🎧 Nghe chương này

I. VỤ BÊ BỐI XỨ BOHEMIA

I.

Đối với Sherlock Holmes, cô ấy luôn là người phụ nữ đó. Tôi hiếm khi nghe anh nhắc đến cô bằng bất kỳ cái tên nào khác. Trong mắt anh, cô làm lu mờ và lấn át toàn bộ phái nữ. Không phải vì anh nảy sinh bất kỳ cảm xúc nào giống như tình yêu dành cho Irene Adler. Mọi cảm xúc, và đặc biệt là tình cảm nam nữ, đều đáng ghê tởm đối với một trí óc lạnh lùng, chính xác nhưng vô cùng cân bằng như anh. Theo tôi, anh là cỗ máy quan sát và suy luận hoàn hảo nhất mà thế giới từng chứng kiến. Nhưng nếu đóng vai một kẻ đang yêu, anh sẽ tự đặt mình vào một tình thế sai lầm. Anh không bao giờ nói về những đam mê ủy mị, ngoại trừ buông những lời mỉa mai và chế nhạo. Với một người quan sát, những cảm xúc đó thật đáng ngưỡng mộ-chúng rất tuyệt vời để vén bức màn che đậy động cơ và hành động của con người. Nhưng đối với một chuyên gia suy luận được đào tạo bài bản, việc để cho những yếu tố yếu mềm xâm nhập vào tính khí tinh tế và được tinh chỉnh kỹ lưỡng của bản thân sẽ tạo ra một yếu tố gây xao nhãng. Nó có thể gieo rắc sự nghi ngờ lên mọi kết quả suy luận trí tuệ của anh. Cát bụi lọt vào một thiết bị nhạy cảm, hay một vết nứt trên một trong những thấu kính công suất cao, cũng chẳng thể gây xáo trộn bằng một thứ cảm xúc mãnh liệt lọt thỏm vào trong bản chất của anh. Mặc dù vậy, đối với anh, vẫn chỉ có một người phụ nữ duy nhất. Và người phụ nữ đó là Irene Adler quá cố, mang theo những ký ức không rõ ràng và đầy ngờ vực.

Gần đây tôi ít gặp Holmes. Cuộc hôn nhân của tôi đã đẩy chúng tôi xa nhau. Hạnh phúc trọn vẹn của riêng tôi, cùng với những mối bận tâm vun vén cho tổ ấm khi một người đàn ông lần đầu tiên nhận thấy mình làm chủ cơ ngơi, đã đủ để thu hút toàn bộ sự chú ý của tôi. Trong khi đó, Holmes-người căm ghét mọi hình thức giao tế xã hội bằng cả tâm hồn nghệ sĩ phóng túng của mình-vẫn nán lại căn hộ của chúng tôi trên phố Baker. Anh vùi đầu vào những cuốn sách cũ kỹ, và từ tuần này sang tuần khác, anh cứ luân phiên chìm đắm giữa làn khói trắng và tham vọng, giữa cơn mơ màng do thứ thuốc đó mang lại và nguồn năng lượng sục sôi của chính bản chất nhạy bén trong anh. Anh vẫn vậy, như mọi khi, bị thu hút sâu sắc bởi việc nghiên cứu tội phạm. Anh dồn hết năng lực to lớn cùng khả năng quan sát phi thường của mình vào việc lần theo manh mối, tháo gỡ những bí ẩn mà cảnh sát đã phải bó tay bỏ cuộc. Thỉnh thoảng, tôi có nghe được vài tin tức mơ hồ về những việc anh làm: về chuyện anh được triệu tập đến Odessa trong vụ án mạng Trepoff, chuyện anh làm sáng tỏ bi kịch kỳ lạ của anh em nhà Atkinson tại Trincomalee, và cuối cùng là nhiệm vụ vô cùng tế nhị mà anh đã hoàn thành xuất sắc cho hoàng gia Hà Lan. Tuy nhiên, ngoài những tin tức về hoạt động của anh mà tôi đọc được trên báo chí hàng ngày giống như bao độc giả khác, tôi biết rất ít về người bạn và người đồng hành cũ của mình.

Một đêm nọ-vào ngày hai mươi tháng Ba năm 1888-tôi đang trên đường trở về sau chuyến thăm khám cho một bệnh nhân (bởi lúc này tôi đã quay lại hành nghề y tư nhân), thì con đường dẫn tôi đi ngang qua phố Baker. Khi bước qua cánh cửa quen thuộc, nơi sẽ luôn in đậm trong tâm trí tôi cùng những kỷ niệm về quá trình theo đuổi tình yêu của mình, và những sự kiện đen tối của Hồ Sơ Vụ Án Màu Đỏ Thẫm1, bỗng nhiên tôi trào dâng một khao khát mãnh liệt được gặp lại Holmes. Tôi muốn biết anh đang sử dụng những năng lực phi thường của mình như thế nào. Căn phòng của anh sáng rực rỡ. Ngay khi tôi vừa ngước nhìn lên, tôi đã thấy dáng người cao, gầy của anh hai lần đi ngang qua tạo thành một bóng đen in hằn trên tấm rèm. Anh đang sải bước quanh phòng một cách nhanh nhẹn, hăm hở, đầu cúi gục trước ngực và hai tay chắp sau lưng. Đối với một người hiểu rõ mọi tâm trạng và thói quen của anh như tôi, thái độ và điệu bộ đó tự thân chúng đã nói lên tất cả. Anh lại đang làm việc. Anh đã vươn lên khỏi những giấc mơ do ma túy tạo ra và đang hăm hở lần theo dấu vết của một vấn đề mới nào đó. Tôi bấm chuông và được người ta dẫn lên căn phòng trước đây từng có một phần là của riêng tôi.

Thái độ của anh không vồn vã. Anh hiếm khi như vậy; nhưng tôi nghĩ anh rất vui khi gặp tôi. Gần như chẳng nói lời nào, chỉ bằng một ánh mắt thân thiện, anh chỉ tôi ngồi vào chiếc ghế bành, ném sang hộp xì gà, và ra hiệu về phía hộp đựng rượu cùng bình ga ở trong góc. Sau đó, anh đứng trước lò sưởi và nhìn tôi từ đầu đến chân theo thói quen quan sát nội tâm kỳ lạ của anh.

"Hôn nhân có vẻ hợp với anh đấy," anh nhận xét. "Tôi nghĩ, Watson, rằng anh đã tăng thêm bảy pound rưỡi kể từ lần cuối tôi gặp anh."

"Bảy!" Tôi trả lời.

"Quả thực, tôi đã nghĩ là nhiều hơn một chút. Chỉ một chút xíu nữa thôi, tôi cho là vậy, Watson. Và tôi quan sát thấy, anh lại đang hành nghề. Anh đã chẳng hề nói với tôi rằng anh định quay lại với công việc."

"Vậy thì, làm sao anh biết?"

"Tôi nhìn thấy nó, tôi suy luận ra nó. Làm sao tôi biết rằng gần đây anh đã bị ướt sũng, và rằng anh có một cô hầu gái cực kỳ vụng về và bất cẩn?"

"Holmes thân mến," tôi nói, "điều này là quá đáng rồi. Anh chắc chắn sẽ bị thiêu sống, nếu anh sống ở vài thế kỷ trước. Đúng là tôi đã có một chuyến đi dạo vùng nông thôn vào thứ Năm và trở về nhà trong tình trạng vô cùng lộn xộn. Nhưng vì tôi đã thay quần áo nên tôi không thể tưởng tượng được làm sao anh có thể suy luận ra điều đó. Còn về Mary Jane, cô ta đúng là hết thuốc chữa, và vợ tôi đã cho cô ta nghỉ việc rồi. Nhưng một lần nữa, tôi lại không hiểu làm sao anh tính ra được chuyện đó."

Anh bật cười khúc khích và xoa xoa hai bàn tay dài, bồn chồn vào nhau.

"Nó đơn giản vô cùng," anh nói; "đôi mắt tôi mách bảo rằng ở mặt trong chiếc giày trái của anh, ngay vị trí ánh lửa chiếu vào, lớp da bị rạch sáu vết cắt gần như song song. Rõ ràng chúng được tạo ra bởi một người nào đó đã cạo quanh viền đế giày một cách vô cùng bất cẩn nhằm loại bỏ bùn đóng cục. Do đó, anh thấy đấy, sự suy luận kép của tôi rằng anh đã ra ngoài trong thời tiết khắc nghiệt, và rằng anh có một mẫu người hầu gái rạch bốt đặc biệt ác tâm của London. Còn về việc hành nghề của anh, nếu một quý ông bước vào phòng tôi với mùi i-ốt bốc lên, với một vệt đen của nitrat bạc trên ngón trỏ phải, và một chỗ phồng ở bên phải chiếc mũ chóp cao cho thấy nơi anh ta giấu ống nghe, tôi hẳn phải cực kỳ ngu ngốc nếu không khẳng định anh ta là một thành viên đang hoạt động của giới y khoa."

Tôi không thể nhịn cười trước sự dễ dàng mà anh dùng để giải thích quá trình suy luận của mình. "Khi nghe anh đưa ra lý do," tôi nhận xét, "mọi việc luôn luôn có vẻ nực cười đến mức tôi nghĩ mình cũng có thể dễ dàng làm được. Mặc dù ở mỗi ví dụ suy luận liên tiếp của anh, tôi đều bị bối rối cho đến khi anh giải thích cặn kẽ quá trình của mình. Tuy nhiên, tôi tin rằng mắt tôi cũng tinh tường chẳng kém gì anh."

"Hoàn toàn đúng," anh trả lời, châm một điếu thuốc, và gieo mình xuống chiếc ghế bành. "Anh có nhìn thấy, nhưng anh không quan sát. Sự khác biệt là rất rõ ràng. Ví dụ, anh đã thường xuyên nhìn thấy những bậc thang dẫn từ sảnh lên phòng này."

"Thường xuyên."

"Bao nhiêu lần?"

"Chà, hàng trăm lần."

"Vậy có bao nhiêu bậc?"

"Bao nhiêu á? Tôi không biết."

"Hoàn toàn đúng! Anh đã không quan sát. Mặc dù anh đã nhìn thấy. Đó chính là quan điểm của tôi. Giờ thì, tôi biết rằng có mười bảy bậc, bởi vì tôi đã vừa nhìn thấy vừa quan sát. Nhân tiện, vì anh quan tâm đến những vấn đề nhỏ bé này, và vì anh đủ tốt bụng để ghi chép lại một hay hai trải nghiệm vụn vặt của tôi, anh có thể sẽ quan tâm đến thứ này." Anh ném sang một tờ giấy viết thư dày, nhuốm màu hồng đang mở sẵn trên bàn. "Nó đến qua chuyến thư cuối cùng," anh nói. "Đọc to lên đi."

Tờ giấy không đề ngày tháng, và không có chữ ký hay địa chỉ.

"Sẽ có một vị khách đến thăm ngài vào tối nay, lúc bảy giờ kém mười lăm phút," nó viết, "một quý ông mong muốn tham khảo ý kiến ngài về một vấn đề vô cùng hệ trọng. Những dịch vụ gần đây của ngài đối với một trong những hoàng gia châu Âu đã cho thấy ngài là người có thể được tin tưởng giao phó những vấn đề có tầm quan trọng khó lòng phóng đại. Chúng tôi đã nhận được những đánh giá này về ngài từ khắp mọi nơi. Hãy ở trong phòng ngài vào giờ đó, và đừng phật ý nếu vị khách của ngài đeo mặt nạ."

"Quả thực đây là một bí ẩn," tôi nhận xét. "Anh tưởng tượng xem nó có nghĩa là gì?"

"Tôi chưa có dữ liệu nào cả. Thật là một sai lầm nghiêm trọng khi lập luận trước khi có dữ liệu. Một cách vô thức, người ta bắt đầu bóp méo sự thật cho phù hợp với lý thuyết, thay vì điều chỉnh lý thuyết cho phù hợp với sự thật. Nhưng hãy nhìn vào bản thân tờ giấy. Anh suy luận được gì từ nó?"

Tôi xem xét kỹ nét chữ, và loại giấy mà nó được viết trên đó.

"Người viết tờ giấy này có lẽ rất khá giả," tôi nhận xét, cố gắng bắt chước các phương pháp của anh bạn mình. "Loại giấy như vậy không thể mua với giá dưới nửa crown2 một xấp. Nó đặc biệt dai và cứng."

"Đặc biệt-đó chính là từ đó," Holmes nói. "Nó hoàn toàn không phải là giấy của Anh. Cầm nó lên chỗ sáng xem."

Tôi làm theo, và nhìn thấy một chữ "E" lớn với một chữ "g" nhỏ, một chữ "P", và một chữ "G" lớn với một chữ "t" nhỏ được dệt chìm vào kết cấu của tờ giấy.

"Anh nghĩ sao về điều đó?" Holmes hỏi.

"Không nghi ngờ gì nữa, đó là tên của nhà sản xuất; hay đúng hơn là chữ lồng của ông ta."

"Không hề. Chữ 'G' với chữ 't' nhỏ là viết tắt của 'Gesellschaft', trong tiếng Đức có nghĩa là 'Công ty'. Nó là một cách viết tắt thông thường giống như 'Co.' của chúng ta vậy. Chữ 'P', tất nhiên, là viết tắt của 'Papier' (Giấy). Bây giờ đến chữ 'Eg'. Hãy lướt qua cuốn Danh mục Địa lý Lục địa của chúng ta nào." Anh lấy một cuốn sách dày màu nâu từ trên kệ xuống. "Eglow, Eglonitz-đây rồi, Egria. Nó nằm ở một quốc gia nói tiếng Đức-thuộc Bohemia, không xa Carlsbad. 'Được biết đến là nơi Wallenstein qua đời, và nổi tiếng với vô số các nhà máy thủy tinh và xưởng giấy.' Ha, ha, cậu bạn của tôi, anh nghĩ sao về điều đó?" Đôi mắt anh lấp lánh, và anh nhả ra một đám khói xanh lớn đầy đắc thắng từ điếu thuốc của mình.

"Tờ giấy được sản xuất ở Bohemia," tôi nói.

"Chính xác. Và người viết bức thư này là một người Đức. Anh có chú ý đến cấu trúc kỳ lạ của câu-'Những đánh giá này về ngài, chúng tôi đã từ khắp mọi nơi nhận được' không? Một người Pháp hay một người Nga không thể viết như vậy. Chỉ có người Đức mới cư xử thô lỗ với các động từ của anh ta như vậy. Do đó, chỉ còn lại việc khám phá xem người Đức viết trên giấy Bohemia và thích đeo mặt nạ hơn là để lộ khuôn mặt này thực sự muốn gì. Và anh ta đang đến đây, nếu tôi không nhầm, để giải đáp mọi nghi ngờ của chúng ta."

Đúng lúc anh cất lời, một tràng gõ móng ngựa đanh giòn vang lên cùng tiếng bánh xe nghiến ken két sát mép lề đường, ngay sau đó là một cú giật chuông dứt khoát và mạnh bạo. Holmes khẽ huýt sáo.

"Tiếng vang này ắt hẳn là của một đôi ngựa," anh phán đoán. "Quả không sai," anh tiếp lời khi liếc mắt qua khung cửa sổ. "Một cỗ xe brougham3 nhỏ nhắn sang trọng, kéo bởi cặp ngựa đẹp mã tuyệt trần. Đáng giá một trăm rưỡi guinea mỗi con chứ chẳng chơi. Vụ này rủng rỉnh ra phết đây, Watson ạ, dẫu chưa bàn tới khía cạnh nào khác."

"Tôi e là mình nên lùi bước thì hơn, Holmes ạ."

"Nào có chuyện đó, Bác sĩ thân mến. Anh cứ ngồi yên đấy. Thiếu vắng chàng Boswell của riêng mình4, tôi hẳn sẽ lạc lối mất. Hơn nữa, vụ này hứa hẹn vô vàn điều thú vị. Sẽ là một sự nuối tiếc lớn nếu anh để vuột mất nó."

"Nhưng vị khách của anh-"

"Khỏi bận tâm đến ông ta. Cả tôi và ông ta đều sẽ cần đến sự chung sức của anh. Ông ta bước tới rồi kìa. Anh hãy an tọa trên chiếc ghế bành đó đi, Bác sĩ, và dành cho chúng tôi sự chú ý cao độ nhất."

Những bước chân chậm rãi mà trĩu nặng vang vọng từ cầu thang xuôi dọc hành lang, rồi đột ngột dừng lại ngay trước ngưỡng cửa. Một tràng gõ vang dội, bừng bừng uy lực tức thì cất lên.

"Xin mời vào!" Holmes dõng dạc.

Một người đàn ông sừng sững bước vào. Thân hình ông ta hẳn không dưới sáu feet sáu inch, lồng ngực và tứ chi cuồn cuộn tựa chàng lực sĩ Hercules. Trang phục ông ta khoác trên người toát lên sự phô trương của cải-một kiểu xa hoa mà ở Anh quốc hẳn sẽ bị coi là gu thẩm mỹ tầm thường. Những dải lông cừu astrakhan dày cộp vắt chéo qua hai tay áo và vạt trước của chiếc áo choàng hai hàng khuy. Chiếc áo choàng màu xanh thẫm hững hờ vắt ngang vai, lót lớp lụa rực sắc lửa, cài chặt nơi cổ bằng chiếc trâm độc nhất đính viên ngọc beryl chói lọi. Đôi bốt da cao ngang bắp chân, viền mép trên bằng lớp lông thú sẫm màu sang trọng, càng điểm xuyết thêm nét hoang dã, vương giả toát ra từ toàn bộ diện mạo. Tay ông ta cầm hờ chiếc mũ rộng vành, nửa trên khuôn mặt kéo dài đến tận gò má lại bị che khuất sau lớp mặt nạ đen bí ẩn. Dường như ông ta vừa luống cuống chỉnh lại món đồ ấy, bởi bàn tay vẫn còn lửng lơ trên mặt khi bước qua cửa. Dẫu vậy, nửa khuôn mặt lộ diện lại hé lộ một cá tính vô cùng mãnh liệt, với đôi môi dày trễ xuống kiêu ngạo cùng chiếc cằm dài, góc cạnh, hằn lên sự cương quyết đến mức bướng bỉnh.

"Ngài đã nhận được thư của tôi chứ?" ông ta cất giọng trầm khàn, rền rĩ âm hưởng nặng nề của tiếng Đức. "Tôi đã báo trước rằng mình sẽ đến." Ông ta đưa mắt nhìn hết người này đến người kia, tỏ vẻ hoang mang chẳng rõ nên thưa chuyện cùng ai.

"Xin mời an tọa," Holmes đáp lời. "Đây là bạn, cũng là cộng sự của tôi, Bác sĩ Watson. Anh ấy thường có nhã ý hỗ trợ tôi trong những vụ án. Chẳng hay, tôi có vinh hạnh được xưng hô với ngài thế nào?"

"Ngài cứ gọi tôi là Bá tước Von Kramm, một quý tộc gốc Bohemia. Tôi mong rằng quý ngài đây, bạn của ngài, là một bậc chính nhân quân tử kín kẽ, người mà tôi có thể trao gửi niềm tin trong một sự vụ vô cùng trọng đại. Bằng không, tôi thà được đàm đạo riêng với ngài còn hơn."

Tôi chực đứng dậy cáo lui, nhưng Holmes đã nhanh tay tóm lấy cổ tay, ấn tôi ngồi sụp xuống ghế. "Cả hai chúng tôi, hoặc sẽ chẳng có ai cả," anh kiên quyết. "Bất cứ điều gì định giãi bày cùng tôi, ngài cứ thoải mái nói ra trước mặt vị quý danh này."

Ngài Bá tước khẽ nhún đôi vai vạm vỡ. "Vậy thì tôi xin phép vào đề," ông ta hắng giọng, "bằng cách buộc hai ngài phải thề giữ kín bưng chuyện này trong vòng hai năm. Khi thời hạn ấy trôi qua, mọi chuyện sẽ chẳng còn ý nghĩa gì sất. Nhưng vào lúc này, nói không ngoa, tầm vóc của nó đủ sức lay chuyển cả trang sử châu Âu."

"Tôi xin thề," Holmes đáp.

"Tôi cũng vậy."

"Mong các ngài lượng thứ cho chiếc mặt nạ này," vị khách kỳ khôi của chúng tôi nói tiếp. "Nhân vật danh giá đứng sau phái tôi tới đây mong muốn giữ kín danh tính đặc vụ của mình, và tôi cũng xin thú thật ngay rằng, cái tước hiệu tôi vừa xưng hoàn toàn không phải của riêng tôi."

"Tôi biết tỏng rồi," Holmes đáp bằng chất giọng khô khốc.

"Sự tình vô cùng nhạy cảm. Mọi biện pháp phòng ngừa gắt gao nhất phải được triển khai nhằm bóp nghẹt nguy cơ bùng nổ một vụ bê bối chấn động, có thể giáng đòn chí mạng vào uy danh một gia tộc hoàng gia đang nắm quyền tại châu Âu. Xin nói thẳng, vấn đề này dính líu trực tiếp đến Đại vương triều Ormstein, những vị quân vương cha truyền con nối của xứ Bohemia."

"Tôi cũng biết luôn rồi," Holmes lầm bầm, ngả người ra lưng ghế bành, hờ hững nhắm nghiền hai mắt.

Vị khách trố mắt ngạc nhiên tột độ trước vẻ uể oải, phớt lờ của người đàn ông, kẻ mà không còn nghi ngờ gì nữa, hẳn đã được mô tả với ông ta như một bộ óc suy luận sắc bén và tay thám tử năng nổ bậc nhất châu Âu. Holmes từ từ mở mắt, ném cái nhìn thiếu kiên nhẫn về phía vị khách hàng hộ pháp của mình.

"Nếu Bệ hạ chịu hạ cố trình bày ngọn ngành câu chuyện," anh bình thản nhận xét, "tôi sẽ có thể đưa ra cho Bệ hạ những lời khuyên thỏa đáng hơn."

Nghe vậy, vị khách bật phắt dậy, bước đi loanh quanh trong phòng với vẻ bối rối tột độ. Rồi, với một cái vung tay tuyệt vọng, ông ta giật phăng chiếc mặt nạ, quăng mạnh xuống sàn. "Ngài nói đúng," ông ta gầm lên; "Ta chính là Nhà vua. Cớ sao ta lại phải cất công che đậy cơ chứ?"

"Thật vậy, cớ sao phải làm thế?" Holmes lẩm bẩm. "Trước cả khi Bệ hạ kịp cất lời, tôi đã tường tận rằng mình đang đàm đạo cùng Wilhelm Gottsreich Sigismond von Ormstein, Đại công tước xứ Cassel-Felstein, Quốc vương cha truyền con nối của vương quốc Bohemia."

"Nhưng mong ngài thấu hiểu cho," vị khách kỳ lạ phân bua, buông mình xuống ghế lần nữa và đưa tay vuốt dọc vầng trán cao rộng, nhợt nhạt. "Ta vốn dĩ chẳng quen tự mình nhúng tay vào dăm ba sự vụ cỏn con thế này. Khốn nỗi, tình thế quá đỗi tế nhị, ta chẳng thể cậy nhờ bất kỳ đặc vụ nào, bằng không chẳng khác nào tự nộp mình vào tay hắn. Ta đã lặn lội từ Prague đến đây trong tư cách ẩn danh chỉ cốt mong thỉnh giáo ngài."

"Vậy thì, xin Bệ hạ cứ việc thỉnh giáo," Holmes đáp, lại khép hờ mí mắt.

"Gốc gác sự tình vắn tắt thế này: Khoảng năm năm về trước, trong một chuyến viễn du tới Warsaw, ta đã trót quen biết với ả nữ lưu phiêu lưu khét tiếng, Irene Adler. Dám chắc cái tên ấy chẳng hề xa lạ với ngài."

"Bác sĩ, phiền anh tra cứu giúp cái tên ấy trong hệ thống hồ sơ của tôi," Holmes lầm bầm, mắt vẫn nhắm nghiền. Suốt nhiều năm trời, anh đã dày công xây dựng một hệ thống lưu trữ chằng chịt những mẩu tin liên quan đến muôn mặt nhân vật và sự kiện. Nhờ thế, hiếm có cá nhân hay chủ đề nào được xướng lên mà anh lại không thể cung cấp thông tin ngay tắp lự. Trong trường hợp này, tôi tìm thấy bản lý lịch của cô ả bị kẹp gọn lỏn giữa hồ sơ của một giáo sĩ Do Thái và một vị sĩ quan tham mưu, tác giả của cuốn chuyên khảo về các loài cá dưới đáy biển sâu.

"Để tôi xem nào!" Holmes lẩm nhẩm. "Hừm! Chào đời tại New Jersey năm 1858. Giọng nữ trầm-hừm! Hát tại La Scala, hừm! Giọng nữ cao danh giá bậc nhất tại Nhà hát Hoàng gia Warsaw-chuẩn xác! Giã từ ánh đèn sân khấu opera-ha! Đang định cư ở London-chẳng sai lấy một ly! Thưa Bệ hạ, theo như tôi mường tượng, Bệ hạ đã vướng vào lưới tình của quý cô trẻ tuổi này, trót để lại vài phong thư có nguy cơ hủy hoại danh tiếng, và giờ đây đang khao khát đòi lại những vật chứng ấy."

"Chính xác là như vậy. Nhưng làm sao-"

"Liệu có một cuộc hôn nhân lén lút nào không?"

"Hoàn toàn không."

"Vậy cũng chẳng hề có giấy tờ pháp lý hay hôn thú nào ư?"

"Không hề."

"Vậy thì tôi thật sự chưa bắt kịp mạch tư duy của Bệ hạ. Giả dụ cô gái ấy lôi những lá thư này ra để vòi tiền hay mưu đồ bất chính, làm cách nào cô ta chứng minh được chúng là hàng thật?"

"Dựa vào nét chữ."

"Ái chà chà! Cứ đổ vấy là giả mạo."

"Đó là giấy viết thư dành riêng cho ta."

"Cứ cãi là bị đánh cắp."

"Có cả ấn triện của ta."

"Khăng khăng là bị làm giả."

"Cả chân dung của ta nữa."

"Bảo là đồ mua lại."

"Cả hai chúng ta đều hiện diện trong bức ảnh đó."

"Ôi chúa tôi! Vậy thì rách việc rồi! Bệ hạ quả thực đã dính vào một sai lầm chết người."

"Lúc ấy ta đã quẫn trí-hoàn toàn mất trí."

"Bệ hạ đã tự bôi tro trát trấu vào danh dự của mình một cách tệ hại."

"Khi đó ta vẫn chỉ là Thái tử. Ta còn quá trẻ người non dạ. Nay ta cũng mới chỉ vừa chạm mốc ba mươi."

"Vật chứng đó buộc phải được lấy lại."

"Ta đã tận lực nỗ lực nhưng hoàn toàn vô vọng."

"Bệ hạ phải chi tiền. Phải mua lại nó bằng mọi giá."

"Cô ả nhất quyết không chịu bán."

"Vậy thì đành phải dùng cách đánh cắp thôi."

"Đã có đến năm phi vụ được tiến hành. Hai bận, lũ trộm ta thuê đã xới tung hang ổ của ả. Một lần, ta tung hỏa mù cướp mất hành lý khi ả đang đi lại. Hai lần ả bị mai phục. Nhưng rốt cuộc xôi hỏng bỏng không."

"Tuyệt nhiên chẳng lưu lại tăm hơi gì sao?"

"Không một mảy may."

Holmes bật tiếng cười khô khốc. "Quả là một bài toán cỏn con nhưng thú vị phết," anh nhận xét.

"Nhưng với ta, nó là một hiểm họa khôn lường," Nhà vua đáp trả, giọng lộ rõ vẻ hờn trách.

"Quả thực là vô cùng tai hại. Vậy ả định giở trò gì với bức ảnh đó?"

"Ả tính dùng nó để hủy hoại ta."

"Nhưng hủy hoại bằng cách nào cơ chứ?"

"Ta sắp sửa lên xe hoa."

"Tôi cũng có nghe phong thanh chuyện đó."

"Hôn thê là Clotilde Lothman von Saxe-Meningen, thứ nữ của Quốc vương Scandinavia. Hẳn ngài cũng rõ những lề thói bảo thủ, khắt khe của vương tộc đó. Bản thân nàng lại là hiện thân của sự thanh tao thuần khiết. Chỉ cần một bóng đen hoài nghi lướt qua phẩm giá đạo đức của ta, mọi chuyện coi như chấm dứt."

"Thế còn Irene Adler?"

"Ả đe dọa sẽ tống bức ảnh cho nhà gái. Và ả sẽ làm thế thật. Ta thừa biết ả dám làm. Ngài chưa chạm trán ả đâu, ả mang một trái tim sắc lạnh như thép nguội. Ẩn sau khuôn mặt của một mỹ nữ tuyệt sắc là một bộ óc vô cùng lạnh lùng, quả quyết chẳng kém đấng nam nhi nào. Thay vì đứng nhìn ta kết hôn cùng kẻ khác, ả sẽ chẳng ngần ngại đạp đổ mọi giới hạn-tuyệt đối không chùn tay trước bất cứ điều gì."

"Bệ hạ có dám chắc ả vẫn chưa đánh tiếng không?"

"Ta tin chắc là vậy."

"Dựa vào đâu?"

"Bởi ả tuyên bố thẳng thừng rằng sẽ tung hê mọi chuyện vào đúng ngày lễ đính hôn được bố cáo thiên hạ. Tức là thứ Hai tuần tới."

"Ồ, vậy là chúng ta còn dư dả ba ngày," Holmes nói, hờ hững buông một cái ngáp dài. "Thật may phước, bởi tôi cũng đang kẹt dăm ba sự vụ hệ trọng cần lưu tâm. Bệ hạ, hẳn nhiên, vẫn sẽ nán lại London trong thời gian này chứ?"

"Chắc chắn rồi. Ngài cứ đến khách sạn Langham, hỏi Bá tước Von Kramm là ta."

"Vậy thì tôi sẽ gửi vài dòng thông báo để Bệ hạ nắm được tiến độ của chúng ta."

"Làm ơn hãy gửi cho ta. Ta đang như ngồi trên đống lửa đây."

"Tiếp theo, về khoản tiền nong thì sao?"

"Ngài có quyền tự tung tự tác."

"Tuyệt đối chứ?"

"Ta đã bảo rồi, ta sẵn sàng dâng cả một tỉnh của vương quốc mình chỉ để đoạt lại bức ảnh chết tiệt đó."

"Vậy còn kinh phí phục vụ tức thời?"

Nhà vua thò tay xuống dưới lớp áo choàng, rút ra một chiếc túi da sơn dương nặng trịch rồi dằn mạnh xuống mặt bàn.

"Trong này có ba trăm bảng tiền vàng ròng và bảy trăm bảng tiền giấy," ông ta thông báo.

Holmes nguệch ngoạc vài dòng biên nhận lên trang sổ tay rồi chìa cho vị khách.

"Còn địa chỉ của quý cô đó thì sao?" anh cất tiếng hỏi.

"Đó là dinh thự Briony Lodge, tọa lạc trên đại lộ Serpentine, thuộc St. John's Wood."

Holmes cẩn thận ghi chép lại. "Thêm một câu nữa," anh hỏi nốt. "Bức ảnh ấy có phải cỡ thẻ nội các (cabinet) không?"

"Chính xác."

"Vậy thì, xin chúc Bệ hạ ngủ ngon. Tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ sớm có tin tức tốt lành gửi đến Bệ hạ. Chúc anh ngủ ngon nhé, Watson," anh bồi thêm, giữa lúc tiếng bánh xe của cỗ brougham hoàng gia lóc cóc xa dần trên mặt phố. "Nếu không phiền, hãy ghé qua đây lúc ba giờ chiều mai, tôi rất muốn đàm đạo thêm với anh về phi vụ nho nhỏ này."

II.

Đúng ba giờ chiều, tôi có mặt tại phố Baker, nhưng Holmes vẫn chưa về. Bà chủ nhà cho hay anh đã rời đi từ hơn tám giờ sáng. Dù vậy, tôi vẫn kéo ghế ngồi bên lò sưởi, quyết tâm nán lại đợi anh bất kể bao lâu. Cuộc điều tra này thực sự có sức hút mãnh liệt đối với tôi. Dẫu không mang những tình tiết rùng rợn hay kỳ quái như hai vụ án hình sự mà tôi từng ghi chép, nhưng bản chất của sự việc cùng thân phận cao quý của vị khách hàng đã tự khoác lên nó một sức hấp dẫn đầy khác biệt. Thật ra, gác lại tính chất của vụ án sang một bên, chính tài năng nắm bắt tình hình siêu việt cùng óc suy luận sắc sảo của Holmes mới là thứ luôn khiến tôi say mê. Tôi thích thú nghiên cứu phương pháp làm việc của anh, theo dõi cái cách nhanh gọn và tinh tế mà anh gỡ bỏ từng nút thắt trong những bí ẩn rắc rối nhất. Sự thành công của anh dường như đã trở thành một chân lý, quen thuộc đến mức cái ý nghĩ rằng anh có thể thất bại chưa bao giờ lóe lên trong tâm trí tôi.

Mãi gần bốn giờ chiều, cánh cửa mới bật mở. Một gã đánh xe ngựa với bộ dạng lếch thếch, say khướt bước vào phòng. Gã để ria mép hai bên, mặt mày đỏ lựng, còn quần áo thì xộc xệch, xơ xác. Dù đã nhẵn mặt với tài hóa trang siêu phàm của anh bạn mình, tôi vẫn phải chớp mắt đến ba lần mới dám chắc đó chính là anh. Gật đầu chào tôi một cái, Holmes biến ngay vào phòng ngủ. Chỉ năm phút sau, anh đã bước ra, đĩnh đạc và đáng kính trong bộ âu phục vải tuýt quen thuộc. Đút hai tay vào túi quần, anh duỗi chân hơ ấm bên lò sưởi, rồi bật cười giòn giã suốt mấy phút liền.

"Chà, thật là...!" anh thốt lên, giọng nghẹn lại rồi lại nổ ra một trận cười vang. Anh cười ngặt nghẽo đến mức phải ngả gục lưng ra sau, cả người mềm nhũn, bất lực tựa vào thành ghế.

"Có chuyện gì thế?"

"Nực cười lắm cơ! Đố anh đoán được sáng nay tôi đã làm gì, hay rốt cuộc tôi đã giở trò gì đấy."

"Chịu thôi, tôi làm sao mà tưởng tượng nổi. Chắc là anh đi dò la thói quen sinh hoạt, hay thăm dò căn nhà của cô Irene Adler chứ gì."

"Chính xác! Nhưng diễn biến sau đó mới thực sự ngoài sức tưởng tượng. Để tôi kể anh nghe. Hơn tám giờ sáng nay, tôi rời khỏi nhà trong bộ dạng của một gã đánh xe đang thất nghiệp. Giữa giới xà ích luôn tồn tại một tình bằng hữu và sự đồng cảm tuyệt vời. Chỉ cần hòa nhập với họ, anh sẽ moi được mọi thông tin mình muốn. Tôi nhanh chóng mò ra Briony Lodge. Đó là một căn biệt thự nhỏ nhắn xinh xắn (bijou), phía sau có khu vườn, còn mặt tiền thì xây nhô ra ngay sát mặt đường. Nhà có hai tầng, cửa chính lắp khóa Chubb5. Bên phải là phòng khách rộng rãi, bày biện tiện nghi, nổi bật với những ô cửa sổ dài thả sát sàn. Cửa sổ lại cài thứ chốt kiểu Anh nực cười đến mức một đứa trẻ con cũng thừa sức mở tung. Phía sau nhà chẳng có gì đáng nói, ngoại trừ việc người ta có thể đu từ nóc nhà xe để với tới cửa sổ hành lang. Tôi đã đi loanh quanh, soi xét cặn kẽ mọi góc độ, nhưng không phát hiện thêm điều gì thú vị.

"Sau đó, tôi thả bộ dọc theo con phố và thấy ngay một dãy chuồng ngựa nằm gọn trong con hẻm chạy dọc theo tường vườn, y như tôi dự đoán. Tôi sắn tay áo giúp mấy gã nài ngựa cọ rửa đàn ngựa của họ. Bù lại, tôi được trả hai xu, một chầu bia pha, hai mồi thuốc lá sợi, và quan trọng nhất là vơ vét được mọi thông tin tôi khao khát về cô Adler. Đấy là chưa kể đến việc tôi phải miễn cưỡng nghe cặn kẽ tiểu sử của chừng nửa tá những kẻ ất ơ khác trong khu phố, dù chẳng buồn bận tâm chút nào."

"Thế còn về Irene Adler thì sao?" tôi hỏi.

"Ồ, người phụ nữ ấy đã làm tất thảy đàn ông trong khu đó phải điêu đứng! Cô ta chính là tạo vật kiêu sa nhất trên hành tinh này từng đội chiếc mũ chóp nữ. Ngay cả một gã làm thuê ở dãy chuồng ngựa Serpentine cũng phải thốt lên như vậy. Cô ta sống khá kín tiếng, thi thoảng đi hát ở các buổi hòa nhạc, đều đặn đánh xe ra ngoài vào lúc năm giờ chiều mỗi ngày và trở về nhà dùng bữa tối vào đúng bảy giờ. Ngoài những lúc đi diễn, cô hiếm khi bước chân ra khỏi cửa. Cô ta chỉ tiếp duy nhất một vị khách nam giới, nhưng lại gặp gỡ cực kỳ thường xuyên. Một anh chàng đẹp trai, bảnh bao với nước da ngăm đen. Không ngày nào anh ta không ghé qua, có khi còn đến hai bận. Anh ta tên là Godfrey Norton, làm việc ở Inner Temple6. Anh thấy chưa, việc kết thân với một tay xà ích mang lại lợi ích tuyệt vời thế nào. Đám xà ích ở Serpentine đã chở anh ta về nhà không dưới chục lần, nên họ nắm rõ anh ta như lòng bàn tay. Sau khi vắt kiệt thông tin từ bọn họ, tôi lại tản bộ quanh Briony Lodge và vạch ra kế hoạch tác chiến cho mình.

"Anh chàng Godfrey Norton này rõ ràng là một mắt xích mấu chốt. Anh ta là luật sư, nghe qua đã thấy có điềm chẳng lành. Mối quan hệ giữa hai người họ là gì, và mục đích thực sự đằng sau những chuyến viếng thăm thường xuyên kia là sao? Cô ta là khách hàng, bạn bè, hay nhân tình của anh ta? Nếu là khách hàng, rất có thể cô ta đã giao bức ảnh cho anh ta cất giữ. Còn nếu là nhân tình, khả năng ấy lại mong manh hơn nhiều. Việc giải đáp câu hỏi này sẽ quyết định xem tôi nên tiếp tục bám trụ tại Briony Lodge, hay chuyển hướng điều tra sang văn phòng của quý ngài kia ở Temple. Đây quả là một điểm mấu chốt khá tinh tế, khiến phạm vi điều tra của tôi bị nới rộng đáng kể. E là tôi đang làm anh chán ngấy với dăm ba cái tiểu tiết này mất, nhưng tôi buộc phải bày ra những khó khăn lặt vặt ấy để anh thấu tỏ ngọn ngành sự việc."

"Tôi vẫn đang dỏng tai nghe từng lời của anh đây," tôi đáp.

"Trong lúc tôi vẫn đang nhẩm tính trong đầu, một chiếc xe ngựa hansom bất ngờ đỗ xịch trước cửa Briony Lodge, và một quý ông vội vã nhảy xuống. Anh ta sở hữu vẻ ngoài cực kỳ điển trai, da ngăm đen, mũi khoằm, để ria mép - trăm phần trăm là người mà tôi vừa được nghe tả lại. Anh ta có vẻ đang sốt ruột tột độ, quát người đánh xe đợi mình, rồi vội lách qua người cô hầu gái vừa hé cửa, với cái cung cách tự nhiên hệt như đang bước vào nhà mình.

"Anh ta nán lại trong nhà chừng nửa giờ đồng hồ. Qua lớp kính cửa sổ phòng khách, tôi có thể chớp được vài bóng dáng của anh ta đang bồn chồn đi lại, nói năng sôi nổi, hai tay vung vẩy liên hồi. Tuyệt nhiên không thấy bóng dáng cô nàng đâu. Lát sau, anh ta bước ra, bộ dạng còn hớt hải hơn lúc mới đến. Vừa trèo lên xe ngựa, anh ta vừa rút chiếc đồng hồ vàng trong túi ra dán mắt vào, rồi hét lớn: 'Chạy như ma đuổi cho tôi! Tới Gross & Hankey's ở phố Regent trước, rồi thẳng tiến đến nhà thờ St. Monica ở phố Edgeware. Nửa guinea cho anh nếu đến nơi trong vòng hai mươi phút!'

"Chiếc xe vừa khuất dạng, tôi đang tự hỏi liệu mình có nên bám theo hay không thì từ trong hẻm xộc ra một chiếc xe landau nhỏ gọn, tươm tất. Gã xà ích áo khoác mới cài xộc xệch được nửa hàng cúc, chiếc cà vạt thì xộc xệch tuột xuống tận mang tai, trong khi mấy mấu dây đai yên cương vẫn còn lủng lẳng chưa kịp thắt chặt. Chiếc xe chưa kịp đỗ hẳn thì cô ta đã vụt ra khỏi cửa và lao lên. Chỉ một cái liếc mắt vội vã, tôi cũng đủ thấy đó là một tuyệt sắc giai nhân, sở hữu một gương mặt mà bất cứ gã đàn ông nào cũng sẵn lòng chết vì nó.

"'Nhà thờ St. Monica thẳng tiến, John!' cô cất cao giọng, 'Tôi thưởng nửa đồng sovereign7 nếu anh tới đó trong hai mươi phút.'

"Cơ hội ngàn năm có một không thể bỏ lỡ, Watson ạ. Tôi vừa do dự không biết nên cuốc bộ đuổi theo, hay bám đại vào đuôi chiếc landau của nàng thì một chiếc xe chở khách tình cờ chạy ngang qua phố. Gã đánh xe liếc xéo bộ dạng tồi tàn của tôi đến hai lần, nhưng tôi đã phi tót lên xe trước khi hắn kịp mở miệng càu nhàu. 'Nhà thờ St. Monica,' tôi quả quyết, 'và nửa đồng sovereign nếu anh đến nơi trong hai mươi phút.' Lúc bấy giờ là mười hai giờ kém hai mươi lăm phút. Mọi chuyện sắp sửa diễn ra đã quá rành rành.

"Gã xà ích của tôi quất ngựa nhanh như chớp. Đời tôi chưa bao giờ đi một cuốc xe nào xé gió đến vậy. Nhưng đám người kia còn nhanh chân hơn. Chiếc hansom và chiếc landau đỗ chễm chệ trước cửa khi tôi vừa tới, bầy ngựa vẫn đang phì phò thở hắt ra từng luồng hơi. Tôi thanh toán tiền xe rồi vội vã lẻn vào nhà thờ. Bên trong vắng ngắt, chẳng có lấy một bóng người ngoài đôi nam nữ mà tôi vừa bám đuôi, cùng một vị giáo sĩ khoác áo chầu, có vẻ như đang tranh luận điều gì đó với họ. Ba người tụm lại ngay trước bàn thờ. Tôi ung dung tản bộ dọc theo lối đi bên hông, hệt như một kẻ rỗi việc tình cờ ghé vào nhà thờ. Đột nhiên, tôi giật thót mình khi thấy cả ba người đồng loạt quay ngoắt lại nhìn, và Godfrey Norton lao sầm sập về phía tôi.

"'Tạ ơn Chúa!' anh ta gào lên. 'Thế là đủ người. Lại đây! Lại đây nhanh lên!'

"'Có chuyện gì thế?' tôi ngơ ngác hỏi.

"'Lại đây mau lên, anh bạn, lại đây! Chỉ còn ba phút nữa thôi, chậm chân là hôn lễ bất hợp pháp đấy!'

"Thế là tôi bị lôi xềnh xệch lên bàn thờ. Chưa kịp định thần xem mình đang đứng ở đâu, tôi đã thấy miệng mình lúng búng đọc lại những lời thì thầm bên tai. Tôi gật gù bảo chứng cho những chuyện mà mình mù tịt, tóm lại là góp phần se duyên thành công trót lọt cho quý cô Irene Adler và anh chàng độc thân Godfrey Norton. Mọi sự diễn ra trong cái chớp mắt. Ngay sau đó, quý ngài bên này ríu rít cảm ơn tôi, quý bà bên kia cũng vậy, còn vị giáo sĩ trước mặt thì nở nụ cười rạng rỡ. Đó là tình huống nực cười nhất trong đời tôi, và chính cái ý nghĩ đó đã khiến tôi bật cười ban nãy. Có vẻ như giấy phép kết hôn của họ mắc lỗi gì đó, nên vị giáo sĩ khăng khăng từ chối cử hành hôn lễ nếu không có ai làm chứng. Sự xuất hiện may mắn của tôi đã cứu chú rể khỏi cảnh phải lao ra đường vơ bừa lấy một anh phù rể. Cô dâu thưởng cho tôi một đồng sovereign, và tôi định bụng sẽ treo nó vào dây đồng hồ để kỷ niệm sự kiện trớ trêu này."

"Quả là một bước ngoặt sự kiện nằm ngoài sức tưởng tượng," tôi thốt lên; "rồi sau đó thế nào?"

"Chà, lúc ấy tôi thấy kế hoạch của mình đang bị đe dọa nghiêm trọng. Cặp uyên ương này rất có thể sẽ cao chạy xa bay ngay lập tức, buộc tôi phải ra tay nhanh gọn và quyết liệt. Tuy nhiên, ngay trước cửa nhà thờ, họ lại đường ai nấy đi. Anh ta đánh xe về lại Temple, còn cô nàng quay về nhà riêng. 'Đúng năm giờ em sẽ đi dạo công viên như thường lệ nhé,' cô nàng dặn dò trước khi rời đi. Tôi chẳng nghe thêm được gì. Họ rẽ xe đi hai ngả khác nhau, còn tôi cũng rút lui để lo liệu vài việc của mình."

"Anh định lo liệu những gì?"

"Một đĩa bò nguội và một vại bia," anh đáp lời, tiện tay giật dây chuông gọi người hầu. "Tôi bận tối mắt tối mũi chẳng còn thời gian mà nghĩ đến chuyện ăn uống, mà tối nay chắc chắn sẽ còn bận rộn hơn nữa. Nhân tiện, Bác sĩ này, tôi sẽ cần anh hỗ trợ đấy."

"Sẵn lòng thôi."

"Anh không ngại chuyện chà đạp lên pháp luật chứ?"

"Không hề."

"Cũng chẳng e sợ cái nguy cơ bị gông cổ xách vào nhà đá luôn?"

"Nếu vì một mục đích chính đáng thì không."

"Ồ, cực kỳ chính đáng là đằng khác!"

"Vậy thì cứ gọi tôi một tiếng."

"Tôi thừa biết là mình có thể tin tưởng vào anh mà."

"Nhưng anh muốn tôi làm gì cơ?"

"Đợi bà Turner bê khay thức ăn vào đã, tôi sẽ giải thích cặn kẽ cho anh nghe. Giờ thì," anh nói, quay sang ngấu nghiến phần ăn giản dị mà bà chủ nhà vừa dọn lên, "tôi đành phải vừa ăn vừa bàn chuyện vậy, vì thời gian chẳng còn nhiều nhặn gì. Đã gần năm giờ chiều rồi. Hai tiếng nữa chúng ta phải có mặt tại hiện trường. Cô Irene, hay phải gọi là Phu nhân mới đúng, sẽ kết thúc chuyến dạo mát và trở về nhà vào lúc bảy giờ. Chúng ta phải có mặt ở Briony Lodge để tiếp đón cô ta."

"Rồi sao nữa?"

"Phần việc đó anh cứ giao phó cho tôi. Tôi đã dàn xếp sẵn kịch bản rồi. Chỉ có một điểm tôi phải nhấn mạnh thế này. Dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, anh tuyệt đối không được can thiệp. Rõ chưa?"

"Nghĩa là tôi phải đứng ngoài cuộc hoàn toàn?"

"Tuyệt đối không làm gì cả. Sẽ có chút ẩu đả lộn xộn đấy. Đừng có dính líu vào. Kết cục là tôi sẽ bị khiêng vào trong nhà. Tầm bốn, năm phút sau, cửa sổ phòng khách sẽ mở ra. Lúc ấy, anh phải đứng sẵn ngay sát cái cửa sổ đang mở đó."

"Được."

"Anh phải dán mắt vào tôi, vì lúc đó tôi sẽ ở ngay trong tầm nhìn của anh."

"Vâng."

"Và ngay khi tôi giơ tay lên-như thế này-anh sẽ ném thẳng thứ tôi đưa cho anh vào trong phòng, đồng thời gào lên báo cháy. Anh nghe rõ từng chữ chứ?"

"Rõ từng chữ một."

"Cũng chẳng có gì to tát đâu," anh nói, móc trong túi ra một vật hình trụ dài trông như điếu xì gà. "Đó chỉ là một quả pháo tạo khói thông thường của thợ sửa ống nước, được lắp thêm nắp đậy ở hai đầu để có thể tự bốc cháy. Nhiệm vụ của anh chỉ đến đó thôi. Khi anh gào lên báo cháy, chắc chắn sẽ có ối kẻ hùa theo. Sau đó, anh cứ lảng dần ra cuối phố, chừng mười phút sau tôi sẽ hội quân với anh. Kế hoạch tôi nói vậy đã đủ rõ ràng chưa?"

"Đứng ngoài cuộc, bám sát cửa sổ, để mắt tới anh, khi có tín hiệu thì ném vật này vào trong, gào lên báo cháy, rồi chuồn ra góc phố đợi anh."

"Chuẩn không cần chỉnh."

"Vậy thì anh hoàn toàn có thể tin cậy ở tôi."

"Tuyệt vời. Thôi, có lẽ cũng đã đến lúc tôi phải chuẩn bị hóa trang cho vai diễn mới rồi."

Anh lại mất hút vào phòng ngủ. Vài phút sau, anh quay ra trong bộ dạng của một vị giáo sĩ Không thuộc Quốc giáo8 mộc mạc và hiền lành. Mũ đen rộng vành, quần thụng, cà vạt trắng toát, nụ cười đầy bao dung, cùng cái vẻ tò tự xen lẫn nhân từ quan sát vạn vật-tất cả hoàn hảo đến mức có lẽ chỉ ngài John Hare mới sánh kịp. Đâu chỉ đơn thuần là thay đổi xiêm y. Biểu cảm, phong thái, thậm chí đến cả tâm hồn của Holmes dường như cũng biến chuyển để nhập vai xuất thần. Sân khấu đã đánh mất một diễn viên kỳ tài, cũng như giới khoa học đã bỏ lỡ một bộ óc suy luận kiệt xuất, khi anh quyết định rẽ hướng trở thành một chuyên gia điều tra tội phạm.

Đồng hồ điểm sáu giờ mười lăm phút lúc chúng tôi rời phố Baker. Khi đặt chân đến Đại lộ Serpentine, vẫn còn mười phút nữa mới tới giờ hẹn. Bóng tối dần buông xuống, những ngọn đèn đường vừa lóe sáng trong lúc chúng tôi rảo bước qua lại trước cửa Briony Lodge, kiên nhẫn chờ đợi bóng dáng nữ chủ nhân. Ngôi nhà hiện ra y hệt như những gì tôi mường tượng qua lời miêu tả ngắn gọn của Sherlock Holmes, song khu vực này lại chẳng hề tĩnh lặng như tôi ngỡ. Trái lại, dù lọt thỏm trong một khu phố yên ả, con đường nhỏ này lại nhộn nhịp đến lạ. Một đám đàn ông ăn mặc lôi thôi đang tụ tập góc đường, vừa hút thuốc vừa cười đùa rôm rả. Cạnh đó là một tay thợ mài kéo bên chiếc bánh xe hành nghề, hai anh lính cận vệ đang buông lời tán tỉnh một cô bảo mẫu, cùng vài gã thanh niên diện đồ bảnh chọe đang thong dong tản bộ, miệng phì phèo điếu xì gà.

"Anh thấy đấy," Holmes lên tiếng khi hai chúng tôi tản bộ qua lại trước ngôi nhà, "cuộc hôn nhân này đã khiến mọi việc trở nên đơn giản hơn nhiều. Bức ảnh giờ đây đã biến thành một con dao hai lưỡi. Khả năng cao là cô ta chẳng đời nào muốn ông Godfrey Norton nhìn thấy nó, hệt như khách hàng của chúng ta không muốn nó lọt vào mắt vị công chúa của Bệ hạ. Vấn đề bây giờ là, chúng ta sẽ tìm bức ảnh ấy ở đâu?"

"Quả thật là ở đâu mới được?"

"Chắc chắn cô ta không mang nó theo bên mình. Đó là bức ảnh cỡ lớn, quá cồng kềnh để có thể giấu kín trong trang phục của một quý cô. Hơn nữa, cô ta thừa biết Nhà vua hoàn toàn có thể sai người phục kích và lục soát mình. Ngài ấy đã từng thử làm vậy hai lần rồi. Do đó, chúng ta có thể gạt bỏ khả năng cô ta cất bức ảnh trong người."

"Thế thì nó ở đâu?"

"Gửi ở ngân hàng, hoặc giao cho luật sư. Đó là hai khả năng. Nhưng tôi cho rằng không phải cả hai. Phụ nữ vốn dĩ mang bản tính giữ bí mật, và họ luôn thích tự mình cất giấu. Cớ sao cô ta phải giao nó cho kẻ khác chứ? Cô ta có thể tin tưởng vào khả năng phòng bị của bản thân, nhưng lại chẳng thể lường trước được những sức ép chính trị hay tác động ngầm nào có thể giáng xuống đầu một gã làm kinh doanh. Hơn thế nữa, hãy nhớ rằng cô ta đã quyết tâm tung hê bức ảnh trong vài ngày tới. Vật đó nhất định phải nằm ở nơi cô ta có thể lấy được ngay lập tức. Nó phải nằm ngay trong chính ngôi nhà này."

"Nhưng ngôi nhà đã bị lục soát tới hai lần cơ mà."

"Xùy! Bọn chúng đâu có biết cách tìm."

"Vậy anh định tìm thế nào?"

"Tôi sẽ chẳng tìm đâu."

"Thế thì sao?"

"Tôi sẽ khiến cô ta tự động lôi nó ra cho tôi thấy."

"Nhưng cô ta đời nào chịu."

"Cô ta sẽ không thể chối từ. Nhưng này, tôi nghe thấy tiếng bánh xe rầm rập. Xe của cô ta đến rồi đấy. Giờ thì hãy thi hành mệnh lệnh của tôi một cách thật chuẩn xác."

Lời anh vừa dứt, ánh đèn hông xe ngựa đã lóe lên quanh khúc cua đại lộ. Một chiếc xe ngựa bốn bánh loại nhỏ lạch cạch tiến đến rồi dừng hẳn trước cửa Briony Lodge. Xe vừa đỗ lại, một gã đàn ông lảng vảng góc đường lập tức lao ra mở cửa hòng kiếm chút tiền boa. Thế nhưng hắn liền bị một gã lang thang khác có cùng ý định xô văng ra. Một cuộc cãi vã nổ ra gay gắt, rồi lại càng thêm phần hỗn loạn khi hai anh lính cận vệ bênh vực gã lang thang nọ, còn gã mài kéo cũng nóng máu xông vào hùa theo phe kia. Một cú đấm vung lên, và chỉ trong chớp mắt, người phụ nữ vừa bước xuống xe đã lọt thỏm giữa đám đàn ông đỏ mặt tía tai đang giằng co quyết liệt. Bọn chúng lao vào đấm đá, phang gậy gộc vào nhau một cách hoang dại. Holmes xông ngay vào đám đông để bảo vệ người phụ nữ. Nhưng vừa tiếp cận được cô, anh bỗng kêu lên một tiếng thất thanh rồi ngã gục xuống đất, máu tuôn xối xả trên mặt. Thấy anh gục ngã, mấy gã lính cận vệ cuống cuồng tháo chạy về một ngả, đám lang thang cũng tản đi hướng khác. Trong khi đó, vài người ăn mặc tươm tất vốn chỉ đứng xem chứ không can dự vào vụ ẩu đả vội xúm lại giúp đỡ người phụ nữ và chăm sóc nạn nhân. Irene Adler - tôi vẫn sẽ gọi cô ta bằng cái tên ấy - lật đật chạy lên những bậc thềm. Dừng lại ở bậc cao nhất, bóng dáng tuyệt mỹ của cô in hằn trên nền ánh sáng hắt ra từ tiền sảnh, cô ngoái đầu nhìn xuống đường.

"Vị quý ông tội nghiệp đó có bị thương nặng không?" cô cất tiếng hỏi.

"Ông ấy chết mất rồi," vài giọng nói nhao nhao.

"Không, không, ông ấy vẫn còn sống!" một người khác gào lên. "Nhưng chắc chắn ông ấy sẽ trút hơi thở cuối cùng trước khi tới được bệnh viện."

"Thật là một người dũng cảm," một người phụ nữ cảm thán. "Nếu không có ông ấy, bọn chúng đã cuỗm sạch ví và đồng hồ của quý phu nhân rồi. Chúng nó hùa thành một băng đảng, lại còn hung hãn lắm cơ. Á, ông ấy đang thở lại rồi này."

"Chẳng thể để ông ấy nằm lay lắt ngoài đường thế này được. Chúng tôi đưa ông ấy vào nhà có được không, thưa phu nhân?"

"Chắc chắn rồi. Hãy đưa ông ấy vào phòng khách. Trong đó có một chiếc sô-pha êm ái. Mọi người xin mời đi lối này!"

Một cách thận trọng và trang nghiêm, người ta khiêng anh vào Briony Lodge rồi đặt nằm trong căn phòng chính, còn tôi vẫn bám trụ tại vị trí bên cửa sổ để quan sát diễn biến. Dù những ngọn đèn đã được thắp sáng, rèm cửa vẫn chưa buông nên tôi có thể nhìn rõ Holmes đang nằm dài trên ghế. Tôi chẳng biết liệu lúc ấy lương tâm anh có bị cắn rứt vì vai diễn vở kịch này hay không, nhưng tôi biết chắc chắn rằng trong đời, tôi chưa từng cảm thấy hổ thẹn với chính mình đến thế. Nhất là khi tận mắt chứng kiến sinh linh xinh đẹp mà tôi đang nhẫn tâm âm mưu giăng bẫy, cùng sự ân cần, tử tế mà cô ta dành để chăm sóc người bị thương. Nhưng dẫu vậy, nếu bây giờ tôi chùn bước khỏi vai trò mà anh đã giao phó, đó sẽ là một sự phản bội tồi tệ nhất đối với Holmes. Tôi xốc lại quyết tâm, moi quả pháo khói giấu dưới lớp áo khoác ulster ra. Xét cho cùng, tôi tự nhủ, chúng ta đâu có làm hại cô ta. Chúng ta chỉ đang ngăn cô ta làm tổn thương một người khác mà thôi.

Lúc này, Holmes đã nhổm dậy trên ghế dài. Tôi thấy anh vung tay ra hiệu hệt như một kẻ đang khát khí trời. Một cô hầu gái hớt hải chạy vội tới, mở toang cánh cửa sổ. Đúng lúc anh giơ tay lên làm ám hiệu, tôi liền ném quả pháo vào phòng, cất tiếng thét vang: "Cháy!" Từ đó vừa bật khỏi môi tôi, toàn bộ đám đông hiếu kỳ bên ngoài - từ những quý ông bảnh bao cho đến đám lang thang tồi tàn, từ những kẻ chăn ngựa cho đến các hầu gái - đồng loạt hòa giọng la hét: "Cháy!" Những cuộn khói dày đặc mù mịt bốc lên ngùn ngụt trong phòng rồi tràn cả ra ngoài bệ cửa sổ đang mở toang. Qua màn khói, tôi thoáng thấy những bóng người nhốn nháo chạy đôn chạy đáo. Ngay khoảnh khắc sau đó, giọng Holmes từ bên trong vọng ra, lớn tiếng trấn an mọi người rằng đó chỉ là báo động giả. Len lỏi qua đám đông đang nháo nhác, tôi đi dần về phía góc phố. Mười phút sau, tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy người bạn của mình khoác tay tôi, cùng nhau thoát khỏi mớ bòng bong ồn ào. Anh sải bước thoăn thoắt, giữ im lặng suốt vài phút liền cho tới khi cả hai rẽ vào một con phố vắng vẻ dẫn về hướng đường Edgeware.

"Anh phối hợp nhịp nhàng lắm, Bác sĩ ạ," anh cất lời khen ngợi. "Mọi thứ hoàn hảo không thể chê vào đâu được. Êm xuôi cả rồi."

"Anh đã lấy được bức ảnh rồi sao?"

"Tôi biết nó nằm ở đâu."

"Và làm sao anh tìm ra được?"

"Chính cô ta đã chỉ cho tôi, hệt như những gì tôi đã dự liệu với anh."

"Tôi vẫn còn đang mờ mịt lắm đây."

"Tôi chẳng muốn tỏ ra bí ẩn làm gì," anh nói rồi bật cười sảng khoái. "Vấn đề hoàn toàn đơn giản. Hẳn anh cũng nhận ra rằng mọi người trên đường phố đều là đồng phạm. Tất thảy bọn họ đều được tôi thuê mướn cho màn kịch tối nay."

"Tôi cũng đã lờ mờ đoán được phần nào."

"Sau đó, khi cuộc xô xát nổ ra, tôi đã chực sẵn một ít sơn đỏ ướt trong lòng bàn tay. Tôi xông tới, vờ ngã quỵ, đưa tay úp lên mặt và hóa thân thành một kẻ đáng thương. Một mánh khóe cũ rích ấy mà."

"Đoạn đó thì tôi cũng hiểu được."

"Rồi họ khiêng tôi vào trong. Cô ta buộc phải đồng ý. Cô ta còn sự lựa chọn nào khác cơ chứ? Và ngay tại phòng khách của cô ta, chính là căn phòng mà tôi đã nhắm đến ngay từ đầu. Nơi giấu bức ảnh chỉ có thể nằm trong căn phòng đó hoặc phòng ngủ, nên tôi nhất quyết phải thăm dò xem nó nằm ở đâu. Khi họ đặt tôi lên sô-pha, tôi vờ ra hiệu cần chút không khí. Họ buộc phải mở cửa sổ, và thế là anh đã nắm được thời cơ của mình."

"Việc đó thì giúp ích gì cho anh?"

"Đó là mấu chốt của mọi chuyện. Khi một người phụ nữ nghĩ rằng ngôi nhà của mình đang chìm trong biển lửa, bản năng sẽ lập tức xui khiến cô ta lao ngay đến thứ mà bản thân trân quý nhất. Sự thôi thúc mãnh liệt ấy không thể cưỡng lại được, và tôi đã tận dụng mánh lới này không chỉ một lần. Trong vụ bê bối tráo đổi Darlington, nó đã phát huy tác dụng xuất sắc, và cả trong vụ án Lâu đài Arnsworth cũng thế. Một người đàn bà đã có gia đình sẽ vội ôm lấy đứa con, còn một cô gái son rỗi sẽ vồ ngay lấy hộp trang sức. Giờ thì tôi dám chắc rằng vị phu nhân của chúng ta hôm nay chẳng có bảo vật nào trong nhà quý giá hơn thứ mà chúng ta đang ráo riết săn lùng. Cô ta nhất định sẽ lao tới bảo vệ nó. Vụ báo động cháy đã diễn ra quá đỗi hoàn hảo. Làn khói mù mịt cùng những tiếng la hét đinh tai nhức óc thừa sức bẻ gãy những sợi dây thần kinh dẫu được rèn bằng thép. Quả nhiên, cô ta đã sập bẫy một cách tuyệt mỹ. Bức ảnh được cất giấu trong một hốc ngầm sau tấm ván trượt, ngay phía trên sợi dây kéo chuông bên phải. Chỉ trong chớp mắt, cô ta đã lao đến đó. Tôi thậm chí còn bắt gặp ánh mắt cô ta lúc bức ảnh được rút ra phân nửa. Nhưng khi tôi hét lên rằng tất cả chỉ là báo động giả, cô ta liền vội vã nhét nó trở lại, liếc nhìn quả pháo rồi phóng vụt ra khỏi phòng. Kể từ giây phút đó, tôi chẳng thấy bóng dáng cô ta đâu nữa. Tôi nhổm dậy, buông vài lời tạ lỗi rồi lẻn khỏi ngôi nhà. Thú thực, lúc ấy tôi cũng thoáng đắn đo xem liệu có nên đoạt lấy bức ảnh ngay lập tức hay không. Nhưng gã đánh xe đã bước vào, và vì đôi mắt hắn cứ chòng chọc dò xét, tôi nhận thấy tốt hơn hết là nên chờ đợi. Chỉ một phút nôn nóng bốc đồng thôi cũng đủ phá hỏng tất cả."

"Và bây giờ thì sao?" tôi hỏi.

"Thực chất, nhiệm vụ của chúng ta xem như đã hoàn tất. Tôi sẽ cùng Bệ hạ ghé thăm cô ta vào ngày mai. Đương nhiên, anh cũng có thể đi cùng nếu muốn. Họ sẽ dẫn chúng ta vào phòng khách để chờ vị phu nhân xuất hiện. Nhưng nhiều khả năng, khi cô ta bước vào, sẽ chẳng thấy cả chúng ta lẫn bức ảnh đâu nữa. Chắc hẳn Bệ hạ sẽ vô cùng mãn nguyện khi được tự tay giành lại vật báu ấy."

"Vậy khi nào anh sẽ tới đó?"

"Vào lúc tám giờ sáng mai. Cô ta chắc chắn vẫn còn say giấc, thế nên chúng ta sẽ có cả một sân bãi trống để mặc sức hành động. Hơn nữa, ta phải tiến hành thật khẩn trương, bởi cuộc hôn nhân này rất có thể là dấu chấm hết cho cuộc sống hiện tại và kéo theo sự xáo trộn toàn bộ thói quen của cô ta. Tôi phải đi đánh điện cho Bệ hạ ngay tắp lự."

Về đến phố Baker, hai chúng tôi dừng bước trước cửa nhà. Trong lúc anh đang lục lọi túi áo tìm chìa khóa, bỗng có một người lướt ngang qua và cất tiếng:

"Chúc ngủ ngon, ngài Sherlock Holmes."

Dù trên vỉa hè lúc ấy lác đác vài bóng người, song lời chào kia dường như buột ra từ một cậu thanh niên dáng người mảnh khảnh, khoác chiếc áo ulster dài thượt vừa vội vã lướt qua.

"Tôi đã từng nghe thấy giọng nói đó ở đâu rồi," Holmes lẩm bẩm, ánh mắt đăm đăm nhìn dọc theo con phố đang chìm dần vào màn sương mờ ảo. "Tôi tự hỏi kẻ quái quỷ đó rốt cuộc là ai."

III.

Đêm ấy, tôi nán lại nghỉ ngơi ở phố Baker. Sáng hôm sau, khi hai chúng tôi vừa mới ngồi vào bàn dùng điểm tâm với bánh mì nướng và cà phê, thì Quốc vương xứ Bohemia đột ngột xộc thẳng vào phòng.

"Ngài lấy được nó rồi ư!" nhà vua thốt lên, hai tay ghì chặt lấy vai Sherlock Holmes và dán ánh mắt hau háu dò xét nét mặt anh.

"Tôi vẫn chưa thưa Bệ hạ."

"Nhưng ngài có hy vọng chứ?"

"Tôi có thưa Bệ hạ."

"Thế thì đi thôi. Ta đang nóng lòng muốn xuất phát ngay đây."

"Chúng ta phải gọi một chiếc xe ngựa."

"Không cần thiết, xe brougham của ta đã chờ sẵn bên dưới rồi."

"Thế thì mọi chuyện sẽ bề bộn giản đơn hơn nhiều." Chúng tôi rảo bước xuống lầu và một lần nữa lên đường hướng thẳng tới dinh thự Briony Lodge.

"Irene Adler đã kết hôn," Holmes lên tiếng phá vỡ bầu không khí im lặng.

"Kết hôn ư! Bọn họ cưới khi nào?"

"Hôm qua."

"Nhưng với ai mới được?"

"Với một tay luật sư người Anh mang họ Norton."

"Nhưng làm sao cô ta có thể yêu hắn được."

"Tôi đang trộm mong là cô ta yêu hắn."

"Vì cớ gì ngài lại mong như thế?"

"Bởi lẽ điều đó sẽ gạt đi mọi nỗi lo âu canh cánh của Bệ hạ về những phiền toái có thể ập đến trong tương lai. Lẽ thường tình, nếu một người phụ nữ đã trót đem lòng yêu chồng mình, ắt hẳn cô ta sẽ chẳng còn vương vấn tình cảm với Bệ hạ nữa. Và một khi đã đoạn tuyệt ân tình với Bệ hạ, cô ta chẳng còn cớ gì để nhúng tay kỳ đà cản mũi vào những kế hoạch của Bệ hạ."

"Quả thực là như vậy. Thế nhưng-! Ôi chao! Ta chỉ ước gì cô ta có cùng thân thế bệ vệ như ta! Nàng sẽ trở thành một vị Nữ hoàng tuyệt vời đến nhường nào!" Đức vua chìm vào một nỗi trầm tư ủ dột, sự im lặng cứ thế nặng nề kéo dài cho tới tận khi xe ngựa dừng lại trên Đại lộ Serpentine.

Cửa chính của dinh thự Briony Lodge đang mở toang, một người phụ nữ lớn tuổi đứng chễm chệ trên bậc thềm. Bà ta lia ánh mắt đầy ý vị giễu cợt về phía chúng tôi lúc cả ba vừa bước xuống khỏi chiếc brougham.

"Tôi đoán ngài hẳn là quý ngài Sherlock Holmes danh tiếng?" bà ta lên tiếng.

"Phải, tôi là Holmes," bạn tôi đáp lời, ném cho bà ta một ánh nhìn dò xét đầy vẻ kinh ngạc.

"Thì ra là ngài! Nữ chủ nhân của tôi có dặn dò lại rằng rất có thể ngài sẽ ghé ngang qua. Cô ấy đã rời đi từ sáng sớm tinh mơ nay cùng phu quân của mình trên chuyến tàu khởi hành lúc 5 giờ 15 phút từ ga Charing Cross, thẳng tiến sang Lục địa."

"Cái gì cơ!" Sherlock Holmes lảo đảo lùi lại một bước, gương mặt anh trắng bệch đi vì tức tối xen lẫn ngỡ ngàng. "Ý bà là cô ấy đã rời khỏi nước Anh rồi sao?"

"Và sẽ không bao giờ quay lại nữa."

"Thế còn mớ giấy tờ thì sao?" Nhà vua khàn giọng thốt lên. "Tiêu tùng tất cả rồi sao."

"Để xem thế nào đã." Anh nhanh nhẹn lách qua người hầu gái rồi lao thẳng vào phòng khách, nhà vua và tôi cũng tức tốc đuổi theo ngay sát gót. Đồ đạc bên trong vứt ngổn ngang vương vãi khắp nơi, vô số ngăn kệ bị tháo tung, các hộc tủ mở toang hoác, cứ như thể người phụ nữ ấy đã cuống cuồng lục tung mọi thứ lên trước khi đào tẩu. Holmes lao vọt tới chỗ đoạn dây chuông giật, kéo mạnh một tấm phên trượt nhỏ rồi thọc tay vào trong, lôi ra một tấm ảnh cùng một phong thư. Tấm ảnh chụp chính nàng Irene Adler lộng lẫy trong bộ đầm dạ hội, còn bức thư thì đề dòng chữ "Gửi ngài Sherlock Holmes. Lưu giữ chờ ngày ngài ghé qua." Bạn tôi vội vã xé toạc lớp vỏ phong bì, và cả ba chúng tôi chụm đầu vào đọc. Lá thư được viết vào lúc nửa đêm qua, với nội dung như sau:

"NGÀI SHERLOCK HOLMES THÂN MẾN,-Ngài quả thực đã diễn một màn rất xuất sắc. Ngài đã hoàn toàn qua mặt được tôi. Mãi cho đến khi vụ báo cháy giả nổ ra, tôi vẫn không hề mảy may sinh nghi. Thế nhưng, khi chợt nhận ra bản thân vừa hớ hênh bộc lộ điểm yếu, tôi liền bình tâm suy xét lại. Từ mấy tháng trước, tôi đã được rỉ tai cảnh báo về ngài. Người ta kháo nhau rằng, nếu như Đức vua có định thuê một đặc vụ, thì kẻ đó chắc chắn phải là ngài. Cả địa chỉ của ngài cũng đã được chuyển đến tận tay tôi. Ấy thế mà, dẫu đã thủ sẵn mọi manh mối, ngài vẫn khiến tôi tự tay dâng lên bí mật ngài khao khát muốn biết. Thậm chí cả khi sự hoài nghi đã nhen nhóm, tôi vẫn thật khó lòng dấy lên ác cảm với một vị giáo sĩ già nua, nhân từ và đáng mến dường ấy. Thế nhưng ngài biết đấy, bản thân tôi vốn dĩ cũng từng được rèn giũa để trở thành một nữ diễn viên cơ mà. Những bộ âu phục của nam giới vốn chẳng xa lạ gì với tôi, tôi vẫn thường xuyên mượn chúng để tận hưởng sự tự do bay nhảy mà thứ trang phục này mang lại. Tôi đã phái tên xà ích John theo dõi động tĩnh của ngài, vội vã chạy tót lên lầu, tròng vào người bộ đồ dạo phố như cách tôi vẫn thường gọi chúng, và rảo bước xuống lầu ngay khoảnh khắc ngài rời đi.     "Chà, tôi đã bám gót ngài về tận cửa nhà, và qua đó đinh ninh một điều rằng tôi đã thực sự lọt vào tầm ngắm của ngài Sherlock Holmes lừng danh. Sau đó, tôi đã mạn phép buông một lời chúc ngủ ngon đầy bốc đồng, rồi đi thẳng tới khu Temple để hội ngộ cùng chồng.     "Cả hai chúng tôi đều nhất trí rằng thượng sách lúc này là tẩu thoát, nhất là khi phải đối đầu với một kỳ phùng địch thủ đáng gờm như ngài; vậy nên ngài sẽ chỉ thấy một cái tổ trống huơ trống hoác khi ghé thăm vào ngày mai. Còn về phần tấm ảnh, thân chủ của ngài có thể gối cao đầu mà ngủ. Giờ đây, tôi đã yêu và được yêu bởi một người đàn ông đức độ hơn ngài ấy gấp bội. Đức vua có thể mặc sức làm mọi thứ ngài ấy khao khát mà chẳng sợ bị cản bước bởi người phụ nữ mà ngài ấy từng tàn nhẫn ruồng rẫy. Tôi cất giữ nó cốt chỉ để tự vệ, và để giữ lại một món vũ khí phòng thân có thể bảo bọc tôi trước bất kỳ mưu đồ mờ ám nào mà ngài ấy có thể rắp tâm thực hiện trong tương lai. Tôi để lại đây một bức ảnh chân dung khác mà có lẽ ngài ấy sẽ muốn lưu giữ; và tôi vẫn luôn như vậy, thưa ngài Sherlock Holmes thân mến,

"Thân ái, "IRENE NORTON, nhũ danh ADLER."

"Quả là một người phụ nữ xuất chúng-ôi, một người phụ nữ phi thường!" Quốc vương xứ Bohemia buột miệng cảm thán khi cả ba chúng tôi vừa đọc xong dòng cuối của bức thư. "Ta đã chẳng bảo với ngài rằng nàng vô cùng lanh lợi và sắc sảo đó sao? Nàng sẽ trở thành một vị Nữ hoàng vô giá nhường nào! Chẳng phải thật đáng tiếc khi nàng lại không cùng đẳng cấp với ta hay sao?"

"Từ những gì tôi được diện kiến ở quý phu nhân, quả thực cô ấy dường như ở một đẳng cấp hoàn toàn khác biệt so với Bệ hạ," Holmes lạnh lùng đáp trả. "Tôi vô cùng lấy làm tiếc vì đã không thể dẫn dắt trọng trách Bệ hạ giao phó đến một kết cục viên mãn hơn."

"Ngược lại mới đúng, thưa ngài," Nhà vua reo lên; "mọi chuyện không thể nào thành công rực rỡ hơn thế này nữa. Ta thừa biết lời nói của nàng nặng tựa ngàn vàng. Bức ảnh giờ đây đã được an toàn, chẳng khác nào nó đã bị thiêu rụi trong đống lửa đỏ."

"Tôi rất lấy làm mừng khi nghe Bệ hạ nói vậy."

"Ta vô cùng mang ơn ngài. Xin ngài hãy nói cho ta biết, ta có thể trọng thưởng cho ngài bằng cách nào đây. Chiếc nhẫn này-" Ông tuốt chiếc nhẫn nạm ngọc lục bảo chạm trổ hình rắn khỏi ngón tay và đặt nó nằm gọn lỏn trên lòng bàn tay chìa về phía bạn tôi.

"Bệ hạ đang giữ một thứ mà tôi hằng trân quý hơn muôn phần," Holmes ôn tồn đáp.

"Ngài chỉ việc xướng tên món đồ đó ra thôi."

"Bức ảnh này!"

Nhà vua trân trân nhìn anh với ánh mắt tròn xoe kinh ngạc.

"Bức ảnh của Irene ư!" ông thảng thốt. "Chắc chắn rồi, nếu ngài muốn."

"Tôi xin đội ơn Bệ hạ. Vậy là chẳng còn bất kỳ vướng mắc nào trong vụ này nữa. Thật là một niềm vinh hạnh, xin chúc Bệ hạ một buổi sáng an lành." Anh gập người cúi chào, và rồi, phớt lờ cả bàn tay mà Nhà vua đang dang dở chìa ra nhã ý, anh quay gót cùng tôi lên đường trở về dãy phòng trọ.

Và đó chính là cái kết cho một vụ bê bối chấn động đe dọa nhấn chìm cả vương quốc Bohemia, cũng như cái cách mà những mưu sâu kế hiểm hoàn hảo nhất của ngài Sherlock Holmes đã bị đánh bại tâm phục khẩu phục bởi trí tuệ mẫn tiệp của một người phụ nữ. Anh từng thường xuyên lấy sự nhạy bén của nữ giới ra làm đề tài chế giễu bỡn cợt, thế nhưng dạo gần đây tôi tuyệt nhiên chẳng còn nghe anh buông lời mai mỉa như vậy nữa. Về sau, hễ khi nào anh nhắc tới Irene Adler, hay khi anh đưa mắt ngắm nhìn bức ảnh chân dung của nàng, nó luôn đi kèm với một danh xưng đầy vẻ suy tôn: người phụ nữ đó.



  1. Dịch từ "A Study in Scarlet" (Cuộc điều tra màu đỏ), tiểu thuyết đầu tiên về Sherlock Holmes, nơi bác sĩ Watson và Holmes lần đầu gặp gỡ và hợp tác phá án. 

  2. Đồng xu cũ của Anh có giá trị bằng hai shilling và sáu xu (tương đương 1/8 bảng Anh). Mức giá này cho thấy đây là loại giấy viết thư vô cùng đắt đỏ và xa xỉ vào thời bấy giờ. 

  3. Loại xe ngựa kín bốn bánh được đặt theo tên của Nam tước Brougham, thường được tầng lớp thượng lưu và quý tộc Anh thế kỷ 19 sử dụng. 

  4. James Boswell là nhà văn người Scotland, nổi tiếng với cuốn tiểu sử ghi chép chi tiết về cuộc đời của Samuel Johnson. Holmes ví Watson như "Boswell" của đời mình, người luôn đồng hành và ghi chép lại các vụ án của anh. 

  5. Loại khóa bảo mật vô cùng nổi tiếng ở Anh thế kỷ 19 do anh em nhà Chubb phát minh. Cửa nhà lắp khóa này cho thấy chủ nhân rất đề phòng và chú trọng an ninh. 

  6. Một trong bốn đoàn luật sư (Inns of Court) danh giá tại London, nơi đào tạo và quản lý các luật sư tranh tụng của hệ thống pháp luật Anh. 

  7. Đồng tiền vàng của Anh thời xưa có giá trị bằng nửa bảng Anh. Đây là một khoản tiền thưởng rất hậu hĩnh cho một cuốc xe ngựa ngắn, cho thấy sự vội vã cực độ của nhân vật. 

  8. Trong lịch sử Anh, "Nonconformist" chỉ những tín đồ Tin Lành không tuân theo các giáo lý của Giáo hội Anh (Quốc giáo). Họ thường có phong cách sống và ăn mặc mộc mạc, giản dị.