🎧 Nghe chương này

IX. VỤ ÁN NGÓN TAY CÁI VIÊN KỸ SƯ

Trong suốt những năm tháng gắn bó, chỉ có hai lần tôi đích thân giới thiệu khách hàng cho anh bạn Sherlock Holmes-đó là vụ ngón tay cái của anh Hatherley và chứng điên loạn của Đại tá Warburton. Vụ của ngón tay cái dù ít tạo cơ hội để Holmes phô diễn những phương pháp suy luận diễn dịch sắc bén-vốn luôn mang lại kết quả đáng kinh ngạc-nhưng diễn biến ban đầu lại quá đỗi kỳ lạ và chi tiết lại đậm chất kịch tính, xứng đáng được ghi chép lại hơn. Tôi biết vụ này từng được kể đi kể lại trên nhiều mặt báo. Thế nhưng, giống như mọi câu chuyện cùng loại, ấn tượng đọng lại sẽ nhạt nhòa hơn nhiều khi ta nhồi nhét en bloc1 vào vỏn vẹn nửa cột báo in, thay vì để sự việc từ từ hé mở. Từng nút thắt dần dần sáng tỏ, mỗi khám phá mới lại là một nấc thang đưa ta đến gần hơn với toàn bộ sự thật. Lúc bấy giờ, diễn biến sự việc đã hằn sâu trong tâm trí tôi, đến mức hai năm trôi qua mà ấn tượng ấy dường như chẳng hề phai nhạt.

Sự kiện mà tôi sắp tóm tắt diễn ra vào mùa hè năm '89, không lâu sau khi tôi lập gia đình. Khi ấy, tôi đã trở lại với công việc hành nghề y tư nhân và cuối cùng phải rời xa Holmes tại căn hộ phố Baker. Dẫu vậy, tôi vẫn thường xuyên ghé thăm anh, đôi khi còn thuyết phục được anh gác lại nếp sống phóng túng quen thuộc để đến chơi nhà chúng tôi. Phòng khám của tôi trên đà phát triển đều đặn. Do tình cờ sống không xa ga Paddington, tôi có được vài bệnh nhân là nhân viên làm việc tại đó. Một trong số họ-người từng được tôi chữa khỏi một căn bệnh đau đớn và dai dẳng-luôn không tiếc lời ca ngợi tài nghệ của tôi. Anh ta cố gắng giới thiệu bất kỳ người bệnh nào mà mình có thể thuyết phục đến phòng khám của tôi.

Một buổi sáng nọ, khi đồng hồ còn chưa điểm bảy giờ, tôi bị đánh thức bởi tiếng gõ cửa của cô hầu gái. Cô báo rằng có hai người đàn ông từ ga Paddington đang đợi ở phòng khám. Kinh nghiệm mách bảo tôi rằng các ca bệnh từ nhà ga hiếm khi là chuyện vặt vãnh. Tôi vội vàng mặc quần áo rồi hối hả bước xuống lầu. Vừa xuống đến nơi, tôi thấy viên nhân viên gác tàu-đồng minh cũ của tôi-bước ra từ phòng khám, tiện tay đóng chặt cửa lại.

"Tôi đưa cậu ấy đến đây," anh ta hất ngón cái ra sau lưng, thì thầm; "cậu ấy ổn cả."

"Có chuyện gì vậy?" tôi gặng hỏi. Bộ dạng của anh ta làm tôi có cảm giác như anh ta vừa nhốt một sinh vật kỳ dị nào đó vào phòng tôi vậy.

"Một bệnh nhân mới," anh ta đáp khẽ. "Tôi nghĩ tốt nhất là nên đích thân đưa cậu ấy đến; làm vậy cậu ấy sẽ không thể chuồn mất. Cậu ấy đang ở trong đó, hoàn toàn bình an vô sự. Bây giờ tôi phải đi, thưa bác sĩ; tôi cũng có bổn phận của mình, giống như ông vậy." Anh bạn môi giới nhiệt tình nói xong liền quay gót rời đi, chẳng thèm để tôi có lấy một cơ hội nói lời cảm ơn.

Bước vào phòng khám, tôi thấy một quý ông đang ngồi cạnh bàn. Anh ta ăn mặc khá giản dị với bộ đồ len tweed màu thạch nam, chiếc mũ vải mềm được đặt cẩn thận trên đống sách của tôi. Một bàn tay anh quấn chặt chiếc khăn tay lốm đốm vết máu. Đó là một thanh niên trẻ tuổi, tôi đoán chưa quá hăm lăm, mang trên mình khuôn mặt nam tính và mạnh mẽ. Tuy nhiên, sắc mặt anh ta trắng bệch, gợi cho tôi cảm giác anh đang phải chịu đựng một cú sốc tinh thần vô cùng khủng khiếp. Dường như anh đang phải dùng toàn bộ sức lực để kìm nén cơn kích động.

"Thưa bác sĩ, tôi xin lỗi vì đã gọi ông dậy quá sớm," anh ta cất lời, "nhưng đêm qua tôi đã gặp một tai nạn rất nghiêm trọng. Tôi vừa đến đây bằng chuyến tàu sáng. Khi hỏi thăm quanh ga Paddington xem có thể tìm bác sĩ ở đâu, một người đàn ông tốt bụng đã tận tình đưa tôi đến tận nơi. Tôi có đưa danh thiếp cho cô hầu gái, nhưng hình như cô ấy đã để nó trên chiếc bàn nhỏ đằng kia."

Tôi cầm tấm danh thiếp lên và lướt nhìn. "Anh Victor Hatherley, kỹ sư thủy lực, 16A, phố Victoria (tầng 3)." Đó là tên, nghề nghiệp và nơi ở của vị khách ghé thăm buổi sớm này. "Tôi rất tiếc vì đã để anh phải đợi," tôi nói rồi ngồi xuống chiếc ghế bành trong thư phòng. "Tôi hiểu anh vừa trải qua một chuyến đi đêm, mà bản thân việc đi lại ban đêm đã là một chuyện nhàm chán rồi."

"Ồ, đêm qua của tôi chẳng thể gọi là nhàm chán đâu," anh ta nói rồi bật cười. Anh ta cười vô cùng sảng khoái, âm vực vút cao và vang dội, ngả hẳn người ra sau ghế mà cười đến rung cả người. Với bản năng y học của mình, tôi lập tức nhận ra điểm bất thường trong nụ cười ấy.

"Dừng lại!" tôi hét lên; "bình tĩnh lại đi!" và tôi vội vàng rót một ít nước từ bình thủy tinh ra.

Thế nhưng, mọi nỗ lực đều vô ích. Anh ta đang chìm sâu vào cơn bộc phát cuồng loạn-phản ứng thường thấy ở những người có nội tâm mạnh mẽ ngay sau khi vừa vượt qua một cuộc khủng hoảng lớn. Phải mất một lúc lâu, anh ta mới tỉnh lại, dáng vẻ tiều tụy và nhợt nhạt vô cùng.

"Tôi đang làm trò cười cho thiên hạ," anh ta thở hổn hển.

"Không hề. Uống cái này đi." Tôi pha thêm chút rượu brandy vào nước đưa cho anh. Dần dần, chút sắc hồng đã trở lại trên đôi má tái nhợt kia.

"Tốt hơn rồi!" anh ta nói. "Và bây giờ, thưa bác sĩ, có lẽ ông sẽ vui lòng kiểm tra ngón tay cái của tôi, hay đúng hơn là vị trí từng là ngón tay cái."

Anh tháo chiếc khăn tay và đưa tay về phía tôi. Cảnh tượng trước mắt khiến ngay cả một người có thần kinh vững vàng như tôi cũng phải rùng mình kinh hãi. Bàn tay anh chỉ còn bốn ngón nhô ra, cùng với một bề mặt xốp, đỏ hỏn và rỉ máu tứa lưa ở ngay vị trí đáng lẽ phải là ngón cái. Nó đã bị chặt phăng hoặc xé toạc tận gốc.

"Lạy Chúa!" tôi thốt lên, "vết thương kinh khủng quá. Chắc hẳn nó đã chảy rất nhiều máu."

"Vâng, đúng vậy. Khi chuyện xảy ra, tôi đã ngất đi, có lẽ tôi đã bất tỉnh một lúc lâu. Lúc tỉnh lại, tôi thấy máu vẫn tuôn xối xả, nên tôi đã lấy một đầu chiếc khăn tay buộc thật chặt quanh cổ tay và dùng một cành cây siết lại."

"Tuyệt vời! Đáng lý ra anh nên làm một bác sĩ phẫu thuật."

"Như ông thấy đấy, đó là một vấn đề của thủy lực học, hoàn toàn nằm trong chuyên môn của tôi."

"Vết thương này," tôi vừa kiểm tra vết thương vừa nói, "bị gây ra bởi một dụng cụ rất nặng và sắc bén."

"Một thứ gì đó tựa như con dao phay vậy," anh ta đáp.

"Tôi đoán đây là một tai nạn?"

"Hoàn toàn không."

"Cái gì! Một vụ mưu sát sao?"

"Thực sự là một hành vi mang nặng chủ ý giết người."

"Anh làm tôi kinh hãi đấy."

Tôi dùng bọt biển lau sạch vết thương, sát trùng, băng bó cẩn thận và cuối cùng đắp lên đó lớp bông gòn cùng băng y tế tẩm carbolic. Anh ta nằm ngả người ra sau, dáng vẻ kiên cường không hề nao núng, mặc dù thỉnh thoảng tôi vẫn thấy anh cắn chặt môi kìm nén cơn đau.

"Anh thấy thế nào rồi?" tôi hỏi khi công việc đã hoàn tất.

"Tuyệt vời! Nhờ rượu brandy và băng gạc của bác sĩ, tôi cảm thấy như mình vừa được hồi sinh. Quả thực tôi đã kiệt sức, nhưng tôi cũng đã phải trải qua quá nhiều chuyện."

"Có lẽ anh không nên nhắc lại chuyện này vội. Rõ ràng nó đang thử thách thần kinh của anh."

"Ồ, không, bây giờ thì không sao. Sớm muộn tôi cũng phải trình báo câu chuyện này với cảnh sát. Nhưng nói thật với bác sĩ, nếu không có cái vết thương này làm bằng chứng sống, tôi e rằng họ khó lòng mà tin lời tôi, bởi vì câu chuyện quá đỗi hoang đường. Tôi lại chẳng có mấy bằng chứng chứng minh. Thậm chí, ngay cả khi họ tin tôi, những manh mối tôi cung cấp lại quá đỗi mờ nhạt, chẳng biết công lý có được thực thi hay không nữa."

"Ha!" tôi reo lên, "nếu đó là một vụ án bí ẩn cần được làm sáng tỏ, tôi kịch liệt khuyên anh nên đến gặp bạn tôi, anh Sherlock Holmes, trước khi trình báo với cảnh sát."

"Ồ, tôi từng nghe danh anh chàng đó," vị khách của tôi đáp, "và tôi sẽ rất vui nếu anh ấy nhận vụ này, mặc dù tất nhiên tôi vẫn phải nhờ đến cảnh sát. Bác sĩ có thể giới thiệu tôi với anh ấy được không?"

"Tôi sẽ làm nhiều hơn thế. Tôi sẽ đích thân đưa anh đến gặp anh ấy."

"Tôi vô cùng biết ơn bác sĩ."

"Chúng ta sẽ gọi một chiếc xe ngựa và cùng đi. Vừa kịp lúc dùng bữa sáng với anh ấy. Anh có cảm thấy đủ sức đi không?"

"Có chứ; tôi sẽ không thể nào yên lòng cho đến khi kể xong câu chuyện của mình."

"Vậy người hầu của tôi sẽ gọi một chiếc xe ngựa, tôi sẽ ra với anh ngay." Tôi vội vã chạy lên lầu, giải thích sơ qua tình hình với vợ, và chỉ trong vòng năm phút, tôi đã yên vị trên chiếc xe ngựa hansom, cùng người bạn mới quen thẳng tiến đến phố Baker.

Đúng như tôi dự đoán, Sherlock Holmes đang nằm ườn trong phòng khách với chiếc áo choàng ngủ. Anh đang mải mê đọc cột tin nhắn tìm người thân trên tờ The Times và thong thả hút tẩu thuốc trước bữa sáng. Thuốc của anh là tập hợp những mẩu thuốc lá vụn còn sót lại từ những lần hút ngày hôm trước, được anh phơi khô cẩn thận và gom lại ở góc bệ lò sưởi. Anh đón tiếp chúng tôi bằng thái độ thân thiện, lặng lẽ như thường lệ, gọi thêm thịt xông khói và trứng tươi, rồi cùng chúng tôi dùng một bữa sáng thịnh soạn. Bữa ăn kết thúc, anh chu đáo thu xếp cho vị khách mới quen của chúng tôi nằm nghỉ trên ghế sô pha, lót một chiếc gối dưới đầu anh ta, và đặt một ly rượu brandy pha nước ngay trong tầm với.

"Thật dễ dàng nhận ra anh vừa trải qua một chuyện không hề tầm thường, anh Hatherley," anh nói. "Xin mời, hãy nằm xuống đó và cứ tự nhiên như ở nhà. Hãy kể cho chúng tôi những gì anh có thể, nhưng nhớ dừng lại khi thấy mệt và uống chút chất kích thích để lấy lại sức."

"Cảm ơn anh," bệnh nhân của tôi đáp, "nhưng tôi đã thấy như trở thành một con người khác kể từ khi bác sĩ băng bó vết thương. Bữa sáng của anh có lẽ đã hoàn tất luôn quá trình chữa trị ấy. Tôi sẽ cố gắng không làm mất nhiều thời gian quý báu của các anh, nên tôi sẽ bắt đầu ngay câu chuyện về những trải nghiệm kỳ lạ của mình."

Holmes thu mình trên chiếc ghế bành lớn, mang vẻ mặt mỏi mệt, trĩu nặng thường ngày-thứ vỏ bọc hoàn hảo che giấu bản chất sắc bén và háo hức bên trong anh. Tôi ngồi đối diện Holmes, và cả hai chúng tôi cùng im lặng lắng nghe câu chuyện kỳ lạ từ vị khách của mình.

"Thưa các anh," anh chàng mở lời, "tôi vốn thân cô thế cô, lại chưa vợ con, hiện sống lủi thủi một mình trong khu nhà trọ ở London. Về chuyên môn, tôi là một kỹ sư thủy lực và đã tích lũy kha khá kinh nghiệm thực tế suốt bảy năm học việc tại Venner & Matheson, một hãng danh tiếng ở Greenwich. Hai năm trước, khi mãn hạn học việc và được thừa hưởng một khoản tiền kha khá từ người cha quá cố tội nghiệp, tôi quyết định ra làm riêng và thuê một văn phòng tươm tất trên phố Victoria.

"Tôi đoán hẳn ai cũng thấy cái thuở mới chân ướt chân ráo tự lập nghiệp là một quãng thời gian buồn tẻ. Nhưng với tôi, tình cảnh còn bi đát hơn nhiều. Ròng rã hai năm trời, tôi chỉ vớ được đúng ba bận tư vấn và một vụ lặt vặt. Ấy là tất cả những gì cái nghề này mang lại cho tôi. Tổng thu nhập vỏn vẹn hai mươi bảy bảng mười shilling. Ngày nối ngày, từ chín giờ sáng đến bốn giờ chiều, tôi mòn mỏi ngóng chờ trong cái hang nhỏ của mình, cho đến khi cõi lòng trĩu nặng sự tuyệt vọng, và tôi bắt đầu tin rằng mình sẽ chẳng bao giờ có nổi một cơ ngơi tử tế.

"Thế nhưng vào ngày hôm qua, ngay lúc tôi đang định đóng cửa văn phòng ra về, thì cậu giúp việc chạy vào báo rằng có một vị khách đang đợi và muốn bàn chuyện làm ăn. Cậu ta cầm theo một tấm danh thiếp, trên đó in dòng chữ 'Đại tá Lysander Stark'. Ngay sát gót cậu là chính vị đại tá. Đó là một người đàn ông có vóc dáng nhỉnh hơn mức trung bình một chút, nhưng lại gầy gò đến mức khó tin. Tôi dám chắc mình chưa từng thấy ai gầy còm đến vậy. Toàn bộ khuôn mặt ông ta như bị vuốt nhọn hoắt lại ở hai phần mũi và cằm, còn lớp da má thì căng bóng, dán chặt vào những khúc xương gò má nhô cao. Dù vậy, vẻ hốc hác này dường như là nét tự nhiên trên cơ thể ông ta chứ chẳng phải do ốm đau bệnh tật gì, bởi đôi mắt ông ta vẫn sáng rực, bước đi nhanh nhẹn và phong thái vô cùng tự tin. Ông ta ăn mặc giản dị nhưng tươm tất, còn về tuổi tác, tôi đoán chừng ông ta ngót nghét bốn mươi chứ không phải mới ngoài ba mươi.

"'Anh Hatherley phải không?' ông ta cất giọng, pha chút âm sắc của người Đức. 'Anh Hatherley, người ta đã giới thiệu anh với tôi, rằng anh không chỉ là một người thợ lành nghề mà còn rất kín miệng và biết giữ bí mật.'

"Tôi cúi chào, trong lòng dâng lên cảm giác phổng mũi như bất kỳ gã trai trẻ nào khi được tâng bốc như thế. 'Xin phép cho tôi được hỏi, ai đã ưu ái dành cho tôi những lời có cánh đó vậy?'

"'Chà, có lẽ tốt nhất là lúc này tôi chưa nên tiết lộ chuyện đó vội. Tôi cũng nghe được từ chính nguồn tin ấy rằng anh mồ côi cha mẹ, chưa lập gia đình và hiện đang sống thui thủi một mình ở London.'

"'Điều đó hoàn toàn chính xác,' tôi đáp lời; 'nhưng mong ngài thứ lỗi nếu tôi nói rằng tôi không hiểu những chuyện đời tư này thì có liên quan gì đến trình độ chuyên môn của tôi. Có phải ngài muốn bàn với tôi về một công việc đúng với chuyên ngành của tôi không?'

"'Chắc chắn rồi. Nhưng rồi anh sẽ thấy tất cả những gì tôi vừa nói đều đi thẳng vào trọng tâm cả đấy. Tôi đang có một nhiệm vụ chuyên môn cần giao cho anh, nhưng yêu cầu tối thượng là phải giữ bí mật tuyệt đối - anh hiểu chứ, sự kín miệng tuyệt đối, và hiển nhiên là chúng ta có thể trông đợi điều đó ở một kẻ sống độc thân hơn là một người bị bủa vây bởi cả gia đình.'

"'Một khi tôi đã hứa giữ bí mật,' tôi quả quyết, 'ngài có thể hoàn toàn tin tưởng rằng tôi sẽ giữ lời.'

"Nghe tôi nói vậy, ông ta chằm chằm quan sát tôi, và tôi dám chắc mình chưa bao giờ bắt gặp một ánh nhìn đầy vẻ nghi ngờ và dò xét đến nhường ấy.

"'Vậy anh hứa chứ?' cuối cùng ông ta cũng lên tiếng.

"'Vâng, tôi hứa.'

"'Giữ im lặng tuyệt đối, hoàn toàn trước, trong và sau sự việc? Không hề hé răng nửa lời về vấn đề này, dù là qua lời nói hay thư từ?'

"'Tôi đã hứa với ngài rồi.'

"'Rất tốt.' Đột nhiên, ông ta bật dậy như lò xo, lao vụt qua căn phòng nhanh như chớp và mở toang cánh cửa. Hành lang bên ngoài vắng tanh.

"'Tốt rồi,' ông ta vừa nói vừa quay bước trở lại. 'Tôi biết bọn giúp việc đôi khi rất hay tọc mạch vào chuyện làm ăn của chủ. Giờ thì chúng ta có thể an tâm nói chuyện được rồi.' Ông ta kéo ghế sát rạt vào chỗ tôi và lại bắt đầu chòng chọc nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét và đầy toan tính ban nãy.

"Một cảm giác ghê rợn, pha lẫn chút gì đó hoảng sợ, bắt đầu dấy lên trong tôi trước những hành động kỳ quặc của gã đàn ông gầy trơ xương này. Thậm chí nỗi lo để vuột mất một mối làm ăn cũng chẳng thể ngăn tôi bộc lộ sự nôn nóng ra mặt.

"'Xin ngài hãy vào thẳng vấn đề đi,' tôi nói; 'thời gian của tôi rất quý báu.' Xin Chúa tha thứ cho tôi vì câu nói khoác lác cuối cùng đó, nhưng những lời ấy cứ thế tuôn ra khỏi miệng tôi.

"'Năm mươi guinea2 cho một đêm làm việc thì sao?' ông ta hỏi.

"'Tuyệt vời.'

"'Tôi nói là một đêm làm việc, nhưng nói chính xác hơn thì chỉ cần một giờ thôi. Tôi chỉ cần anh xem xét và đánh giá giúp một cỗ máy dập thủy lực đang gặp trục trặc. Chỉ cần anh chỉ ra chỗ hỏng, chúng tôi sẽ tự khắc phục ngay. Anh thấy nhiệm vụ này thế nào?'

"'Nghe có vẻ nhẹ nhàng mà thù lao lại vô cùng hậu hĩnh.'

"'Chính xác là như vậy. Chúng tôi muốn anh khởi hành ngay tối nay bằng chuyến tàu cuối cùng.'

"'Đi đến đâu?'

"'Đến Eyford, thuộc vùng Berkshire. Đó là một vùng đất nhỏ giáp ranh Oxfordshire, nằm cách Reading chưa tới bảy dặm. Sẽ có một chuyến tàu xuất phát từ Paddington đưa anh đến đó vào lúc mười một giờ mười lăm phút đêm.'

"'Rất tốt.'

"'Tôi sẽ đánh một cỗ xe ngựa xuống tận nơi đón anh.'

"'Vậy là còn phải đi xe ngựa một quãng nữa sao?'

"'Vâng, cơ ngơi của chúng tôi nằm sâu tít trong vùng thôn quê, cách ga Eyford chừng bảy dặm.'

"'Nếu vậy thì chắc chắn chúng ta không thể tới nơi trước nửa đêm được. Vậy là tôi hết hy vọng bắt được chuyến tàu quay về rồi. Chắc tôi đành phải ở lại qua đêm thôi.'

"'Đừng lo, chúng tôi có thể dễ dàng thu xếp chỗ ngủ cho anh.'

"'Thế thì thật là bất tiện quá. Liệu tôi có thể đến vào một lúc nào đó thuận tiện hơn không?'

"'Chúng tôi thiết nghĩ tốt nhất là anh nên đi vào đêm khuya. Chính để bù đắp cho sự phiền toái này của anh mà chúng tôi mới chịu trả cho một chàng trai trẻ vô danh như anh cái mức giá thừa sức mời được những chuyên gia đầu ngành. Mặc dù vậy, tất nhiên, nếu anh muốn rút lui, thì lúc này vẫn còn kịp chán.'

"Tôi nhẩm tính đến món hời năm mươi guinea, và số tiền đó sẽ giải nguy cho tôi biết nhường nào. 'Không hề,' tôi vội đáp, 'tôi rất hân hạnh được phục vụ theo đúng ý ngài. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn nắm rõ hơn một chút về những gì ngài cần tôi làm.'

"'Chính xác là như vậy. Việc chúng tôi yêu cầu anh thề thốt giữ bí mật đã khơi dậy trí tò mò của anh cũng là lẽ tự nhiên thôi. Tôi không muốn ép uổng anh nhúng tay vào chuyện gì mà không vạch rõ mọi thứ từ trước. Liệu tôi có thể tin chắc rằng chúng ta đang hoàn toàn an toàn khỏi những kẻ nghe lén chứ?'

"'Hoàn toàn an toàn.'

"'Vậy thì vấn đề là thế này. Hẳn anh cũng biết loại đất sét tẩy màu (fuller's-earth)3 là một mặt hàng vô cùng giá trị, và nó chỉ được tìm thấy rải rác ở một vài mỏ tại nước Anh này?'

"'Tôi cũng có nghe nói thế.'

"'Mới đây thôi, tôi đã tậu được một mảnh đất nhỏ - một mảnh đất rất nhỏ - nằm gọn trong bán kính mười dặm quanh Reading. Tôi đã may mắn phát hiện ra một vỉa đất sét tẩy màu nằm ngay dưới một cánh đồng của mình. Thế nhưng, khi khảo sát kỹ, tôi nhận thấy vỉa đất này khá hẹp, và nó thực chất chỉ là một mắt xích nối liền hai mỏ khổng lồ nằm ở hai bên tả hữu - ngặt nỗi, cả hai mỏ đó lại đều nằm trên đất của những người hàng xóm của tôi. Những kẻ tốt bụng kia hoàn toàn mù tịt về việc mảnh đất của họ đang che giấu một thứ quý giá chẳng kém gì mỏ vàng. Lẽ dĩ nhiên, thượng sách lúc này là tôi phải mua lại đất của họ trước khi họ kịp nhận ra giá trị thực sự của nó. Nhưng khổ nỗi, tôi lại không đủ vốn liếng để làm việc đó. Bần cùng, tôi đành chia sẻ bí mật này với một vài chiến hữu, và họ nảy ra sáng kiến rằng chúng tôi nên âm thầm khai thác cái mỏ nhỏ của mình, rồi dùng số tiền kiếm được để thâu tóm những cánh đồng lân cận. Chúng tôi đã tiến hành công việc được một thời gian, và để đẩy nhanh tiến độ, chúng tôi đã cho lắp đặt một cỗ máy ép thủy lực. Cỗ máy này, như tôi đã nói, đang bị trục trặc, và chúng tôi cần đến chuyên môn của anh để giải quyết. Tuy nhiên, chúng tôi phải bảo vệ bí mật này bằng mọi giá. Nếu có kẻ nào đánh hơi được việc chúng tôi lén lút rước cả kỹ sư thủy lực đến ngôi nhà nhỏ của mình, sự tò mò của họ sẽ nhanh chóng bị kích động. Và rồi, nếu sự thật vỡ lở, mọi cơ hội mua lại những cánh đồng kia cũng như toàn bộ kế hoạch của chúng tôi sẽ đổ sông đổ biển. Đó là lý do tại sao tôi bắt anh phải thề độc rằng sẽ không hé răng nửa lời với bất kỳ ai về chuyến đi đến Eyford đêm nay. Tôi hy vọng mình đã giải thích ngọn ngành mọi chuyện rồi chứ?'

"'Tôi hoàn toàn hiểu ý ngài,' tôi nói. 'Điểm duy nhất làm tôi thắc mắc là ngài dùng máy ép thủy lực vào việc khai thác đất sét tẩy màu kiểu gì, bởi theo sự hiểu biết của tôi, người ta thường xúc nó lên như xúc sỏi từ một cái hố.'

"'À!' ông ta đáp lời với vẻ phớt lờ, 'chúng tôi có quy trình xử lý riêng. Chúng tôi ép đất sét thành những khối gạch, cốt để vận chuyển đi mà không bị ai dòm ngó xem đó là cái gì. Nhưng đó chỉ là một tiểu tiết. Giờ thì tôi hoàn toàn tin tưởng anh rồi đấy, anh Hatherley, và tôi cũng đã cho anh thấy sự tin tưởng của tôi đặt nơi anh lớn đến nhường nào.' Vừa dứt lời, ông ta liền đứng bật dậy. 'Vậy thì tôi sẽ đợi anh ở Eyford vào lúc mười một giờ mười lăm phút đêm.'

"'Tôi nhất định sẽ có mặt.'

"'Và tuyệt đối không hé nửa lời với ai đấy.' Ông ta chĩa về phía tôi một ánh nhìn dò xét thật lâu lần cuối, rồi siết chặt tay tôi bằng một cái bắt tay lạnh ngắt, ướt đẫm mồ hôi, trước khi vội vã bước ra khỏi phòng.

"Chà, khi đã ngồi một mình để bình tâm ngẫm lại mọi chuyện, tôi thực sự kinh ngạc, như hai anh có thể mường tượng, trước cái nhiệm vụ từ trên trời rơi xuống này. Một mặt, hiển nhiên là tôi mừng rơn, bởi khoản thù lao kia chí ít cũng cao gấp chục lần cái giá mà tôi sẽ tự đặt ra cho công sức của mình, chưa kể mối làm ăn này biết đâu lại là bước đà dẫn tới những hợp đồng béo bở khác. Nhưng mặt khác, cả khuôn mặt lẫn thái độ của vị khách hàng này cứ để lại trong tôi một ấn tượng rờn rợn khó tả. Tôi cũng không cho rằng lời giải thích của ông ta về cái mỏ đất sét tẩy màu là lý do đủ sức thuyết phục cho việc tôi nhất thiết phải cất công đến đó vào giữa lúc đêm hôm khuya khoắt, hay giải thích cho sự hoảng hốt tột độ của ông ta trước nguy cơ tôi để lộ chuyến đi này với người khác. Dù vậy, tôi quyết định gạt phăng mọi nỗi bất an, tự thưởng cho mình một bữa tối thịnh soạn, rồi đánh xe thẳng tiến tới Paddington để bắt đầu chuyến hành trình, một mực tuân thủ cái mệnh lệnh giữ mồm giữ miệng kia.

"Đến Reading, tôi chẳng những phải đổi tàu mà còn phải chuyển luôn cả nhà ga. Dù vậy, tôi vẫn kịp bắt chuyến tàu muộn nhất tới Eyford, và đặt chân xuống cái nhà ga nhỏ chìm trong ánh sáng lờ mờ khi đồng hồ đã điểm quá mười một giờ. Tôi là hành khách độc nhất xuống xe ở đó, và trên sân ga cũng chẳng có ai ngoài một gã khuân vác đang ngái ngủ xách theo một chiếc đèn lồng. Thế nhưng, ngay khi tôi vừa lách qua cánh cổng soát vé chật hẹp, tôi đã thấp thoáng thấy người quen cũ ban sáng đang đứng chờ chìm trong bóng tối ở phía bên kia. Không nói không rằng, ông ta chộp lấy cánh tay tôi, kéo tuột tôi hối hả chui vào một cỗ xe ngựa đã mở sẵn cửa. Ông ta kéo sập cửa sổ ở cả hai bên lên, gõ mạnh vào khung gỗ báo hiệu, và rồi chúng tôi phóng vút đi với tốc độ nhanh nhất mà con ngựa có thể guồng chân."

"Chỉ một con ngựa thôi sao?" Holmes chợt xen vào.

"Vâng, đúng là chỉ có một con."

"Anh có kịp để ý màu sắc của nó không?"

"Có chứ, tôi đã kịp nhìn thấy nó dưới ánh sáng từ những ngọn đèn bên hông khi tôi bước lên xe. Đó là một con ngựa màu hạt dẻ."

"Trông nó mỏi mệt hay vẫn còn sung sức?"

"Ồ, rất sung sức, lông lá bóng mượt."

"Cảm ơn anh. Thật xin lỗi vì đã ngắt lời. Xin anh cứ tiếp tục câu chuyện vô cùng lôi cuốn này."

"Sau đó, chúng tôi cất bước và chạy xóc nảy mòn mỏi suốt ít nhất một giờ đồng hồ. Đại tá Lysander Stark từng khẳng định quãng đường chỉ dài cỡ bảy dặm, nhưng với cái tốc độ như vũ bão và thời gian di chuyển lâu đến vậy, tôi dám chắc nó phải xấp xỉ mười hai dặm là ít. Ông ta ngồi cạnh tôi, lặng thinh suốt cả chặng đường. Không dưới một lần, khi liếc trộm sang bên cạnh, tôi bắt gặp ánh mắt ông ta đang dán chặt vào tôi với một sự tập trung cao độ. Đường sá ở vùng nông thôn này dường như vô cùng tồi tệ, bởi cỗ xe cứ lắc lư và xóc nảy điên cuồng. Tôi cố gắng nhướn mắt nhìn ra ngoài cửa sổ để xác định xem mình đang ở đâu, nhưng cửa lại được lắp kính mờ, khiến tôi chẳng thể nhận ra bất cứ thứ gì ngoại trừ một vệt sáng mờ nhạt thoảng qua. Thỉnh thoảng, tôi đánh liều buông vài câu để phá tan bầu không khí ngột ngạt của chuyến đi, nhưng viên đại tá chỉ ậm ừ đáp lại bằng những từ ngữ cộc lốc, khiến cuộc trò chuyện nhanh chóng rơi vào ngõ cụt. Tuy nhiên, cuối cùng thì những cú xóc nảy thót tim cũng nhường chỗ cho tiếng lạo xạo êm ái của một con đường trải sỏi, và chiếc xe ngựa từ từ dừng lại. Đại tá Lysander Stark phóng ngay xuống xe, và khi tôi vừa bước theo, ông ta đã kéo tuột tôi vào trong một mái hiên rộng mở đang đợi sẵn. Chúng tôi dường như lách mình thẳng từ cỗ xe ngựa vào trong sảnh, nhanh đến nỗi tôi thậm chí không kịp liếc lấy một cái nhìn thoáng qua mặt tiền của ngôi nhà. Ngay khi gót chân tôi vừa bước qua ngưỡng cửa, cánh cửa gỗ nặng nề liền đóng sập lại sau lưng chúng tôi, để lại bên ngoài tiếng bánh xe lạch cạch nhỏ dần rồi chìm hẳn vào màn đêm.

"Bên trong ngôi nhà tối đen như mực. Viên đại tá lóng ngóng quờ quạng tìm diêm, miệng làu bàu vài tiếng chửi thề. Đột nhiên, một cánh cửa ở đầu kia hành lang bật mở, hắt một vệt sáng dài màu vàng vọt về phía chúng tôi. Vệt sáng ngày một rộng ra, rồi một người phụ nữ bước tới, tay giương cao ngọn đèn qua đầu, rướn người về phía trước, chằm chằm nhìn vào chúng tôi. Tôi có thể nhận ra cô ấy sở hữu một nhan sắc vô cùng rạng rỡ, và nhờ ánh sáng phản chiếu lên độ bóng bẩy của chiếc váy sẫm màu cô đang mặc, tôi đoán chắc nó được may từ một loại lụa đắt tiền. Cô ấy cất giọng hỏi vài câu bằng một thứ ngôn ngữ nước ngoài với ngữ điệu dò hỏi, và khi người bạn đồng hành của tôi đáp trả bằng một từ cộc lốc, cục cằn, cô ấy giật thót mình đến độ suýt đánh rơi ngọn đèn trên tay. Đại tá Stark sải bước tới chỗ cô, rít qua kẽ răng thì thầm điều gì đó vào tai cô. Rồi, sau khi thô bạo đẩy cô trở lại căn phòng mà cô vừa bước ra, ông ta quay về phía tôi với ngọn đèn cầm chắc trên tay.

"'Có lẽ anh sẽ vui lòng nán lại căn phòng này ít phút,' ông ta nói, đồng thời đẩy mở một cánh cửa khác. Đó là một căn phòng nhỏ nhắn, tĩnh mịch, được bài trí giản đơn với một chiếc bàn tròn đặt chính giữa, trên mặt bàn nằm ngổn ngang vài cuốn sách tiếng Đức. Đại tá Stark đặt ngọn đèn lên nóc cây đàn harmonium ngay cạnh cửa ra vào. 'Tôi sẽ không bắt anh phải đợi lâu đâu,' ông ta nói, rồi mất hút vào màn đêm.

"Tôi đưa mắt lướt qua những cuốn sách trên bàn, và dù mù tịt tiếng Đức, tôi vẫn nhận ra có hai cuốn là những luận án khoa học, số còn lại là những tuyển tập thơ. Sau đó, tôi rảo bước về phía cửa sổ, thầm mong có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn chút cảnh sắc thôn quê bên ngoài, nhưng một lớp cửa chớp bằng gỗ sồi sừng sững, được then cài chắc chắn, đã chặn đứng mọi hy vọng. Đó là một ngôi nhà chìm trong sự tĩnh lặng đến rợn người. Chỉ có tiếng tích tắc vang dội của một chiếc đồng hồ cổ xưa đâu đó ngoài hành lang, còn lại, mọi thứ đều im lìm như nấm mồ. Một cảm giác bất an mơ hồ lại bắt đầu len lỏi trong tâm trí tôi. Đám người Đức này là ai, và họ đang toan tính điều gì khi lẩn khuất ở một nơi xa xôi, hẻo lánh và kỳ dị đến vậy? Và nơi này rốt cuộc là chốn nào? Tôi chỉ biết mình đang ở cách Eyford chừng mười dặm, nhưng là ở phía bắc, nam, đông hay tây thì chịu chết. Xét cho cùng, Reading, và có thể cả vài thị trấn lớn khác nữa, cũng nằm gọn trong cái bán kính mười dặm ấy, nên rốt cuộc có thể nơi này cũng chẳng hẻo lánh đến thế. Dù vậy, dựa vào bầu không khí tĩnh mịch tuyệt đối này, tôi dám cá là chúng tôi đang ở một vùng quê vắng vẻ. Tôi đi quanh quẩn trong phòng, miệng khe khẽ lẩm nhẩm một giai điệu để xốc lại tinh thần, tự nhủ rằng mình hoàn toàn xứng đáng với món tiền thù lao năm mươi guinea kia.

"Đột nhiên, giữa sự im lặng đến ngạt thở, không hề có tiếng động báo trước, cánh cửa phòng tôi chầm chậm hé mở. Người phụ nữ ban nãy đang đứng lấp ló ở khe cửa, với bóng tối của sảnh chìm khuất sau lưng, để mặc ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn trong phòng tôi rọi thẳng vào khuôn mặt xinh đẹp và đang hớt hải của cô. Chỉ cần một cái liếc mắt, tôi đã thấy rõ cô ấy đang rúm ró vì sợ hãi, và cảnh tượng đó làm trái tim tôi lạnh toát. Cô ấy đưa một ngón tay run lẩy bẩy lên môi, ra hiệu cho tôi phải giữ im lặng, rồi thì thào vài từ tiếng Anh bập bẹ vỡ vụn về phía tôi, đôi mắt không ngừng liếc dọc liếc ngang ra phía sau y như một con ngựa đang hoảng loạn trước bóng đêm bủa vây quanh mình.

"'Tôi sẽ rời đi,' cô ấy nói, dường như đang gắng sức đến cùng cực để giữ giọng điệu bình tĩnh; 'Tôi sẽ rời đi. Tôi không nên nán lại đây. Chẳng có ích lợi gì cho anh đâu.'

"'Nhưng thưa phu nhân,' tôi nói, 'tôi vẫn chưa hoàn thành công việc mà tôi được thuê đến để làm. Tôi không thể nhấc gót rời đi cho đến khi được tận mắt kiểm tra cỗ máy đó.'

"'Nhiệm vụ đó không đáng để anh phải mạo hiểm mạng sống đâu,' cô ấy vẫn tiếp tục khẩn khoản. 'Anh có thể thoát ra bằng cánh cửa này; không ai ngáng đường anh cả.' Và rồi, khi thấy tôi mỉm cười và lắc đầu từ chối, cô ấy bỗng nhiên vứt bỏ mọi sự kiềm chế, vội vã tiến lên một bước, hai tay siết chặt vào nhau. 'Vì tình yêu của Chúa!' cô ấy thì thào, 'hãy cao chạy xa bay khỏi đây ngay, trước khi mọi sự đã quá muộn!'

"Thế nhưng bản tính của tôi vốn đã ngang ngạnh, và lại càng khoái dấn thân vào những nơi có chướng ngại vật cản đường. Tôi nghĩ đến khoản thù lao năm mươi guinea kết xù kia, nghĩ về chặng hành trình mệt nhoài vừa phải trải qua, và cả một đêm mất ngủ khó chịu đang chực chờ phía trước. Chẳng lẽ tất cả những nhọc nhằn đó đều đổ sông đổ biển sao? Cớ gì tôi phải lén lút chuồn đi như một kẻ trộm, bỏ dở nhiệm vụ của mình, và đánh rơi luôn cả khoản tiền hậu hĩnh mà mình đáng được hưởng? Biết đâu chừng người phụ nữ này lại là một kẻ mắc chứng hoang tưởng cũng nên. Thế nên, với một dáng vẻ cứng cỏi, dẫu rằng bộ dạng hoảng loạn của cô ta đã khiến tôi bối rối hơn tôi muốn tự nhận, tôi vẫn nhất quyết lắc đầu và khẳng định ý định bám trụ lại của mình. Cô ta toan tiếp tục những lời nỉ non van nài thì một cánh cửa trên tầng bỗng đóng sập lại, kèm theo tiếng bước chân nặng nề của vài người vọng xuống cầu thang. Cô ấy khẽ dỏng tai lắng nghe trong một khoảnh khắc, tuyệt vọng vung tay lên, rồi biến mất tăm một cách đột ngột và câm lặng y hệt như lúc cô xuất hiện.

"Những người mới đến chính là Đại tá Lysander Stark cùng một gã đàn ông thấp bé, mập mạp với bộ râu quai nón màu xám mọc tua tủa từ những nếp gấp nhăn nheo của chiếc cằm chẻ, người vừa được giới thiệu với tôi là ông Ferguson.

"'Đây là thư ký kiêm quản lý của tôi,' viên đại tá lên tiếng. 'Nhân tiện, tôi nhớ mang máng là mình vừa đóng cửa phòng lại rồi kia mà. Chắc anh không bị gió lùa đấy chứ.'

"'Ngược lại là đằng khác,' tôi đáp lại, 'chính tôi đã tự tay mở cửa ra đấy, căn phòng này hơi ngột ngạt.'

"Ông ta phóng một tia nhìn đầy hoài nghi về phía tôi. 'Vậy thì có lẽ chúng ta nên bắt tay vào việc thôi,' ông ta nói. 'Tôi và ông Ferguson sẽ dẫn anh lên xem qua cỗ máy.'

"'Tôi đoán là mình nên đội mũ vào thì hơn.'

"'Ồ, không cần đâu, nó nằm ngay trong nhà mà.'

"'Cái gì, các ngài tiến hành đào đất sét tẩy màu ngay ở trong nhà cơ á?'

"'Không, không. Đây chỉ là khu vực chúng tôi ép đất sét thôi. Nhưng anh đừng bận tâm đến chuyện đó làm gì. Tất cả những gì chúng tôi cần anh làm lúc này là kiểm tra cỗ máy và chỉ ra xem nó đang bị hỏng hóc ở chỗ nào.'

"Chúng tôi cùng nhau bước lên lầu, gã đại tá soi đèn đi trước, theo sau là viên quản lý béo ú và tôi. Ngôi nhà cổ kính này hệt như một mê cung, giăng mắc những hành lang ngang dọc, những lối đi quanh co, cầu thang xoắn ốc chật hẹp cùng những khung cửa thấp bé mà ngưỡng cửa đã mòn vẹt vì những bước chân qua bao thế hệ. Tầng trên chẳng có lấy một tấm thảm trài sàn hay bóng dáng của đồ đạc, trong khi lớp vữa trên tường bong tróc từng mảng, nhường chỗ cho đám nấm mốc xanh xao ốm yếu loang lổ. Tôi cố gắng giữ vẻ mặt bình thản nhất có thể, nhưng kỳ thực chưa phút nào tôi quên đi lời cảnh báo của người phụ nữ lạ mặt kia, dẫu lúc nãy tôi đã phớt lờ chúng. Tôi lặng lẽ để mắt quan sát kỹ hai kẻ đồng hành. Ferguson có vẻ là một gã lầm lì và kiệm lời, song qua đôi lời hiếm hoi gã thốt ra, tôi có thể nhận thấy ít ra gã cũng là một người đồng hương.

"Đại tá Lysander Stark cuối cùng cũng dừng bước trước một cánh cửa thấp lè tè và tra chìa mở khóa. Bên trong là một gian phòng vuông vức, nhỏ xíu đến mức ba người chúng tôi khó lòng xoay xở cùng một lúc. Ferguson đứng nán lại bên ngoài, nhường chỗ cho gã đại tá dẫn tôi vào trong.

"'Bây giờ chúng ta đang thực sự đứng ngay bên trong cỗ máy ép thủy lực,' gã nói, 'và sẽ là một trải nghiệm cực kỳ tồi tệ nếu ai đó vô tình khởi động nó. Trần của căn buồng nhỏ bé này thực chất chính là phần đầu của pít-tông đang trong trạng thái chờ hạ xuống, và khi hoạt động, nó sẽ giáng xuống sàn kim loại này một lực nặng tới hàng tấn. Có những cột nước nhỏ nằm ngang bên ngoài làm nhiệm vụ tiếp nhận lực, truyền tải và khuếch đại nó theo cơ chế mà chắc hẳn anh đã quá tường tận. Cỗ máy hiện đang vận hành khá trơn tru, song lại hơi rít và chệch choạc đôi chút, khiến nó bị tiêu hao một phần lực ép. Sẽ thật tuyệt nếu anh vui lòng xem xét và chỉ cho chúng tôi cách thức khắc phục sự cố này.'

"Tôi đón lấy ngọn đèn từ tay gã và bắt đầu kiểm tra cỗ máy một cách hết sức cẩn trọng. Quả thực, đây là một cỗ máy khổng lồ, dư sức tạo ra một sức ép kinh hồn. Thế nhưng, khi tôi bước ra ngoài và nhấn thử các đòn bẩy điều khiển, tiếng xì xì vang lên đã mách bảo cho tôi biết có một vết rò rỉ nhẹ, khiến nước trào ngược qua một trong những xi lanh phụ. Sau một hồi tỉ mỉ xem xét, tôi phát hiện ra một dải cao su quấn quanh đầu thanh truyền đã bị co rút, không lấp đầy được ổ cắm của nó. Rõ ràng đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất lực, và tôi đã nhanh chóng chỉ ra điều đó cho những người đồng hành của mình. Họ chăm chú lắng nghe từng lời nhận xét của tôi và đặt ra vài câu hỏi mang tính thực tiễn về cách thức tiến hành sửa chữa. Khi mọi thắc mắc đã được giải tỏa, tôi quay trở lại buồng chính của cỗ máy, nheo mắt nhìn quanh quất để thỏa mãn trí tò mò của riêng mình. Chẳng cần phải tinh mắt cũng thừa sức nhận ra rằng cái câu chuyện về đất sét tẩy màu chỉ là một vở kịch vụng về, bởi sẽ thật nực cười nếu một cỗ máy sở hữu sức mạnh kinh hồn dường này lại được tạo ra chỉ để phục vụ cho một mục đích quá đỗi tầm thường như vậy. Tường được ốp bằng gỗ, thế nhưng sàn nhà lại được lót bằng một máng sắt lớn. Khi cúi xuống kiểm tra, tôi nhận thấy một lớp cặn kim loại bám đầy trên đó. Tôi vừa khom người xuống cạo thử lớp cặn để xem xét cặn kẽ thì chợt nghe thấy một tiếng kêu thảng thốt lầm bầm bằng tiếng Đức. Ngước lên, tôi bắt gặp khuôn mặt tái nhợt như xác chết của gã đại tá đang cúi gầm xuống nhìn tôi.

"'Anh đang làm cái quái gì ở đó vậy?' gã gằn giọng hỏi.

"Bực bội vì nhận ra mình đã bị xỏ mũi bởi một câu chuyện bịa đặt quá đỗi tinh vi, tôi thẳng thừng đáp trả: 'Tôi đang chiêm ngưỡng thứ đất sét tẩy màu của ngài đây. Tôi thiết nghĩ mình sẽ đưa ra được lời khuyên hữu ích hơn cho cỗ máy này nếu ngài chịu hé lộ chính xác mục đích sử dụng của nó.'

"Nhưng ngay khi những lời lẽ ấy vừa buông khỏi môi, tôi đã lập tức hối hận vì sự bộp chộp của mình. Nét mặt gã đại tá sầm lại, đanh thép, và một tia nhìn độc ác sắc lạnh lóe lên từ đôi mắt xám tro.

"'Tốt thôi,' gã rít lên, 'anh sẽ được biết tất tần tật về cỗ máy này.' Nói rồi, gã lùi lại một bước, đóng sầm cánh cửa nhỏ lại và xoay ngoắt chiếc chìa khóa trong ổ. Tôi hoảng hốt lao đến, giật mạnh tay nắm cửa, nhưng cánh cửa đã bị khóa chặt, không hề suy suyển dẫu tôi có cố sức xô đẩy hay đá đấm đến đâu. 'Này!' tôi gào lên. 'Này! Đại tá! Thả tôi ra!'

"Và rồi, giữa không gian tĩnh lặng, một âm thanh vang lên khiến tim tôi như muốn nhảy thót ra khỏi lồng ngực. Đó là tiếng lách cách của các đòn bẩy và tiếng xì xì đầy đe dọa của chiếc xi lanh rò rỉ. Gã đã khởi động cỗ máy. Ngọn đèn vẫn nằm lăn lóc trên mặt sàn nơi tôi bỏ lại khi nãy. Dưới ánh sáng vàng vọt, tôi kinh hoàng chứng kiến trần nhà đen kịt đang lừ lừ hạ xuống. Nó di chuyển chậm chạp, giật cục, thế nhưng, hơn ai hết, tôi biết rõ sức mạnh khủng khiếp của nó, dư sức nghiền nát tôi thành một đống bầy nhầy vô định hình chỉ trong chớp mắt. Tôi điên cuồng lao mình vào cánh cửa, gào thét thảm thiết, hai bàn tay cào cấu trong vô vọng vào ổ khóa. Tôi van xin gã đại tá mở cửa, nhưng tiếng lách cách vô tình của những chiếc đòn bẩy đã nhẫn tâm nuốt chửng tiếng kêu cứu của tôi. Trần nhà giờ đây chỉ còn cách đỉnh đầu tôi chừng vài tấc, và chỉ cần với tay lên, tôi đã có thể chạm vào bề mặt thô ráp, lạnh lẽo của nó. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi, rằng sự đau đớn trong cái chết sắp tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào tư thế tôi chọn để đón nhận nó. Nếu tôi nằm sấp, toàn bộ sức nặng ngàn cân kia sẽ giáng thẳng xuống cột sống, và tôi bất giác rùng mình khi mường tượng ra tiếng xương gãy vụn kinh hoàng. Có lẽ nằm ngửa sẽ thanh thản hơn chăng; nhưng liệu tôi có đủ can đảm để trừng mắt nhìn cái bóng đen chết chóc kia đang lù lù ập xuống đầu mình? Ngay lúc tôi không còn đủ sức để đứng vững, mắt tôi chợt bắt gặp một thứ thắp lên tia hy vọng mỏng manh trong màn đêm tuyệt vọng.

"Tôi đã từng đề cập rằng mặc dù sàn và trần nhà được đúc bằng sắt, nhưng các bức tường lại được ốp gỗ. Trong khoảnh khắc tuyệt vọng tung ánh nhìn cuối cùng khắp căn buồng, tôi chợt nhận ra một vệt sáng màu vàng vọt le lói qua khe hở giữa hai tấm ván, và nó ngày một rộng ra khi một tấm ván nhỏ được đẩy nhẹ về phía sau. Trong một giây, tôi tưởng chừng như mình đang ảo giác, không thể tin rằng đây lại là một cánh cửa dẫn lối thoát khỏi tử thần. Không để lỡ giây phút nào, tôi tung mình lao qua khe hở ấy, ngã gục xuống sàn với nửa phần cơ thể đã tê dại đi vì kinh hãi. Tấm ván gỗ lập tức đóng sầm lại sau lưng tôi, và tiếng loảng xoảng vỡ vụn của ngọn đèn, theo sau đó là tiếng va đập khô khốc của hai phiến kim loại khổng lồ đã chứng minh cho tôi thấy mình vừa thoát chết trong gang tấc.

"Tôi bị giật đứt khỏi cơn bàng hoàng bởi một bàn tay lạnh toát đang cuống cuồng siết chặt lấy cổ tay mình. Mở mắt ra, tôi nhận ra mình đang nằm sõng soài trên nền đá lạnh lẽo của một hành lang chật hẹp. Một người phụ nữ đang cúi rạp người, dùng tay trái hối hả kéo tôi dậy, trên tay phải cô cầm một ngọn nến le lói. Đó chính là người phụ nữ tốt bụng mà tôi đã khờ dại phớt lờ lời cảnh báo ban nãy.

"'Nhanh lên! Nhanh lên!' cô thều thào trong hơi thở gấp gáp. 'Họ sẽ đến đây ngay bây giờ. Họ sẽ phát hiện ra anh không còn ở đó. Ôi, xin đừng lãng phí thêm một giây phút quý giá nào nữa, chạy nhanh lên!'

"Lần này, tôi đã học được một bài học đắt giá và tuyệt đối tuân theo lời khuyên của cô ấy. Tôi lảo đảo gượng dậy, vội vã bám gót cô chạy dọc theo hành lang, lao xuống một chiếc cầu thang xoắn ốc u ám. Chiếc cầu thang dẫn chúng tôi đến một lối đi rộng rãi hơn. Nhưng vừa đặt chân đến đó, chúng tôi đã rụng rời nghe thấy tiếng bước chân rầm rập và tiếng la hét thất thanh vang lên từ hai đầu, một từ tầng chúng tôi đang đứng và một từ tầng bên dưới. Người ân nhân của tôi khựng lại, dáo dác nhìn quanh như một con thú bị dồn vào chân tường. Rồi cô bỗng xô mạnh một cánh cửa dẫn vào phòng ngủ. Xuyên qua khung cửa sổ đang mở toang, ánh trăng vằng vặc hắt vào soi tỏ vạn vật.

"'Đó là cơ hội sống sót duy nhất của anh,' cô gấp gáp nói. 'Hơi cao một chút, nhưng tôi hy vọng anh có thể nhảy qua được.'

"Ngay lúc cô vừa dứt lời, một vệt sáng chói lóa bừng lên ở đầu kia lối đi, và tôi bàng hoàng nhận ra bóng dáng gầy nhom của Đại tá Lysander Stark đang lao đến như một con thú say máu, tay trái lăm lăm chiếc đèn lồng, tay phải vung vẩy một thứ vũ khí sắc lẹm, trông giống như con dao phay của bọn đồ tể. Tôi lao như bay ngang qua căn phòng, tông cửa sổ nhìn xuống. Khu vườn bên dưới chìm trong ánh trăng tĩnh lặng, thanh bình và có vẻ như cách mặt đất không quá ba mươi feet. Tôi trèo vội ra bệ cửa, nhưng vẫn còn ngập ngừng chưa dám gieo mình xuống, cố vểnh tai nghe ngóng tình hình giữa người phụ nữ tốt bụng và tên ác thú đang truy đuổi tôi. Nếu cô ấy bị hắn làm hại, tôi thề bằng mọi giá sẽ quay lại ứng cứu. Ý nghĩ đó vừa xẹt qua đầu, tôi đã thấy gã đứng sừng sững ngay bậu cửa, thô bạo gạt phắt cô ấy sang một bên. Nhưng người phụ nữ đã nhanh chóng vòng tay ôm ghì lấy gã, cố sức ghìm gã lại.

"'Fritz! Fritz!' cô thét lên bằng tiếng Anh, giọng nghẹn ngào tuyệt vọng. 'Anh hãy nhớ lại lời hứa sau chuyện lần trước. Anh đã thề sẽ không bao giờ lặp lại điều đó nữa mà. Anh ấy sẽ không hé răng nửa lời đâu! Ôi, anh ấy sẽ giữ kín miệng mà!'

"'Cô điên rồi, Elise!' gã gầm gừ, điên cuồng vùng vẫy hòng thoát khỏi vòng tay cô. 'Cô sẽ làm hỏng bét mọi chuyện mất. Thằng khốn đó đã thấy quá nhiều thứ. Buông tôi ra, tôi bảo cô buông ra!' Gã vung tay hất văng cô ấy sang một bên rồi lao thẳng đến cửa sổ, giáng một đòn chí mạng bằng thứ vũ khí gớm ghiếc kia về phía tôi. Tôi vội vã buông tay, chỉ còn bám lơ lửng trên bậu cửa bằng hai bàn tay trần. Đúng lúc đó, nhát chém hung bạo của gã bổ thẳng xuống. Một cơn đau buốt óc xuyên thấu, hai tay tôi lỏng dần, và tôi rơi tự do xuống khu vườn tối đen.

"Cú ngã khiến tôi bị choáng váng nhưng may mắn thay không gặp chấn thương nào quá nghiêm trọng. Tôi lập tức gượng dậy, cắm cổ lao thẳng vào bụi rậm, chạy thục mạng hòng thoát thân, bởi lẽ tôi biết tử thần vẫn đang rình rập ngay phía sau. Thế nhưng, giữa lúc đang cắm đầu chạy, một cơn chóng mặt buồn nôn kinh khủng ập đến bóp nghẹt lấy tôi. Cố liếc nhìn xuống bàn tay đang đau nhức dữ dội, tôi bàng hoàng nhận ra ngón tay cái của mình đã bị chém đứt lìa, máu tuôn xối xả từ vết thương há hoác. Tôi cố chút sức tàn xé vội chiếc khăn tay buộc chặt lại, nhưng một tiếng vo ve váng vất ù lên trong đầu, và chỉ giây lát sau, tôi ngã vật ra, ngất lịm giữa những bụi hoa hồng gai góc.

"Tôi đã chìm trong cơn mê man bao lâu, bản thân tôi cũng chẳng thể nhớ rõ. Hẳn là một thời gian dài đằng đẵng, bởi vầng trăng đã lặn tự bao giờ, nhường chỗ cho ánh bình minh rạng rỡ đang dần ló dạng khi tôi khó nhọc mở mắt. Áo quần tôi ướt sũng sương đêm, ống tay áo khoác cứng lại vì thứ máu tanh tưởi từ ngón tay cái đứt lìa. Cơn đau buốt nhức nhối ấy như một gáo nước lạnh tát vào mặt, đánh thức từng chi tiết kinh hoàng của đêm qua trong tâm trí tôi. Tôi choàng dậy, linh tính mách bảo rằng mình vẫn chưa thoát khỏi vòng cương tỏa của lũ ác thú kia. Nhưng trước sự ngỡ ngàng tột độ của tôi, phóng tầm mắt ra tứ phía, tuyệt nhiên chẳng thấy ngôi nhà hay khu vườn ma quái nào. Tôi đang nằm cuộn tròn góc hàng rào, bên cạnh con đường lớn rải sỏi. Ở phía xa xa thấp hơn một chút, một dãy nhà dài trải bóng - khi lại gần, hóa ra chính là nhà ga nơi tôi đã đặt chân đến vào đêm qua. Nếu không có vết thương gớm ghiếc vẫn đang rỉ máu trên tay, tôi đã đinh ninh rằng tất thảy những chuyện kinh hoàng vừa rồi chỉ là một cơn ác mộng.

"Nửa tỉnh nửa mê, tôi lê bước vào nhà ga và hỏi han về chuyến tàu sáng. Sẽ có một chuyến hướng về Reading trong vòng chưa đầy một giờ nữa. Viên khuân vác vẫn là người cũ tôi đã gặp hồi đêm qua. Tôi bèn dò hỏi ông ta xem liệu có từng nghe nói đến Đại tá Lysander Stark. Cái tên ấy có vẻ hoàn toàn xa lạ với ông ta. Liệu ông ta có thấy một cỗ xe ngựa đứng đợi tôi vào đêm trước? Không, ông ta lắc đầu. Vậy có đồn cảnh sát nào quanh đây không? Có một đồn nằm cách đây chừng ba dặm.

"Với tấm thân tàn tạ, yếu ớt và mang đầy thương tích này, ba dặm quả thực là một quãng đường xa vời vợi. Tôi quyết định nén đau, chờ quay về thị trấn rồi mới trình báo toàn bộ sự việc cho cảnh sát. Khi về đến nơi, đồng hồ đã điểm hơn sáu giờ. Tôi vội vàng tìm đến bác sĩ để băng bó vết thương. Bác sĩ - quả là một người có tấm lòng vàng - đã tốt bụng đưa tôi đến đây. Giờ đây, tôi xin giao phó vụ án này vào tay các anh và nguyện làm theo bất cứ lời khuyên nào từ các anh."

Cả nhóm chúng tôi chìm vào im lặng một lúc lâu sau khi nghe xong câu chuyện kinh hoàng ấy. Sherlock Holmes chậm rãi đứng lên, vươn tay rút từ trên kệ xuống một trong những cuốn sổ lưu bút dày cộp, nơi anh tỉ mẩn cất giữ những mẩu tin tức cắt ra từ các mặt báo.

"Đây là một mẩu quảng cáo hẳn sẽ thu hút sự quan tâm của các anh," anh cất lời. "Nó đã chễm chệ trên trang nhất của hầu hết các tờ báo cách đây khoảng một năm. Hãy nghe đây: 'Thông báo tìm người mất tích, vào ngày 9 tháng này, anh Jeremiah Hayling, hai mươi sáu tuổi, một kỹ sư thủy lực. Đã rời khỏi nhà trọ vào lúc mười giờ đêm, và biệt tăm kể từ đó. Trang phục,' vân vân và vân vân. Ha! Tôi dám cá rằng đó là lần cuối cùng tay đại tá kia cần bảo dưỡng cỗ máy tử thần của mình."

"Lạy Chúa lòng lành!" vị khách hàng của tôi thảng thốt kêu lên. "Vậy thì mọi chuyện đã rõ mười mươi, đúng như những gì người phụ nữ kia đã van xin."

"Không còn nghi ngờ gì nữa. Rõ ràng tay đại tá là một kẻ máu lạnh, tàn độc và liều lĩnh, một con quái vật sẵn sàng đè bẹp bất cứ chướng ngại vật nào cản trở trò chơi tội lỗi của hắn, hệt như bọn cướp biển khát máu quyết không để lại dù chỉ một người sống sót trên con tàu bị cướp. Chà, lúc này, mỗi phút giây đều quý giá ngàn vàng. Vậy nên, nếu anh cảm thấy sức khỏe đã tạm ổn, chúng ta sẽ lập tức tiến thẳng đến Scotland Yard như một bước dạo đầu trước khi khởi hành đi Eyford."

Chừng ba giờ sau, tất cả chúng tôi yên vị trên một toa tàu, lăn bánh từ Reading đến ngôi làng nhỏ bé thanh bình thuộc hạt Berkshire. Đồng hành cùng tôi có Sherlock Holmes, viên kỹ sư thủy lực, Thanh tra Bradstreet của Scotland Yard cùng một cảnh sát chìm. Bradstreet trải rộng một tấm bản đồ quân sự của vùng lên ghế, hí hoáy dùng chiếc compa vạch một vòng tròn với tâm điểm là Eyford.

"Đây rồi," ông ta lẩm bẩm. "Vòng tròn này được vẽ với bán kính mười dặm tính từ tâm ngôi làng. Hang ổ mà chúng ta cần truy lùng chắc chắn phải nằm đâu đó dọc theo đường tròn này. Hình như anh đã bảo là mười dặm, phải không thưa ngài?"

"Đúng vậy, chuyến xe ngựa kéo dài chừng một giờ đồng hồ."

"Và anh cho rằng bọn chúng đã chở anh quay ngược lại suốt chặng đường dài dằng dặc đó trong lúc anh đang bất tỉnh sao?"

"Chắc chắn là bọn chúng đã làm vậy. Trong tâm trí tôi vẫn còn lờ mờ đọng lại ký tự về việc bị nhấc bổng lên và khiêng đi đâu đó."

"Điều khiến tôi không sao hiểu nổi," tôi lên tiếng, "là tại sao bọn chúng lại rộng lượng tha mạng cho anh khi tìm thấy anh nằm ngất lịm trong vườn hoa. Liệu có chăng tên ác ôn kia đã động lòng trắc ẩn trước những lời van xin thảm thiết của người phụ nữ?"

"Tôi chẳng dám tin vào điều huyễn hoặc ấy. Cả đời tôi chưa từng thấy một khuôn mặt nào lại tát ra vẻ tàn nhẫn và độc ác đến thế."

"Ồ, chúng ta sẽ sớm vén màn bí mật này thôi," Bradstreet vỗ đùi đánh đét. "Chà, tôi đã vẽ xong vòng tròn rồi, và tôi chỉ ao ước giá như mình có thể xác định được chính xác vị trí của đám người kia nằm ở đâu trên cái đường tròn chết tiệt này."

"Tôi nghĩ tôi có thể đặt ngón tay của mình ngay vào vị trí đó," Holmes bình thản đáp lời.

"Thật sao!" viên thanh tra tròn mắt kinh ngạc. "Ngài đã có nhận định của riêng mình rồi ư! Nào, bây giờ, để xem có ai đồng quan điểm với ngài không. Tôi đoán chắc chúng ở hướng nam, vì vùng nông thôn hướng đó thưa thớt dân cư và hoang vu hơn hẳn."

"Còn tôi lại nghĩ là hướng đông," vị khách hàng rụt rè lên tiếng.

"Tôi thì đặt cược vào hướng tây," viên cảnh sát chìm xoa cằm đăm chiêu. "Trên đó có lác đác vài ngôi làng nhỏ khá yên tĩnh."

"Và tôi chọn hướng bắc," tôi chen ngang, "bởi lẽ vùng đó địa hình bằng phẳng, chẳng có đồi núi gì sất, vả lại bạn của chúng ta đã khẳng định rằng cỗ xe ngựa không hề phải leo qua bất kỳ con dốc nào."

"Thôi nào," viên thanh tra bật cười ha hả; "Quả là một mớ ý kiến trái chiều thú vị. Chúng ta đã chia nhau hết cả cái la bàn rồi đấy. Ngài sẽ bỏ phiếu cho ai đây?"

"Rất tiếc phải nói rằng tất cả các anh đều sai."

"Nhưng không đời nào tất cả chúng tôi đều sai được."

"Ồ, có đấy. Đây là quan điểm của tôi." Anh quả quyết đặt ngón tay vào ngay tâm điểm của vòng tròn. "Đây mới chính là nơi chúng ta sẽ tìm thấy bọn chúng."

"Thế còn chuyến đi mười hai dặm kia thì sao?" Hatherley hổn hển thắc mắc.

"Sáu dặm đi và sáu dặm về. Không còn gì đơn giản và hợp lý hơn. Chính miệng anh đã thừa nhận rằng con ngựa vẫn trông vô cùng sung sức và bóng mượt lúc anh bước lên xe cơ mà. Làm sao một con ngựa lại có thể giữ được dáng vẻ ấy nếu nó đã phải kéo xe mười hai dặm trên những con đường lầy lội, nhớp nháp?"

"Quả thực, đó là một mánh khóe khá ranh mãnh," Bradstreet gật gù tán thưởng. "Tất nhiên, chẳng còn nghi ngờ gì về bản chất xấu xa của băng đảng này nữa."

"Đúng vậy," Holmes gật đầu xác nhận. "Bọn chúng là một đường dây đúc tiền giả với quy mô cực lớn, và cỗ máy khổng lồ kia được sử dụng để ép ra thứ hỗn hợp kim loại thay thế cho bạc thật."

"Chúng tôi đã theo dõi và biết về một băng đảng hoạt động tinh vi từ lâu," viên thanh tra tiếp lời. "Chúng đã tung ra thị trường hàng ngàn đồng nửa crown4 giả. Chúng tôi thậm chí đã cất công lần theo dấu vết của bọn chúng cho đến tận Reading, nhưng mọi nỗ lực đều trở nên vô vọng. Bọn chúng đã cẩn thận xóa sạch mọi dấu vết bằng một phương thức tinh vi, chứng tỏ chúng là những kẻ vô cùng sành sỏi. Nhưng giờ đây, nhờ vào sự tình cờ may mắn này, tôi tin chắc rằng mẻ lưới này sẽ tóm gọn được cả ổ."

Thế nhưng, viên thanh tra đã lầm to, bởi dường như số mệnh đã an bài rằng những tên tội phạm xảo quyệt đó sẽ không rơi vào lưới pháp luật. Ngay khi chuyến tàu xình xịch lăn bánh vào nhà ga Eyford, đập vào mắt chúng tôi là một cột khói đen đặc cuộn lên từ phía sau lùm cây nhỏ cách đó không xa, lơ lửng như một chiếc lông đà điểu khổng lồ in hằn trên nền trời.

"Có một ngôi nhà đang bốc cháy sao?" Bradstreet vội vàng hỏi khi con tàu xì hơi chầm chậm dừng lại.

"Vâng, thưa ông!" viên trưởng ga đáp lời.

"Ngọn lửa bùng lên từ khi nào vậy?"

"Tôi nghe nói là từ giữa đêm, thưa ông, nhưng tình hình ngày càng tồi tệ hơn, và bây giờ cả khu vực đó đang chìm trong biển lửa đỏ rực."

"Đó là nhà của ai?"

"Là nhà của Bác sĩ Becher thưa ngài."

"Nói cho tôi nghe," viên kỹ sư sốt sắng ngắt lời, "Bác sĩ Becher có phải là một gã người Đức, thân hình gầy nhom, với chiếc mũi dài ngoẵng và nhọn hoắt không?"

Viên trưởng ga bật cười sảng khoái. "Không đâu, thưa ông, Bác sĩ Becher là một người Anh chính gốc, và cá với ông rằng trong cả giáo xứ này chẳng có người đàn ông nào sở hữu vòng bụng bệ vệ hơn ông ấy. Nhưng ông ấy có một vị khách lưu trú, nghe đâu là một bệnh nhân người nước ngoài. Nhìn bộ dạng gầy gò của gã, tôi trộm nghĩ giá như được tẩm bổ thêm chút thịt bò Berkshire hảo hạng thì chắc gã cũng chẳng đến nỗi tồi tàn đến vậy."

Viên trưởng ga còn chưa kịp dứt câu thì tất thảy chúng tôi đã cuống cuồng vắt chân lên cổ chạy hối hả về phía đám cháy. Con đường mòn vắt vẻo qua một ngọn đồi thấp, và rồi, một tòa nhà lớn khang trang, sơn trắng toát hiện ra sừng sững trước mắt chúng tôi. Ngọn lửa hung hãn đang lè lưỡi qua mọi khe hở, mọi ô cửa sổ, trong khi ở khu vườn phía trước, ba chiếc xe cứu hỏa đang tuyệt vọng phun nước hòng dập tắt ngọn lửa đang bừng bừng tức giận.

"Đúng là nó rồi!" Hatherley gào lên, giọng kích động tột độ. "Kia là con đường rải sỏi, và kia chính là bụi hoa hồng nơi tôi đã ngã gục. Cái cửa sổ thứ hai đằng kia chính là nơi tôi đã nhảy xuống."

"Chà, xét cho cùng thì," Holmes thủng thẳng buông lời, "anh cũng đã có cơ hội báo thù bọn chúng rồi đấy. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính ngọn đèn dầu của anh, khi bị cỗ máy nghiền nát, đã bắt lửa vào các bức tường gỗ. Hẳn là bọn chúng đã quá say máu trong cuộc rượt đuổi nên đã chẳng mảy may nhận ra điều đó. Bây giờ, hãy căng mắt ra mà tìm kiếm những người bạn đêm qua của anh trong đám đông hỗn độn này đi, mặc dù tôi e rằng giờ này bọn chúng đã cao chạy xa bay cách đây hàng trăm dặm rồi."

Và những dự cảm không lành của Holmes đã linh nghiệm, bởi kể từ ngày đó cho mãi đến tận bây giờ, không một ai hay biết tin tức gì về người phụ nữ xinh đẹp, gã người Đức nham hiểm hay gã người Anh lầm lì kia. Sáng sớm hôm ấy, một người nông dân tình cờ bắt gặp một cỗ xe ngựa chở vài người cùng những kiện hàng cồng kềnh đang phóng như bay về hướng Reading. Nhưng khi đến đó, mọi dấu vết của những kẻ đào tẩu đã biến mất không để lại dấu vết, và dẫu cho tài trí của Holmes có siêu phàm đến đâu cũng chẳng thể lần ra manh mối nhỏ nhất nào về tung tích của bọn chúng.

Những người lính cứu hỏa đã vò đầu bứt tai trước sự bài trí kỳ quái bên trong ngôi nhà, và họ càng thêm kinh hãi khi phát hiện ra một ngón tay cái người đứt lìa, hãy còn vương máu trên bậu cửa sổ tầng hai. Mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống, những nỗ lực dập lửa không mệt mỏi của họ mới đem lại kết quả. Ngọn lửa hung bạo cuối cùng cũng bị khuất phục, nhưng mái nhà đã đổ sập, biến toàn bộ tòa nhà thành một đống hoang tàn đổ nát. Ngoại trừ vài chiếc xi lanh méo mó và mớ đường ống sắt cong queo, chẳng còn mảy may dấu vết nào của cỗ máy tử thần từng suýt cướp đi sinh mạng người quen bất hạnh của chúng ta. Một lượng lớn niken và thiếc đã được tìm thấy trong một nhà kho nhỏ, thế nhưng lại chẳng có lấy một đồng xu nào. Điều này có lẽ lý giải phần nào cho sự hiện diện của những kiện hàng cồng kềnh trên chiếc xe ngựa tẩu thoát.

Việc viên kỹ sư thủy lực của chúng ta bằng cách nào đã được chuyển từ khu vườn đến nơi anh ta tỉnh dậy có lẽ sẽ mãi bị chôn vùi trong bóng tối, nếu như lớp bùn mềm không lưu lại những dấu vết kể cho chúng tôi một câu chuyện rõ mồn một. Rõ ràng anh ta đã được hai người dìu đi, một người có bàn chân nhỏ nhắn khác thường, người kia lại to bè quá khổ. Xét cho cùng, rất có thể gã người Anh lầm lì kia, kẻ ít táo tợn hay có lẽ là ít khao khát máu me hơn so với đồng bọn của mình, đã nương tay giúp đỡ người phụ nữ đưa nạn nhân bất tỉnh thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

"Chà," viên kỹ sư của chúng tôi rầu rĩ than vãn khi chúng tôi yên vị trên chuyến tàu trở về London, "đó quả là một phi vụ làm ăn béo bở đối với tôi! Tôi đã vĩnh viễn mất đi một ngón tay cái, mất trắng khoản thù lao năm mươi guinea, và thứ tôi nhận lại là gì đây?"

"Là kinh nghiệm," Holmes bật cười đáp lời. "Theo một khía cạnh nào đó, trải nghiệm này cũng đáng giá đấy chứ, anh biết đấy; anh chỉ việc khéo léo lồng ghép nó vào những câu chuyện của mình là đã dư sức vang danh như một người bạn đồng hành tuyệt vời trong suốt phần đời còn lại rồi."



  1. Cụm từ gốc tiếng Pháp mang nghĩa 'toàn bộ', 'nguyên khối'. Trong bối cảnh báo chí, nó ngụ ý việc đưa toàn bộ thông tin cùng một lúc vào một bài báo ngắn thay vì kể chi tiết từng phần. 

  2. Guinea là một đơn vị tiền tệ cũ của Anh, tương đương với 21 shilling (hoặc 1 bảng 1 shilling). Vào thời điểm này, guinea thường được dùng để trả thù lao cho các chuyên gia như bác sĩ, luật sư, kỹ sư, thể hiện sự trang trọng và đẳng cấp cao hơn so với bảng Anh. 

  3. Fuller's earth là một loại đất sét có khả năng hấp thụ dầu mỡ và tạp chất, ban đầu được những người thợ dệt (fuller) sử dụng để làm sạch lông cừu. Vào thế kỷ 19, đây là một khoáng sản có giá trị công nghiệp cao. 

  4. Đồng xu kim loại của Anh có giá trị bằng hai shilling và sáu pence (tương đương 1/8 bảng Anh). Vì đây là một đồng xu có giá trị tương đối lớn và được sử dụng rộng rãi, việc đúc giả đồng nửa crown là một hoạt động tội phạm béo bở.