V. VỤ ÁN NĂM HẠT CAM
Khi dở lại tập hồ sơ ghi chép về các vụ án của Sherlock Holmes trong khoảng thời gian từ năm 1882 đến 1890, tôi bắt gặp vô vàn vụ án mang những đặc điểm kỳ lạ và hấp dẫn đến mức thật khó để quyết định nên chọn kể câu chuyện nào và bỏ lại câu chuyện nào. Tuy nhiên, một vài vụ án trong số đó đã được công chúng biết đến qua các mặt báo, và một số khác lại không tạo đủ cơ hội để người bạn của tôi phô diễn những phẩm chất xuất chúng mà anh sở hữu - vốn dĩ là mục đích chính của những trang viết này. Cũng có những vụ án từng làm bó tay kỹ năng phân tích đỉnh cao của anh; nếu mang ra kể, chúng sẽ chỉ là những câu chuyện có mở đầu mà thiếu đi cái kết. Lại có những vụ án chỉ được làm sáng tỏ một phần, khi lời giải thích chủ yếu dựa trên phỏng đoán và giả thuyết nhiều hơn là những bằng chứng logic xác đáng mà Holmes luôn tôn thờ. Dù vậy, trong số đó có một vụ án sở hữu những tình tiết kỳ quái và đem lại một kết cục kinh hoàng đến nỗi tôi phải thôi thúc bản thân cầm bút lên tường thuật lại, bất chấp việc vẫn còn đó những uẩn khúc chưa từng, và có lẽ sẽ chẳng bao giờ, được đưa ra ánh sáng một cách toàn vẹn.
Năm 1887 đã mang đến cho chúng tôi một chuỗi dài các vụ án với những cung bậc thú vị khác nhau, mà cho đến nay tôi vẫn cẩn thận cất giữ hồ sơ. Trong bản danh mục của mười hai tháng năm ấy, tôi tìm thấy bản ghi chép về cuộc phiêu lưu tại Căn phòng Paradol, về Hội Khất thực Nghiệp dư - những kẻ sở hữu một câu lạc bộ xa hoa nằm tận cùng dưới tầng hầm của một nhà kho chứa nội thất, về những uẩn khúc xoay quanh sự mất tích của chiếc tàu buồm vát Anh Sophy Anderson, về những biến cố kỳ lạ của gia đình Grice Paterson trên hòn đảo Uffa, và cuối cùng là vụ án đầu độc ở Camberwell. Trong vụ án sau cùng này, có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ, Sherlock Holmes đã tài tình chứng minh người quá cố đã vặn dây cót đồng hồ hai giờ trước khi chết, từ đó suy ra khoảng thời gian nạn nhân đi ngủ - một lập luận mang tính quyết định trong việc phá án. Có lẽ vào một ngày nào đó tôi sẽ phác họa lại tất cả những vụ án này, nhưng quả thực, không một vụ nào mang đậm màu sắc dị thường như chuỗi sự kiện tôi đang đặt bút kể lại ngay sau đây.
Đó là những ngày cuối tháng Chín, khi những cơn bão thu phân bắt đầu gầm rít với sự hung hãn khác thường. Suốt cả ngày dài, gió rít từng hồi và mưa quất liên hồi vào các ô cửa sổ. Thậm chí ngay tại đây, giữa trung tâm của một London rộng lớn do bàn tay con người kiến tạo, chúng tôi cũng phải tạm dứt tâm trí khỏi nhịp sống thường nhật để cảm nhận sự hiện diện của những sức mạnh nguyên thủy khổng lồ đang gầm gào vào nhân loại qua những chấn song của nền văn minh, hệt như những con thú hoang dã chưa được thuần hóa đang lồng lộn trong cũi sắt. Khi hoàng hôn buông xuống, cơn bão lại càng thêm cuồng nộ, tiếng gió nỉ non, tỉ tê rồi nức nở như tiếng khóc của một đứa trẻ vang lên trong ống khói. Sherlock Holmes ủ rũ ngồi bên lò sưởi, lúi húi tra cứu chéo các hồ sơ tội phạm của mình. Ở phía đối diện, tôi đang chìm đắm vào một cuốn tiểu thuyết đi biển tuyệt hay của Clark Russell, mãi cho đến khi tiếng gió rít gào bên ngoài dường như hòa quyện vào từng con chữ, và tiếng mưa rơi lộp độp vạch thành âm thanh của sóng biển vỗ oàm oạp. Vợ tôi đang đi thăm mẹ đẻ, thế nên trong vài ngày, tôi lại trở về làm một người khách trọ tại căn nhà cũ của chúng tôi trên phố Baker.
"Chà," tôi lên tiếng, ngước nhìn người bạn đồng hành, "chắc chắn là có tiếng chuông cửa. Ai lại đến vào một đêm giông bão thế này cơ chứ? Có lẽ là một người bạn của anh chăng?"
"Ngoại trừ anh ra, tôi chẳng có người bạn nào cả," anh đáp lời. "Và tôi cũng không có thói quen chào đón những vị khách không mời."
"Vậy thì là một thân chủ sao?"
"Nếu vậy thì hẳn phải là một vụ án cực kỳ nghiêm trọng. Chẳng có lý do nào tầm thường hơn có thể lôi một người đàn ông ra khỏi nhà trong một ngày mưa gió và vào một giờ khắc như thế này. Nhưng tôi thì lại nghiêng về khả năng đó là một người quen cũ nào đó của bà chủ nhà hơn."
Tuy nhiên, sự phỏng đoán của Sherlock Holmes lần này đã sai, bởi những bước chân vang lên ngoài hành lang và ngay sau đó là một tiếng gõ cửa. Anh vươn cánh tay dài ngoẵng của mình ra, xoay chụp đèn để ánh sáng chiếu rọi thẳng vào chiếc ghế trống, nơi vị khách mới đến sẽ ngồi.
"Mời vào!" anh cất lời.
Người đàn ông bước vào là một thanh niên trẻ tuổi, trạc độ hăm hai là cùng. Anh ta ăn mặc vô cùng tươm tất và chải chuốt gọn gàng, toát lên một vẻ tinh tế và nhã nhặn. Chiếc ô ướt sũng mà anh ta cầm trên tay cùng chiếc áo mưa dáng dài trơn bóng là minh chứng rõ rệt cho thời tiết khắc nghiệt mà anh vừa phải đương đầu. Dưới ánh đèn chói lọi, anh ta đưa mắt lo lắng nhìn quanh. Tôi có thể thấy rõ khuôn mặt anh nhợt nhạt và đôi mắt trĩu nặng, mang dáng dấp của một kẻ đang bị đè nén bởi một nỗi bất an tột cùng.
"Xin các ngài thứ lỗi cho sự đường đột này," anh cất tiếng, nâng chiếc kính kẹp mũi bằng vàng lên nắn lại. "Tôi hy vọng mình không làm phiền. Tôi e rằng tôi đã mang theo một chút tàn dư của cơn bão và nước mưa vào căn phòng ấm cúng này của các ngài."
"Đưa áo khoác và ô của anh cho tôi," Holmes nói. "Cứ treo chúng lên chiếc móc này, chúng sẽ khô nhanh thôi. Tôi thấy anh vừa đi từ phía Tây Nam lên đây."
"Vâng, từ Horsham."
"Vết bùn đất sét trộn lẫn với phấn trắng bám trên mũi giày của anh khá là đặc trưng."
"Tôi đến đây để xin một lời khuyên."
"Việc đó thì dễ thôi."
"Và cả sự giúp đỡ."
"Điều đó thì không phải lúc nào cũng dễ dàng."
"Tôi đã nghe danh ngài, thưa ngài Holmes. Tôi từng nghe Thiếu tá Prendergast kể về việc ngài đã cứu ông ấy thoát khỏi vụ bê bối tại Câu lạc bộ Tankerville như thế nào."
"À, tất nhiên rồi. Ông ấy đã bị cáo buộc oan là kẻ gian lận trong lúc đánh bài."
"Ông ấy nói rằng ngài có thể giải quyết trót lọt mọi bề."
"Ông ấy đã nói quá lời rồi."
"Ông ấy bảo ngài chưa bao giờ thất bại."
"Tôi đã từng bị đánh bại bốn lần-ba lần bởi đàn ông, và một lần bởi một người phụ nữ."
"Nhưng những lần đó có thấm tháp gì so với vô vàn thành công của ngài cơ chứ?"
"Đúng là tôi thường gặt hái được thành công."
"Vậy thì ngài cũng có thể sẽ thành công với trường hợp của tôi."
"Mong anh hãy kéo ghế lại gần lò sưởi, và vui lòng cho tôi biết một vài chi tiết về vụ việc của anh."
"Nó không phải là một vụ án bình thường đâu."
"Chưa có vụ án nào tìm đến tôi mà lại bình thường cả. Tôi là tòa án phúc thẩm cuối cùng cơ mà."
"Thế nhưng tôi tự hỏi, thưa ngài, liệu trong toàn bộ kinh nghiệm của mình, ngài đã từng lắng nghe một chuỗi các sự kiện nào mang vẻ bí ẩn và không thể lý giải hơn những biến cố đã ập xuống chính gia đình tôi chưa."
"Anh làm tôi vô cùng hứng thú đấy," Holmes nói. "Xin hãy kể cho chúng tôi những điểm cốt yếu ngay từ lúc bắt đầu, sau đó tôi sẽ hỏi thêm những chi tiết mà tôi cho là quan trọng nhất."
Người thanh niên kéo ghế lên sát hơn và đưa đôi chân ướt sũng về phía ngọn lửa.
"Tên tôi," anh bắt đầu kể, "là John Openshaw. Nhưng theo những gì tôi có thể hiểu được, những rắc rối của riêng tôi hiện tại có rất ít liên quan đến cơn ác mộng này. Nó là một di họa mang tính gia tộc; thế nên, để ngài có thể hình dung rõ ngọn ngành, tôi phải đưa ngài quay lại thời điểm mọi chuyện mới chớm bắt đầu.
"Ngài cần biết rằng ông nội tôi có hai người con trai-bác Elias và cha tôi, Joseph. Cha tôi làm chủ một xưởng sản xuất nhỏ tại Coventry, và sau đó ông đã mở rộng quy mô kinh doanh khi xe đạp được phát minh. Ông chính là người nắm giữ bằng sáng chế cho loại lốp xe không thể vỡ mang thương hiệu Openshaw. Công việc làm ăn phát đạt đến nỗi ông có thể bán lại xưởng và tận hưởng những ngày tháng nghỉ hưu với một khoản thu nhập khá giả.
"Bác Elias của tôi thì di cư sang Mỹ từ thuở nhỏ và trở thành một chủ đồn điền ở Florida, nơi người ta đồn rằng bác đã làm ăn vô cùng khấm khá. Khi chiến tranh nổ ra, bác đã tòng quân trong hàng ngũ của Jackson1, và sau đó phục vụ dưới quyền của Hood2, nơi bác được thăng hàm đại tá. Khi Lee3 hạ vũ khí đầu hàng, bác tôi trở về đồn điền của mình và lưu lại đó chừng ba bốn năm. Khoảng năm 1869 hoặc 1870, bác quay về châu Âu và mua một điền trang nhỏ ở Sussex, gần Horsham. Bác đã mang theo một khối tài sản khổng lồ từ Mỹ, và lý do bác rời bỏ vùng đất ấy là vì lòng thù ghét người da đen, cũng như sự phẫn nộ trước chính sách trao quyền bầu cử cho họ của đảng Cộng hòa4. Bác là một con người lập dị, dữ dằn và nóng nảy, rất hay buông lời chửi rủa mỗi khi tức giận, lại mang trong mình một bản tính vô cùng khép kín. Trong suốt những năm sống ở Horsham, tôi dám chắc rằng hiếm khi nào bác bước chân vào thị trấn. Bác có một khu vườn và hai, ba cánh đồng quanh nhà để dạo bộ; dẫu vậy, có những lúc bác giam mình trong phòng nhiều tuần liền không hề ló mặt ra ngoài. Bác uống rất nhiều rượu mạnh và hút thuốc lá liên miên, nhưng tuyệt nhiên không giao thiệp với xã hội và chẳng muốn kết bạn với bất kỳ ai, kể cả với chính người em trai ruột thịt của mình.
"Bác không hề phiền lòng về tôi; trái lại, bác tỏ ra khá quý mến tôi. Lần đầu tiên bác gặp tôi, tôi chỉ mới là một cậu bé mười hai tuổi. Đó là vào khoảng năm 1878, sau khi bác đã định cư ở Anh được tám, chín năm. Bác ngỏ ý xin cha tôi cho tôi đến sống cùng, và đối đãi với tôi rất tốt theo cách riêng của bác. Những lúc tỉnh táo, bác thường thích cùng tôi chơi cờ thỏ cáo và cờ đam. Bác còn giao cho tôi quyền làm đại diện để quản lý đám người hầu và những người buôn bán, đến mức khi bước sang tuổi mười sáu, tôi thực sự trở thành người làm chủ ngôi nhà. Tôi nắm giữ mọi chùm chìa khóa, có thể tự do đi đến bất cứ đâu, làm bất cứ điều gì mình thích, miễn là không quấy rầy sự riêng tư của bác. Tuy nhiên, có một ngoại lệ duy nhất. Bác có một căn phòng nhỏ trên gác xép, từng dùng làm nơi chứa đồ, luôn được khóa kín và bác cấm tiệt tôi hay bất cứ ai bước vào. Mang sẵn tính tò tự của một cậu bé, tôi đã từng hé mắt nhìn trộm qua lỗ khóa, nhưng những gì tôi thấy cũng chẳng có gì hơn ngoài một đống rương hòm và những bọc đồ cũ rích, đúng như người ta thường hình dung về những căn gác xép.
"Rồi một ngày nọ-đó là vào tháng Ba năm 1883-một bức thư dán tem nước ngoài xuất hiện trên bàn, ngay trước mặt đĩa của vị đại tá. Việc bác nhận được thư là một điều vô cùng hy hữu, vì mọi hóa đơn của bác đều được thanh toán bằng tiền mặt, và bác cũng chẳng hề có lấy một người bạn. 'Từ Ấn Độ!' bác thốt lên khi cầm bức thư, 'Dấu bưu điện ở Pondicherry! Cái gì thế này?' Bác vội vã xé miệng thư, và từ bên trong, năm hạt cam nhỏ khô quắt rơi lộp độp xuống mặt đĩa. Ban đầu tôi còn cất tiếng cười, nhưng nụ cười đã tắt ngấm trên môi khi tôi nhìn thấy nét mặt của bác. Đôi môi bác trễ xuống, hai mắt lồi ra, nước da chuyển sang màu nhợt nhạt như bột trét. Bác trừng trừng nhìn vào chiếc phong bì vẫn đang run bần bật trong tay, 'K. K. K.!' bác hét lên kinh hoàng, 'Lạy Chúa, lạy Chúa, tội lỗi của tôi đã đuổi kịp tôi rồi!'
"'Có chuyện gì vậy thưa bác?' tôi hốt hoảng kêu lên.
"'Cái chết,' bác thì thào. Bác rời khỏi bàn ăn và lùi về phòng, bỏ mặc tôi ngồi đó với trái tim đập thình thịch trong lồng ngực. Tôi nhặt chiếc phong bì lên và thấy mặt trong, ngay mép nắp được bôi keo, có dòng chữ viết nguệch ngoạc bằng mực đỏ lặp lại ba chữ K. Bên trong chẳng có gì khác ngoài năm hạt cam khô. Lý do gì có thể khiến bác hoảng sợ đến vậy? Tôi rời khỏi bàn ăn sáng và bước lên cầu thang, vừa hay bắt gặp bác đang đi xuống. Một tay bác cầm chiếc chìa khóa cũ hoen rỉ, chắc hẳn là của căn phòng gác xép, tay kia là một chiếc hộp nhỏ bằng đồng có hình dáng tựa như hộp đựng tiền.
"'Chúng muốn làm gì cũng được, nhưng ta vẫn sẽ chiếu tướng chúng,' bác lầm bầm kèm theo một câu chửi rủa. 'Bảo Mary hôm nay ta cần đốt lửa trong phòng, và cử người xuống tìm Fordham, vị luật sư ở Horsham ngay lập tức.'
"Tôi vội vã làm theo lời bác, và khi vị luật sư đến nơi, tôi được gọi lên phòng. Ngọn lửa đang cháy rực trong lò sưởi, và bên trong chỉ còn lại một đống tro đen mịn, giống như tàn giấy cháy, trong khi chiếc hộp đồng mở toang, trống rỗng nằm chỏng trơ bên cạnh. Khi liếc nhìn chiếc hộp, tôi giật mình nhận ra trên nắp hộp có in hình ba chữ K giống hệt như những chữ tôi đã thấy trên phong bì sáng nay.
"'Ta muốn cháu, John,' bác tôi nói, 'làm chứng cho bản di chúc của ta. Ta sẽ để lại toàn bộ điền trang này, với mọi quyền lợi cũng như những phiền toái của nó, cho em trai ta, tức là cha cháu, và sau này chắc chắn nó sẽ được truyền lại cho cháu. Nếu cháu có thể hưởng thụ nó trong bình yên, thì thật tốt! Còn nếu cháu thấy không thể, hãy nghe lời khuyên của ta, chàng trai ạ, và hãy đẩy nó lại cho kẻ thù nguy hiểm nhất của cháu. Ta rất lấy làm tiếc khi phải trao cho cháu một thứ mang tính hai lưỡi như thế, nhưng ta không thể đoán trước mọi chuyện sẽ xoay chuyển ra sao. Cháu vui lòng ký vào tờ giấy ở chỗ ông Fordham chỉ nhé.'
"Tôi ngoan ngoãn ký vào tờ giấy, và vị luật sư mang nó đi. Như ngài có thể hình dung, sự việc kỳ lạ này đã in hằn một ấn tượng sâu sắc trong tâm trí tôi. Tôi cứ suy đi tính lại, lật xới vấn đề theo mọi hướng mà vẫn không tài nào hiểu nổi. Mặc dù vậy, tôi không sao rũ bỏ được cảm giác sợ hãi mơ hồ vẫn cứ ám ảnh khôn nguôi, dẫu rằng nó cũng nhạt dần đi khi nhiều tuần trôi qua mà không có thêm bất kỳ biến cố nào làm xáo trộn cuộc sống thường nhật. Thế nhưng, tôi có thể nhận thấy một sự thay đổi rõ rệt ở bác tôi. Bác uống rượu nhiều hơn bao giờ hết và càng xa lánh mọi hình thức giao tiếp xã hội. Bác nhốt mình trong phòng phần lớn thời gian, cửa luôn khóa chặt từ bên trong. Thi thoảng, trong một cơn say điên cuồng, bác lại lao ra khỏi nhà, chạy xồng xộc quanh vườn, lăm lăm khẩu súng lục trên tay, gào thét rằng bác không sợ bố con kẻ nào, và sẽ không để ai giam cầm mình, dù là người hay quỷ, giống như một con cừu trong chuồng. Nhưng khi những cơn bốc hỏa đó lắng xuống, bác lại vội vã lao vào phòng và khóa chặt cửa lại sau lưng, chẳng khác nào một kẻ không thể tiếp tục cố tỏ ra cứng cỏi trước nỗi kinh hoàng đã bám rễ sâu thẳm trong tâm hồn. Vào những lúc như thế, dẫu trong tiết trời lạnh giá, tôi vẫn thấy khuôn mặt bác bóng nhẫy mồ hôi, như thể vừa được nhấc ra từ một chậu nước.
"Vâng, để đi đến hồi kết của sự việc, thưa ngài Holmes, và để không lạm dụng sự kiên nhẫn của ngài, đã đến một đêm khi bác thực hiện một trong những cuộc đột kích trong cơn say như mọi khi và không bao giờ quay trở lại. Khi đổ xô đi tìm kiếm, chúng tôi phát hiện ra bác đang nằm sấp mặt trong một cái ao nhỏ phủ kín váng xanh ở cuối khu vườn. Bác đã tắt thở. Không có bất kỳ dấu hiệu xô xát nào, và mực nước trong ao chỉ sâu chừng hai bộ. Do đó, bồi thẩm đoàn, có xem xét đến thói quen lập dị nổi tiếng của bác, đã đưa ra kết luận là 'tự sát'. Nhưng tôi, người hiểu rõ bác đã co rúm lại sợ hãi đến mức nào ngay cả khi chỉ nghĩ đến cái chết, phải mất rất nhiều công sức mới có thể tự thuyết phục bản thân rằng bác đã cố tình tìm đến cái chết. Bất kể thế nào, sự việc cũng đã trôi qua, và cha tôi chính thức tiếp quản điền trang, cùng với khoảng mười bốn nghìn bảng Anh đang nằm trong tài khoản ngân hàng của bác."
"Khoan đã," Holmes ngắt lời, "Những gì anh vừa kể, tôi có thể lường trước được, quả là một trong những câu chuyện đáng chú ý nhất mà tôi từng được nghe. Hãy cho tôi biết chính xác ngày bác anh nhận được lá thư, và ngày mà người ta cho là bác ấy đã tự sát."
"Lá thư đến vào ngày 10 tháng Ba năm 1883. Bác qua đời bảy tuần sau đó, vào đêm ngày 2 tháng Năm."
"Cảm ơn anh. Xin hãy kể tiếp."
"Khi cha tôi tiếp quản khu điền trang Horsham, theo yêu cầu của tôi, ông đã tiến hành kiểm tra cẩn thận căn gác xép luôn bị khóa kín. Chúng tôi tìm thấy chiếc hộp đồng ở đó, dù mọi thứ bên trong đã bị tiêu hủy. Mặt trong của nắp hộp có dán một nhãn giấy, trên đó in ba chữ cái K. K. K. và dòng chữ 'Thư từ, bản ghi nhớ, biên lai và sổ đăng ký' được viết bên dưới. Chúng tôi đoán rằng đây là mô tả về những tài liệu đã bị Đại tá Openshaw đốt cháy. Ngoài ra, trên gác xép chẳng còn gì đáng chú ý, ngoại trừ vô số giấy tờ và sổ sách nằm vương vãi, liên quan đến cuộc sống của bác tôi ở Mỹ. Một số ghi chép thuộc thời chiến, cho thấy bác đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và mang danh tiếng của một người lính quả cảm. Số giấy tờ còn lại thuộc về giai đoạn tái thiết các bang miền Nam, hầu hết mang tính chính trị. Rõ ràng bác đã tham gia vào một phe phái mạnh mẽ, kiên quyết chống lại những chính trị gia cơ hội từ miền Bắc phái xuống.
"Vâng, đó là vào đầu năm 1884, khi cha tôi chuyển đến sống ở Horsham, và mọi việc diễn ra vô cùng suôn sẻ cho đến tháng Giêng năm 1885. Vào ngày thứ tư của năm mới, khi đang cùng tôi ngồi ăn sáng, cha tôi bất ngờ thốt lên một tiếng kêu đầy kinh ngạc. Ông ngồi sững sờ, một tay cầm chiếc phong bì vừa mở, tay kia đưa ra, trong lòng bàn tay là năm hạt cam khô quắt. Ông từng cười nhạo những điều mà ông gọi là 'câu chuyện hoang đường' của tôi về ngài đại tá, nhưng lúc này đây, trông ông thật sợ hãi và bối rối tột độ khi sự việc tương tự giáng xuống chính ông.
"'Chà, chuyện này rốt cuộc có ý nghĩa gì thế hả, John?' cha tôi lắp bắp.
"Lòng tôi nặng trĩu như đeo đá. 'Đó là K. K. K.,' tôi đáp lời.
"Cha tôi liếc nhìn vào bên trong phong bì. 'Đúng là vậy rồi,' ông kêu lên. 'Chính là những chữ cái đó. Nhưng dòng chữ viết bên trên là gì đây?'
"'Hãy đặt giấy tờ lên đồng hồ mặt trời,' tôi đọc to, ngó qua vai ông.
"'Giấy tờ gì? Đồng hồ mặt trời nào?' cha hỏi lại.
"'Đồng hồ mặt trời ngoài vườn. Không có cái nào khác cả,' tôi đáp, 'Nhưng những giấy tờ đó chắc hẳn là những thứ bác Elias đã đốt đi mất rồi.'
"'Xùy!' cha tôi chép miệng, cố lấy lại lòng can đảm. 'Chúng ta đang sống ở một đất nước văn minh, và chúng ta không thể dung túng cho cái trò ngu ngốc kiểu này. Thứ này gửi đến từ đâu vậy?'
"'Từ Dundee,' tôi trả lời sau khi liếc nhìn dấu bưu điện.
"'Một trò đùa thực tế ác ý lố bịch nào đó thôi,' ông nói. 'Cha thì có liên quan gì đến đồng hồ mặt trời và giấy tờ cơ chứ? Cha sẽ không bận tâm đến những chuyện vô lý này.'
"'Con nghĩ tốt nhất cha nên báo cảnh sát,' tôi đề nghị.
"'Để rồi bị chúng chê cười cho một trận sao? Không đời nào.'
"'Vậy để con đi báo nhé?'
"'Không, cha cấm con. Cha sẽ không để chuyện vô lý này làm ầm ĩ lên.'
"Thật vô ích khi tranh luận với cha, bởi ông là một người vô cùng ngoan cố. Dù vậy, tôi cứ loanh quanh trong nhà với một trái tim trĩu nặng những linh cảm chẳng lành.
"Ngày thứ ba sau khi lá thư đến, cha rời nhà để đến thăm một người bạn cũ, Thiếu tá Freebody, người đang chỉ huy một trong những pháo đài trên đồi Portsdown. Tôi rất vui vì chuyến đi này, bởi tôi thầm nghĩ, khi cha ở xa nhà, cha sẽ an toàn hơn. Tuy nhiên, tôi đã nhầm to. Ngày thứ hai sau khi cha đi, tôi nhận được một bức điện tín từ vị thiếu tá, khẩn khoản yêu cầu tôi đến ngay lập tức. Cha tôi đã sẩy chân ngã xuống một trong những hố phấn trắng sâu hoắm nhan nhản trong vùng, và đang nằm bất tỉnh, hộp sọ vỡ nát. Tôi vội vã lao đến, nhưng cha đã qua đời mà không kịp trăng trối lấy một lời. Dường như cha đang trên đường trở về từ Fareham vào lúc chạng vạng tối. Vì địa hình lạ lẫm và hố phấn lại không có rào chắn, bồi thẩm đoàn đã không chút do dự đưa ra phán quyết 'tử vong do tai nạn'. Dù tôi đã cất công lật xới mọi chi tiết liên quan đến cái chết của cha, tôi vẫn không thể tìm ra bất kỳ manh mối nào gợi lên nghi vấn về một vụ mưu sát. Không có dấu vết của một cuộc vật lộn, không có dấu chân lạ, không hề bị cướp bóc, cũng không có ai nhìn thấy bất kỳ kẻ lạ mặt nào lảng vảng trên đường. Dẫu vậy, tôi chẳng cần phải giấu giếm với ngài rằng tâm trí tôi không hề thanh thản, và tôi gần như đoan chắc có một âm mưu tàn độc nào đó đã bủa vây lấy cha.
"Thế là tôi được thừa kế gia tài theo cái cách đầy ám ảnh này. Ngài sẽ tự hỏi tại sao tôi không bán quách nó đi? Tôi xin thưa, vì tôi tin chắc rằng những tai ương ập xuống gia đình tôi bằng cách nào đó đều bắt nguồn từ một biến cố trong quá khứ của bác tôi, và rằng hiểm nguy ở một ngôi nhà này cũng sẽ hiện hữu nếu tôi chuyển đến một ngôi nhà khác.
"Người cha tội nghiệp của tôi đã qua đời vào tháng Giêng năm 1885, và thấm thoắt đã hai năm tám tháng trôi qua kể từ đó. Trong suốt khoảng thời gian ấy, tôi vẫn sống bình yên ở Horsham, những tưởng lời nguyền cay nghiệt kia đã buông tha cho gia đình tôi, và nó đã thực sự chấm dứt cùng với thế hệ trước. Nhưng hỡi ôi, tôi đã quá vội vã khi tận hưởng niềm an ủi ấy; sáng hôm qua, đòn chí mạng đã ập xuống đầu tôi theo đúng cái cách mà nó từng giáng xuống cha tôi."
Người thanh niên rút từ túi áo gilet một chiếc phong bì nhàu nhĩ, rồi bước tới mép bàn, trút ra năm hạt cam nhỏ đã khô quắt.
"Đây là chiếc phong bì," anh ta nói tiếp. "Dấu bưu điện đóng ở London-thuộc khu phía Đông. Bên trong là những dòng chữ giống hệt như bức thông điệp cuối cùng cha tôi từng nhận: 'K. K. K.'; và theo sau là dòng lệnh: 'Hãy đặt giấy tờ lên chiếc đồng hồ mặt trời'."
"Thế anh đã làm gì rồi?" Holmes hỏi.
"Tôi chẳng làm gì cả."
"Chẳng làm gì ư?"
"Thú thật với ngài"-anh ta gục mặt vào đôi bàn tay trắng trẻo, gầy gò-"tôi cảm thấy hoàn toàn bất lực. Thấy mình chẳng khác nào con thỏ tội nghiệp đang đờ đẫn trân trối nhìn con rắn độc đang trườn tới. Tôi như đang bị bóp nghẹt trong nanh vuốt của một thế lực hắc ám bủa vây, một thế lực tàn nhẫn và không thể lay chuyển, đến mức chẳng có sự cảnh giác hay biện pháp đề phòng nào có thể che chở được cho tôi."
"Suỵt! Suỵt!" Sherlock Holmes kêu lên. "Anh phải hành động ngay, anh bạn ạ, nếu không anh sẽ tiêu đời mất. Giờ chỉ có nghị lực mới cứu được anh thôi. Đây chưa phải lúc để tuyệt vọng đâu."
"Tôi đã trình báo cảnh sát rồi."
"À ra thế!"
"Nhưng họ chỉ nhếch mép cười khi nghe câu chuyện của tôi. Tôi dám chắc vị thanh tra kia đã khăng khăng cho rằng những lá thư này chỉ là trò đùa ác ý, và cái chết của những người thân trong gia đình tôi thuần túy là tai nạn như lời bồi thẩm đoàn đã tuyên án, chẳng hề có mối liên hệ nào với những lời cảnh báo kia cả."
Holmes vung đôi bàn tay đang nắm chặt lên không trung. "Sự ngu ngốc đến mức khó tin!" anh thốt lên.
"Dù vậy, họ cũng đã cắt cử một viên cảnh sát túc trực trong nhà cùng tôi."
"Thế anh ta có đi cùng anh tối nay không?"
"Không. Mệnh lệnh cấp trên giao cho anh ta là phải túc trực tại nhà."
Holmes lại giận dữ vung tay lên không trung lần nữa.
"Tại sao anh lại đến tìm tôi?" anh gắt gỏng, "và trên hết, tại sao anh không đến ngay lập tức?"
"Tôi cũng không biết nữa. Mãi đến hôm nay, khi tôi dốc bầu tâm sự với Thiếu tá Prendergast về những rắc rối của mình, ông ấy mới khuyên tôi nên đến tìm ngài."
"Đã hai ngày trôi qua kể từ khi anh nhận được lá thư. Lẽ ra chúng ta phải hành động từ trước đó rồi. Tôi cho rằng anh chẳng còn bằng chứng nào khác ngoài những thứ vừa bày ra trước mắt chúng tôi-không còn một chi tiết gợi mở nào có thể giúp ích được sao?"
"Còn một thứ nữa," John Openshaw lên tiếng. Anh ta lục lọi trong túi áo khoác, rút ra một mảnh giấy màu xanh nhạt đã ố màu rồi trải phẳng phiu lên mặt bàn. "Tôi sực nhớ lại," anh ta kể, "rằng vào cái ngày bác tôi đốt mớ tài liệu, tôi đã để ý thấy những mẩu giấy cháy dở vương vãi giữa đám tro tàn mang màu sắc đặc biệt này. Tôi đã tìm thấy mảnh giấy duy nhất này rơi trên sàn phòng của bác, và đồ rằng nó chính là một phần của tập tài liệu, có lẽ đã vô tình bay ra từ giữa những tờ giấy khác và nhờ thế mà thoát khỏi ngọn lửa. Ngoại trừ việc nhắc tới những hạt cam, tôi không thấy nó giúp ích được gì nhiều cho chúng ta. Bản thân tôi cho rằng đây là một trang xé ra từ cuốn nhật ký cá nhân nào đó. Nét chữ này chắc chắn là của bác tôi."
Holmes kéo chiếc đèn lại gần, cả hai chúng tôi cùng cúi xuống xem xét mảnh giấy. Cái mép nham nhở cho thấy rõ ràng nó đã bị xé ra khỏi một cuốn sổ. Tờ giấy mang tiêu đề "Tháng Ba, 1869", và ngay bên dưới là những dòng ghi chú bí ẩn sau đây:
"Mùng 4. Hudson đã đến. Vẫn khư khư cái quan điểm cũ đó.
"Mùng 7. Gửi hạt cam cho McCauley, Paramore và John Swain ở St. Augustine.
"Mùng 9. McCauley đã được giải quyết xong.
"Mùng 10. John Swain đã được giải quyết xong.
"Ngày 12. Tới thăm Paramore. Mọi việc đều êm xuôi."
"Cảm ơn anh!" Holmes nói, cẩn thận gấp mảnh giấy lại và trả cho vị khách. "Còn bây giờ, anh không được phép lãng phí thêm một giây phút nào nữa dưới bất kỳ lý do gì. Chúng ta không có thời gian rảnh rỗi, dù chỉ để bàn luận thêm về những điều anh vừa kể. Anh phải về nhà ngay lập tức và hành động."
"Thế tôi phải làm gì đây?"
"Chỉ có một việc duy nhất để làm. Và việc đó phải được thực thi ngay lập tức. Anh hãy cất mảnh giấy vừa cho chúng tôi xem vào trong chiếc hộp đồng mà anh từng miêu tả. Kèm theo đó, anh phải bỏ vào một tờ giấy báo rằng tất cả những tài liệu khác đều đã bị bác của anh thiêu rụi, và đây là tờ duy nhất còn sót lại. Anh phải cam đoan điều đó bằng những lời lẽ thật sự đầy sức thuyết phục. Ngay sau khi xong việc, anh phải lập tức mang chiếc hộp đặt ra ngoài chiếc đồng hồ mặt trời như đã được chỉ dẫn. Anh hiểu chứ?"
"Tôi hoàn toàn hiểu thưa ngài."
"Lúc này, tuyệt đối đừng nghĩ đến việc trả thù hay bất cứ điều gì đại loại như vậy. Tôi tin rằng chúng ta có thể đạt được mục đích đó thông qua pháp luật; nhưng chúng ta vẫn đang phải giăng tấm lưới của riêng mình, trong khi cạm bẫy của bọn chúng thì đã giăng sẵn rồi. Mối quan tâm hàng đầu lúc này là phải nhổ bỏ mối nguy hiểm cấp bách đang chực chờ nuốt chửng anh. Kế đến mới là làm sáng tỏ bí ẩn và trừng trị những kẻ thủ ác."
"Tôi vô cùng biết ơn ngài," người thanh niên cất lời, đứng dậy và khoác chiếc áo choàng vào. "Ngài đã mang đến cho tôi cuộc sống và một niềm hy vọng mới. Tôi nhất định sẽ làm theo lời ngài khuyên."
"Đừng lãng phí một giây phút nào. Và, quan trọng hơn cả, hãy hết sức giữ mình trong thời gian này, bởi tôi đồ rằng không còn chút nghi ngờ gì nữa, anh đang bị đe dọa bởi một mối nguy hiểm rất thực tế và chực chờ ập đến. Anh định về bằng phương tiện gì?"
"Tôi sẽ bắt chuyến tàu hỏa từ nhà ga Waterloo."
"Vẫn chưa đến chín giờ. Đường phố lúc này hẳn sẽ rất đông đúc, nên tôi tin rằng anh có thể được an toàn. Tuy vậy, anh vẫn không được phép lơ là việc bảo vệ bản thân."
"Tôi có mang theo vũ khí thưa ngài."
"Thế thì tốt. Ngay ngày mai, tôi sẽ bắt tay vào việc giải quyết vụ án của anh."
"Vậy tôi sẽ đón ngài ở Horsham chứ?"
"Không, bí mật của anh nằm ngay tại London này. Đó mới là nơi tôi sẽ cất công tìm kiếm."
"Vậy thì tôi sẽ ghé thăm ngài trong một hoặc hai ngày tới, mang theo tin tức về chiếc hộp và giấy tờ. Tôi sẽ tuân thủ lời khuyên của ngài trong từng chi tiết nhỏ." Anh ta bắt tay chúng tôi rồi cáo từ. Bên ngoài, gió vẫn rít gào từng cơn và mưa tạt lộp độp vào các khung cửa sổ. Câu chuyện kỳ dị, hoang dại này dường như đã tìm đến chúng tôi từ giữa những cơn thịnh nộ điên cuồng của đất trời-bị cuốn vào căn phòng này hệt như một nhánh rong biển trôi dạt trong cơn bão-để rồi giờ đây lại bị bóng tối cuồng nộ ấy nuốt chửng một lần nữa.
Sherlock Holmes ngồi lặng thinh hồi lâu, đầu hơi cúi, đôi mắt dán chặt vào quầng sáng rực đỏ tản ra từ ngọn lửa. Lát sau, anh châm tẩu thuốc, thả mình tựa lưng vào ghế, đăm chiêu nhìn những vòng khói xanh lơ vờn nhau bay lên tận trần nhà.
"Watson này," rốt cuộc anh cũng lên tiếng, "tôi trộm nghĩ trong muôn vàn vụ án mà chúng ta từng kinh qua, chưa có vụ nào lại kỳ đố đến nhường này."
"Ngoại trừ vụ Dấu bộ tứ, có lẽ vậy."
"À, vâng. Trừ vụ đó ra. Dù sao thì, tôi vẫn thấy anh chàng John Openshaw dường như đang dấn bước vào chốn hung hiểm tột cùng, thậm chí còn đáng sợ hơn cả những gì gia tộc Sholto từng hứng chịu."
"Nhưng liệu anh đã manh nha định hình được cội rễ của những mối nguy ấy là gì chưa?" tôi hỏi.
"Chẳng còn mảy may nghi ngờ gì về bản chất thực sự của chúng nữa," anh đáp.
"Vậy thì chúng là gì? Cái tên K.K.K. này là thế lực phương nào, và cớ sao hắn cứ mãi đeo bám một gia đình bất hạnh đến dường ấy?"
Sherlock Holmes nhắm nghiền hai mắt, tì khuỷu tay lên thành ghế, mười đầu ngón tay chụm vào nhau. "Một nhà suy luận mẫu mực," anh triết lý, "khi được tiếp cận một sự thật đơn lẻ dưới mọi góc độ, hẳn phải vạch ra không chỉ toàn bộ chuỗi ngọn nguồn dẫn đến sự việc đó, mà còn tiên liệu được mọi hệ lụy kéo theo. Giống như nhà tự nhiên học Cuvier5 chỉ cần ngắm nghía một mẩu xương cũng phác họa lại chính xác hình hài của cả một sinh vật nguyên vẹn; một người quan sát một khi đã thấu triệt một mắt xích trong chuỗi biến cố sẽ dư sức chỉ điểm chính xác mọi mắt xích khác, dẫu là trước hay sau. Chúng ta vẫn chưa với tới những giới hạn tột cùng mà trí tuệ đơn thuần có thể vươn tới. Rất nhiều bí ẩn vốn khiến những kẻ chỉ quen vin vào các giác quan phải chịu bó tay, rốt cuộc lại được hóa giải trọn vẹn ngay trong bốn bức tường phòng làm việc. Tuy nhiên, để đẩy nghệ thuật này lên tới cảnh giới thượng thừa, đòi hỏi nhà suy luận phải vận dụng tài tình mọi dữ kiện mình nắm giữ. Anh sẽ dễ dàng nhận ra, điều này đồng nghĩa với việc họ phải tinh thông một lượng tri thức khổng lồ - thứ mà ngay cả trong thời đại nền giáo dục mở rộng và bách khoa toàn thư phổ biến này, vẫn là một thành tựu hiếm người đạt tới. Dẫu vậy, việc một cá nhân tự trang bị cho mình đủ kiến thức cần thiết để phụng sự cho công việc cũng không hẳn là chuyện vô vọng, và tôi đã nỗ lực không ngừng để làm điều đó. Nếu tôi nhớ không lầm, vào những ngày tháng đầu tiên chúng ta kết giao, anh từng đánh giá khá chuẩn xác về những giới hạn của tôi đấy chứ."
"Đúng thế," tôi bật cười đáp lời. "Đó quả là một bản đánh giá kỳ quặc. Tôi nhớ mình đã cho điểm không vào các môn triết học, thiên văn học và chính trị. Thực vật học thì lúc trồi lúc sụt. Địa chất học thì lại tinh thông đến độ anh có thể chỉ mặt gọi tên những vết bùn đất từ bất cứ chốn nào trong bán kính năm mươi dặm quanh thành phố. Hóa học thì lập dị, giải phẫu học thì chẳng theo một hệ thống nào. Riêng mảng văn học giật gân và hồ sơ tội phạm thì độc nhất vô nhị. Đó là chưa kể đến tài kéo vĩ cầm, khả năng chơi quyền anh, đấu kiếm, am hiểu luật pháp, và cả cái thói tự đầu độc chính mình bằng thuốc phiện và thuốc lá nữa. Tôi nghĩ chừng đó cũng tóm gọn được những nét chấm phá trong bản phân tích của tôi rồi."
Nghe đến chi tiết cuối cùng, Holmes nhếch mép cười lớn. "Chà," anh cất giọng, "giờ thì tôi vẫn giữ nguyên quan điểm như thuở nọ: một người nên khéo léo chất đầy căn gác xép trí tuệ nhỏ bé của mình bằng những món đồ nghề thực sự hữu dụng, còn bao nhiêu thứ hầm bà lằng khác cứ việc nhét tạm vào phòng chứa đồ của thư viện, hễ cần thì lôi ra. Còn với một vụ án như câu chuyện vừa được giãi bày cùng chúng ta đêm nay, thì chắc chắn ta phải dốc toàn lực để giải quyết. Phiền anh với lấy giúp tôi cuốn Bách khoa toàn thư Mỹ tập vần K đang nằm trên kệ kế bên anh kia. Cảm ơn anh. Giờ hãy cùng lật lại vấn đề và xem ta có thể vắt kiệt được manh mối gì từ nó không. Trước hết, ta có thể khởi đầu bằng một nhận định chắc nịch rằng Đại tá Openshaw hẳn phải ôm một lý do vô cùng hệ trọng mới quyết định rũ bỏ nước Mỹ. Ở cái độ tuổi xế chiều ấy, đàn ông chẳng mấy khi chịu thay đổi thói quen, lại càng không đời nào tự dưng đánh đổi khí hậu đầy gọi mời của miền Florida để chuốc lấy chuỗi ngày hưu quạnh nơi thị trấn tỉnh lẻ nước Anh. Chính cái sự thèm khát cảnh cô lập một cách cực đoan tại nước Anh của ông ta đã dấy lên nghi vấn: ông ta đang nơm nớp lo sợ một kẻ nào đó, hoặc một thứ gì đó. Vậy nên, ta tạm lấy đó làm giả thuyết gốc: nỗi kinh hoàng trước một thế lực vô hình chính là ngọn roi quất ông ta tháo chạy khỏi nước Mỹ. Về câu hỏi thứ ông ta sợ hãi rốt cục là gì, chúng ta chỉ có thể lật mở bức màn bí mật ấy bằng cách săm soi những bức thư đầy sặc mùi chết chóc mà chính ông ta cùng những người thừa kế đã nhận được. Anh có mảy may để tâm đến dấu bưu điện in trên những lá thư ấy không?"
"Bức đầu tiên gửi đi từ Pondicherry, bức thứ hai từ Dundee, và bức thứ ba từ London."
"Từ khu Đông London. Anh suy luận được gì từ chi tiết ấy?"
"Chúng thảy đều là các bến cảng. Chứng tỏ kẻ gửi thư đang lênh đênh trên một con tàu."
"Tuyệt vời. Ta đã nắm trong tay một manh mối đắt giá. Rất có khả năng, vâng, một khả năng cực kỳ cao là kẻ viết thư đang cưỡi sóng trên một con tàu. Và giờ chúng ta hãy cùng mổ xẻ một điểm khác. Trong trường hợp của Pondicherry, phải ròng rã bảy tuần lễ trôi qua kể từ khi gửi lời đe dọa thì bản án mới được thi hành. Nhưng ở Dundee thì chỉ độ chừng ba bốn ngày. Chi tiết này có gõ lên hồi chuông cảnh tỉnh nào trong đầu anh không?"
"Khoảng cách di chuyển xa xôi hơn."
"Nhưng bản thân bức thư cũng phải vượt một chặng đường dài hơn mới đến tay người nhận cơ mà."
"Vậy thì tôi đành chịu, chẳng rõ ý anh muốn ám chỉ điều gì."
"Chí ít ta cũng có thể phỏng đoán rằng, con tàu chở cái gã - hay đám người ấy - là một chiếc tàu buồm. Rất có thể bọn chúng luôn đánh tiếng bằng lời cảnh báo hay tung ra những dấu hiệu quái gở trước khi bắt tay thực thi nhiệm vụ. Anh thấy sự thể diễn biến thần tốc ra sao sau khi dấu hiệu từ Dundee gửi tới rồi đấy. Giả dụ bọn chúng khởi hành từ Pondicherry bằng một con tàu chạy bằng hơi nước, thì chúng sẽ cập bến gần như cùng lúc với lá thư báo tử. Nhưng trên thực tế, phải mất tới bảy tuần ròng. Tôi cho rằng khoảng thời gian bảy tuần đằng đẵng ấy chính là độ trễ giữa chuyến tàu thư chuyển phát lá thư và chiếc tàu buồm đang lặc lè chở những tên đao phủ."
"Rất có lý."
"Không chỉ có lý, mà khả năng ấy còn rất cao. Giờ thì anh đã mường tượng ra cái áp lực sinh tử nghẹt thở của vụ án này rồi chứ? Anh đã hiểu tại sao tôi lại thúc giục chàng trai Openshaw phải cẩn trọng đến nhường nào chưa? Nhát dao chí mạng luôn luôn vung xuống ngay khi bọn thủ ác vừa kịp vượt qua khoảng cách địa lý. Nhưng lần này, bức thư lại gửi đi ngay từ London, thế nên ta đừng hòng mơ mộng gì đến một sự trì hoãn nào cả."
"Lạy Chúa tôi!" tôi thảng thốt kêu lên. "Thế rốt cuộc thì cơ sự là thế nào, nguyên cớ gì mà chúng lại tiến hành một cuộc truy sát tàn độc đến thế?"
"Tập tài liệu mà Đại tá Openshaw ôm theo dứt khoát mang tầm quan trọng sống còn đối với kẻ - hoặc nhóm người - trên chiếc tàu buồm nọ. Càng ngẫm, tôi càng thấy sáng tỏ một điều: bọn chúng không thể chỉ đơn thương độc mã. Một gã đàn ông lẻ loi không tài nào dàn dựng nổi hai cái chết tinh vi đến độ qua mặt được cả hội đồng điều tra như vậy. Chắc chắn phải có một nhóm kẻ tham gia, những ác nhân không chỉ túc trí đa mưu mà còn vô cùng quyết đoán. Bằng bất cứ giá nào chúng cũng phải đoạt lại tập tài liệu ấy, bất kể kẻ đang cất giữ là ai. Qua cách thức hành động ấy, anh có thể thấy K.K.K. không đơn thuần là tên viết tắt của một cá nhân, mà thực chất là huy hiệu của cả một hội nhóm."
"Nhưng là hội nhóm nào cơ chứ?"
"Lẽ nào anh chưa từng-" Sherlock Holmes nói, khẽ nhoài người về phía trước, giọng nói trầm xuống đầy bí hiểm-"chưa từng nghe danh tổ chức Ku Klux Klan sao?"
"Chưa từng, quả thực tôi chưa từng nghe tới."
Holmes lật giở những trang sách đang đặt trên đầu gối. "Nó đây rồi," anh vừa lẩm bẩm vừa chỉ tay vào một mục:
'Ku Klux Klan. Một cái tên bắt nguồn từ sự liên tưởng đến âm thanh khô khốc phát ra khi kéo cò súng trường. Tổ chức bí mật gieo rắc nỗi kinh hoàng này được khai sinh bởi một nhóm cựu binh phe Liên minh tại các bang miền Nam nước Mỹ thời kỳ hậu Nội chiến. Rất nhanh chóng, nó đã cắm rễ và nảy nở các chi nhánh địa phương trên khắp mọi miền đất nước, nổi cộm nhất phải kể đến Tennessee, Louisiana, hai bang Carolina, Georgia và Florida. Sức mạnh bạo tàn của hội nhóm này bị lợi dụng cho những mưu đồ chính trị, cốt là để khủng bố các cử tri da đen, đồng thời tàn sát hoặc trục xuất những ai dám đi ngược lại hệ tư tưởng của chúng. Các cuộc thanh trừng đẫm máu thường được báo trước bằng những thông điệp gửi tới con mồi dưới những hình thức dị hợm nhưng mang tính quy ước ngầm-có thể là một cành sồi ở vùng này, hoặc vài hạt dưa, hạt cam ở vùng khác. Nhận được trát đòi mạng này, nạn nhân hoặc phải công khai chối bỏ quan điểm bản thân, hoặc phải dắt díu nhau tháo chạy khỏi quê hương. Nếu kẻ nào dám gan góc đương đầu với hội, thì cái chết chắc chắn sẽ ập tới, thường là dưới những phương thức quái đản và không sao lường trước được. Tổ chức của hội nhóm này hoàn hảo tới mức, và phương pháp hành động của chúng mang tính hệ thống đến độ, sử sách gần như chưa từng ghi nhận bất kỳ một trường hợp nào dám ngang nhiên chọc giận chúng mà không phải trả giá, hay bất kỳ vụ thủ tiêu tàn bạo nào bị phanh phui tận gốc rễ kẻ thủ ác. Trong suốt vài năm ròng, tổ chức này không ngừng vươn vòi bạch tuộc, ngạo nghễ bất chấp mọi nỗ lực trấn áp của chính phủ Hoa Kỳ cũng như sự phản đối gay gắt từ những tầng lớp tinh hoa ở miền Nam. Cuối cùng, vào năm 1869, phong trào này đột ngột sụp đổ, dù từ đó đến nay vẫn còn rải rác những đợt bùng phát mầm mống tương tự.'
"Anh hẳn sẽ tinh ý nhận ra," Holmes đặt cuốn sách sang một bên, cất lời, "rằng sự tan rã đột ngột của tổ chức này hoàn toàn trùng khớp với thời điểm Đại tá Openshaw tháo chạy khỏi nước Mỹ cùng với tập tài liệu bí mật của chúng. Hai sự kiện này rất có thể là nguyên nhân và kết quả của nhau. Vậy nên, chẳng có gì lạ lẫm khi ông ta và gia tộc của mình phải gánh chịu sự bám đuổi dai dẳng của những linh hồn ôm mối hận thù không sao nguôi ngoai. Anh cũng dư sức hiểu rằng, cuốn sổ đăng ký và những trang nhật ký kia hẳn phải dính líu đến những nhân vật chóp bu khét tiếng ở miền Nam. Thế nên, sẽ có hàng tá kẻ chẳng thể có nổi một giấc ngủ yên nếu chưa đoạt lại được tập tài liệu ấy."
"Vậy thì tờ giấy mà chúng ta nhặt được-"
"Hoàn toàn ăn khớp với những gì ta đã dự báo. Nếu trí nhớ tôi không phản bội, trên đó ghi rành rành: 'Đã gửi hạt cam cho A, B, và C'-đồng nghĩa với việc hội đã phát tín hiệu cảnh báo cho chúng. Kế tiếp là những dòng ghi chú liên tiếp khẳng định A và B đã được giải quyết êm xuôi, hoặc đã cuống cuồng tháo chạy khỏi đất nước; và rốt cục, C cũng được viếng thăm, một chuyến viếng thăm đầy hiểm độc giáng xuống đầu C, tôi e là vậy. Chà, Bác sĩ ạ, tôi nghĩ chúng ta đã phần nào rọi được chút ánh sáng vào mớ bòng bong tăm tối này rồi. Tôi có niềm tin mãnh liệt rằng, cơ may duy nhất để chàng trai Openshaw thoát khỏi kiếp nạn này là phải nhất nhất tuân theo những gì tôi đã căn dặn. Đêm nay, ta chẳng còn mưu kế hay hành động nào có thể làm được nữa, vậy nên phiền anh đưa cho tôi cây vĩ cầm, và hãy cùng nhau cố quên đi trong nửa giờ đồng hồ cái thời tiết ảm đạm này, cùng với những dã tâm còn ảm đạm hơn vạn phần của chính đồng loại chúng ta."
Sáng hôm ấy trời quang đãng trở lại. Những tia nắng dịu nhẹ len lỏi xuyên qua tấm màn sương mờ ảo vẫn đang bao trùm lấy thành phố rộng lớn. Khi tôi bước xuống gác thì Sherlock Holmes đã dùng xong bữa điểm tâm.
"Thứ lỗi vì tôi đã không đợi anh," anh cất lời, "tôi đồ rằng hôm nay sẽ là một ngày vô cùng bận rộn với vụ án của chàng trai trẻ Openshaw."
"Anh định tiến hành những bước nào?" tôi hỏi.
"Chuyện đó phụ thuộc rất nhiều vào kết quả những cuộc điều tra đầu tiên. Biết đâu cuối cùng tôi lại phải cất công xuống tận Horsham."
"Anh không định đến đó trước sao?"
"Không, tôi sẽ bắt đầu từ khu trung tâm kinh tế. Anh cứ rung chuông, cô hầu gái sẽ mang cà phê lên cho anh."
Trong lúc chờ đợi, tôi nhấc tờ báo còn chưa bóc trên bàn lên lướt qua. Chợt, ánh mắt tôi dừng lại ở một dòng tiêu đề khiến tim tôi lạnh buốt.
"Holmes!" tôi thốt lên, "Anh chậm chân mất rồi."
"Ôi!" Anh buông tiếng thở dài, đặt tách trà xuống. "Tôi đã lo sợ điều này sẽ đến. Mọi chuyện xảy ra thế nào?" Anh lên tiếng, khẩu khí nghe thật điềm tĩnh, nhưng tôi nhận ra sâu thẳm bên trong, anh đang chấn động mãnh liệt.
"Ánh mắt tôi vừa bắt gặp cái tên Openshaw cùng dòng tiêu đề 'Bi kịch gần Cầu Waterloo'. Bài báo viết thế này:
"'Khoảng từ chín đến mười giờ tối hôm qua, viên cảnh sát Cook thuộc Đội H, khi đang làm nhiệm vụ quanh khu vực Cầu Waterloo, chợt nghe thấy tiếng kêu cứu thất thanh hòa cùng tiếng bõm của vật nặng rơi xuống nước. Tuy nhiên, màn đêm vô cùng tăm tối lại thêm giông bão mù mịt, khiến cho mọi nỗ lực cứu hộ đều trở nên vô vọng, dù đã có sự hỗ trợ từ một vài người qua đường. Dẫu vậy, tiếng còi báo động vẫn được cất lên, và nhờ sự tiếp ứng của lực lượng cảnh sát đường thủy, thi thể nạn nhân cuối cùng cũng được trục vớt. Người xấu số được xác định là một quý ông trẻ tuổi tên John Openshaw, ngụ gần vùng Horsham, dựa theo thông tin trên chiếc phong bì tìm thấy trong túi áo nạn nhân. Người ta phỏng đoán rằng, có lẽ trong lúc tất tả chạy đi bắt chuyến tàu cuối cùng rời Ga Waterloo, giữa cơn vội vã và bóng đêm dày đặc, anh đã mất phương hướng rồi trượt chân khỏi rìa của một trong những bến neo đậu nhỏ dành cho tàu chạy bằng hơi nước dọc bờ sông. Không có bất kỳ dấu vết xô xát nào trên thi thể, và gần như chắc chắn người quá cố là nạn nhân của một tai nạn thương tâm. Vụ việc đáng tiếc này ắt hẳn sẽ gióng lên hồi chuông cảnh báo tới giới chức trách về tình trạng xuống cấp của các bến đỗ ven sông.'"
Cả hai chúng tôi chìm vào im lặng vài phút liền. Chưa bao giờ tôi thấy Holmes rúng động và não nề đến thế.
"Chuyện này đã giáng một đòn chí mạng vào lòng kiêu hãnh của tôi, Watson ạ," hồi lâu sau, anh cất tiếng. "Quả thực là một thứ cảm xúc quá đỗi tầm thường, nhưng nó đã xúc phạm đến lòng kiêu hãnh của tôi. Giờ thì mọi thứ đã trở thành thù oán cá nhân. Nếu Chúa còn ban cho tôi sức khỏe, tôi thề sẽ tự tay xử lý cái băng đảng này. Cậu ấy đã đến cậy nhờ tôi cứu giúp, vậy mà tôi lại đẩy cậu ấy vào chỗ chết...!" Anh bật tung người khỏi ghế, bước đi tới lui quanh phòng trong cơn kích động tột độ, đôi gò má nhợt nhạt nay đỏ lựng lên, còn đôi bàn tay xương xẩu thon dài cứ bấu chặt vào nhau rồi lại buông ra đầy bồn chồn.
"Lũ này ắt hẳn phải là những con quỷ vô cùng ranh ma," anh lớn tiếng. "Làm thế nào mà chúng có thể dụ cậu ấy xuống tận đó được cơ chứ? Khu Embankment đâu hề nằm trên tuyến đường thẳng tiến ra nhà ga. Chắc chắn là cây cầu khi ấy vẫn còn quá đông người qua lại, ngay cả trong một đêm giông bão như vậy, nên chúng không thể ra tay. Chà, Watson, rồi chúng ta sẽ xem ai mới là kẻ chiến thắng cuối cùng. Giờ thì tôi phải ra ngoài đây!"
"Anh định đến sở cảnh sát sao?"
"Không; tôi sẽ tự làm cảnh sát của chính mình. Bao giờ tôi giăng xong lưới, họ có thể đến mà hốt xác lũ ruồi nhặng ấy, nhưng trước đó thì không."
Cả ngày hôm đó, tôi bận rộn với công việc ngành y của mình, mãi đến tận tối mịt mới có thể quay về phố Baker. Sherlock Holmes vẫn chưa về. Phải đến gần mười giờ đêm, anh mới bước vào nhà với dáng vẻ nhợt nhạt và phờ phạc. Anh đi thẳng đến chiếc tủ chén, xé toạc một mẩu bánh mì rồi ngấu nghiến ăn, sau đó uống ực một ngụm nước lớn để nuốt trôi.
"Anh đang đói lả đi kìa," tôi lên tiếng.
"Đói sắp chết đến nơi rồi. Tôi hoàn toàn quên béng mất chuyện ăn uống. Từ bữa điểm tâm đến giờ, tôi đã bỏ bụng được gì đâu."
"Không ăn chút gì sao?"
"Tuyệt nhiên không một mẩu nào. Tôi làm gì có thời gian mà nghĩ đến chuyện đó cơ chứ."
"Vậy mọi chuyện tiến triển ra sao rồi?"
"Khá tốt."
"Anh đã tìm ra manh mối rồi ư?"
"Mọi thứ đang nằm gọn trong lòng bàn tay tôi đây. Món nợ máu của chàng thanh niên Openshaw sẽ sớm được đòi lại. Tại sao không chứ, Watson? Chúng ta sẽ dùng chính cái dấu ấn quỷ quyệt của chúng để trừng phạt chúng. Đó quả là một ý hay!"
"Ý anh là sao?"
Nói đoạn, anh với tay lấy một quả cam từ trong tủ, bóc vỏ và nặn những hạt cam lên mặt bàn. Anh nhặt lấy năm hạt rồi bỏ vào một chiếc phong bì. Ở mặt trong của nắp phong bì, anh nắn nót viết dòng chữ "S. H. gửi J. O." Tiếp đó, anh dán kín lại và ghi địa chỉ người nhận: "Thuyền trưởng James Calhoun, Tàu vỏ vát Lone Star, Savannah, Georgia."
"Món quà này sẽ nằm chờ sẵn khi hắn cập cảng," anh vừa nói vừa cười đầy ẩn ý. "Có lẽ nó sẽ ban cho hắn một đêm mất ngủ. Hắn sẽ nhận ra đây chính là điềm báo tử của đời mình, hệt như cái cách mà gia đình Openshaw đã từng phải đón nhận."
"Thế viên Thuyền trưởng Calhoun này là kẻ nào?"
"Là tên trùm của băng đảng. Tôi sẽ lần lượt tóm gọn những tên còn lại, nhưng phải bắt đầu từ hắn trước tiên."
"Vậy làm cách nào mà anh lần ra được tung tích của hắn?"
Holmes rút từ trong túi áo ra một tờ giấy khổ lớn, trên đó ghi chằng chịt những tên tuổi và ngày tháng.
"Tôi đã dành trọn cả ngày hôm nay," anh cất lời, "để rà soát các sổ đăng ký của hãng Lloyd6 cùng những đống hồ sơ cũ kỹ, nhằm lần theo lịch trình của tất cả các con tàu từng cập cảng Pondicherry vào tháng Giêng và tháng Hai năm 1883. Có tất thảy ba mươi sáu con tàu với trọng tải lớn được ghi nhận là đã thả neo tại đó trong khoảng thời gian này. Trong số đó, có một cái tên ngay lập tức thu hút sự chú ý của tôi: chiếc Lone Star. Dẫu hồ sơ ghi chép rằng nó nhổ neo từ London, nhưng cái tên đó lại trùng khớp với biệt danh của một tiểu bang thuộc Hợp chúng quốc Hoa Kỳ."
"Là bang Texas, tôi nghĩ thế."
"Dù không dám chắc đó là tiểu bang nào, nhưng tôi biết tỏng con tàu này ắt hẳn phải có nguồn gốc từ nước Mỹ."
"Rồi sao nữa?"
"Tôi tiếp tục tra cứu các hồ sơ ở Dundee, và khi phát hiện ra chiếc tàu vỏ vát Lone Star cũng từng có mặt tại đó vào tháng Giêng năm 1885, sự hoài nghi của tôi đã chuyển thành niềm tin vững chắc. Kế đó, tôi bắt đầu dò hỏi thông tin về các con tàu hiện đang neo đậu tại cảng London."
"Thế nào?"
"Chiếc Lone Star đã cập bến tuần trước. Tôi lập tức đến Bến tàu Albert thì hay tin nó đã xuôi theo dòng sông vào lúc thủy triều lên rạng sáng nay để quay về Savannah. Tôi liền đánh điện tín đến Gravesend và nhận được tin báo rằng nó đã đi qua khu vực đó được một lúc. Và với hướng gió đông đang thổi, tôi dám chắc rằng lúc này nó đã vượt qua bãi cạn Goodwins7 và cũng chẳng còn cách Đảo Wight bao xa nữa."
"Vậy tiếp theo anh định làm gì?"
"Ồ, tôi đã tóm gọn hắn trong tay rồi. Theo chỗ tôi được biết, hắn cùng hai gã thuyền phó là những người Mỹ duy nhất trên tàu. Đám thủy thủ còn lại toàn là người Phần Lan và người Đức. Tôi cũng biết chắc rằng cả ba tên đó đều đã vắng mặt trên boong tàu vào đêm qua. Chính gã công nhân bốc vác hàng hóa cho chúng đã xác nhận điều này. Trước khi chiếc tàu buồm của chúng kịp cập bến Savannah, chuyến tàu chở thư sẽ đưa lá thư này đến nơi, đồng thời hệ thống cáp ngầm cũng sẽ đánh điện báo cho sở cảnh sát Savannah biết rằng ba gã này đang bị truy nã gắt gao tại đây vì tội giết người."
Thế nhưng, những kế hoạch do con người vạch ra dẫu có hoàn hảo đến đâu cũng không sao tránh khỏi những biến số khôn lường. Những kẻ ra tay hạ sát John Openshaw đã vĩnh viễn không bao giờ nhận được những hạt cam ấy để biết rằng đang có một người khác, cũng tinh ranh và quyết liệt chẳng kém gì chúng, đang ráo riết theo sát dấu vết của bọn chúng. Những cơn bão điểm phân năm đó kéo dài dai dẳng và vô cùng hung tợn. Chúng tôi đã mỏi mòn ngóng trông tin tức về chiếc Lone Star xứ Savannah, thế nhưng bặt vô âm tín. Mãi về sau, chúng tôi mới nghe phong thanh rằng ở một nơi nào đó xa xăm ngoài khơi Đại Tây Dương, người ta đã nhìn thấy một trụ lái đuôi tàu vỡ nát đang dập dềnh giữa những cơn sóng dữ, trên đó có khắc hai chữ cái "L. S.". Và đó cũng là tất cả những gì chúng tôi có thể biết được về số phận cuối cùng của chiếc Lone Star.
-
Ám chỉ Thomas Jonathan 'Stonewall' Jackson, một trong những vị tướng kiệt xuất nhất của quân đội Liên minh miền Nam (Confederate Army) trong Nội chiến Mỹ. ↩
-
Ám chỉ John Bell Hood, một vị tướng của quân đội Liên minh miền Nam trong Nội chiến Mỹ, nổi tiếng với tinh thần chiến đấu quả cảm nhưng cũng đầy mạo hiểm. ↩
-
Robert E. Lee, Tổng tư lệnh quân đội Liên minh miền Nam. Sự kiện ông đầu hàng tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc vào năm 1865 đã đánh dấu sự kết thúc của cuộc Nội chiến Mỹ. ↩
-
Vào thời kỳ Tái thiết (Reconstruction) sau Nội chiến Mỹ, Đảng Cộng hòa (đảng của tổng thống Abraham Lincoln) là lực lượng chính trị đi đầu trong việc bãi bỏ chế độ nô lệ và thông qua các tu chính án trao quyền công dân, quyền bầu cử cho người da đen. ↩
-
Georges Cuvier (1769-1832), nhà tự nhiên học và động vật học người Pháp, người đặt nền móng cho ngành giải phẫu so sánh và cổ sinh vật học. Ông nổi tiếng với khả năng tái tạo hình dáng các loài động vật tuyệt chủng chỉ từ những mảnh xương hóa thạch. ↩
-
Ám chỉ Lloyd's Register, một tổ chức phân cấp hàng hải lâu đời và uy tín nhất thế giới, thành lập tại Anh. Sổ đăng ký của Lloyd ghi chép chi tiết thông tin, lịch trình của các tàu buôn trên toàn cầu. ↩
-
Goodwin Sands, một bãi cát ngầm dài và nguy hiểm nằm trên eo biển Manche (English Channel) ngoài khơi bờ biển Kent, Anh. Nơi đây từng chứng kiến vô số vụ đắm tàu trong lịch sử hàng hải. ↩
V. THE FIVE ORANGE PIPS
When I glance over my notes and records of the Sherlock Holmes cases between the years ’82 and ’90, I am faced by so many which present strange and interesting features that it is no easy matter to know which to choose and which to leave. Some, however, have already gained publicity through the papers, and others have not offered a field for those peculiar qualities which my friend possessed in so high a degree, and which it is the object of these papers to illustrate. Some, too, have baffled his analytical skill, and would be, as narratives, beginnings without an ending, while others have been but partially cleared up, and have their explanations founded rather upon conjecture and surmise than on that absolute logical proof which was so dear to him. There is, however, one of these last which was so remarkable in its details and so startling in its results that I am tempted to give some account of it in spite of the fact that there are points in connection with it which never have been, and probably never will be, entirely cleared up.
The year ’87 furnished us with a long series of cases of greater or less interest, of which I retain the records. Among my headings under this one twelve months I find an account of the adventure of the Paradol Chamber, of the Amateur Mendicant Society, who held a luxurious club in the lower vault of a furniture warehouse, of the facts connected with the loss of the British barque Sophy Anderson, of the singular adventures of the Grice Patersons in the island of Uffa, and finally of the Camberwell poisoning case. In the latter, as may be remembered, Sherlock Holmes was able, by winding up the dead man’s watch, to prove that it had been wound up two hours before, and that therefore the deceased had gone to bed within that time-a deduction which was of the greatest importance in clearing up the case. All these I may sketch out at some future date, but none of them present such singular features as the strange train of circumstances which I have now taken up my pen to describe.
It was in the latter days of September, and the equinoctial gales had set in with exceptional violence. All day the wind had screamed and the rain had beaten against the windows, so that even here in the heart of great, hand-made London we were forced to raise our minds for the instant from the routine of life and to recognise the presence of those great elemental forces which shriek at mankind through the bars of his civilisation, like untamed beasts in a cage. As evening drew in, the storm grew higher and louder, and the wind cried and sobbed like a child in the chimney. Sherlock Holmes sat moodily at one side of the fireplace cross-indexing his records of crime, while I at the other was deep in one of Clark Russell’s fine sea-stories until the howl of the gale from without seemed to blend with the text, and the splash of the rain to lengthen out into the long swash of the sea waves. My wife was on a visit to her mother’s, and for a few days I was a dweller once more in my old quarters at Baker Street.
“Why,” said I, glancing up at my companion, “that was surely the bell. Who could come to-night? Some friend of yours, perhaps?”
“Except yourself I have none,” he answered. “I do not encourage visitors.”
“A client, then?”
“If so, it is a serious case. Nothing less would bring a man out on such a day and at such an hour. But I take it that it is more likely to be some crony of the landlady’s.”
Sherlock Holmes was wrong in his conjecture, however, for there came a step in the passage and a tapping at the door. He stretched out his long arm to turn the lamp away from himself and towards the vacant chair upon which a newcomer must sit.
“Come in!” said he.
The man who entered was young, some two-and-twenty at the outside, well-groomed and trimly clad, with something of refinement and delicacy in his bearing. The streaming umbrella which he held in his hand, and his long shining waterproof told of the fierce weather through which he had come. He looked about him anxiously in the glare of the lamp, and I could see that his face was pale and his eyes heavy, like those of a man who is weighed down with some great anxiety.
“I owe you an apology,” he said, raising his golden pince-nez to his eyes. “I trust that I am not intruding. I fear that I have brought some traces of the storm and rain into your snug chamber.”
“Give me your coat and umbrella,” said Holmes. “They may rest here on the hook and will be dry presently. You have come up from the south-west, I see.”
“Yes, from Horsham.”
“That clay and chalk mixture which I see upon your toe caps is quite distinctive.”
“I have come for advice.”
“That is easily got.”
“And help.”
“That is not always so easy.”
“I have heard of you, Mr. Holmes. I heard from Major Prendergast how you saved him in the Tankerville Club scandal.”
“Ah, of course. He was wrongfully accused of cheating at cards.”
“He said that you could solve anything.”
“He said too much.”
“That you are never beaten.”
“I have been beaten four times-three times by men, and once by a woman.”
“But what is that compared with the number of your successes?”
“It is true that I have been generally successful.”
“Then you may be so with me.”
“I beg that you will draw your chair up to the fire and favour me with some details as to your case.”
“It is no ordinary one.”
“None of those which come to me are. I am the last court of appeal.”
“And yet I question, sir, whether, in all your experience, you have ever listened to a more mysterious and inexplicable chain of events than those which have happened in my own family.”
“You fill me with interest,” said Holmes. “Pray give us the essential facts from the commencement, and I can afterwards question you as to those details which seem to me to be most important.”
The young man pulled his chair up and pushed his wet feet out towards the blaze.
“My name,” said he, “is John Openshaw, but my own affairs have, as far as I can understand, little to do with this awful business. It is a hereditary matter; so in order to give you an idea of the facts, I must go back to the commencement of the affair.
“You must know that my grandfather had two sons-my uncle Elias and my father Joseph. My father had a small factory at Coventry, which he enlarged at the time of the invention of bicycling. He was a patentee of the Openshaw unbreakable tire, and his business met with such success that he was able to sell it and to retire upon a handsome competence.
“My uncle Elias emigrated to America when he was a young man and became a planter in Florida, where he was reported to have done very well. At the time of the war he fought in Jackson’s army, and afterwards under Hood, where he rose to be a colonel. When Lee laid down his arms my uncle returned to his plantation, where he remained for three or four years. About 1869 or 1870 he came back to Europe and took a small estate in Sussex, near Horsham. He had made a very considerable fortune in the States, and his reason for leaving them was his aversion to the negroes, and his dislike of the Republican policy in extending the franchise to them. He was a singular man, fierce and quick-tempered, very foul-mouthed when he was angry, and of a most retiring disposition. During all the years that he lived at Horsham, I doubt if ever he set foot in the town. He had a garden and two or three fields round his house, and there he would take his exercise, though very often for weeks on end he would never leave his room. He drank a great deal of brandy and smoked very heavily, but he would see no society and did not want any friends, not even his own brother.
“He didn’t mind me; in fact, he took a fancy to me, for at the time when he saw me first I was a youngster of twelve or so. This would be in the year 1878, after he had been eight or nine years in England. He begged my father to let me live with him and he was very kind to me in his way. When he was sober he used to be fond of playing backgammon and draughts with me, and he would make me his representative both with the servants and with the tradespeople, so that by the time that I was sixteen I was quite master of the house. I kept all the keys and could go where I liked and do what I liked, so long as I did not disturb him in his privacy. There was one singular exception, however, for he had a single room, a lumber-room up among the attics, which was invariably locked, and which he would never permit either me or anyone else to enter. With a boy’s curiosity I have peeped through the keyhole, but I was never able to see more than such a collection of old trunks and bundles as would be expected in such a room.
“One day-it was in March, 1883-a letter with a foreign stamp lay upon the table in front of the colonel’s plate. It was not a common thing for him to receive letters, for his bills were all paid in ready money, and he had no friends of any sort. ‘From India!’ said he as he took it up, ‘Pondicherry postmark! What can this be?’ Opening it hurriedly, out there jumped five little dried orange pips, which pattered down upon his plate. I began to laugh at this, but the laugh was struck from my lips at the sight of his face. His lip had fallen, his eyes were protruding, his skin the colour of putty, and he glared at the envelope which he still held in his trembling hand, ‘K. K. K.!’ he shrieked, and then, ‘My God, my God, my sins have overtaken me!’
“‘What is it, uncle?’ I cried.
“‘Death,’ said he, and rising from the table he retired to his room, leaving me palpitating with horror. I took up the envelope and saw scrawled in red ink upon the inner flap, just above the gum, the letter K three times repeated. There was nothing else save the five dried pips. What could be the reason of his overpowering terror? I left the breakfast-table, and as I ascended the stair I met him coming down with an old rusty key, which must have belonged to the attic, in one hand, and a small brass box, like a cashbox, in the other.
“‘They may do what they like, but I’ll checkmate them still,’ said he with an oath. ‘Tell Mary that I shall want a fire in my room to-day, and send down to Fordham, the Horsham lawyer.’
“I did as he ordered, and when the lawyer arrived I was asked to step up to the room. The fire was burning brightly, and in the grate there was a mass of black, fluffy ashes, as of burned paper, while the brass box stood open and empty beside it. As I glanced at the box I noticed, with a start, that upon the lid was printed the treble K which I had read in the morning upon the envelope.
“‘I wish you, John,’ said my uncle, ‘to witness my will. I leave my estate, with all its advantages and all its disadvantages, to my brother, your father, whence it will, no doubt, descend to you. If you can enjoy it in peace, well and good! If you find you cannot, take my advice, my boy, and leave it to your deadliest enemy. I am sorry to give you such a two-edged thing, but I can’t say what turn things are going to take. Kindly sign the paper where Mr. Fordham shows you.’
“I signed the paper as directed, and the lawyer took it away with him. The singular incident made, as you may think, the deepest impression upon me, and I pondered over it and turned it every way in my mind without being able to make anything of it. Yet I could not shake off the vague feeling of dread which it left behind, though the sensation grew less keen as the weeks passed and nothing happened to disturb the usual routine of our lives. I could see a change in my uncle, however. He drank more than ever, and he was less inclined for any sort of society. Most of his time he would spend in his room, with the door locked upon the inside, but sometimes he would emerge in a sort of drunken frenzy and would burst out of the house and tear about the garden with a revolver in his hand, screaming out that he was afraid of no man, and that he was not to be cooped up, like a sheep in a pen, by man or devil. When these hot fits were over, however, he would rush tumultuously in at the door and lock and bar it behind him, like a man who can brazen it out no longer against the terror which lies at the roots of his soul. At such times I have seen his face, even on a cold day, glisten with moisture, as though it were new raised from a basin.
“Well, to come to an end of the matter, Mr. Holmes, and not to abuse your patience, there came a night when he made one of those drunken sallies from which he never came back. We found him, when we went to search for him, face downward in a little green-scummed pool, which lay at the foot of the garden. There was no sign of any violence, and the water was but two feet deep, so that the jury, having regard to his known eccentricity, brought in a verdict of ‘suicide.’ But I, who knew how he winced from the very thought of death, had much ado to persuade myself that he had gone out of his way to meet it. The matter passed, however, and my father entered into possession of the estate, and of some £ 14,000, which lay to his credit at the bank.”
“One moment,” Holmes interposed, “your statement is, I foresee, one of the most remarkable to which I have ever listened. Let me have the date of the reception by your uncle of the letter, and the date of his supposed suicide.”
“The letter arrived on March 10, 1883. His death was seven weeks later, upon the night of May 2nd.”
“Thank you. Pray proceed.”
“When my father took over the Horsham property, he, at my request, made a careful examination of the attic, which had been always locked up. We found the brass box there, although its contents had been destroyed. On the inside of the cover was a paper label, with the initials of K. K. K. repeated upon it, and ‘Letters, memoranda, receipts, and a register’ written beneath. These, we presume, indicated the nature of the papers which had been destroyed by Colonel Openshaw. For the rest, there was nothing of much importance in the attic save a great many scattered papers and note-books bearing upon my uncle’s life in America. Some of them were of the war time and showed that he had done his duty well and had borne the repute of a brave soldier. Others were of a date during the reconstruction of the Southern states, and were mostly concerned with politics, for he had evidently taken a strong part in opposing the carpet-bag politicians who had been sent down from the North.
“Well, it was the beginning of ’84 when my father came to live at Horsham, and all went as well as possible with us until the January of ’85. On the fourth day after the new year I heard my father give a sharp cry of surprise as we sat together at the breakfast-table. There he was, sitting with a newly opened envelope in one hand and five dried orange pips in the outstretched palm of the other one. He had always laughed at what he called my cock-and-bull story about the colonel, but he looked very scared and puzzled now that the same thing had come upon himself.
“‘Why, what on earth does this mean, John?’ he stammered.
“My heart had turned to lead. ‘It is K. K. K.,’ said I.
“He looked inside the envelope. ‘So it is,’ he cried. ‘Here are the very letters. But what is this written above them?’
“‘Put the papers on the sundial,’ I read, peeping over his shoulder.
“‘What papers? What sundial?’ he asked.
“‘The sundial in the garden. There is no other,’ said I; ‘but the papers must be those that are destroyed.’
“‘Pooh!’ said he, gripping hard at his courage. ‘We are in a civilised land here, and we can’t have tomfoolery of this kind. Where does the thing come from?’
“‘From Dundee,’ I answered, glancing at the postmark.
“‘Some preposterous practical joke,’ said he. ‘What have I to do with sundials and papers? I shall take no notice of such nonsense.’
“‘I should certainly speak to the police,’ I said.
“‘And be laughed at for my pains. Nothing of the sort.’
“‘Then let me do so?’
“‘No, I forbid you. I won’t have a fuss made about such nonsense.’
“It was in vain to argue with him, for he was a very obstinate man. I went about, however, with a heart which was full of forebodings.
“On the third day after the coming of the letter my father went from home to visit an old friend of his, Major Freebody, who is in command of one of the forts upon Portsdown Hill. I was glad that he should go, for it seemed to me that he was farther from danger when he was away from home. In that, however, I was in error. Upon the second day of his absence I received a telegram from the major, imploring me to come at once. My father had fallen over one of the deep chalk-pits which abound in the neighbourhood, and was lying senseless, with a shattered skull. I hurried to him, but he passed away without having ever recovered his consciousness. He had, as it appears, been returning from Fareham in the twilight, and as the country was unknown to him, and the chalk-pit unfenced, the jury had no hesitation in bringing in a verdict of ‘death from accidental causes.’ Carefully as I examined every fact connected with his death, I was unable to find anything which could suggest the idea of murder. There were no signs of violence, no footmarks, no robbery, no record of strangers having been seen upon the roads. And yet I need not tell you that my mind was far from at ease, and that I was well-nigh certain that some foul plot had been woven round him.
“In this sinister way I came into my inheritance. You will ask me why I did not dispose of it? I answer, because I was well convinced that our troubles were in some way dependent upon an incident in my uncle’s life, and that the danger would be as pressing in one house as in another.
“It was in January, ’85, that my poor father met his end, and two years and eight months have elapsed since then. During that time I have lived happily at Horsham, and I had begun to hope that this curse had passed away from the family, and that it had ended with the last generation. I had begun to take comfort too soon, however; yesterday morning the blow fell in the very shape in which it had come upon my father.”
The young man took from his waistcoat a crumpled envelope, and turning to the table he shook out upon it five little dried orange pips.
“This is the envelope,” he continued. “The postmark is London-eastern division. Within are the very words which were upon my father’s last message: ‘K. K. K.’; and then ‘Put the papers on the sundial.’”
“What have you done?” asked Holmes.
“Nothing.”
“Nothing?”
“To tell the truth”-he sank his face into his thin, white hands-“I have felt helpless. I have felt like one of those poor rabbits when the snake is writhing towards it. I seem to be in the grasp of some resistless, inexorable evil, which no foresight and no precautions can guard against.”
“Tut! tut!” cried Sherlock Holmes. “You must act, man, or you are lost. Nothing but energy can save you. This is no time for despair.”
“I have seen the police.”
“Ah!”
“But they listened to my story with a smile. I am convinced that the inspector has formed the opinion that the letters are all practical jokes, and that the deaths of my relations were really accidents, as the jury stated, and were not to be connected with the warnings.”
Holmes shook his clenched hands in the air. “Incredible imbecility!” he cried.
“They have, however, allowed me a policeman, who may remain in the house with me.”
“Has he come with you to-night?”
“No. His orders were to stay in the house.”
Again Holmes raved in the air.
“Why did you come to me?” he said, “and, above all, why did you not come at once?”
“I did not know. It was only to-day that I spoke to Major Prendergast about my troubles and was advised by him to come to you.”
“It is really two days since you had the letter. We should have acted before this. You have no further evidence, I suppose, than that which you have placed before us-no suggestive detail which might help us?”
“There is one thing,” said John Openshaw. He rummaged in his coat pocket, and, drawing out a piece of discoloured, blue-tinted paper, he laid it out upon the table. “I have some remembrance,” said he, “that on the day when my uncle burned the papers I observed that the small, unburned margins which lay amid the ashes were of this particular colour. I found this single sheet upon the floor of his room, and I am inclined to think that it may be one of the papers which has, perhaps, fluttered out from among the others, and in that way has escaped destruction. Beyond the mention of pips, I do not see that it helps us much. I think myself that it is a page from some private diary. The writing is undoubtedly my uncle’s.”
Holmes moved the lamp, and we both bent over the sheet of paper, which showed by its ragged edge that it had indeed been torn from a book. It was headed, “March, 1869,” and beneath were the following enigmatical notices:
“4th. Hudson came. Same old platform.
“7th. Set the pips on McCauley, Paramore, and John Swain of St. Augustine.
“9th. McCauley cleared.
“10th. John Swain cleared.
“12th. Visited Paramore. All well.”
“Thank you!” said Holmes, folding up the paper and returning it to our visitor. “And now you must on no account lose another instant. We cannot spare time even to discuss what you have told me. You must get home instantly and act.”
“What shall I do?”
“There is but one thing to do. It must be done at once. You must put this piece of paper which you have shown us into the brass box which you have described. You must also put in a note to say that all the other papers were burned by your uncle, and that this is the only one which remains. You must assert that in such words as will carry conviction with them. Having done this, you must at once put the box out upon the sundial, as directed. Do you understand?”
“Entirely.”
“Do not think of revenge, or anything of the sort, at present. I think that we may gain that by means of the law; but we have our web to weave, while theirs is already woven. The first consideration is to remove the pressing danger which threatens you. The second is to clear up the mystery and to punish the guilty parties.”
“I thank you,” said the young man, rising and pulling on his overcoat. “You have given me fresh life and hope. I shall certainly do as you advise.”
“Do not lose an instant. And, above all, take care of yourself in the meanwhile, for I do not think that there can be a doubt that you are threatened by a very real and imminent danger. How do you go back?”
“By train from Waterloo.”
“It is not yet nine. The streets will be crowded, so I trust that you may be in safety. And yet you cannot guard yourself too closely.”
“I am armed.”
“That is well. To-morrow I shall set to work upon your case.”
“I shall see you at Horsham, then?”
“No, your secret lies in London. It is there that I shall seek it.”
“Then I shall call upon you in a day, or in two days, with news as to the box and the papers. I shall take your advice in every particular.” He shook hands with us and took his leave. Outside the wind still screamed and the rain splashed and pattered against the windows. This strange, wild story seemed to have come to us from amid the mad elements-blown in upon us like a sheet of sea-weed in a gale-and now to have been reabsorbed by them once more.
Sherlock Holmes sat for some time in silence, with his head sunk forward and his eyes bent upon the red glow of the fire. Then he lit his pipe, and leaning back in his chair he watched the blue smoke-rings as they chased each other up to the ceiling.
“I think, Watson,” he remarked at last, “that of all our cases we have had none more fantastic than this.”
“Save, perhaps, the Sign of Four.”
“Well, yes. Save, perhaps, that. And yet this John Openshaw seems to me to be walking amid even greater perils than did the Sholtos.”
“But have you,” I asked, “formed any definite conception as to what these perils are?”
“There can be no question as to their nature,” he answered.
“Then what are they? Who is this K. K. K., and why does he pursue this unhappy family?”
Sherlock Holmes closed his eyes and placed his elbows upon the arms of his chair, with his finger-tips together. “The ideal reasoner,” he remarked, “would, when he had once been shown a single fact in all its bearings, deduce from it not only all the chain of events which led up to it but also all the results which would follow from it. As Cuvier could correctly describe a whole animal by the contemplation of a single bone, so the observer who has thoroughly understood one link in a series of incidents should be able to accurately state all the other ones, both before and after. We have not yet grasped the results which the reason alone can attain to. Problems may be solved in the study which have baffled all those who have sought a solution by the aid of their senses. To carry the art, however, to its highest pitch, it is necessary that the reasoner should be able to utilise all the facts which have come to his knowledge; and this in itself implies, as you will readily see, a possession of all knowledge, which, even in these days of free education and encyclopædias, is a somewhat rare accomplishment. It is not so impossible, however, that a man should possess all knowledge which is likely to be useful to him in his work, and this I have endeavoured in my case to do. If I remember rightly, you on one occasion, in the early days of our friendship, defined my limits in a very precise fashion.”
“Yes,” I answered, laughing. “It was a singular document. Philosophy, astronomy, and politics were marked at zero, I remember. Botany variable, geology profound as regards the mud-stains from any region within fifty miles of town, chemistry eccentric, anatomy unsystematic, sensational literature and crime records unique, violin-player, boxer, swordsman, lawyer, and self-poisoner by cocaine and tobacco. Those, I think, were the main points of my analysis.”
Holmes grinned at the last item. “Well,” he said, “I say now, as I said then, that a man should keep his little brain-attic stocked with all the furniture that he is likely to use, and the rest he can put away in the lumber-room of his library, where he can get it if he wants it. Now, for such a case as the one which has been submitted to us to-night, we need certainly to muster all our resources. Kindly hand me down the letter K of the American Encyclopædia which stands upon the shelf beside you. Thank you. Now let us consider the situation and see what may be deduced from it. In the first place, we may start with a strong presumption that Colonel Openshaw had some very strong reason for leaving America. Men at his time of life do not change all their habits and exchange willingly the charming climate of Florida for the lonely life of an English provincial town. His extreme love of solitude in England suggests the idea that he was in fear of someone or something, so we may assume as a working hypothesis that it was fear of someone or something which drove him from America. As to what it was he feared, we can only deduce that by considering the formidable letters which were received by himself and his successors. Did you remark the postmarks of those letters?”
“The first was from Pondicherry, the second from Dundee, and the third from London.”
“From East London. What do you deduce from that?”
“They are all seaports. That the writer was on board of a ship.”
“Excellent. We have already a clue. There can be no doubt that the probability-the strong probability-is that the writer was on board of a ship. And now let us consider another point. In the case of Pondicherry, seven weeks elapsed between the threat and its fulfilment, in Dundee it was only some three or four days. Does that suggest anything?”
“A greater distance to travel.”
“But the letter had also a greater distance to come.”
“Then I do not see the point.”
“There is at least a presumption that the vessel in which the man or men are is a sailing-ship. It looks as if they always send their singular warning or token before them when starting upon their mission. You see how quickly the deed followed the sign when it came from Dundee. If they had come from Pondicherry in a steamer they would have arrived almost as soon as their letter. But, as a matter of fact, seven weeks elapsed. I think that those seven weeks represented the difference between the mail-boat which brought the letter and the sailing vessel which brought the writer.”
“It is possible.”
“More than that. It is probable. And now you see the deadly urgency of this new case, and why I urged young Openshaw to caution. The blow has always fallen at the end of the time which it would take the senders to travel the distance. But this one comes from London, and therefore we cannot count upon delay.”
“Good God!” I cried. “What can it mean, this relentless persecution?”
“The papers which Openshaw carried are obviously of vital importance to the person or persons in the sailing-ship. I think that it is quite clear that there must be more than one of them. A single man could not have carried out two deaths in such a way as to deceive a coroner’s jury. There must have been several in it, and they must have been men of resource and determination. Their papers they mean to have, be the holder of them who it may. In this way you see K. K. K. ceases to be the initials of an individual and becomes the badge of a society.”
“But of what society?”
“Have you never-” said Sherlock Holmes, bending forward and sinking his voice-“have you never heard of the Ku Klux Klan?”
“I never have.”
Holmes turned over the leaves of the book upon his knee. “Here it is,” said he presently:
“‘Ku Klux Klan. A name derived from the fanciful resemblance to the sound produced by cocking a rifle. This terrible secret society was formed by some ex-Confederate soldiers in the Southern states after the Civil War, and it rapidly formed local branches in different parts of the country, notably in Tennessee, Louisiana, the Carolinas, Georgia, and Florida. Its power was used for political purposes, principally for the terrorising of the negro voters and the murdering and driving from the country of those who were opposed to its views. Its outrages were usually preceded by a warning sent to the marked man in some fantastic but generally recognised shape-a sprig of oak-leaves in some parts, melon seeds or orange pips in others. On receiving this the victim might either openly abjure his former ways, or might fly from the country. If he braved the matter out, death would unfailingly come upon him, and usually in some strange and unforeseen manner. So perfect was the organisation of the society, and so systematic its methods, that there is hardly a case upon record where any man succeeded in braving it with impunity, or in which any of its outrages were traced home to the perpetrators. For some years the organisation flourished in spite of the efforts of the United States government and of the better classes of the community in the South. Eventually, in the year 1869, the movement rather suddenly collapsed, although there have been sporadic outbreaks of the same sort since that date.’
“You will observe,” said Holmes, laying down the volume, “that the sudden breaking up of the society was coincident with the disappearance of Openshaw from America with their papers. It may well have been cause and effect. It is no wonder that he and his family have some of the more implacable spirits upon their track. You can understand that this register and diary may implicate some of the first men in the South, and that there may be many who will not sleep easy at night until it is recovered.”
“Then the page we have seen-”
“Is such as we might expect. It ran, if I remember right, ‘sent the pips to A, B, and C’-that is, sent the society’s warning to them. Then there are successive entries that A and B cleared, or left the country, and finally that C was visited, with, I fear, a sinister result for C. Well, I think, Doctor, that we may let some light into this dark place, and I believe that the only chance young Openshaw has in the meantime is to do what I have told him. There is nothing more to be said or to be done to-night, so hand me over my violin and let us try to forget for half an hour the miserable weather and the still more miserable ways of our fellow men.”
It had cleared in the morning, and the sun was shining with a subdued brightness through the dim veil which hangs over the great city. Sherlock Holmes was already at breakfast when I came down.
“You will excuse me for not waiting for you,” said he; “I have, I foresee, a very busy day before me in looking into this case of young Openshaw’s.”
“What steps will you take?” I asked.
“It will very much depend upon the results of my first inquiries. I may have to go down to Horsham, after all.”
“You will not go there first?”
“No, I shall commence with the City. Just ring the bell and the maid will bring up your coffee.”
As I waited, I lifted the unopened newspaper from the table and glanced my eye over it. It rested upon a heading which sent a chill to my heart.
“Holmes,” I cried, “you are too late.”
“Ah!” said he, laying down his cup, “I feared as much. How was it done?” He spoke calmly, but I could see that he was deeply moved.
“My eye caught the name of Openshaw, and the heading ‘Tragedy Near Waterloo Bridge.’ Here is the account:
“‘Between nine and ten last night Police-Constable Cook, of the H Division, on duty near Waterloo Bridge, heard a cry for help and a splash in the water. The night, however, was extremely dark and stormy, so that, in spite of the help of several passers-by, it was quite impossible to effect a rescue. The alarm, however, was given, and, by the aid of the water-police, the body was eventually recovered. It proved to be that of a young gentleman whose name, as it appears from an envelope which was found in his pocket, was John Openshaw, and whose residence is near Horsham. It is conjectured that he may have been hurrying down to catch the last train from Waterloo Station, and that in his haste and the extreme darkness he missed his path and walked over the edge of one of the small landing-places for river steamboats. The body exhibited no traces of violence, and there can be no doubt that the deceased had been the victim of an unfortunate accident, which should have the effect of calling the attention of the authorities to the condition of the riverside landing-stages.’”
We sat in silence for some minutes, Holmes more depressed and shaken than I had ever seen him.
“That hurts my pride, Watson,” he said at last. “It is a petty feeling, no doubt, but it hurts my pride. It becomes a personal matter with me now, and, if God sends me health, I shall set my hand upon this gang. That he should come to me for help, and that I should send him away to his death-!” He sprang from his chair and paced about the room in uncontrollable agitation, with a flush upon his sallow cheeks and a nervous clasping and unclasping of his long thin hands.
“They must be cunning devils,” he exclaimed at last. “How could they have decoyed him down there? The Embankment is not on the direct line to the station. The bridge, no doubt, was too crowded, even on such a night, for their purpose. Well, Watson, we shall see who will win in the long run. I am going out now!”
“To the police?”
“No; I shall be my own police. When I have spun the web they may take the flies, but not before.”
All day I was engaged in my professional work, and it was late in the evening before I returned to Baker Street. Sherlock Holmes had not come back yet. It was nearly ten o’clock before he entered, looking pale and worn. He walked up to the sideboard, and tearing a piece from the loaf he devoured it voraciously, washing it down with a long draught of water.
“You are hungry,” I remarked.
“Starving. It had escaped my memory. I have had nothing since breakfast.”
“Nothing?”
“Not a bite. I had no time to think of it.”
“And how have you succeeded?”
“Well.”
“You have a clue?”
“I have them in the hollow of my hand. Young Openshaw shall not long remain unavenged. Why, Watson, let us put their own devilish trade-mark upon them. It is well thought of!”
“What do you mean?”
He took an orange from the cupboard, and tearing it to pieces he squeezed out the pips upon the table. Of these he took five and thrust them into an envelope. On the inside of the flap he wrote “S. H. for J. O.” Then he sealed it and addressed it to “Captain James Calhoun, Barque Lone Star, Savannah, Georgia.”
“That will await him when he enters port,” said he, chuckling. “It may give him a sleepless night. He will find it as sure a precursor of his fate as Openshaw did before him.”
“And who is this Captain Calhoun?”
“The leader of the gang. I shall have the others, but he first.”
“How did you trace it, then?”
He took a large sheet of paper from his pocket, all covered with dates and names.
“I have spent the whole day,” said he, “over Lloyd’s registers and files of the old papers, following the future career of every vessel which touched at Pondicherry in January and February in ’83. There were thirty-six ships of fair tonnage which were reported there during those months. Of these, one, the Lone Star, instantly attracted my attention, since, although it was reported as having cleared from London, the name is that which is given to one of the states of the Union.”
“Texas, I think.”
“I was not and am not sure which; but I knew that the ship must have an American origin.”
“What then?”
“I searched the Dundee records, and when I found that the barque Lone Star was there in January, ’85, my suspicion became a certainty. I then inquired as to the vessels which lay at present in the port of London.”
“Yes?”
“The Lone Star had arrived here last week. I went down to the Albert Dock and found that she had been taken down the river by the early tide this morning, homeward bound to Savannah. I wired to Gravesend and learned that she had passed some time ago, and as the wind is easterly I have no doubt that she is now past the Goodwins and not very far from the Isle of Wight.”
“What will you do, then?”
“Oh, I have my hand upon him. He and the two mates, are as I learn, the only native-born Americans in the ship. The others are Finns and Germans. I know, also, that they were all three away from the ship last night. I had it from the stevedore who has been loading their cargo. By the time that their sailing-ship reaches Savannah the mail-boat will have carried this letter, and the cable will have informed the police of Savannah that these three gentlemen are badly wanted here upon a charge of murder.”
There is ever a flaw, however, in the best laid of human plans, and the murderers of John Openshaw were never to receive the orange pips which would show them that another, as cunning and as resolute as themselves, was upon their track. Very long and very severe were the equinoctial gales that year. We waited long for news of the Lone Star of Savannah, but none ever reached us. We did at last hear that somewhere far out in the Atlantic a shattered stern-post of a boat was seen swinging in the trough of a wave, with the letters “L. S.” carved upon it, and that is all which we shall ever know of the fate of the Lone Star.