XI. VỤ ÁN CHIẾC VƯƠNG MIỆN BERYL
"Holmes," tôi cất tiếng khi đang đứng tựa bên khung cửa sổ lồi vào một buổi sáng, phóng tầm mắt xuống dãy phố bên dưới, "có một gã điên đang tiến lại kìa. Thật xót xa khi gia đình lại để ông ta lang thang ngoài đường một mình."
Anh bạn tôi uể oải vươn mình khỏi chiếc ghế bành, đút hai tay vào túi chiếc áo khoác ngủ rồi bước tới đứng nhìn qua vai tôi. Đó là một sớm tháng Hai quang đãng và rực rỡ, lớp tuyết rơi từ hôm qua vẫn còn phủ dày đặc trên mặt đất, ánh lên lấp lánh dưới những tia nắng mùa đông. Dưới lòng đường Baker, dải tuyết đã bị bánh xe cày xới thành một đám bùn nâu nát bươm, nhưng dọc hai bên lề và trên những gờ vỉa hè được vun cao, tuyết vẫn trải một màu trắng muốt như thuở mới rơi. Mặt đường xám ngắt đã được quét tước sạch sẽ, nhưng lại trơn trượt đến mức rợn người, vì thế mà lác đác người qua lại hơn hẳn thường ngày. Thật tình, từ hướng nhà ga Metropolitan1 chẳng có một bóng người nào đang tiến tới, ngoại trừ vị quý ông đơn độc, kẻ vừa thu hút sự chú ý của tôi bằng thứ hành động vô cùng quái gở.
Đó là một người đàn ông trạc độ ngũ tuần, vóc dáng cao lớn, bệ vệ và oai nghiêm, với một khuôn mặt to bản, những đường nét cương nghị và một dáng vẻ toát lên đầy quyền uy. Ông ta ăn vận theo một phong cách trầm mặc nhưng sang trọng, khoác trên mình chiếc áo choàng dài màu đen thẫm, đầu đội chiếc mũ chóp lấp lánh, chân mang đôi ghệt nâu gọn gàng cùng chiếc quần dài màu xám ngọc trai được cắt may vô cùng khéo léo. Thế nhưng, nhất cử nhất động của ông ta lại tạo ra một sự tương phản kệch cỡm đến nực cười với vẻ trang trọng của bộ y phục cũng như nét mặt. Ông ta đang guồng chân chạy thục mạng, thi thoảng lại cất lên những bước nhảy cẫng nhún nhảy, hệt như một kẻ đã mệt lử, vốn chẳng quen với việc bắt đôi chân mình phải hoạt động cường độ cao. Trong lúc chạy, hai cánh tay ông ta vung vẩy lên xuống liên hồi, đầu lắc lư lảo đảo, còn khuôn mặt thì nhăn nhó tạo thành những biểu cảm kỳ dị nhất trên đời.
"Rốt cuộc thì có chuyện quái quỷ gì đang giáng xuống đầu ông ta vậy?" tôi cất tiếng hỏi. "Ông ta đang dáo dác nhìn lên số nhà kìa."
"Tôi tin là ông ta đang tìm đến đây," Holmes đáp lời, hai tay xoa xoa vào nhau.
"Đến đây ư?"
"Chính xác; tôi khá chắc mẩm rằng ông ta đang tìm đến để tham khảo ý kiến chuyên môn của tôi. Tôi nghĩ rằng mình nhận ra những triệu chứng quen thuộc đó. Ha! Tôi đã nói với anh chưa nhỉ?" Khi anh vừa dứt lời, người đàn ông kia, miệng vẫn thở hồng hộc, lao sầm đến trước cửa nhà chúng tôi và giật mạnh sợi dây chuông cho đến khi cả ngôi nhà phải rung lên bần bật bởi tiếng leng keng chát chúa.
Chỉ vài khoảnh khắc sau, ông ta đã hiện diện trong căn phòng của chúng tôi, ngực vẫn phập phồng, tay vẫn vung vẩy ra hiệu, nhưng kèm theo đó là một vẻ đau buồn và tuyệt vọng hằn sâu trong ánh mắt, đến nỗi nụ cười của hai chúng tôi ngay lập tức tắt ngấm, nhường chỗ cho sự kinh hoàng và lòng trắc ẩn. Trong một thoáng, ông ta nghẹn ngào không thể thốt nên lời, chỉ biết lắc lư thân mình và bứt rứt mái tóc như một kẻ đã bị dồn đến bờ vực thẳm của sự tỉnh táo. Rồi đột nhiên, ông ta chồm người dậy, đập mạnh đầu vào tường với một lực dữ dội đến mức cả hai chúng tôi phải vội vã lao tới kéo ông ta ra giữa phòng. Sherlock Holmes ấn ông ta ngồi xuống chiếc ghế bành, rồi ngồi kề bên, vỗ nhè nhẹ vào tay ông ta và cất tiếng trò chuyện bằng chất giọng trầm ấm, êm dịu mà anh biết thừa cách để vận dụng.
"Ông tìm đến chỗ tôi để giãi bày câu chuyện của mình, có phải vậy không?" anh ôn tồn nói. "Ông đang kiệt sức vì quá gấp gáp. Xin hãy nán lại đôi chút cho đến khi tâm can bình tĩnh hơn, và rồi tôi sẽ rất vinh hạnh được xem xét bất kỳ vấn đề nhỏ nhặt nào mà ông có thể đệ trình."
Người đàn ông ngồi lặng đi chừng một phút hoặc hơn, lồng ngực vẫn phập phồng, gồng mình đấu tranh với mớ cảm xúc hỗn độn. Đoạn, ông ta rút khăn tay lau vội những giọt mồ hôi trên trán, mím chặt đôi môi và quay mặt về phía chúng tôi.
"Chắc hẳn các ngài đang nghĩ tôi là một kẻ điên rồ?" ông ta cất giọng.
"Tôi nhìn thấy ông vừa vướng phải một rắc rối tày đình," Holmes đáp lời.
"Chỉ có Chúa mới thấu hiểu được tôi đã gặp phải kiếp nạn gì! - một rắc rối đủ sức đánh sập cả lý trí của tôi, nó ập đến quá đỗi đột ngột và kinh hoàng. Sự bêu riếu trước công chúng thì họa chăng tôi còn đủ sức đương đầu, dẫu tôi vốn là một người mà danh dự chưa từng dính một vết nhơ. Nỗi thống khổ chốn tư phòng cũng là phần số của mỗi kiếp người; thế nhưng, cả hai lại cùng lúc giáng xuống, và dưới một hình hài quá đỗi khủng khiếp, đã đủ để làm chấn động đến tận cùng linh hồn tôi. Hơn thế nữa, chuyện này không chỉ dính dáng đến một mình tôi. Ngay cả nhân vật cao quý bậc nhất trên đất nước này cũng có thể phải chuốc lấy hậu quả, trừ phi chúng ta tìm ra được manh mối giải quyết vụ việc kinh thiên động địa này."
"Xin ông hãy bình tâm lại," Holmes lên tiếng, "và xin hãy cho tôi được rõ ngài là ai, cũng như cớ sự gì đã giáng xuống đầu ngài."
"Tên tôi," vị khách của chúng tôi đáp lời, "có lẽ đã chẳng còn xa lạ gì với tai ngài. Tôi là Alexander Holder, thuộc ngân hàng Holder & Stevenson, tọa lạc tại phố Threadneedle2."
Cái tên ấy quả thực rất đỗi quen thuộc với chúng tôi, bởi nó thuộc về một vị đối tác cấp cao của một ngân hàng tư nhân tầm cỡ thứ hai tại khu Trung tâm tài chính London. Vậy thì rốt cuộc biến cố gì đã có thể xảy ra, đẩy một trong những công dân máu mặt bậc nhất London đến tình cảnh thê thảm nhường này? Chúng tôi chờ đợi, trĩu nặng sự tò mò, cho đến khi ông ta vận chút nỗ lực cuối cùng để lấy lại sự điềm tĩnh và bắt đầu giãi bày câu chuyện của mình.
"Tôi cảm thấy thời gian lúc này là vàng là ngọc," ông ta nói; "đó là lý do tại sao tôi lại tất tả chạy đến đây ngay khi viên thanh tra cảnh sát khuyên tôi nên tìm kiếm sự tương trợ từ ngài. Tôi đã bắt chuyến tàu điện ngầm đến phố Baker và vội vã cuốc bộ từ đó tới đây, bởi xe ngựa nhích từng bước quá đỗi rùa bò qua lớp tuyết này. Chính vì lẽ đó mà tôi lại hụt hơi đến vậy, bởi tôi vốn là một người rất hiếm khi vận động. Bây giờ thì tôi đã thấy khá hơn rồi, và tôi sẽ trình bày các sự kiện với ngài một cách súc tích nhưng tường tận nhất có thể.
"Hẳn ngài cũng tường tận một điều rằng, trong guồng quay của một doanh nghiệp ngân hàng đang trên đà hưng thịnh, khả năng săn lùng các khoản đầu tư béo bở cho nguồn quỹ của chúng tôi cũng mang tính sống còn y như việc mở rộng các mối quan hệ và thu hút thêm lượng người gửi tiền. Một trong những phương thức sinh lời hấp dẫn nhất để giải ngân chính là thông qua các khoản vay, nơi mà tài sản thế chấp phải nằm ở mức không thể chê vào đâu được. Vài năm trở lại đây, chúng tôi đã trúng đậm trong lĩnh vực này, và có cơ man nào là các gia tộc quyền quý đã được chúng tôi ứng trước cho những khoản tiền khổng lồ, dựa trên tài sản thế chấp là những bức danh họa, những kho sách quý, hay những món đồ bạc gia truyền của họ.
"Vào buổi sáng ngày hôm qua, khi tôi đang an tọa trong văn phòng tại ngân hàng, thì một nhân viên bước vào và đệ lên cho tôi một tấm danh thiếp. Tôi đã giật thót mình khi lướt qua cái tên, vì đó không ai khác chính là - chà, có lẽ ngay cả với ngài tôi cũng không nên hé răng nhiều hơn rằng, đó là một cái tên lừng lẫy trên toàn thế giới - một trong những cái tên cao quý nhất, vĩ đại nhất, uy danh lẫy lừng nhất nước Anh. Tôi đã bị choáng ngợp bởi niềm vinh hạnh tột bậc và toan cất lời bày tỏ điều đó khi ngài ấy bước vào, nhưng ngài ấy ngay lập tức đi thẳng vào công việc với vẻ mặt của một người đang nóng lòng muốn trút bỏ một gánh nặng khó chịu.
"'Ông Holder,' ngài ấy cất giọng, 'Tôi được biết rằng ông thường có thói quen cho vay tiền.'
"'Công ty chúng tôi luôn sẵn lòng khi tài sản thế chấp có giá trị,' tôi đáp lời.
"'Việc tôi phải gom cho đủ 50.000 bảng Anh ngay lúc này là một vấn đề sống còn,' ngài ấy nói. 'Tất nhiên, tôi hoàn toàn có thể mượn số tiền cỏn con ấy gấp hàng chục lần từ những bằng hữu của mình, nhưng tôi muốn coi đây là một phi vụ công việc và tự mình giải quyết cho xong. Ở vị trí của tôi, ông hẳn cũng dư sức hiểu rằng, việc tự trói buộc bản thân vào những nghĩa vụ nợ nần ân tình là một bước đi thiếu khôn ngoan.'
"'Xin mạn phép cho tôi được hỏi, ngài sẽ cần số tiền này trong vòng bao lâu?' tôi hỏi.
"'Vào thứ Hai tới, tôi sẽ nhận được một khoản tiền lớn, và khi đó tôi cam đoan sẽ hoàn trả lại đầy đủ những gì ông đã ứng trước, kèm theo bất kỳ khoản lãi suất nào mà ông cho là hợp lý. Nhưng điều mang tính chất sống còn đối với tôi là số tiền đó phải được giao dịch ngay tắp lự.'
"'Tôi vô cùng vinh hạnh được ứng trước số tiền đó từ nguồn quỹ cá nhân của mình mà không cần phải đắn đo thêm lời nào,' tôi nói, 'nếu như sức ép của nó không vượt quá khả năng của tôi. Mặt khác, nếu tôi giải ngân dưới danh nghĩa công ty, thì để đảm bảo sự công bằng với đối tác của mình, tôi buộc phải giữ vững nguyên tắc rằng, dẫu có là trường hợp của ngài đi chăng nữa, mọi biện pháp phòng ngừa mang tính kinh doanh đều phải được thực thi nghiêm ngặt.'
"'Tôi cũng rất mong muốn được như vậy,' ngài ấy nói, đồng thời nhấc lên một chiếc hộp hình vuông bằng da morocco3 màu đen mà ngài ấy đã đặt cạnh ghế. 'Chắc hẳn ông đã từng nghe danh về chiếc Vương miện Beryl?'
"'Đó là một trong những bảo vật công quý giá nhất của đế quốc,' tôi đáp.
"'Chính xác.' Ngài ấy mở tung chiếc hộp ra, và nằm đó, được khảm trên lớp nhung mềm mại màu da người, là món trang sức tráng lệ mà ngài ấy vừa nhắc tới. 'Trên này đính ba mươi chín viên ngọc beryl4 khổng lồ,' ngài ấy nói, 'và giá trị của phần vàng chạm trổ là thứ không thể đong đếm. Mức định giá thấp nhất cũng đặt giá trị của chiếc vương miện này gấp đôi số tiền mà tôi vừa yêu cầu. Tôi sẵn lòng để nó lại chỗ ông như một món tài sản thế chấp.'
"Tôi đỡ lấy chiếc hộp quý giá trên tay, bối rối đưa mắt nhìn từ nó sang vị khách lừng lẫy của mình.
"'Ông đang hoài nghi về giá trị của nó sao?' ngài ấy hỏi.
"'Không hề. Tôi chỉ đắn đo -'
"'Về sự đúng đắn trong việc tôi để nó lại. Ông có thể gạt bỏ mọi muộn phiền về chuyện đó. Tôi sẽ chẳng đời nào ôm mộng làm một việc như thế nếu tôi không nắm chắc mười mươi rằng mình sẽ chuộc lại nó trong vòng bốn ngày nữa. Đây rành rành chỉ là một thủ tục. Tài sản thế chấp như vậy đã đủ sức thuyết phục chưa?'
"'Quá sức thuyết phục.'
"'Ông phải hiểu cho, ông Holder, rằng tôi đang trao tận tay ông một minh chứng đanh thép cho niềm tin tuyệt đối mà tôi đặt vào ông, dựa trên tất thảy những gì tôi đã được nghe về ông. Tôi gửi gắm niềm tin vào việc ông không chỉ kín kẽ và dập tắt mọi lời đàm tiếu về vấn đề này, mà trên hết, mong ông hãy bảo quản chiếc vương miện này bằng mọi biện pháp phòng ngừa có thể, bởi tôi không cần phải rào đón thêm rằng, một vụ bê bối rúng động dư luận sẽ nổ ra nếu có bất kỳ tổn hại nào giáng xuống nó. Bất cứ một vết xước dù là nhỏ nhất cũng nghiêm trọng chẳng kém gì việc đánh mất nó hoàn toàn, vì chẳng có viên ngọc beryl nào trên thế gian này có thể sánh ngang với những viên ngọc ấy, và chúng là thứ độc nhất vô nhị. Dẫu vậy, tôi vẫn giao phó nó cho ông với tất cả sự tín nhiệm, và tôi sẽ đích thân đến rước nó về vào sáng thứ Hai.'
"Thấy vị khách của mình đang nôn nóng muốn rời đi, tôi chẳng nói thêm lời nào mà gọi ngay viên thu ngân, lệnh cho anh ta đếm đủ năm mươi tờ bạc mệnh giá 1000 bảng Anh. Thế nhưng, khi chỉ còn trơ trọi một mình với chiếc hộp quý giá chễm chệ trên bàn trước mặt, tôi không thể gạt bỏ những mối âu lo về thứ trách nhiệm oằn vai mà nó mang lại. Không còn mảy may nghi ngờ gì nữa, vì đây vốn là bảo vật quốc gia, một vụ bê bối động trời sẽ bùng nổ nếu có bất cứ rủi ro nào giáng xuống nó. Tôi đã bắt đầu ân hận vì trót gật đầu đồng ý cất giữ nó. Dẫu sao thì lúc này cũng đã quá muộn màng để lật ngược vấn đề, vì vậy tôi cẩn thận khóa nó vào chiếc két sắt riêng rồi quay lại với mớ công việc.
"Khi màn đêm buông xuống, tôi linh cảm rằng sẽ là một sự cẩu thả đến tột cùng nếu bỏ lại một món đồ quá đỗi giá trị như vậy ở chốn văn phòng. Két sắt của ngân hàng đã từng bị bọn trộm cạy phá trước đây, vậy thì cớ gì két sắt của tôi lại thoát được kiếp nạn đó? Nếu điều đó thực sự xảy ra, thì tình thế mà tôi rơi vào sẽ thê thảm biết nhường nào! Do đó, tôi đi đến quyết định rằng trong vài ngày tới, tôi sẽ luôn mang theo chiếc hộp bên mình như hình với bóng, dẫu đi đâu về đâu, để nó không bao giờ có cơ hội tuột khỏi tầm mắt của tôi. Mang theo ý niệm đó, tôi gọi một chiếc xe ngựa và rong ruổi về nhà ở Streatham5, mang theo món đồ trang sức quý giá. Tôi đã không thể trút tiếng thở phào nhẹ nhõm cho đến khi tự tay mang nó lên lầu và khóa chặt nó trong chiếc tủ tại phòng thay đồ.
"Và bây giờ, cho phép tôi được đôi dòng về những người trong nhà, thưa ông Holmes, vì tôi muốn ngài nắm bắt được ngọn ngành của tình hình. Người chăn ngựa và cậu hầu trai của tôi ngủ ở ngoài nhà, nên ta có thể gác họ sang một bên. Tôi có ba cô hầu gái đã gắn bó với gia đình nhiều năm, và sự đáng tin cậy tuyệt đối của họ là điều không thể bàn cãi. Một người khác, Lucy Parr, cô hầu phòng thứ hai, mới vào làm được chừng vài tháng. Tuy nhiên, cô ấy bước vào nhà tôi với một lý lịch vô cùng sáng sủa, và luôn biết cách khiến tôi hài lòng. Cô ấy là một cô gái rất mực xinh đẹp và đã lọt vào mắt xanh của một vài kẻ ái mộ thỉnh thoảng vẫn lảng vảng quanh khu nhà. Đó là điểm yếu duy nhất mà chúng tôi nhận thấy ở cô ấy, nhưng chúng tôi vẫn đinh ninh rằng cô ấy là một người con gái hoàn toàn nết na về mọi mặt.
"Đó là đôi nét về những người hầu. Bản thân gia đình tôi lại rất neo người nên sẽ chẳng ngốn nhiều thời gian để tôi khắc họa. Tôi là một người góa vợ và chỉ có mụn con trai duy nhất, Arthur. Nó là một nỗi thất vọng tràn trề đối với tôi, thưa ông Holmes - một nỗi thất vọng nặng nề. Tôi không mảy may nghi ngờ gì về việc mình phải tự kiểm điểm bản thân. Mọi người đều nói với tôi rằng, chính tôi đã làm hỏng nó. Rất có thể sự tình là vậy. Khi người vợ yêu dấu qua đời, tôi cảm thấy Arthur là tất cả những gì mình còn lại để yêu thương. Tôi không thể nhẫn tâm chứng kiến nụ cười vụt tắt dù chỉ một thoáng trên khuôn mặt nó. Tôi chưa từng khước từ bất cứ một ý muốn nào của nó. Có lẽ sẽ tốt đẹp hơn cho cả hai nếu tôi biết cách nghiêm khắc hơn, nhưng thâm tâm tôi luôn có ý tốt.
"Đương nhiên, ý nguyện của tôi là để nó kế nghiệp tôi trong công việc kinh doanh, nhưng nó lại chẳng mảy may có chút thiên hướng nào về mặt này. Nó sống buông thả, bướng bỉnh và, nói thật lòng, tôi không thể mạo hiểm giao phó cho nó xử lý những khoản tiền kếch xù. Khi còn là một thanh niên, nó đã trở thành hội viên của một câu lạc bộ quý tộc, và tại đó, bằng phong thái quyến rũ chết người, nó nhanh chóng trở nên thân thiết với những gã đàn ông rủng rỉnh bạc tiền và mang thói quen vung tay quá trán. Nó học đòi cách chơi bài sát phạt lớn và phung phí tiền nong vào chốn trường đua ngựa, cho đến khi nó hết lần này đến lần khác phải lê bước tìm tôi, nài nỉ tôi ứng trước tiền tiêu vặt cho nó, cốt để nó có thể thanh toán những khoản nợ danh dự. Đã không dưới một lần nó gắng gượng bứt ra khỏi nhóm bạn bè tai hại mà nó đang giao du, nhưng lần nào cũng vậy, thế lực từ người bạn của nó, Ngài George Burnwell, lại đủ sức kéo tuột nó quay trở lại vũng bùn.
"Và quả thực, tôi chẳng mảy may kinh ngạc khi một người mang tầm vóc như Ngài George Burnwell lại có thể thao túng được nó, bởi ngài ấy đã năm lần bảy lượt theo nó về nhà tôi, và ngay cả chính bản thân tôi cũng nhận thấy mình khó lòng cưỡng lại sức hút từ phong thái lịch lãm của ngài ấy. Ngài ấy nhỉnh tuổi hơn Arthur, là một người đàn ông từng trải đến tận xương tủy, một kẻ đã in dấu chân đi muôn nơi, nếm trải mọi sự đời, một người hoạt ngôn xuất chúng, và mang một vẻ đẹp cá nhân vô cùng lôi cuốn. Thế nhưng, mỗi khi tôi suy xét về ngài ấy một cách lạnh lùng, thoát khỏi cái bóng đầy mị lực của ngài ấy, tôi lại tin chắc, xuất phát từ những lời nói đầy giễu cợt và ánh mắt mà tôi đã vô tình bắt gặp, rằng đây là một kẻ cần phải hết sức đề phòng. Tôi có linh cảm như vậy, và cả cô cháu gái Mary bé nhỏ của tôi, một người phụ nữ sở hữu một ánh nhìn thấu suốt sắc lẹm vào tận tâm can con người, cũng đồng tình như thế.
"Và bây giờ chỉ còn lại cô bé chưa được xướng tên. Cô bé là cháu gái ruột của tôi; nhưng khi anh trai tôi khuất núi cách đây năm năm và bỏ lại cô bé trơ trọi một mình trên cõi đời này, tôi đã mang cô bé về cưu mang và từ đó luôn xem cô bé như cốt nhục của mình. Cô bé chính là tia nắng sưởi ấm ngôi nhà của tôi - ngọt ngào, chan chứa yêu thương, xinh đẹp, một người quản gia và nội trợ tài ba, lại dịu dàng, điềm tĩnh và hiền hậu như bất kỳ người phụ nữ mẫu mực nào có thể đạt đến. Cô bé chính là cánh tay phải đắc lực của tôi. Tôi chẳng biết mình sẽ phải xoay xở ra sao nếu thiếu đi hình bóng cô bé. Chỉ có một chuyện duy nhất mà cô bé đã làm trái ý tôi. Đã hai lần con trai tôi ngỏ lời cầu hôn cô bé, vì nó yêu cô bé say đắm, nhưng lần nào cô bé cũng một mực khước từ. Tôi đã từng mơ mộng rằng, nếu có ai đó đủ sức kéo nó quay về nẻo chính đường ngay thì đó hẳn phải là cô bé, và cuộc hôn nhân của nó có thể đã làm thay đổi toàn bộ bánh xe vận mệnh của nó; nhưng giờ thì, ôi chao! đã quá muộn màng - mãi mãi là quá muộn màng!
"Bây giờ, thưa ông Holmes, ngài đã tường tận về những con người đang sống dưới mái nhà của tôi, và tôi xin phép được tiếp nối câu chuyện bi thương của mình.
"Khi chúng tôi đang nhâm nhi tách cà phê trong phòng khách vào tối hôm đó sau bữa tối, tôi đã trút bầu tâm sự cho Arthur và Mary nghe về trải nghiệm của mình, cũng như về bảo vật quý giá mà chúng tôi đang cất giữ dưới mái nhà này, chỉ giữ rịt lấy cái tên của vị khách hàng. Lucy Parr, người vừa mang cà phê vào, tôi đinh ninh là đã rời khỏi phòng; nhưng tôi không dám lấy mạng sống ra thề rằng cánh cửa đã được khép kín. Mary và Arthur tỏ ra vô cùng thích thú và háo hức muốn được chiêm ngưỡng chiếc vương miện lừng danh đó, nhưng tôi trộm nghĩ tốt hơn hết là không nên động chạm vào nó.
"'Ba giấu nó ở đâu vậy?' Arthur lên tiếng hỏi.
"'Trong chiếc tủ của ba.'
"'Chà, con nguyện cầu tạ ơn trời đất đêm nay nhà mình không bị bọn trộm ghé thăm.' nó nói.
"'Nó đã được khóa chặt rồi,' tôi đáp lời.
"'Ồ, bất cứ chiếc chìa khóa cũ rích nào cũng đủ sức mở toang chiếc tủ đó. Hồi còn bé tí, con đã từng tự tay mở nó bằng chiếc chìa khóa của tủ quần áo trống.'
"Nó thường có cái kiểu ăn nói ngông cuồng như vậy, nên tôi cũng chẳng để tâm lắm đến những lời nó thốt ra. Tuy nhiên, đêm hôm đó nó đã bám gót tôi vào phòng với một nét mặt vô cùng nghiêm trọng.
"'Nghe này, ba,' nó cất tiếng, ánh mắt cụp xuống đầy lẩn tránh, 'ba có thể ứng cho con 200 bảng được không?'
"'Không, ba không thể!' tôi gắt gỏng đáp lời. 'Ba đã quá sức hào phóng với con trong chuyện tiền nong rồi.'
"'Ba đã rất khoan dung,' nó nói, 'nhưng con bắt buộc phải có số tiền này, nếu không con sẽ chẳng bao giờ còn mặt mũi nào để ngẩng cao đầu bước vào câu lạc bộ nữa.'
"'Và điều đó cũng là một chuyện rất đỗi tốt đẹp!' tôi gào lên.
"'Vâng, nhưng ba hẳn sẽ không muốn nhìn thấy con bị hắt hủi khỏi đó như một kẻ mạt vận mất hết danh dự,' nó nói. 'Con không thể nào nuốt trôi nỗi nhục nhã này. Con phải đào đâu ra tiền bằng mọi giá, và nếu ba không dang tay cứu giúp, thì con buộc phải thử những con đường khác.'
"Tôi đã giận run người, vì đây đã là lần thứ ba nó dám lớn tiếng đòi hỏi trong tháng này. 'Con sẽ không bòn rút được của ba dù chỉ một đồng xu cắc bạc nào nữa,' tôi quát lớn, nghe thấy vậy nó chỉ biết cúi gằm mặt và lê bước khỏi phòng mà không thốt thêm nửa lời.
"Khi bóng nó đã khuất dạng, tôi mở khóa chiếc tủ của mình, cẩn thận rà soát xem bảo vật của tôi có còn bình an vô sự không, rồi mới khóa lại. Sau đó tôi bắt đầu đi tuần một vòng quanh nhà để đảm bảo mọi thứ đã cửa đóng then cài - một công việc mà tôi thường khoán cho Mary nhưng đêm hôm đó tôi lại trộm nghĩ tốt hơn là tự mình gánh vác. Khi rảo bước xuống cầu thang, tôi bắt gặp Mary đang lúi húi ở ô cửa sổ bên hông hành lang, cô bé vội vàng đóng và gài chốt nó lại khi tôi tiến đến gần.
"'Nói cho cháu nghe đi, bác,' cô bé lên tiếng, với một vẻ mặt mà theo tôi quan sát là thoáng chút bồn chồn, 'bác có ừ thuận cho Lucy, cô hầu gái, đi ra ngoài tối nay không?'
"'Tất nhiên là không.'
"'Cô ta vừa mới lén lút chuồn vào nhà bằng cửa sau. Cháu không nghi ngờ gì cái việc cô ta chỉ dạo ra cổng phụ để thậm thụt với ai đó, nhưng cháu nghĩ thế là không an toàn chút nào và cần phải bị dập tắt ngay lập tức.'
"'Sáng mai cháu phải nắn gân cô ta, hoặc bác sẽ ra tay nếu cháu muốn. Cháu chắc mẩm là mọi thứ đã được chốt chặt rồi chứ?'
"'Chắc chắn rồi, thưa bác.'
"'Vậy thì, ngủ ngon nhé.' Tôi đặt một nụ hôn lên trán cô bé và lại rảo bước về phòng ngủ của mình, rồi nhanh chóng chìm vào cõi mộng.
"Tôi đang dốc lòng kể cho ngài nghe mọi ngóc ngách, thưa ông Holmes, những thứ có thể dính dáng đôi chút đến vụ án này, nhưng tôi khẩn khoản cầu xin ngài hãy vặn hỏi tôi về bất kỳ điểm nào mà tôi trình bày chưa được tường minh."
"Trái lại, lời trần tình của ông cực kỳ sáng sủa."
“Giờ đây, tôi xin bước vào một phần câu chuyện mà tôi mong muốn mình có thể kể lại rành rọt nhất. Vốn dĩ tôi không phải là một người ngủ say, và chính nỗi bất an trĩu nặng trong tâm trí hẳn đã khiến tôi chập chờn hơn lệ thường. Khoảng hai giờ sáng, tôi giật mình tỉnh giấc bởi một tiếng động lạ lùng vang lên trong nhà. Âm thanh ấy đã bặt tăm trước khi tôi kịp tỉnh táo hoàn toàn, nhưng nó để lại trong tôi một cảm giác chân thực tựa như có ai đó vừa nhẹ nhàng khép lại một cánh cửa sổ ở quanh đây. Tôi nằm yên, vểnh tai lắng nghe. Đột nhiên, tôi kinh hoàng nhận ra tiếng bước chân khe khẽ nhưng rành rọt đang lướt đi ở căn phòng kế bên. Tôi trượt vội khỏi giường, tim đập thình thịch vì sợ hãi, rồi lén nhìn qua góc cửa phòng thay đồ của mình.
“‘Arthur!’ tôi thét lên, ‘Đồ nghịch tử! Đồ trộm cắp! Sao con dám đụng tay vào chiếc vương miện đó?’
“Ngọn đèn ga vẫn đang vặn nhỏ phân nửa đúng như lúc tôi rời đi. Thằng con trai bất hạnh của tôi, trên người chỉ mặc độc chiếc áo sơ mi cùng quần dài, đang đứng sừng sững cạnh ngọn đèn, tay nắm chặt chiếc vương miện. Nó dường như đang dồn hết sức bình sinh để vặn bẻ hoặc uốn cong món bảo vật. Nghe tiếng thét của tôi, nó đánh rơi chiếc vương miện xuống đất, khuôn mặt tái nhợt đi như một cái xác không hồn. Tôi lao tới vồ lấy nó rồi vội vã kiểm tra kỷ vật. Một trong những góc vàng, cùng với ba viên ngọc beryl khảm trên đó, đã không cánh mà bay.
“‘Đồ cặn bã!’ tôi gào lên, cơn thịnh nộ làm tôi mất đi cả lý trí. ‘Con đã phá nát nó rồi! Con đã hủy hoại danh dự của ba đến muôn đời! Những viên ngọc con vừa cướp đi đâu rồi?’
“‘Ăn cắp ư!’ nó kêu lên.
“‘Phải, đồ trộm cắp!’ tôi gầm lên, hai tay lắc lấy lắc để bờ vai nó.
“‘Không có viên ngọc nào bị mất cả. Làm sao mà mất được,’ nó thốt lên.
“‘Ba viên ngọc đã biến mất. Và con thừa biết chúng đang ở đâu. Chẳng lẽ ba phải gọi con vừa là kẻ dối trá vừa là tên trộm cắp sao? Chính mắt ba vừa thấy con đang ra sức bẻ gãy một mảnh khác cơ mà?’
“‘Ba chửi rủa con như vậy là quá đủ rồi,’ nó gằn giọng. ‘Con sẽ không chịu đựng thêm một giây phút nào nữa. Con cũng chẳng buồn nói thêm bất cứ lời nào về chuyện này, một khi ba đã quyết định lăng nhục con. Sáng mai con sẽ dọn khỏi căn nhà này và tự bước đi trên con đường của riêng mình.’
“‘Con sẽ bước ra khỏi đây trong vòng tay của cảnh sát!’ tôi thét lên, lảo đảo trong cơn nửa điên nửa dại vì bi phẫn. ‘Ba sẽ giao chuyện này cho người ta điều tra đến tận gốc rễ ngọn nguồn.’
“‘Ba sẽ chẳng cạy được nửa lời từ con đâu,’ nó đáp trả bằng một sự phẫn nộ mà tôi chưa từng nghĩ lại tồn tại trong bản tính của nó. ‘Nếu ba đã chọn cách báo cảnh sát, thì cứ để mặc họ tìm những gì họ có thể.’
“Đến lúc này thì cả nhà đã hoàn toàn náo động, bởi cơn lôi đình của tôi đã đánh thức tất thảy. Mary là người đầu tiên lao xộc vào phòng tôi, và ngay khi nhìn thấy chiếc vương miện cùng khuôn mặt của Arthur, con bé đã thấu hiểu toàn bộ cơ sự. Kèm theo một tiếng thét thảm thiết, con bé ngã lăn ra sàn bất tỉnh nhân sự. Tôi lập tức sai hầu phòng đi báo cảnh sát và tức tốc giao phó việc điều tra cho họ. Khi viên thanh tra cùng một viên cảnh sát bước vào nhà, Arthur vẫn đang đứng ủ rũ khoanh tay. Nó hỏi liệu tôi có thực sự định buộc tội nó ăn cắp hay không. Tôi lạnh lùng đáp rằng đây chẳng còn là chuyện riêng của gia đình nữa, mà đã trở thành vấn đề của công chúng, bởi chiếc vương miện bị hủy hoại kia là tài sản của quốc gia. Tôi nhất quyết để pháp luật định đoạt mọi thứ.
“‘Chí ít,’ nó nói, ‘ba cũng đừng bắt con ngay lập tức. Sẽ tốt cho cả ba lẫn con nếu ba cho phép con rời khỏi nhà trong vòng năm phút.’
“‘Để con có cơ hội bỏ trốn, hoặc có thể tẩu tán những thứ con vừa ăn cắp chứ gì,’ tôi mỉa mai. Và rồi, nhận thức được tình thế kinh khủng mà mình đang mắc kẹt, tôi thống thiết van nài nó hãy nhớ rằng không chỉ danh dự của tôi, mà danh dự của một người vĩ đại hơn tôi gấp trăm ngàn lần cũng đang bị đe dọa; và rằng sự bướng bỉnh của nó đang dấy lên một vụ bê bối đủ sức làm rung chuyển cả quốc gia. Nó hoàn toàn có thể ngăn chặn tấn bi kịch đó nếu chịu mở miệng nói cho tôi biết nó đã giấu ba viên ngọc ở đâu.
“‘Con nên nhìn thẳng vào vấn đề đi,’ tôi khuyên nhủ; ‘con đã bị bắt quả tang, và chẳng có lời thú tội nào lại làm cho tội lỗi của con tồi tệ hơn được nữa. Nếu con biết sửa sai trong khả năng của mình, bằng cách nói cho ba biết những viên beryl đang ở đâu, thì mọi lỗi lầm sẽ được tha thứ và lãng quên.’
“‘Ba hãy giữ sự tha thứ đó cho những kẻ cầu xin nó,’ nó đáp trả lạnh tanh, quay mặt đi với một nụ cười giễu cợt. Tôi nhận ra thằng bé đã quá ngoan cố, đến mức mọi lời lẽ của tôi đều như nước đổ lá khoai. Chỉ còn một cách duy nhất. Tôi gọi viên thanh tra vào và giao nó cho ông ta tống giam. Một cuộc khám xét lập tức được tiến hành, không chỉ trên người nó mà còn lục soát kỹ lưỡng căn phòng của nó cùng mọi ngóc ngách trong ngôi nhà nơi nó có thể giấu đồ vật; nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào. Thằng bé khốn khổ đó cũng cắn răng không chịu hé nửa lời dẫu cho chúng tôi có dùng mọi lời lẽ từ khuyên can đến đe dọa. Sáng nay, nó đã bị chuyển đến một phòng giam, còn tôi, sau khi hoàn tất mọi thủ tục với cảnh sát, đã tất tả chạy đến chỗ ngài để cầu xin ngài dùng tài năng xuất chúng của mình làm sáng tỏ vụ việc. Bản thân cảnh sát cũng đã công khai thừa nhận rằng lúc này họ đang hoàn toàn bó tay. Ngài cứ thoải mái chi tiêu bất kỳ khoản phí nào ngài cho là cần thiết. Tôi cũng đã treo thưởng một ngàn bảng Anh. Lạy Chúa, tôi phải làm sao đây! Chỉ trong một đêm, tôi đã mất sạch cả danh dự, những viên ngọc vô giá, và cả đứa con trai của mình. Ôi, tôi phải làm sao đây!”
Ông ta tuyệt vọng ôm đầu bằng hai tay, người lắc lư qua lại, miệng lẩm bẩm những lời thì thầm vô nghĩa tựa như một đứa trẻ mà nỗi bi thương đã vượt quá ranh giới của ngôn từ.
Sherlock Holmes ngồi trầm ngâm trong vài phút, đôi lông mày nhíu chặt lại, ánh mắt đăm đăm dán chặt vào ngọn lửa rực sáng.
“Ông có thường xuyên tiếp khách tại nhà không?” anh cất giọng hỏi.
“Không có ai cả, ngoại trừ anh bạn cộng sự cùng gia đình anh ta, và thỉnh thoảng là bạn bè của Arthur. Gần đây thì ngài George Burnwell có ghé qua vài lần. Tôi nghĩ chẳng còn ai khác nữa.”
“Vậy ông có hay ra ngoài tham dự các buổi giao tế xã hội không?”
“Arthur thì có. Nhưng Mary và tôi thường chỉ ở nhà. Cả hai chúng tôi đều chẳng mấy mặn mà với những chuyện tiệc tùng.”
“Điều đó quả là lạ lùng đối với một cô gái trẻ.”
“Bản tính con bé vốn dĩ đã trầm lặng. Hơn nữa, nó cũng chẳng còn trẻ trung gì cho cam. Mary đã hai mươi bốn tuổi rồi.”
“Qua những gì ông vừa kể, sự việc này dường như cũng là một cú sốc kinh hoàng đối với cô ấy.”
“Thật kinh khủng! Con bé thậm chí còn suy sụp nặng nề hơn cả tôi.”
“Lẽ nào cả hai người đều không mảy may nghi ngờ về tội trạng của con trai ông sao?”
“Làm sao chúng tôi có thể nghi ngờ được, khi chính mắt tôi đã nhìn thấy nó cầm chiếc vương miện ngay trên tay cơ chứ.”
“Tôi thì lại chẳng coi đó là một bằng chứng kết luận xác đáng. Thế phần còn lại của chiếc vương miện có bị sứt mẻ gì không?”
“Có, nó đã bị bẻ cong.”
“Vậy ông chưa từng nghĩ đến khả năng cậu ấy đang cố gắng nắn nó thẳng lại sao?”
“Cầu Chúa phù hộ cho ngài! Ngài đang cố gắng tìm mọi cách bênh vực cho nó và cho cả tôi. Nhưng điều này e là quá gượng ép. Rốt cuộc thì nó lảng vảng ở đó để làm gì cơ chứ? Nếu mục đích của nó là trong sáng, tại sao nó lại không chịu thanh minh?”
“Hoàn toàn hợp lý. Nhưng nếu cậu ấy thực sự có tội, tại sao cậu ấy lại không bịa ra một lời dối trá nào đó? Sự im lặng bưng bít của cậu ấy, theo tôi, dường như mang một ý nghĩa nước đôi. Vụ án này có một vài điểm khá kỳ lạ. Phía cảnh sát nghĩ thế nào về tiếng động đã đánh thức ông khỏi giấc ngủ?”
“Họ cho rằng tiếng động đó có thể là do Arthur vô ý khi đóng cửa phòng ngủ của nó.”
“Một giả thuyết nghe thật nực cười! Làm như một kẻ đang rắp tâm phạm tội lại đi đập cửa ầm ĩ cốt để đánh thức cả nhà dậy vậy. Thế họ đã nói gì về sự biến mất của những viên ngọc kia?”
“Họ vẫn đang tích cực gõ cạy các tấm ván lót sàn và thăm dò mọi kẽ hở đồ nội thất với hy vọng tìm thấy chúng.”
“Họ có nghĩ đến việc lùng sục bên ngoài ngôi nhà chưa?”
“Có chứ, họ đã phô diễn một sức lực phi thường. Toàn bộ khu vườn đã được xới tung và kiểm tra tỉ mỉ từng tấc đất.”
“Vậy giờ đây, thưa ngài thân mến,” Holmes điềm tĩnh nói, “ông không nhận ra rành rành rằng vấn đề này thực chất sâu xa hơn nhiều so với những gì ông hoặc giới cảnh sát ban đầu lầm tưởng sao? Đối với ông, nó có vẻ như một vụ án giản đơn; nhưng với tôi, nó lại bộc lộ sự phức tạp đến mức đáng kinh ngạc. Hãy thử cân nhắc lại xem cái giả thuyết của ông kéo theo những điều phi lý nào. Ông cho rằng con trai ông từ trên giường bước xuống, bất chấp rủi ro khổng lồ mò sang phòng thay đồ của ông, cạy tủ, lấy chiếc vương miện ra, dùng sức lực bẻ gãy một mẩu nhỏ của nó, đi đến một nơi nào đó hòng cất giấu ba viên ngọc giữa ba mươi chín viên, với sự ma mãnh tài tình đến mức không một ai có thể mò ra dấu vết, và sau đó mang ba mươi sáu viên ngọc còn lại quay trở về đúng cái căn phòng nơi cậu ta đã tự phơi mình trước nguy cơ bị phát giác cao nhất. Tôi xin hỏi ông ngay lúc này đây, một giả thuyết đầy rẫy những điểm vô lý như vậy, liệu có thể chấp nhận nổi không?”
“Nhưng còn giả thuyết nào khác để bám víu vào đây?” vị giám đốc ngân hàng gào lên kèm theo một cử chỉ tuyệt vọng. “Nếu động cơ của nó thực sự trong sạch, cớ sao nó lại không chịu hé miệng giải thích lấy một lời?”
“Nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm ra chân tướng sự việc,” Holmes điềm nhiên đáp lời; “vậy ngay bây giờ, nếu ông không phiền, thưa ông Holder, chúng ta sẽ cùng nhau lên đường đến Streatham, và dành trọn một giờ đồng hồ để xem xét tường tận hơn một chút vào các chi tiết của vụ án.”
Anh bạn tôi khăng khăng yêu cầu tôi đồng hành trong chuyến thám hiểm của họ. Vốn đã bị câu chuyện vừa nghe khuấy động mạnh mẽ cả trí tò mò lẫn lòng trắc ẩn, tôi chẳng mảy may do dự mà hăm hở nhận lời ngay. Thú thực, tội lỗi của cậu con trai viên giám đốc ngân hàng rành rành ra đó, với tôi cũng hiển nhiên hệt như góc nhìn của người cha bất hạnh kia. Dẫu vậy, niềm tin tuyệt đối vào phán đoán của Holmes khiến tôi lờ mờ cảm nhận được một tia hy vọng mỏng manh vẫn còn nhen nhóm, nhất là khi anh chưa hoàn toàn bị thuyết phục bởi lời giải thích bề mặt. Trên suốt chặng đường tiến về vùng ngoại ô phía nam, anh gần như chẳng hé môi lấy nửa lời, chỉ ngồi thu mình, cằm tì sát ngực, chiếc mũ kéo sụp che khuất đôi mắt, chìm đắm vào một cõi suy tư thăm thẳm. Ở chiều ngược lại, tia hy vọng le lói mà Holmes vừa thắp lên dường như đã giúp thân chủ của chúng tôi vớt vát lại đôi chút tinh thần; ông thậm chí còn cất giọng bắt chuyện, dẫu đôi chỗ còn rời rạc, với tôi về dăm ba vấn đề kinh doanh. Chuyến tàu hỏa trôi qua vội vã, nối tiếp bằng một cuốc bộ ngắn, và chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đặt chân đến trước Fairbank, khu dinh thự ẩn mình khiêm nhường của vị chuyên gia tài chính lẫy lừng.
Fairbank hiện ra là một khối kiến trúc vuông vức, bề thế, được gầy dựng từ những phiến đá trắng tinh khôi và khép mình lùi sâu một chút so với mặt lộ. Con đường vòng cung dành cho xe ngựa, phủ ngập một sắc tuyết trắng xóa, vươn dài ra phía trước trước khi kết thúc bằng hai cánh cổng sắt đồ sộ, khóa chặt lối ra vào. Phía bên phải mọc lên một khóm cây bụi mộc mạc, mở ra con đường mòn chật hẹp len lỏi giữa hai hàng rào được cắt tỉa tươm tất; lối đi này nối từ mặt đường lớn thẳng tiến đến cửa bếp, vốn được thiết kế dành riêng cho giới giao hàng. Nằm bên mạn trái là một con hẻm nhỏ dẫn lối vào khu chuồng ngựa, dẫu không hoàn toàn thuộc về khuôn viên dinh thự, nó vẫn là một lối đi lại công cộng dù hiếm khi có dấu chân người qua. Holmes ra hiệu cho chúng tôi nán lại ngoài cửa, còn bản thân anh chậm rãi rảo bước quanh dinh thự, lướt dọc mặt tiền, vòng xuống con lộ của người giao hàng, rồi cứ thế băng qua khu vườn phía sau để tiến thẳng vào con hẻm chuồng ngựa. Anh mải miết quan sát lâu đến mức ông Holder và tôi đành lui vào phòng ăn, nép mình bên lò sưởi chờ anh quay gót. Trong bầu không khí im lìm, cánh cửa chợt bật mở, nhường lối cho một cô gái trẻ bước vào. Cô sở hữu vóc dáng nhỉnh hơn mức trung bình một chút, thân hình thanh mảnh, điểm xuyết bởi mái tóc và đôi mắt mang sắc độ sẫm màu, một thứ sắc sẫm dường như càng trở nên tương phản đầy ám ảnh trên nền làn da trắng bệch tột độ. Quả thực, chưa bao giờ tôi chứng kiến một sắc diện nhợt nhạt, chết chóc đến nhường ấy trên gương mặt của một người phụ nữ. Đôi môi cô tái nhợt chẳng còn lấy một giọt máu, song đôi mắt lại đỏ hoe, mọng nước vì những giọt lệ tuôn trào. Khoảnh khắc cô lặng lẽ bước vào phòng, cả một vùng trời đau buồn như thể còn nặng nề hơn gấp bội so với dáng vẻ của viên giám đốc ngân hàng ban sáng bỗng chốc ập vào tâm trí tôi. Nỗi bi thương ấy càng trở nên ám ảnh hơn bởi nét cương nghị toát ra từ cô, minh chứng cho một người phụ nữ sở hữu sức mạnh nội tâm đáng nể cùng khả năng kiềm chế cảm xúc tuyệt vời. Hoàn toàn tảng lờ sự hiện diện của tôi, cô bước thẳng đến bên người bác, dịu dàng vuốt ve mái tóc ông bằng tất cả sự âu yếm, ngọt ngào vốn có của một người phụ nữ.
"Bác đã ra lệnh thả Arthur rồi chứ, thưa bác?" cô khẽ hỏi.
"Không, không, cháu gái của bác. Vấn đề này phải được điều tra cặn kẽ đến tận cội rễ."
"Nhưng cháu dám chắc chắn rằng anh ấy hoàn toàn vô tội. Bác biết rõ bản năng của phụ nữ nhạy bén nhường nào mà. Cháu biết anh ấy chẳng hề mảy may làm hại ai, rồi bác sẽ phải hối hận khôn nguôi vì đã hành xử quá đỗi nhẫn tâm."
"Nếu thực sự trong sạch, cớ sao nó lại câm lặng thế kia?"
"Trời mới biết được! Có lẽ vì anh ấy đã quá uất ức trước sự ngờ vực của bác chăng."
"Làm sao bác có thể không nghi ngờ, khi chính mắt bác nhìn thấy thằng nghịch tử ấy khư khư món bảo vật trên tay?"
"Ôi, nhưng anh ấy chỉ nhặt nó lên để ngắm nghía thôi mà. Bác ơi, xin bác hãy tin lời cháu, anh ấy hoàn toàn bị hàm oan. Hãy để giông bão qua đi và xin đừng nhắc thêm lời nào nữa. Thật kinh khủng xiết bao khi tưởng tượng Arthur thân thương của chúng ta phải chịu cảnh ngục tù!"
"Bác sẽ không bao giờ để chuyện này chìm vào dĩ vãng cho đến khi tìm lại được những viên ngọc-không bao giờ đâu, Mary! Tình cảm mù quáng cháu dành cho Arthur đã che lấp đi những hậu quả thảm khốc đang chực chờ giáng xuống đầu bác. Không những chẳng thể bưng bít sự vụ này, bác còn cất công rước một quý ngài từ tận London xuống đây để đào sâu hơn vào chân tướng sự việc."
"Là quý ngài đây sao?" cô gái cất tiếng hỏi, ánh mắt hướng về phía tôi.
"Không, là bạn của vị này. Cậu ta muốn chúng ta để mặc cậu ta một lúc. Chắc giờ cậu ta đang đi dạo quanh con hẻm chuồng ngựa rồi."
"Hẻm chuồng ngựa ư?" Cô nhíu đôi mày ngài sẫm màu. "Ngài ấy mong mỏi tìm thấy manh mối gì ở một nơi như vậy? À! Cháu đoán, vị này đây chính là ngài ấy. Thưa ngài, cháu có một niềm tin mãnh liệt rằng ngài sẽ thành công trong việc chứng minh một sự thật hiển nhiên: người anh họ Arthur của cháu hoàn toàn vô tội trong tội ác tày trời này."
"Tôi hoàn toàn chia sẻ quan điểm với cô, và tôi cũng gửi gắm một niềm tin mãnh liệt, y hệt như cô vậy, rằng chúng ta có thể phơi bày sự thật ấy ra ánh sáng," Holmes từ tốn đáp lời, gót giày gõ nhẹ lên mặt thảm để giũ bỏ những vụn tuyết vương vấn. "Tôi tin rằng mình đang hân hạnh được trò chuyện cùng cô Mary Holder. Liệu tôi có thể mạn phép đặt cho cô một hay hai câu hỏi chăng?"
"Xin ngài cứ tự nhiên, miễn là chúng có thể góp phần vén bức màn bí ẩn của tấn bi kịch này."
"Đêm qua, chính tai cô có nghe thấy âm thanh gì lạ thường không?"
"Cháu chẳng nghe thấy mảy may động tĩnh gì, thưa ngài, mãi cho đến lúc bác cháu bắt đầu lớn tiếng. Thấy ồn ào, cháu mới vội vã chạy xuống lầu."
"Cô là người đã khép cửa sổ và cửa ra vào đêm hôm trước. Cô có chốt chặt mọi cánh cửa sổ không?"
"Dạ có."
"Và sáng nay, tất thảy vẫn được gài then nguyên vẹn chứ?"
"Đúng vậy, thưa ngài."
"Cô có một cô hầu gái đang lén lút qua lại với tình nhân phải không? Nếu tôi nhớ không lầm, tối qua cô có bóng gió với bác mình rằng cô ta đã lẻn ra ngoài hẹn hò?"
"Đúng thế ạ, cô ta chính là người hầu lo liệu việc dọn dẹp phòng khách, và rất có thể cô ta đã nghe lọt tai những tâm sự của bác cháu về món bảo vật vô giá ấy."
"Tôi hiểu rồi. Vậy nên cô suy luận rằng cô ta đã nhân cơ hội lẻn ra ngoài phím chuyện cho gã tình nhân, rồi cả hai đã cùng nhau ấp ủ âm mưu táo tợn này."
"Nhưng phỏng có ích gì khi lãng phí thời gian bới móc những giả thuyết mơ hồ cơ chứ," viên giám đốc ngân hàng nóng nảy gắt lên, "trong khi tôi đã quả quyết với ngài rằng, chính mắt tôi đã nhìn thấy Arthur cầm vương miện trên tay?"
"Xin ông bình tâm một chút, ông Holder. Chúng ta chắc chắn sẽ mổ xẻ vấn đề đó. Quay lại chuyện cô hầu gái này, cô Holder. Cô đã tận mắt chứng kiến cô ta lẻn vào nhà qua lối cửa bếp, tôi đoán có đúng không?"
"Vâng thưa ngài; lúc cháu đi một vòng để đoan chắc mọi cánh cửa đã được khóa chặt, cháu vô tình bắt gặp cô ta rón rén chuồn vào. Cháu thậm chí còn thấp thoáng thấy gã đàn ông kia lẩn khuất trong màn đêm."
"Cô có biết danh tính gã ta không?"
"Ôi, có chứ ạ! Gã là tay bán rau vẫn thường bỏ mối cho nhà cháu. Tên gã là Francis Prosper."
"Có phải anh ta đứng," Holmes nheo mắt, "phía bên trái cánh cửa-nghĩa là, lùi sâu vào con đường mòn hơn mức cần thiết để tới được cửa không?"
"Vâng, quả đúng là vậy."
"Và anh ta là một gã có cái chân gỗ?"
Một nỗi kinh hoàng chớp nhoáng xẹt qua đôi mắt sẫm màu đầy biểu cảm của cô gái trẻ. "Chà, ngài quả thực giống hệt một vị pháp sư vậy," cô thốt lên. "Làm thế nào mà ngài tỏ tường được điều đó?" Cô mỉm cười một nụ cười gượng gạo, song chẳng có một gợn vui vẻ nào đáp trả trên khuôn mặt gầy guộc, háo hức của Holmes.
"Giờ thì tôi rất sẵn lòng tháp tùng ông lên lầu," anh tiếp lời. "Lát nữa, có lẽ tôi sẽ cần đảo thêm một vòng quanh khuôn viên dinh thự. Nhưng trước hết, hãy để tôi soi xét qua một lượt các cửa sổ tầng trệt đã."
Nói rồi, anh rảo bước thoăn thoắt từ bậu cửa này sang khung cửa khác, chỉ khựng lại trước một ô cửa sổ lớn trổ từ hành lang hướng thẳng ra con hẻm chuồng ngựa. Anh lanh lẹ bật tung chốt cửa, săm soi từng ngóc ngách của gờ bậu bằng chiếc kính lúp phân giải cao sắc sảo. "Thôi được rồi, giờ chúng ta lên lầu thôi," chốc lát sau anh lên tiếng.
Phòng thay đồ của viên giám đốc ngân hàng mang dáng dấp của một không gian thu nhỏ, bày trí tối giản với một dải thảm màu tro, một chiếc tủ lớn đồ sộ và một tấm gương soi toàn thân. Đảo mắt qua căn phòng, Holmes tiến thẳng tới chiếc tủ, dán chặt ánh nhìn vào mặt ổ khóa.
"Chiếc chìa nào đã được kẻ gian sử dụng để cạy mở thứ này?" anh rành rọt hỏi.
"Chính là chiếc chìa mà con trai tôi đã thừa nhận-chìa khóa của chiếc tủ vứt chỏng chơ trong căn phòng trống."
"Ông có mang nó theo đây chứ?"
"Nó đang nằm tênh hênh trên bàn trang điểm đằng kia kìa."
Sherlock Holmes nhón lấy chiếc chìa, dứt khoát mở toang cánh cửa tủ.
"Quả là một ổ khóa êm ru," anh lẩm bẩm. "Chẳng trách gì nó không thể đánh thức ông. Chiếc hộp này, tôi mạn phép đoán, chính là nơi yên vị của vương miện. Chúng ta bắt buộc phải tận mắt chiêm ngưỡng nó." Anh cẩn trọng lật nắp hộp, nhẹ nhàng nâng chiếc vương miện khảm ngọc rực rỡ và trang trọng đặt nó ngay ngắn lên mặt bàn. Tuyệt tác tinh xảo của nghệ thuật kim hoàn hiện ra trước mắt chúng tôi, với ba mươi sáu viên đá quý tỏa sáng lấp lánh như những tinh tú diệu kỳ nhất mà trần đời tôi từng vinh hạnh được chiêm ngưỡng. Nằm khuất một bên sườn vương miện là một vết nứt tươm tướp, dấu tích để lại của một góc đính ba viên ngọc đã bị kẻ nào đó bạo chúa xé toạc không thương tiếc.
"Giờ thì, thưa ông Holder," Holmes từ tốn cất lời, "đây là một góc hoàn toàn tương thích với cái phần đã không may bốc hơi kia. Liệu tôi có thể yêu cầu ông dùng sức bẻ gãy nó ra được chăng."
Nghe đến đây, viên giám đốc ngân hàng thất kinh hồn vía lùi phắt lại. "Cả trong mơ tôi cũng chẳng mường tượng nổi mình lại dám thử sức với một ý đồ điên rồ như thế," ông run rẩy chối từ.
"Vậy thì để tôi mạn phép." Dứt lời, Holmes đột ngột dồn lực bẻ gãy góc vương miện, song mọi nỗ lực đều hóa công cốc. "Tôi cảm nhận được nó chỉ hơi lung lay đôi chút," anh thở dài; "nhưng dù cho những ngón tay của tôi vốn mang sức mạnh đặc biệt đi chăng nữa, e rằng tôi cũng phải tiêu tốn cả thanh xuân mới có thể làm sứt mẻ được một mẩu của báu vật này. Phàm là một kẻ bình thường, dứt khoát sẽ chẳng thể nào làm nên chuyện. Vậy ông thử ngẫm xem, nếu tôi thực sự bẻ gãy được nó, ông Holder, thì chuyện gì sẽ xảy ra? Dám cá là nó sẽ phát ra một âm thanh đanh thép chẳng kém gì tiếng súng nổ. Ấy vậy mà ông lại quả quyết với tôi rằng, chuỗi sự kiện động trời này lại diễn ra trót lọt chỉ cách chiếc giường ông nằm vài sải tay, mà ông chẳng hề vểnh tai nghe ngóng được nửa tiếng động sao?"
"Quả tình tôi cũng chẳng biết phải lý giải thế nào nữa. Mọi thứ trước mắt tôi giờ đây chỉ là một màn sương đặc quánh."
"Biết đâu đấy, mọi thứ sẽ dần tỏ tường hơn khi chúng ta chịu khó bóc tách thêm. Cô thấy thế nào, cô Holder?"
"Cháu xin thú thực là cháu cũng đang ngập lặn trong mớ bòng bong bối rối hệt như bác cháu vậy."
"Khi ông bắt quả tang, cậu nhà có mang theo giày hay đi dép lê gì không?"
"Nó chẳng vận gì trên người, ngoại trừ độc một chiếc quần dài và chiếc áo sơ mi."
"Đa tạ ông. Chắc chắn chúng ta đã được ban ơn bằng một vận may phi thường xuyên suốt quá trình điều tra này, và sẽ hoàn toàn là lỗi lầm vô phương cứu chữa nếu chúng ta không làm sáng tỏ được mọi uẩn khúc. Xin phép ông, ông Holder, giờ tôi lại phải tiếp tục chuỗi điều tra phía bên ngoài dinh thự."
Lần này, anh lủi thủi đi một mình, cũng chiếu theo yêu cầu của chính anh, bởi anh e sợ rằng bất cứ dấu chân dư thừa nào cũng có thể trở thành vật cản đường, khiến nhiệm vụ của mình thêm phần chồng chất khó khăn. Anh cắm cúi lần mò ngót nghét hơn một giờ đồng hồ, để rồi cuối cùng lầm lũi quay lại, lê bước chân nặng trĩu tuyết trắng, vác theo bộ mặt lạnh tanh, thâm sâu đến mức chẳng ai có thể nắm bắt được ngụ ý bên trong.
"Tôi trộm nghĩ mình đã tỏ tường mọi thứ cần thiết rồi, ông Holder ạ," anh thủng thẳng tuyên bố; "và cách tối ưu nhất để tôi dốc sức phụng sự ngài lúc này là quay trở về căn phòng của mình."
"Thế còn những viên ngọc kia, thưa ngài Holmes. Chúng đang lưu lạc phương nào?"
"Điều này thì tôi chưa thể nói."
Viên giám đốc ngân hàng khổ sở vò nát hai bàn tay vào nhau. "Chắc tôi sẽ chẳng bao giờ còn cơ hội nhìn thấy chúng nữa!" ông nấc lên chua chát. "Còn con trai tôi thì sao? Ngài có thể ban cho tôi chút hy vọng nào chăng?"
"Lập trường của tôi trước sau như một, chẳng mảy may suy suyển."
"Vậy thì, lạy Chúa lòng lành, rốt cuộc mớ bòng bong đen tối nào đã vùi dập gia cang tôi đêm qua?"
"Nếu ngày mai ông có thể thu xếp ghé qua căn phòng của tôi trên phố Baker trong khoảng từ chín đến mười giờ sáng, tôi sẽ vô cùng hân hoan dốc hết tâm can để làm sáng tỏ cơ sự này. Nên nhớ, tôi đã nắm trong tay toàn quyền đại diện cho ông để hành sự, với điều kiện tiên quyết là phải đoạt lại được những viên ngọc, và ông cũng đã cam kết sẽ không o bế bất kỳ giới hạn nào về khoản ngân sách tôi được phép xuất quỹ."
"Chỉ cần chuộc lại được chúng, dẫu có phải đánh đổi cả gia tài tôi cũng cam lòng."
"Tuyệt vời. Kể từ giờ cho đến lúc đó, tôi sẽ nghiền ngẫm thấu đáo vấn đề. Cáo từ ông; rất có thể tôi sẽ còn phải lộn lại chốn này một chuyến nữa trước khi trời sập tối."
Tôi nhận ra mười mươi rằng anh bạn tôi giờ đây đã tháo gỡ được những nút thắt cốt lõi của vụ án, mặc cho viễn cảnh cuối cùng của anh là gì thì thú thực, tôi cũng chẳng mường tượng ra nổi một tia sáng le lói nào. Vài bận trên chuyến tàu hồi hương, tôi đã lân la dò hỏi anh về khía cạnh này, song anh cứ khéo léo bẻ lái sang chuyện khác, nhởn nhơ như không, ép tôi đành buông xuôi trong một niềm tuyệt vọng ê chề. Chiếc đồng hồ điểm chưa quá ba giờ chiều, chúng tôi đã yên vị trong căn phòng quen thuộc. Anh hối hả rảo bước vào phòng ngủ, và chỉ vài phút đồng hồ sau đã lục tục mò xuống trong bộ dạng nhếch nhác của một gã ma cà bông6 thứ thiệt. Chiếc cổ áo bẻ dựng ngược, lớp áo khoác sờn rách bóng nhẫy vết cáu bẩn, dải cravat đỏ chóe chen ngang, hòa cùng đôi bốt mòn vẹt te tua-trông anh đích thị là một kẻ điển hình của tầng lớp đó.
"Tôi cho rằng ngần này là đủ để qua mắt thiên hạ rồi," anh lẩm nhẩm, mắt liếc nhẹ vào bóng mình phản chiếu qua tấm gương treo phía trên lò sưởi. "Tôi thật lòng ao ước có sự đồng hành của anh, Watson ạ, song e rằng thời cơ chưa cho phép. Giờ khắc này, hoặc là tôi đang bám đuôi một vệt dấu vết nóng hổi, hoặc là tôi đang rượt theo một thứ ảo ảnh trêu ngươi, nhưng yên tâm đi, tôi sẽ sớm lật tẩy chân tướng của nó. Chắc chỉ vài giờ nữa thôi, tôi sẽ tản bộ quay về." Đoạn, anh nhanh tay xắn một lát thịt bò mỏng từ tảng thịt nướng nguội ngắt còn thừa trên tủ ly, kẹp gọn ghẽ giữa hai lát bánh mì tròn trĩnh, rồi tiện tay nhét tuột bữa lót dạ đạm bạc ấy vào túi áo và thoăn thoắt bắt đầu hành trình thám hiểm của riêng mình.
Tôi vừa mới nhấp ngụm trà cuối cùng, cạn đáy tách thì anh đã xuất hiện ở cửa, tinh thần phơi phới chẳng cần che đậy, trên tay xoay tít một chiếc bốt cũ kỹ đính kèm hai sợi dây thun chằng chịt hai bên. Anh thờ ơ ném phịch nó vào một góc tối tăm, rồi ung dung tự rót cho mình một chén trà ấm.
"Tôi chỉ tạt ngang qua một chốc thôi," anh báo tin. "Tôi phải rời đi ngay bây giờ."
"Anh tính đi đâu nữa?"
"À, dạt sang tận đầu bên kia của khu West End7. Chuyến này hẳn sẽ ngốn của tôi kha khá thời gian trước khi tôi có thể lội bộ trở về. Anh đừng mải miết thức đợi tôi làm gì, nhỡ đâu tôi lại mò về lúc đêm muộn thì khổ."
"Mọi manh mối tiến triển đến đâu rồi?"
"Chà, cũng được coi là trót lọt. Chẳng có gì đáng phàn nàn. Từ lúc từ biệt anh đến giờ, tôi đã đánh một vòng xuống tận Streatham, dẫu vậy tôi chẳng hề đặt chân vào ngôi dinh thự đó. Càng đào sâu, vụ án nhỏ này lại càng ngọt ngào và cuốn hút, tôi quyết sẽ không để vuột mất nó dẫu vì bất cứ cái giá nào. Thế nhưng, tôi lại chẳng có thì giờ rảnh rỗi để ngồi chóp chép ba cái chuyện phiếm lúc này; tôi phải trút bỏ bộ cánh rách rưới đáng ngờ này đi và hóa thân trở lại làm một quý ông khả kính."
Mọi thần thái toát ra từ anh đã mách bảo cho tôi biết rằng, bên trong sự thỏa mãn trào dâng kia là cả một trời những lý do bí mật vượt xa khỏi tầng nghĩa của những câu từ anh vừa buông. Đôi mắt anh ánh lên một tia nhìn sắc lẹm, sáng rực, và dường như một vệt hồng hào hiếm hoi đã chịu hiển hiện trên đôi gò má xanh xao thường nhật. Anh vội vã guồng chân lên lầu, và chỉ vài khắc sau, một tiếng cửa sầm vang lên chát chúa từ phía hành lang đã dội vào tai tôi, ngầm báo hiệu rằng con sói cô độc ấy lại tiếp tục lao mình vào cuộc đi săn đang vào hồi gay cấn.
Tôi đã thức đợi đến quá nửa đêm, nhưng chẳng thấy tăm hơi anh đâu, đành lủi thủi về phòng. Chuyện anh vắng mặt dăm ba ngày đêm liền khi đang mải mê săn lùng manh mối nào đó vốn chẳng có gì lạ, nên sự chậm trễ của anh chẳng khiến tôi mảy may bận tâm. Tôi chẳng rõ anh về nhà lúc mấy giờ, nhưng khi bước xuống dùng điểm tâm, tôi đã thấy anh chễm chệ ở đó, một tay bưng tách cà phê, tay kia thong thả cầm tờ báo, dáng vẻ nom tươi tỉnh và tươm tất hết mức có thể.
“Mong anh lượng thứ vì tôi đã dùng bữa trước nhé, Watson,” anh lên tiếng, “nhưng anh hẳn còn nhớ vị thân chủ của chúng ta có một cuộc hẹn từ rất sớm vào sáng nay.”
“Chà, giờ đã hơn chín giờ rồi,” tôi đáp lời. “Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu ông ấy đến đâu. Hình như tôi vừa nghe thấy tiếng chuông cửa thì phải.”
Quả đúng vậy, đó chính là vị giám đốc ngân hàng quen thuộc của chúng tôi. Tôi thực sự sửng sốt trước diện mạo sa sút tột độ của ông; khuôn mặt vốn dĩ to bè, vạm vỡ nay đã hốc hác, trũng sâu, còn mái tóc dường như cũng bạc thêm đến mấy phần. Ông bước vào với dáng vẻ mệt mỏi, thất thần, trông còn thê thảm hơn cả điệu bộ mất kiểm soát vào sáng hôm qua, rồi nặng nề thả phịch người xuống chiếc ghế bành mà tôi vừa đẩy tới.
“Tôi chẳng rõ mình đã gây nên cơ sự gì mà lại phải chịu đựng sự trừng phạt nghiệt ngã đến nhường này,” ông rên rỉ. “Mới hai ngày trước, tôi còn là một kẻ hạnh phúc và thành đạt, chẳng một chút âu lo vướng bận. Giờ đây, thân già này chỉ còn lại sự cô độc và nỗi nhục nhã ê chề. Họa vô đơn chí. Cháu gái tôi, Mary, đã bỏ tôi mà đi rồi.”
“Bỏ đi sao?”
“Vâng. Sáng nay giường con bé không có vết nằm, phòng ốc trống hoác, chỉ sót lại một lá thư gửi cho tôi đặt trên chiếc bàn ngoài sảnh. Tối qua, trong lúc buồn bã chứ chẳng hề giận dữ, tôi có càm ràm với con bé rằng giá như nó chịu kết hôn với thằng con trai tôi thì mọi chuyện có lẽ đã êm xuôi rồi. Có lẽ tôi đã quá nặng lời. Chính vì câu nói đó mà con bé đã viết lại những dòng này:
‘BÁC KÍNH YÊU NHẤT CỦA CHÁU,-Cháu cảm thấy chính mình đã rước họa vào nhà, và giá như cháu cư xử khác đi thì tai ương khủng khiếp này đã chẳng ập đến. Ôm mãi nỗi day dứt này, cháu không tài nào sống thanh thản dưới mái nhà của bác thêm một ngày nào nữa, và cháu biết mình phải rời xa bác mãi mãi. Xin bác đừng bận tâm đến tương lai của cháu, vì mọi thứ đã được an bài; và quan trọng hơn cả, xin đừng cất công tìm kiếm cháu, bởi điều đó chỉ hoài công vô ích và càng khiến cháu thêm phần đau khổ. Dù sống hay chết, cháu vẫn mãi là đứa cháu gái hằng yêu thương bác,
‘MARY.’
“Con bé có ý gì khi viết những dòng này, thưa ngài Holmes? Ngài có nghĩ nó đang ám chỉ chuyện quyên sinh không?”
“Không, không, chẳng có chuyện đó đâu. Có lẽ đó lại là cách giải quyết tốt nhất lúc này. Thưa ông Holder, tôi tin rằng ông sắp vượt qua được cơn bĩ cực này rồi.”
“Ha! Ngài nói thật chứ! Ngài đã dò la được chút tung tích nào rồi sao, thưa ngài Holmes; ngài đã biết được điều gì rồi! Những viên ngọc đang ở đâu?”
“Ông sẽ không cho rằng cái giá 1000 bảng Anh cho mỗi viên ngọc là quá đắt đỏ chứ?”
“Mười nghìn tôi cũng sẵn lòng dốc hầu bao.”
“Chẳng cần đến mức ấy đâu. Ba nghìn bảng là đủ để dàn xếp mọi chuyện êm thấm. Cộng thêm một khoản thù lao nho nhỏ nữa, tôi thiết nghĩ vậy. Ông có mang theo sổ séc chứ? Bút đây. Tốt nhất ông cứ viết tấm séc 4000 bảng đi.”
Với vẻ mặt vẫn còn đờ đẫn, vị giám đốc ngân hàng ngoan ngoãn viết tấm séc như được yêu cầu. Holmes sải bước đến bàn làm việc, lôi ra một mảnh vàng nhỏ hình tam giác khảm ba viên beryl, rồi quăng cạch xuống mặt bàn.
Cùng một tiếng thét vỡ òa vì sung sướng, vị khách của chúng tôi vồ lấy báu vật.
“Ngài đã tìm thấy nó!” ông thở hổn hển. “Tôi được cứu rồi! Tôi được cứu rồi!”
Niềm hân hoan tột độ bùng nổ mãnh liệt chẳng kém gì nỗi tuyệt vọng ban nãy; ông ôm ghì những viên ngọc vừa tìm lại được vào sát ngực.
“Ông vẫn còn vướng một món nợ khác đấy, ông Holder,” Sherlock Holmes cất giọng đầy nghiêm nghị.
“Món nợ nào cơ!” Ông lật đật cầm lại cây bút. “Cứ ra giá đi, tôi sẽ thanh toán sòng phẳng.”
“Không, món nợ này chẳng liên quan gì đến tôi. Ông đang nợ một lời tạ lỗi chân thành và sâu sắc nhất tới chàng trai cao thượng đó, chính là con trai ông, người đã hành xử trong toàn bộ sự việc này theo cái cách mà tôi sẽ vô cùng hãnh diện nếu con trai tôi cũng làm được như thế, giả dụ tôi có diễm phúc được làm cha.”
“Vậy ra không phải Arthur đã lấy cắp chúng sao?”
“Hôm qua tôi đã nói rõ, và hôm nay tôi xin khẳng định lại lần nữa, thủ phạm tuyệt nhiên không phải là cậu ấy.”
“Ngài dám chắc chứ! Vậy thì chúng ta phải tức tốc đến gặp nó ngay để báo rằng chân tướng sự việc đã được phơi bày.”
“Cậu ấy đã tường tận mọi chuyện rồi. Khi tháo gỡ được mớ bòng bong này, tôi đã có một cuộc trao đổi với cậu ấy; thấy cậu ấy vẫn nhất mực cạy răng không nửa lời, tôi đành phải thuật lại toàn bộ ngọn nguồn. Đến nước đó thì cậu ấy đành thú nhận những suy luận của tôi là hoàn toàn chính xác, đồng thời cung cấp thêm vài tình tiết nhỏ mà tôi vẫn chưa thực sự thấu đáo. Tuy nhiên, tin tức mà ông mang đến sáng nay có lẽ sẽ khiến cậu ấy chịu mở lời đấy.”
“Vì Chúa lòng lành, xin ngài hãy tỏ tường cho tôi hay, rốt cuộc tấn bi kịch kỳ lạ này là thế nào!”
“Tôi sẽ kể, và tôi cũng sẽ vạch rõ từng bước tôi đã làm để lần ra manh mối. Nhưng trước tiên, cho phép tôi được nói ra cái điều mà tôi khó mở lời nhất, và chắc hẳn ông cũng đau lòng nhất khi phải nghe: cháu gái Mary của ông đã thông đồng với ngài George Burnwell. Và giờ thì họ đã dắt nhau bỏ trốn rồi.”
“Mary của tôi á? Không đời nào!”
“Thật đáng buồn thay, đó lại là sự thật rành rành; một sự thật không thể chối cãi. Cả ông lẫn con trai ông đều chẳng hề hay biết bản chất thật sự của gã ta khi rộng cửa đón rước hắn vào nhà. Hắn là một trong những tay anh chị sừng sỏ nhất nước Anh-một con bạc cháy túi, một tên vô lại liều lĩnh bạt mạng, một kẻ máu lạnh vô lương tâm. Cháu gái ông nào có đủ sự trải đời để nhìn thấu những hạng người như thế. Khi hắn buông những lời đường mật thề non hẹn biển với cô, y như cách hắn đã rớt nước miếng với hàng trăm bóng hồng trước đó, cô lại ảo tưởng rằng chỉ có mình mới đủ sức trói buộc trái tim gã lãng tử. Chỉ có quỷ dữ mới rành rẽ những lời xảo trá hắn đã thốt ra, nhưng rõ ràng là cô ấy đã bị biến thành một con rối trong tay hắn, đắm chìm trong thói quen lén lút vụng trộm gặp gỡ hắn gần như mỗi đêm.”
“Tôi không thể, và tôi tuyệt đối không tin chuyện đó!” vị giám đốc ngân hàng gào lên, khuôn mặt tái mét như tro tàn.
“Vậy thì, để tôi thuật lại cho ông nghe cặn kẽ những gì đã diễn ra dưới mái nhà ông vào đêm qua. Cháu gái ông, đinh ninh rằng ông đã yên giấc trong phòng, liền rón rén lẻn xuống nhà và chuyện trò với gã nhân tình qua cánh cửa sổ trổ ra lối hẻm chuồng ngựa. Dấu chân hắn in hằn sâu hoắm trên nền tuyết, chứng tỏ hắn đã chôn chân ở đó khá lâu. Cô ấy đã dốc bầu tâm sự với hắn về chiếc vương miện. Nghe đến đó, lòng tham không đáy của gã vô lại lập tức bốc hỏa, và hắn liền dùng những lời đường mật ép uổng cô phải răm rắp nghe theo kế hoạch của mình. Tôi không mảy may nghi ngờ tình cảm sâu nặng mà cô ấy dành cho ông, thế nhưng trên đời lại có những người phụ nữ mù quáng, để tình yêu lứa đôi che mờ mọi ân tình sâu nặng khác, và tôi e rằng cháu gái ông chính là một điển hình như vậy. Cô ấy vừa dỏng tai nghe xong những lời xúi giục của hắn thì loáng thoáng thấy ông bước xuống cầu thang, thế là vội vã đóng sập cửa sổ lại rồi lấp liếm bằng câu chuyện một cô hầu gái bỏ trốn cùng gã nhân tình cụt chân, một câu chuyện vốn dĩ hoàn toàn có thật.
“Về phần Arthur, con trai ông, sau khi cự cãi với ông, cậu ấy đã về phòng nhưng cứ trằn trọc mãi không ngủ được vì những khoản nợ nần ở câu lạc bộ. Giữa đêm khuya thanh vắng, nghe thấy tiếng bước chân rón rén lướt qua cửa phòng, cậu liền chồm dậy ngó ra ngoài và vô cùng sửng sốt khi bắt gặp cô em họ đang lén lút dọc theo hành lang rồi mất hút vào phòng thay đồ của ông. Chết trân vì kinh ngạc, chàng trai vội vơ lấy áo quần mặc vào rồi nép mình trong bóng tối chờ xem sự thể kỳ quái này sẽ đi về đâu. Lát sau, cô ấy bước ra khỏi phòng, và dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn hành lang, con trai ông tận mắt chứng kiến cô nâng niu chiếc vương miện quý giá trên tay. Cô ấy rón rén bước xuống cầu thang; cậu con trai, ruột gan cồn cào vì hoảng sợ, cũng bám theo và nấp sau tấm rèm gần cửa phòng ông, từ đó có thể thu vào tầm mắt mọi nhất cử nhất động diễn ra ở sảnh dưới. Cậu ấy thấy cô rón rén mở cửa sổ, chuyền chiếc vương miện ra ngoài cho một kẻ ẩn khuất trong bóng tối, rồi vội vã khép cửa, cuống cuồng chạy về phòng, sượt qua ngay chỗ cậu đang náu mình sau tấm rèm.
“Chừng nào cô ấy còn lảng vảng ở đó, cậu ấy tuyệt nhiên không thể có bất kỳ động tĩnh nào, bởi làm vậy khác nào lôi tuột người con gái mình hằng yêu thương ra ánh sáng một cách bẽ bàng nhất. Thế nhưng, ngay khi cô vừa khuất bóng, cậu ấy lập tức nhận ra tai họa tày đình này sẽ là một đòn giáng chí mạng vào ông ra sao, và việc cứu vãn tình thế là vô cùng cấp bách. Mặc kệ bộ dạng phong phanh hiện tại, cậu lao xuống với đôi chân trần, bật tung cửa sổ, phi ra màn tuyết lạnh buốt, và guồng chân chạy thục mạng dọc con hẻm, đuổi theo một bóng đen đang vội vã lẩn khuất dưới ánh trăng. Ngài George Burnwell cố sống cố chết bỏ chạy, nhưng Arthur đã tóm được hắn, dẫn đến một cuộc giằng co ác liệt; cậu con trai ông bấu chặt một bên vương miện, còn gã đối thủ cũng kiên quyết không buông bên kia. Trong lúc xô xát, con trai ông đã giáng cho ngài George một cú đấm chí tử, làm rách bươm phần trán phía trên mắt hắn. Rồi bất chợt một tiếng rắc khô khốc vang lên, cậu thanh niên chợt nhận ra chiếc vương miện đã nằm gọn trong tay mình bèn vội vã quay gót, khép cửa sổ lại, mang báu vật lên phòng ông. Cậu ấy vừa kịp phát hiện vương miện đã bị bẻ cong trong lúc giằng co và đang ra sức nắn nó thẳng lại thì ông đường đột xông vào.”
“Chuyện đó là thật sao?” vị giám đốc ngân hàng há hốc mồm kinh ngạc.
“Sau đó, ông lại đổ thêm dầu vào lửa bằng cách chửi bới con trai thậm tệ, đúng vào cái khoảnh khắc mà lẽ ra cậu ấy phải nhận được những lời tán dương nồng nhiệt nhất từ ông. Cậu ấy rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, chẳng thể nào giãi bày cặn kẽ sự tình mà không đẩy người con gái kia-kẻ vốn dĩ chẳng xứng đáng nhận được sự bao dung của cậu-vào bước đường cùng. Thế nhưng, cậu lại chọn cách hành xử của một bậc quân tử trượng phu, quyết ngậm đắng nuốt cay để bảo vệ bí mật cho cô ấy.”
“Thảo nào con bé lại rú lên rồi lăn đùng ra ngất xỉu khi nhìn thấy chiếc vương miện,” ông Holder thốt lên thống thiết. “Lạy Chúa tôi! Tôi đúng là một gã ngu xuẩn, mù lòa! Cả cái chuyện thằng bé nằng nặc xin ra ngoài năm phút nữa! Thằng bé nhân hậu của tôi chỉ muốn ra kiểm tra xem mảnh vỡ có bị rơi rớt lại hiện trường vụ xô xát hay không. Tôi đã hàm oan cho nó một cách tàn nhẫn quá!”
“Ngay khi vừa đặt chân đến dinh thự,” Holmes tiếp lời, “tôi đã tiến hành lùng sục vô cùng cẩn trọng khắp khu vực xung quanh nhằm tìm kiếm bất kỳ dấu vết nào in hằn trên tuyết có thể mang lại manh mối. Tôi biết rõ từ tối hôm qua tuyết đã ngừng rơi, cộng thêm một đợt sương giá buốt lạnh càng giúp lưu giữ các vết tích nguyên vẹn hơn. Dọc theo lối đi dành cho người giao hàng, mọi thứ đều bị giẫm nát bét, chẳng thể bóc tách nổi dấu vết nào. Thế nhưng, chếch sang phía đối diện, cách xa cánh cửa nhà bếp một quãng, có dấu vết một người phụ nữ từng đứng trò chuyện cùng một gã đàn ông; những vết lún hình tròn in hằn một bên tố cáo gã là kẻ xài chân gỗ. Thậm chí tôi có thể đoan chắc rằng cuộc hẹn hò đã bị kẻ nào đó quấy rầy, bởi lẽ người phụ nữ đã tức tốc chạy biến vào trong, thể hiện rõ qua những vết mũi giày in sâu và gót chân chạm nhẹ trên mặt tuyết, trong khi Gã-chân-gỗ nán lại nghe ngóng đôi chút rồi mới quay lưng rời đi. Lúc ấy tôi nhủ thầm, đây hẳn là cô hầu gái cùng gã nhân tình mà ông đã đề cập, và quả nhiên quá trình điều tra đã xác thực điều đó. Tôi dạo quanh khu vườn, chỉ lượm lặt được mớ dấu chân hỗn độn, hẳn là của đám cảnh sát để lại; nhưng khi vừa rẽ vào con hẻm dẫn ra chuồng ngựa, một câu chuyện dài ngoằng và vô cùng ly kỳ đã phơi bày rành rành trên nền tuyết ngay trước mắt tôi.
“Tại đó, có một hàng dấu chân đôi của một kẻ đi ủng, và một hàng dấu vết đôi thứ hai mà tôi vô cùng mừng rỡ khi nhận ra đó là của một người đi chân trần. Xâu chuỗi với những gì ông kể, tôi lập tức đinh ninh người thứ hai chẳng ai khác ngoài cậu con trai ông. Gã thứ nhất thong dong thả bộ cả hai chiều, trong khi người còn lại thì guồng chân chạy thục mạng; và bởi những dấu chân trần giẫm đè lên vết ủng ở một vài chỗ, nên rõ mười mươi là cậu ấy đã đuổi theo gã kia. Lần theo những vết tích ấy, tôi thấy chúng dẫn thẳng tới cánh cửa sổ ngoài sảnh, nơi Kẻ-đi-ủng đã giẫm nát bươm toàn bộ lớp tuyết trong lúc chôn chân đứng đợi. Kế đến, tôi lần mò dọc theo con hẻm đến tận đầu kia, cách đó chừng hơn trăm thước. Tôi tìm thấy vị trí Kẻ-đi-ủng quay ngoắt người lại, nơi tuyết bị xới tung mù mịt chứng tỏ vừa xảy ra một cuộc giằng co ác liệt, và sau cùng, vài giọt máu rỏ xuống nền tuyết trắng xóa đã củng cố vững chắc phán đoán của tôi. Kẻ-đi-ủng sau đó đã co cẳng tháo chạy dọc con hẻm, để lại một vệt máu nhỏ giọt tố cáo chính hắn là kẻ đã dính đòn. Khi hắn chạy thoát ra con đường lớn ở đầu bên kia, vỉa hè đã được dọn sạch bong, thế là manh mối đến đó bị cắt đứt.
“Thế nhưng, khi quay vào nhà, hẳn ông còn nhớ, tôi đã tỉ mẩn soi xét bệ và khung cửa sổ ngoài sảnh bằng kính lúp, và ngay lập tức phát hiện ra vết tích của ai đó vừa trèo ra ngoài. Tôi còn phân biệt rõ mồn một đường nét mờ nhạt của một bàn chân ướt sũng in lại lúc trèo vào. Đến lúc này, toàn bộ bức tranh về vụ việc bắt đầu thành hình trong tâm trí tôi. Một gã đàn ông nấp sẵn bên ngoài cửa sổ; kẻ nào đó đã lén tuồn những viên ngọc ra ngoài; hành vi mờ ám này vô tình lọt vào tầm mắt của con trai ông; cậu ấy liền bám theo tên trộm; lao vào sống mái với hắn; mỗi người đều cố sức giật phăng chiếc vương miện về phía mình, lực kéo khủng khiếp từ cả hai phía đã bóp méo báu vật đến mức mà sức của một người bình thường không tài nào làm nổi. Cậu ấy đã mang được chiến lợi phẩm trở về, nhưng lại để lọt một mảnh vỡ vào tay gã đối thủ. Đến đây thì mọi chuyện đã tỏ tường. Câu hỏi hóc búa lúc này là: gã đàn ông kia là ai, và kẻ nào đã to gan mang chiếc vương miện đến dâng tận tay cho hắn?
“Tôi vẫn luôn nằm lòng một chân lý: khi ông đã loại bỏ tất thảy những điều bất khả thi, thì điều duy nhất còn sót lại, dù có phi lý đến đâu, đó vẫn chính là sự thật. Giờ thì tôi dám chắc không phải ông là người mang báu vật xuống, vậy thì diện tình nghi chỉ thu hẹp vào cháu gái ông và đám người hầu. Nhưng nếu thủ phạm là bọn hầu gái, cớ gì con trai ông lại phải cắn răng chịu trận thay cho chúng? Chẳng có lý do gì hợp lý cả. Thế nhưng, bởi lẽ cậu ấy thầm thương trộm nhớ cô em họ, nên việc cậu ấy một mực giữ mồm giữ miệng để bảo vệ bí mật cho cô ấy lại trở thành một lời giải thích quá đỗi hoàn hảo-nhất là khi bí mật ấy lại là một vết nhơ đáng hổ thẹn. Lại nhớ đến chuyện ông từng bắt gặp cô ấy lảng vảng bên cửa sổ, cộng thêm việc cô ấy lăn đùng ra ngất lịm đi khi nhìn thấy chiếc vương miện, những phỏng đoán của tôi lập tức hóa thành sự thật vững như bàn thạch.
“Vậy kẻ tòng phạm của cô ấy là ai? Không còn nghi ngờ gì nữa, đó phải là một nhân tình, bởi ngoài kẻ đó ra thì còn ai đủ sức làm lu mờ thứ tình cảm và lòng biết ơn sâu nặng mà cô ấy luôn dành cho ông? Tôi biết ông vốn sống khép kín, các mối quan hệ giao thiệp cũng vô cùng hạn hẹp. Nhưng nhét vừa vào cái nhóm nhỏ nhoi đó, có ngài George Burnwell. Tôi đã từng nghe phong thanh gã này vốn là một tay chơi khét tiếng mang danh tồi tệ trong mắt nữ giới. Gã đích thị là kẻ đã mang đôi ủng kia và nẫng tay trên những viên ngọc. Cho dù hắn thừa biết Arthur đã nhìn thấu tim đen của mình, hắn vẫn dương dương tự đắc rằng mình đang ngồi trong vùng an toàn, bởi gã thanh niên kia không đời nào dám cạy răng hé nửa lời nếu không muốn tự rước họa vào thân, bôi tro trát trấu vào chính gia đình mình.
“Chà, dựa vào lẽ thường tình, chắc hẳn ông cũng đoán được những nước cờ tiếp theo của tôi. Trong bộ dạng của một gã rách rưới, tôi mò đến tận dinh cơ của ngài George, khéo léo lân la làm quen với tên hầu phòng, để rồi moi được thông tin chủ của hắn vừa bị toạc đầu vào đêm qua; và cuối cùng, với cái giá sáu shilling8, tôi đã nắm chắc phần thắng trong tay khi mua lại được đôi giày cũ mèm của hắn. Cầm theo chiến lợi phẩm, tôi quay trở lại Streatham và phát hiện ra đôi giày khớp như in với những vết lún in hằn trên tuyết.”
“Chiều hôm qua, tôi có nhác thấy một gã lang thang ăn bận rách rưới lảng vảng trong hẻm,” ông Holder thốt lên.
“Chuẩn xác. Kẻ đó chính là tôi. Đã xác định đúng mục tiêu, tôi tức tốc trở về nhà thay lại y phục. Đó quả là một màn kịch tinh vi mà tôi buộc phải sắm vai vào thời khắc ấy, bởi tôi nhận thấy cần phải né tránh một vụ khởi tố nhằm bịt kín miệng tiếng thế gian khỏi một vụ bê bối ầm ĩ; và tôi cũng thừa hiểu, một tên cáo già gian xảo như hắn sẽ dễ dàng nắm thóp việc tay chân chúng ta đã bị trói chặt trong vụ này. Tôi đã đến và chạm mặt hắn. Lẽ dĩ nhiên, ban đầu hắn chối bay chối biến mọi thứ. Nhưng khi tôi rành rẽ thuật lại từng chi tiết đã diễn ra, hắn liền giở trò dọa dẫm và với tay gỡ cây gậy tự vệ vắt trên tường xuống. Tuy nhiên, tôi đã bắt bài hắn từ trước, bèn dí thẳng họng súng vào đầu hắn ngay trước khi hắn kịp ra đòn. Đến nước này thì hắn có vẻ đã ngoan ngoãn biết điều hơn. Tôi thẳng thừng tuyên bố chúng tôi sẵn sàng trả cho hắn một cái giá hậu hĩnh để chuộc lại những viên đá-1000 bảng Anh cho mỗi viên. Lời đề nghị đó ngay lập tức khơi lên những dấu hiệu tiếc nuối đầu tiên từ hắn. ‘Chà, chết tiệt!’ hắn gầm gừ, ‘Tôi đã đẩy sạch sành sanh ba viên với cái giá bèo bọt sáu trăm bảng!’ Tôi nhanh chóng xoay sở moi được địa chỉ của tay lái buôn đang tàng trữ chúng, kèm theo lời hứa danh dự sẽ không có bất kỳ vụ truy tố nào nhắm vào hắn. Tôi lập tức lên đường tìm đến chỗ tay lái buôn, và sau vô vàn màn mặc cả cò kè thêm bớt, cuối cùng tôi đã lấy lại được những viên đá của chúng ta với cái giá 1000 bảng Anh mỗi viên. Tiếp đó, tôi rẽ qua thăm con trai ông, trấn an cậu ấy rằng mọi chuyện đã được thu xếp êm xuôi, và cuối cùng thì tôi cũng được ngả lưng xuống giường vào lúc hai giờ sáng, kết thúc một ngày mà tôi có thể mạnh miệng gọi là vất vả đến nhừ tử.”
“Một ngày dài đã cứu rỗi cả nước Anh khỏi một vụ bê bối tày đình chấn động dư luận,” vị giám đốc ngân hàng dõng dạc nói, rồi đứng bật dậy. “Thưa ngài, tôi chẳng thể nào tìm được những ngôn từ đủ sức nặng để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc này, nhưng ngài sẽ thấy tôi quyết không phải là kẻ vô ơn bạc nghĩa trước những gì ngài đã cống hiến. Tài nghệ của ngài quả thực đã vượt xa những lời đồn thổi mà tôi từng được nghe. Và giờ đây, tôi phải tức tốc bay đến bên cậu con trai bé bỏng của tôi để tạ lỗi với nó về những oan uổng tày trời mà tôi đã trút xuống đầu nó. Còn về những gì ngài vừa thuật lại về Mary tội nghiệp, điều đó chẳng khác nào ngàn nhát dao cứa nát tâm can tôi. E rằng ngay cả tài nghệ xuất chúng của ngài cũng chẳng thể nào lần ra tung tích của con bé lúc này.”
“Tôi thiết nghĩ chúng ta có thể đoan chắc một điều,” Holmes điềm nhiên đáp, “rằng cô ấy đang nương náu ở bất cứ chốn nào có mặt ngài George Burnwell. Và có một điều cũng chắc chắn chẳng kém, dẫu cho tội lỗi của cô ấy có là gì chăng nữa, thì cô ấy cũng sẽ sớm phải gánh chịu một hình phạt còn nghiệt ngã hơn gấp bội.”
-
Tuyến đường sắt Metropolitan (nay là một phần của hệ thống London Underground) là tuyến đường sắt ngầm chở khách đầu tiên trên thế giới, khánh thành năm 1863. Ga gần phố Baker nhất chính là ga Baker Street thuộc tuyến Metropolitan này. ↩
-
Phố Threadneedle ở London nổi tiếng là trung tâm tài chính của thủ đô nước Anh từ thế kỷ 18, nơi đặt trụ sở của Ngân hàng Trung ương Anh (Bank of England), thường được gọi với biệt danh 'Bà đầm già phố Threadneedle'. ↩
-
Da Morocco (hay da dê Maroc) là loại da cao cấp, mềm mại, thường được nhuộm màu và dập nổi, rất được ưa chuộng trong ngành đóng sách và làm đồ da thủ công xa xỉ ở châu Âu thế kỷ 19. ↩
-
Beryl là tên gọi chung của một nhóm khoáng vật, trong đó bao gồm những loại đá quý nổi tiếng như ngọc lục bảo (emerald) và ngọc hải lam (aquamarine). Trong thời kỳ Victoria, các biến thể của beryl rất được giới hoàng gia và quý tộc ưa chuộng để chế tác kim hoàn. ↩
-
Streatham là một vùng ngoại ô ở phía Nam London. Vào cuối thế kỷ 19, đây là một khu vực dân cư yên tĩnh, rợp bóng cây, thường được các thương gia và giới nhà giàu làm việc tại trung tâm London chọn làm nơi sinh sống để tránh xa sự ồn ào của thành phố. ↩
-
Từ 'ma cà bông' được phiên âm từ chữ 'vagabond' trong tiếng Pháp, dùng để chỉ những kẻ lang thang, du thủ du thực, vô gia cư, thường có bộ dạng rách rưới và nhếch nhác. ↩
-
West End là khu vực phía Tây của trung tâm London, nổi tiếng từ thế kỷ 19 như một trung tâm văn hóa, giải trí, mua sắm sầm uất và cũng là nơi tập trung giới thượng lưu, trái ngược với khu East End nghèo khó hơn. ↩
-
Shilling là đơn vị tiền tệ cũ của Anh (trước năm 1971). Một bảng Anh bằng 20 shilling, và 1 shilling bằng 12 pence. Sáu shilling là một số tiền không nhỏ đối với giới lao động bấy giờ, đủ sức để mua chuộc một người hầu hay mua một món đồ cũ có giá trị. ↩
XI. THE ADVENTURE OF THE BERYL CORONET
“Holmes,” said I as I stood one morning in our bow-window looking down the street, “here is a madman coming along. It seems rather sad that his relatives should allow him to come out alone.”
My friend rose lazily from his armchair and stood with his hands in the pockets of his dressing-gown, looking over my shoulder. It was a bright, crisp February morning, and the snow of the day before still lay deep upon the ground, shimmering brightly in the wintry sun. Down the centre of Baker Street it had been ploughed into a brown crumbly band by the traffic, but at either side and on the heaped-up edges of the footpaths it still lay as white as when it fell. The grey pavement had been cleaned and scraped, but was still dangerously slippery, so that there were fewer passengers than usual. Indeed, from the direction of the Metropolitan Station no one was coming save the single gentleman whose eccentric conduct had drawn my attention.
He was a man of about fifty, tall, portly, and imposing, with a massive, strongly marked face and a commanding figure. He was dressed in a sombre yet rich style, in black frock-coat, shining hat, neat brown gaiters, and well-cut pearl-grey trousers. Yet his actions were in absurd contrast to the dignity of his dress and features, for he was running hard, with occasional little springs, such as a weary man gives who is little accustomed to set any tax upon his legs. As he ran he jerked his hands up and down, waggled his head, and writhed his face into the most extraordinary contortions.
“What on earth can be the matter with him?” I asked. “He is looking up at the numbers of the houses.”
“I believe that he is coming here,” said Holmes, rubbing his hands.
“Here?”
“Yes; I rather think he is coming to consult me professionally. I think that I recognise the symptoms. Ha! did I not tell you?” As he spoke, the man, puffing and blowing, rushed at our door and pulled at our bell until the whole house resounded with the clanging.
A few moments later he was in our room, still puffing, still gesticulating, but with so fixed a look of grief and despair in his eyes that our smiles were turned in an instant to horror and pity. For a while he could not get his words out, but swayed his body and plucked at his hair like one who has been driven to the extreme limits of his reason. Then, suddenly springing to his feet, he beat his head against the wall with such force that we both rushed upon him and tore him away to the centre of the room. Sherlock Holmes pushed him down into the easy-chair and, sitting beside him, patted his hand and chatted with him in the easy, soothing tones which he knew so well how to employ.
“You have come to me to tell your story, have you not?” said he. “You are fatigued with your haste. Pray wait until you have recovered yourself, and then I shall be most happy to look into any little problem which you may submit to me.”
The man sat for a minute or more with a heaving chest, fighting against his emotion. Then he passed his handkerchief over his brow, set his lips tight, and turned his face towards us.
“No doubt you think me mad?” said he.
“I see that you have had some great trouble,” responded Holmes.
“God knows I have!-a trouble which is enough to unseat my reason, so sudden and so terrible is it. Public disgrace I might have faced, although I am a man whose character has never yet borne a stain. Private affliction also is the lot of every man; but the two coming together, and in so frightful a form, have been enough to shake my very soul. Besides, it is not I alone. The very noblest in the land may suffer unless some way be found out of this horrible affair.”
“Pray compose yourself, sir,” said Holmes, “and let me have a clear account of who you are and what it is that has befallen you.”
“My name,” answered our visitor, “is probably familiar to your ears. I am Alexander Holder, of the banking firm of Holder & Stevenson, of Threadneedle Street.”
The name was indeed well known to us as belonging to the senior partner in the second largest private banking concern in the City of London. What could have happened, then, to bring one of the foremost citizens of London to this most pitiable pass? We waited, all curiosity, until with another effort he braced himself to tell his story.
“I feel that time is of value,” said he; “that is why I hastened here when the police inspector suggested that I should secure your co-operation. I came to Baker Street by the Underground and hurried from there on foot, for the cabs go slowly through this snow. That is why I was so out of breath, for I am a man who takes very little exercise. I feel better now, and I will put the facts before you as shortly and yet as clearly as I can.
“It is, of course, well known to you that in a successful banking business as much depends upon our being able to find remunerative investments for our funds as upon our increasing our connection and the number of our depositors. One of our most lucrative means of laying out money is in the shape of loans, where the security is unimpeachable. We have done a good deal in this direction during the last few years, and there are many noble families to whom we have advanced large sums upon the security of their pictures, libraries, or plate.
“Yesterday morning I was seated in my office at the bank when a card was brought in to me by one of the clerks. I started when I saw the name, for it was that of none other than-well, perhaps even to you I had better say no more than that it was a name which is a household word all over the earth-one of the highest, noblest, most exalted names in England. I was overwhelmed by the honour and attempted, when he entered, to say so, but he plunged at once into business with the air of a man who wishes to hurry quickly through a disagreeable task.
“‘Mr. Holder,’ said he, ‘I have been informed that you are in the habit of advancing money.’
“‘The firm does so when the security is good.’ I answered.
“‘It is absolutely essential to me,’ said he, ‘that I should have £ 50,000 at once. I could, of course, borrow so trifling a sum ten times over from my friends, but I much prefer to make it a matter of business and to carry out that business myself. In my position you can readily understand that it is unwise to place one’s self under obligations.’
“‘For how long, may I ask, do you want this sum?’ I asked.
“‘Next Monday I have a large sum due to me, and I shall then most certainly repay what you advance, with whatever interest you think it right to charge. But it is very essential to me that the money should be paid at once.’
“‘I should be happy to advance it without further parley from my own private purse,’ said I, ‘were it not that the strain would be rather more than it could bear. If, on the other hand, I am to do it in the name of the firm, then in justice to my partner I must insist that, even in your case, every businesslike precaution should be taken.’
“‘I should much prefer to have it so,’ said he, raising up a square, black morocco case which he had laid beside his chair. ‘You have doubtless heard of the Beryl Coronet?’
“‘One of the most precious public possessions of the empire,’ said I.
“‘Precisely.’ He opened the case, and there, imbedded in soft, flesh-coloured velvet, lay the magnificent piece of jewellery which he had named. ‘There are thirty-nine enormous beryls,’ said he, ‘and the price of the gold chasing is incalculable. The lowest estimate would put the worth of the coronet at double the sum which I have asked. I am prepared to leave it with you as my security.’
“I took the precious case into my hands and looked in some perplexity from it to my illustrious client.
“‘You doubt its value?’ he asked.
“‘Not at all. I only doubt-’
“‘The propriety of my leaving it. You may set your mind at rest about that. I should not dream of doing so were it not absolutely certain that I should be able in four days to reclaim it. It is a pure matter of form. Is the security sufficient?’
“‘Ample.’
“‘You understand, Mr. Holder, that I am giving you a strong proof of the confidence which I have in you, founded upon all that I have heard of you. I rely upon you not only to be discreet and to refrain from all gossip upon the matter but, above all, to preserve this coronet with every possible precaution because I need not say that a great public scandal would be caused if any harm were to befall it. Any injury to it would be almost as serious as its complete loss, for there are no beryls in the world to match these, and it would be impossible to replace them. I leave it with you, however, with every confidence, and I shall call for it in person on Monday morning.’
“Seeing that my client was anxious to leave, I said no more but, calling for my cashier, I ordered him to pay over fifty £ 1000 notes. When I was alone once more, however, with the precious case lying upon the table in front of me, I could not but think with some misgivings of the immense responsibility which it entailed upon me. There could be no doubt that, as it was a national possession, a horrible scandal would ensue if any misfortune should occur to it. I already regretted having ever consented to take charge of it. However, it was too late to alter the matter now, so I locked it up in my private safe and turned once more to my work.
“When evening came I felt that it would be an imprudence to leave so precious a thing in the office behind me. Bankers’ safes had been forced before now, and why should not mine be? If so, how terrible would be the position in which I should find myself! I determined, therefore, that for the next few days I would always carry the case backward and forward with me, so that it might never be really out of my reach. With this intention, I called a cab and drove out to my house at Streatham, carrying the jewel with me. I did not breathe freely until I had taken it upstairs and locked it in the bureau of my dressing-room.
“And now a word as to my household, Mr. Holmes, for I wish you to thoroughly understand the situation. My groom and my page sleep out of the house, and may be set aside altogether. I have three maid-servants who have been with me a number of years and whose absolute reliability is quite above suspicion. Another, Lucy Parr, the second waiting-maid, has only been in my service a few months. She came with an excellent character, however, and has always given me satisfaction. She is a very pretty girl and has attracted admirers who have occasionally hung about the place. That is the only drawback which we have found to her, but we believe her to be a thoroughly good girl in every way.
“So much for the servants. My family itself is so small that it will not take me long to describe it. I am a widower and have an only son, Arthur. He has been a disappointment to me, Mr. Holmes-a grievous disappointment. I have no doubt that I am myself to blame. People tell me that I have spoiled him. Very likely I have. When my dear wife died I felt that he was all I had to love. I could not bear to see the smile fade even for a moment from his face. I have never denied him a wish. Perhaps it would have been better for both of us had I been sterner, but I meant it for the best.
“It was naturally my intention that he should succeed me in my business, but he was not of a business turn. He was wild, wayward, and, to speak the truth, I could not trust him in the handling of large sums of money. When he was young he became a member of an aristocratic club, and there, having charming manners, he was soon the intimate of a number of men with long purses and expensive habits. He learned to play heavily at cards and to squander money on the turf, until he had again and again to come to me and implore me to give him an advance upon his allowance, that he might settle his debts of honour. He tried more than once to break away from the dangerous company which he was keeping, but each time the influence of his friend, Sir George Burnwell, was enough to draw him back again.
“And, indeed, I could not wonder that such a man as Sir George Burnwell should gain an influence over him, for he has frequently brought him to my house, and I have found myself that I could hardly resist the fascination of his manner. He is older than Arthur, a man of the world to his finger-tips, one who had been everywhere, seen everything, a brilliant talker, and a man of great personal beauty. Yet when I think of him in cold blood, far away from the glamour of his presence, I am convinced from his cynical speech and the look which I have caught in his eyes that he is one who should be deeply distrusted. So I think, and so, too, thinks my little Mary, who has a woman’s quick insight into character.
“And now there is only she to be described. She is my niece; but when my brother died five years ago and left her alone in the world I adopted her, and have looked upon her ever since as my daughter. She is a sunbeam in my house-sweet, loving, beautiful, a wonderful manager and housekeeper, yet as tender and quiet and gentle as a woman could be. She is my right hand. I do not know what I could do without her. In only one matter has she ever gone against my wishes. Twice my boy has asked her to marry him, for he loves her devotedly, but each time she has refused him. I think that if anyone could have drawn him into the right path it would have been she, and that his marriage might have changed his whole life; but now, alas! it is too late-forever too late!
“Now, Mr. Holmes, you know the people who live under my roof, and I shall continue with my miserable story.
“When we were taking coffee in the drawing-room that night after dinner, I told Arthur and Mary my experience, and of the precious treasure which we had under our roof, suppressing only the name of my client. Lucy Parr, who had brought in the coffee, had, I am sure, left the room; but I cannot swear that the door was closed. Mary and Arthur were much interested and wished to see the famous coronet, but I thought it better not to disturb it.
“‘Where have you put it?’ asked Arthur.
“‘In my own bureau.’
“‘Well, I hope to goodness the house won’t be burgled during the night.’ said he.
“‘It is locked up,’ I answered.
“‘Oh, any old key will fit that bureau. When I was a youngster I have opened it myself with the key of the box-room cupboard.’
“He often had a wild way of talking, so that I thought little of what he said. He followed me to my room, however, that night with a very grave face.
“‘Look here, dad,’ said he with his eyes cast down, ‘can you let me have £ 200?’
“‘No, I cannot!’ I answered sharply. ‘I have been far too generous with you in money matters.’
“‘You have been very kind,’ said he, ‘but I must have this money, or else I can never show my face inside the club again.’
“‘And a very good thing, too!’ I cried.
“‘Yes, but you would not have me leave it a dishonoured man,’ said he. ‘I could not bear the disgrace. I must raise the money in some way, and if you will not let me have it, then I must try other means.’
“I was very angry, for this was the third demand during the month. ‘You shall not have a farthing from me,’ I cried, on which he bowed and left the room without another word.
“When he was gone I unlocked my bureau, made sure that my treasure was safe, and locked it again. Then I started to go round the house to see that all was secure-a duty which I usually leave to Mary but which I thought it well to perform myself that night. As I came down the stairs I saw Mary herself at the side window of the hall, which she closed and fastened as I approached.
“‘Tell me, dad,’ said she, looking, I thought, a little disturbed, ‘did you give Lucy, the maid, leave to go out to-night?’
“‘Certainly not.’
“‘She came in just now by the back door. I have no doubt that she has only been to the side gate to see someone, but I think that it is hardly safe and should be stopped.’
“‘You must speak to her in the morning, or I will if you prefer it. Are you sure that everything is fastened?’
“‘Quite sure, dad.’
“‘Then, good-night.’ I kissed her and went up to my bedroom again, where I was soon asleep.
“I am endeavouring to tell you everything, Mr. Holmes, which may have any bearing upon the case, but I beg that you will question me upon any point which I do not make clear.”
“On the contrary, your statement is singularly lucid.”
“I come to a part of my story now in which I should wish to be particularly so. I am not a very heavy sleeper, and the anxiety in my mind tended, no doubt, to make me even less so than usual. About two in the morning, then, I was awakened by some sound in the house. It had ceased ere I was wide awake, but it had left an impression behind it as though a window had gently closed somewhere. I lay listening with all my ears. Suddenly, to my horror, there was a distinct sound of footsteps moving softly in the next room. I slipped out of bed, all palpitating with fear, and peeped round the corner of my dressing-room door.
“‘Arthur!’ I screamed, ‘you villain! you thief! How dare you touch that coronet?’
“The gas was half up, as I had left it, and my unhappy boy, dressed only in his shirt and trousers, was standing beside the light, holding the coronet in his hands. He appeared to be wrenching at it, or bending it with all his strength. At my cry he dropped it from his grasp and turned as pale as death. I snatched it up and examined it. One of the gold corners, with three of the beryls in it, was missing.
“‘You blackguard!’ I shouted, beside myself with rage. ‘You have destroyed it! You have dishonoured me forever! Where are the jewels which you have stolen?’
“‘Stolen!’ he cried.
“‘Yes, thief!’ I roared, shaking him by the shoulder.
“‘There are none missing. There cannot be any missing,’ said he.
“‘There are three missing. And you know where they are. Must I call you a liar as well as a thief? Did I not see you trying to tear off another piece?’
“‘You have called me names enough,’ said he, ‘I will not stand it any longer. I shall not say another word about this business, since you have chosen to insult me. I will leave your house in the morning and make my own way in the world.’
“‘You shall leave it in the hands of the police!’ I cried half-mad with grief and rage. ‘I shall have this matter probed to the bottom.’
“‘You shall learn nothing from me,’ said he with a passion such as I should not have thought was in his nature. ‘If you choose to call the police, let the police find what they can.’
“By this time the whole house was astir, for I had raised my voice in my anger. Mary was the first to rush into my room, and, at the sight of the coronet and of Arthur’s face, she read the whole story and, with a scream, fell down senseless on the ground. I sent the housemaid for the police and put the investigation into their hands at once. When the inspector and a constable entered the house, Arthur, who had stood sullenly with his arms folded, asked me whether it was my intention to charge him with theft. I answered that it had ceased to be a private matter, but had become a public one, since the ruined coronet was national property. I was determined that the law should have its way in everything.
“‘At least,’ said he, ‘you will not have me arrested at once. It would be to your advantage as well as mine if I might leave the house for five minutes.’
“‘That you may get away, or perhaps that you may conceal what you have stolen,’ said I. And then, realising the dreadful position in which I was placed, I implored him to remember that not only my honour but that of one who was far greater than I was at stake; and that he threatened to raise a scandal which would convulse the nation. He might avert it all if he would but tell me what he had done with the three missing stones.
“‘You may as well face the matter,’ said I; ‘you have been caught in the act, and no confession could make your guilt more heinous. If you but make such reparation as is in your power, by telling us where the beryls are, all shall be forgiven and forgotten.’
“‘Keep your forgiveness for those who ask for it,’ he answered, turning away from me with a sneer. I saw that he was too hardened for any words of mine to influence him. There was but one way for it. I called in the inspector and gave him into custody. A search was made at once not only of his person but of his room and of every portion of the house where he could possibly have concealed the gems; but no trace of them could be found, nor would the wretched boy open his mouth for all our persuasions and our threats. This morning he was removed to a cell, and I, after going through all the police formalities, have hurried round to you to implore you to use your skill in unravelling the matter. The police have openly confessed that they can at present make nothing of it. You may go to any expense which you think necessary. I have already offered a reward of £ 1000. My God, what shall I do! I have lost my honour, my gems, and my son in one night. Oh, what shall I do!”
He put a hand on either side of his head and rocked himself to and fro, droning to himself like a child whose grief has got beyond words.
Sherlock Holmes sat silent for some few minutes, with his brows knitted and his eyes fixed upon the fire.
“Do you receive much company?” he asked.
“None save my partner with his family and an occasional friend of Arthur’s. Sir George Burnwell has been several times lately. No one else, I think.”
“Do you go out much in society?”
“Arthur does. Mary and I stay at home. We neither of us care for it.”
“That is unusual in a young girl.”
“She is of a quiet nature. Besides, she is not so very young. She is four-and-twenty.”
“This matter, from what you say, seems to have been a shock to her also.”
“Terrible! She is even more affected than I.”
“You have neither of you any doubt as to your son’s guilt?”
“How can we have when I saw him with my own eyes with the coronet in his hands.”
“I hardly consider that a conclusive proof. Was the remainder of the coronet at all injured?”
“Yes, it was twisted.”
“Do you not think, then, that he might have been trying to straighten it?”
“God bless you! You are doing what you can for him and for me. But it is too heavy a task. What was he doing there at all? If his purpose were innocent, why did he not say so?”
“Precisely. And if it were guilty, why did he not invent a lie? His silence appears to me to cut both ways. There are several singular points about the case. What did the police think of the noise which awoke you from your sleep?”
“They considered that it might be caused by Arthur’s closing his bedroom door.”
“A likely story! As if a man bent on felony would slam his door so as to wake a household. What did they say, then, of the disappearance of these gems?”
“They are still sounding the planking and probing the furniture in the hope of finding them.”
“Have they thought of looking outside the house?”
“Yes, they have shown extraordinary energy. The whole garden has already been minutely examined.”
“Now, my dear sir,” said Holmes, “is it not obvious to you now that this matter really strikes very much deeper than either you or the police were at first inclined to think? It appeared to you to be a simple case; to me it seems exceedingly complex. Consider what is involved by your theory. You suppose that your son came down from his bed, went, at great risk, to your dressing-room, opened your bureau, took out your coronet, broke off by main force a small portion of it, went off to some other place, concealed three gems out of the thirty-nine, with such skill that nobody can find them, and then returned with the other thirty-six into the room in which he exposed himself to the greatest danger of being discovered. I ask you now, is such a theory tenable?”
“But what other is there?” cried the banker with a gesture of despair. “If his motives were innocent, why does he not explain them?”
“It is our task to find that out,” replied Holmes; “so now, if you please, Mr. Holder, we will set off for Streatham together, and devote an hour to glancing a little more closely into details.”
My friend insisted upon my accompanying them in their expedition, which I was eager enough to do, for my curiosity and sympathy were deeply stirred by the story to which we had listened. I confess that the guilt of the banker’s son appeared to me to be as obvious as it did to his unhappy father, but still I had such faith in Holmes’ judgment that I felt that there must be some grounds for hope as long as he was dissatisfied with the accepted explanation. He hardly spoke a word the whole way out to the southern suburb, but sat with his chin upon his breast and his hat drawn over his eyes, sunk in the deepest thought. Our client appeared to have taken fresh heart at the little glimpse of hope which had been presented to him, and he even broke into a desultory chat with me over his business affairs. A short railway journey and a shorter walk brought us to Fairbank, the modest residence of the great financier.
Fairbank was a good-sized square house of white stone, standing back a little from the road. A double carriage-sweep, with a snow-clad lawn, stretched down in front to two large iron gates which closed the entrance. On the right side was a small wooden thicket, which led into a narrow path between two neat hedges stretching from the road to the kitchen door, and forming the tradesmen’s entrance. On the left ran a lane which led to the stables, and was not itself within the grounds at all, being a public, though little used, thoroughfare. Holmes left us standing at the door and walked slowly all round the house, across the front, down the tradesmen’s path, and so round by the garden behind into the stable lane. So long was he that Mr. Holder and I went into the dining-room and waited by the fire until he should return. We were sitting there in silence when the door opened and a young lady came in. She was rather above the middle height, slim, with dark hair and eyes, which seemed the darker against the absolute pallor of her skin. I do not think that I have ever seen such deadly paleness in a woman’s face. Her lips, too, were bloodless, but her eyes were flushed with crying. As she swept silently into the room she impressed me with a greater sense of grief than the banker had done in the morning, and it was the more striking in her as she was evidently a woman of strong character, with immense capacity for self-restraint. Disregarding my presence, she went straight to her uncle and passed her hand over his head with a sweet womanly caress.
“You have given orders that Arthur should be liberated, have you not, dad?” she asked.
“No, no, my girl, the matter must be probed to the bottom.”
“But I am so sure that he is innocent. You know what woman’s instincts are. I know that he has done no harm and that you will be sorry for having acted so harshly.”
“Why is he silent, then, if he is innocent?”
“Who knows? Perhaps because he was so angry that you should suspect him.”
“How could I help suspecting him, when I actually saw him with the coronet in his hand?”
“Oh, but he had only picked it up to look at it. Oh, do, do take my word for it that he is innocent. Let the matter drop and say no more. It is so dreadful to think of our dear Arthur in prison!”
“I shall never let it drop until the gems are found-never, Mary! Your affection for Arthur blinds you as to the awful consequences to me. Far from hushing the thing up, I have brought a gentleman down from London to inquire more deeply into it.”
“This gentleman?” she asked, facing round to me.
“No, his friend. He wished us to leave him alone. He is round in the stable lane now.”
“The stable lane?” She raised her dark eyebrows. “What can he hope to find there? Ah! this, I suppose, is he. I trust, sir, that you will succeed in proving, what I feel sure is the truth, that my cousin Arthur is innocent of this crime.”
“I fully share your opinion, and I trust, with you, that we may prove it,” returned Holmes, going back to the mat to knock the snow from his shoes. “I believe I have the honour of addressing Miss Mary Holder. Might I ask you a question or two?”
“Pray do, sir, if it may help to clear this horrible affair up.”
“You heard nothing yourself last night?”
“Nothing, until my uncle here began to speak loudly. I heard that, and I came down.”
“You shut up the windows and doors the night before. Did you fasten all the windows?”
“Yes.”
“Were they all fastened this morning?”
“Yes.”
“You have a maid who has a sweetheart? I think that you remarked to your uncle last night that she had been out to see him?”
“Yes, and she was the girl who waited in the drawing-room, and who may have heard uncle’s remarks about the coronet.”
“I see. You infer that she may have gone out to tell her sweetheart, and that the two may have planned the robbery.”
“But what is the good of all these vague theories,” cried the banker impatiently, “when I have told you that I saw Arthur with the coronet in his hands?”
“Wait a little, Mr. Holder. We must come back to that. About this girl, Miss Holder. You saw her return by the kitchen door, I presume?”
“Yes; when I went to see if the door was fastened for the night I met her slipping in. I saw the man, too, in the gloom.”
“Do you know him?”
“Oh, yes! he is the greengrocer who brings our vegetables round. His name is Francis Prosper.”
“He stood,” said Holmes, “to the left of the door-that is to say, farther up the path than is necessary to reach the door?”
“Yes, he did.”
“And he is a man with a wooden leg?”
Something like fear sprang up in the young lady’s expressive black eyes. “Why, you are like a magician,” said she. “How do you know that?” She smiled, but there was no answering smile in Holmes’ thin, eager face.
“I should be very glad now to go upstairs,” said he. “I shall probably wish to go over the outside of the house again. Perhaps I had better take a look at the lower windows before I go up.”
He walked swiftly round from one to the other, pausing only at the large one which looked from the hall onto the stable lane. This he opened and made a very careful examination of the sill with his powerful magnifying lens. “Now we shall go upstairs,” said he at last.
The banker’s dressing-room was a plainly furnished little chamber, with a grey carpet, a large bureau, and a long mirror. Holmes went to the bureau first and looked hard at the lock.
“Which key was used to open it?” he asked.
“That which my son himself indicated-that of the cupboard of the lumber-room.”
“Have you it here?”
“That is it on the dressing-table.”
Sherlock Holmes took it up and opened the bureau.
“It is a noiseless lock,” said he. “It is no wonder that it did not wake you. This case, I presume, contains the coronet. We must have a look at it.” He opened the case, and taking out the diadem he laid it upon the table. It was a magnificent specimen of the jeweller’s art, and the thirty-six stones were the finest that I have ever seen. At one side of the coronet was a cracked edge, where a corner holding three gems had been torn away.
“Now, Mr. Holder,” said Holmes, “here is the corner which corresponds to that which has been so unfortunately lost. Might I beg that you will break it off.”
The banker recoiled in horror. “I should not dream of trying,” said he.
“Then I will.” Holmes suddenly bent his strength upon it, but without result. “I feel it give a little,” said he; “but, though I am exceptionally strong in the fingers, it would take me all my time to break it. An ordinary man could not do it. Now, what do you think would happen if I did break it, Mr. Holder? There would be a noise like a pistol shot. Do you tell me that all this happened within a few yards of your bed and that you heard nothing of it?”
“I do not know what to think. It is all dark to me.”
“But perhaps it may grow lighter as we go. What do you think, Miss Holder?”
“I confess that I still share my uncle’s perplexity.”
“Your son had no shoes or slippers on when you saw him?”
“He had nothing on save only his trousers and shirt.”
“Thank you. We have certainly been favoured with extraordinary luck during this inquiry, and it will be entirely our own fault if we do not succeed in clearing the matter up. With your permission, Mr. Holder, I shall now continue my investigations outside.”
He went alone, at his own request, for he explained that any unnecessary footmarks might make his task more difficult. For an hour or more he was at work, returning at last with his feet heavy with snow and his features as inscrutable as ever.
“I think that I have seen now all that there is to see, Mr. Holder,” said he; “I can serve you best by returning to my rooms.”
“But the gems, Mr. Holmes. Where are they?”
“I cannot tell.”
The banker wrung his hands. “I shall never see them again!” he cried. “And my son? You give me hopes?”
“My opinion is in no way altered.”
“Then, for God’s sake, what was this dark business which was acted in my house last night?”
“If you can call upon me at my Baker Street rooms to-morrow morning between nine and ten I shall be happy to do what I can to make it clearer. I understand that you give me carte blanche to act for you, provided only that I get back the gems, and that you place no limit on the sum I may draw.”
“I would give my fortune to have them back.”
“Very good. I shall look into the matter between this and then. Good-bye; it is just possible that I may have to come over here again before evening.”
It was obvious to me that my companion’s mind was now made up about the case, although what his conclusions were was more than I could even dimly imagine. Several times during our homeward journey I endeavoured to sound him upon the point, but he always glided away to some other topic, until at last I gave it over in despair. It was not yet three when we found ourselves in our rooms once more. He hurried to his chamber and was down again in a few minutes dressed as a common loafer. With his collar turned up, his shiny, seedy coat, his red cravat, and his worn boots, he was a perfect sample of the class.
“I think that this should do,” said he, glancing into the glass above the fireplace. “I only wish that you could come with me, Watson, but I fear that it won’t do. I may be on the trail in this matter, or I may be following a will-o’-the-wisp, but I shall soon know which it is. I hope that I may be back in a few hours.” He cut a slice of beef from the joint upon the sideboard, sandwiched it between two rounds of bread, and thrusting this rude meal into his pocket he started off upon his expedition.
I had just finished my tea when he returned, evidently in excellent spirits, swinging an old elastic-sided boot in his hand. He chucked it down into a corner and helped himself to a cup of tea.
“I only looked in as I passed,” said he. “I am going right on.”
“Where to?”
“Oh, to the other side of the West End. It may be some time before I get back. Don’t wait up for me in case I should be late.”
“How are you getting on?”
“Oh, so so. Nothing to complain of. I have been out to Streatham since I saw you last, but I did not call at the house. It is a very sweet little problem, and I would not have missed it for a good deal. However, I must not sit gossiping here, but must get these disreputable clothes off and return to my highly respectable self.”
I could see by his manner that he had stronger reasons for satisfaction than his words alone would imply. His eyes twinkled, and there was even a touch of colour upon his sallow cheeks. He hastened upstairs, and a few minutes later I heard the slam of the hall door, which told me that he was off once more upon his congenial hunt.
I waited until midnight, but there was no sign of his return, so I retired to my room. It was no uncommon thing for him to be away for days and nights on end when he was hot upon a scent, so that his lateness caused me no surprise. I do not know at what hour he came in, but when I came down to breakfast in the morning there he was with a cup of coffee in one hand and the paper in the other, as fresh and trim as possible.
“You will excuse my beginning without you, Watson,” said he, “but you remember that our client has rather an early appointment this morning.”
“Why, it is after nine now,” I answered. “I should not be surprised if that were he. I thought I heard a ring.”
It was, indeed, our friend the financier. I was shocked by the change which had come over him, for his face which was naturally of a broad and massive mould, was now pinched and fallen in, while his hair seemed to me at least a shade whiter. He entered with a weariness and lethargy which was even more painful than his violence of the morning before, and he dropped heavily into the armchair which I pushed forward for him.
“I do not know what I have done to be so severely tried,” said he. “Only two days ago I was a happy and prosperous man, without a care in the world. Now I am left to a lonely and dishonoured age. One sorrow comes close upon the heels of another. My niece, Mary, has deserted me.”
“Deserted you?”
“Yes. Her bed this morning had not been slept in, her room was empty, and a note for me lay upon the hall table. I had said to her last night, in sorrow and not in anger, that if she had married my boy all might have been well with him. Perhaps it was thoughtless of me to say so. It is to that remark that she refers in this note:
“‘MY DEAREST UNCLE,-I feel that I have brought trouble upon you, and that if I had acted differently this terrible misfortune might never have occurred. I cannot, with this thought in my mind, ever again be happy under your roof, and I feel that I must leave you forever. Do not worry about my future, for that is provided for; and, above all, do not search for me, for it will be fruitless labour and an ill-service to me. In life or in death, I am ever your loving,
“‘MARY.’
“What could she mean by that note, Mr. Holmes? Do you think it points to suicide?”
“No, no, nothing of the kind. It is perhaps the best possible solution. I trust, Mr. Holder, that you are nearing the end of your troubles.”
“Ha! You say so! You have heard something, Mr. Holmes; you have learned something! Where are the gems?”
“You would not think £ 1000 apiece an excessive sum for them?”
“I would pay ten.”
“That would be unnecessary. Three thousand will cover the matter. And there is a little reward, I fancy. Have you your cheque-book? Here is a pen. Better make it out for £ 4000.”
With a dazed face the banker made out the required check. Holmes walked over to his desk, took out a little triangular piece of gold with three gems in it, and threw it down upon the table.
With a shriek of joy our client clutched it up.
“You have it!” he gasped. “I am saved! I am saved!”
The reaction of joy was as passionate as his grief had been, and he hugged his recovered gems to his bosom.
“There is one other thing you owe, Mr. Holder,” said Sherlock Holmes rather sternly.
“Owe!” He caught up a pen. “Name the sum, and I will pay it.”
“No, the debt is not to me. You owe a very humble apology to that noble lad, your son, who has carried himself in this matter as I should be proud to see my own son do, should I ever chance to have one.”
“Then it was not Arthur who took them?”
“I told you yesterday, and I repeat to-day, that it was not.”
“You are sure of it! Then let us hurry to him at once to let him know that the truth is known.”
“He knows it already. When I had cleared it all up I had an interview with him, and finding that he would not tell me the story, I told it to him, on which he had to confess that I was right and to add the very few details which were not yet quite clear to me. Your news of this morning, however, may open his lips.”
“For Heaven’s sake, tell me, then, what is this extraordinary mystery!”
“I will do so, and I will show you the steps by which I reached it. And let me say to you, first, that which it is hardest for me to say and for you to hear: there has been an understanding between Sir George Burnwell and your niece Mary. They have now fled together.”
“My Mary? Impossible!”
“It is unfortunately more than possible; it is certain. Neither you nor your son knew the true character of this man when you admitted him into your family circle. He is one of the most dangerous men in England-a ruined gambler, an absolutely desperate villain, a man without heart or conscience. Your niece knew nothing of such men. When he breathed his vows to her, as he had done to a hundred before her, she flattered herself that she alone had touched his heart. The devil knows best what he said, but at least she became his tool and was in the habit of seeing him nearly every evening.”
“I cannot, and I will not, believe it!” cried the banker with an ashen face.
“I will tell you, then, what occurred in your house last night. Your niece, when you had, as she thought, gone to your room, slipped down and talked to her lover through the window which leads into the stable lane. His footmarks had pressed right through the snow, so long had he stood there. She told him of the coronet. His wicked lust for gold kindled at the news, and he bent her to his will. I have no doubt that she loved you, but there are women in whom the love of a lover extinguishes all other loves, and I think that she must have been one. She had hardly listened to his instructions when she saw you coming downstairs, on which she closed the window rapidly and told you about one of the servants’ escapade with her wooden-legged lover, which was all perfectly true.
“Your boy, Arthur, went to bed after his interview with you but he slept badly on account of his uneasiness about his club debts. In the middle of the night he heard a soft tread pass his door, so he rose and, looking out, was surprised to see his cousin walking very stealthily along the passage until she disappeared into your dressing-room. Petrified with astonishment, the lad slipped on some clothes and waited there in the dark to see what would come of this strange affair. Presently she emerged from the room again, and in the light of the passage-lamp your son saw that she carried the precious coronet in her hands. She passed down the stairs, and he, thrilling with horror, ran along and slipped behind the curtain near your door, whence he could see what passed in the hall beneath. He saw her stealthily open the window, hand out the coronet to someone in the gloom, and then closing it once more hurry back to her room, passing quite close to where he stood hid behind the curtain.
“As long as she was on the scene he could not take any action without a horrible exposure of the woman whom he loved. But the instant that she was gone he realised how crushing a misfortune this would be for you, and how all-important it was to set it right. He rushed down, just as he was, in his bare feet, opened the window, sprang out into the snow, and ran down the lane, where he could see a dark figure in the moonlight. Sir George Burnwell tried to get away, but Arthur caught him, and there was a struggle between them, your lad tugging at one side of the coronet, and his opponent at the other. In the scuffle, your son struck Sir George and cut him over the eye. Then something suddenly snapped, and your son, finding that he had the coronet in his hands, rushed back, closed the window, ascended to your room, and had just observed that the coronet had been twisted in the struggle and was endeavouring to straighten it when you appeared upon the scene.”
“Is it possible?” gasped the banker.
“You then roused his anger by calling him names at a moment when he felt that he had deserved your warmest thanks. He could not explain the true state of affairs without betraying one who certainly deserved little enough consideration at his hands. He took the more chivalrous view, however, and preserved her secret.”
“And that was why she shrieked and fainted when she saw the coronet,” cried Mr. Holder. “Oh, my God! what a blind fool I have been! And his asking to be allowed to go out for five minutes! The dear fellow wanted to see if the missing piece were at the scene of the struggle. How cruelly I have misjudged him!”
“When I arrived at the house,” continued Holmes, “I at once went very carefully round it to observe if there were any traces in the snow which might help me. I knew that none had fallen since the evening before, and also that there had been a strong frost to preserve impressions. I passed along the tradesmen’s path, but found it all trampled down and indistinguishable. Just beyond it, however, at the far side of the kitchen door, a woman had stood and talked with a man, whose round impressions on one side showed that he had a wooden leg. I could even tell that they had been disturbed, for the woman had run back swiftly to the door, as was shown by the deep toe and light heel marks, while Wooden-leg had waited a little, and then had gone away. I thought at the time that this might be the maid and her sweetheart, of whom you had already spoken to me, and inquiry showed it was so. I passed round the garden without seeing anything more than random tracks, which I took to be the police; but when I got into the stable lane a very long and complex story was written in the snow in front of me.
“There was a double line of tracks of a booted man, and a second double line which I saw with delight belonged to a man with naked feet. I was at once convinced from what you had told me that the latter was your son. The first had walked both ways, but the other had run swiftly, and as his tread was marked in places over the depression of the boot, it was obvious that he had passed after the other. I followed them up and found they led to the hall window, where Boots had worn all the snow away while waiting. Then I walked to the other end, which was a hundred yards or more down the lane. I saw where Boots had faced round, where the snow was cut up as though there had been a struggle, and, finally, where a few drops of blood had fallen, to show me that I was not mistaken. Boots had then run down the lane, and another little smudge of blood showed that it was he who had been hurt. When he came to the high road at the other end, I found that the pavement had been cleared, so there was an end to that clue.
“On entering the house, however, I examined, as you remember, the sill and framework of the hall window with my lens, and I could at once see that someone had passed out. I could distinguish the outline of an instep where the wet foot had been placed in coming in. I was then beginning to be able to form an opinion as to what had occurred. A man had waited outside the window; someone had brought the gems; the deed had been overseen by your son; he had pursued the thief; had struggled with him; they had each tugged at the coronet, their united strength causing injuries which neither alone could have effected. He had returned with the prize, but had left a fragment in the grasp of his opponent. So far I was clear. The question now was, who was the man, and who was it brought him the coronet?
“It is an old maxim of mine that when you have excluded the impossible, whatever remains, however improbable, must be the truth. Now, I knew that it was not you who had brought it down, so there only remained your niece and the maids. But if it were the maids, why should your son allow himself to be accused in their place? There could be no possible reason. As he loved his cousin, however, there was an excellent explanation why he should retain her secret-the more so as the secret was a disgraceful one. When I remembered that you had seen her at that window, and how she had fainted on seeing the coronet again, my conjecture became a certainty.
“And who could it be who was her confederate? A lover evidently, for who else could outweigh the love and gratitude which she must feel to you? I knew that you went out little, and that your circle of friends was a very limited one. But among them was Sir George Burnwell. I had heard of him before as being a man of evil reputation among women. It must have been he who wore those boots and retained the missing gems. Even though he knew that Arthur had discovered him, he might still flatter himself that he was safe, for the lad could not say a word without compromising his own family.
“Well, your own good sense will suggest what measures I took next. I went in the shape of a loafer to Sir George’s house, managed to pick up an acquaintance with his valet, learned that his master had cut his head the night before, and, finally, at the expense of six shillings, made all sure by buying a pair of his cast-off shoes. With these I journeyed down to Streatham and saw that they exactly fitted the tracks.”
“I saw an ill-dressed vagabond in the lane yesterday evening,” said Mr. Holder.
“Precisely. It was I. I found that I had my man, so I came home and changed my clothes. It was a delicate part which I had to play then, for I saw that a prosecution must be avoided to avert scandal, and I knew that so astute a villain would see that our hands were tied in the matter. I went and saw him. At first, of course, he denied everything. But when I gave him every particular that had occurred, he tried to bluster and took down a life-preserver from the wall. I knew my man, however, and I clapped a pistol to his head before he could strike. Then he became a little more reasonable. I told him that we would give him a price for the stones he held-£ 1000 apiece. That brought out the first signs of grief that he had shown. ‘Why, dash it all!’ said he, ‘I’ve let them go at six hundred for the three!’ I soon managed to get the address of the receiver who had them, on promising him that there would be no prosecution. Off I set to him, and after much chaffering I got our stones at £ 1000 apiece. Then I looked in upon your son, told him that all was right, and eventually got to my bed about two o’clock, after what I may call a really hard day’s work.”
“A day which has saved England from a great public scandal,” said the banker, rising. “Sir, I cannot find words to thank you, but you shall not find me ungrateful for what you have done. Your skill has indeed exceeded all that I have heard of it. And now I must fly to my dear boy to apologise to him for the wrong which I have done him. As to what you tell me of poor Mary, it goes to my very heart. Not even your skill can inform me where she is now.”
“I think that we may safely say,” returned Holmes, “that she is wherever Sir George Burnwell is. It is equally certain, too, that whatever her sins are, they will soon receive a more than sufficient punishment.”