🎧 Nghe chương này

III. MỘT VỤ ÁN NHẬN DẠNG

"Anh bạn thân mến," Sherlock Holmes cất lời khi chúng tôi đang ngồi đối diện nhau bên lò sưởi ấm áp trong căn hộ trên phố Baker, "cuộc đời này vốn vĩ đại và chứa đựng những điều kỳ đai hơn vạn lần mọi trí tưởng tượng bay bổng nhất của con người. Có những sự việc ngỡ như chỉ là chuyện thường tình trong nhân gian, song ta lại chẳng dám mường tượng đến. Giả dụ chúng ta có thể nắm tay nhau bay vút qua khung cửa sổ kia, lượn lờ dạo quanh thành phố rộng lớn này, rồi nhẹ nhàng giở từng mái nhà lên để lén nhìn vào những góc khuất kỳ quặc đang âm thầm diễn ra: những sự trùng hợp lạ lùng, những mưu đồ giăng mắc, những mục đích trái ngang nhau, cùng chuỗi sự kiện kỳ diệu kéo dài qua nhiều thế hệ để rồi dẫn đến những kết cục kỳ dị nhất. Nếu được chứng kiến tận mắt những điều ấy, hẳn mọi cuốn tiểu thuyết với những khuôn sáo lối mòn và cái kết dễ đoán sẽ trở nên vô cùng nhạt nhẽo và sáo rỗng."

"Thú thực là tôi vẫn chưa mấy bị thuyết phục bởi điều đó," tôi đáp lời anh. "Theo lẽ thường, những vụ án phơi bày trên mặt báo đều khá trần trụi và tầm thường. Trong các bản báo cáo của sở cảnh sát, chủ nghĩa hiện thực dường như bị đẩy đến mức cực đoan nhất, để rồi kết quả đọng lại, phải thừa nhận rằng, chẳng hề mang lấy một chút sức hút hay tính nghệ thuật nào."

"Để tạo ra được một hiệu ứng chân thực, cần phải có sự chọn lọc và cân nhắc kỹ lưỡng," Holmes nhận xét. "Đáng tiếc thay, điều đó lại hoàn toàn vắng bóng trong các hồ sơ của cảnh sát. Ở đó, người ta thường có xu hướng nhấn mạnh vào những lời lẽ sáo rỗng của ngài thẩm phán, thay vì chú tâm đến những tiểu tiết-những thứ mà với một người quan sát nhạy bén, lại ẩn chứa cốt lõi sống còn của toàn bộ vấn đề. Cứ tin tôi đi, không có gì trên đời này thiếu tự nhiên hơn sự tầm thường đâu."

Tôi khẽ mỉm cười và lắc đầu. "Tôi hoàn toàn hiểu được vì sao anh lại có suy nghĩ ấy," tôi nói. "Đương nhiên rồi, ở cương vị là một người cố vấn và trợ giúp không chính thức cho những kẻ đang lâm vào cảnh bối rối tột độ trên khắp ba châu lục, anh luôn được tiếp xúc với vô vàn những sự vụ kỳ lạ và quái gở nhất. Nhưng hãy nhìn đây"-tôi nhặt tờ báo ban sáng đang nằm trên sàn lên-"chúng ta thử đưa vấn đề này vào một bài kiểm tra thực tế xem sao. Ngay tiêu đề đầu tiên đập vào mắt tôi là: 'Sự tàn nhẫn của một người chồng dành cho vợ'. Dù bài báo dài đến nửa cột, nhưng thậm chí chẳng cần đọc qua, tôi cũng biết thừa mọi diễn biến trong đó bởi chúng đã quá đỗi quen thuộc. Hẳn nhiên sẽ lại là mô típ về một người đàn bà khác, rượu chè, những trận xô xát, đòn roi, những vết bầm tím trên da thịt, và rồi sự xuất hiện của một người chị gái hay bà chủ nhà đầy lòng trắc ẩn. Ngay cả những tay bồi bút vụng về nhất cũng chẳng thể thêu dệt ra câu chuyện nào thô thiển hơn thế."

"Thật đáng tiếc, ví dụ anh vừa đưa ra lại là một dẫn chứng tồi tệ để bảo vệ lập luận của anh mất rồi," Holmes vừa nói, vừa cầm lấy tờ báo và lướt nhanh ánh mắt xuống phía dưới. "Đây là vụ ly thân của gia đình Dundas, và thật tình cờ làm sao, tôi lại vừa tham gia vào việc làm sáng tỏ một vài tình tiết nhỏ gọn xoay quanh nó. Trái với suy đoán của anh, người chồng là một kẻ kiêng rượu tuyệt đối, và cũng chẳng hề có bóng dáng người đàn bà nào khác xen vào. Hành vi khiến anh ta bị phàn nàn lại xuất phát từ một thói quen kỳ quái: sau khi kết thúc mỗi bữa ăn, anh ta đều tháo hàm răng giả của mình ra rồi ném thẳng vào người vợ. Anh hẳn sẽ phải thừa nhận rằng, đó khó lòng là một hành động có thể nảy sinh từ trí tưởng tượng của một người kể chuyện tầm trung. Hãy hít một chút thuốc lá đi, Bác sĩ, và cứ mạnh dạn thừa nhận rằng tôi đã giành phần thắng trong chính ví dụ của anh."

Anh chìa về phía tôi chiếc hộp đựng thuốc lá chế tác từ vàng khối, nổi bật với một viên thạch anh tím cỡ bự nạm ngay chính giữa nắp. Sự lộng lẫy tỏa ra từ món đồ này hoàn toàn đối nghịch với lối sống mộc mạc và những thói quen có phần tuềnh toàng của anh, đến mức tôi không thể ngăn mình tò mò mà phải cất tiếng bình luận.

"À," anh đáp lời, "tôi quên mất rằng chúng ta đã không gặp nhau trong suốt vài tuần qua. Đây là một món quà lưu niệm nho nhỏ mà Quốc vương xứ Bohemia đã trao tặng, nhằm đền đáp cho những giúp đỡ của tôi trong vụ án liên quan đến đống tài liệu của Irene Adler."

"Thế còn chiếc nhẫn thì sao?" tôi tiếp tục gặng hỏi, ánh mắt vô tình lướt qua viên kim cương đang tỏa sáng rực rỡ, lấp lánh trên ngón tay anh.

"Nó là món quà đến từ Hoàng gia Hà Lan. Tuy nhiên, sự vụ mà tôi phụng sự họ lại mang một tính chất vô cùng tế nhị, đến nỗi tôi chẳng thể tiết lộ thêm nửa lời, kể cả với anh-người bạn đã quá đỗi tử tế khi chịu khó ghi chép lại một vài vụ án vụn vặt của tôi."

"Vậy hiện tại, anh có đang nắm trong tay vụ án nào không?" tôi tò mò dò hỏi.

"Có khoảng mười hay mười hai vụ gì đó, nhưng tựu trung lại, chẳng có vụ nào sở hữu một đặc điểm đáng để ta phải lưu tâm. Chúng có thể quan trọng, anh hiểu ý tôi chứ, nhưng tuyệt nhiên không hề mang lại cảm giác thú vị. Trên thực tế, tôi nghiệm ra rằng, thường thì chỉ trong những sự vụ tưởng chừng như vô thưởng vô phạt, ta mới có đủ không gian để trổ tài quan sát, cũng như nhanh chóng phân tích tường tận chuỗi nguyên nhân và kết quả-thứ vốn luôn mang lại sức hấp dẫn mê người cho bất kỳ một cuộc điều tra nào. Ngược lại, những tội ác mang tầm vóc lớn lao hơn thường lại có xu hướng đơn giản hơn hẳn, bởi lẽ, theo một quy luật bất thành văn: tội ác càng lớn, động cơ đứng sau nó lại càng lộ rõ phơi bày. Trong số các vụ việc hiện tại, ngoại trừ một vấn đề khá phức tạp vừa được chuyển đến cho tôi từ tận Marseilles, thì những vụ còn lại đều nhạt nhẽo và chẳng có lấy một điểm nhấn nào đáng chú ý. Tuy nhiên, rất có thể chỉ trong vài phút ngắn ngủi sắp tới đây thôi, tôi sẽ có một thứ gì đó hay ho hơn để làm. Trực giác mách bảo tôi rằng, người đang tiến đến kia đích thị là một trong số những vị khách hàng của tôi, hoặc không, thì tôi đã nhầm to mất rồi."

Anh đã bật dậy khỏi ghế từ lúc nào và hiện đang đứng lấp ló giữa những tấm rèm cửa khẽ hé mở, đăm đăm nhìn xuống con phố London đang chìm trong một sắc xám xịt, ảm đạm. Đưa mắt nhìn qua vai anh, tôi trông thấy một người phụ nữ có dáng vẻ đẫy đà đang đứng trên vỉa hè phía đối diện. Cổ cô quấn một chiếc khăn choàng lông thú dày cộm, còn trên đầu ngự trị một chiếc mũ rộng vành điểm xuyết bằng một chiếc lông chim màu đỏ rực uốn lượn lộng lẫy, được đội lệch sang một bên tai mang đậm phong cách điệu đà trứ danh của Nữ tước xứ Devonshire1. Dưới lớp trang phục diêm dúa ấy, cô gái không ngừng đưa ánh mắt lo âu và ngập ngừng hướng lên khung cửa sổ phòng chúng tôi. Cơ thể cô cứ đung đưa, chao đảo chực chờ, trong khi những ngón tay không ngừng bồn chồn mân mê hàng khuy trên chiếc găng tay. Đột nhiên, với một cú lao mình dứt khoát hệt như tư thế của một người thợ lặn dũng cảm gieo mình xuống dòng nước, cô lao vụt qua đường, và ngay sau đó, chúng tôi nghe thấy một tiếng chuông cửa vang lên lanh lảnh.

"Tôi đã từng bắt gặp những triệu chứng tương tự như thế này rồi," Holmes điềm nhiên nhận định, tiện tay ném mẩu thuốc lá đang hút dở vào lò sưởi. "Cái sự đung đưa ngập ngừng trên vỉa hè ấy luôn là dấu hiệu báo trước cho một affaire de cœur2. Cô ấy rất khao khát được xin lời khuyên, song lại đắn đo không biết liệu vấn đề của mình có quá đỗi tế nhị để chia sẻ hay không. Và tuy nhiên, ngay cả trong những tình huống như vậy, chúng ta vẫn có thể tinh ý phân biệt được cặn kẽ. Khi một người phụ nữ bị gã đàn ông của mình đối xử tệ bạc và chà đạp một cách thô bạo, cô ta sẽ chẳng còn tâm trí đâu mà đứng đung đưa chần chừ nữa; thay vào đó, triệu chứng thường thấy nhất sẽ là một sợi dây chuông cửa bị giật đứt phăng. Ở trường hợp hiện tại, chúng ta có thể tạm kết luận rằng đây là một rắc rối liên quan đến chuyện tình cảm. Thế nhưng, vị thiếu nữ này dường như không hẳn là đang ôm trong lòng một cơn thịnh nộ bùng nổ, mà đúng hơn là cô ấy đang chìm trong sự bối rối, hoặc một nỗi đau buồn sâu thẳm. Dù sao thì, cô ấy cũng đã đích thân bước lên đây để tự mình giải đáp mọi hoài nghi trong đầu chúng ta rồi."

Holmes đang nói dở thì có tiếng gõ cửa, và cậu bé hầu phòng bước vào, cất tiếng xướng tên cô Mary Sutherland. Ngay phía sau dáng vóc nhỏ bé trong bộ đồ đen của cậu, vị tiểu thư ấy lù lù hiện ra, hệt như một chiếc tàu buôn no gió đang bám sát chiếc thuyền hoa tiêu nhỏ xíu. Sherlock Holmes tiếp đón cô bằng vẻ nhã nhặn ân cần vốn có. Sau khi khép cửa và mời vị khách an tọa trên chiếc ghế bành, anh đưa mắt quan sát cô bằng cái nhìn đăm đăm nhưng lại mang vẻ lơ đãng lạ lùng - một nét đặc trưng rất riêng của anh.

“Cô không thấy sao,” anh cất giọng, “rằng với thị lực yếu như vậy, việc gõ máy chữ quá nhiều sẽ khiến cô rất mệt mỏi?”

“Lúc đầu thì có,” cô đáp, “nhưng giờ thì tôi thuộc nằm lòng vị trí các con chữ mà chẳng cần nhìn.” Đoạn, như chợt vỡ lẽ trước hàm ý trong câu nói của anh, cô giật bắn mình và ngước lên nhìn, vẻ sợ hãi lẫn kinh ngạc hiện rõ trên khuôn mặt đôn hậu, đầy đặn. “Ngài đã nghe nói về tôi rồi sao, thưa ngài Holmes,” cô kêu lên, “nếu không thì làm sao ngài tỏ tường mọi điều như vậy?”

“Cô đừng bận tâm,” Holmes vừa cười vừa đáp; “công việc của tôi là phải thấu tỏ mọi thứ. Có lẽ tôi đã tự rèn luyện để nhìn thấu những tiểu tiết mà người khác thường bỏ sót. Bằng không, cớ gì cô lại tìm đến tôi để xin lời khuyên?”

“Tôi đến gặp ngài là vì bà Etherege đã mách nước. Bà ấy kể rằng ngài đã tìm thấy chồng bà dễ như trở bàn tay, trong khi cảnh sát và mọi người đều đinh ninh ông ấy đã bỏ mạng. Ôi, thưa ngài Holmes, tôi thiết tha mong ngài cũng làm điều tương tự cho tôi. Dù chẳng mấy khá giả, nhưng ngoài chút thù lao kiếm được từ chiếc máy chữ, tôi vẫn có riêng một khoản thu nhập một trăm bảng mỗi năm. Tôi sẵn lòng đánh đổi tất cả chỉ để biết anh Hosmer Angel giờ đang phiêu bạt nơi nao.”

“Cớ sao cô lại tất tả rời nhà để đến tham vấn tôi như vậy?” Sherlock Holmes cất tiếng hỏi, mười đầu ngón tay chụm vào nhau, ánh mắt hờ hững hướng lên trần nhà.

Thoáng giật mình lại hiện lên trên khuôn mặt có phần vô hồn của cô Mary Sutherland. “Vâng, tôi đã đùng đùng bỏ nhà đi,” cô nói, “vì cái thái độ dửng dưng của dượng Windibank - ý tôi là cha tôi - trước mọi cơ sự khiến tôi phẫn uất. Dượng chẳng buồn báo cảnh sát, cũng không màng đến tìm ngài. Cứ thế, dượng không nhúng tay vào việc gì, chỉ một mực khăng khăng rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn. Thật khiến người ta phát điên! Vậy nên tôi vội vàng vơ lấy áo khoác rồi chạy thẳng tới đây.”

“Cha cô,” Holmes ngắt lời, “hẳn là cha dượng của cô, bởi hai người không cùng họ.”

“Vâng, thưa ngài, là cha dượng. Tôi gọi dượng là cha, dẫu nghe có vẻ tức cười, bởi dượng chỉ lớn hơn tôi vỏn vẹn năm tuổi hai tháng.”

“Vậy mẹ cô vẫn còn sống chứ?”

“Ôi, vâng, mẹ tôi vẫn sống và rất khỏe mạnh. Nói thật với ngài Holmes, tôi không bằng lòng chút nào khi mẹ vội vàng tái giá ngay sau khi cha mất, lại còn lấy một người kém mẹ tới gần mười lăm tuổi. Cha tôi từng là thợ sửa ống nước trên đường Tottenham Court. Ông qua đời để lại một cơ ngơi khấm khá, và mẹ cùng ông Hardy, người quản đốc cũ, tiếp tục quán xuyến xưởng. Thế nhưng, từ lúc dượng Windibank bước chân vào nhà, dượng ép mẹ phải bán đứt cơ sở ấy, vì dượng vốn rất cao ngạo và lại là người chào hàng rượu vang. Họ nhận được 4700 bảng bao gồm cả danh tiếng lẫn lợi tức kinh doanh, một số tiền chẳng thấm tháp vào đâu so với giá trị thực mà cha tôi có thể thu về nếu ông còn sống.”

Tôi cứ ngỡ Sherlock Holmes sẽ đâm ra mất kiên nhẫn trước những lời kể lể dông dài, thiếu mạch lạc ấy, nhưng ngược lại, anh chăm chú lắng nghe với sự tập trung cao độ nhất.

“Vậy khoản thu nhập nho nhỏ của riêng cô,” anh hỏi, “có phải trích từ cơ sở kinh doanh ấy không?”

“Ôi, không thưa ngài. Khoản ấy hoàn toàn riêng biệt, là di sản mà chú Ned ở Auckland để lại cho tôi. Đó là cổ phiếu ở New Zealand, hưởng mức lãi suất 4½ phần trăm. Vốn gốc là hai ngàn năm trăm bảng, nhưng tôi chỉ được phép động tới phần tiền lãi.”

“Cô làm tôi vô cùng hứng thú đấy,” Holmes đáp. “Và vì mỗi năm cô rút ra một khoản khá lớn là một trăm bảng, cộng thêm số tiền tự kiếm được, hẳn cô cũng thường đi du lịch đây đó và biết cách nuông chiều bản thân. Tôi tin rằng một quý cô độc thân có thể sống rất thoải mái với mức thu nhập khoảng 60 bảng.”

“Tôi có thể tằn tiện với số tiền ít ỏi hơn thế nhiều, thưa ngài Holmes. Nhưng ngài cũng hiểu cho, chừng nào còn nương náu dưới mái nhà ấy, tôi không muốn trở thành gánh nặng. Thế nên, hễ tôi còn sống chung, họ có toàn quyền định đoạt số tiền đó. Dĩ nhiên, đó chỉ là giải pháp tạm thời. Mỗi quý, dượng Windibank thay tôi đi rút tiền lãi rồi đưa hết cho mẹ. Về phần mình, tôi thấy bản thân vẫn xoay xở ổn thỏa với thu nhập từ việc đánh máy. Công việc này trả tôi hai xu mỗi trang, và thường thì tôi gõ được từ mười lăm đến hai mươi trang mỗi ngày.”

“Cô đã giúp tôi hình dung bức tranh hoàn cảnh hết sức tường tận,” Holmes nói. “Còn đây là bạn tôi, Bác sĩ Watson. Cô cứ thoải mái giãi bày trước mặt anh ấy như với chính tôi vậy. Giờ thì, mong cô vui lòng kể lại ngọn ngành về mối quan hệ giữa cô và anh Hosmer Angel.”

Một vệt ửng hồng lướt qua khuôn mặt cô Sutherland. Cô bồn chồn mân mê dải tua rua trên áo khoác rồi cất lời. “Lần đầu tiên tôi gặp anh ấy là tại buổi vũ hội của những thợ lắp đặt đường ống gas,” cô kể. “Thuở sinh thời, cha tôi thường nhận được vé mời. Sau này họ vẫn nhớ đến gia đình tôi nên đã gửi vé cho mẹ. Dượng Windibank thì đời nào muốn chúng tôi đi. Thực tình, dượng chẳng bao giờ muốn chúng tôi bước chân ra khỏi nhà. Ngay cả việc tôi đi dã ngoại cùng trường Chủ nhật cũng đủ khiến dượng nổi trận lôi đình. Nhưng lần này, tôi đã hạ quyết tâm, và tôi nhất định phải đi cho bằng được. Dượng lấy quyền gì mà cấm cản cơ chứ? Dượng chê bôi những người ở đó chẳng đáng để chúng tôi kết giao, trong khi toàn bộ bạn bè cũ của cha tôi đều góp mặt. Dượng lại còn viện cớ tôi chẳng có lấy một bộ đồ tử tế để mặc, dù trong tủ vẫn còn bộ váy nhung tím tôi chưa từng đụng đến. Rốt cuộc, vì không cản nổi, dượng đành tức tối sang Pháp giải quyết việc công ty. Còn chúng tôi - mẹ, tôi và ông Hardy, viên quản đốc cũ - đã đến dự buổi tiệc ấy. Và chính tại nơi đó, tôi đã làm quen với anh Hosmer Angel.”

“Tôi đoán rằng,” Holmes chen ngang, “khi dượng Windibank từ Pháp trở về, dượng ấy hẳn đã rất tức giận khi biết cô đi dự vũ hội.”

“Ồ, không đâu, dượng ấy lại tỏ ra rất nhã nhặn cơ. Tôi nhớ dượng đã cười, khẽ nhún vai rồi bảo rằng có cấm cản phụ nữ cũng bằng thừa, vì rốt cuộc họ cũng làm theo ý mình mà thôi.”

“Tôi hiểu rồi. Vậy là tại đêm vũ hội đó, cô đã gặp gỡ một quý ông tên Hosmer Angel, nếu tôi không lầm.”

“Vâng, thưa ngài. Chúng tôi quen nhau vào đêm đó. Ngay ngày hôm sau, anh ấy đã tới thăm để hỏi han xem chúng tôi có về nhà an toàn không. Về sau chúng tôi gặp lại nhau-ý tôi là, thưa ngài Holmes, tôi đã cùng anh dạo bước hai lần. Thế nhưng, khi cha dượng trở về, anh Hosmer Angel đành không thể ghé nhà được nữa.”

“Không thể ư?”

“Ngài biết đấy, cha dượng vốn ác cảm với những chuyện hẹn hò. Dượng chẳng bao giờ tiếp khách khứa nếu có thể tránh được, và luôn miệng rao giảng rằng phụ nữ chỉ nên tìm niềm vui trong tổ ấm gia đình. Nhưng ngài xem, như tôi vẫn thường cự nự với mẹ, một người phụ nữ trước hết phải có tổ ấm của riêng mình đã chứ, mà tôi thì nào đã có.”

“Thế còn anh Hosmer Angel thì sao? Anh ta không tìm cách gặp gỡ cô ư?”

“Chuyện là, cha dượng lại rục rịch chuẩn bị sang Pháp thêm một tuần nữa. Hosmer đã viết thư bảo rằng, để tránh rắc rối, tốt nhất chúng tôi khoan hãy gặp nhau cho đến khi dượng rời đi. Trong thời gian chờ đợi, chúng tôi có thể trao đổi thư từ. Ngày nào anh ấy cũng viết thư cho tôi. Những cánh thư thường đến vào buổi sáng, nên cha dượng chẳng mảy may hay biết.”

“Lúc này cô đã đính ước với quý ông đó chưa?”

“Ôi, vâng, thưa ngài Holmes. Chúng tôi đã đính hôn ngay sau lần dạo bước đầu tiên. Hosmer - anh Angel - là thu ngân tại một văn phòng trên phố Leadenhall - và…”

“Văn phòng nào vậy?”

“Đó mới là điều trớ trêu nhất, thưa ngài Holmes. Tôi hoàn toàn không biết.”

“Thế anh ta sống ở đâu?”

“Anh ấy ngủ lại ngay tại trụ sở làm việc.”

“Và cô cũng không biết địa chỉ của anh ta ư?”

“Không… ngoại trừ việc nơi đó nằm trên phố Leadenhall.”

“Vậy cô gửi thư đến địa chỉ nào?”

“Tôi gửi thẳng tới Bưu điện đường Leadenhall theo dạng thư chờ người nhận. Anh ấy bảo nếu gửi đến văn phòng, đám đồng nghiệp sẽ bu vào trêu chọc vì nhận được thư tình từ một quý cô. Nghe vậy, tôi định đánh máy những lá thư giống như anh vẫn làm, nhưng anh ấy nhất mực chối từ. Anh bảo khi tôi tự tay nắn nót từng chữ, anh như thấy hình bóng tôi hiện diện; còn nếu đánh máy, anh luôn có cảm giác cỗ máy lạnh lùng kia đã chen ngang giữa hai người. Ngần ấy thôi cũng đủ để ngài thấy anh ấy yêu tôi đến nhường nào, thưa ngài Holmes, và anh ấy tinh tế ra sao khi để tâm đến từng điều nhỏ nhặt nhất.”

“Quả là vô cùng gợi mở,” Holmes bình thản nói. “Từ lâu, tôi đã xem việc chú trọng các tiểu tiết là một châm ngôn sống, bởi chúng mới thực sự mang ý nghĩa sống còn. Cô có nhớ thêm tiểu tiết nào khác về anh Hosmer Angel không?”

“Anh ấy rụt rè lắm, thưa ngài Holmes. Thay vì dạo bước cùng tôi giữa thanh thiên bạch nhật, anh thà chọn những buổi tối tĩnh lặng, bởi anh ghét việc bị người đời nhòm ngó. Anh vô cùng kín kẽ và cư xử hệt như một quý ông thực thụ. Ngay cả chất giọng của anh cũng rất êm ái. Anh từng thổ lộ rằng thuở nhỏ mình hay mắc chứng viêm amidan và sưng hạch; những căn bệnh ấy đã để lại di chứng, khiến cổ họng anh yếu ớt và giọng nói lúc nào cũng ngập ngừng, thì thào. Anh ăn bận rất tươm tất, giản dị nhưng vô cùng gọn gàng. Ngặt nỗi, đôi mắt anh cũng yếu giống như tôi, thế nên anh phải đeo kính râm để chống chói.”

“Và rồi, chuyện gì đã xảy ra khi dượng Windibank trở lại Pháp?”

“Anh Hosmer Angel lại đến nhà cầu hôn. Anh khẩn khoản mong hai đứa nên duyên vợ chồng trước khi cha dượng trở về. Anh vô cùng thiết tha, bắt tôi đặt hai tay lên cuốn Kinh thánh mà thề rằng dẫu có biến cố gì xảy ra, tôi cũng sẽ một lòng một dạ thủy chung với anh. Mẹ tôi quả quyết anh ấy làm vậy là hoàn toàn phải lẽ, và đó chính là minh chứng cho một tình yêu nồng nhiệt. Ngay từ đầu mẹ đã hết lòng ủng hộ anh, thậm chí còn quý mến anh hơn cả tôi. Sau đó, khi mẹ và anh bàn bạc chuyện tổ chức hôn lễ nội trong một tuần, tôi ngỏ ý muốn hỏi qua ý kiến của cha dượng. Thế nhưng, cả hai gạt đi, bảo rằng đừng bận tâm, chỉ cần báo cáo sự tình sau khi ván đã đóng thuyền là được; mẹ còn hứa sẽ tự tay dàn xếp êm thấm mọi bề. Tôi vốn không ưng thuận cách làm ấy cho lắm, thưa ngài Holmes. Nghe thì có vẻ ngược đời khi tôi phải ngửa tay xin phép một người chỉ lớn hơn mình vài tuổi; ngặt nỗi tôi chẳng muốn làm điều gì lén lút. Vậy nên, tôi đã viết thư gửi cho cha dượng ở Bordeaux, nơi công ty mở chi nhánh tại Pháp. Oái oăm thay, bức thư lại bị gửi trả về tay tôi vào đúng buổi sáng ngày cử hành hôn lễ.”

“Vậy là thư không đến tay ông ấy ư?”

“Vâng, thưa ngài; bởi dượng đã khởi hành về Anh ngay trước khi thư kịp tới nơi.”

“Chà! Thật rủi ro thay. Vậy đám cưới của cô được ấn định vào ngày thứ Sáu. Lễ cưới diễn ra ở nhà thờ chứ?”

“Vâng, thưa ngài, nhưng chỉ tổ chức kín đáo thôi. Hôn lễ dự kiến diễn ra tại nhà thờ St. Saviour gần ngã tư King’s Cross, sau đó chúng tôi sẽ dùng bữa sáng tại khách sạn St. Pancras. Hosmer đến đón mẹ con tôi trên một chiếc xe ngựa hansom3. Vì chúng tôi có hai người, anh ấy cẩn thận dìu cả hai lên xe rồi tự mình bước lên chiếc xe ngựa bốn bánh - tình cờ lại là chiếc xe duy nhất còn sót lại trên phố. Chúng tôi đến nhà thờ trước. Khi chiếc xe ngựa bốn bánh đỗ xịch lại, chúng tôi đợi anh ấy bước xuống, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng anh đâu! Đến khi gã phu xe trèo xuống ngó vào trong, thì ôi thôi, trong xe trống hoác! Gã ta kinh ngạc tột độ, không sao hiểu nổi chuyện gì đã xảy ra, bởi chính mắt gã đã thấy anh bước vào. Sự việc đó xảy ra vào thứ Sáu tuần trước, thưa ngài Holmes. Kể từ dạo ấy đến nay, tôi bặt vô âm tín, chẳng nghe ngóng được chút manh mối nào có thể làm sáng tỏ sự mất tích bí ẩn của anh.”

“Theo tôi, cô đã bị đối xử bằng một cách tồi tệ, đáng xấu hổ,” Holmes nhận xét.

“Ôi, không, thưa ngài! Anh ấy quá đỗi hiền hậu và tử tế, đời nào lại phũ phàng bỏ rơi tôi như thế. Ngài xem, suốt cả buổi sáng hôm ấy, anh cứ dặn đi dặn lại rằng dẫu cho vạn sự xoay vần, tôi vẫn phải giữ trọn lòng chung thủy. Anh còn bảo, ngay cả khi một biến cố kinh thiên động địa xảy ra chia uyên rẽ thúy, tôi cũng phải khắc cốt ghi tâm rằng mình đã hứa hôn với anh, và sớm muộn gì anh cũng sẽ trở về đòi lại lời thề nguyện. Quả là những lời lẽ gở miệng trong một buổi sáng vu quy, nhưng những sự kiện xảy đến sau đó dường như đã minh chứng cho linh cảm của anh.”

“Chắc hẳn là thế rồi. Vậy theo thiển ý của cô, một tai ương bất ngờ nào đó đã giáng xuống đầu anh ta sao?”

“Vâng, thưa ngài. Tôi đồ rằng anh ấy đã linh cảm được một mối hiểm nguy rình rập, bằng không anh chẳng cất những lời xui xẻo ấy. Và rồi, điều anh dự liệu đã thực sự ập đến.”

“Thế nhưng cô không mường tượng được tai họa đó có thể là gì ư?”

“Hoàn toàn không.”

“Thêm một câu hỏi nữa. Mẹ cô phản ứng ra sao trước cơ sự này?”

“Mẹ vô cùng tức giận, và cấm tiệt tôi không bao giờ được nhắc tới chuyện đó nữa.”

“Thế còn cha dượng cô? Cô đã kể ngọn ngành cho dượng nghe chưa?”

“Có chứ. Và dường như dượng cũng chung suy nghĩ với tôi. Dượng đinh ninh rằng hẳn có điều chẳng lành đã xảy ra, và rằng sớm muộn gì tôi cũng sẽ nhận được tin tức của Hosmer. Như dượng phân tích, có kẻ nào rảnh rỗi đến độ cất công đưa tôi tới tận cửa nhà thờ rồi tàn nhẫn ruồng rẫy? Giả dụ anh ấy có mượn tiền của tôi, hay tính chuyện kết hôn để cuỗm trọn tài sản, thì họa chăng mới có cớ. Đằng này, Hosmer rất tự lập về tài chính và tuyệt nhiên chẳng thèm mảy may ngó ngàng đến một đồng shilling4 nào của tôi. Vậy thì chuyện quái quỷ gì đã xảy ra cơ chứ? Cớ sao anh ấy bặt vô âm tín, chẳng lấy một dòng thư? Ôi, cứ nghĩ đến là tôi lại như muốn phát điên, hằng đêm cứ trằn trọc không sao chợp mắt nổi.” Nói đoạn, cô rút chiếc khăn tay nhỏ xíu từ trong bao tay ra và bắt đầu sụt sùi khóc.

“Tôi sẽ tiếp nhận vụ án này,” Holmes đứng dậy, dõng dạc nói, “và tôi tin chắc chúng ta sẽ sớm làm sáng tỏ mọi uẩn khúc. Bây giờ, hãy trút bỏ gánh nặng ấy lên vai tôi, cô đừng để tâm trí bận bận thêm nữa. Quan trọng hơn hết, hãy gắng gạt bỏ hình bóng Hosmer Angel khỏi tâm trí, hệt như cái cách anh ta đã bốc hơi khỏi cuộc đời cô vậy.”

“Vậy ngài cho rằng tôi không còn cơ hội gặp lại anh ấy nữa sao?”

“Tôi e là vậy.”

“Thế thì rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra với anh ấy?”

“Cô cứ phó thác câu hỏi đó cho tôi. Điều tôi cần bây giờ là một bản mô tả chân dung chuẩn xác về anh ta, cùng bất kỳ bức thư tay nào của anh ta mà cô có thể cung cấp.”

“Tôi đã cho đăng tin tìm người trên tờ Chronicle vào thứ Bảy tuần trước,” cô đáp. “Đây là mẩu báo cắt ra, và đây là bốn lá thư anh ấy viết cho tôi.”

“Cảm ơn cô. Còn địa chỉ của cô thì sao?”

“Số 31 Lyon Place, Camberwell.”

“Tôi hiểu rằng cô chưa từng nắm được địa chỉ của anh Angel. Vậy nơi làm việc của cha dượng cô ở đâu?”

“Dượng là nhân viên ngoại giao, chuyên đi lại giao dịch cho hãng Westhouse & Marbank, một doanh nghiệp nhập khẩu rượu vang đỏ tầm cỡ trên phố Fenchurch.”

“Cảm ơn cô. Cô đã trình bày sự việc hết sức rành mạch. Hãy để lại những tài liệu này ở đây, và xin nhớ kỹ lời khuyên của tôi. Hãy khép lại toàn bộ sự cố này như một cuốn sách đã bị niêm phong, và đừng để nó phủ bóng đen lên cuộc đời cô thêm nữa.”

“Ngài thật tốt bụng, thưa ngài Holmes, nhưng tôi nào có thể làm ngơ như vậy. Tôi sẽ một dạ thủy chung với Hosmer. Khi anh ấy trở về, anh sẽ thấy tôi vẫn mỏi mòn đứng đợi.”

Bất chấp chiếc mũ lố bịch và khuôn mặt có phần vô cảm, niềm tin dung dị của vị khách chất phác ấy vẫn toát lên một vẻ cao quý lạ thường, buộc chúng tôi phải nghiêng mình kính trọng. Đặt xấp tài liệu mỏng tang lên bàn, cô cất bước rời đi, không quên để lại lời hứa sẽ quay lại ngay tắp lự bất cứ khi nào được triệu gọi.

Sherlock Holmes ngồi im lặng hồi lâu. Những đầu ngón tay anh chụm vào nhau, đôi chân duỗi thẳng ra phía trước, còn ánh mắt đăm đăm nhìn lên trần nhà. Lát sau, anh với tay lấy chiếc tẩu đất sét cũ kỹ, bóng nhẫy vết dầu trên giá xuống. Đối với anh, vật dụng này chẳng khác nào một vị cố vấn đắc lực. Châm lửa xong, anh ngả người ra lưng ghế. Những vòng khói xanh đặc quánh cuộn lên, bao phủ lấy một gương mặt toát lên vẻ uể oải đến vô ngần.

“Thiếu nữ ấy quả là một đối tượng nghiên cứu thú vị,” anh lên tiếng. “Tôi thấy cô ấy còn hấp dẫn hơn cả cái rắc rối cỏn con mà cô ấy mang đến; một rắc rối, nhân tiện phải nói, lại khá đỗi sáo mòn. Nếu chịu khó tra cứu lại hệ thống hồ sơ của tôi, anh sẽ bắt gặp những trường hợp tương tự ở Andover hồi năm 77, và một vụ việc na ná tại The Hague vào năm ngoái. Tuy nhiên, dẫu cho cái ý tưởng cốt lõi có cũ rích đến đâu, tôi vẫn phát hiện ra một vài chi tiết mới mẻ. Nhưng chính bản thân thiếu nữ kia mới là nguồn cung cấp thông tin dồi dào nhất.”

“Có vẻ như anh đã đọc vị được bao điều về cô ấy, những điều mà tôi hoàn toàn mù tịt,” tôi nhận xét.

“Không phải mù tịt, mà chỉ là anh không chịu chú tâm thôi, Watson ạ. Anh không biết phải hướng ánh nhìn vào đâu, và thế là anh đánh rơi mọi manh mối quan trọng. Tôi chẳng tài nào khiến anh thấm thía được tầm quan trọng của một ống tay áo, sức gợi mở của những chiếc móng tay cái, hay những nút thắt trọng đại có thể treo lơ lửng trên một dải ren buộc giày. Nào, anh đã thu thập được gì từ dáng vẻ của người phụ nữ ban nãy? Thử mô tả xem.”

“Chà, cô ấy đội một chiếc mũ rơm rộng vành màu xám đá, điểm xuyết một chiếc lông chim màu đỏ gạch. Áo khoác ngoài màu đen, đính cườm đen cùng những dải tua rua trang trí bằng ngọc trai đen li ti. Váy thì màu nâu, sẫm hơn màu cà phê một chút, viền thêm chút nhung tím ở cổ và tay áo. Đôi găng tay màu xám nhạt của cô ấy đã sờn rách ở ngón trỏ bên phải. Còn đôi bốt thì tôi không để ý. Cô ấy đeo một đôi khuyên tai bằng vàng hình tròn, lủng lẳng. Nhìn chung, cô ấy toát lên vẻ khá giả nhưng theo một lối phô trương, dễ dãi và hời hợt.”

Sherlock Holmes vỗ nhẹ hai tay vào nhau và cười khúc khích.

“Tuyệt lắm, Watson, anh đang tiến bộ một cách thần kỳ đấy. Anh thực sự làm rất tốt. Đúng là anh đã bỏ lỡ mọi thứ trọng yếu, nhưng anh đã nắm bắt được phương pháp, và anh cũng có một con mắt tinh đời về màu sắc. Đừng bao giờ tin vào những ấn tượng chung chung, anh bạn ạ, mà hãy xoáy sâu vào các tiểu tiết. Ánh nhìn đầu tiên của tôi luôn lướt qua ống tay áo của một người phụ nữ. Còn ở một gã đàn ông, tốt hơn hết là hãy nhìn vào đầu gối quần của hắn trước. Như anh đã thấy, vị khách của chúng ta có viền nhung ở tay áo, một chất liệu cực kỳ hữu dụng trong việc lưu giữ dấu vết. Đường hằn kép nằm ngay phía trên cổ tay, nơi một người đánh máy thường tì tay vào mép bàn, hiện lên rõ mồn một. Chiếc máy may loại quay tay cũng để lại một vết hằn tương tự, nhưng chỉ xuất hiện trên cánh tay trái, nằm ở vị trí cách xa ngón tay cái nhất, chứ không vắt ngang phần rộng nhất của cẳng tay như vết này. Sau đó tôi liếc nhìn khuôn mặt cô ấy. Nhận thấy dấu hằn của một chiếc kính kẹp mũi hai bên sống mũi, tôi bèn mạo muội đưa ra phán đoán về thị lực kém cùng công việc đánh máy. Điều này dường như đã khiến cô ấy phải kinh ngạc.”

“Điều đó cũng làm tôi ngạc nhiên không kém.”

“Nhưng anh thấy đấy, sự tình rành rành ra đó. Sau đó, tôi lại được phen ngạc nhiên và thích thú khi cúi nhìn xuống chân cô ấy. Dù đôi bốt cô ấy đang đi trông không mấy khác biệt, thực chất chúng lại là một đôi cọc cạch; một chiếc có mũi giày được trang trí đôi chút, còn chiếc kia lại trơn tuột. Một chiếc chỉ được cài hai cúc dưới cùng trong tổng số năm cúc, chiếc còn lại thì cài ở cúc thứ nhất, thứ ba và thứ năm. Giờ thì, khi anh bắt gặp một quý cô trẻ tuổi, vốn ăn vận tươm tất, lại bước ra khỏi nhà với đôi bốt cọc cạch và cài cúc dở dang, chẳng cần đến tài suy luận cao siêu cũng biết cô ấy đã phải vội vàng rời đi đến nhường nào.”

“Và còn gì nữa không?” tôi hỏi gặng, vô cùng hào hứng trước những suy luận sắc sảo của bạn mình, như mọi khi.

“Trong lúc tình cờ, tôi nhận ra rằng cô ấy đã vội vã viết một tờ giấy nhắn trước khi rời khỏi nhà, ngay sau khi đã sửa soạn áo quần chỉnh tề. Anh tinh mắt nhìn thấy chiếc găng tay phải của cô ấy bị rách ở ngón trỏ, nhưng anh lại không nhận ra cả găng tay lẫn ngón tay đều dính mực tím. Cô ấy đã viết vội vàng và nhúng ngòi bút vào lọ mực quá sâu. Sự việc hẳn vừa mới xảy ra sáng nay, nếu không vết mực đã chẳng in hằn rõ nét trên ngón tay đến vậy. Tất cả những manh mối này thật thú vị, dẫu rằng chúng chỉ là thứ suy luận vỡ lòng. Dẫu sao, tôi phải quay lại với công việc thôi, Watson ạ. Anh có phiền không, đọc giúp tôi đoạn mô tả về anh chàng Hosmer Angel trên mục quảng cáo tìm người với?”

Tôi giơ mẩu giấy in nhỏ lên trước ánh sáng. “Mất tích,” tờ giấy ghi rõ, “vào buổi sáng ngày mười bốn, một quý ông tên là Hosmer Angel. Cao chừng năm feet bảy inch; vóc người đậm chắc, nước da vàng vọt, tóc đen, hơi hói ở đỉnh đầu, râu quai nón và ria mép rậm rạp; có đeo kính râm che bụi, giọng nói the thé hơi yếu. Lần cuối cùng được nhìn thấy, người này mặc một chiếc áo khoác đuôi tôm màu đen viền lụa, áo gilet đen, đeo dây đồng hồ vàng hiệu Albert5, mặc quần vải tweed Harris6 màu xám, mang xà cạp nâu phủ ngoài đôi bốt chun hai bên. Được biết là đang làm việc tại một văn phòng trên phố Leadenhall. Bất cứ ai mang lại tin tức...,” vân vân và mây mây.

“Thế là đủ rồi,” Holmes ngắt lời. “Còn về những lá thư,” anh tiếp tục trong lúc liếc nhanh qua xấp giấy, “chúng chỉ là những lời lẽ mờ nhạt. Chẳng có lấy một manh mối nào lật tẩy thân phận anh Angel này, ngoại trừ việc anh ta có trích dẫn lời nhà văn Balzac một lần. Dẫu vậy, có một điểm vô cùng đáng chú ý, thứ mà chắc chắn sẽ khiến anh phải sửng sốt.”

“Chúng đều được đánh máy,” tôi nhận xét.

“Không những thế, mà ngay cả chữ ký cũng được đánh máy. Hãy nhìn vào cái tên ‘Hosmer Angel’ được gõ nhỏ nhắn, nắn nót ở cuối trang xem. Anh thấy đấy, có ngày tháng rõ ràng, nhưng tuyệt nhiên không có tiêu đề địa chỉ nào ngoài cái tên phố Leadenhall chung chung, mơ hồ. Chi tiết về chữ ký quả là một sự gợi mở đắt giá-thực tế, chúng hoàn toàn có thể được coi là bằng chứng mang tính quyết định.”

“Quyết định về điều gì cơ chứ?”

“Anh bạn thân mến, lẽ nào anh không nhìn ra nó liên quan mật thiết đến vụ án này ra sao?”

“Tôi không dám chắc mình nhìn ra điều gì, trừ phi hắn ta tính đến chuyện chối bay chối biến chữ ký của chính mình, lỡ như có một vụ kiện bội tín hôn nhân được giáng xuống đầu hắn.”

“Không, vấn đề không nằm ở đó. Dù sao thì, tôi sẽ viết hai lá thư, thứ chắc chắn sẽ giải quyết dứt điểm bí ẩn này. Một lá gửi cho một công ty ở trong Thành phố, lá còn lại gửi cho gã cha dượng của thiếu nữ kia, ông Windibank, để hỏi xem ông ta có rảnh ghé qua đây gặp chúng ta vào sáu giờ tối mai hay không. Tốt hơn hết là chúng ta nên làm việc trực tiếp với những thân nhân là nam giới. Còn bây giờ, thưa Bác sĩ, chúng ta chẳng thể làm gì thêm cho tới khi nhận được hồi âm, nên tạm thời, cứ gác lại rắc rối cỏn con này sang một bên.”

Tôi đã có thừa lý do để đặt trọn niềm tin vào khả năng suy luận sắc bén cùng nghị lực hành động phi phàm của bạn mình. Tôi cảm nhận được rằng anh hẳn phải nắm giữ những cơ sở vô cùng vững chắc mới có thể giữ được thái độ tự tin và thong dong đến vậy trước cái bí ẩn kỳ lạ mà anh vừa được ủy thác. Chỉ duy nhất một lần tôi chứng kiến anh nếm mùi thất bại, đó là trong vụ án của Đức vua xứ Bohemia cùng bức ảnh của Irene Adler. Nhưng khi hồi tưởng lại vụ việc rắc rối trong Dấu Hiệu Của Bộ Tứ, hay những tình huống ly kỳ bao trùm Hồ Sơ Vụ Án Màu Đỏ Thẫm, tôi tin chắc rằng, sẽ phải là một mớ bòng bong phức tạp đến nhường nào mới đủ sức làm khó được anh.

Tôi cáo từ để anh ở lại, tay vẫn phì phèo chiếc tẩu đất sét đen nhánh. Mang theo một niềm tin mãnh liệt rằng, khi tôi quay trở lại vào tối mai, tôi sẽ thấy anh nắm gọn trong tay mọi manh mối để vạch trần danh tính của gã chú rể mất tích đã lừa dối cô Mary Sutherland.

Hồi ấy, một ca bệnh vô cùng nghiêm trọng đã thu hút toàn bộ tâm trí tôi. Suốt cả ngày hôm sau, tôi cứ phải túc trực bên giường bệnh nhân. Mãi đến gần sáu giờ chiều, tôi mới rảnh rang đôi chút để nhảy lên một chiếc xe ngựa hansom lao thẳng tới phố Baker, trong lòng nơm nớp lo rằng mình có thể đến quá muộn để chứng kiến phần kết cục của vụ bí ẩn cỏn con này. Tuy nhiên, vừa bước vào, tôi đã thấy Sherlock Holmes đang ở một mình, nửa tỉnh nửa mê, thân hình cao gầy cuộn tròn trong góc sâu của chiếc ghế bành. Một dãy chai lọ và ống nghiệm xếp thành hàng hùng hậu, quyện cùng mùi hắc đặc trưng của axit clohydric, cho tôi biết anh đã dành trọn cả ngày chìm đắm trong niềm đam mê hóa học quen thuộc.

“Thế nào, anh đã giải quyết xong chưa?” tôi cất lời khi vừa bước vào.

“Xong rồi. Đó là bisulphate của baryta.”

“Không, không, cái vụ bí ẩn kia kìa!” tôi thốt lên.

“Ồ, chuyện đó sao! Tôi lại cứ tưởng anh đang nhắc tới loại muối mà tôi đang nghiên cứu. Vụ kia thì làm gì có bí ẩn nào đâu, mặc dù, như tôi đã nói với anh từ hôm qua, vài chi tiết trong đó cũng khá thú vị. Điểm vướng mắc duy nhất là tôi e rằng chẳng có kẽ hở luật pháp nào đủ để trừng trị gã vô lại ấy.”

“Vậy rốt cuộc hắn là ai, và mục đích thực sự của hắn khi nhẫn tâm ruồng rẫy cô Sutherland là gì?”

Câu hỏi vừa buông khỏi miệng tôi, Holmes còn chưa kịp mở lời đáp lại, thì chúng tôi đã nghe thấy tiếng bước chân nằng nặng ngoài hành lang, tiếp nối bằng một tiếng gõ cửa.

“Đó là gã cha dượng của cô gái, ông James Windibank,” Holmes điềm nhiên nói. “Anh ta đã gửi thư báo sẽ có mặt ở đây lúc sáu giờ. Xin mời vào!”

Người vừa bước vào là một gã đàn ông to khỏe, vóc người tầm thước, trạc ba mươi tuổi. Anh ta cạo râu nhẵn nhụi, nước da vàng vọt, toát lên phong thái đạo mạo nhưng đầy ẩn ý, cùng một đôi mắt xám sắc sảo có khả năng nhìn thấu tâm can người đối diện đến kỳ lạ. Anh ta ném cái nhìn dò xét về phía từng người chúng tôi, đặt chiếc mũ chóp láng bóng lên nóc tủ búp phê, khẽ cúi đầu chào rồi luồn lách ngồi xuống chiếc ghế gần nhất.

“Chào buổi tối, anh James Windibank,” Holmes cất giọng. “Tôi cho rằng bức thư đánh máy hẹn gặp lúc sáu giờ này là của anh phải không?”

“Vâng, thưa ông. Tôi e là mình đến hơi muộn một chút, nhưng ông biết đấy, tôi đâu có được hoàn toàn chủ động về thời gian. Tôi rất tiếc vì cô Sutherland đã làm phiền ông bởi mấy chuyện cỏn con này, cá nhân tôi vẫn nghĩ rằng chuyện xấu trong nhà thì chẳng nên vạch áo cho người xem lưng. Việc con bé tìm đến đây hoàn toàn đi ngược lại mong muốn của tôi, nhưng chắc ông cũng nhận ra, nó là một cô gái rất bốc đồng và dễ bị kích động, một khi đã quyết điều gì thì chẳng ai cản nổi. Tất nhiên, đối với ông thì tôi không có gì e ngại, bởi ông vốn dĩ chẳng thuộc biên chế cảnh sát chính quy, nhưng việc để một bất hạnh gia đình như thế này bị đồn thổi ra ngoài thì quả thật không mấy dễ chịu. Hơn nữa, đó cũng chỉ là một khoản chi phí phù phiếm, vì làm sao ông có thể lùng ra được gã Hosmer Angel đó chứ?”

“Ngược lại cơ đấy,” Holmes nhẹ nhàng đáp lời; “tôi có đủ mọi lý do để tin chắc rằng mình sẽ thành công trong việc tìm ra anh Hosmer Angel.”

Windibank giật nảy mình và đánh rơi cả đôi găng tay. “Được nghe vậy, tôi mừng lắm,” hắn nói.

“Có một điều khá thú vị thế này,” Holmes nhận xét, “một chiếc máy chữ thực ra cũng mang đậm dấu ấn cá nhân chẳng kém gì nét chữ viết tay của con người. Trừ khi là hàng mới đập hộp, còn không thì sẽ chẳng bao giờ có hai chiếc máy đánh ra những dòng chữ giống hệt nhau. Một số con chữ sẽ bị mòn nhiều hơn những chữ khác, có chữ lại chỉ bị mòn lệch hẳn về một bên. Chẳng hạn, anh hãy nhìn vào mảnh giấy ghi chú này xem, anh Windibank, anh sẽ thấy tất cả các chữ ‘e’ đều bị nhòe mờ đôi chút, còn phần đuôi của chữ ‘r’ thì lại bị khuyết một nét nhỏ. Vẫn còn tới mười bốn đặc điểm khác nữa, nhưng đó là hai chi tiết dễ nhận diện hơn cả.”

“Chúng tôi dùng chiếc máy này để đánh mọi giấy tờ ở văn phòng, nên chẳng có gì lạ khi nó đã hơi hao mòn,” vị khách của chúng tôi đáp lời, đồng thời phóng một cái nhìn sắc lẹm về phía Holmes bằng đôi mắt nhỏ sáng quắc.

“Và bây giờ, tôi sẽ cho anh thấy một nghiên cứu thực sự rất thú vị, anh Windibank ạ,” Holmes tiếp lời. “Tôi đang ấp ủ dự định một ngày nào đó sẽ viết một bài chuyên khảo nhỏ về máy chữ và mối liên hệ của nó với tội phạm. Đó là một chủ đề mà tôi đã dành khá nhiều tâm huyết nghiên cứu. Ở đây, tôi có bốn lá thư được cho là do gã đàn ông mất tích kia gửi đến. Tất thảy đều được đánh máy. Trong từng bức thư, không chỉ có những chữ ‘e’ bị nhòe và những chữ ‘r’ mất đuôi, mà nếu anh chịu khó soi qua chiếc kính lúp này của tôi, anh sẽ thấy cả mười bốn đặc điểm khác mà tôi vừa nhắc đến cũng đều hiện diện đầy đủ.”

Windibank bật vùng dậy khỏi ghế, vơ vội chiếc mũ. “Tôi không rảnh để lãng phí thời gian vào mấy chuyện nhảm nhí này, thưa ông Holmes,” hắn gắt. “Nếu ông đủ sức tóm được gã đó thì cứ việc, và khi nào xong xuôi thì hãy báo cho tôi.”

“Chắc chắn rồi,” Holmes ung dung bước tới chỗ cánh cửa và vặn ổ khóa. “Vậy thì tôi báo cho anh hay, tôi đã tóm gọn được hắn rồi đấy!”

“Cái gì! Ở đâu cơ?” Windibank thét lên, đôi môi tái nhợt đi, hai mắt dáo dác đảo quanh như một con chuột sa bẫy.

“Ồ, thế này thì hỏng-thực sự là hỏng bét rồi,” Holmes nói bằng một giọng ngọt nhạt. “Anh chẳng có cửa nào thoát khỏi chuyện này đâu, anh Windibank ạ. Mọi chuyện đã quá rành rành, và anh quả là biết cách châm chọc khi cho rằng tôi không thể giải quyết nổi một câu đố cỏn con như thế này. Đúng thế đấy! Cứ ngồi xuống đi, rồi chúng ta sẽ cùng nhau bàn bạc.”

Vị khách của chúng tôi sụp xuống ghế, khuôn mặt trắng bệch, những giọt mồ hôi lạnh lấm tấm tuôn đầy trên trán. “Chuyện này-chuyện này đâu có cơ sở để khởi kiện,” hắn lắp bắp.

“Tôi cũng rất e là luật pháp chẳng làm gì được. Nhưng nói thật với nhau nhé, Windibank, đó là một trò lừa đảo tàn nhẫn, ích kỷ và vô lương tâm đến mức đê hèn nhất mà tôi từng chứng kiến. Bây giờ, hãy để tôi điểm lại toàn bộ chuỗi sự kiện, và anh cứ việc bắt bẻ nếu tôi nói sai chỗ nào.”

Gã đàn ông ngồi co rúm trên ghế, đầu gục sát ngực, hệt như một kẻ đã bị đánh gục hoàn toàn. Holmes gác chân lên góc bệ lò sưởi, ngả người ra sau, hai tay đút thõng vào túi quần, bắt đầu cất giọng, tựa hồ như đang nói với chính mình hơn là nói với chúng tôi.

“Một gã trai đã lấy một người phụ nữ lớn hơn mình rất nhiều tuổi chỉ vì thèm khát khối tài sản của bà ta,” anh trầm ngâm, “và hắn hiển nhiên được toàn quyền sử dụng khoản tiền của cô con gái riêng chừng nào cô ấy vẫn còn sống chung dưới một mái nhà. Xét trên địa vị của họ, đó là một khoản tiền khổng lồ, và nếu đánh mất nó, cuộc sống của họ sẽ chao đảo nghiêm trọng. Khối tài sản ấy quả thực rất đáng để bỏ công sức ra mà gìn giữ. Cô con gái là một người dễ mến, tính tình hiền lành, lại chan chứa tình cảm và có lối hành xử vô cùng ấm áp. Rõ ràng, với nhan sắc khá mặn mà cùng một khoản thu nhập ổn định, chẳng chóng thì chầy cô ấy cũng sẽ có người rước đi. Lúc này, sự xuất giá của cô đồng nghĩa với việc họ sẽ tuột mất một trăm bảng mỗi năm, vậy gã cha dượng đáng kính kia đã giở trò gì để ngáng đường? Ban đầu, hắn dùng cách thức lộ liễu nhất là giam lỏng cô bé ở nhà, cấm tiệt cô qua lại hay kết bạn với những người đồng trang lứa. Nhưng chẳng bao lâu sau, hắn nhanh chóng nhận ra chiêu bài này không thể kéo dài mãi. Cô gái bắt đầu phản kháng, khăng khăng đòi quyền tự do cho bản thân, và cuối cùng tuyên bố dứt khoát rằng mình sẽ tham dự một buổi dạ vũ. Gã cha dượng ranh ma kia đã ứng phó ra sao? Hắn liền nảy ra một quỷ kế chỉ chứng tỏ bộ óc tinh vi chứ chẳng nói lên được chút lương tâm nào. Dưới sự đồng lõa và tiếp tay của chính người vợ, hắn đã dày công cải trang: giấu cặp mắt sắc lẹm sau cặp kính râm, che lấp khuôn mặt dưới bộ ria mép và hàm râu quai nón rậm rạp, hạ tông giọng trong trẻo thường ngày thành những tiếng thì thầm đầy ám muội. Hắn lại còn tận dụng triệt để thị lực kém của cô gái như một tấm bình phong vững chắc, rồi đường hoàng xuất hiện dưới cái lốt anh Hosmer Angel, chủ động tán tỉnh con bé để dọn sạch mọi đối thủ có ý đồ lân la.”

“Ban đầu, đó chỉ là một trò đùa thôi,” vị khách của chúng tôi rền rĩ. “Chúng tôi chẳng bao giờ ngờ con bé lại lún sâu đến thế.”

“Rất có thể là như vậy. Nhưng dù thế nào chăng nữa, quý cô trẻ kia quả thật đã bị cuốn vào vòng xoáy ái tình, và vì đã đinh ninh rằng gã cha dượng đang đi vắng tận nước Pháp, nên tâm trí cô chẳng mảy may gợn lên một chút nghi ngờ nào về trò phản bội này. Cô bé đắm chìm trong những cử chỉ quan tâm ân cần của người đàn ông nọ, và hiệu ứng ấy lại càng được thổi bùng lên nhờ những lời tán dương không ngớt từ chính mẹ ruột mình. Sau đó, anh Angel bắt đầu đến thăm nhà thường xuyên, bởi rõ ràng để màn kịch này có sức nặng, hắn phải đẩy mọi thứ đi xa nhất có thể. Rồi những cuộc hẹn hò lén lút diễn ra, kéo theo đó là một lễ đính hôn-phát súng quyết định nhằm trói chặt trái tim cô gái, khiến cô vĩnh viễn không màng đến bất cứ người đàn ông nào khác. Tuy nhiên, cái vỏ bọc lừa dối này đâu thể gồng gánh mãi được. Những chuyến đi Pháp giả tạo bắt đầu trở nên quá sức cồng kềnh. Bước đi hiển nhiên tiếp theo là phải hạ màn vở kịch theo một cách thật chấn động, sao cho nó khắc sâu một vết thương khó phai vào tâm trí cô gái trẻ, khiến cô phải tuyệt vọng và tránh xa mọi kẻ cầu hôn khác trong suốt một thời gian dài đằng đẵng. Chính vì vậy mới sinh ra những lời thề nguyền chung thủy đầy bi tráng trước cuốn Kinh thánh, và cũng vì thế mới có những lời úp mở đầy ẩn ý về một biến cố nào đó có thể ập đến ngay trong buổi sáng ngày thành hôn. James Windibank muốn trói chặt số phận cô Sutherland vào hình bóng Hosmer Angel, khiến cô mãi mãi day dứt về sự mất tích bí ẩn của hắn, để rồi dẫu cho mười năm có trôi qua, cô cũng chẳng buồn để mắt tới bất kỳ người đàn ông nào khác. Hắn cất công hộ tống cô đến tận cửa nhà thờ, và sau đó, khi nhận ra vở diễn không thể tiếp tục, hắn đã chọn cách rút lui đầy êm thấm bằng một mánh lới cũ rích: bước lên chiếc xe ngựa bốn bánh từ cửa này và thản nhiên tuồn ra bằng cửa kia. Tôi thiết nghĩ đó chính là toàn bộ diễn biến của câu chuyện, anh Windibank ạ!”

Vị khách của chúng tôi dường như đã lấy lại được chút tự tin trong lúc Holmes đang nói, và giờ đây, hắn lững thững đứng dậy khỏi ghế, một nụ cười khẩy lạnh ngắt vắt ngang khuôn mặt trắng bệch.

“Có thể là thế, mà cũng có thể không phải thế, thưa ông Holmes,” hắn cất giọng thách thức, “nhưng nếu ông thực sự sắc sảo đến vậy, hẳn ông thừa thông minh để nhận ra rằng chính ông mới là kẻ đang chà đạp lên luật pháp lúc này, chứ đâu phải tôi. Từ đầu chí cuối, tôi chẳng làm gì đáng để bị lôi ra tòa cả, nhưng chừng nào ông còn đóng chặt cánh cửa kia, thì ông đang tự chuốc lấy nguy cơ bị tống giam vì tội hành hung và bắt giữ người trái phép đấy.”

“Quả đúng như anh nói, luật pháp chẳng thể sờ gáy anh,” Holmes đáp, đưa tay vặn ổ khóa rồi ném tung cánh cửa ra, “nhưng trên đời này làm gì có gã đàn ông nào đáng bị trừng trị hơn anh. Nếu quý cô trẻ kia mà có một người anh trai hay một người bạn tri kỷ nào, hẳn anh ta sẽ phải giáng cho anh một trận roi nhừ tử. Lạy Chúa!” anh gầm lên, nét mặt đỏ phừng phừng giận dữ khi chạm phải nụ cười khẩy đầy cay độc của gã đàn ông, “chuyện này vốn chẳng nằm trong phạm vi ủy thác của khách hàng, nhưng đằng kia đang sẵn có một chiếc roi săn, và tôi thiết nghĩ mình nên tự ban cho bản thân cái đặc quyền được-” Anh dấn nhanh hai bước về phía ngọn roi, nhưng còn chưa kịp vươn tay chạm tới, thì một tràng tiếng bước chân chạy trối chết đã vang lên huỳnh huỵch trên cầu thang, cánh cửa lớn dưới sảnh đóng sầm lại một tiếng chát chúa. Nhìn qua ô cửa sổ, chúng tôi thấy gã James Windibank đang cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng xuống phố.

“Đúng là một gã vô lại máu lạnh!” Holmes bật cười khanh khách, thả người rơi phịch xuống chiếc ghế bành một lần nữa. “Cái thứ như hắn rồi sẽ trượt dài từ tội ác này sang tội ác khác, cho đến khi trót gây ra một tội tày trời nào đó, để rồi đền tội trên giá treo cổ mà thôi. Dù sao thì vụ án này, xét ở một khía cạnh nào đó, cũng không hẳn là thiếu đi những điều thú vị.”

“Thú thật là tới giờ tôi vẫn chưa thể hiểu cặn kẽ từng bước suy luận của anh,” tôi lên tiếng.

“Chà, ngay từ khi bắt đầu, mọi thứ đã rành rành ra đó: cái gã Hosmer Angel kia hẳn phải ôm một dã tâm ghê gớm nào đó mới có những hành tung mờ ám đến vậy. Và cũng rõ mười mươi rằng, theo những gì chúng ta chứng kiến, kẻ duy nhất thực sự được hưởng lợi từ sự cố này không ai khác chính là gã cha dượng. Tiếp đến, cái chi tiết hai người đàn ông đó chẳng bao giờ xuất hiện cùng lúc, hễ người này vắng mặt thì kẻ kia mới ló dạng, quả là một manh mối đầy hứa hẹn. Chiếc kính râm và chất giọng là lạ kia cũng thế, tất cả đều bốc mùi của một màn cải trang trắng trợn, chưa kể đến bộ râu quai nón rậm rạp rởm đời. Mọi mối nghi ngờ trong tôi đã hoàn toàn được kiểm chứng khi gã lại có hành động kỳ quặc là dùng máy để đánh luôn cả chữ ký của mình. Điều đó ngầm khẳng định rằng nét chữ viết tay của hắn đã quá quen thuộc với cô gái, quen đến mức chỉ cần một mẩu nhỏ nhoi thôi cũng đủ để con bé vạch trần. Anh thấy đấy, tất cả những tình tiết riêng rẽ này, đan xen cùng hàng loạt chi tiết nhỏ nhặt khác, đều nhất tề quy tụ về một hướng duy nhất.”

“Thế rồi anh làm cách nào để xác minh những chuỗi móc xích ấy?”

“Một khi đã nhắm trúng mục tiêu thì việc thu thập thêm chứng cứ xác thực chỉ là chuyện nhỏ. Tôi vốn nắm rõ công ty mà gã đàn ông này đang làm việc. Từ bản mô tả in sẵn, tôi đã lược bỏ đi mọi chi tiết khả nghi là sản phẩm của màn cải trang-bộ râu quai nón, cặp kính râm, chất giọng-và gửi thẳng tới công ty nọ, nhờ họ đối chiếu xem nó có trùng khớp với diện mạo của bất cứ nhân viên chào hàng nào của họ không. Tôi cũng đã tinh ý nhận ra những lỗi đặc thù trên chiếc máy đánh chữ, nên quyết định viết thư trực tiếp cho gã đến địa chỉ cơ quan để hỏi xem liệu hắn có rảnh rỗi ghé qua đây hay không. Đúng như dự đoán, lời hồi đáp của hắn được đánh máy phẳng phiu và phơi bày nguyên vẹn những khiếm khuyết nhỏ nhặt nhưng vô cùng đặc trưng ấy. Cùng với đó, trong chuyến thư sáng nay, tôi còn nhận được một bức thư từ công ty Westhouse & Marbank ở phố Fenchurch. Họ khẳng định rằng đoạn mô tả ấy trùng khớp hoàn hảo tới từng chi tiết với diện mạo của gã nhân viên James Windibank của họ. Voilà tout (Chỉ có thế thôi)!”

“Vậy còn cô Sutherland thì sao?”

“Nếu tôi có kể tuốt luốt mọi chuyện, chắc gì cô ấy đã chịu tin. Hẳn anh vẫn nhớ câu ngạn ngữ cổ của người Ba Tư chứ: ‘Kẻ nào cướp mất đứa con của một con cọp cái sẽ rước họa vào thân, nhưng kẻ nào dám giật phăng một ảo ảnh khỏi tay một người đàn bà thì cũng hiểm nguy chẳng kém.’ Câu răn dạy của Hafiz chở nặng những triết lý sâu xa chẳng kém gì những lời thông thái của Horace, và cả hai đều thấm đẫm một sự am tường sâu sắc về lẽ đời.”



  1. Nữ tước xứ Devonshire (Georgiana Cavendish) là một biểu tượng thời trang và xã hội ở Anh cuối thế kỷ 18, người đã tạo ra trào lưu đội mũ rộng vành trang trí lông đà điểu lệch sang một bên. 

  2. Thành ngữ tiếng Pháp có nghĩa là "chuyện tình cảm" hoặc "vấn đề của trái tim", thường được dùng để ám chỉ một mối quan hệ lãng mạn hoặc rắc rối tế nhị trong tình yêu. 

  3. Hansom cab là loại xe ngựa kéo hai bánh phổ biến ở London thế kỷ 19. Xe được thiết kế nhanh nhẹn, chở được tối đa hai hành khách ngồi phía trước, trong khi xà ích (người điều khiển) ngồi ở một bục cao phía sau. 

  4. Đơn vị tiền tệ kim loại cũ của Anh. Trước hệ thống thập phân năm 1971, một bảng Anh (pound) tương đương với 20 shilling. 

  5. Albert chain là kiểu dây chuyên dụng để đeo đồng hồ bỏ túi, một đầu cài vào khuy áo gilet và đầu kia nối với chiếc đồng hồ. Phong cách này được đặt theo tên Hoàng tế Albert, phu quân của Nữ hoàng Victoria. 

  6. Harris Tweed là loại vải len thô dệt tay truyền thống trứ danh của vùng quần đảo Tây Bắc Scotland. Nó rất bền và ấm, được coi là chất liệu đặc trưng cho trang phục mùa đông của nam giới Anh Quốc thời bấy giờ.