🎧 Nghe chương này

VII. VỤ ÁN VIÊN NGỌC BÍCH

Tôi ghé thăm anh bạn Sherlock Holmes vào buổi sáng ngày thứ hai sau Lễ Giáng sinh, mang theo những lời chúc tốt đẹp nhất của mùa an lành. Lúc ấy, anh đang nằm dài trên ghế sofa trong chiếc áo choàng tắm màu tím sẫm. Bên tay phải anh, chiếc giá để tẩu thuốc được đặt vừa tầm tay, còn gần đó là một đống báo sáng nhàu nát mớ bòng bong, hẳn là anh vừa mới chú tâm nghiền ngẫm xong. Cạnh chiếc ghế dài có đặt một chiếc ghế gỗ, trên góc lưng tựa vắt vẻo một chiếc mũ phớt cứng cáp nhưng trông rất tồi tàn, xấu xí và đã sờn rách ở nhiều chỗ. Một chiếc kính lúp cùng chiếc kẹp gắp nằm chỏng chơ trên mặt ghế, cho thấy chiếc mũ được treo ở tư thế kia rõ ràng là để phục vụ cho việc quan sát tỉ mỉ.

"Anh đang dở việc," tôi cất tiếng, "có lẽ tôi làm phiền anh rồi."

"Không hề. Tôi rất mừng vì có một người bạn ở đây để cùng bàn luận về vài phát hiện của mình. Thật ra vấn đề này hoàn toàn vụn vặt"-anh hất ngón tay cái về phía chiếc mũ cũ mèm-"nhưng những chi tiết xoay quanh nó lại không hề thiếu vắng sự thú vị, thậm chí còn mang lại những bài học đáng giá."

Tôi thả mình xuống chiếc ghế bành của anh, đưa hai tay hơ ấm trước ngọn lửa đang nổ lách tách vui tai. Ngoài kia, một đợt sương giá buốt lạnh đã ập xuống, biến những ô cửa sổ thành bức tranh phủ đầy tinh thể băng giá. "Tôi đoán rằng," tôi lên tiếng nhận xét, "dù mang vẻ ngoài có phần giản dị, món đồ này hẳn phải gắn liền với một vụ án mạng chết chóc nào đó-nó chính là manh mối dẫn dắt anh giải mã những bí ẩn và trừng trị cái ác."

"Không, không. Nào có tội ác gì đâu," Sherlock Holmes vừa bật cười vừa nói. "Đó chỉ là một trong số những sự cố nhỏ nhặt, kỳ quặc tất yếu sẽ xảy ra khi anh nhồi nhét bốn triệu con người chen chúc nhau trong vỏn vẹn vài dặm vuông. Giữa mạng lưới đan xen phức tạp của một đám đông nhộn nhịp như vậy, mọi chuỗi sự kiện đều có thể hình thành, và vô số những vấn đề cỏn con có thể trở nên đáng kinh ngạc và kỳ lạ đến tột cùng mà chẳng hề dính dáng đến yếu tố hình sự. Chúng ta vốn chẳng lạ gì những chuyện như thế này."

"Quả đúng là như vậy," tôi đồng tình, "đến mức trong số sáu vụ án gần đây nhất mà tôi vừa chắp bút ghi chép lại, đã có tới ba vụ hoàn toàn chẳng liên quan gì đến phạm pháp."

"Chính xác. Anh đang nhắc đến nỗ lực của tôi trong việc thu hồi những giấy tờ của Irene Adler, vụ án kỳ quặc của cô Mary Sutherland, và chuyến phiêu lưu của người đàn ông có đôi môi trề. Chà, tôi dám chắc rằng rắc rối nhỏ bé này cũng sẽ nằm chung mâm với những sự việc vô hại đó. Anh có biết Peterson, viên gác cổng không?"

"Có chứ."

"Chiến lợi phẩm này thuộc về anh ta đấy."

"Vậy đó là mũ của anh ta sao."

"Không, không, anh ta chỉ tình cờ nhặt được thôi. Chủ nhân thực sự của nó là một kẻ vô danh. Tôi mong anh hãy gác bỏ góc nhìn về một chiếc mũ phớt rách nát, mà hãy coi nó như một bài toán cần trí tuệ để giải mã. Trước hết, chúng ta phải làm rõ xem làm thế nào món đồ này lại hạ cánh ở đây. Nó xuất hiện vào ngay buổi sáng Giáng sinh, tháp tùng cùng một con ngỗng béo múp míp, mà tôi dám chắc lúc này đang xèo xèo trên ngọn lửa nướng nhà Peterson. Sự tình là thế này: vào khoảng bốn giờ sáng ngày Giáng sinh, Peterson-như anh biết đấy, một gã cực kỳ trung thực-đang rảo bước dọc theo đường Tottenham Court sau khi tàn một cuộc vui nhỏ để trở về nhà. Dưới ánh đèn gas tù mù phía trước, anh ta bắt gặp một người đàn ông khá cao lớn, bước đi có phần lảo đảo, trên vai vác theo một con ngỗng trắng muốt. Vừa rẽ đến góc phố Goodge, một cuộc xô xát bất ngờ nổ ra giữa gã lạ mặt và một đám côn đồ ranh ma. Một tên trong nhóm đánh bật chiếc mũ của gã, gã bèn vung gậy lên để tự vệ. Nhưng trong lúc múa may chiếc gậy qua đầu, gã lại lỡ tay đập vỡ toang cửa sổ kính của một cửa hiệu phía sau. Peterson thấy vậy liền lao tới hòng giải vây cho người lạ mặt. Thế nhưng, người đàn ông kia, vốn đã hoảng hồn vì làm vỡ cửa sổ, lại nhác thấy bóng một người mặc đồng phục sậm màu đang lao về phía mình, liền vội vàng vứt tọt con ngỗng lại, co cẳng bỏ chạy thục mạng rồi lặn mất tăm giữa mê cung những con phố nhỏ chằng chịt phía sau đường Tottenham Court. Bọn côn đồ cũng nhanh chân chuồn sạch khi Peterson xuất hiện. Thành thử ra, anh bạn của chúng ta nghiễm nhiên trở thành người làm chủ chiến trường, đồng thời ẵm luôn cả đống chiến lợi phẩm, bao gồm chiếc mũ rách bươm này cùng một con ngỗng Giáng sinh hoàn mỹ không tì vết."

"Chắc chắn là anh ta đã tìm cách trả lại cho chủ nhân của chúng rồi chứ?"

"Anh bạn thân mến, nút thắt chính là ở đó. Quả thực, có một dòng chữ in rành rành trên tấm thẻ nhỏ buộc vào chân trái con chim: 'Gửi bà Henry Baker', và hai chữ cái viết tắt 'H. B.' cũng có thể đọc được rõ ràng trên lớp lót của chiếc mũ này. Khốn nỗi, giữa thành phố rộng lớn của chúng ta, có đến hàng ngàn người mang họ Baker, và hàng trăm người mang tên Henry Baker. Việc trả lại món đồ đánh rơi cho đúng chủ nhân của nó giữa biển người mênh mông ấy quả là mò kim đáy bể."

"Vậy thì Peterson đã tính sao?"

"Anh ta bèn xách cả mũ lẫn ngỗng đến cho tôi ngay vào buổi sáng Giáng sinh, bởi anh ta thừa biết tôi luôn bị thu hút bởi cả những rắc rối vụn vặt nhất. Chúng tôi đã giữ con ngỗng ròng rã cho đến tận sáng nay. Nhưng rồi những dấu hiệu ôi thiu bắt đầu lộ rõ, cho thấy dù sương giá có lạnh đến mấy, tốt nhất vẫn là đưa nó lên đĩa dọn ra bàn ăn ngay tắp lự. Do đó, người nhặt được nó đã hớn hở mang nó về để hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng cuối cùng của một con ngỗng quay, trong khi tôi tiếp tục giữ lại chiếc mũ của quý ông ẩn danh, người đã xui xẻo đánh mất bữa tiệc Giáng sinh thịnh soạn của chính mình."

"Anh ta không nghĩ đến việc đăng báo tìm chủ nhân sao?"

"Không hề."

"Vậy thì anh làm sao mà lần ra được danh tính của gã?"

"Chỉ dựa vào những gì chúng ta có thể suy luận ra thôi."

"Từ mỗi chiếc mũ này thôi sao?"

"Chính xác."

"Nhưng anh đùa à. Anh có thể moi móc được thông tin gì từ chiếc mũ phớt rách nát tơi tả này cơ chứ?"

"Kính lúp của tôi đây. Anh rõ phương pháp làm việc của tôi quá rồi còn gì. Thử xem tự anh có thể nhặt nhạnh được gì về lai lịch của kẻ đã đội món đồ này?"

Tôi đón lấy món đồ tơi tả, mân mê lật qua lật lại với vẻ ái ngại vô ngần. Đó là một chiếc mũ đen hết sức tầm thường mang hình dáng tròn xoe quen thuộc, chất liệu cứng cáp nhưng đã bị mài mòn, sờn rách đi nhiều. Lớp lót bằng lụa đỏ bên trong cũng đã nhạt phai theo năm tháng. Tuyệt nhiên không thấy bóng dáng tên nhà sản xuất, chỉ có các chữ cái "H. B." được viết nghệch ngoạc trên một mặt như Holmes đã chỉ ra. Những lỗ thủng nhỏ ở vành cho thấy trước đây nó từng có dây buộc giữ mũ, nhưng giờ thì sợi dây thun ấy đã không cánh mà bay. Lớp vải nỉ bên ngoài thì nứt nẻ, bám đầy bụi bặm, lốm đốm vết ố ở khắp nơi. Dù vậy, dường như người chủ cũng đã cố vớt vát chút thể diện bằng cách bôi mực đen lên hòng che giấu những mảng màu bong tróc.

"Tôi chẳng nhìn ra được điều gì cả," tôi nói, tay chìa trả lại chiếc mũ cho anh bạn.

"Ngược lại, Watson, anh có thể nhìn thấy cặn kẽ mọi thứ. Có điều, anh lại chẳng màng đoái hoài đến việc suy luận từ những gì bày ra trước mắt. Anh đã quá rụt rè trong việc đưa ra những đánh giá của bản thân rồi."

"Vậy thì, xin anh hãy giải ngố cho tôi xem anh đã suy luận được những gì từ chiếc mũ này?"

Anh đón lấy chiếc mũ, đăm chiêu quan sát nó với một phong thái hướng nội đặc trưng không lẫn vào đâu được. "Món đồ này có lẽ không đem lại nhiều gợi mở như người ta tưởng," anh nhận xét, "nhưng nó vẫn cung cấp một vài bằng chứng rất đỗi rõ ràng, và một số suy luận khác ít nhất cũng nằm trong ranh giới của sự hợp lý. Việc chủ nhân của nó là một người trí thức tinh tường thì ai nhìn vào cũng thấy rõ, và ta cũng có thể mường tượng rằng ông ta từng sống khá sung túc trong khoảng ba năm trở lại đây, dẫu cho hiện tại ông ta đã rơi vào cảnh sa sút tột cùng. Ông ta từng là một người biết nhìn xa trông rộng, nhưng nay sự cẩn trọng ấy đã thui chột đi nhiều. Điều này chỉ ra một sự trượt dốc về mặt đạo đức, kết hợp cùng cảnh nghèo túng hiện tại, rất có thể cho thấy một thứ thói hư tật xấu nào đó-có thể là chứng nghiện rượu-đang dần ăn mòn lấy ông ta. Đó cũng có thể là lý do giải thích cho một sự thật rành rành rằng tình cảm mà vợ ông ta dành cho chồng nay đã nguội lạnh."

"Holmes thân mến của tôi ơi!"

"Tuy nhiên, ít nhiều ông ta vẫn vớt vát được chút lòng tự trọng," anh thản nhiên tiếp lời, phớt lờ thái độ phản đối ra mặt của tôi. "Ông ta là kiểu người sống cuộc sống ù lì, ít xê dịch, hoàn toàn không màng đến chuyện tập tành thể dục. Ông ta đang ở độ tuổi trung niên, sở hữu mái tóc hoa râm mới được cắt tỉa cách đây vài ngày, và đặc biệt ưa dùng kem chanh1 để vuốt tóc. Đó là những sự thật trần trụi nhất có thể bóc tách được từ chiếc mũ của ông ta. Nhân tiện nói thêm, gần như không có khả năng nhà ông ta được lắp đặt đường ống dẫn khí gas2 đâu."

"Chắc chắn anh đang đùa tôi rồi, Holmes."

"Không hề. Lẽ nào ngay cả bây giờ, khi tôi đã dọn sẵn mọi kết luận ra đĩa, anh vẫn không thể nhìn thấu được cách chúng được xâu chuỗi với nhau sao?"

"Dù không nghi ngờ gì về việc bản thân mình thật chậm tiêu, nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi không tài nào bắt kịp mạch suy nghĩ của anh. Lấy ví dụ, làm thế quái nào anh lại phán được rằng kẻ đó là một trí thức?"

Thay cho câu trả lời, Holmes chụp luôn chiếc mũ lên đầu mình. Nó tuột khỏi trán, trùm hẳn xuống tận sống mũi anh. "Đó là một bài toán về dung tích thôi," anh đáp; "một người sở hữu kích cỡ hộp sọ to lớn nhường này, chắc hẳn bên trong cũng phải chứa đựng một khối lượng chất xám tương xứng."

"Thế còn chuyện gia cảnh lụn bại của ông ta thì sao?"

"Chiếc mũ này có tuổi đời chừng ba năm rồi. Cái kiểu vành phẳng vuốt cong ở mép thịnh hành đúng vào thời điểm đó. Nó là loại mũ thuộc hàng thượng phẩm. Anh cứ nhìn dải ruy băng lụa nổi vân cùng lớp vải lót tuyệt mỹ này mà xem. Nếu cách đây ba năm ông ta đủ rủng rỉnh để tậu một chiếc mũ đắt đỏ nhường ấy, nhưng từ đó đến nay chẳng sắm thêm được cái nào khác, thì mười mươi là ông ta đã rơi vào cảnh túng quẫn."

"Chà, lời giải thích đó quả thực vô cùng thuyết phục. Thế nhưng còn tầm nhìn xa trông rộng và sự tha hóa đạo đức thì làm sao anh nhìn ra được?"

Sherlock Holmes bật cười. "Tầm nhìn xa nằm ngay ở đây này," anh vừa nói vừa đặt ngón tay lên chiếc khuy nhỏ và vòng dây giữ mũ. "Những chi tiết này không bao giờ được bán kèm cùng với mũ. Nếu chủ nhân của nó đích thân đặt mua thêm, chứng tỏ ông ta là người cẩn trọng và biết lường trước rủi ro, vì ông ta đã chủ động gia cố món đồ để đối phó với những cơn gió quái ác. Thế nhưng, khi thấy ông ta mặc kệ sợi dây thun đã đứt lìa mà chẳng màng thay mới, rõ ràng sự cẩn trọng ấy đã dần mai một-một minh chứng sắc bén cho thấy ý chí ông ta đang ngày một rệu rã. Ở một khía cạnh khác, việc ông ta loay hoay dùng mực đen chấm lên hòng che lấp vài vết bẩn tì ố trên lớp vải nỉ, lại ngầm tố cáo rằng ông ta vẫn còn vương vấn chút lòng tự trọng mỏng manh."

"Lập luận của anh thật sự rất hợp tình hợp lý."

"Những suy luận xa hơn-như việc ông ta đã luống tuổi, tóc hoa râm, lại mới hớt tóc gần đây, và ưa dùng kem chanh-tất thảy đều có thể dễ dàng nhặt nhạnh được qua quá trình rà soát tỉ mỉ phần mép dưới của lớp lót mũ. Qua lăng kính lúp, một đống lớn những ngọn tóc cắt tỉa gọn gàng dưới lưỡi kéo thợ cạo hiện ra rõ mồn một. Tất cả chúng đều dính bết lại, tỏa ra mùi hương kem chanh nồng nặc đặc trưng. Anh hãy quan sát kỹ mớ bụi bặm này xem, đây chẳng phải thứ bụi đường xám ngoét, đầy sạn cát cộm tay, mà là thứ bụi mịn màu nâu đặc trưng của những nếp nhà, ngầm khẳng định rằng chiếc mũ phần lớn thời gian phải chịu cảnh treo rũ rượi trong nhà. Thêm vào đó, những vệt ẩm ướt hằn in bên trong chính là bằng chứng đanh thép tố cáo người đội nó rất hay vã mồ hôi. Và một khi mồ hôi tuôn như tắm thế này, hiển nhiên ông ta khó lòng nào duy trì được một thể trạng sung mãn nhất."

"Nhưng còn phu nhân của ông ta-anh nói rằng bà ấy đã cạn tình với chồng mình."

"Chiếc mũ này đã nằm chịu trận không được chải chuốt trong nhiều tuần liền. Khi tôi nhìn thấy anh, Watson thân mến, với lượng bụi bặm lưu cữu cả tuần trời trên mũ, mà vợ anh vẫn nhắm mắt làm ngơ cho anh ra đường với bộ dạng lếch thếch như vậy, thì tôi e rằng anh cũng đã rước đủ muộn phiền khi để vuột mất tình yêu thương của cô ấy rồi."

"Nhưng biết đâu chừng ông ta là một gã độc thân thì sao."

"Không, ông ta đang khệ nệ rinh con ngỗng về nhà để làm món quà giảng hòa dâng lên cho vợ mình. Anh hãy nhớ kỹ đến tấm thẻ buộc trên chân con chim kia."

"Anh đúng là luôn có sẵn câu trả lời cho mọi thứ. Nhưng làm quái nào anh lại quả quyết được rằng nhà ông ta không có lấy một đường ống dẫn khí gas?"

"Một vết sáp nến chảy, hoặc châm chước là hai vết đi, thì có thể coi là chuyện tình cờ; nhưng khi tôi soi thấy không dưới năm vết bẩn, thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa, cá nhân này ắt hẳn phải thường xuyên tiếp xúc với mỡ nến đang rỏ giọt. Trăm phần trăm là ông ta lầm lũi bước lên cầu thang vào ban đêm, một tay ôm khư khư chiếc mũ, tay kia cầm ngọn nến đang cháy dở. Dù thế nào đi chăng nữa, những vết ố này không thể nào bắt nguồn từ đèn gas được. Anh đã thấy thỏa mãn chưa?"

"Chà, những suy luận của anh quả thật vô cùng sắc sảo," tôi bật cười đáp lời; "nhưng bởi vì, như anh vừa mới nói đấy, chẳng có một tội ác nào được thực thi, và cũng chẳng có tổn thất nào xảy ra ngoại trừ việc đánh rơi một con ngỗng quay, thì tất thảy những suy luận này có vẻ như hơi lãng phí trí lực mất rồi."

Sherlock Holmes vừa hé môi định đáp lời thì cánh cửa bất thần bật mở. Peterson, người gác cổng, xộc thẳng vào phòng với đôi má đỏ bừng cùng vẻ mặt của một kẻ hãy còn đang choáng váng vì kinh ngạc.

"Con ngỗng, thưa ngài Holmes! Con ngỗng, thưa ngài!" anh ta đứng thở hổn hển.

"Hả? Nó làm sao? Chẳng lẽ nó sống lại rồi bay tuột qua cửa sổ bếp rồi chăng?" Holmes xoay người trên ghế sofa để nhìn cho rõ vẻ mặt đang kích động dữ dội của Peterson.

"Ngài nhìn này! Trông xem vợ tôi vừa mổ được thứ gì từ trong diều của nó đây!" Anh ta xòe bàn tay ra. Nằm gọn giữa lòng bàn tay anh là một viên đá màu xanh lam lấp lánh tuyệt đẹp, tuy chỉ bé bằng hạt đậu nhưng lại mang một độ tinh khiết và chói lọi đến mức nó tỏa sáng rực rỡ như một đốm lửa điện giữa hõm tay tối màu.

Sherlock Holmes bật ngồi thẳng dậy và huýt sáo một tiếng. "Lạy Chúa, Peterson!" anh thốt lên, "đây quả thực là một kho báu. Tôi đoán chắc anh đã biết thứ mình vừa nhặt được là gì rồi chứ?"

"Là một viên kim cương phải không thưa ngài? Một viên đá quý. Nó cắt kính ngọt xớt cứ như cắt vào bột bả vậy."

"Đó không chỉ đơn thuần là một viên đá quý. Nó chính là viên đá quý đó."

"Đừng nói là viên ngọc bích màu xanh của Nữ bá tước Morcar đấy nhé!" tôi kinh ngạc thốt lên.

"Chính xác là nó. Tôi nhẵn mặt kích thước và hình dạng của nó rồi, vì dạo gần đây ngày nào tôi cũng đọc mục quảng cáo tìm kiếm nó trên tờ The Times. Viên ngọc này là hoàn toàn độc nhất vô nhị, giá trị thực của nó thì chỉ có thể phỏng đoán mà thôi. Thế nhưng, món tiền chuộc một ngàn bảng Anh được đưa ra chắn chắn chẳng bõ bèn gì, e rằng chưa bằng một phần hai mươi giá trị thực trên thị trường."

"Một ngàn bảng! Lạy Chúa lòng lành!" Người gác cổng ngồi phịch xuống ghế, đưa mắt sững sờ nhìn chằm chằm hết người này đến người khác.

"Đó mới chỉ là phần thưởng bề nổi. Tôi có lý do để tin rằng có những lý do sâu xa về mặt tình cảm, đủ để thuyết phục Nữ bá tước sẵn lòng đổi cả nửa gia tài chỉ mong lấy lại được viên ngọc này."

"Nếu tôi nhớ không lầm thì nó đã bị đánh cắp tại Khách sạn Cosmopolitan," tôi lên tiếng.

"Chính xác là như vậy, vào ngày 22 tháng Mười Hai, tức là mới năm ngày trước. John Horner, một tay thợ sửa ống nước, đã bị cáo buộc đánh cắp viên ngọc từ hộp đựng đồ trang sức của phu nhân. Các bằng chứng chống lại anh ta rành rành đến mức vụ án đã được chuyển thẳng lên Tòa án Đại hình. Tôi tin là mình có lưu lại một bài báo tường thuật vụ này ở đâu đây." Anh lục lọi giữa đống báo cũ, lướt nhanh qua các ngày tháng, cho đến khi rút ra một tờ. Anh vuốt phẳng nếp gấp rồi dõng dạc đọc đoạn văn sau:

"Vụ Trộm Đồ Trang Sức Tại Khách Sạn Cosmopolitan. John Horner, 26 tuổi, thợ sửa ống nước, đã bị đưa ra tòa với cáo buộc vào ngày 22 tháng này, đã lấy cắp viên ngọc quý giá thường được biết đến với tên gọi 'viên ngọc bích màu xanh' từ hộp đựng trang sức của Nữ bá tước Morcar. James Ryder, nhân viên phục vụ cấp cao tại khách sạn, đã làm chứng rằng chính anh ta là người dẫn Horner lên phòng thay đồ của Nữ bá tước vào ngày xảy ra vụ trộm để hàn lại thanh chắn bị lỏng ở lò sưởi. Anh ta đã nán lại với Horner một lát, nhưng sau đó phải rời đi do có người gọi. Khi quay trở lại, anh ta phát hiện Horner đã biến mất, chiếc tủ ngăn kéo bị cạy tung, còn chiếc tráp nhỏ bằng da morocco - nơi Nữ bá tước thường cất giữ viên ngọc - đang nằm trống rỗng trên bàn trang điểm. Ryder lập tức tri hô, và Horner bị bắt ngay tối hôm đó. Tuy nhiên, cảnh sát không thể tìm thấy viên ngọc trên người anh ta hay trong phòng trọ. Catherine Cusack, hầu gái của Nữ bá tước, khai rằng cô đã nghe thấy tiếng kêu thất thanh của Ryder khi phát hiện ra vụ trộm. Khi lao vào phòng, cô chứng kiến sự việc hoàn toàn đúng như những gì nhân chứng trước đã mô tả. Thanh tra Bradstreet thuộc phân khu B đã đưa ra bằng chứng về vụ bắt giữ Horner. Khi ấy, nghi phạm đã giãy giụa điên cuồng và dùng những lời lẽ kịch liệt nhất để khẳng định mình vô tội. Do một tiền án về tội trộm cắp của nghi phạm được đưa ra trước tòa, thẩm phán đã từ chối xử lý vụ án theo thủ tục sơ thẩm, và chuyển hồ sơ lên Tòa án Đại hình. Horner, người đã bộc lộ những dấu hiệu xúc động mạnh mẽ trong suốt phiên xét xử, đã ngất lịm đi khi phiên tòa kết thúc và phải có người khiêng ra ngoài."

"Hừm! Thông tin từ tòa án cảnh sát cũng chỉ đến thế thôi," Holmes đăm chiêu nói, ném tờ báo sang một bên. "Câu hỏi mà chúng ta cần giải quyết bây giờ là chuỗi sự kiện nào đã kết nối chiếc hộp trang sức bị cạy tung ở đầu này, với diều của một con ngỗng trên đường Tottenham Court ở đầu kia. Anh thấy đấy, Watson, những suy luận cỏn con của chúng ta đột nhiên mang một tầm vóc quan trọng hơn nhiều và chẳng còn chút gì là trò đùa ngây thơ nữa. Đây là viên đá; viên đá chui ra từ con ngỗng, và con ngỗng lại đến từ ông Henry Baker - người đàn ông với chiếc mũ tồi tàn và hàng loạt những đặc điểm khác mà nãy giờ tôi đã lải nhải đến mức khiến anh phát chán. Vậy nên, bây giờ chúng ta phải thực sự nghiêm túc bắt tay vào việc tìm kiếm quý ông này, để xác định xem ông ta đã đóng vai trò gì trong toàn bộ bí ẩn nhỏ bé này. Để làm được điều đó, trước tiên chúng ta phải thử những phương pháp đơn giản nhất. Chắc chắn không gì bằng việc đăng một mẩu quảng cáo trên tất cả các tờ báo buổi tối. Nếu cách này thất bại, tôi đành phải dùng đến những biện pháp khác thôi."

"Anh định viết gì?"

"Đưa cho tôi cây bút chì và mảnh giấy kia. Nào, thế này nhé: 'Nhặt được ở góc phố Goodge, một con ngỗng và một chiếc mũ phớt đen. Ông Henry Baker có thể nhận lại tài sản bằng cách đến địa chỉ 221B phố Baker vào lúc 6 giờ 30 tối nay.' Cực kỳ rõ ràng và súc tích."

"Rất chuẩn. Nhưng liệu ông ta có đọc được không?"

"Chà, chắc chắn ông ta sẽ phải để mắt đến các tờ báo thôi. Đối với một người nghèo, đó đâu phải là một mất mát nhỏ. Rõ ràng là rủi ro làm vỡ cửa kính cùng sự xuất hiện đột ngột của Peterson đã khiến ông ta hoảng sợ tột độ, đến mức chẳng còn tâm trí nào khác ngoài việc cắm cổ bỏ chạy. Nhưng từ lúc đó đến giờ, hẳn ông ta đã phải hối hận khôn nguôi vì sự bốc đồng khiến mình vứt lại cả con chim. Thêm vào đó, việc chúng ta nêu đích danh tên ông ta sẽ thu hút sự chú ý. Bất kỳ ai quen biết cũng sẽ chỉ cho ông ta thấy mẩu tin này. Đây này Peterson, anh hãy chạy nhanh xuống đại lý quảng cáo và nhờ họ đăng dòng này lên tất cả các tờ báo buổi tối nhé."

"Đăng trên những tờ nào, thưa ngài?"

"Ồ, trên tờ Globe, Star, Pall Mall, St. James’s Gazette, Evening News, Standard, Echo, và bất kỳ tờ báo nào khác mà anh có thể nghĩ ra."

"Rõ rồi, thưa ngài. Vậy còn viên đá này thì sao?"

"À, vâng, tôi sẽ giữ viên đá. Cảm ơn anh. Và này Peterson, trên đường về hãy mua một con ngỗng khác rồi để lại đây cho tôi nhé. Chúng ta cần có một con để trao trả cho quý ông kia, thay thế cho con chim mà gia đình anh đang thưởng thức."

Chờ người gác cổng rời đi, Holmes mới giơ viên đá lên soi trước ánh sáng. "Quả là một báu vật tuyệt mỹ," anh cất lời. "Hãy nhìn cách nó lấp lánh và chói lọi rực rỡ kìa. Chẳng trách nó lại trở thành mầm mống và trung tâm của tội ác. Bất kỳ viên đá quý nào cũng thế thôi. Chúng luôn là thứ mồi nhử ưa thích của ma quỷ. Ở những viên ngọc có kích thước lớn hơn và lâu đời hơn, mỗi một mặt cắt đều có thể là hiện thân cho một hành động đẫm máu. Viên đá này mới có tuổi đời chưa đầy hai mươi năm. Nó được tìm thấy bên bờ sông Hạ Môn ở miền nam Trung Quốc, và điều đáng chú ý là nó sở hữu mọi đặc tính của một viên ngọc bích, chỉ trừ một điểm duy nhất: nó có màu xanh lam thay vì màu đỏ rực của ruby. Thế nhưng, bất chấp tuổi đời non trẻ, nó đã kịp mang trên mình một lịch sử vô cùng đen tối. Đã có hai vụ sát nhân, một vụ tạt axit, một vụ tự sát và hàng loạt vụ trộm cắp chỉ vì khao khát chiếm đoạt bốn mươi hạt than củi kết tinh này. Ai có thể ngờ rằng một món đồ chơi xinh xắn đến vậy lại có thể là bàn đạp đưa con người ta đến với giá treo cổ và chốn lao tù cơ chứ? Bây giờ tôi sẽ cất nó vào két sắt, rồi viết cho Nữ bá tước một bức thư ngắn để báo rằng viên ngọc đang được chúng ta bảo quản an toàn."

"Anh có nghĩ gã Horner này thực sự vô tội không?"

"Tôi chưa thể nói chắc điều gì."

"Vậy thì, anh có nghĩ rằng cái người tên Henry Baker kia có dính líu đến chuyện này không?"

"Tôi thì lại nghĩ, rất có khả năng Henry Baker hoàn toàn vô tội. Ông ta chẳng mảy may hay biết rằng con chim mình mang theo thậm chí còn đắt giá hơn cả việc nó được đúc bằng vàng ròng. Dẫu sao đi nữa, tôi sẽ xác định rõ điều đó bằng một phép thử hết sức đơn giản, miễn là có người phản hồi lại mẩu quảng cáo của chúng ta."

"Và anh không thể làm gì cho đến lúc đó ư?"

"Hoàn toàn không."

"Nếu vậy, tôi đành đi lo công việc thường ngày của mình trước đã. Nhưng tôi sẽ quay lại vào đúng giờ anh bảo ban nãy. Tôi thực sự rất muốn xem anh sẽ gỡ rối một vụ án phức tạp thế này bằng cách nào."

"Rất vui được đón tiếp anh. Tôi thường ăn tối lúc bảy giờ. Tối nay hình như có món chim dẽ thì phải. Mà nhân tiện, xét tới những sự kiện vừa xảy ra, có lẽ tôi nên nhắc bà Hudson kiểm tra kỹ diều của con chim mới được."

Do bị một ca bệnh cầm chân, phải qua sáu giờ rưỡi một chút tôi mới về đến phố Baker. Khi đến gần ngôi nhà, tôi bắt gặp một người đàn ông vóc dáng cao lớn đang đứng đợi bên ngoài, đầu đội chiếc mũ bê-rê kiểu Scotland, còn áo khoác cài khuy kín tận cằm. Ông ta đứng ngay trong quầng sáng bán nguyệt rực rỡ hắt ra từ ô cửa sổ tò vò phía trên cửa chính. Vừa lúc tôi bước tới, cánh cửa mở ra, và cả hai chúng tôi cùng được mời lên phòng của Holmes.

"Hẳn ông là Henry Baker," anh nói. Holmes đứng dậy khỏi ghế bành, đón tiếp vị khách bằng thái độ niềm nở, ân cần mà anh luôn có thể dễ dàng sắm vai khi cần. "Mời ông ngồi vào chiếc ghế cạnh lò sưởi này, ông Baker. Đêm nay trời lạnh lắm, mà tôi thấy thể trạng của ông có vẻ hợp với mùa hè hơn là mùa đông. À, Watson, anh đến đúng lúc lắm. Thưa ông Baker, đây có phải là chiếc mũ của ông không?"

"Vâng, thưa ngài, đó đích thị là mũ của tôi."

Ông ta là một người đàn ông cao lớn, vai gù, đầu to, sở hữu một khuôn mặt rộng rãi, toát lên vẻ thông minh cùng chòm râu nhọn màu nâu đã điểm hoa râm. Chóp mũi và hai gò má ửng đỏ, cộng thêm sự run rẩy nhè nhẹ ở bàn tay đang chìa ra, như ngầm xác nhận lại phỏng đoán của Holmes về thói quen say sỉn của vị khách. Chiếc áo khoác frock-coat3 màu đen xỉn được cài khuy kín mít phía trước, cổ áo bẻ cao, để lộ đôi cổ tay gầy guộc thò ra khỏi tay áo mà chẳng mảy may thấy bóng dáng của măng sét áo sơ mi. Ông ta nói năng chậm rãi, từ tốn, cẩn trọng lựa chọn từng từ, nhìn chung toát ra phong thái của một bậc trí thức, một người trọng văn chương nhưng lại bị bàn tay xảo quyệt của số phận vùi dập thê thảm.

"Chúng tôi đã giữ những món đồ này mấy ngày nay," Holmes cất lời, "vì đinh ninh rằng ông sẽ đăng một mẩu quảng cáo kèm theo địa chỉ của mình. Lạ lùng thay, tôi chẳng thấy ông đoái hoài gì tới việc đó."

Vị khách nở nụ cười khá ngượng ngùng. "Những đồng shilling với tôi giờ không còn rủng rỉnh như trước nữa," ông trần tình. "Tôi từng chắc mẩm bọn côn đồ tấn công tôi đã nẫng luôn cả chiếc mũ lẫn con ngỗng. Nên tôi chẳng thiết tha vung thêm tiền cho một nỗ lực vô vọng hòng tìm lại chúng."

"Cũng là lẽ thường tình thôi. Nhân tiện, về phần con ngỗng, chúng tôi đành phải ăn thịt nó mất rồi."

"Ăn thịt nó!" Vị khách kích động, nhỏm hẳn người khỏi ghế.

"Đúng vậy, nếu không làm thế thì nó cũng chẳng còn ích lợi gì cho ai cả. Nhưng tôi cho rằng con ngỗng đang nằm trên tủ búp phê đằng kia, với cùng trọng lượng và độ tươi ngon hoàn hảo, chắc hẳn cũng đủ để đền bù tổn thất cho ông chứ?"

"Ồ, chắc chắn rồi, chắc chắn rồi," ông Baker đáp lời, khẽ trút một tiếng thở phào nhẹ nhõm.

"Tất nhiên, chúng tôi vẫn giữ lại lông, chân, diều và những phần khác từ con ngỗng của chính ông, nên nếu ông muốn..."

Người đàn ông bật cười sảng khoái. "Chúng có chăng chỉ hữu ích khi được xem như những kỷ vật về một chuyến phiêu lưu," ông nói, "nhưng ngoài điều đó ra, tôi khó lòng thấy những phần disjecta membra4 [rời rạc] của người bạn cũ sẽ mang lại lợi ích thiết thực gì cho mình. Không, thưa ngài, nếu được ngài cho phép, tôi nghĩ mình xin được dồn mọi sự chú ý vào con ngỗng tuyệt hảo đang nằm chễm chệ trên tủ búp phê kia."

Sherlock Holmes liếc nhanh về phía tôi, khẽ nhún vai.

"Mũ của ông đây, và con ngỗng cũng đây," anh nói. "Nhân tiện, ông có phiền không nếu cho tôi biết ông mua con ngỗng trước ở đâu? Tôi vốn có chút sở thích nghiên cứu gia cầm, nhưng hiếm khi thấy con ngỗng nào to béo đến thế."

"Chắc chắn rồi, thưa ngài," Baker nói, lúc này đã đứng dậy và kẹp chặt hai món đồ mới nhận lại dưới nách. "Một số người trong bọn tôi thường lui tới quán trọ Alpha, gần Bảo tàng5 - ngài hiểu đấy, ban ngày ngài có thể dễ dàng tìm thấy chúng tôi bên trong Bảo tàng. Năm nay, ông chủ quán tốt bụng Windigate có thành lập một câu lạc bộ ngỗng6; theo đó, chỉ cần góp vài xu lẻ mỗi tuần, mỗi thành viên sẽ nhận được một con ngỗng béo ngậy vào dịp Giáng sinh. Phần tiền của tôi đã được đóng đủ, và câu chuyện sau đó thì ngài đã rõ cả rồi. Tôi thực sự vô cùng biết ơn ngài, thưa ngài, bởi một chiếc mũ bê-rê kiểu Scotland quả thực chẳng lấy gì làm ăn nhập với tuổi tác hay vẻ nghiêm mạo của tôi." Mang theo phong thái trịnh trọng nhuốm chút hài hước, ông cúi chào cả hai chúng tôi đầy vẻ nghiêm trang rồi sải bước rời đi.

"Thế là xong phần việc về ông Henry Baker," Holmes cất lời ngay khi cánh cửa vừa khép lại. "Hoàn toàn có thể chắc chắn rằng ông ta chẳng hay biết một chút gì về vấn đề này. Anh có đang đói không, Watson?"

"Cũng không đói lắm."

"Vậy thì tôi đề nghị chúng ta lùi bữa tối lại thành bữa khuya, và mau chóng lần theo manh mối này khi nó vẫn còn đang nóng hổi."

"Hoàn toàn nhất trí."

Đêm buốt giá đến cắt da cắt thịt, buộc chúng tôi phải khoác vội chiếc bành tô và quấn chặt khăn cravat quanh cổ. Nhìn ra bên ngoài, những vì sao nhấp nháy tỏa thứ ánh sáng lạnh lẽo trên bầu trời quang đãng, từng nhịp thở của người qua đường phả vào không trung tạo thành những luồng khói trắng xóa, hệt như những phát súng lục vừa khai hỏa. Tiếng bước chân của chúng tôi vang lên giòn giã, dội lại rõ rệt trên mặt đường khi cả hai đi ngang qua khu phố của giới y khoa, qua phố Wimpole, phố Harley, rồi rẽ qua phố Wigmore để tiến vào phố Oxford. Chỉ mất chừng mười lăm phút, chúng tôi đã đặt chân đến Bloomsbury, dừng chân trước quán trọ Alpha - một quán rượu khiêm tốn nép mình ở góc đường dẫn xuống Holborn. Holmes đẩy tung cánh cửa bước vào khu vực quầy bar, anh gọi ngay hai ly bia từ tay chủ quán mặc tạp dề trắng có khuôn mặt đỏ gay gắt.

"Bia của ông hẳn phải tuyệt hảo hệt như những con ngỗng của ông vậy," anh cất lời.

"Những con ngỗng của tôi sao!" Người đàn ông lộ rõ vẻ ngạc nhiên.

"Phải. Chỉ mới nửa giờ trước, tôi vừa trò chuyện với ông Henry Baker, một thành viên trong câu lạc bộ ngỗng của ông."

"À! Vâng, tôi hiểu rồi. Nhưng ngài thấy đấy, thưa ngài, đó vốn dĩ không phải là ngỗng của chúng tôi."

"Thật sao! Thế là của ai?"

"Chà, tôi đã mua hai tá ngỗng đó từ một tay lái buôn ở chợ Covent Garden."

"Thật ư? Tôi có quen biết vài người ở đó. Kẻ đó là ai vậy?"

"Tên anh ta là Breckinridge."

"À! Tôi lại không biết anh ta. Thôi thì, cạn ly chúc sức khỏe ông chủ quán, và chúc cho việc làm ăn của ông luôn phát đạt. Chào buổi tối."

"Bây giờ đến lượt anh Breckinridge," anh tiếp tục, cẩn thận cài lại khuy áo khoác khi chúng tôi vừa bước ra ngoài bầu không khí băng giá. "Hãy nhớ nhé, Watson, rằng dù ở một đầu của sợi dây chuyền này chúng ta chỉ có một thứ giản đơn như một con ngỗng, nhưng ở đầu kia lại là một kẻ chắc chắn sẽ phải lãnh án bảy năm tù khổ sai, trừ phi chúng ta có thể chứng minh anh ta vô tội. Cũng có khả năng cuộc điều tra của chúng ta sẽ chỉ càng khẳng định thêm tội trạng của anh ta; nhưng dù sao đi nữa, chúng ta đang nắm trong tay một hướng điều tra mà cảnh sát đã bỏ lỡ, một cơ hội hiếm có vừa tình cờ rơi xuống tay chúng ta. Hãy theo đuổi nó đến tận cùng. Hướng về phía nam, và nhanh bước nào!"

Chúng tôi rảo bước băng qua Holborn, xuôi theo đường Endell, và cứ thế xuyên qua một khu ổ chuột quanh co ngoằn ngoèo để đến chợ Covent Garden. Một trong những sạp hàng bề thế nhất mang tên Breckinridge, và người chủ sạp, một gã đàn ông mang dáng dấp của dân nuôi ngựa, với khuôn mặt sắc sảo cùng bộ râu quai nón được tỉa tót gọn gàng, đang hối hả phụ giúp một cậu bé đóng cửa chớp.

"Chào buổi tối. Đêm nay lạnh buốt nhỉ," Holmes lên tiếng.

Người bán hàng gật đầu, phóng một ánh nhìn dò xét về phía người bạn đồng hành của tôi.

"Bán hết ngỗng rồi nhỉ, tôi thấy đấy," Holmes tiếp tục, chỉ tay vào những phiến đá cẩm thạch trống trơn.

"Sáng mai tôi có thể để lại cho anh hẳn năm trăm con."

"Thế thì chẳng ích gì cho tôi cả."

"Chà, vẫn còn vài con trên cái sạp có đèn gas chiếu sáng đằng kia kìa."

"À, nhưng tôi được người ta giới thiệu đến tận đây để gặp anh."

"Ai giới thiệu?"

"Ông chủ quán Alpha."

"Ồ, vâng; tôi vừa giao cho ông ấy vài tá."

"Đó quả là những con chim tuyệt hảo. Thế anh lấy chúng từ đâu vậy?"

Thật ngạc nhiên, câu hỏi dường như đã châm ngòi cho một cơn thịnh nộ bùng nổ từ người bán hàng.

"Nào, thế này nhé, thưa ngài," anh ta gắt lên, hất hàm và chống nạnh hai tay, "ngài đang định ám chỉ điều gì đây? Có gì thì cứ nói toẹt ra đi."

"Tôi nói thế là đã đủ thẳng thắn rồi. Tôi muốn biết ai đã bán cho anh những con ngỗng mà anh vừa cung cấp cho quán Alpha."

"Vậy thì, tôi sẽ không hé răng nửa lời. Thế đấy!"

"Ồ, chuyện đó cũng chẳng quan trọng mấy; nhưng tôi thực sự không hiểu cớ sao anh lại phải nổi đóa lên vì một chuyện vặt vãnh như vậy."

"Nổi đóa ư! Có lẽ anh cũng sẽ phát điên lên nếu bị quấy rầy như tôi thôi. Khi tôi đã chồng tiền tươi thóc thật để mua hàng tốt, thì mọi chuyện lẽ ra phải kết thúc ở đó; đằng này cứ mãi lải nhải 'Ngỗng ở đâu?' rồi 'Anh bán ngỗng cho ai?' và 'Anh mua ngỗng giá bao nhiêu?' Nghe cái kiểu ầm ĩ về lũ ngỗng ấy, người ta lại tưởng đó là những con ngỗng duy nhất còn sót lại trên thế giới này không bằng."

"Chà, tôi chẳng có chút dây dưa nào với những kẻ đang bám đuôi anh hỏi han đâu," Holmes thờ ơ đáp lời. "Nếu anh không muốn hé miệng, thì coi như vụ cá cược này hủy bỏ, thế thôi. Nhưng tôi luôn sẵn sàng bảo vệ quan điểm của mình trong vấn đề về gia cầm, và tôi cá năm bảng rằng con chim tôi vừa ăn là ngỗng quê."

"Vậy thì, anh vừa ném qua cửa sổ năm bảng rồi đấy, vì nó là ngỗng nuôi ở thị trấn," người bán hàng cắn cảu.

"Không đời nào."

"Tôi nói là phải."

"Tôi không tin."

"Anh nghĩ anh rành về gia cầm hơn tôi sao, một kẻ đã lăn lộn với chúng từ khi còn là một thằng nhóc tì? Tôi nói cho anh biết, tất cả những con chim giao đến quán Alpha đều là ngỗng nuôi ở thị trấn."

"Anh sẽ chẳng bao giờ thuyết phục được tôi tin vào điều đó đâu."

"Vậy anh có dám cá không?"

"Thế chẳng khác nào tôi lột tiền của anh, bởi tôi thừa biết mình đúng. Nhưng tôi vẫn sẽ cá một đồng xô-vơ-ren7 với anh, chỉ để dạy cho anh một bài học chừa cái thói cứng đầu."

Người bán hàng nhoẻn miệng cười khẩy đầy chua chát. "Mang sổ sách ra đây, Bill," anh ta ra lệnh.

Cậu bé khệ nệ bê ra một cuốn sổ nhỏ mỏng dính cùng một cuốn sổ cái to đùng với cái gáy dính đầy dầu mỡ, đặt chúng ngay ngắn cạnh nhau dưới ánh sáng của chiếc đèn treo.

"Nào, anh bạn Chắc Mẩm," người bán hàng cất giọng, "tôi cứ đinh ninh là mình đã nhẵn bóng ngỗng rồi, nhưng trước khi tôi dứt lời, anh sẽ thấy cửa hàng tôi vẫn còn sót lại một con. Anh thấy cuốn sổ nhỏ này chứ?"

"Thấy."

"Đó là danh sách những đầu mối tôi mua hàng. Anh thấy không? Ở trang này là những người nhà quê, và những con số đính kèm sau tên họ là nơi ghi chép tài khoản của họ trong cuốn sổ cái lớn kia. Nào, thế này nhé! Anh có thấy trang bên kia được viết bằng mực đỏ không? Chà, đó là danh sách những nhà cung cấp ở thị trấn của tôi. Nào, hãy đưa mắt nhìn vào cái tên thứ ba đi. Đọc to nó lên cho tôi nghe xem."

"Bà Oakshott, 117, đường Brixton-249," Holmes cất giọng đọc.

"Chuẩn xác. Giờ thì lật nó lên trong cuốn sổ cái đi."

Holmes lật đến đúng trang được chỉ định. "Đây rồi, 'Bà Oakshott, 117, đường Brixton, nhà cung cấp trứng và gia cầm.'"

"Nào, thế dòng cuối cùng ghi gì?"

"'Ngày 22 tháng 12. Hai mươi tư con ngỗng với giá 7s. 6d.8'"

"Chính xác. Xong rồi đấy. Thế còn dòng bên dưới?"

"'Bán cho ông Windigate ở Alpha, với giá 12s.'"

"Giờ thì anh còn gì để bắt bẻ nữa không?"

Sherlock Holmes lộ vẻ vô cùng ấm ức. Anh thò tay rút một đồng xô-vơ-ren từ trong túi và ném cái choang xuống mặt phiến đá, rồi quay ngoắt đi với điệu bộ của một kẻ mà sự chán chường không thể diễn tả nổi bằng lời. Đi cách đó vài thước, anh dừng lại dưới bóng một cột đèn và bật cười khoái trá, một điệu cười câm lặng vốn là đặc trưng của anh.

"Khi anh chạm trán một kẻ để râu quai nón kiểu đó và nhét tờ 'Pink ’un'9 thò ra khỏi túi, anh luôn có thể nắm thóp hắn bằng một vụ cá cược," anh giải thích. "Tôi dám chắc rằng dù tôi có ném cả trăm bảng xuống trước mặt hắn, gã đàn ông đó cũng sẽ không cung cấp cho tôi thông tin tường tận bằng khi bị lôi kéo bởi cái suy nghĩ rằng hắn đang cho tôi vào tròng trong một vụ đánh cược. Chà, Watson, tôi trộm nghĩ chúng ta đang tiến rất gần đến hồi kết của cuộc săn lùng này, và nút thắt duy nhất còn lại cần tháo gỡ là liệu chúng ta nên ghé thăm nhà bà Oakshott ngay đêm nay, hay cứ để dành đến ngày mai. Rõ ràng qua những lời gã cộc cằn kia tuôn ra, ngoài chúng ta còn có những kẻ khác đang nháo nhào vì vấn đề này, và tôi thiết nghĩ nên-"

Lời nhận xét của anh bị cắt ngang giữa chừng bởi một tràng ồn ào huyên náo vọng ra từ chính cái sạp hàng mà chúng tôi vừa rời đi. Quay gót lại, chúng tôi trông thấy một gã choắt người với khuôn mặt hao hao loài chuột đang co rúm giữa vòng tròn ánh sáng vàng vọt tỏa ra từ chiếc đèn treo, trong khi Breckinridge, gã bán hàng, đứng án ngữ trước cửa sạp hàng của mình, đang vung tay múa chân giận dữ chĩa về phía cái bóng đang run rẩy kia.

"Tôi chịu đựng đủ anh và lũ ngỗng chết tiệt của anh rồi," anh ta gầm lên. "Tôi ước gì tất cả các người cút thẳng xuống địa ngục cho khuất mắt. Nếu anh còn vác mặt đến quấy rầy tôi thêm nữa với mấy câu ngớ ngẩn của anh, tôi sẽ xua chó ra cắn xé anh. Anh cứ dẫn bà Oakshott đến đây rồi tôi sẽ ba mặt một lời với bà ấy, nhưng anh thì có liên can cái quái gì đến chuyện này? Tôi có mua ngỗng của anh đâu?"

"Không; nhưng dù sao thì một trong số chúng là của tôi," gã đàn ông choắt người thút thít rên rỉ.

"Vậy thì, vác xác đi mà hỏi bà Oakshott để đòi lại."

"Bà ấy bảo tôi đến hỏi anh."

"Chà, anh có thể đi hỏi Vua nước Phổ10 cũng được, tôi cóc thèm quan tâm. Tôi đã chịu đựng quá đủ rồi. Biến ngay khỏi đây!" Anh ta hung hăng lao bổ về phía trước, và kẻ tò mò kia liền lủi tọt vào bóng tối mịt mù.

"Ha! Chuyện này có thể cứu chúng ta một chuyến cuốc bộ mệt nghỉ đến đường Brixton," Holmes hạ giọng thì thầm. "Bám theo tôi, và chúng ta sẽ xem có thể moi móc được gì từ gã này." Sải bước qua những đám đông thưa thớt đang lảng vảng quanh các sạp hàng rực sáng ánh đèn, người bạn đồng hành của tôi nhanh chóng đuổi kịp gã đàn ông choắt người và khẽ chạm vào vai hắn. Hắn ta giật nảy mình quay lại, và dưới ánh đèn gas, tôi có thể thấy mọi nét hồng hào đã bị tước đoạt sạch trơn khỏi khuôn mặt hắn.

"Anh là ai? Anh muốn gì?" hắn ta lắp bắp hỏi bằng một giọng run rẩy.

"Thứ lỗi cho tôi," Holmes cất giọng êm ái, "nhưng tôi không thể không nghe thấy những câu hỏi mà anh vừa vặn vẹo người bán hàng lúc nãy. Tôi trộm nghĩ rằng mình có thể giúp được anh."

"Anh? Anh là ai? Làm sao anh có thể rành rẽ bất cứ điều gì về vấn đề này?"

"Tên tôi là Sherlock Holmes. Nghề của tôi là biết những điều mà thiên hạ không biết."

"Nhưng chắc gì anh đã biết về chuyện này?"

"Xin lỗi nhé, tôi biết rành rẽ mọi thứ về nó. Anh đang hao tâm tổn trí truy tìm một số con ngỗng đã được bà Oakshott, ở đường Brixton, bán cho một tay lái buôn tên là Breckinridge, rồi từ tay anh ta lại được bán cho ông Windigate, chủ quán Alpha, và từ tay ông ấy lại được bán cho câu lạc bộ của ông ấy, nơi ông Henry Baker là một thành viên."

"Ồ, thưa ngài, ngài đúng là vị cứu tinh mà tôi đang khao khát được gặp," gã choắt người ré lên với đôi tay chới với và những ngón tay run bần bật. "Tôi khó lòng mà diễn tả cho ngài hiểu tôi bận tâm đến vấn đề này nhường nào."

Sherlock Holmes vẫy tay gọi một chiếc xe bốn bánh đang chậm rãi lăn bánh ngang qua. "Trong trường hợp đó, tốt hơn hết chúng ta nên mạn đàm về nó trong một căn phòng ấm cúng thay vì đứng trân trân trong cái khu chợ lộng gió này," anh lên tiếng. "Nhưng xin hãy cho tôi biết, trước khi chúng ta tiến xa hơn, người mà tôi hân hạnh được giúp đỡ đây là ai."

Người đàn ông ngập ngừng giây lát. "Tên tôi là John Robinson," hắn ta đáp lời kèm theo một cái liếc nhìn xéo đầy cảnh giác.

"Không, không; tên thật cơ," Holmes vẫn giữ giọng ngọt ngào. "Thật sự rất khó xử khi phải làm việc với một cái tên giả mạo."

Một vệt đỏ bừng chợt hiện lên trên đôi má nhợt nhạt của gã lạ mặt. "Vậy thì," hắn ta thở dài, "tên thật của tôi là James Ryder."

"Chính xác là thế. Trưởng nhóm phục vụ tại Khách sạn Cosmopolitan. Xin hãy bước lên xe ngựa, và tôi sẽ sớm nói cho anh biết mọi thứ mà anh muốn biết."

Người đàn ông nhỏ thó đứng đó, ánh mắt đảo liếc từ người này sang người kia với vẻ nửa e sợ, nửa hy vọng, tựa như một kẻ đang chênh vênh không rõ mình sắp vớ được món hời hay sắp lao xuống vực thẳm của một tai họa. Lát sau, anh ta miễn cưỡng bước lên xe ngựa. Nửa giờ trôi qua, chúng tôi đã trở lại căn phòng khách quen thuộc trên phố Baker. Suốt dọc đường, không ai cất lên nửa lời, song tiếng thở nông và rít qua kẽ răng của người bạn đồng hành mới, cộng thêm đôi bàn tay cứ đan vào rồi lại vò rúm lấy nhau, đã phơi bày trọn vẹn nỗi căng thẳng tột độ đang gặm nhấm tâm can anh ta.

"Đến nơi rồi!" Holmes cất giọng rộn rã khi chúng tôi lần lượt bước vào phòng. "Lửa trong lò sưởi đang cháy rất đượm, thật hợp với cái tiết trời này. Trông anh có vẻ đang run lên vì lạnh kìa, anh Ryder. Mời anh ngồi tạm vào chiếc ghế mây kia. Để tôi xỏ đôi dép lê vào đã, rồi chúng ta sẽ cùng giải quyết cái rắc rối nho nhỏ này của anh. Nào, xem nào! Anh đang muốn biết chuyện gì đã xảy ra với những con ngỗng đó phải không?"

"Vâng, thưa ngài."

"Hay nói chính xác hơn, theo tôi đoán, là với một con ngỗng cụ thể. Tôi đồ rằng sự quan tâm của anh chỉ dồn vào đúng một con chim-một con ngỗng trắng muốt, điểm xuyết một vạch đen vắt ngang đuôi."

Ryder run lẩy bẩy vì xúc động. "Ôi, lạy Chúa, thưa ngài," anh ta khóc nấc lên, "ngài có thể cho tôi biết con ngỗng ấy đã trôi dạt về đâu không?"

"Nó đã đến thẳng chỗ này."

"Đến đây sao?"

"Chính xác là vậy, và nó đã chứng tỏ mình là một con chim phi thường bậc nhất. Tôi chẳng có gì ngạc nhiên khi anh lại bận tâm về nó đến thế. Nó đã đẻ ra một quả trứng ngay cả khi đã chết-một quả trứng màu xanh rực rỡ và lộng lẫy nhất mà người ta từng thấy. Tôi đang cất giữ nó ngay tại đây, trong bộ sưu tập cá nhân của mình."

Vị khách của chúng tôi lảo đảo đứng phắt dậy, bàn tay phải bấu chặt lấy bệ lò sưởi để đứng vững. Holmes điềm tĩnh mở khóa két sắt và giơ cao viên ngọc bích màu xanh. Viên đá tỏa sáng lấp lánh tựa một vì sao sa, với thứ ánh sáng sắc lạnh, huy hoàng phản chiếu từ muôn vàn giác cắt tinh xảo. Ryder đứng chết trân, khuôn mặt nhợt nhạt như xác chết, ánh mắt trừng trừng dán chặt vào viên ngọc, dường như bị giằng xé giữa việc nên thừa nhận hay chối bỏ nó.

"Ván bài đã hạ màn rồi, Ryder ạ," Holmes lạnh lùng cất lời. "Đứng cho vững vào, đồ ngốc, không thì anh lộn nhào vào đống lửa bây giờ! Đỡ anh ta ngồi xuống ghế đi, Watson. Con người này chẳng có đủ can đảm để phạm một tội ác tày đình mà không phải gánh hậu quả đâu. Rót cho anh ta ngụm rượu brandy đi. Thế! Bây giờ thì trông anh ta có vẻ giống người sống hơn chút rồi đấy. Quả là một kẻ thảm hại, rõ là vậy!"

Trong tích tắc, gã đàn ông loạng choạng và suýt nữa đã đổ gục xuống sàn, nhưng chút rượu brandy cháy rực trong cổ họng đã kéo lại vài tia máu đỏ trên đôi gò má nhợt nhạt. Anh ta ngồi đó, dán đôi mắt ngập tràn nỗi kinh hoàng vào người vừa buông lời buộc tội mình.

"Tôi gần như đã nắm trọn mọi manh mối trong tay, cùng tất thảy những bằng chứng cần thiết, vậy nên anh cũng chẳng cần phải thanh minh nhiều lời với tôi làm gì. Tuy nhiên, một chút mảnh ghép thông tin rườm rà đó cũng nên được làm rõ để khép lại vụ án một cách trọn vẹn. Ryder, anh đã nghe về viên ngọc bích màu xanh này của Nữ bá tước Morcar bao giờ chưa?"

"Chính cô Catherine Cusack đã rỉ tai tôi về nó," anh ta đáp bằng một giọng nghẹn ngào, nứt nẻ.

"Tôi hiểu rồi-thì ra là cô hầu gái của phu nhân. Chà, sức cám dỗ mị người từ một khối tài sản kếch xù đột nhiên rơi xuống quá đỗi dễ dàng đã vượt quá sức chịu đựng của anh, hệt như nó từng đánh gục biết bao kẻ còn tốt đẹp hơn anh gấp vạn lần trước đây; nhưng anh lại chẳng mảy may đắn đo khi lựa chọn thủ đoạn để đạt được mục đích. Tôi nhận thấy, Ryder ạ, trong con người anh hội tụ đủ tố chất của một kẻ ác ôn máu lạnh đấy. Anh thừa biết rằng gã Horner kia, tay thợ sửa ống nước ấy, từng dính dáng đến những vụ lùm xùm tương tự trong quá khứ, và lẽ hiển nhiên, sự nghi ngờ sẽ dễ dàng đổ ụp xuống đầu anh ta. Vậy thì, anh đã bày binh bố trận ra sao? Anh đã ngụy tạo ra một hỏng hóc lặt vặt nào đó trong phòng phu nhân-với sự tiếp tay của ả đồng phạm Cusack-rồi sắp xếp sao cho chính Horner là kẻ bị gọi đến sửa chữa. Sau đó, nhân lúc anh ta rời đi, anh lục tung hộp đựng đồ trang sức, gióng lên hồi chuông báo động, và đẩy người đàn ông xui xẻo kia vào chỗ chết. Kế đến, anh-"

Ryder đột ngột lao mình xuống tấm thảm lông, ôm rịt lấy hai đầu gối của bạn tôi mà gào thét. "Vì lòng từ bi của Chúa, xin ngài hãy xót thương!" anh ta thảm thiết van nài. "Xin ngài hãy nghĩ đến cha tôi! Đến mẹ tôi! Chuyện này sẽ bóp nghẹt trái tim già nua của họ mất. Trước nay tôi chưa từng lầm đường lạc lối! Tôi thề sẽ không bao giờ tái phạm nữa. Tôi xin lấy Kinh Thánh ra mà thề. Ôi, lạy Chúa, xin ngài đừng lôi vụ này ra tòa! Cúi xin ngài, đừng làm thế!"

"Quay trở lại ghế ngồi ngay!" Holmes quát lên nghiêm khắc. "Bây giờ giở trò bò lê bò lết nài nỉ thì hay lắm, thế nhưng anh đã từng mảy may hối hận chút nào cho gã Horner tội nghiệp kia chưa, khi gã sắp phải đứng trước vành móng ngựa vì một tội ác mà gã hoàn toàn vô can?"

"Tôi sẽ bỏ trốn, thưa ngài Holmes. Tôi sẽ biến khỏi đất nước này mãi mãi, thưa ngài. Khi đó, mọi lời buộc tội đổ lên đầu anh ta sẽ tự khắc sụp đổ."

"Hừm! Chuyện đó tính sau. Còn bây giờ, hãy để chúng tôi được nghe một bản tường thuật chân thực nhất về những hành động tiếp theo của anh. Bằng cách quái quỷ nào mà viên ngọc lại chui tọt vào bụng con ngỗng, và làm thế nào mà con ngỗng ấy lại lạc trôi ra tận ngoài chợ bán tự do? Hãy khai thật đi, vì đó là chiếc phao cứu sinh duy nhất của anh lúc này."

Ryder liếm láp đôi môi khô khốc nứt nẻ. "Tôi sẽ khai tuốt tuột mọi chuyện y như những gì đã xảy ra, thưa ngài," anh ta thều thào. "Ngay khi Horner bị còng tay lôi đi, tôi nhẩm tính rằng thượng sách lúc bấy giờ là chuồn êm cùng viên ngọc càng sớm càng tốt, bởi tôi chẳng thể lường trước được bọn cớm sẽ nổi hứng lục soát tôi và căn phòng của tôi vào lúc nào. Khách sạn đã không còn là nơi an toàn để trú chân nữa. Thế là tôi mò ra ngoài, làm bộ như đang hối hả chạy việc vặt, rồi cắm cổ hướng thẳng đến nhà chị gái. Chị tôi đã gả cho một người đàn ông tên Oakshott và hiện đang sống ở đường Brixton, nơi chị chuyên nghề vỗ béo gia cầm đem ra chợ bán. Suốt dọc đường đi, cứ hễ thấy bóng dáng gã đàn ông nào ngang qua, tôi lại chột dạ ngỡ đó là mật thám hay cảnh sát chìm; và, dù cho đêm ấy gió rét căm căm, mồ hôi hột vẫn tứa ra ướt đẫm khuôn mặt tôi trước khi gót giày kịp chạm đến đường Brixton. Chị gái thấy vậy liền gặng hỏi tôi gặp chuyện gì mà mặt mũi lại tái mét như tàu lá chuối; nhưng tôi gạt đi, chỉ lấy cớ là mình bị vỡ mật vì vụ trộm đồ trang sức động trời vừa xảy ra ở khách sạn. Sau đó, tôi lẻn ra khoảng sân sau, châm một điếu tẩu rít một hơi dài, rồi vắt óc suy tính xem bước đi nào là khôn ngoan nhất.

"Trước kia, tôi từng chơi với một gã tên là Maudsley, một kẻ đã trượt dài vào con đường tội lỗi và vừa mới bóc lịch xong ở nhà tù Pentonville11. Có dạo tình cờ chạm mặt, gã thao thao bất tuyệt với tôi về mánh khóe của lũ đạo chích và cách bọn chúng tẩu tán các chiến lợi phẩm chôm chỉa được. Tôi thừa biết gã sẽ tuyệt đối trung thành với tôi, bởi trong tay tôi nắm giữ không ít thóp của gã; do đó, tôi hạ quyết tâm phi thẳng đến Kilburn, nơi gã đang tá túc, để trút bầu tâm sự. Gã thạo đời ấy chắc chắn sẽ vẽ cho tôi đường đi nước bước để hô biến viên ngọc này thành tiền mặt. Nhưng khổ nỗi, làm sao để lết xác đến đó an toàn cơ chứ? Tôi rùng mình nhớ lại những nỗi thống khổ, phấp phỏng lo âu mình vừa phải nếm trải dọc đường trốn chạy từ khách sạn về đây. Bất cứ lúc nào tôi cũng có thể bị tóm cổ và xét người, trong khi viên đá chết tiệt ấy lại nằm tênh hênh ngay trong túi áo ghi lê. Giữa lúc tôi đang tựa lưng vào bức tường rêu phong, lơ đãng nhìn bầy ngỗng lạch bạch dạo bước quanh gót giày, thì một tia sáng chợt bừng lên trong não bộ, hé lộ một kế hoạch hoàn hảo giúp tôi có thể qua mặt cả tay thám tử lão luyện nhất trần đời.

"Vài tuần trước, chị tôi từng hào phóng cho phép tôi tùy ý chọn một con ngỗng béo mập trong đàn để làm quà Giáng sinh, và tôi rành tính chị ấy xưa nay luôn nói lời giữ lời. Giờ thì tôi sẽ bắt ngay con ngỗng thuộc về mình, rồi giấu viên đá vào bụng nó để mang đến Kilburn. Ngay trong sân có một cái lán tồi tàn, và từ phía sau góc khuất ấy, tôi lùa được một con-một con ngỗng khổng lồ, lông trắng muốt tuyệt đẹp, vắt ngang đuôi là một vệt lông vằn. Tóm chặt lấy con vật, tôi thô bạo cạy toác mỏ nó ra, rồi nhét viên ngọc sâu tuốt luốt xuống cổ họng nó, sâu đến tận nơi ngón tay tôi có thể với tới. Con chim nuốt ực một cái, và tôi có thể cảm nhận rõ mồn một dị vật cộm lên, trôi tuột dọc theo thực quản rồi rơi thẳng xuống diều nó. Nhưng ngay sau đó, con vật hoảng loạn đập cánh giãy giụa loạn xạ, khiến chị tôi phải tất tả chạy ra xem có biến gì. Khi tôi vừa xoay người định giải thích với chị, thì con ngỗng đã vùng vẫy thoát khỏi tay tôi, lạch bạch lao thẳng vào giữa bầy đàn rồi lẩn mất dạng.

"'Em đang làm cái quái gì với con chim đó vậy hả, Jem?' chị quát tháo.

"'Chà,' tôi ấp úng, 'chẳng phải chị đã hứa sẽ cho em một con vào dịp Giáng sinh sao, em chỉ đang nắn thử xem con nào vỗ béo tốt nhất thôi mà.'

"'Ồ,' chị tôi dịu giọng, 'vợ chồng chị đã phần riêng cho em một con rồi-đã đặt tên là con chim của Jem. Nó chính là con ngỗng trắng lớn đang đứng tít đằng kia kìa. Tổng cộng có hai mươi sáu con, vị chi là một con cho em, một con để nhà ăn, còn lại hai tá chẵn thì đem ra chợ bán.'

"'Cảm ơn chị, Maggie,' tôi vội vàng tiếp lời; 'nhưng nếu chị không phiền, em lại ưng cái con em vừa nắn lúc nãy hơn.'

"'Con kia nặng hơn đúng ba pound thịt đấy,' chị khuyên nhủ, 'vợ chồng chị cất công vỗ béo nó cốt để dành phần em mà.'

"'Không sao đâu chị. Em sẽ bắt con khi nãy, và em phải mang nó đi ngay bây giờ,' tôi khăng khăng.

"'Ồ, tùy ý em thôi,' chị đáp, giọng có phần phật ý rõ rệt. 'Thế tóm lại em muốn bắt con nào?'

"'Con lông trắng có vạch đuôi vằn kia kìa, con đang đứng ngay giữa bầy ấy.'

"'Ồ, được thôi. Cắt tiết nó đi rồi xách về.'

"Chà, tôi răm rắp làm theo lời chị ấy, ngài Holmes ạ, và tôi nai lưng vác con chim vượt qua chặng đường dài đằng đẵng đến tận Kilburn. Gặp lại thằng chiến hữu, tôi móc hết ruột gan kể lại những gì mình vừa bày mưu tính kế, dẫu sao anh ta cũng là kiểu cạ cứng mà tôi có thể dễ dàng dốc bầu tâm sự những chuyện tày trời như thế này. Gã nghe xong thì cười phá lên sặc sụa đến mức ho sù sụ nghẹn cả cổ, rồi chúng tôi hì hục vác dao ra mổ phanh con ngỗng. Trái tim tôi như rớt đánh thịch xuống gót chân, bởi tìm mỏi mắt cũng chẳng thấy tăm hơi viên ngọc bích đâu, và ngay khoảnh khắc ấy, tôi cay đắng nhận ra một sai lầm chết người vừa giáng xuống đầu mình. Vứt toẹt con chim đẫm máu ở lại, tôi cắm cổ lao ngược về nhà chị gái, thở hồng hộc xông thẳng ra khoảng sân sau. Lạy Chúa, sân nhà trống hoác, chẳng còn lấy mống lông tơ nào của bọn ngỗng ở đó nữa.

"'Bọn ngỗng đâu cả rồi, Maggie?' tôi rống lên kinh hãi.

"'Giao hết cho tay buôn rồi, Jem ạ.'

"'Tay buôn nào?'

"'Breckinridge, ở tận chợ Covent Garden.'

"'Nhưng trong đàn còn sót lại một con khác cũng có vệt đuôi vằn đúng không chị?' tôi dồn dập hỏi, 'giống y đúc cái con em vừa chọn ấy?'

"'Đúng rồi, Jem; trong đàn có đúng hai con vằn đuôi, và chị thì chẳng thể nào phân biệt nổi chúng.'

"Chà, đến lúc ấy thì đương nhiên tôi đã ngộ ra tất cả cơ sự. Quẳng cả liêm sỉ, tôi co cẳng chạy vắt chân lên cổ đến tìm gã Breckinridge này; thế nhưng, chua chát thay, anh ta đã bán sạch sành sanh đàn ngỗng chỉ trong nháy mắt, và dù có nài nỉ gãy lưỡi, gã vẫn cạy răng không hé nửa lời xem bọn chúng đã trôi dạt về tay ai. Ngay chính các ngài đây cũng vừa được nếm thử giọng điệu xấc xược của gã tối nay đấy thôi. Chà, gã luôn gắt gỏng đáp trả tôi bằng cái thái độ xua đuổi ấy. Chị gái tôi thì cứ đinh ninh rằng tôi đang lên cơn điên. Quả thật, có đôi lúc tôi cũng tự thấy mình điên mất rồi. Còn bây giờ-và bây giờ tôi đã bị đóng mác là một kẻ trộm cắp bỉ ổi, trong khi tay vẫn chưa hề được chạm vào mảy may chút tài sản mà tôi đã phải dùng cả nhân phẩm của mình để đánh đổi. Cúi xin Chúa rủ lòng thương cứu giúp tôi! Xin Chúa xót thương tôi!" Anh ta gục mặt vào hai lòng bàn tay mà bật khóc nức nở, tiếng khóc bi thương xé ruột xé gan.

Một sự im lặng ngột ngạt và kéo dài bao trùm căn phòng, chỉ thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi những tiếng thở dốc nặng nhọc đầy bi kịch của gã đàn ông, đan xen cùng tiếng gõ nhịp nhàng, đều đặn từ những đầu ngón tay của Sherlock Holmes dội xuống mép bàn. Giây lát sau, bạn tôi chậm rãi đứng dậy và lạnh lùng mở toang cánh cửa phòng.

"Cút khỏi đây!" anh gắt gọn.

"Cái gì cơ, thưa ngài! Ôi, xin Chúa ban phước cho ngài!"

"Không thêm nửa lời lải nhải nào nữa. Cút ngay!"

Và đúng là chẳng cần thêm một mệnh lệnh nào nữa. Một sự cuống cuồng tột độ diễn ra, tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên mặt bậc cầu thang gỗ, tiếp đó là một tiếng sập cửa khô khốc, và cuối cùng, những nhịp chân chạy trối chết nện giòn giã trên mặt đường lát đá vọng lại từ ngoài phố mờ sương.

"Rốt cuộc thì, Watson thân mến," Holmes chậm rãi cất lời, tay với lấy chiếc tẩu đất sét quen thuộc, "tôi đâu có được sở cảnh sát trả lương để dọn dẹp những tàn dư ngu ngốc của họ. Giả dụ Horner đang bị đe dọa đến tính mạng thì câu chuyện đã rẽ sang một hướng khác; thế nhưng gã đớn hèn vừa rồi sẽ chẳng bao giờ dám xuất hiện trước tòa để làm chứng chống lại anh ta nữa đâu, và vụ án khép tội Horner chắc chắn sẽ tự động sụp đổ. Chà, tôi đồ rằng mình vừa tiếp tay che giấu một trọng tội, nhưng ở một góc độ khác, rất có thể tôi đang dang tay cứu rỗi một linh hồn lầm lỡ. Tên ngốc ấy sẽ chẳng dám ngựa quen đường cũ nữa đâu; bài học này đã dọa gã đến mất mật rồi. Nhốt gã vào ngục tù lúc này chẳng khác nào anh đang tự tay nhào nặn gã thành một con chim sa lưới, sống mòn mỏi sau song sắt cho đến cuối đời hận thù. Thêm vào đó, đang là mùa của sự thứ tha cơ mà. Sự tình cờ đã ném vào con đường của chúng ta một câu đố kỳ quái và bất ngờ hết sức, và việc tìm ra lời giải cho nó, tự thân đã là một phần thưởng vô giá rồi. Nếu anh vui lòng nhấn chuông giùm tôi, Bác sĩ ạ, thì ngay lập tức, chúng ta sẽ cùng bắt tay vào một cuộc 'điều tra' hấp dẫn khác, mà trong đó, một con chim cũng sẽ đóng vai trò là nhân vật chính đấy."



  1. Nguyên gốc 'lime-cream': Một loại sản phẩm dưỡng tóc và vuốt nếp thịnh hành ở thời Victoria, dùng để giữ cho mái tóc nam giới gọn gàng và bóng mượt. 

  2. Vào cuối thế kỷ 19 ở London, hệ thống chiếu sáng bằng khí gas đã trở nên phổ biến ở các gia đình khá giả. Tuy nhiên, việc lắp đặt khá đắt đỏ, nên những ngôi nhà của người nghèo hoặc nhà trọ giá rẻ vẫn phải sử dụng nến để thắp sáng. 

  3. Áo khoác dài đến đầu gối, có chiết eo và tà xòe. Đây là loại áo khoác ban ngày mang tính chuẩn mực và trang trọng dành cho nam giới thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu ở Anh thời kỳ Victoria. 

  4. Thành ngữ tiếng Latinh, nghĩa đen là 'những bộ phận rời rạc' hoặc 'những phần phân tán'. Trong văn chương, thuật ngữ này thường được dùng để chỉ những đoạn trích, mảnh vỡ hoặc tàn dư còn sót lại của một thực thể. 

  5. Trong bối cảnh London, 'Bảo tàng' ở đây ngụ ý đến Bảo tàng Anh (British Museum) nằm tại khu vực Bloomsbury. Tòa nhà này có một phòng đọc (Reading Room) lớn, thường là nơi những trí thức nghèo thường đến vào ban ngày để đọc sách, làm việc và tránh rét. 

  6. Goose club: Một hình thức tiết kiệm phổ biến của tầng lớp lao động Anh thế kỷ 19. Các thành viên đóng một khoản tiền nhỏ mỗi tuần tại quán rượu địa phương để đến dịp Lễ Giáng sinh sẽ nhận được một con ngỗng quay, giúp họ có một bữa tiệc tươm tất mà không phải chi trả một khoản lớn cùng lúc. 

  7. Sovereign: Đồng tiền vàng của Anh Quốc, có mệnh giá tương đương với một bảng Anh (1 pound). Trước khi tiền giấy trở nên phổ biến, đây là đơn vị tiền tệ tiêu chuẩn và có giá trị rất lớn. 

  8. Ký hiệu tiền tệ của hệ thống tiền Anh trước năm 1971. Chữ 's' là viết tắt của shilling, và 'd' là pence (từ chữ denarius trong tiếng Latinh). Vậy 7s 6d tương đương với 7 shilling và 6 pence. 

  9. Tên gọi lóng của 'The Sporting Times', một tờ báo thể thao nổi tiếng ở Anh chuyên đưa tin về đua ngựa, được in trên giấy màu hồng (pink). Những người đọc tờ báo này thường có chung niềm đam mê với cá cược. 

  10. Một cách nói phóng đại mang ý nghĩa mỉa mai. Vua nước Phổ (King of Prussia) vào cuối thế kỷ 19 là một nhân vật có quyền lực và tầm ảnh hưởng vĩ đại ở châu Âu. 

  11. Một nhà tù ở London xây dựng năm 1842, khét tiếng với chế độ giam giữ biệt lập nhằm mục đích cải tạo phạm nhân bằng cách không cho họ giao tiếp với ai. Đây thường là nơi giam giữ những tội phạm bị kết án trước khi bị lưu đày hoặc thi hành án.