🎧 Nghe chương này

VI. NGƯỜI ĐÀN ÔNG MÔI MÉO

Isa Whitney, anh trai của cố Tiến sĩ Thần học Elias Whitney, cựu Hiệu trưởng Trường Thần học St. George, là một kẻ nghiện thuốc phiện nặng. Theo tôi được biết, thói quen tai hại này bắt nguồn từ một thú vui bồng bột thuở sinh viên; bởi lẽ sau khi đọc những dòng mô tả của De Quincey1 về các ảo giác và cõi mộng mị, anh ta đã thử tẩm laudanum2 vào thuốc lá để tự mình trải nghiệm thứ cảm giác ấy. Giống như biết bao kẻ khác, anh chợt nhận ra dấn thân vào thì dễ mà dứt bỏ mới thật gian nan. Suốt nhiều năm trời, anh trượt dài thành kẻ nô lệ cho làn khói trắng, biến bản thân thành một kẻ vừa đáng sợ lại vừa đáng thương trong mắt bạn bè và gia đình. Đến tận phút này, tôi vẫn có thể mường tượng rõ mồn một hình ảnh anh ta: khuôn mặt vàng vọt, tái nhợt, đôi mí mắt sụp xuống rũ rượi cùng hai đồng tử co rúm lại, thu mình lọt thỏm trên chiếc ghế-hiện thân cho sự tàn tạ và sụp đổ hoàn toàn của một con người từng rất đỗi đáng kính.

Một đêm nọ-chính xác là vào tháng Sáu năm 1889-có tiếng chuông cửa dồn dập vang lên nhà tôi, đúng vào cái giờ mà người ta bắt đầu vươn vai ngáp dài và lơ đãng liếc nhìn đồng hồ. Tôi vội ngồi thẳng người dậy, còn vợ tôi thì đặt giỏ đồ khâu xuống đùi, nét mặt thoáng chút thất vọng xen lẫn chán nản.

"Chắc lại là bệnh nhân rồi!" em thở dài. "Anh lại phải ra ngoài thôi."

Tôi khẽ càu nhàu trong miệng, bởi bản thân cũng chỉ vừa mới đặt chân về nhà sau một ngày làm việc rã rời.

Từ bên ngoài vẳng lại tiếng mở cửa chốt, vài lời trao đổi vội vã, rồi những bước chân dồn dập gõ trên mặt sàn lót vải. Cánh cửa phòng bật mở, một quý bà vận trang phục tối màu, mang chiếc mạng che mặt đen tuyền, hớt hải bước vào.

"Xin thứ lỗi vì tôi đã ghé thăm vào giờ muộn mằn thế này," cô cất lời, rồi đột nhiên như mất đi chút kiềm chế cuối cùng, cô lao tới, ôm choàng lấy cổ vợ tôi và nức nở gục đầu lên vai em. "Ôi, mình đang gặp phải rắc rối lớn quá!" cô òa khóc; "Mình thực sự cần người giúp đỡ."

"Trời đất ơi," vợ tôi thốt lên, nhẹ nhàng kéo chiếc mạng che mặt của người phụ nữ lên, "Kate Whitney đấy ư! Cậu làm mình giật thót cả tim, Kate ạ! Mình hoàn toàn chẳng nhận ra cậu lúc mới bước vào phòng."

"Mình chẳng biết phải xoay xở ra sao, nên đành chạy vội đến đây tìm cậu." Vẫn luôn là như vậy. Những người mang sầu muộn thường tìm đến vợ tôi hệt như bầy chim lạc lối tìm về ngọn hải đăng.

"Cậu đến đây là đúng lắm rồi. Nào, uống chút rượu vang pha nước cái đã, cứ ngồi xuống đây cho thật thoải mái rồi kể hết mọi chuyện cho bọn mình nghe. Hay cậu muốn mình bảo James đi ngủ trước nhé?"

"Ôi, không, đừng! Mình cũng cần xin lời khuyên và sự giúp đỡ của bác sĩ nữa. Chuyện là về Isa. Anh ấy đã biệt tăm biệt tích hai ngày nay rồi. Mình đang sợ chết khiếp đây này!"

Đây vốn chẳng phải lần đầu tiên cô giãi bày tâm sự với chúng tôi về những rắc rối của chồng mình-với tôi dưới góc độ một vị bác sĩ, và với vợ tôi bằng tư cách một người bạn đồng môn thuở thiếu thời. Chúng tôi vội buông những lời lẽ nhẹ nhàng, an ủi và vỗ về cô hết mức có thể. Liệu cô có nắm được tung tích của chồng mình chăng? Liệu chúng tôi có thể làm cách nào để đưa anh ấy bình yên trở về bên cô?

Có vẻ như cơ hội vẫn còn. Cô nắm chắc thông tin rằng dạo gần đây, mỗi khi cơn vật thuốc hành hạ, anh ta thường lén lút tìm đến một hang ổ thuốc phiện nằm sâu tít ở tận cùng phía đông của Khu Tài chính3. Trước nay, những chuỗi ngày trác táng của anh ta thường chỉ kéo dài vỏn vẹn trong một ngày, và đến tối, anh ta sẽ lại lết thân về nhà trong bộ dạng run rẩy, tàn tạ. Thế nhưng giờ đây, thứ bùa mê chết chóc ấy đã trói chặt lấy anh suốt bốn mươi tám giờ ròng rã. Không còn nghi ngờ gì nữa, chắc chắn anh ta đang nằm vật vờ giữa những đám cặn bã dưới bến tàu, mụ mị hít lấy hít để chất độc hoặc đang ngủ li bì chờ cơn phê thuốc qua đi. Chắc chắn có thể tìm thấy anh ta ở đó, cô quả quyết như vậy, ngay tại Quán Bar Vàng, nằm rúc trong con hẻm Upper Swandam. Nhưng cô biết phải làm sao đây? Làm thế nào một người phụ nữ trẻ trung và yếu đuối như cô lại dám dấn bước vào chốn hang hùm nọc rắn ấy, để rồi lôi cổ chồng mình ra khỏi vòng vây của đám lưu manh đầu đường xó chợ?

Hoàn cảnh đã rơi vào thế bí, và dĩ nhiên chỉ còn một lối thoát duy nhất. Liệu tôi có thể tháp tùng cô đến chốn nhơ nhuốc đó chăng? Thế nhưng, ngay giây phút tiếp theo, tôi lại tự nhủ: cớ sao cô ấy phải nhọc công đi cùng? Tôi vốn là bác sĩ riêng của Isa Whitney, và với tư cách ấy, tôi ít nhiều có tiếng nói trọng lượng với anh ta. Tôi hoàn toàn có thể xử lý mớ bòng bong này êm đẹp hơn nhiều nếu thân chinh đi một mình. Tôi lấy danh dự của mình ra để hứa với cô rằng sẽ gọi xe ngựa đưa anh ta về nhà bình an trong vòng hai giờ đồng hồ tới, miễn là anh ta thực sự đang nấp ở cái địa chỉ mà cô vừa cung cấp. Thế là chỉ mười phút sau, tôi đã phải ngậm ngùi bỏ lại chiếc ghế bành êm ái cùng bầu không khí phòng khách ấm cúng sau lưng, lao vun vút về phía đông trên một chuyến xe ngựa hansom để dấn thân vào một sứ mệnh kỳ quặc nhất trần đời-đấy là tôi cứ ngỡ như vậy vào lúc đó, bởi chỉ có tương lai mới chứng minh được nó còn có thể kỳ quặc đến mức độ nào.

Thật may là giai đoạn mở màn cho chuyến phiêu lưu của tôi chẳng vấp phải trở ngại nào đáng kể. Hẻm Upper Swandam vốn là một con ngõ tồi tàn, lẩn khuất lầm lụi phía sau những bến tàu cao ngất ngưởng chạy dọc bờ bắc con sông, ngay mé đông Cầu London. Nằm kẹp giữa một cửa hiệu quần áo rẻ tiền và một quán rượu gin xập xệ, phải mò mẫm qua một dãy bậc thang dốc đứng dẫn tuột xuống một khoảng trống đen ngòm sâu hoắm như miệng hang, tôi mới lùng ra được cái hang ổ mình đang tìm kiếm. Dặn dò người phu xe đứng đợi, tôi chậm rãi bước xuống những bậc đá-vốn đã bị mòn lõm hẳn phần giữa bởi những bước chân trượt dốc không ngừng nghỉ của lũ sâu rượu; và dưới ánh sáng của một ngọn đèn dầu leo lét treo vắt vẻo trên ngưỡng cửa, tôi bật chốt và bước vào trong. Đó là một gian phòng dài dằng dặc, trần thấp lè tè, ngột ngạt và đặc quánh những luồng khói thuốc phiện màu nâu đục. Căn phòng được bố trí bằng những dãy giường tầng bằng gỗ xếp san sát nhau như những bậc thang, gợi liên tưởng đến khoang hầm ngột ngạt của một con tàu chở dân di cư.

Xuyên qua làn sương mờ đục khói, người ta có thể thấp thoáng nhìn thấy những thân người nằm vạ vật trong đủ thứ tư thế kỳ quái nhất trần đời: kẻ thì gù vai, người thì cong gối, kẻ khác lại ngửa rập đầu ra sau, cằm chĩa ngược lên trần nhà, lác đác điểm xuyết đây đó vài ánh mắt tối tăm, lờ đờ liếc nhìn kẻ mới bước vào. Thoát thai từ những bóng đen lập lòe ấy là những vòng tròn ánh sáng nhỏ xíu màu đỏ ối, khi tỏ khi mờ, phập phồng theo từng nhịp cháy rực rồi lại lụi tàn của thứ chất độc trong bát của những chiếc tẩu kim loại. Phần lớn bọn họ nằm câm lặng như người chết, vài kẻ thì không ngừng lầm bầm tự kỷ một mình, trong khi những nhóm khác lại trò chuyện cùng nhau bằng một chất giọng trầm đục, đều đều và quái đản. Những câu chuyện của họ tuôn trào thành từng tràng dài vô tận, rồi lại đột ngột tắt lịm giữa sự im lặng rợn người, mỗi kẻ lại đắm chìm vào dòng suy nghĩ mụ mị của riêng mình, chẳng mảy may bận tâm đến lời người nằm cạnh. Ở tận cùng góc phòng là một lò than nhỏ đốt bằng củi, ngay sát bên cạnh, ngự trên một chiếc ghế đẩu ba chân bằng gỗ là một ông lão cao kều, gầy gò, cằm chống lên hai nắm tay, khuỷu tay thì tì lên đầu gối, ánh mắt đăm đăm nhìn chòng chọc vào ngọn lửa.

Ngay khi tôi vừa rảo bước vào trong, một gã phục vụ người Mã Lai4 với nước da vàng vọt đã đon đả chạy vội tới, trên tay bưng chiếc tẩu cùng một nắm thuốc, hớn hở vẫy tay mời tôi đến ngả lưng trên một chiếc giường trống.

"Cảm ơn. Tôi không có ý định nán lại đâu," tôi gạt đi. "Có một người bạn của tôi đang ở đây, anh Isa Whitney, và tôi cần nói chuyện với anh ta một lát."

Từ phía bên phải tôi bỗng vang lên tiếng động sột soạt cựa mình cùng một tiếng kêu thảng thốt. Cố dán mắt qua màn đêm tối tăm, tôi nhận ra Whitney-nhợt nhạt, hốc hác và lôi thôi nhếch nhác-đang trợn trừng mắt nhìn tôi chòng chọc.

"Lạy Chúa lòng lành! Là Watson đây mà," anh ta thều thào. Anh ta đang chìm trong một trạng thái phản ứng thảm hại tột cùng, mọi dây thần kinh trên cơ thể cứ giật lên từng hồi run rẩy. "Này, Watson, mấy giờ rồi?"

"Gần mười một giờ đêm."

"Của ngày nào?"

"Của thứ Sáu, ngày 19 tháng Sáu."

"Trời đất quỷ thần ơi! Tôi cứ đinh ninh nay mới là thứ Tư. Bây giờ chắc chắn phải là thứ Tư chứ. Anh định mang chuyện đó ra dọa tôi để làm cái quái gì thế?" Anh ta gục mặt xuống cánh tay, bắt đầu nức nở khóc lóc bằng một chất giọng the thé đến rợn gáy.

"Tôi nhắc lại cho anh nhớ, hôm nay đã là thứ Sáu rồi, anh bạn ạ. Vợ anh đã mỏi mòn chờ anh suốt hai ngày qua. Anh đáng lẽ ra phải cảm thấy xấu hổ về bản thân mình mới phải!"

"Thực lòng tôi cũng thấy thế. Nhưng anh nhầm to rồi, Watson, vì tôi chỉ mới ngả lưng ở đây được vài giờ thôi, rít chừng ba, hay bốn tẩu gì đó-tôi cũng chẳng nhớ rõ là bao nhiêu nữa. Nhưng thôi, tôi sẽ về nhà với anh. Tôi không muốn làm Kate phải hoảng sợ thêm nữa-Kate bé nhỏ tội nghiệp của tôi. Đưa tay đây cho tôi mượn vịn một lát nào! Anh có gọi sẵn xe ngựa không?"

"Có, tôi có giữ một chiếc đang đợi bên ngoài."

"Thế thì tôi sẽ đi xe đó về. Nhưng chắc là tôi vẫn còn nợ ở đây một khoản tiền. Anh làm ơn tính toán xem tôi đang nợ bao nhiêu đi, Watson. Tôi đang kiệt sức lắm rồi. Tôi chẳng còn chút sức lực nào để tự lo cho bản thân nữa."

Tôi men theo lối đi chật hẹp lách qua giữa hai hàng người đang say ngủ, nín thở gạt đi những luồng khói thuốc độc hại, mụ mị của thứ ma túy chết người, đáo mắt nhìn quanh cốt để tìm ra gã quản lý. Ngay khoảnh khắc tôi lướt qua người đàn ông cao lớn đang ngồi sưởi ấm cạnh lò than, tôi bỗng cảm thấy một cái giật rất nhẹ nơi vạt áo, rồi một giọng nói trầm thấp cất lên: "Cứ đi ngang qua tôi đi, rồi hãy ngoái nhìn lại." Từng từ từng chữ rơi rụng thật rõ ràng bên tai tôi. Tôi liếc mắt nhìn xuống. Những âm thanh đó chẳng thể phát ra từ ai khác ngoài ông lão ngồi ngay sát cạnh tôi; thế nhưng ông ta lúc này vẫn điềm nhiên ngồi thu mình đăm chiêu y như trước, dáng vẻ tong teo, nhăn nheo, còng gập xuống vì tuổi tác, trong khi chiếc tẩu thuốc phiện thì đung đưa hờ hững giữa hai đầu gối, tựa như thể nó đã tuột khỏi những ngón tay gầy guộc vì quá đỗi rã rời. Tôi khẽ lùi lại hai bước và quay đầu liếc nhìn. Phải vận dụng toàn bộ khả năng tự chủ của bản thân, tôi mới không buột miệng thốt lên một tiếng kêu đầy kinh ngạc. Người đàn ông đó đã khéo léo quay lưng lại để chẳng ai trong phòng có thể chiêm ngưỡng gương mặt ông ta ngoài tôi. Khung xương của ông ta dường như nở nang ra, mọi nếp nhăn kỳ diệu biến mất, đôi mắt lờ đờ chán chường ban nãy đã lấy lại trọn vẹn ngọn lửa rực sáng tinh anh. Và ngự ở đó, ngồi sưởi bên đống lửa, nhếch mép cười toe toét trước vẻ mặt sửng sốt tột độ của tôi, nào phải ai xa lạ, chính là Sherlock Holmes. Anh ta khẽ nháy mắt ra hiệu cho tôi tiến lại gần, và ngay tắp lự, khi xoay nửa khuôn mặt quay về phía đám đông một lần nữa, anh ta lại đắm chìm vào cái vỏ bọc của một lão già lẩm cẩm, với đôi bờ môi trề xuống lỏng lẻo đến thảm hại.

"Holmes!" tôi hốt hoảng thì thầm, "anh đang làm cái quái quỷ gì trong cái sào huyệt khốn kiếp này vậy?"

"Anh nói càng nhỏ càng tốt," anh thong thả đáp lời; "Tai tôi thính lắm đấy. Nếu anh có lòng tốt tống khứ anh bạn say khướt đó đi cho khuất mắt, tôi sẽ vô cùng hân hạnh được hàn huyên cùng anh một lát."

"Tôi có gọi sẵn một chiếc xe ngựa đang chực ngoài cửa."

"Vậy thì hãy tống anh ta lên xe để chở về nhà ngay đi. Anh hoàn toàn có thể an tâm tin tưởng để anh ta đi một mình, bởi trông bộ dạng anh ta quá đỗi bệ rạc để có thể tự rước thêm vào thân bất kỳ rắc rối nào nữa. Tôi cũng khuyên anh nên nhờ người đánh xe gửi ngay một mảnh giấy nhắn về cho vợ anh, báo rằng anh đã quyết định nán lại để nhập hội cùng tôi. Nếu anh chịu khó đứng đợi bên ngoài, tôi sẽ có mặt bên anh chỉ trong vòng năm phút nữa."

Quả thật, việc phải nói lời từ chối trước bất kỳ yêu cầu nào của Sherlock Holmes luôn là điều bất khả thi, bởi những đòi hỏi của anh ta bao giờ cũng khúc chiết, rõ ràng, và được bọc trong một vẻ uy quyền đầy tĩnh lặng. Dẫu vậy, tôi thầm nhủ rằng một khi đã dìu được Whitney ngồi yên vị trong cỗ xe, nhiệm vụ của tôi coi như đã hoàn tất mỹ mãn; và về phần thời gian còn lại, tôi chẳng còn mong mỏi điều gì hơn là được song hành cùng người bạn tri kỷ dấn thân vào một trong những chuyến phiêu lưu kỳ quái vốn dĩ đã trở thành điều kiện tất yếu làm nên sự tồn tại của anh ấy. Chỉ nhoáng trong vài phút ngắn ngủi, tôi đã kịp viết vội tờ giấy nhắn, thanh toán sòng phẳng hóa đơn cho Whitney, xốc nách dẫn anh ta ra xe ngựa, rồi đứng lặng nhìn anh ta bị chở khuất dần vào màn đêm tăm tối. Chẳng bao lâu sau, một bóng dáng già nua, lụ khụ cũng đã lầm lụi bước ra khỏi sào huyệt thuốc phiện, và tôi đang sải bước dọc theo con phố bên cạnh Sherlock Holmes. Suốt hai dãy nhà đầu tiên, anh ta vẫn vờ lê bước lảo đảo với cái lưng còng rạp xuống. Rồi, sau một cái liếc mắt sắc lẻm thăm dò xung quanh, anh ta lập tức đứng thẳng lưng lên, phá lên một tràng cười sảng khoái.

"Tôi có thể đoán được, Watson à," anh mỉm cười nói, "rằng anh đang mường tượng trong đầu cảnh tôi vừa nạp thêm món hút xách thuốc phiện vào bộ sưu tập tật xấu bên cạnh trò tiêm cocaine, cùng với vô vàn những nhược điểm vặt vãnh khác mà anh vẫn thường ưu ái phân tích cho tôi nghe dưới góc nhìn y khoa của anh."

"Chắc chắn là tôi đã vô cùng kinh ngạc khi vô tình bắt gặp anh ở chốn đó."

"Nhưng cũng chẳng thể nào kinh ngạc bằng việc tôi nhìn thấy anh sờ sờ ngay trước mắt."

"Tôi tìm đến đó cốt chỉ để lùng bắt một người bạn."

"Còn tôi thì tới đó để săn lùng một kẻ thù."

"Một kẻ thù ư?"

"Chính xác là vậy; một trong những kẻ thù truyền kiếp của tôi, hay đúng hơn, tôi nên gọi là một con mồi tự nhiên. Nói tóm lại, Watson ạ, tôi đang bị kẹt giữa một cuộc điều tra cực kỳ cam go, và tôi đã đánh cược vận may mong tìm được một manh mối cỏn con nào đó nằm lẫn trong những lời lảm nhảm của đám bợm say mụ mị kia, hệt như những lần tôi từng làm trước đây. Nếu chẳng may để lộ hành tung trong cái sào huyệt đó, thì mạng sống của tôi e rằng chẳng đáng giá nổi một giờ mua sắm đâu; bởi lẽ trước đây tôi từng mượn tạm nơi ấy làm bàn đạp cho những mục đích cá nhân, và cái gã Lascar5 khốn khiếp quản lý nơi đó đã thề độc sẽ tìm tôi để báo thù rửa hận. Ngay phía sau lưng khu nhà ấy, sát góc Paul's Wharf, có giấu một cái cửa sập bí mật. Nó hoàn toàn có thể thì thầm cho anh nghe vài câu chuyện lạnh gáy về những thứ rùng rợn từng bị lén lút tuồn qua đó vào những đêm trời tối đen như mực."

"Cái gì cơ! Đừng nói với tôi ý anh là những xác chết đấy nhé?"

"Chuẩn xác, là những xác chết đấy, Watson ạ. Hai ta hẳn đã trở thành những gã triệu phú rủng rỉnh tiền bạc nếu như được trả một ngàn bảng Anh cho mỗi linh hồn bất hạnh bỏ mạng oan uổng trong cái sào huyệt chết tiệt đó. Nó là cái bẫy giết người tàn độc nhất dọc theo cả khúc sông này, và tôi đang thực sự lo sợ rằng Neville St. Clair cũng đã đặt chân vào đó để rồi mãi mãi chẳng thể có ngày quay trở ra. Nhưng cỗ xe bẫy của chúng ta đáng lý phải túc trực sẵn ở đây rồi chứ nhỉ." Anh đặt hờ hai ngón trỏ vào giữa hai hàm răng rồi rít lên một tiếng huýt sáo chói tai-đó là một mật hiệu, và nó nhanh chóng được đáp lại bằng một tiếng huýt sáo y hệt từ phía xa xăm, nối gót sau đó là tiếng lạch cạch nhịp nhàng của bánh xe lăn tròn xen lẫn tiếng leng keng đều đặn của móng ngựa gõ xuống mặt đường.

"Bây giờ, Watson," Holmes nói, ngay khi một cỗ xe hai bánh cao lêu nghêu xé toạc màn sương mù mờ mịt lao đến, hắt ra hai dải ánh sáng vàng rực rỡ như hai đường hầm hắt ra từ những chiếc đèn lồng treo lủng lẳng bên sườn xe. "Anh sẽ đi cùng tôi chứ?"

"Sẵn lòng, nếu như sự hiện diện của tôi có thể giúp ích được gì đó."

"Ồ, một người đồng đội đáng tin cậy bao giờ cũng là một trợ thủ đắc lực; và một người chuyên chấp bút ghi chép các biên niên sử lại càng đáng quý hơn gấp bội. Căn phòng tôi đang tá túc ở điền trang The Cedars lại tình cờ là một phòng đôi có sẵn hai giường."

"The Cedars ư?"

"Đúng vậy; đó chính là tư dinh của ông St. Clair. Tôi hiện đang cắm chốt tại đó trong suốt quá trình tiến hành vụ điều tra này."

"Vậy rốt cuộc nơi đó nằm ở đâu?"

"Nó nằm ngay gần Lee, thuộc vùng Kent. Trước mắt chúng ta là một hành trình dài dằng dặc khoảng bảy dặm đấy."

"Nhưng quả thực lúc này tôi hoàn toàn mù tịt, chẳng nắm được chút đầu cua tai nheo nào cả."

"Đương nhiên là thế rồi. Anh sẽ sớm tường tận mọi ngóc ngách của câu chuyện ngay thôi. Nào, nhảy lên đây đi. Được rồi, John; chúng tôi sẽ tự lo liệu, không cần phiền anh nữa đâu. Cầm lấy nửa vương miện6 này đi. Hãy canh chừng đợi tôi vào tầm mười một giờ sáng ngày mai nhé. Cứ mặc cho ngựa chạy thẳng đi. Hẹn gặp lại anh sau!"

Anh quất roi giục ngựa. Cỗ xe băng qua vô vàn những góc phố vắng lặng u sầu, con đường dần mở rộng ra. Một lát sau, chúng tôi phóng qua một cây cầu có lan can rộng, bên dưới là dòng sông đục ngầu lững lờ trôi. Trải dài xa hơn là một khoảng không tẻ nhạt và hoang vu của gạch ngói ngổn ngang. Sự tĩnh lặng quanh đây thỉnh thoảng lại bị xé toạc bởi tiếng bước chân tuần tra nặng nề, đều đặn của cảnh sát, hoặc tiếng hát hò, la hét của một đám người ăn chơi về muộn. Trên bầu trời, một dải mây đen đặc kịt chầm chậm trôi lững lờ, để lộ vài vì sao lấp lánh mờ ảo qua những khe hở chật hẹp. Holmes giữ vẻ câm lặng suốt chặng đường. Đầu anh gục xuống ngực, dáng vẻ mang đậm nét đăm chiêu của một kẻ đang chìm sâu vào bể suy tưởng. Ngồi cạnh anh, lòng tôi dâng lên sự tò mò khôn tả, không biết nhiệm vụ mới này là gì mà lại có thể thách thức trí tuệ của anh đến mức ấy. Dù vậy, tôi chẳng dám lên tiếng vì sợ cắt ngang dòng tư duy của anh. Chúng tôi đi thêm vài dặm và bắt đầu tiến vào khu vực rìa của những vành đai biệt thự ngoại ô. Chợt Holmes rùng mình, khẽ nhún vai rồi châm một tẩu thuốc. Nét mặt anh toát lên vẻ bình thản của một người vừa tự trấn an rằng mình đang làm những điều tốt nhất có thể.

"Anh quả là có khả năng giữ im lặng tuyệt vời, Watson ạ," anh cất lời. "Điều đó khiến anh trở thành một người bạn đồng hành vô giá. Nói thật, có ai đó để cùng trò chuyện lúc này là một đặc ân với tôi, vì những suy nghĩ trong đầu tôi hiện chẳng lấy gì làm dễ chịu. Tôi đang tự hỏi không biết phải nói sao với người thiếu phụ bé nhỏ đáng yêu ấy khi cô ra đón tôi ở bệ cửa tối nay."

"Anh quên mất rằng tôi hoàn toàn mù tịt về chuyện đó sao," tôi đáp.

"Chúng ta sẽ có vừa đủ thời gian để tôi kể cho anh nghe những tình tiết của vụ án trước khi đến Lee. Nhìn bề ngoài, nó có vẻ vô cùng đơn giản, thế nhưng chẳng hiểu sao tôi lại không thể tìm ra điểm bắt đầu. Chắc chắn là có vô số đầu mối, nhưng tôi lại chẳng nắm bắt được sợi dây nào. Bây giờ, tôi sẽ tóm tắt lại vụ án một cách thật rõ ràng và súc tích. Biết đâu đấy, Watson, anh lại có thể tìm ra một tia sáng giữa những điều mờ mịt quanh tôi."

"Vậy anh kể đi."

"Vài năm trước-chính xác là vào tháng Năm năm 1884-có một quý ngài tên là Neville St. Clair chuyển đến Lee. Dường như ông ta rất dư dả tiền bạc. Ông ấy mua một căn biệt thự bề thế, cất công bài trí khuôn viên tuyệt đẹp và tận hưởng một lối sống thượng lưu. Dần dà, ông kết giao với những người hàng xóm xung quanh. Đến năm 1887, ông kết hôn với con gái của một người nấu bia tại địa phương và hiện có hai mặt con với cô. Ông ta chẳng có nghề nghiệp cố định nào, thay vào đó lại nắm giữ cổ phần tại vài công ty và thường ghé trung tâm thành phố vào mỗi buổi sáng, rồi trở về trên chuyến tàu lúc 5 giờ 14 phút chiều từ phố Cannon. Ông St. Clair năm nay ba mươi bảy tuổi. Ông là một người có nếp sống điều độ, một người chồng mẫu mực, một người cha hết mực yêu thương con cái, và được tất cả những người quen biết vô cùng quý mến. Tôi phải nói thêm rằng, theo những gì chúng tôi điều tra được, toàn bộ số nợ hiện tại của ông ta chỉ vỏn vẹn 88 bảng 10 shilling, trong khi tài khoản tín dụng tại Ngân hàng Capital and Counties lại có đến 220 bảng. Thế nên, không có lý do gì để cho rằng ông ấy đang bị áp lực tiền bạc đè nặng.

"Vào thứ Hai tuần trước, ông Neville St. Clair vào trung tâm thành phố sớm hơn lệ thường. Trước khi đi, ông dặn vợ rằng mình có hai việc quan trọng phải giải quyết, và hứa sẽ mua cho cậu con trai nhỏ một hộp gạch đồ chơi. Tình cờ thay, ngay trong ngày thứ Hai đó, chỉ một lúc sau khi ông rời đi, vợ ông nhận được một bức điện tín. Bức điện thông báo rằng một bưu kiện nhỏ có giá trị mà cô đang mong ngóng hiện đang nằm chờ tại văn phòng của Công ty Vận tải Aberdeen. Nếu anh rành đường sá London, hẳn anh sẽ biết văn phòng đó nằm trên phố Fresno, một con đường rẽ ra từ hẻm Upper Swandam-chính là nơi anh vừa tìm thấy tôi lúc tối. Bà St. Clair dùng xong bữa trưa, liền đi vào Khu Tài chính để mua sắm vài món đồ. Sau đó, cô rẽ qua văn phòng công ty nhận bưu kiện. Đúng 4 giờ 35 phút, cô tản bộ qua hẻm Swandam để quay về nhà ga. Đến đây, anh vẫn theo kịp câu chuyện chứ?"

"Rất rõ ràng," tôi đáp.

"Nếu anh còn nhớ, thứ Hai vừa rồi là một ngày nóng nực kinh khủng. Bà St. Clair bước đi chậm rãi, thi thoảng lại đảo mắt tìm kiếm một chiếc xe ngựa, bởi lẽ cô chẳng lấy gì làm thích thú với cái khu vực mình đang đứng. Ngay khi đang dạo bước trên hẻm Swandam, cô chợt nghe thấy một tiếng thét hoặc một tiếng kêu đầy thảng thốt. Cô chết sững khi nhìn thấy chồng mình đang chằm chằm nhìn xuống và, theo như lời cô kể, vẫy tay gọi cô từ một ô cửa sổ trên tầng hai. Cửa sổ lúc đó đang mở toang, cô có thể thấy rõ khuôn mặt của chồng-một khuôn mặt mà cô miêu tả là vô cùng hoảng loạn. Anh ấy vẫy tay gọi cô một cách điên cuồng, rồi đột ngột biến mất khỏi khung cửa, nhanh đến mức cô có cảm giác như anh bị một sức mạnh vô hình nào đó giật mạnh từ phía sau. Một chi tiết kỳ lạ lọt vào ánh mắt tinh tường của cô là mặc dù anh vẫn mặc chiếc áo khoác sẫm màu như lúc rời nhà, nhưng lại chẳng hề đeo cổ áo hay cà vạt.

"Đinh ninh rằng có chuyện chẳng lành đã xảy ra với chồng, cô lao vội xuống những bậc thang-vì ngôi nhà đó không đâu khác chính là sào huyệt hút xách nơi anh tìm thấy tôi lúc tối. Vượt qua căn phòng phía trước, cô cố sức chạy lên những bậc thang dẫn lên tầng một. Tuy nhiên, vừa đến chân cầu thang, cô đụng độ ngay tên Lascar khốn khiếp mà tôi từng nhắc đến. Hắn đã cản cô lại, và với sự giúp sức của một gã người Đan Mạch-kẻ dường như là tay sai của hắn-bọn chúng nhẫn tâm đẩy cô ra ngoài đường. Mang theo muôn vàn mối hoài nghi và nỗi khiếp sợ tột cùng, cô chạy dọc theo con hẻm. May mắn thay, khi đến phố Fresno, cô gặp được một viên thanh tra cùng vài viên cảnh sát đang trên đường đi tuần. Viên thanh tra cùng hai người cấp dưới lập tức hộ tống cô quay lại ngôi nhà. Bất chấp sự chống đối quyết liệt của gã chủ nhà, họ vẫn tìm được đường lên căn phòng nơi ông St. Clair xuất hiện lần cuối. Nhưng, không hề có bất kỳ dấu vết nào của ông ấy. Thực chất, trên toàn bộ tầng đó không có ai khác ngoài một gã què quặt mang diện mạo gớm ghiếc, có vẻ như hắn đã chọn nơi này làm chốn nương thân. Cả hắn lẫn tên Lascar đều thề thốt chắc nịch rằng không có ai khác bước vào căn phòng phía trước trong suốt buổi chiều hôm ấy. Bọn chúng khăng khăng phủ nhận đến mức viên thanh tra cũng phải sững sờ, và gần như tin rằng bà St. Clair đã bị ảo giác. Đúng lúc ấy, kèm theo một tiếng hét thất thanh, cô lao tới chiếc hộp gỗ nhỏ nằm chỏng chơ trên bàn rồi xé toạc nắp hộp. Từ trong đó, một loạt những viên gạch đồ chơi trẻ em rơi lả tả xuống sàn. Đó chính xác là món đồ chơi mà chồng cô đã hứa mua về.

"Phát hiện này, cộng thêm sự bối rối lộ rõ trên khuôn mặt gã què, đã buộc viên thanh tra phải nhận ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Lập tức, các căn phòng được khám xét cẩn thận, và mọi kết quả thu được đều phơi bày một tội ác rùng rợn. Căn phòng phía trước được trang bị nội thất như một phòng khách, mở ra một phòng ngủ nhỏ nhìn thẳng ra phía sau của một trong những bến tàu. Giữa bến tàu và cửa sổ phòng ngủ là một dải đất hẹp. Dải đất này khô ráo khi thủy triều rút, nhưng lại ngập sâu dưới mực nước ít nhất bốn mét rưỡi khi thủy triều lên. Cửa sổ phòng ngủ là loại cửa sổ rộng, mở hất từ dưới lên. Qua kiểm tra, cảnh sát phát hiện những vết máu dính trên bậu cửa sổ, cùng một vài giọt máu vương vãi trên sàn gỗ của phòng ngủ. Nhét vội sau tấm rèm trong phòng khách là toàn bộ quần áo của ông Neville St. Clair, ngoại trừ chiếc áo khoác. Giày, tất, mũ và đồng hồ-tất cả đều ở đó. Những bộ quần áo này hoàn toàn không có dấu hiệu của sự giằng co, và cảnh sát cũng không tìm thấy thêm bất cứ dấu vết nào của người đàn ông xấu số. Dường như ông ấy đã bị buộc phải chui qua cửa sổ vì không còn con đường tẩu thoát nào khác. Những vết máu rợn người trên bậu cửa sổ chỉ ra một sự thật cay đắng: có rất ít khả năng ông ấy có thể tự cứu lấy mình bằng cách bơi vào bờ, bởi lẽ thủy triều đang ở mức cao nhất đúng vào thời điểm thảm kịch xảy ra.

"Và bây giờ, chúng ta sẽ bàn đến những kẻ thủ ác dường như có liên can trực tiếp đến vụ này. Tên Lascar vốn mang một bản lý lịch đen tối bẩn thỉu. Nhưng, theo lời bà St. Clair, hắn chỉ đứng ở chân cầu thang vài giây sau khi chồng cô xuất hiện ở cửa sổ, thế nên hắn khó có thể đóng vai trò gì hơn là một kẻ đồng lõa. Hắn ta luôn miệng kêu oan và thề thốt rằng mình hoàn toàn không hay biết gì về hành tung của gã khách trọ Hugh Boone. Hắn cũng không thể đưa ra bất kỳ lời giải thích nào cho sự xuất hiện của quần áo nạn nhân.

"Đó là về tay quản lý Lascar. Còn bây giờ, hãy nói về gã què nham hiểm sống trên tầng hai của sào huyệt thuốc phiện-kẻ chắc chắn là người cuối cùng mà đôi mắt của Neville St. Clair nhìn thấy. Hắn tên là Hugh Boone, và khuôn mặt gớm ghiếc của hắn hẳn đã quá quen thuộc với bất cứ ai hay lui tới Khu Tài chính. Hắn là một kẻ ăn xin chuyên nghiệp, dù luôn vờ vịt bán nến sáp (wax vestas)7 để lách luật của cảnh sát. Ở một khoảng cách khá xa về phía phố Threadneedle, bên tay trái, chắc anh cũng từng để ý thấy có một hốc nhỏ nằm thụt vào tường. Ngày ngày, sinh vật gớm ghiếc ấy lại ngồi chễm chệ ở đó, vắt chéo chân, đùi đặt một đống diêm nhỏ xíu. Vì bộ dạng của hắn quá đỗi thảm hại, nên một cơn mưa tiền lẻ từ thiện luôn rơi đều đặn xuống chiếc mũ da cáu bẩn đặt trên vỉa hè bên cạnh. Tôi đã quan sát kẻ này không dưới một lần, từ trước khi nảy sinh ý định tìm hiểu về hắn dưới góc độ nghề nghiệp. Và tôi thực sự kinh ngạc trước số tiền mà hắn thu hoạch được chỉ trong một thời gian ngắn. Diện mạo của hắn, như anh thấy đấy, quá đỗi nổi bật, đến mức không ai đi ngang qua mà không ngoái lại nhìn. Một mái tóc đỏ rực, khuôn mặt nhợt nhạt bị hủy hoại bởi một vết sẹo kinh hoàng-sự co rút của vết sẹo đã làm lật hẳn mép ngoài môi trên của hắn. Cộng thêm cái cằm xệ như chó mặt xệ và đôi mắt đen sắc lẹm, đối lập hoàn toàn với màu tóc, tất cả những nét đó khiến hắn nổi bần bật giữa đám ăn xin nhung nhúc. Nhưng không chỉ có vậy, hắn còn nổi tiếng với sự hóm hỉnh tài tình, luôn miệng sẵn sàng đáp trả bất kỳ lời chế giễu nào từ những kẻ qua đường. Đó chính là gã đàn ông mà giờ đây chúng ta biết là khách trọ tại cái ổ thuốc phiện ấy, và cũng là kẻ cuối cùng giáp mặt vị quý tộc mà chúng ta đang cất công tìm kiếm."

"Nhưng chỉ là một kẻ què quặt thôi mà!" tôi thốt lên. "Hắn ta có thể làm được trò trống gì khi phải một mình đối đầu với một người đàn ông đang ở độ tuổi sung mãn nhất?"

"Hắn là một kẻ què quặt, đúng vậy, nhưng chỉ theo nghĩa là hắn đi khập khiễng. Xét về mọi phương diện khác, hắn lại là một gã đàn ông vạm vỡ và tràn trề sinh lực. Chắc chắn kinh nghiệm y khoa của anh thừa sức hiểu rõ điều này, Watson. Sự yếu kém ở một chi thường được bù đắp bằng sức mạnh vượt trội ở những chi còn lại."

"Anh kể tiếp đi," tôi giục.

"Bà St. Clair đã ngất lịm đi khi nhìn thấy vết máu trên cửa sổ, và sau đó được cảnh sát đưa về nhà bằng xe ngựa, bởi sự hiện diện của cô lúc bấy giờ chẳng giúp ích gì cho cuộc điều tra. Thanh tra Barton, người phụ trách vụ án, đã tiến hành một cuộc rà soát vô cùng kỹ lưỡng tại hiện trường, nhưng không thu thập được bất cứ điều gì nhằm soi sáng vụ việc. Có một sai lầm chết người là cảnh sát đã không bắt giữ Boone ngay lập tức. Bọn họ đã để cho hắn có vài phút trống, đủ để hắn móc nối với tên bạn Lascar. Dù vậy, lỗi lầm này đã nhanh chóng được khắc phục. Boone bị tóm gọn và lục soát, nhưng cảnh sát tuyệt nhiên chẳng tìm thấy thứ gì có thể dùng làm bằng chứng buộc tội hắn. Thật ra, có vài vết máu dính trên tay áo sơ mi bên phải của hắn. Hắn thản nhiên chỉ vào ngón áp út bị cắt gần sát móng, rồi giải thích rằng máu chảy ra từ đó. Hắn còn bịa thêm rằng mình vừa đến bên cửa sổ cách đó không lâu, và những vết máu được tìm thấy ở bậu cửa chắc chắn cũng từ vết thương này mà ra. Hắn kịch liệt chối bỏ việc từng gặp ông Neville St. Clair, đồng thời thề thốt rằng sự xuất hiện của những bộ quần áo trong phòng cũng là một bí ẩn đối với hắn chẳng kém gì với cảnh sát. Đối với lời khẳng định của bà St. Clair rằng cô đã tận mắt nhìn thấy chồng mình ở cửa sổ, hắn thản nhiên phán rằng cô chắc hẳn đã phát điên hoặc đang nằm mộng giữa ban ngày. Bất chấp những lời phản đối ầm ĩ, hắn bị áp giải đến đồn cảnh sát. Trong khi đó, viên thanh tra vẫn kiên nhẫn bám trụ tại hiện trường, nung nấu hy vọng rằng khi thủy triều rút, một vài manh mối mới sẽ lộ diện.

"Và quả thực là có manh mối mới, dù những gì họ tìm thấy trên bãi bùn lầy lội không hẳn là thứ họ lo sợ sẽ tìm thấy. Khi thủy triều rút đi, lộ ra chiếc áo khoác của Neville St. Clair, chứ không phải bản thân người đàn ông ấy. Và anh thử đoán xem họ đã tìm thấy gì trong những chiếc túi áo?"

"Tôi chẳng thể tưởng tượng nổi," tôi đáp.

"Phải rồi, tôi không nghĩ anh có thể đoán được đâu. Mọi túi áo đều nhét đầy những đồng xu một penny và nửa penny-tổng cộng là 421 đồng một penny và 270 đồng nửa penny. Thảo nào chiếc áo không bị thủy triều cuốn phăng đi. Nhưng một thi thể người lại là chuyện hoàn toàn khác. Có một dòng xoáy dữ dội chảy siết giữa bến tàu và ngôi nhà. Rất có thể, chiếc áo khoác với trọng lượng quá nặng đã chìm lại dưới đáy bùn, trong khi cái thi thể bị lột trần kia đã bị cuốn phăng theo dòng sông mất rồi."

"Nhưng tôi nhớ anh vừa nói rằng tất cả những bộ quần áo khác đều được tìm thấy trong phòng. Chẳng lẽ cái xác lại chỉ mặc mỗi một chiếc áo khoác?"

"Không, anh bạn ạ, nhưng chuỗi sự kiện có thể được ráp nối lại một cách khá rõ ràng. Hãy giả dụ rằng gã Boone này đã thẳng tay xô Neville St. Clair qua cửa sổ, và không một con mắt nào kịp chứng kiến tội ác đó. Sau đó hắn sẽ làm gì? Tất nhiên, hắn sẽ ngay lập tức nhận ra rằng phải nhanh chóng tẩu tán những bộ quần áo mang tính tố giác kia. Hắn sẽ vớ lấy chiếc áo khoác, và ngay khi định ném nó ra ngoài, hắn sực nhớ ra rằng vải vóc sẽ nổi lềnh bềnh chứ không chìm. Hắn có rất ít thời gian, bởi hắn đã nghe thấy tiếng cự cãi ầm ĩ ở tầng dưới khi người vợ cố sống cố chết xông lên. Có lẽ hắn cũng nghe loáng thoáng từ gã đồng bọn Lascar rằng cảnh sát đang rầm rập đi lên phố. Không thể lãng phí thêm một giây nào. Hắn lao tới kho báu bí mật, nơi hắn cất giấu số tiền bố thí tích cóp được. Hắn vội vã nhét tất cả các đồng xu vớ được vào túi áo để đảm bảo chiếc áo khoác sẽ chìm nghỉm. Hắn ném nó ra ngoài, và rất có thể đã định làm điều tương tự với những bộ quần áo còn lại, nếu không vì nghe thấy tiếng bước chân rầm rập đang tiến lên từ bên dưới. Rốt cuộc, hắn chỉ có vừa đủ thời gian để đóng sầm cửa sổ lại trước khi cảnh sát ập vào."

"Nghe có vẻ rất hợp lý," tôi gật gù.

"Chà, tạm thời chúng ta cứ coi đó là một giả thuyết khả thi, vì cũng chẳng còn cách lý giải nào tốt hơn. Boone, như tôi đã nói với anh, đã bị bắt giữ và đưa đến đồn cảnh sát, nhưng chẳng ai có thể tìm ra bất cứ tì vết nào trong quá khứ của hắn. Trong suốt nhiều năm qua, hắn được biết đến như một kẻ ăn xin chuyên nghiệp, nhưng cuộc sống của hắn lại trôi qua một cách yên ả và vô hại. Hiện tại, vụ án vẫn dậm chân tại chỗ. Những câu hỏi cần được làm sáng tỏ-Neville St. Clair làm cái quái gì trong sào huyệt thuốc phiện, chuyện gì đã thực sự xảy ra với ông ấy ở đó, ông ấy đang ở đâu, và Hugh Boone có nhúng tay vào sự mất tích của ông ấy hay không-tất cả vẫn còn là những bí ẩn xa vời. Tôi thú thực rằng trong suốt quãng đời làm nghề của mình, tôi chưa từng nhớ có vụ án nào thoạt nhìn thì đơn giản mà lại tiềm ẩn nhiều khúc mắc đến thế."

Trong lúc Sherlock Holmes đang say sưa kể lại chi tiết về chuỗi sự kiện kỳ lạ này, cỗ xe của chúng tôi đã lao vun vút qua vùng ngoại ô rộng lớn của thành phố, cho đến khi những ngôi nhà thưa thớt cuối cùng chìm vào bóng tối bỏ lại phía sau. Chúng tôi phóng đi trên con đường rợp bóng cây. Tuy nhiên, ngay khi anh vừa dứt lời, cỗ xe lại lướt qua hai ngôi làng nằm rải rác, nơi một vài ánh đèn vẫn còn hắt ra leo lét qua những ô cửa sổ.

"Chúng ta đang ở ngoại ô Lee rồi," người bạn đồng hành của tôi lên tiếng. "Chỉ trong một chuyến đi ngắn ngủi, chúng ta đã băng qua ba quận của nước Anh: khởi hành từ Middlesex, đi qua một góc của Surrey, và giờ kết thúc tại Kent. Anh có thấy ánh sáng hắt qua hàng cây kia không? Đó là The Cedars, và bên cạnh ngọn đèn đó, tôi dám chắc rằng có một người phụ nữ đang vểnh đôi tai đầy âu lo để đón chờ tiếng móng ngựa của chúng ta."

"Nhưng tại sao anh không điều hành vụ án ngay từ phố Baker?" tôi thắc mắc.

"Bởi vì có rất nhiều công đoạn điều tra cần phải thực hiện ở tận ngoài này. Bà St. Clair đã vô cùng tử tế khi nhường cho tôi sử dụng hai căn phòng. Anh có thể yên tâm rằng cô ấy sẽ dành cho người bạn và cũng là đồng nghiệp của tôi một sự tiếp đón nồng hậu nhất. Tôi rất sợ phải đối mặt với cô ấy, Watson ạ, khi mà tôi chẳng mang theo tin tức gì về chồng cô. Chúng ta đến nơi rồi. Hô, dừng lại, hô!"

Chúng tôi đỗ lại trước một căn biệt thự bề thế ngự giữa khuôn viên riêng biệt. Một thằng bé chăn ngựa vội chạy ra giữ đầu ngựa. Tôi nhảy xuống xe, nối gót Holmes bước dọc theo con đường rải sỏi nhỏ uốn lượn dẫn vào nhà. Khi chúng tôi vừa tới nơi, cánh cửa chợt bật mở. Một người phụ nữ nhỏ nhắn với mái tóc vàng hiện ra, khoác trên mình bộ váy muslin mỏng nhẹ, điểm xuyết chút voan hồng mềm mại nơi cổ áo và cổ tay. Nàng đứng đó, dáng điệu in bóng rõ rệt trong vùng ánh sáng chan hòa, một tay bám nhẹ vào cánh cửa, tay kia giơ lên đầy thảng thốt. Cả cơ thể nàng hơi rướn về phía trước, gương mặt ánh lên vẻ khẩn thiết với đôi mắt mở to háo hức và bờ môi hé mở như muốn thốt lên một câu hỏi cháy bỏng.

"Sao rồi?" nàng thảng thốt kêu lên, "sao rồi?" Đoạn, khi nhận ra có hai người chúng tôi, nàng khẽ thốt lên một tiếng chan chứa hy vọng, nhưng rồi lại vỡ vụn thành tiếng nấc nghẹn ngào khi thấy người bạn đồng hành của tôi lắc đầu và nhún vai.

"Không có tin tốt ư?"

"Không có."

"Nhưng cũng không có tin xấu chứ?"

"Không."

"Đội ơn Chúa. Nhưng xin mời vào. Chắc hẳn các ngài đã mệt mỏi lắm rồi, hẳn là một ngày dài vất vả."

"Đây là bạn tôi, Bác sĩ Watson," Holmes nói. "Anh ấy đã góp sức cho tôi trong những vụ án hệ trọng nhất, và thật may mắn làm sao khi tôi có thể đưa anh ấy tới đây để cùng tham gia cuộc điều tra này."

"Tôi rất hân hạnh được gặp ngài," nàng nói, nồng nhiệt nắm lấy tay tôi. "Tôi tin rằng ngài sẽ lượng thứ cho những thiếu sót trong sự tiếp đón của chúng tôi, bởi cú sốc vừa rồi ập xuống gia đình tôi quá đỗi bất ngờ."

"Thưa phu nhân," tôi đáp lời, "tôi từng là một quân nhân, nên dù chẳng cần nhắc thì tôi cũng thấu hiểu rằng phu nhân không cần phải bận tâm tạ lỗi. Nếu có thể giúp được chút gì cho phu nhân hay cho anh bạn tôi đây, tôi sẽ rất đỗi vinh hạnh."

"Nào, thưa ngài Sherlock Holmes," người phụ nữ lên tiếng khi chúng tôi bước vào một căn phòng ăn sáng sủa, trên bàn đã dọn sẵn một bữa tối nguội lạnh, "tôi rất muốn hỏi ngài một vài câu thẳng thắn, và tôi mong ngài cũng đưa ra những câu trả lời thật lòng."

"Chắc chắn rồi, thưa phu nhân."

"Xin đừng bận tâm đến cảm xúc của tôi. Tôi không phải loại người dễ bị kích động hay mau chóng ngất xỉu. Tôi chỉ đơn thuần muốn nghe ý kiến thật sự của ngài, từ tận đáy lòng."

"Về vấn đề gì cơ?"

"Tận thâm tâm, ngài có tin rằng Neville còn sống hay không?"

Sherlock Holmes dường như hơi bối rối trước câu hỏi này. "Nào, xin hãy nói thật đi!" nàng lặp lại, đứng nán trên tấm thảm và rọi ánh nhìn xuống anh khi anh ngả lưng vào chiếc ghế đan bằng liễu gai.

"Nói thẳng ra thì, thưa phu nhân, tôi e là không."

"Ngài nghĩ rằng anh ấy đã chết?"

"Đúng vậy."

"Bị sát hại ư?"

"Tôi không nói thế. Chỉ là có khả năng."

"Vậy anh ấy đã chết vào ngày nào?"

"Vào thứ Hai."

"Thế thì có lẽ, ngài Holmes, ngài sẽ rủ lòng từ bi mà giải thích cho tôi hiểu bằng cách nào tôi lại nhận được một bức thư từ anh ấy vào đúng ngày hôm nay."

Sherlock Holmes bật nảy khỏi ghế như thể bị điện giật.

"Cái gì!" anh gầm lên.

"Vâng, chính hôm nay." Nàng đứng đó mỉm cười, giơ một mảnh giấy nhỏ lên không trung.

"Cho tôi xem được không?"

"Chắc chắn rồi."

Anh háo hức giật lấy nó từ tay nàng, vuốt thẳng ra trên bàn, rồi kéo chiếc đèn lại gần và chăm chú xem xét. Tôi cũng rời khỏi ghế, tò mò nhìn qua vai anh. Chiếc phong bì trông rất thô ráp và mang dấu bưu điện Gravesend cùng ngày tháng của chính ngày hôm đó-hay nói đúng hơn là của ngày hôm trước, bởi lúc ấy trời đã quá nửa đêm khá lâu.

"Chữ viết cẩu thả quá," Holmes lẩm bẩm. "Chắc chắn đây không phải nét chữ của chồng phu nhân rồi."

"Đúng thế, nhưng những dòng chữ bên trong thì lại chính là của anh ấy."

"Tôi cũng nhận thấy rằng, bất kỳ ai viết địa chỉ lên phong bì này hẳn đã phải đi hỏi thăm để biết đường."

"Sao ngài lại biết điều đó?"

"Phu nhân thấy đấy, cái tên được viết bằng loại mực đen kịt, tự khô. Nhưng phần còn lại lại có màu hơi xám, chứng tỏ người ta đã dùng giấy thấm. Nếu toàn bộ được viết liền một mạch rồi mới dùng giấy thấm thì chẳng có chữ nào lại giữ được màu đen đậm đến vậy. Kẻ này đã viết tên xong, rồi chững lại một lúc trước khi viết tiếp địa chỉ; điều đó chỉ có thể mang ý nghĩa là hắn không hề rành rẽ về nơi này. Tất nhiên, đó chỉ là một chi tiết nhỏ mọn, nhưng chẳng có gì hệ trọng hơn những chi tiết nhỏ nhặt đâu. Giờ chúng ta hãy xem bức thư nào. A! Có một thứ được đính kèm ở đây!"

"Vâng, đó là một chiếc nhẫn. Chiếc nhẫn mặt ngọc của anh ấy."

"Và phu nhân đoan chắc rằng đây là nét chữ của chồng mình chứ?"

"Đúng là một trong những kiểu chữ của anh ấy."

"Một ư?"

"Nét chữ của anh ấy khi viết vội. Nó khác xa với nét chữ nắn nót thường ngày, nhưng tôi nhận ra ngay."

"'Em yêu đừng sợ. Mọi thứ sẽ ổn cả thôi. Có một sai lầm khổng lồ mà có lẽ sẽ mất chút thời gian để thu xếp. Hãy kiên nhẫn chờ đợi.-NEVILLE.' Viết bằng bút chì trên tờ giấy xé từ trang lót của một cuốn sách khổ tám, không có hình mờ. Hừm! Gửi hôm nay tại Gravesend bởi một gã đàn ông có ngón cái cáu bẩn. Ha! Và nắp phong bì được dán bằng hồ, nếu tôi không nhầm thì bởi một gã vừa nhai thuốc lá. Phu nhân không mảy may nghi ngờ đây là nét chữ của chồng mình chứ, thưa phu nhân?"

"Không hề nghi ngờ. Chính Neville đã viết những lời này."

"Và chúng được gửi đi vào hôm nay tại Gravesend. Chà, thưa phu nhân St. Clair, mây mù đang dần quang đãng rồi đây, dẫu cho tôi vẫn chưa dám liều lĩnh khẳng định rằng mọi hiểm nguy đã lùi xa."

"Nhưng anh ấy hẳn phải còn sống chứ, ngài Holmes."

"Trừ phi đây là một trò giả mạo tinh vi nhằm tung hỏa mù. Rốt cuộc thì chiếc nhẫn chẳng chứng minh được gì sất. Rất có thể nó đã bị tước khỏi tay anh ta."

"Không, không; đây chính xác là nét chữ của anh ấy!"

"Tốt lắm. Thế nhưng, nó có thể đã được viết vào hôm thứ Hai và mãi đến tận hôm nay mới được gửi đi."

"Điều đó thì có khả năng."

"Nếu vậy, biết bao biến cố có thể đã xảy ra trong khoảng thời gian đó."

"Ôi, ngài đừng làm tôi nản lòng chứ, ngài Holmes. Tôi biết rằng mọi chuyện với anh ấy vẫn ổn. Giữa chúng tôi có một sợi dây giao cảm sâu sắc đến độ tôi sẽ lập tức nhận ra nếu có bề gì bất trắc xảy đến với anh ấy. Ngay vào cái ngày cuối cùng tôi trông thấy anh ấy, anh ấy đã vô tình làm đứt tay trong phòng ngủ, vậy mà tôi đang ở tận phòng ăn cũng lập tức vội vã chạy lên lầu với linh cảm mãnh liệt rằng đã có chuyện không hay xảy ra. Ngài nghĩ xem, liệu tôi có thể phản ứng với một vết thương cỏn con như thế mà lại hoàn toàn vô tri trước cái chết của chồng mình ư?"

"Tôi đã chứng kiến đủ nhiều để hiểu rằng linh cảm của một người phụ nữ đôi khi còn đáng giá hơn vạn lời kết luận của một nhà lý luận phân tích. Và với bức thư này, phu nhân quả thực nắm trong tay một bằng chứng vô cùng đắt giá để củng cố niềm tin của mình. Nhưng nếu chồng phu nhân còn sống và vẫn có thể gửi thư, cớ sao anh ấy lại tránh mặt phu nhân?"

"Tôi không tài nào hình dung nổi. Thật không thể tin được."

"Và vào ngày thứ Hai, anh ấy đã chẳng để lại lời nào trước khi rời xa phu nhân sao?"

"Không một lời."

"Phu nhân có kinh ngạc khi thấy anh ấy ở Hẻm Swandam không?"

"Rất kinh ngạc."

"Cửa sổ lúc đó có mở không?"

"Có."

"Vậy thì anh ấy hoàn toàn có thể gọi phu nhân?"

"Có thể lắm."

"Theo như tôi hiểu, anh ấy chỉ ú ớ phát ra một tiếng kêu không rõ ràng?"

"Vâng."

"Phu nhân nghĩ đó là một tiếng kêu cứu?"

"Vâng. Anh ấy đã vẫy tay mà."

"Nhưng đó cũng có thể là một tiếng kêu thảng thốt. Sự kinh ngạc tột độ khi bất ngờ nhìn thấy phu nhân có thể đã khiến anh ấy vung tay lên chăng?"

"Cũng có thể."

"Và phu nhân cho rằng anh ấy đã bị giật lùi lại?"

"Anh ấy biến mất quá đỗi đột ngột."

"Anh ấy có thể đã tự nhảy lùi lại. Phu nhân không hề trông thấy ai khác trong phòng sao?"

"Không, nhưng cái gã đàn ông kinh khủng đó đã thú nhận là có mặt ở đấy, và cả tên Lascar dưới chân cầu thang nữa."

"Đúng vậy. Chồng phu nhân, theo như phu nhân quan sát, đang bận trang phục bình thường chứ?"

"Nhưng không thắt cà vạt hay đeo cổ áo. Tôi thấy rõ chiếc cổ trần của anh ấy."

"Anh ấy đã bao giờ nhắc đến Hẻm Swandam chưa?"

"Chưa từng."

"Anh ấy đã bao giờ có dấu hiệu hút thuốc phiện chưa?"

"Chưa bao giờ."

"Cảm ơn phu nhân, phu nhân St. Clair. Đó là những điểm mấu chốt mà tôi muốn làm sáng tỏ hoàn toàn. Giờ thì chúng ta sẽ dùng chút bữa tối nhẹ rồi đi nghỉ, bởi ngày mai hứa hẹn sẽ là một ngày vô cùng bận rộn đây."

Một căn phòng với hai chiếc giường lớn êm ái đã được chuẩn bị sẵn, và tôi nhanh chóng vùi mình vào chăn, bởi cơ thể đã rã rời sau một đêm dài phiêu lưu. Tuy nhiên, Sherlock Holmes lại là tuýp người mà hễ có một bài toán chưa lời giải lởn vởn trong đầu, anh sẽ chẳng màng đến chuyện nghỉ ngơi. Anh có thể thức ròng rã nhiều ngày, thậm chí cả tuần lễ để nghiền ngẫm, xâu chuỗi lại các dữ kiện, lật đi lật lại vấn đề từ mọi góc độ cho đến khi nào thấu tỏ tận cùng, hoặc tự thuyết phục bản thân rằng những manh mối trong tay vẫn còn quá đỗi mỏng manh. Tôi sớm nhận ra anh đang rục rịch chuẩn bị cho một đêm thức trắng. Anh cởi phăng áo khoác và áo gilet, khoác lên mình chiếc áo choàng màu xanh rộng thùng thình, rồi đi quanh phòng thu gom gối từ trên giường của mình, cùng đệm từ ghế sofa và ghế bành. Với đống đồ lỉnh kỉnh ấy, anh dựng lên một kiểu đi văng mang đậm phong vị phương Đông, rồi ngồi xếp bằng lên đó, bày biện trước mặt một ounce thuốc lá sợi (shag tobacco)8 và một hộp diêm. Dưới ánh đèn mờ ảo, tôi thấy anh ngồi tĩnh lặng, chiếc tẩu cũ kỹ ngậm chặt trên môi, đôi mắt đờ đẫn phóng vào góc trần nhà. Làn khói xanh mờ mịt lượn lờ bốc lên bao trùm lấy bóng dáng bất động của anh, nơi ánh sáng hắt những tia rọi lên đường nét gồ ghề đầy cương nghị trên gương mặt. Anh vẫn ngồi nguyên tư thế ấy khi tôi chìm vào giấc ngủ, và anh vẫn ở đó khi một tiếng thốt nhiên làm tôi bừng tỉnh, nhận ra ánh nắng rực rỡ của ngày hè đã tràn ngập căn phòng. Chiếc tẩu vẫn ngậm trên môi, khói vẫn đều đặn nhả ra, và cả căn phòng ngập ngụa trong làn khói thuốc lá đặc quánh, nhưng đống thuốc lá sợi mà tôi thấy đêm qua thì đã cạn sạch chẳng còn chút gì.

"Dậy chưa, Watson?" anh cất tiếng hỏi.

"Rồi."

"Anh đã sẵn sàng cho một chuyến dạo chơi buổi sớm chưa?"

"Chắc chắn rồi."

"Vậy thì mặc quần áo vào đi. Cả nhà vẫn chưa ai thức giấc, nhưng tôi biết chỗ ngủ của cậu bé giữ ngựa, và chúng ta sẽ sớm có xe ngay thôi." Anh khẽ cười mãn nguyện khi nói, đôi mắt sáng lên lấp lánh. Trông anh lúc này đã trở thành một con người khác hẳn, rũ bỏ hoàn toàn vẻ u ám, trầm ngâm của đêm hôm trước.

Trong lúc thay đồ, tôi liếc nhìn đồng hồ. Chẳng trách chưa có ai dậy. Mới chỉ bốn giờ hai mươi lăm phút sáng. Tôi vừa nai nịt xong xuôi thì Holmes quay lại, báo tin rằng cậu bé đang thắng yên cương.

"Tôi muốn kiểm chứng một giả thuyết nhỏ," anh nói, vừa kéo đôi giày bốt vào chân. "Watson này, tôi nghĩ anh đang đứng trước một trong những gã ngốc nghếch bậc nhất châu Âu đấy. Tôi thật đáng bị đá một cú từ đây tới tận ngã tư Charing Cross9. Nhưng giờ thì tôi tin là mình đã nắm được chìa khóa giải quyết vụ này rồi."

"Vậy nó nằm ở đâu?" Tôi vừa cười vừa hỏi.

"Trong phòng tắm," anh đáp tỉnh bơ. "Ồ, tôi không nói đùa đâu," anh tiếp lời khi nhận ra vẻ mặt đầy hoài nghi của tôi. "Tôi vừa vào đó, lấy nó ra và hiện đang cất nó trong chiếc túi Gladstone10 này. Đi thôi anh bạn, chúng ta sẽ xem chiếc chìa khóa này có vừa vặn với ổ khóa không."

Chúng tôi rón rén bước xuống lầu nhẹ nhàng nhất có thể, rồi bước ra ngoài đón cái nắng chói chang của buổi sớm tinh sương. Cỗ xe ngựa của chúng tôi đã đậu sẵn trên đường cái, cậu bé giữ ngựa với bộ dạng ngái ngủ, áo xống xộc xệch đang đứng chờ ở đầu ngựa. Cả hai nhanh chóng nhảy lên xe, và cỗ xe lao vút đi trên con lộ hướng về London. Vài chiếc xe bò chở rau quả của nông dân đã rục rịch tiến vào thành phố lớn, nhưng những dãy biệt thự dọc hai bên đường vẫn chìm trong sự tĩnh lặng và vắng vẻ như một thành phố mộng du.

"Về một vài khía cạnh, đây thực sự là một vụ án kỳ lạ," Holmes lên tiếng, tay vung roi quất cho ngựa phi nước đại. "Tôi thú nhận mình đã mù quáng như một con chuột chũi, nhưng thà khôn ra muộn màng còn hơn là u mê mãi mãi."

Khi chúng tôi đánh xe qua những con phố của vùng Surrey, những cư dân dậy sớm nhất trong thị trấn mới chỉ ngái ngủ ngó đầu ra khỏi cửa sổ. Dọc theo đường dẫn lên cầu Waterloo, chúng tôi băng qua sông, vút lên Phố Wellington rồi ngoặt gấp sang phải, và chẳng mấy chốc đã tới Phố Bow11. Sherlock Holmes vốn đã quá nổi danh trong lực lượng cảnh sát, thế nên hai viên cảnh binh trực cổng đã đứng nghiêm chào anh. Một người chạy ra giữ dây cương ngựa, trong khi người kia dẫn chúng tôi vào trong.

"Ai đang trực ban vậy?" Holmes cất tiếng hỏi.

"Là Thanh tra Bradstreet, thưa ngài."

"A, Bradstreet, anh khỏe chứ?" Một viên sĩ quan to béo, đội mũ lưỡi trai và mặc chiếc áo khoác điểm viền kim tuyến đang bước dọc theo hành lang lát đá. "Tôi muốn trao đổi riêng với anh một chút, Bradstreet."

"Chắc chắn rồi, ngài Holmes. Xin ngài bước vào phòng tôi."

Đó là một căn phòng nhỏ được bài trí như văn phòng làm việc, với một cuốn sổ cái khổng lồ trên bàn và một chiếc điện thoại gắn chìa ra từ tường. Viên thanh tra ngồi xuống sau bàn làm việc.

"Tôi có thể giúp gì cho ngài đây, ngài Holmes?"

"Tôi ghé qua để hỏi về tên ăn xin Boone-kẻ bị cáo buộc có liên quan đến sự mất tích của ông Neville St. Clair ở Lee."

"Vâng. Hắn đã bị đưa đến đây và hiện đang bị tạm giam để phục vụ công tác điều tra."

"Đúng như tôi được biết. Hắn đang ở đây chứ?"

"Hắn đang trong buồng giam."

"Hắn có chịu ngoan ngoãn không?"

"Ồ, hắn chẳng gây ra rắc rối nào cả. Nhưng hắn là một tên bẩn thỉu quá mức."

"Bẩn thỉu ư?"

"Vâng, chúng tôi đã ép hắn rửa tay, đấy là việc duy nhất chúng tôi làm được. Khuôn mặt hắn nhem nhuốc như thợ hàn thiếc. Chà, đến khi bản án được định đoạt, hắn sẽ được tắm rửa đàng hoàng theo đúng tiêu chuẩn nhà tù. Tôi cá là nếu ngài nhìn thấy hắn lúc này, ngài cũng sẽ đồng ý với tôi rằng hắn rất cần được tống vào bồn tắm."

"Tôi rất tò mò muốn gặp hắn."

"Thế ư? Chuyện đó dễ thôi. Mời ngài theo lối này. Ngài có thể để chiếc túi lại đây."

"Không, tôi nghĩ mình cứ mang nó theo thì hơn."

"Được thôi. Mời ngài đi lối này, nếu ngài không phiền." Ông dẫn chúng tôi đi dọc theo hành lang, mở một cánh cửa song sắt, bước xuống một cầu thang xoắn ốc, rồi đưa cả hai đến một hành lang quét vôi trắng toát với những dãy cửa xếp dài hai bên.

"Cánh cửa thứ ba bên tay phải là phòng giam của hắn," viên thanh tra nói. "Nó đây rồi!" Ông nhẹ nhàng đẩy tấm gỗ nhỏ ở nửa trên cánh cửa sang một bên và ghé mắt nhìn vào trong.

"Hắn đang ngủ," ông nói. "Ngài có thể nhìn rõ hắn từ đây."

Cả hai chúng tôi cùng ghé mắt qua tấm lưới kim loại. Người tù nằm xoay mặt về phía chúng tôi, ngủ say sưa với nhịp thở chậm rãi và nặng nhọc. Hắn là một người đàn ông có vóc dáng trung bình, khoác trên mình những món đồ thô kệch y hệt cái nghề bần hàn của hắn. Một mảng áo sơ mi xỉn màu nhô ra qua vết rách toạc trên chiếc áo khoác tơi tả. Quả thật, hắn vô cùng bẩn thỉu như lời viên thanh tra mô tả. Tuy nhiên, lớp cáu ghét bao phủ khuôn mặt hắn cũng không giấu nổi sự xấu xí đến mức kinh tởm. Một vết sẹo cũ tạo thành đường lằn rộng chạy vắt ngang từ đuôi mắt xuống tận cằm. Vết sẹo co rút làm phần môi trên của hắn bị lật ngược lên, để lộ ba chiếc răng cửa trong một nụ cười nhếch mép gớm ghiếc, đông cứng vĩnh viễn. Một mái tóc màu đỏ rực xõa xượi, mọc lòa xòa che khuất cả mắt và trán.

"Gã này đẹp trai gớm, ngài thấy không?" viên thanh tra châm biếm.

"Hắn chắc chắn cần phải được cọ rửa sạch sẽ," Holmes tán đồng. "Tôi đã có linh cảm là hắn sẽ cần đến việc này, thế nên tôi đã tự tiện chuẩn bị sẵn vài món đồ nghề." Vừa nói, anh vừa mở chiếc túi Gladstone, và trước sự ngạc nhiên tột độ của tôi, anh lôi ra một miếng bọt biển tắm cỡ bự.

"Hì! hì! Ngài đúng là một người vui tính," viên thanh tra bật cười thích thú.

"Bây giờ, phiền ông hãy mở cánh cửa kia thật nhẹ nhàng. Chúng ta sẽ mau chóng trả lại cho hắn một bộ dạng khả kính hơn."

"Chà, tôi chẳng thấy lý do gì để từ chối cả," viên thanh tra đáp. "Bộ dạng hiện tại của hắn cũng chẳng làm rạng danh cho các buồng giam ở Phố Bow chút nào, đúng không?" Ông ta tra chìa khóa vào ổ, rồi cả ba chúng tôi rón rén bước vào bên trong. Kẻ đang nằm trên giường xoay mình cựa quậy, rồi lại chìm sâu vào giấc ngủ. Holmes cúi xuống bình nước, nhúng ướt miếng bọt biển, rồi lấy sức chà xát liên tục, mạnh bạo lên xuống trên mặt người tù.

"Xin trân trọng giới thiệu với các ông," anh lớn tiếng, "đây chính là ông Neville St. Clair, ngụ tại Lee, hạt Kent."

Chưa bao giờ trong đời tôi được chứng kiến một cảnh tượng nào ngoạn mục đến vậy. Dưới sự chà xát của miếng bọt biển, khuôn mặt gã đàn ông bong tróc ra từng mảng như vỏ cây bị lột. Biến mất rồi sắc da nâu thô ráp nhem nhuốc! Biến mất luôn cả vết sẹo gớm ghiếc vắt ngang mặt, và cả cái môi trên cong lật tạo nên nụ cười nhếch mép rợn người! Holmes giật mạnh nốt mớ tóc đỏ rối bù. Và ngay khoảnh khắc đó, bật ngồi dậy trên giường là một người đàn ông nhợt nhạt, mang vẻ mặt u buồn nhưng tao nhã, mái tóc đen nhánh cùng làn da nhẵn nhụi. Anh ta đang đưa tay dụi mắt, ngơ ngác nhìn quanh trong cơn ngái ngủ. Rồi bất chợt nhận ra mình đã bị vạch trần, anh ta thét lên một tiếng kinh hãi và ném mình xuống giường, vùi chặt mặt vào gối.

"Lạy Chúa!" viên thanh tra thảng thốt, "đó thực sự là người đàn ông đã mất tích. Tôi nhận ra anh ta qua bức ảnh."

Người tù quay lại với vẻ liều lĩnh của một kẻ đã cam chịu số phận. "Cứ cho là vậy đi," anh ta lên tiếng. "Nhưng xin hỏi các người định buộc tội tôi về tội danh gì?"

"Với tội danh sát hại anh Neville St.- Ôi thôi nào, anh không thể bị buộc tội đó được, trừ phi họ lập hồ sơ đây là một vụ cố sát rồi tự tử," viên thanh tra mỉm cười châm biếm. "Chà, tôi đã phục vụ trong lực lượng cảnh sát suốt hai mươi bảy năm qua, nhưng một chuyện ngược đời thế này quả thực là có một không hai."

"Nếu tôi chính là Neville St. Clair, thì rõ ràng là chẳng có tội ác nào xảy ra ở đây cả. Vì vậy, các ông đang giam giữ tôi trái phép."

"Không có tội ác, nhưng anh đã gây ra một sai lầm vô cùng tồi tệ," Holmes cất lời. "Tốt hơn hết là anh nên thành thật với vợ mình."

"Không phải chuyện của vợ tôi; mà là những đứa trẻ," người tù khốn khổ rên rỉ. "Xin Chúa rủ lòng thương, tôi không muốn chúng phải mang nỗi nhục nhã vì cha mình. Lạy Chúa! Thật là một sự phơi bày bẽ bàng! Tôi biết phải làm gì bây giờ?"

Sherlock Holmes kéo ghế ngồi xuống bên cạnh và ân cần vỗ nhẹ lên vai anh ta.

"Nếu anh cứ để mặc cho tòa án làm rõ mọi chuyện," anh chậm rãi nói, "thì tất nhiên, anh khó lòng tránh khỏi sự nhòm ngó của công chúng. Trái lại, nếu anh thuyết phục được giới chức cảnh sát rằng hoàn toàn không có vụ án nào có thể cấu thành để buộc tội anh, thì tôi không thấy có lý do gì để các chi tiết này bị phơi bày trên mặt báo. Tôi tin chắc Thanh tra Bradstreet ở đây sẽ ghi chép lại đầy đủ mọi lời anh nói và trình lên các cấp có thẩm quyền. Hệ quả là, vụ án này sẽ vĩnh viễn không bao giờ phải đưa ra tòa."

"Xin Chúa ban phước cho ngài!" người tù xúc động thốt lên. "Tôi thà chịu cảnh tù đày, vâng, thậm chí là bước lên giá treo cổ, còn hơn để cái bí mật ô nhục này trở thành vết nhơ bôi trát lên gia đình và những đứa con thơ của tôi.

"Các ông là những người đầu tiên được nghe câu chuyện này. Cha tôi từng là một giáo viên ở Chesterfield, nhờ đó tôi được hưởng một nền giáo dục xuất sắc. Thuở thanh niên, tôi từng đi chu du khắp nơi, tham gia diễn kịch, và cuối cùng dừng chân với công việc phóng viên cho một tờ báo chiều ở London. Một ngày nọ, tổng biên tập muốn thực hiện một loạt bài phóng sự về nạn ăn xin ở đô thị lớn, và tôi đã tình nguyện đảm nhận. Đó chính là khởi điểm cho mọi rắc rối của tôi. Chỉ có cách tự mình đóng giả làm một kẻ ăn mày nghiệp dư, tôi mới có thể thu thập những sự kiện chân thực nhất để làm chất liệu cho các bài viết. Vì từng là diễn viên, đương nhiên tôi nắm rõ mọi mánh khóe hóa trang. Trong phòng thay đồ, tôi thậm chí còn khá nổi tiếng vì kỹ năng hóa trang điêu luyện của mình. Và thế là tôi quyết định mang món nghề cũ ra thi triển. Tôi tự bôi trát lên mặt, rồi để bộ dạng trông thật thê thảm, tôi tạo ra một vết sẹo lớn vắt ngang mặt, dùng một miếng thạch cao nhỏ tiệp màu da thịt dán cố định phần môi trên để nó lật ngược lên. Cuối cùng, tôi đội một bộ tóc giả màu đỏ rực, vận lên người bộ đồ rách rưới thảm hại rồi ung dung đi đến khu vực sầm uất nhất thành phố, khoác lớp vỏ bọc là kẻ bán diêm để hành nghề ăn xin. Tôi đã lê la ăn mày suốt bảy giờ đồng hồ. Tối hôm đó, khi về nhà, tôi sững sờ nhận ra mình đã kiếm được khoản tiền không dưới hai mươi sáu shilling và bốn xu.

"Sau đó, tôi hoàn thành loạt bài báo và cũng chẳng mảy may bận tâm thêm về chuyện ấy nữa. Cho đến một thời gian sau, vì trót bảo lãnh một hối phiếu cho bạn, tôi bị tống đạt lệnh đòi nợ hai mươi lăm bảng Anh. Tôi hoàn toàn bế tắc, chẳng biết đào đâu ra số tiền lớn chừng ấy. Nhưng rồi, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu. Tôi xin chủ nợ cho khất thêm hai tuần, xin tòa soạn cho nghỉ phép một thời gian, rồi khoác lại lớp vỏ ngụy trang cũ, lang thang ăn xin khắp các nẻo đường ở City. Chỉ trong mười ngày, tôi đã gom đủ số tiền và thanh toán sòng phẳng món nợ.

"Chà, các ông thử tưởng tượng xem. Chấp nhận quay lại với công việc làm báo cật lực nhưng chỉ nhận mức lương bèo bọt hai bảng Anh một tuần, trong khi tôi biết tỏng mình có thể dễ dàng kiếm được chừng đó chỉ trong một ngày, đơn giản bằng cách bôi một ít phấn son nhem nhuốc lên mặt, ngả chiếc mũ xuống đất rồi ngồi im một chỗ. Đó quả là một cuộc giằng xé dai dẳng giữa lòng tự trọng và sự cám dỗ của đồng tiền. Nhưng rốt cuộc, mãnh lực của những đồng tiền đã chiến thắng. Tôi dứt khoát từ bỏ nghề phóng viên. Ngày qua ngày, tôi cứ ngồi ỳ ở góc đường mà mình đã chọn từ trước, dùng khuôn mặt gớm ghiếc để khơi gợi lòng thương hại của khách bộ hành, rồi lẳng lặng nhét đầy túi những đồng xu bố thí. Trên đời này chỉ có một người duy nhất biết được bí mật của tôi. Hắn là tay gác cổng của một ổ hút xì ke tồi tàn nằm trong Hẻm Swandam, nơi tôi thường thuê phòng. Tại đó, mỗi sáng tôi có thể bước ra với bộ dạng của một tên ăn mày dơ dáy, rồi đến tối, tôi lại biến hóa thành một quý ông ăn mặc bảnh bao, hòa vào dòng người ở thành phố. Tên này là người Lascar. Tôi đã trả cho hắn những khoản tiền thuê phòng cực kỳ hậu hĩnh, cốt để chắc chắn rằng bí mật của tôi sẽ mãi được chôn vùi trong tay hắn.

"Rất nhanh sau đó, tôi phát hiện ra mình đang dành dụm được những khoản tiền kếch xù. Đương nhiên tôi không có ý nói rằng bất kỳ gã ăn xin nào trên đường phố London cũng có thể kiếm được bảy trăm bảng Anh một năm-số đó còn lâu mới bằng thu nhập trung bình của tôi. Nhưng tôi có những lợi thế đặc biệt: khả năng hóa trang tài tình, cùng với tài đối đáp lanh lẹ được mài giũa từng ngày. Chính những thứ đó đã biến tôi thành một nhân vật khá 'nhẵn mặt' và thu hút sự chú ý ở City. Cả ngày, những dòng tiền xu rủng rẻng xen lẫn cả những đồng bạc trắng cứ thế trút vào mũ tôi. Hôm nào kiếm được dưới hai bảng thì quả là một ngày làm ăn vô cùng tồi tệ.

"Tiền bạc càng dư dả, tham vọng của tôi lại càng phình to. Tôi mua một căn biệt thự ở vùng ngoại ô, rồi cuối cùng cũng yên bề gia thất mà không một ai mảy may nghi ngờ về cái nghề nghiệp thực sự của tôi. Người vợ thân yêu của tôi luôn đinh ninh rằng tôi đang điều hành một công việc kinh doanh nào đó ở City. Cô ấy hoàn toàn không biết gì hết.

"Thứ Hai tuần trước, sau khi kết thúc ngày làm việc, tôi về lại căn phòng nằm phía trên ổ thuốc phiện và đang lúi húi thay đồ. Tình cờ ngó ra ngoài cửa sổ, tôi kinh hoàng và sửng sốt nhận ra vợ mình đang đứng ngay dưới đường, ánh mắt cô ấy găm chặt vào tôi. Tôi hoảng hốt thốt lên một tiếng, vội vàng giơ tay che mặt rồi phóng như bay xuống chỗ gã tâm phúc Lascar, nài nỉ hắn tuyệt đối không để bất kỳ ai bén mảng đến gần tôi. Tôi có thể nghe rõ mồn một giọng cô ấy vang lên dưới lầu, nhưng tôi tin chắc rằng cô ấy không tài nào bước lên nổi. Trong chớp mắt, tôi lột sạch bộ y phục quý ông, vơ lấy bộ đồ rách rưới của kẻ ăn xin tròng vào người, đội bộ tóc giả và bôi lại màu vẽ lên mặt. Với lớp ngụy trang hoàn hảo đến nhường ấy, thì ngay cả con mắt tinh tường của một người vợ cũng chẳng thể nào nhìn thấu. Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra bọn họ có thể sẽ lục soát căn phòng, và chính bộ quần áo quý ông sẽ phản chủ, vạch trần tất cả. Tôi lao tới mở tung cửa sổ. Do dùng sức quá thô bạo, tôi đã vô tình làm rách lại một vết cắt nhỏ vốn dĩ tôi tự tay cứa trong phòng ngủ từ buổi sáng. Tiếp đó, tôi vồ lấy chiếc áo khoác của mình. Nó trĩu nặng những đồng xu mà tôi vừa mới trút sang từ chiếc túi da đựng tiền kiếm được trong ngày. Tôi quẳng mạnh chiếc áo qua cửa sổ, và nó chìm nghỉm vào dòng nước sông Thames. Lẽ ra những bộ quần áo khác cũng sẽ chung số phận bay qua cửa sổ, nhưng đúng khoảnh khắc đó, một tốp cảnh sát đã rầm rập xông lên cầu thang. Và rồi, chỉ vài phút sau, tôi nhận ra-phải thú thật là tôi cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng-khi thấy thay vì bị nhận dạng là Neville St. Clair, tôi lại bị bắt giữ với tư cách là hung thủ đã sát hại anh ta.

"Tôi cũng chẳng biết mình còn điều gì để giải thích thêm nữa. Tôi đã hạ quyết tâm duy trì lớp ngụy trang này càng lâu càng tốt, nên một khuôn mặt nhem nhuốc, cáu bẩn chính là thứ tôi cần. Biết chắc vợ mình sẽ vô cùng hoảng loạn, nhân lúc không có viên cảnh sát nào chú ý, tôi đã lén tháo chiếc nhẫn trên tay và dúi cho tên Lascar, kèm theo một mẩu giấy viết vội để nhắn nhủ vợ tôi rằng cô ấy chẳng cần phải sợ hãi hay lo lắng gì cả."

"Mãi đến ngày hôm qua, bức thư đó mới được chuyển tới tay phu nhân," Holmes ôn tồn nói.

"Lạy Chúa! Chẳng dám nghĩ xem suốt một tuần qua cô ấy đã phải chịu đựng những gì!"

"Cảnh sát vẫn luôn để mắt theo dõi tên Lascar đó," Thanh tra Bradstreet lên tiếng, "vậy nên tôi hoàn toàn hiểu được hắn sẽ gặp khó khăn thế nào nếu muốn chuyển bức thư đi mà không bị phát giác. Rất có thể hắn đã lén giao thư cho một gã thủy thủ quen biết nào đó, và gã kia thì quên khuấy đi mất trong vài ngày."

"Chắc chắn là như vậy rồi," Holmes gật đầu tán đồng; "Tôi chẳng có gì phải nghi ngờ về điều đó cả. Nhưng anh chưa bao giờ bị truy tố vì tội ăn xin hay sao?"

"Cũng nhiều lần rồi; nhưng dăm ba đồng tiền phạt thì bõ bèn gì với tôi cơ chứ?"

"Dẫu vậy, mọi thứ phải chấm dứt tại đây," Bradstreet nghiêm giọng. "Nếu cảnh sát đồng ý nhắm mắt làm ngơ, giữ kín chuyện này, thì bắt đầu từ hôm nay, sẽ không còn bất kỳ kẻ nào mang tên Hugh Boone lảng vảng trên đường phố nữa."

"Tôi xin thề bằng những lời thề thiêng liêng và danh dự nhất của một người đàn ông."

"Nếu đúng là vậy, tôi nghĩ chúng tôi có thể sẽ không cần tiến hành thêm bất kỳ bước điều tra nào nữa. Nhưng nếu anh còn bị bắt gặp với bộ dạng đó một lần nữa, thì toàn bộ chân tướng sự việc sẽ bị phơi bày. Thưa ngài Holmes, tôi dám chắc rằng toàn bộ lực lượng cảnh sát đều vô cùng biết ơn ngài vì đã làm sáng tỏ vụ án hóc búa này. Tôi chỉ ước giá như mình biết được ngài đã dùng cách nào để phá giải nó."

"Tôi đạt được điều này," bạn tôi mỉm cười đáp, "bằng cách ngồi ỳ trên năm chiếc gối và tiêu thụ hết nhẵn một ounce thuốc lá sợi. Tôi nghĩ này Watson, nếu chúng ta đánh xe về Phố Baker ngay bây giờ, chúng ta sẽ về vừa kịp lúc để dùng bữa sáng đấy."



  1. Thomas De Quincey (1785-1859), nhà văn người Anh, nổi tiếng với cuốn tự truyện 'Lời thú nhận của một người Anh nghiện thuốc phiện' (Confessions of an English Opium-Eater) xuất bản năm 1821, mô tả chi tiết những ảo giác do ma túy gây ra. 

  2. Cồn thuốc phiện, một loại dung dịch chứa khoảng 10% thuốc phiện hòa tan trong cồn, từng được sử dụng phổ biến như một loại thuốc giảm đau và an thần vào thế kỷ 19 trước khi bị kiểm soát nghiêm ngặt. 

  3. Nguyên gốc 'The City' (City of London), khu vực trung tâm tài chính và thương mại lịch sử của London, nơi tập trung các ngân hàng, sàn giao dịch và là trung tâm kinh tế sầm uất. 

  4. Người Mã Lai (Malay), thuật ngữ thời kỳ Đế quốc Anh thường dùng để chỉ những người đến từ khu vực Đông Nam Á (chủ yếu là Malaysia và Indonesia ngày nay), thường làm thủy thủ hoặc phục vụ trong các bến cảng. 

  5. Thuật ngữ phổ biến trong thế kỷ 19 dùng để chỉ các thủy thủ đến từ tiểu lục địa Ấn Độ hoặc các khu vực lân cận của châu Á phục vụ trên các tàu Anh, thường bị trả lương thấp và sống trong điều kiện tồi tàn ở các khu bến cảng London. 

  6. Half-crown, một đồng tiền kim loại của Anh thời bấy giờ có giá trị bằng 2 shilling và 6 xu (bằng 1/8 bảng Anh), tương đương với số tiền boa khá hào phóng cho người đánh xe. 

  7. Wax vestas là một loại diêm thời kỳ đầu, phần thân làm bằng sợi bông tẩm sáp. Những người ăn xin thời Victoria thường giả vờ bán những món đồ lặt vặt như diêm để lách 'Đạo luật Người nghèo' và tránh bị bắt vì tội ăn xin. 

  8. Shag tobacco, loại thuốc lá rẻ tiền được thái thành sợi mỏng, có hương vị rất đậm và khé, thường được những người hút tẩu bình dân sử dụng và là một trong những sở thích đặc trưng của Sherlock Holmes khi cần tập trung suy nghĩ. 

  9. Một giao lộ nổi tiếng ở trung tâm London, được coi là điểm mốc trung tâm (kilômét số 0) để đo khoảng cách từ London đến các nơi khác. Câu nói của Holmes mang ý nghĩa phóng đại về sự hối hận và tự trách bản thân. 

  10. Gladstone bag, một loại túi xách tay có khung cứng, khi mở ra phân thành hai ngăn cân xứng, được đặt theo tên của cựu Thủ tướng Anh William Gladstone, rất thịnh hành đối với người đi du lịch hoặc công tác vào cuối thế kỷ 19. 

  11. Bow Street, nơi đặt trụ sở đồn cảnh sát và tòa án thẩm phán nổi tiếng nhất London thời bấy giờ (Bow Street Magistrates' Court), chuyên xử lý các vụ án lớn và giam giữ những nghi phạm quan trọng.