên các bức bích họa ở đoạn đường này. Đương nhiên, chúng tôi đã lường trước được sự suy thoái kinh hoàng trong nghệ thuật điêu khắc của giống loài Cổ Nhân vào thời kỳ đào hệ thống hầm ngầm này, và quả thực cũng đã chú ý đến kỹ thuật điêu khắc tồi tàn của những họa tiết arabesque rải rác trên chặng đường vừa qua.

Thế nhưng giờ đây, tại phân đoạn thăm thẳm sâu hơn của hang động, lại phơi bày một sự dị biệt đột ngột đến mức vượt ngoài mọi nỗ lực lý giải của lý trí nhân loại-một sự dị biệt không chỉ ở chất lượng chạm trổ đơn thuần mà bám sâu vào tận cốt lõi bản chất. Nó phản ánh một sự tha hóa thảm khốc và điên rồ về kỹ năng, sâu sắc đến mức không một tốc độ suy tàn nào mà chúng tôi từng quan sát trước đó có thể chuẩn bị tâm lý cho chúng tôi đón nhận cú sốc này.

Thứ tác phẩm suy đồi và dị hợm này hiện lên cực kỳ thô thiển, bạo liệt, và bị tước đoạt hoàn toàn mọi sự tinh tế trong chi tiết. Chúng bị đục khoét bằng những nét khắc chìm sâu hoắm đến mức phóng đại trên các dải hoa văn chạy dọc theo cùng một đường nét chung như ở các phân đoạn trước, nhưng phần chóp của những bức phù điêu lại teo tóp và lọt thỏm so với bề mặt tổng thể của vách đá.

Cậu Danforth chợt nảy ra một phỏng đoán táo bạo rằng đây thực chất là một bản khắc thứ hai-một dạng phù điêu ghi đè được đục đẽo vội vã sau khi kẻ nào đó đã cào xóa hoàn toàn một thiết kế trước đó. Về bản chất, chúng hoàn toàn mang tính trang trí sáo rỗng, cấu thành từ những đường xoắn ốc và góc cạnh thô kệch cố tuân theo thứ truyền thống toán học hệ năm4 của giống loài Cổ Nhân một cách hời hợt. Thế nhưng, trông chúng giống một trò nhại lại đầy quái gở và báng bổ hơn là một sự kế thừa thiêng liêng.

Vì thời gian là thứ xa xỉ mà chúng tôi không thể đánh cược thêm để nghiên cứu những hình hài điên rồ này, chúng tôi đành lướt qua chúng bằng một ánh nhìn vội vã rồi lại cắm cúi lao về phía trước.

Trên đường đi, bóng dáng và những tiếng kêu quàng quạc của lũ chim cánh cụt vơi dần, thế nhưng chúng tôi lại ngờ ngợ như thể nghe thấy một dàn hợp xướng âm u vẳng lại từ một cõi xa xăm vô định nào đó tận cùng dưới những tầng đất sâu. Cùng lúc ấy, thứ mùi lạ lẫm đầy bệnh hoạn và phi lý đó xộc lên nồng nặc đến mức muốn mửa, xóa sạch không còn chút tăm hơi nào của cái thứ mùi vô danh ghê tởm lúc trước.

Những màn hơi nước ngưng tụ đục ngầu cuộn lên phía trước báo hiệu một sự chênh lệch nhiệt độ đột ngột, minh chứng cho sự hiện diện kề cận của những vách đá biển câm lặng, chìm khuất dưới bóng tối muôn đời của vực thẳm vĩ đại. Và rồi, hoàn toàn không một lời báo trước, chúng tôi chết trân khi trông thấy những khối chướng ngại vật chắn ngang trên mặt sàn đá bóng loáng ngay phía trước-những thứ mà chắc chắn không thể nào là chim cánh cụt. Phải mất một lúc trấn tĩnh để đoan chắc rằng những cái bóng chết chóc kia hoàn toàn bất động, chúng tôi mới dám run rẩy bật ngọn đuốc thứ hai soi thẳng vào chúng.



  1. Một vùng đất rộng lớn ở Nam Cực, được nhà thám hiểm người Anh James Clark Ross phát hiện vào năm 1841 và được đặt theo tên của Nữ hoàng Victoria. ↩

  2. Một eo biển ở Nam Cực, là một phần của Biển Ross, từng đóng vai trò là tuyến đường thủy quan trọng cho nhiều cuộc thám hiểm Nam Cực đầu thế kỷ 20. ↩

  3. Thuật ngữ khảo cổ học (tiếng Anh: megalith) chỉ những khối đá có kích thước khổng lồ được sử dụng để xây dựng các công trình thời tiền sử mà không cần dùng đến vữa kết dính. ↩

  4. Hệ đếm cơ số 5 (quinary system), sử dụng số 5 làm cơ sở thay vì hệ thập phân (cơ số 10) như của con người. Trong sinh học, hệ đếm này thường bắt nguồn từ cấu trúc giải phẫu đối xứng xuyên tâm 5 phần (như sao biển). ↩