II. VỤ ÁN NGƯỜI LÍNH CÓ KHUÔN MẶT TRẮNG BỆCH

Ý tưởng của anh bạn Watson của tôi, dẫu có phần hạn hẹp, lại vô cùng cố chấp. Đã từ lâu, anh luôn thúc giục tôi tự tay chấp bút thuật lại một cuộc điều tra của chính mình. Có lẽ tôi cũng tự chuốc lấy sự phiền toái này, bởi lẽ tôi thường chỉ ra những điểm hời hợt trong các ghi chép của anh. Tôi trách anh mải mê chạy theo thị hiếu đám đông, thay vì bám sát vào những dữ kiện và con số cốt lõi. "Thế thì anh thử tự viết xem, Holmes!" - anh vặn lại. Và tôi buộc phải thừa nhận rằng, lúc cầm bút lên, tôi mới vỡ lẽ một câu chuyện cần được gọt giũa khéo léo ra sao để đủ sức níu chân các bạn, những độc giả trân quý. Vụ án sắp được kể lại dưới đây hẳn sẽ không làm quý vị thất vọng. Đây là một trong những sự kiện kỳ lạ bậc nhất trong kho tàng phá án của tôi, dẫu tình cờ thay, Watson lại chẳng hề lưu giữ chút biên niên nào về nó. Nhân nhắc đến người bằng hữu cũ kiêm người viết tiểu sử tận tụy này, tôi cũng muốn mượn cơ hội trần tình đôi điều. Việc tôi tự gánh thêm một người bạn đồng hành vào vô số các cuộc điều tra lớn nhỏ hoàn toàn không xuất phát từ tình cảm hay phút bốc đồng. Căn nguyên là bởi Watson sở hữu những phẩm chất vô cùng đặc biệt. Với bản tính khiêm nhường, anh hiếm khi tự nhận thức được điều đó, nhất là khi anh luôn dành những lời tán dương thái quá cho các màn suy luận của tôi. Một cộng sự luôn cầm đèn chạy trước ô, đoán định mọi kết luận và đường đi nước bước quả thực vô cùng nguy hiểm. Ngược lại, một người luôn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác trước mỗi bước ngoặt của vụ án, một người mà tương lai với anh ta luôn là cuốn sách đóng kín, đó mới đích thực là trợ thủ lý tưởng.

Lật lại cuốn sổ tay, tôi thấy ghi chép về một sự kiện diễn ra vào tháng Giêng năm 1903, thời điểm Chiến tranh Boer1 vừa khép lại. Hôm ấy, tôi đón một vị khách đặc biệt: ông James M. Dodd. Đó là một gã người Anh to lớn, vạm vỡ, mang nét tươi tắn với làn da rám nắng sương gió. Anh bạn Watson tốt bụng lúc bấy giờ đã "bỏ rơi" tôi để lập gia đình - hành động ích kỷ duy nhất của anh mà tôi còn nhớ được trong suốt ngần ấy năm cộng tác. Vậy nên, lúc đó tôi chỉ có một mình.

Tôi vẫn giữ thói quen ngồi quay lưng về phía cửa sổ. Khách hàng sẽ an tọa ở chiếc ghế đối diện, nơi ánh sáng ban ngày soi rọi rõ từng đường nét trên gương mặt họ. Ông James M. Dodd tỏ ra đôi chút bối rối, dường như chưa biết phải mổ xẻ câu chuyện từ đâu. Tôi cũng chẳng buồn phá vỡ bầu không khí, bởi chính sự im lặng ấy lại ban cho tôi thêm thời gian quý báu để quan sát. Theo kinh nghiệm của tôi, việc phủ lên tâm trí khách hàng một ấn tượng về sự uyên thâm quyền lực luôn là một bước đi khôn ngoan. Vì lẽ đó, tôi quyết định chia sẻ với anh vài suy luận vừa nảy ra trong đầu.

"Anh vừa trở về từ Nam Phi phải không?"

"Vâng, thưa ông," anh đáp lại, lộ vẻ ngạc nhiên trông thấy.

"Và tôi đoán, anh từng phục vụ trong đội Kỵ binh Hoàng gia2."

"Hoàn toàn chính xác."

"Thuộc trung đoàn Middlesex, chắc chắn là vậy rồi."

"Đúng thế. Thật không thể tin nổi! Ông Holmes, ông cứ như một vị thuật sĩ vậy."

Tôi khẽ mỉm cười trước dáng vẻ thảng thốt của người khách.

"Khi một quý ông nam tính bước vào phòng tôi, mang theo một gương mặt sạm đen vì nắng gió - thứ màu da mà ánh mặt trời nhợt nhạt của nước Anh chẳng thể nào tạo ra nổi, lại còn giắt chiếc khăn tay ở tay áo thay vì đút trong túi quần, thì việc nhận ra thân phận của anh chẳng có gì là khó. Anh để râu cắt ngắn, chứng tỏ anh không phải là lính chính quy. Vóc dáng anh tố cáo thói quen của một người ngồi trên lưng ngựa. Còn về cái tên Middlesex, chính tấm danh thiếp của anh đã tiết lộ anh là một nhà môi giới chứng khoán ở Phố Throgmorton3. Thử hỏi, với ngần ấy dữ kiện, anh còn có thể gia nhập trung đoàn nào khác được cơ chứ?"

"Đôi mắt của ông quả nhiên nhìn thấu vạn vật."

"Tôi chẳng nhìn thấy nhiều hơn anh đâu. Chỉ là tôi đã rèn giũa thói quen lưu tâm tới những gì lọt vào tầm mắt mình. Tuy nhiên, anh Dodd này, buổi sáng hôm nay anh đến tìm tôi hẳn không phải để đàm đạo về nghệ thuật quan sát. Rốt cuộc, chuyện gì đã xảy ra tại Tuxbury Old Park vậy?"

"Ông Holmes--!"

"Anh bạn thân mến, chẳng có phép thuật gì ở đây đâu. Lá thư anh gửi đến mang đúng tiêu đề đó. Và việc anh nôn nóng ấn định cuộc hẹn này bằng những lời lẽ vô cùng khẩn thiết chứng tỏ một sự kiện bất ngờ và trọng đại đã xảy ra."

"Vâng, quả thực là vậy. Nhưng lá thư ấy được viết vào chiều hôm qua, và từ bấy đến nay đã có khối chuyện xảy ra. Nếu như ngài Đại tá Emsworth không hất cẳng tôi ra ngoài--"

"Hất cẳng anh ra ngoài sao!"

"Vâng, nói trắng ra là vậy. Ngài Đại tá Emsworth vốn là một kẻ cứng rắn. Ngài là vị chỉ huy nghiêm khắc nhất trong Quân đội cùng thời, và đó cũng là thời kỳ người ta chuộng những lời lẽ cay độc. Nếu không vì Godfrey, tôi đã chẳng đời nào chịu đựng nổi vị Đại tá này."

Tôi chậm rãi châm tẩu thuốc rồi ngả người ra lưng ghế.

"Có lẽ anh nên từ tốn giải thích xem mình đang muốn nói về chuyện gì đi."

Vị khách của tôi nở một nụ cười tinh nghịch.

"Tôi vẫn luôn tin rằng ông có thể thấu tỏ mọi chuyện mà chẳng cần ai phải mở lời," anh cất giọng. "Nhưng thôi, tôi sẽ trình bày ngọn ngành các sự việc. Mong Chúa rủ lòng thương để ông có thể giải mã giúp tôi ý nghĩa của ngần ấy chuyện. Tôi đã thức trắng cả đêm qua, vắt kiệt trí óc để suy tư, nhưng càng nghĩ, mọi thứ lại càng trở nên vô lý và khó tin.

"Tháng Giêng năm 1901-mới chừng hai năm trước-khi tôi đăng ký nhập ngũ, chàng trai trẻ Godfrey Emsworth cũng gia nhập cùng một đội kỵ binh. Cậu ấy là cậu con trai độc nhất của Đại tá Emsworth-chính là vị Emsworth từng được trao tặng Huân chương Chữ thập Victoria4 trong cuộc chiến tranh Crimea5. Mang trong mình dòng máu vinh quang của một chiến binh, việc cậu ấy hăng hái tình nguyện lên đường cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Khắp trung đoàn, thật khó tìm ra một chàng lính nào xuất chúng hơn cậu ấy. Chúng tôi nhanh chóng kết giao-một tình bạn keo sơn chỉ nảy nở khi người ta cùng chung chiến hào, đồng cam cộng khổ chia sớt từng niềm vui nỗi buồn. Godfrey đã trở thành người anh em chí cốt của tôi-điều mang ý nghĩa vô cùng thiêng liêng trong chốn quân ngũ. Chúng tôi đã vai kề vai, cùng nhau nếm mật nằm gai suốt một năm trời chiến đấu ác liệt. Chẳng may, cậu ấy dính trọn một viên đạn từ khẩu súng săn voi trong trận giao tranh dữ dội gần Diamond Hill, ngoại ô Pretoria. Tôi nhận được từ cậu ấy vỏn vẹn hai lá thư: một gửi từ bệnh viện ở Cape Town và một từ Southampton. Bặt đi từ dạo đó, không còn bất cứ hồi âm nào nữa-không một lời nhắn nhủ, ông Holmes ạ, đằng đẵng hơn sáu tháng trời, dẫu cho cậu ấy là người bạn thân thiết nhất của tôi.

"Sau khi chiến tranh kết thúc và mọi người lần lượt hồi hương, tôi đã gửi thư cho cha cậu ấy để hỏi thăm tung tích của Godfrey. Bặt vô âm tín. Tôi kiên nhẫn chờ đợi thêm một thời gian rồi lại biên thư. Lần này, tôi nhận được lời hồi đáp, nhưng lại vô cùng cộc lốc và ngắn gọn. Bức thư báo rằng Godfrey đang trong một chuyến du ngoạn vòng quanh thế giới, và có lẽ phải chừng một năm nữa cậu mới trở về. Chỉ vỏn vẹn có vậy.

"Nhưng tôi chẳng hề thỏa mãn với câu trả lời đó, thưa ông Holmes. Cả câu chuyện cứ toát lên một vẻ bất thường đến lạ. Cậu ấy là một chàng trai tuyệt vời, không đời nào lại phũ phàng vứt bỏ một người anh em chí cốt như tôi. Hành xử như vậy hoàn toàn không phải là tác phong của Godfrey. Hơn thế nữa, tôi tình cờ biết được cậu ấy chính là người thừa kế một khối tài sản kết xù, trong khi mối quan hệ giữa hai cha con lại chẳng mấy êm đẹp. Lão Đại tá đôi khi cư xử như một kẻ độc đoán, còn chàng thanh niên Godfrey lại tràn trề nhuệ khí để có thể cắn răng chịu đựng sự kìm kẹp ấy. Không, tôi không cam lòng. Tôi quyết tâm phải đào bới tận gốc rễ sự việc. Ngặt một nỗi, công việc làm ăn của tôi đang trong mớ bòng bong cần được chấn chỉnh sau hai năm trời vắng bóng. Chính vì vậy, mãi cho đến tuần này, tôi mới có thể thu xếp thời gian để dấn thân vào vụ án của Godfrey. Nhưng một khi đã bắt tay vào làm, tôi thề sẽ gạt bỏ mọi thứ sang một bên để theo đuổi nó đến cùng."

Ông James M. Dodd tỏa ra khí chất của một người mà người ta thà kết bái làm bạn còn hơn rước họa làm thù. Đôi mắt xanh biếc của anh toát lên vẻ kiên định, và khi anh cất lời, khuôn hàm vuông vức càng hằn lên vẻ cứng cỏi, quyết đoán.

"Vậy, anh đã làm gì?" tôi hỏi lại.

"Động thái đầu tiên của tôi là lặn lội xuống tận nhà cậu ấy, Tuxbury Old Park, gần Bedford, để tự mình xem xét ngọn ngành sự việc. Tôi liền viết một bức thư gửi cho mẹ cậu ấy-bởi tôi đã quá ngán ngẩm ông bố keo kiệt kia rồi-và mở một cuộc tấn công trực diện: Godfrey là bạn chí cốt của tôi, tôi có vô khối chuyện thú vị muốn kể cho bà nghe về những ngày tháng chúng tôi sát cánh bên nhau, nhân tiện tôi sắp tới khu vực đó, liệu ông bà có phiền không nếu tôi ghé thăm, vân vân? Đáp lại, tôi nhận được một lá thư phúc đáp khá nhã nhặn từ bà ấy kèm theo lời mời nghỉ lại qua đêm. Đó chính là lý do tôi có mặt ở đó vào hôm thứ Hai.

"Tuxbury Old Hall là một nơi heo hút, cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài tới cả năm dặm. Chẳng có lấy một chiếc xe ngựa nào ở nhà ga, nên tôi đành cuốc bộ, tay xách nách mang chiếc vali, mãi tới khi trời gần tối mịt mới đến nơi. Đó là một khu dinh thự đồ sộ, rườm rà, nằm lọt thỏm giữa một công viên rộng lớn. Trông nó như thể được chắp vá từ đủ mọi thời kỳ và phong cách kiến trúc, bắt đầu từ nền móng nhà gỗ thời Elizabeth rồi kết thúc bằng một chiếc cổng vòm kiểu Victoria. Bên trong chỉ toàn những tấm ốp gỗ, thảm treo tường cùng hàng loạt bức tranh cũ kỹ đã hoen ố, một ngôi nhà ngập chìm trong bóng tối và sự bí ẩn. Có một người quản gia tên là Ralph, ông lão này dường như cũng già cỗi chẳng kém gì ngôi nhà, và vợ ông ta có lẽ còn già hơn thế nữa. Bà ấy từng là nhũ mẫu của Godfrey, và tôi vẫn nhớ cậu ấy từng nói bà là người phụ nữ quan trọng thứ hai, chỉ sau mẹ mình, trong trái tim cậu ấy. Vì lẽ đó, tôi cảm thấy có thiện cảm với bà bất chấp vẻ ngoài có phần kỳ dị. Tôi cũng rất quý mến mẹ cậu ấy-một người phụ nữ nhỏ bé, hiền lành và trắng trẻo như một chú chuột nhắt. Chỉ có vị Đại tá là người mà tôi chẳng mảy may ưa nổi.

"Vừa gặp mặt, chúng tôi đã có lời qua tiếng lại, và lẽ ra tôi đã quay lưng đi thẳng về nhà ga nếu không thầm nghĩ rằng làm vậy chẳng khác nào sập bẫy của ngài ta. Tôi được dẫn thẳng vào phòng làm việc của ngài, và thấy ngài đang ngồi sau chiếc bàn làm việc bề bộn. Đó là một người đàn ông to lớn, lưng gù, với làn da xám xịt như khói và chòm râu xám lưa thưa. Chiếc mũi hằn đầy gân máu đỏ rực nhô ra như mỏ của một con kền kền, cặp mắt xám hung tợn trừng trừng ném ánh nhìn về phía tôi từ dưới hàng chân mày rậm rạp. Lúc bấy giờ tôi mới vỡ lẽ tại sao Godfrey hiếm khi nhắc tới cha mình.

"'Chà, thưa anh,' ngài cất giọng chói tai. 'Tôi rất muốn biết lý do thực sự đằng sau chuyến viếng thăm này.'

"Tôi đáp rằng mình đã giải thích tường tận trong lá thư gửi phu nhân.

"'Phải rồi, phải rồi; anh bảo rằng anh quen Godfrey ở Châu Phi. Tất nhiên, chúng tôi chẳng có gì ngoài lời nói của anh để làm bằng.'

"'Tôi mang theo những lá thư cậu ấy gửi cho tôi ngay trong túi đây.'

"'Phiền anh cho tôi xem thử.'

"Ngài liếc nhìn hai lá thư tôi đưa cho, rồi dửng dưng ném trả lại.

"'Thế thì đã sao?' ngài hỏi.

"'Tôi rất quý con trai ngài, thưa ngài. Giữa chúng tôi có biết bao mối ràng buộc và những kỷ niệm sâu sắc. Việc tôi băn khoăn trước sự im lặng đường đột của cậu ấy và muốn biết chuyện gì đã xảy ra, chẳng lẽ lại không phải lẽ tự nhiên sao?'

"'Tôi nhớ mang máng, thưa anh, rằng tôi đã từng viết thư cho anh và nói rõ ngọn ngành về nó rồi. Cậu ấy đang thực hiện một chuyến du ngoạn vòng quanh thế giới. Sức khỏe của nó đã giảm sút trầm trọng sau những trải nghiệm ở Châu Phi, nên cả mẹ nó lẫn tôi đều đồng thuận rằng một sự nghỉ ngơi và thay đổi hoàn toàn là điều tối cần thiết. Xin anh vui lòng chuyển lời giải thích đó đến bất cứ người bạn nào khác đang quan tâm tới chuyện này.'

"'Chắc chắn rồi,' tôi đáp. 'Nhưng ngài có thể vui lòng cho tôi biết tên chiếc tàu hơi nước cùng hãng tàu mà cậu ấy đã đi, kèm theo ngày tháng khởi hành được không? Tôi tin chắc mình có thể gửi cho cậu ấy một lá thư.'

"Yêu cầu này của tôi dường như vừa khiến vị chủ nhà lúng túng lại vừa làm ngài ta nổi đóa. Cặp chân mày rậm rạp sụp xuống che khuất đôi mắt, ngài gõ nhịp những ngón tay lên bàn với vẻ nôn nóng. Cuối cùng, ngài ngẩng lên, mang nét mặt của một kẻ nhận ra đối thủ vừa đi một nước cờ hiểm hóc và đã quyết định xong cách đối phó.

"'Anh Dodd này, rất nhiều người hẳn sẽ cảm thấy bị xúc phạm trước sự cố chấp đáng nguyền rủa của anh, thậm chí còn cho rằng sự khăng khăng ấy đã chạm đến đỉnh điểm của sự xấc xược.' ngài nói.

"'Xin ngài hãy quy điều đó cho tình cảm chân thành mà tôi dành cho con trai ngài.'

"'Chính xác. Tôi đã nương nhẹ cho anh ở điểm đó. Tuy nhiên, tôi yêu cầu anh hãy chấm dứt ngay những cuộc dò xét này lại. Gia đình nào cũng có những bí mật và lý do riêng không thể tùy tiện phơi bày cho người ngoài, dẫu họ có lòng tốt đến đâu chăng nữa. Vợ tôi đang rất nóng lòng muốn nghe anh kể về quá khứ của Godfrey, điều mà anh có khả năng chia sẻ, nhưng tôi yêu cầu anh hãy để cho hiện tại và tương lai của nó được yên. Những cuộc điều tra kiểu này chẳng mang lại ích lợi gì cả, thưa anh, trái lại còn đẩy chúng tôi vào tình thế vô cùng tế nhị và khó xử.'

"Thế là tôi bị dồn vào ngõ cụt, ông Holmes ạ. Chẳng còn cách nào khác để lách qua. Tôi đành vờ như chấp nhận sự tình, nhưng trong lòng thầm thề sẽ không bao giờ bỏ cuộc cho đến khi làm sáng tỏ số phận của bạn mình. Đó là một buổi tối tẻ nhạt đến ngột ngạt. Ba người chúng tôi ngồi dùng bữa trong tĩnh lặng, giữa một căn phòng cũ kỹ, nhuốm màu u tối và tàn phai. Vị phu nhân háo hức gạn hỏi tôi đủ điều về con trai bà, trong khi lão già lại giữ vẻ mặt lầm lì, chán chường. Tôi cũng cảm thấy ngán ngẩm trước bầu không khí ấy đến mức phải vội vàng viện cớ rút lui về phòng ngủ ngay khi có thể giữ phép lịch sự tối thiểu. Đó là một căn phòng thênh thang, trống hoác ở tầng trệt, tăm tối hệt như phần còn lại của ngôi nhà, nhưng ông Holmes ơi, sau cả một năm ròng rã ngủ ngoài thảo nguyên, người ta chẳng còn tâm trí đâu mà kén chọn chỗ ngả lưng. Tôi kéo rèm nhìn ra khu vườn, chợt nhận ra đêm nay trời thật đẹp với vầng trăng khuyết sáng vằng vặc. Sau đó, tôi ngồi xuống cạnh đống lửa rực hồng, thắp ngọn đèn trên chiếc bàn nhỏ bên cạnh, định bụng sẽ mượn một cuốn tiểu thuyết để xua đi những suy nghĩ quẩn quanh. Tuy nhiên, suy nghĩ của tôi bị cắt ngang khi Ralph, người quản gia già, mang theo chút than mới bước vào phòng.

"'Tôi e rằng ngài sẽ thiếu than giữa đêm, thưa ngài. Thời tiết dạo này khắc nghiệt lắm, và những căn phòng ở đây thì lạnh buốt.'

"Ông ngập ngừng đôi chút trước khi rời đi, và khi tôi quay lại, ông vẫn đang đứng lặng lẽ đối diện tôi, ánh mắt ánh lên vẻ khao khát trên khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn.

"'Thứ lỗi cho tôi, thưa ngài, nhưng tôi vô tình nghe được những điều ngài kể về cậu chủ nhỏ Godfrey trong bữa tối. Ngài biết đấy, thưa ngài, vợ tôi là người đã bú mớm chăm bẵm cho cậu ấy, nên có thể coi tôi như cha nuôi của cậu. Việc chúng tôi quan tâm đến cậu ấy cũng là lẽ thường tình. Có phải ngài nói rằng cậu ấy đã chiến đấu rất dũng cảm không, thưa ngài?'

"'Trong trung đoàn chẳng có ai dũng cảm hơn cậu ấy cả. Cậu ấy đã từng liều mình lôi tôi ra khỏi họng súng trường của quân Boer, nếu không có cậu ấy, tôi chẳng còn sống đến ngày hôm nay để ngồi đây.'

"Người quản gia già xoa xoa hai bàn tay gầy guộc vào nhau.

"'Vâng, thưa ngài, vâng, đúng là cậu chủ Godfrey từ đầu đến chân rồi. Cậu ấy luôn là người gan dạ. Không một cái cây nào trong công viên này mà cậu ấy chưa từng trèo lên đâu, thưa ngài. Chẳng có gì cản được bước chân của cậu. Cậu ấy là một đứa trẻ ngoan-và ôi, thưa ngài, cậu ấy đã từng là một chàng trai tuyệt vời biết bao.'

"Tôi bật phắt dậy.

"'Nghe này!' tôi thốt lên. 'Ông nói cậu ấy "đã từng". Ông nói cứ như thể cậu ấy không còn trên đời này nữa vậy. Tất cả những bí ẩn này là sao? Rốt cuộc thì chuyện gì đã xảy ra với Godfrey Emsworth?'

"Tôi vồ lấy vai ông lão, nhưng ông vội vã rụt người lại.

"'Tôi không hiểu ngài đang nói gì, thưa ngài. Xin ngài hãy hỏi ông chủ về cậu Godfrey. Ngài ấy rõ cả. Tôi không có quyền can thiệp.'

"Ông toan lùi ra khỏi phòng, nhưng tôi đã ghì chặt lấy cánh tay ông.

"'Nghe này,' tôi gằn giọng. 'Ông phải trả lời tôi một câu hỏi trước khi rời khỏi đây, dù tôi có phải giữ ông lại cả đêm nay đi chăng nữa. Godfrey đã chết rồi phải không?'

"Ông không dám đối mặt với tôi. Trông ông như một kẻ mộng du. Câu trả lời dường như bị lôi tuột ra khỏi khóe miệng ông. Đó là một lời đáp khủng khiếp và hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi.

"'Tôi thà cầu Chúa mong sao cậu ấy đã chết đi cho rồi!' ông bật khóc, rồi giằng mạnh tay ra khỏi cái nắm của tôi, ông lao vọt ra khỏi phòng.

"Chắc ông cũng đoán được, ông Holmes, tôi buông mình xuống ghế với một tâm trạng nặng nề tột độ. Những lời nói của ông lão dường như chỉ có một lời giải thích duy nhất. Rõ ràng người bạn đáng thương của tôi đã nhúng chàm vào một phi vụ tội lỗi nào đó, hoặc chí ít cũng là một mớ bùng nhùng làm ô uế thanh danh gia tộc. Người cha độc đoán kia đã mang giấu con trai mình khỏi ánh mắt thế gian hòng chôn vùi một vụ bê bối tày đình có nguy cơ bị phanh phui. Godfrey vốn dĩ là một gã trai bốc đồng, rất dễ bị tác động bởi những người xung quanh. Hẳn là cậu ấy đã sa chân vào đám bạn xấu, bị dẫn dụ vào con đường lầm lạc dẫn đến bờ vực thẳm. Thật là một tình cảnh xót xa nếu sự tình đúng là như vậy, nhưng ngay lúc này đây, nghĩa vụ của tôi là phải tìm bằng được cậu ấy và xem mình có thể làm gì để giúp đỡ. Giữa lúc tâm trí tôi đang cuộn trào những suy tư rối bời, tôi ngước lên và kìa, Godfrey Emsworth đang đứng sừng sững ngay trước mặt."

Khách hàng của tôi bất chợt ngừng lại, dường như bị một luồng cảm xúc mãnh liệt choán ngợp.

"Xin anh cứ tiếp tục," tôi động viên. "Vấn đề của anh mang một vài đặc điểm vô cùng dị thường."

"Cậu ấy đứng ngay bên ngoài cửa sổ, ông Holmes ạ, với khuôn mặt áp chặt vào lớp kính. Tôi đã kể với ông rằng mình từng vén rèm nhìn ra đêm đen. Lúc đó, tôi vô tình để hở một khoảng rèm cửa, và hình bóng của cậu ấy lọt thỏm ngay trong khung trống ấy. Ô cửa sổ cao chạm đất, cho phép tôi nhìn rõ cậu ấy từ đầu đến chân, nhưng chính khuôn mặt của cậu ấy mới là thứ ghim chặt ánh mắt tôi. Cậu ấy nhợt nhạt y như một cái xác không hồn-chưa bao giờ trong đời tôi thấy một người đàn ông nào lại trắng bệch đến thế. Tôi đồ rằng những bóng ma cũng chỉ nhợt nhạt đến vậy là cùng; nhưng ánh mắt cậu ấy chạm lấy ánh mắt tôi, và đó đích thị là ánh mắt của một người đang sống. Nhận ra tôi đang nhìn chằm chằm, cậu ấy giật mình lùi lại rồi tan biến vào màn đêm sâu thẳm.

"Có một điều gì đó thực sự kinh khủng tỏa ra từ con người ấy, ông Holmes. Không đơn thuần chỉ là cái khuôn mặt gớm ghiếc, lờ mờ trắng ởn như miếng pho mát giữa bóng tối. Nó còn là một thứ gì đó tinh vi hơn thế nhiều-một thứ gì đó mờ ám, thậm thụt, một thứ gì đó nhuốm màu tội lỗi-một dáng vẻ hoàn toàn xa lạ với chàng trai bộc trực, đầy nam tính mà tôi từng quen biết. Điều đó đã gieo vào tâm trí tôi một nỗi kinh hoàng khó tả.

"Nhưng một khi người ta đã kinh qua chốn sa trường một hai năm trời, lại lấy những chiến binh Boer làm bầu bạn, thì tinh thần hẳn đã được trui rèn và phản xạ cũng nhanh nhạy hơn hẳn. Godfrey vừa biến mất chưa được bao lâu, tôi đã kịp lao đến bên bậu cửa. Cái chốt khá khó nhằn, ngốn của tôi một lúc mới đẩy lên được. Ngay sau đó, tôi trườn qua cửa sổ và lao dọc theo con đường mòn trong vườn, cắm cúi chạy về hướng mà tôi đoán cậu ấy vừa tẩu thoát.

"Con đường ấy khá dài và ánh sáng thì mờ mờ ảo ảo, nhưng tôi lờ mờ thấy dường như có bóng dáng ai đó đang chuyển động phía trước. Tôi cắm đầu chạy miết, miệng không ngừng gọi tên cậu ấy, nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng. Khi đến cuối con đường, tôi bắt gặp vài lối rẽ tẻ ra nhiều hướng, dẫn tới những khu nhà phụ nằm rải rác. Tôi khựng lại do dự, và chính trong khoảnh khắc ấy, tôi nghe rành rọt tiếng một cánh cửa sập lại. Âm thanh ấy không dội lại từ phía sau nơi dinh thự, mà vang lên từ phía trước, đâu đó trong màn đêm mịt mùng. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng quá đủ để tôi chắc mẩm rằng những gì mình vừa nhìn thấy không phải là ảo giác, thưa ông Holmes. Godfrey đã bỏ chạy, và cậu ấy vừa sập một cánh cửa lại sau lưng. Về điểm này thì tôi dám khẳng định.

"Tôi chẳng thể làm gì hơn ngoài việc trải qua một đêm chập chờn không trọn giấc, để mặc cho bao suy nghĩ vò xé tâm can hòng tìm ra một giả thuyết khả dĩ có thể xâu chuỗi mọi mảnh ghép. Sáng hôm sau, tôi nhận thấy thái độ của vị Đại tá dường như đã dịu lại đôi chút. Khi nghe phu nhân nhận xét rằng vùng lân cận có khá nhiều cảnh điểm thú vị, tôi liền chớp lấy cơ hội ngỏ lời xin được tá túc thêm một đêm nữa, với hy vọng không làm phiền lòng họ. Sự đồng thuận đầy gượng gạo của ngài ấy đã ban cho tôi trọn vẹn một ngày để thỏa sức do thám. Tôi đinh ninh rằng Godfrey đang lẩn trốn quanh quẩn đâu đây, nhưng cậu trốn ở đâu và vì lý do gì, thì vẫn là một ẩn số cần được làm sáng tỏ.

"Khu dinh thự này quá sức đồ sộ và chằng chịt, đến độ người ta có thể giấu nhẹm cả một trung đoàn trong đó mà chẳng ai hay biết. Nếu bí mật bị vùi lấp ở đó, tôi e rằng mình khó lòng mà moi ra được. Nhưng cánh cửa mà tôi nghe tiếng đóng sầm lại đêm qua, chắc chắn không thuộc về ngôi nhà này. Tôi quyết định phải sục sạo khắp khu vườn để xem có thể phát hiện được manh mối gì không. Chẳng có vật cản nào ngáng đường, bởi hai ông bà lão đang bận rộn với những công việc riêng và mặc tôi tự do đi lại.

"Khu vực này có dăm ba công trình phụ nhỏ lẻ, nhưng nằm tít tận cuối vườn lại sừng sững một tòa nhà biệt lập có quy mô khá lớn-đủ không gian cho một người làm vườn hoặc người gác rừng sinh sống. Liệu có phải nơi đây đã phát ra tiếng cửa đóng sầm dạo nọ? Tôi lân la tiếp cận nó bằng một dáng vẻ dửng dưng, vờ như đang nhẩn nha vãn cảnh quanh khuôn viên. Đúng lúc ấy, một gã đàn ông thấp bé, nhanh nhẹn, để râu, diện áo khoác đen chững chạc cùng chiếc mũ quả dưa-trông chẳng có nét nào giống một kẻ làm vườn-bước ra khỏi cửa. Trái với sự kinh ngạc của tôi, hắn ta điềm nhiên khóa cửa lại, thản nhiên đút chìa khóa vào túi. Xong xuôi, hắn ta ném cho tôi một cái nhìn pha chút ngỡ ngàng.

"'Có phải ngài là khách trọ ở đây không?' hắn cất tiếng hỏi.

"Tôi ôn tồn giải thích rằng mình là khách, đồng thời cũng là bạn của Godfrey.

"'Thật tiếc là cậu ấy lại đang đi du lịch, vì hẳn cậu ấy sẽ mừng rỡ lắm khi gặp lại tôi,' tôi nói tiếp.

"'Hoàn toàn đúng. Chính xác là như vậy,' hắn ta đáp lời với một vẻ mặt sượng sùng đầy tội lỗi. 'Tôi không nghi ngờ gì việc ngài sẽ quay lại thăm cậu ấy vào một dịp thuận tiện hơn.' Hắn lướt ngang qua tôi, nhưng khi tôi ngoái đầu nhìn lại, tôi bắt gặp hắn đang chôn chân đứng đó dò xét tôi, nửa thân người lấp ló sau những bụi nguyệt quế rậm rạp nơi góc vườn.

"Lúc đi ngang qua, tôi có ném một cái nhìn soi mói vào ngôi nhà nhỏ, nhưng mọi ô cửa sổ đều bị những tấm rèm dày cộp bịt kín, và theo như vẻ bề ngoài thì nơi này hoàn toàn vắng bóng người. Việc quá sức manh động có thể làm hỏng bét kế hoạch của tôi, thậm chí khiến tôi bị tống cổ khỏi khu nhà, bởi tôi lờ mờ nhận ra mình vẫn đang bị theo dõi. Vì thế, tôi ung dung đi bộ trở lại tòa dinh thự, quyết định nín thở chờ cho đến khi màn đêm buông xuống mới tiếp tục cuộc điều tra. Khi mọi thứ đã chìm trong bóng tối và sự tĩnh lặng bao trùm, tôi lẻn qua cửa sổ phòng mình, bước những bước rón rén nhất có thể về phía căn nhà nghỉ đầy bí ẩn.

"Như tôi đã kể, những ô cửa được che chắn bằng rèm rất dày, nhưng giờ đây tôi mới phát hiện ra cửa chớp cũng bị đóng sập lại. Mặc dù vậy, vẫn có vài tia sáng yếu ớt le lói lọt qua một trong số đó, thế nên tôi quyết định dồn hết sự chú ý vào đây. Chà, vận may đã mỉm cười với tôi, tấm rèm không được khép kín hoàn toàn, cộng thêm một khe hở trên cửa chớp đã cho phép tôi nhìn trộm vào bên trong. Căn phòng hiện lên thật ấm cúng, một ngọn đèn tỏa sáng cùng ngọn lửa đang reo vui trong lò. Chễm chệ ngay tầm mắt tôi chính là gã đàn ông thấp bé tôi đã giáp mặt hồi sáng. Hắn ta đang nhả khói tẩu và cắm cúi đọc báo."

"Tờ báo gì?" tôi chen ngang.

Vị khách hàng dường như phật ý vì mạch truyện bị đứt đoạn.

"Chuyện đó có quan trọng lắm không?" anh hỏi ngược lại.

"Vô cùng thiết yếu."

"Tôi không thực sự chú tâm."

"Anh có nhớ được nó là một tờ báo khổ lớn hay loại nhỏ hơn mà người ta thường liên tưởng tới các tuần báo không?"

"Khi ông hỏi, tôi mới sực nhớ là nó không lớn lắm. Có lẽ là tờ The Spectator6. Tuy nhiên, lúc đó tâm trí tôi đâu còn rảnh rỗi để bận tâm đến những tiểu tiết vụn vặt như vậy, bởi trong phòng còn có sự hiện diện của một người thứ hai đang ngồi quay lưng ra phía cửa sổ, và tôi dám lấy sinh mạng mình ra thề rằng người đó không ai khác chính là Godfrey. Tôi chẳng thể thấy mặt cậu, nhưng bờ vai xuôi quen thuộc ấy thì làm sao mà nhầm lẫn cho được. Cậu ấy đang chống cùi chỏ với một tư thế u sầu đến não lòng, cả thân người hướng về phía ngọn lửa. Đang lúc tôi còn phân vân chưa biết tính sao thì một bàn tay đập mạnh lên vai tôi, và Đại tá Emsworth đã sừng sững hiện ra ngay bên cạnh.

"'Lối này, thưa anh!' ngài nói khẽ. Rồi ngài lầm lũi quay lại ngôi nhà, còn tôi ngoan ngoãn bám gót theo ngài về phòng ngủ của mình. Ngài đã nhặt một cuốn lịch trình tàu lửa đặt ngoài sảnh từ lúc nào.

"'Sẽ có một chuyến tàu chạy tới London vào lúc tám giờ ba mươi,' ngài nói. 'Xe ngựa sẽ túc trực trước cửa lúc tám giờ đúng.'

"Mặt ngài tái mét vì giận dữ, và quả thực, tôi thấy mình rơi vào tình thế bẽ bàng đến độ chỉ có thể ấp úng thốt ra vài lời xin lỗi lộn xộn, cố gắng ngụy biện cho hành động của mình bằng việc vin vào sự lo lắng dành cho người bạn thân.

"'Miễn bàn luận thêm về vấn đề này,' ngài ngắt lời đột ngột. 'Anh vừa thực hiện một sự xâm phạm đáng nguyền rủa nhất vào chốn riêng tư của gia đình chúng tôi. Anh được chào đón ở đây với tư cách là một vị khách, vậy mà anh lại hành xử như một kẻ rình mò. Tôi không còn gì để nói thêm với anh nữa, thưa anh, ngoại trừ việc tôi không bao giờ muốn nhìn thấy mặt anh thêm một lần nào nữa.'

"Ông Holmes, đến lúc này thì tôi cũng đã mất bình tĩnh, và tôi vặn lại với một thái độ giận dữ không kém.

"'Tôi đã gặp con trai ngài, và tôi tin chắc rằng vì một lý do cá nhân nào đó, ngài đang cố tình giấu nhẹm cậu ấy khỏi thế giới này. Tôi chẳng mảy may hay biết về động cơ đằng sau hành động chia cắt cậu ấy của ngài, nhưng tôi dám chắc rằng cậu ấy hiện không còn là một người tự do. Xin cảnh báo ngài, Đại tá Emsworth, cho đến khi tôi nắm chắc được sự an toàn và hạnh phúc của bạn mình, tôi sẽ không bao giờ buông xuôi trong việc bóc trần những bí ẩn này, và tôi cũng chẳng để những lời nói hay hành động đe dọa của ngài làm tôi nao núng đâu.'

"Ánh mắt ngài lóe lên một tia thù địch, và tôi cứ ngỡ ngài sắp sửa lao vào xé xác tôi đến nơi. Như tôi đã nói, ngài ta là một gã khổng lồ già cỗi, gầy nhom và hung hãn, và dù bản thân tôi chẳng phải dạng ốm yếu gì, e rằng cũng phải trầy da tróc vẩy mới chống đỡ nổi những đòn tấn công của ngài. May thay, sau một hồi trừng mắt nhìn tôi đầy uất hận, ngài cũng quay gót bước ra khỏi phòng. Về phần mình, tôi đã bắt đúng chuyến tàu sáng như dự kiến, mang theo quyết tâm đến thẳng chỗ ông để xin lời khuyên và nhờ ông giúp đỡ trong buổi hẹn mà tôi đã đặt từ trước."

Đó là bài toán mà vị khách của tôi đã đặt ra trước mắt tôi. Như quý vị độc giả tinh ý hẳn đã nhận thấy, bài toán ấy chẳng mấy khó khăn để tìm ra lời giải, bởi các khả năng đều rất hạn chế và chỉ cần lần theo là sẽ đi thẳng đến tận gốc rễ của vấn đề. Tuy đơn giản là vậy, nhưng trong vụ này vẫn ẩn chứa những điểm mới lạ và thú vị, đủ để tôi có lý do đưa nó vào hồ sơ lưu trữ của mình. Giờ đây, tôi sẽ vận dụng phương pháp phân tích logic quen thuộc để dần dần thu hẹp phạm vi các lời giải khả dĩ.

"Người hầu ấy mà," tôi hỏi, "trong nhà có bao nhiêu người?"

"Theo chỗ tôi biết một cách chắc chắn nhất thì chỉ có ông quản gia già cùng vợ ông ta thôi. Họ dường như sống rất giản dị."

"Vậy trong căn nhà biệt lập kia không có người hầu nào ư?"

"Không có ai cả, trừ phi gã đàn ông nhỏ thó có râu kia đảm nhận việc đó. Có điều, gã trông có vẻ là người thuộc tầng lớp khá cao."

"Chi tiết này rất đáng chú ý đấy. Anh có phát hiện dấu hiệu nào cho thấy thức ăn được chuyển từ ngôi nhà chính sang ngôi nhà kia không?"

"Nay ông nhắc tôi mới nhớ, tôi từng thấy lão Ralph xách một chiếc giỏ đi dọc theo lối đi trong vườn, tiến về hướng căn nhà đó. Lúc ấy tôi không hề nghĩ đến chuyện thức ăn."

"Anh có tiến hành thăm dò gì với người dân địa phương không?"

"Có chứ. Tôi đã nói chuyện với trưởng ga và cả ông chủ quán trọ trong làng. Tôi chỉ hỏi đơn giản rằng họ có biết gì về người đồng đội cũ của tôi, Godfrey Emsworth hay không. Cả hai đều quả quyết với tôi rằng cậu ấy đã lên đường du lịch vòng quanh thế giới. Cậu ấy có về nhà, nhưng rồi gần như lập tức lại khởi hành ngay. Câu chuyện này rõ ràng đã được mọi người tin là thật."

"Anh có tiết lộ gì về những nghi ngờ của mình không?"

"Không hề."

"Rất khôn ngoan. Vụ này nhất định phải được điều tra thêm. Tôi sẽ cùng anh trở lại Tuxbury Old Park."

"Ngay hôm nay sao?"

Tình cờ thay, vào thời điểm đó tôi đang thu xếp cho xong vụ án mà anh bạn Watson của tôi đã ghi lại dưới cái tên vụ Trường Nội trú Abbey, một vụ mà Công tước xứ Greyminster có liên can rất sâu. Tôi còn đang nhận một ủy thác từ Quốc vương Thổ Nhĩ Kỳ đòi hỏi phải hành động tức khắc, bởi lơ là việc này có thể dẫn đến những hậu quả chính trị vô cùng nghiêm trọng. Bởi vậy, mãi đến đầu tuần kế tiếp, theo như nhật ký của tôi ghi chép, tôi mới có thể lên đường thi hành sứ mệnh đến Bedfordshire, cùng sự đồng hành của anh James M. Dodd. Lúc chúng tôi đánh xe đến ga Euston, chúng tôi đón thêm một vị quý ông trầm mặc, ít nói, với vẻ ngoài xám ngoét như sắt, người mà tôi đã dàn xếp những thỏa thuận cần thiết từ trước.

"Đây là một người bạn cũ của tôi," tôi nói với Dodd. "Rất có thể sự có mặt của ngài ấy là hoàn toàn không cần thiết, nhưng cũng có thể lại là yếu tố then chốt. Ở thời điểm hiện tại, chưa cần đào sâu thêm về việc này làm gì."

Hẳn qua những bản tường thuật của Watson, quý vị độc giả đã quen với thói quen của tôi: không hề phí lời hay tiết lộ suy nghĩ khi một vụ án đang trong quá trình điều tra thực tế. Dodd trông có vẻ ngạc nhiên, nhưng cũng không hỏi thêm gì, và ba chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình cùng nhau. Trên tàu, tôi hỏi Dodd thêm một câu mà tôi muốn người bạn đồng hành của chúng tôi cùng nghe thấy.

"Anh nói rằng anh đã nhìn thấy gương mặt bạn mình qua cửa sổ rất rõ, rõ đến mức anh hoàn toàn chắc chắn về danh tính của cậu ấy?"

"Tôi không có lấy một chút nghi ngờ nào. Mũi cậu ấy áp sát vào kính. Ánh đèn rọi thẳng vào mặt cậu ấy."

"Liệu có khả năng đó là một người nào khác trông giống cậu ấy không?"

"Không, không thể nào. Chính là cậu ấy."

"Nhưng anh có nói cậu ấy đã thay đổi?"

"Chỉ ở sắc mặt thôi. Gương mặt cậu ấy - tôi phải diễn tả thế nào nhỉ? - nó trắng bệch ra như bụng cá vậy. Cứ như bị tẩy trắng đi ấy."

"Toàn bộ khuôn mặt đều tái nhợt như nhau cả sao?"

"Tôi nghĩ là không. Phần trán là chỗ tôi nhìn thấy rõ nhất, lúc nó áp vào cửa sổ."

"Anh có gọi tên cậu ấy không?"

"Lúc đó tôi quá đỗi giật mình và kinh hãi. Sau đó thì tôi đuổi theo, như tôi đã kể với ông, nhưng chẳng được gì."

Vụ án của tôi, trên thực tế, đã gần như hoàn chỉnh, và chỉ còn một chi tiết nhỏ nữa là có thể khép lại. Sau một chặng đường xe ngựa khá dài, chúng tôi đến được ngôi nhà cũ kỹ, kỳ dị, chằng chịt dây leo đúng như lời vị khách hàng của tôi mô tả. Chính Ralph, người quản gia lớn tuổi, ra mở cửa. Tôi đã thuê giữ chiếc xe ngựa suốt cả ngày và dặn người bạn lớn tuổi của tôi cứ ở yên trong xe, trừ phi chúng tôi cho gọi. Ralph là một ông lão nhỏ nhắn, nhăn nheo, vận bộ trang phục quen thuộc gồm áo khoác đen và quần tây màu tiêu muối, chỉ trừ một chi tiết khác thường duy nhất. Ông ta đeo đôi găng tay da màu nâu, và khi vừa trông thấy chúng tôi, ông ta lập tức cởi chúng ra, đặt xuống chiếc bàn ngoài sảnh lúc chúng tôi bước vào. Tôi vốn sở hữu một bộ giác quan nhạy bén khác thường - như anh bạn Watson của tôi hẳn đã từng nhận xét - và ngay lập tức, một mùi hương mờ nhạt nhưng sắc và gắt đã thoảng qua mũi tôi. Mùi hương ấy dường như tụ lại ở chiếc bàn nơi sảnh. Tôi quay người, đặt mũ của mình lên đó, rồi cố tình hất rơi nó xuống sàn, cúi người nhặt lên và khéo léo đưa mũi mình lại gần đôi găng tay trong khoảng một foot. Phải, không còn nghi ngờ gì nữa, chính từ đôi găng tay ấy mà thứ mùi nhựa đường kỳ lạ kia bốc ra. Tôi bước vào phòng làm việc trong khi vụ án đã được giải quyết trọn vẹn. Than ôi, giá mà tôi phải phô bày những chiêu thức của mình một cách lộ liễu như thế này mỗi khi tự thuật lại câu chuyện! Chính nhờ tài che giấu những mắt xích như vậy trong chuỗi sự kiện mà Watson mới có thể tạo ra những cái kết hào nhoáng đầy kịch tính của anh ấy.

Đại tá Emsworth không có mặt trong phòng làm việc, nhưng ngài ấy đến rất nhanh sau khi nhận được lời nhắn của Ralph. Chúng tôi nghe thấy những bước chân nặng nề, gấp gáp vọng lại từ ngoài hành lang. Cánh cửa bật tung và ngài ấy xông vào, chòm râu dựng ngược, nét mặt nhăn nhúm dữ tợn - một trong những ông già đáng sợ nhất mà tôi từng giáp mặt. Ngài ấy cầm danh thiếp của chúng tôi trong tay, xé toạc chúng ra thành từng mảnh rồi giẫm lên.

"Tôi đã chẳng bảo anh rồi sao, cái tên tọc mạch đáng nguyền rủa này, rằng anh đã bị cấm cửa khỏi khuôn viên này? Đừng có bao giờ dám vác cái bản mặt khốn khiếp của anh đến đây nữa. Nếu anh còn bén mảng vào đây mà không có sự cho phép của tôi, tôi có quyền dùng đến bạo lực đấy. Tôi sẽ bắn anh, thưa anh! Có Chúa chứng giám, tôi sẽ làm thế! Còn ông nữa, thưa ông," ngài ấy quay sang tôi, "tôi cũng dành cho ông lời cảnh báo tương tự. Tôi không lạ gì cái nghề nghiệp đê hèn của ông, nhưng ông hãy mang những tài năng lừng danh của mình đến một lĩnh vực khác. Ở đây không có chỗ cho chúng đâu."

"Tôi không thể rời khỏi đây," vị khách hàng của tôi đáp, giọng kiên quyết, "cho đến khi chính tai tôi nghe Godfrey nói rằng cậu ấy không bị giam cầm ở đây."

Vị chủ nhà bất đắc dĩ của chúng tôi giật chuông.

"Ralph," ngài ấy ra lệnh, "gọi điện xuống đồn cảnh sát hạt, bảo viên thanh tra cử hai cảnh sát lên đây. Nói với ông ta là có bọn trộm đột nhập vào nhà."

"Khoan đã," tôi lên tiếng. "Anh phải hiểu rằng, anh Dodd, Đại tá Emsworth đang hành xử trong phạm vi quyền hạn của ngài ấy, và chúng ta thì không có tư cách pháp lý gì trong ngôi nhà này cả. Mặt khác, thưa đại tá, ngài cũng nên thừa nhận rằng hành động của anh đây hoàn toàn xuất phát từ nỗi lo lắng cho con trai của ngài. Tôi mạo muội hy vọng rằng, nếu tôi được phép có năm phút trò chuyện riêng với Đại tá Emsworth, tôi tin chắc mình có thể khiến ngài thay đổi quan điểm về vấn đề này."

"Tôi đâu có dễ bị thay đổi đến thế," người cựu binh già gầm gừ. "Ralph, làm như tôi đã bảo ông đi. Ông còn đứng chôn chân đấy làm cái quái gì nữa? Gọi cảnh sát ngay!"

"Không thể được," tôi nói, và đặt lưng mình tựa vào cánh cửa. "Bất kỳ sự can thiệp nào của cảnh sát cũng sẽ dẫn đến chính thảm họa mà đại tá đang khiếp sợ." Tôi rút cuốn sổ tay ra và nguệch ngoạc một từ lên một tờ giấy nháp. "Đây," tôi nói, rồi đưa nó cho Đại tá Emsworth, "là lý do đã đưa chúng tôi đến đây."

Ngài ấy chằm chằm nhìn vào dòng chữ, trên gương mặt không còn biểu cảm nào khác ngoài nỗi kinh ngạc tột cùng.

"Sao ông biết được?" ngài ấy thở hổn hển, rồi khuỵu người xuống ghế.

"Biết mọi việc chính là công việc của tôi. Đó là nghề của tôi mà."

Ngài ấy chìm vào suy tư, bàn tay gầy guộc mân mê chòm râu lưa thưa. Rồi ngài ấy làm một cử chỉ cam chịu.

"Thôi được, nếu ông muốn gặp Godfrey thì ông sẽ được gặp. Đây không phải là ý muốn của tôi, mà là các người đã ép buộc tôi. Ralph, báo với cậu Godfrey và ông Kent rằng trong năm phút nữa chúng tôi sẽ đến gặp họ."

Sau chừng đó thời gian, chúng tôi rảo bước xuống con đường mòn trong vườn và dừng chân ngay trước ngôi nhà bí ẩn nằm tận cùng khu đất. Một người đàn ông nhỏ thó, để râu, đứng ở cửa chằm chằm nhìn chúng tôi với vẻ mặt kinh ngạc tột độ.

"Chuyện này đường đột quá, thưa Đại tá Emsworth," ông ta cất lời. "Như thế này sẽ làm xáo trộn toàn bộ kế hoạch của chúng ta."

"Tôi cũng đành chịu thôi, ông Kent. Tình thế ép buộc cả. Liệu Godfrey có thể ra gặp chúng ta không?"

"Vâng; cậu ấy đang đợi ở bên trong." Ông ta quay người và dẫn chúng tôi vào một căn phòng lớn, bài trí giản dị nằm ngay phía trước. Một người đàn ông đang đứng đó, quay lưng về phía lò sưởi. Ngay khi nhìn thấy người bạn cũ, vị khách hàng của tôi đã lao tới với đôi tay dang rộng.

"Chà, Godfrey, ông bạn già của tôi, được gặp lại cậu thế này thật là tuyệt!"

Nhưng người kia chỉ vẫy tay ra hiệu cho anh lùi lại.

"Đừng chạm vào tôi, Jimmie. Hãy đứng xa ra một chút. Cứ nhìn cho thỏa thích đi! Trông tôi bây giờ chẳng còn mấy nét giống chàng Hạ sĩ quan Godfrey Emsworth bảnh bao của Đội Kỵ binh B ngày nào nữa, phải không?"

Ngoại hình của cậu ta quả thực đã thay đổi một cách phi thường. Người ta vẫn có thể lờ mờ nhận ra quá khứ từng là một người đàn ông đẹp trai với những đường nét góc cạnh, rắn rỏi được tôi luyện dưới ánh mặt trời châu Phi. Nhưng giờ đây, lốm đốm trên nền da sẫm màu ấy lại là những mảng trắng kỳ dị, tẩy trắng đi sắc da nguyên bản.

"Đó chính là lý do tôi không muốn tiếp khách," cậu ta cay đắng nói. "Tôi chẳng ngại gì cậu, Jimmie, nhưng tôi hoàn toàn có thể từ chối gặp người bạn đi cùng cậu. Hẳn là có lý do chính đáng để cậu làm vậy, nhưng quả thật cậu đã đẩy tôi vào một thế cờ vô cùng bất lợi."

"Tôi chỉ muốn tự mình xác nhận rằng cậu vẫn bình an, Godfrey ạ. Đêm đó, khi tôi nhìn thấy cậu xuất hiện ngoài cửa sổ, tôi đã tự nhủ sẽ không đời nào để mọi chuyện trôi vào quên lãng cho tới khi làm sáng tỏ mọi góc khuất."

"Lão Ralph đã tiết lộ rằng cậu đang ở đó, và tôi không kìm được mà phải lén nhìn cậu một cái. Tôi đã hy vọng cậu không nhìn thấy tôi, và ngay khi nghe tiếng cửa sổ bị đẩy lên, tôi đã phải ba chân bốn cẳng chuồn về cái hang ổ này."

"Nhưng có Chúa chứng giám, rốt cuộc thì chuyện quái quỷ gì đã xảy ra vậy?"

"Chà, câu chuyện cũng không dài dòng lắm đâu," cậu ta nói, rít một hơi thuốc lá. "Cậu còn nhớ trận chiến diễn ra vào buổi sáng ở Buffelsspruit, ngoại ô Pretoria, ngay trên tuyến đường sắt phía Đông chứ? Cậu đã nghe tin tôi bị trúng đạn rồi phải không?"

"Đúng vậy, tôi có nghe, nhưng chưa bao giờ biết được tường tận chi tiết."

"Ba người bọn tôi bị tách khỏi phần còn lại của đơn vị. Nơi đó địa hình vô cùng hiểm trở, chắc cậu cũng nhớ. Lúc đó có Simpson-cái gã mà chúng ta hay gọi là Simpson Hói ấy-với Anderson, và tôi. Bọn tôi đang tiến hành rà soát để dọn dẹp quân Boer, nhưng một tên bắn tỉa đã nằm bẹp xuống ngụy trang và lần lượt hạ gục cả ba. Hai người kia mất mạng ngay tại chỗ. Tôi thì ăn một viên đạn súng săn voi xuyên qua vai. Thế nhưng, tôi vẫn cố sống cố chết bám chặt lấy lưng ngựa, và con vật trung thành ấy đã phi nước đại thêm vài dặm nữa trước khi tôi ngất xỉu và ngã nhào khỏi yên.

"Khi tôi tỉnh lại thì màn đêm đã buông xuống. Tôi cố sức gượng dậy, cả người yếu ớt và vô cùng đau đớn. Trước sự ngạc nhiên tột độ của tôi, có một ngôi nhà nằm ngay sát bên-một căn nhà khá lớn với hàng hiên rộng rãi và rất nhiều cửa sổ. Trời lúc đó lạnh cắt da cắt thịt. Cậu nhớ cái kiểu lạnh cóng hay ập đến vào những buổi chập tối ở đó không? Một cái lạnh chết chóc, rợn người, khác xa với cái lạnh giá buốt nhưng trong lành, khỏe khoắn thường thấy. Chà, tôi đã bị cái lạnh ấy ngấm đến tận xương tủy, và niềm hy vọng sống sót duy nhất của tôi dường như nằm trọn ở việc lê bước đến ngôi nhà kia. Tôi loạng choạng đứng lên và lết đi, đầu óc mơ hồ chẳng còn ý thức rõ mình đang làm gì nữa. Ký ức trong tôi chỉ còn là những mảnh ghép mờ nhạt về việc khó nhọc lê từng bước lên cầu thang, bước qua một cánh cửa mở toang, lảo đảo vào một căn phòng lớn kê vô số giường, rồi thả phịch người xuống một trong số đó kèm theo một tiếng thở dài nhẹ nhõm. Dù chiếc giường chưa được dọn dẹp, nhưng điều đó với tôi lúc bấy giờ chẳng mảy may quan trọng. Tôi kéo tấm chăn phủ lên cơ thể đang run lên bần bật, và chỉ trong tích tắc, tôi đã chìm vào một giấc ngủ sâu.

"Khi tôi thức giấc, trời đã sáng. Nhưng đối với tôi, dường như thay vì tỉnh dậy để trở lại với thế giới thực tại, tôi lại vừa bị ném vào một cơn ác mộng kinh hoàng nào đó. Ánh mặt trời châu Phi rực rỡ chiếu xuyên qua những khung cửa sổ lớn không rèm che, làm hiện lên rõ nét và sắc sảo từng chi tiết của khu nhà tập thể rộng lớn, trống hoác, chỉ được quét một lớp vôi trắng đơn điệu. Đứng sừng sững trước mặt tôi là một gã đàn ông nhỏ thó, mang vóc dáng của một kẻ lùn với cái đầu to tướng, phình bự. Gã đang lầm bầm những từ ngữ đầy kích động bằng tiếng Hà Lan, vừa nói vừa huơ huơ hai bàn tay gớm ghiếc trông hệt như những miếng bọt biển xỉn màu. Đằng sau gã là một đám người có vẻ rất tận hưởng và thích thú trước cảnh tượng này. Thế nhưng, một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng khi tôi đưa mắt nhìn họ. Không một ai trong số đó mang hình hài của một con người bình thường. Từng người một, ai nấy đều bị vặn vẹo, sưng tấy hoặc biến dạng theo những cách thức vô cùng kỳ dị. Tiếng cười the thé của những con quái vật ấy thực sự là một thứ âm thanh đáng sợ đến ám ảnh.

"Dường như chẳng một ai trong số họ rành tiếng Anh, nhưng tình hình lúc đó thì chẳng cần phiên dịch cũng đủ hiểu. Sinh vật với cái đầu to tướng ấy đang trở nên giận dữ tột độ. Gã thốt ra những tiếng gầm gừ như dã thú, đặt đôi bàn tay dị dạng lên người tôi và thô bạo kéo tôi ra khỏi giường, mặc cho dòng máu tươi lại bắt đầu tuôn trào từ vết thương trên vai. Tên quái vật nhỏ thó ấy khỏe như một con bò tót, và tôi chẳng dám tưởng tượng gã sẽ làm gì mình nếu một người đàn ông lớn tuổi-rõ ràng là người có uy quyền-không bị thu hút bởi sự ồn ào và bước vào phòng. Ông ta nghiêm giọng nói vài câu bằng tiếng Hà Lan, và kẻ đang bắt nạt tôi liền ngoan ngoãn lùi lại. Sau đó, ông ta quay sang nhìn tôi với một vẻ kinh ngạc tột độ.

"'Làm thế nào mà anh lại lạc được vào đây?' ông ta ngỡ ngàng hỏi. 'Đợi một chút! Tôi thấy anh đang kiệt sức, và cái vai bị thương kia cần được chăm sóc ngay lập tức. Tôi là bác sĩ, tôi sẽ tiến hành băng bó cho anh sớm thôi. Nhưng chàng trai ạ! Hiện tại, anh đang ở trong một tình thế nguy hiểm hơn bất kỳ khoảnh khắc nào trên chiến trường. Anh đã lọt vào khu vực của một Bệnh viện Phong, và anh lại vừa ngủ qua đêm trên chính chiếc giường của một bệnh nhân phong.'

"Liệu tôi có cần phải kể thêm nữa không, Jimmie? Chuyện là, trước khi trận chiến nổ ra, tất cả những con người tội nghiệp này đã được lệnh sơ tán từ ngày hôm trước. Sau đó, khi quân đội Anh tiến quân, họ lại được vị giám đốc y tế này đưa trở về. Ông ấy đã bảo đảm với tôi rằng, dù tự tin mình miễn nhiễm với căn bệnh quái ác này, ông ấy cũng không bao giờ dám liều lĩnh làm cái việc điên rồ mà tôi vừa làm. Ông ấy sắp xếp cho tôi nằm ở một phòng riêng biệt, tận tình chăm sóc, và khoảng một tuần sau đó, tôi được chuyển đến bệnh viện đa khoa ở Pretoria.

"Giờ thì cậu đã rõ bi kịch của đời tôi rồi đấy. Tôi đã bấu víu lấy chút hy vọng mong manh để chống lại sự tuyệt vọng, nhưng mãi cho đến khi về tới nhà, những dấu vết khủng khiếp mà cậu đang nhìn thấy trên mặt tôi mới nhẫn tâm khẳng định rằng tôi đã không thể thoát khỏi bàn tay tử thần. Tôi biết phải làm gì đây? Tôi đành thu mình trong ngôi nhà hoang vắng này. Bọn tôi chỉ có hai người hầu trung thành, những người có thể tuyệt đối tin tưởng. May mắn thay, gia đình tôi có một ngôi nhà để tôi có thể ẩn náu. Dưới một lời thề giữ bí mật nghiêm ngặt, ông Kent, một bác sĩ phẫu thuật, đã đồng ý ở lại để chăm sóc cho tôi. Mọi chuyện nghe qua thì có vẻ khá êm xuôi theo hướng đó. Lựa chọn còn lại chỉ là một cơn ác mộng tồi tệ hơn-bị đày đọa cách ly suốt phần đời còn lại giữa những kẻ xa lạ, vĩnh viễn không còn hy vọng được giải thoát. Thế nên, sự bí mật tuyệt đối là sống còn, bởi nếu không, dẫu ở một vùng nông thôn yên bình này đi chăng nữa, sự phản đối kịch liệt vẫn sẽ nổ ra, và tôi sẽ bị lôi đi để hứng chịu cái số phận nghiệt ngã của mình. Ngay cả cậu, Jimmie-ngay cả cậu cũng buộc phải bị giữ trong bóng tối. Còn việc tại sao cha tôi lại mủi lòng cho phép tôi ở đây thì đến nay tôi vẫn chẳng thể tưởng tượng nổi."

Đại tá Emsworth đưa tay chỉ về phía tôi.

"Đây chính là vị quý ông đã ép buộc tôi." Ngài ấy mở nếp gấp của tờ giấy mà trên đó tôi đã viết vỏn vẹn hai chữ "Bệnh phong." "Theo thiển ý của tôi, nếu ông ấy đã điều tra ra được nhường này, thì việc để ông ấy biết tường tận mọi chuyện có lẽ sẽ an toàn hơn."

"Và ngài đã quyết định đúng," tôi lên tiếng. "Biết đâu đấy, những điều tốt đẹp lại có thể bắt nguồn từ chính sự việc này thì sao? Tôi được biết rằng cho đến nay, mới chỉ có ông Kent là người trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân. Xin mạn phép được hỏi, thưa đại tá, liệu ông Kent đây có phải là một chuyên gia về những căn bệnh như vậy-những căn bệnh mà tôi cho là mang đặc thù của vùng nhiệt đới hay cận nhiệt đới?"

"Tôi nắm bắt được những kiến thức chuyên môn cơ bản của một người hành nghề y được đào tạo bài bản," ông ta lên tiếng, giọng điệu xen lẫn chút cứng nhắc.

"Tôi hoàn toàn không nghi ngờ gì về năng lực chuyên môn của ông, thưa ông Kent, nhưng tôi tin chắc rằng ông cũng sẽ đồng tình với tôi rằng, trong những trường hợp phức tạp như thế này, một ý kiến tham khảo thứ hai là vô cùng đáng giá. Tôi hiểu, đại tá đã cố gắng né tránh điều này chỉ vì e ngại rằng áp lực sẽ đè nặng lên ngài trong việc phải đưa bệnh nhân đi cách ly."

"Hoàn toàn chính xác," Đại tá Emsworth đáp lời.

"Tôi đã tiên liệu trước tình huống này," tôi từ tốn giải thích, "và chính vì thế, tôi đã dẫn theo một người bạn-một người mà tôi có thể đặt trọn niềm tin vào sự kín kẽ tuyệt đối của ngài ấy. Trước đây, tôi từng có dịp cung cấp cho ngài ấy một dịch vụ chuyên nghiệp, và hôm nay ngài ấy đã sẵn lòng đến đây để cố vấn, không phải dưới tư cách một chuyên gia, mà là với tư cách một người bạn. Tên của ngài ấy là Ngài James Saunders."

Ngay cả viễn cảnh được diện kiến trực tiếp Lãnh chúa Roberts cũng chưa chắc đã đủ sức làm cho một viên sĩ quan cấp dưới non trẻ vừa ra trường phấn khích và rạng rỡ đến mức như những gì đang hiển hiện trên khuôn mặt của ông Kent lúc này.

"Được thế thì tôi thực sự vô cùng tự hào," ông ta thì thầm trong xúc động.

"Nếu vậy, tôi xin mạn phép mời Ngài James bước vào theo lối này. Hiện tại, ngài ấy đang chờ sẵn trong cỗ xe ngựa ngoài cửa. Trong thời gian đó, Đại tá Emsworth, có lẽ tất cả chúng ta nên di chuyển đến phòng làm việc của ngài, nơi tôi có thể đưa ra một vài lời giải thích cần thiết cho mọi chuyện."

Và chính khoảnh khắc ấy, tôi lại thấy nhớ Watson của mình da diết. Bằng những câu hỏi sắc sảo khéo léo và những tiếng xuýt xoa đầy kinh ngạc, anh ấy luôn biết cách nâng tầm những ngón nghề suy luận giản đơn của tôi-những thứ vốn dĩ chỉ là một hệ thống tư duy logic thông thường-trở thành một phép màu thực sự. Khi phải tự mình thuật lại câu chuyện, tôi chẳng còn có được sự trợ giúp đắc lực ấy nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn sẽ trình bày lại quá trình tư duy của mình, y hệt như cách tôi đã dẫn dắt những thính giả nhỏ bé của mình-trong đó có cả mẹ của Godfrey-tại chính phòng làm việc của Đại tá Emsworth.

"Quá trình đó," tôi bắt đầu, "khởi nguồn từ một định lý cơ bản: khi ta đã loại trừ tất cả những yếu tố bất khả thi, thì bất luận những gì còn sót lại có khó tin đến mức nào đi chăng nữa, đó nhất định phải là sự thật. Sẽ có khả năng còn lại một vài lời giải thích khả dĩ. Trong trường hợp đó, người ta buộc phải đưa ra những phép thử lặp đi lặp lại cho đến khi một trong số chúng nhận được sự chứng thực đầy thuyết phục. Giờ thì chúng ta hãy cùng ứng dụng nguyên tắc này vào trường hợp đang bàn luận. Lần đầu tiên khi vụ việc này được trình bày, tôi đã vẽ ra ba lời giải thích khả thi cho sự ẩn dật, hay nói đúng hơn là sự giam cầm của quý ông trẻ tuổi này trong căn nhà phụ thuộc dinh thự của cha cậu. Giả thuyết thứ nhất là cậu ta đang phải lẩn trốn để trốn tránh tội ác nào đó. Giả thuyết thứ hai là cậu ta đã mắc bệnh tâm thần và gia đình muốn tránh khỏi sự can thiệp của các viện tế bần. Hoặc giả thuyết thứ ba, cậu ta đã mắc phải một căn bệnh truyền nhiễm buộc phải cách ly nghiêm ngặt. Ngoài ba điều này, tôi không thể tìm ra thêm bất kỳ một giải pháp nào thỏa đáng hơn. Vì thế, chúng cần được đặt lên bàn cân để sàng lọc và xem xét kỹ lưỡng.

"Giả thuyết về tội phạm nhanh chóng bị bẻ gãy khi đưa vào xem xét. Gần đây, chẳng có bất kỳ báo cáo nào về một tội ác chưa được giải quyết trong khu vực. Tôi dám khẳng định chắc nịch về điều đó. Nếu quả thực tồn tại một tội ác nào đó chưa bị phanh phui, thì việc thu xếp cho thủ phạm chạy trốn ra nước ngoài rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho gia đình hơn là giấu nhẹm anh ta ở nhà. Tôi chẳng thấy có lý do gì để bào chữa cho một hành động như vậy.

"Căn bệnh tâm thần nghe chừng có vẻ hợp lý hơn. Sự xuất hiện của người đàn ông thứ hai trong căn nhà phụ ngầm ám chỉ sự hiện diện của một người chăm sóc. Việc ông ta luôn khóa chặt cửa mỗi khi ra ngoài càng củng cố thêm cho giả định về sự kiềm chế bệnh nhân. Thế nhưng, nếu đó thực sự là sự kiềm chế, thì nó không thể quá lỏng lẻo đến mức chàng trai trẻ này lại dễ dàng trốn ra ngoài và xuống tận nơi để dò xét người bạn của mình. Chắc anh còn nhớ, anh Dodd, rằng tôi đã cẩn thận hỏi anh về những tiểu tiết, chẳng hạn như tựa đề tờ báo mà ông Kent đang đọc. Nếu đó là tờ The Lancet7 hay The British Medical Journal8, thì thông tin ấy hẳn đã có ích cho tôi. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, việc giữ một người mắc bệnh tâm thần tại nhà riêng không hề vi phạm pháp luật miễn là bệnh nhân được một người có chuyên môn y tế theo dõi và chính quyền địa phương được thông báo đầy đủ. Vậy thì, cớ làm sao người ta lại phải tuyệt vọng khát khao che giấu mọi chuyện đến nhường này? Lại một lần nữa, giả thuyết này hoàn toàn không ăn khớp với thực tế.

"Vậy là chỉ còn lại khả năng thứ ba. Khả năng này, tuy hiếm hoi và đầy sự không chắc chắn, nhưng mọi mảnh ghép dường như lại vô cùng vừa vặn. Bệnh phong không phải là một căn bệnh quá xa lạ ở Nam Phi. Trong một tình huống trớ trêu nào đó của số phận, chàng thanh niên này rất có thể đã nhiễm bệnh. Những người thân của cậu ta hẳn đã rơi vào một tình cảnh vô cùng khủng khiếp, bởi lẽ họ luôn khao khát cứu cậu thoát khỏi sự cách ly. Việc giữ bí mật tuyệt đối sẽ là điều kiện tiên quyết nhằm ngăn chặn những lời đồn thổi lan xa, kéo theo sự can thiệp từ phía chính quyền. Chỉ cần trả một khoản thù lao hậu hĩnh, việc tìm kiếm một vị bác sĩ y khoa tận tụy để gánh vác trọng trách chăm sóc bệnh nhân sẽ chẳng mấy khó khăn. Sẽ chẳng có lý do gì để ngăn cấm người này được tự do đi lại sau khi màn đêm buông xuống. Sự biến đổi sắc tố da làm trắng bệch làn da vốn là một triệu chứng điển hình của căn bệnh quái ác này. Những suy luận này mạnh mẽ đến mức tôi đã quyết định hành động như thể chúng đã thực sự được chứng minh. Và khi đến đây, việc nhận ra Ralph-người chịu trách nhiệm mang thức ăn-luôn đeo những đôi găng tay đã được tẩm thuốc khử trùng, thì những mảnh nghi ngờ cuối cùng trong tôi đã hoàn toàn bị đập tan. Chỉ một từ duy nhất được viết ra cũng đủ để ngài hiểu, thưa đại tá, rằng bí mật của ngài đã bị tôi lật tẩy. Sở dĩ tôi chọn cách viết ra thay vì nói thẳng, chính là để ngài thấy rằng ngài hoàn toàn có thể tin tưởng vào sự kín đáo của tôi."

Tôi vừa dứt lời kết thúc bài phân tích ngắn gọn về vụ án, thì cánh cửa từ từ mở ra. Dáng vẻ uy nghiêm của vị bác sĩ da liễu vĩ đại xuất hiện. Nhưng lần này, khuôn mặt vốn lạnh lùng như tượng nhân sư của ngài ấy đã giãn ra, nhường chỗ cho một nét nhân hậu, ấm áp ánh lên trong đôi mắt. Ngài ấy thong thả bước đến chỗ Đại tá Emsworth và chủ động bắt tay ngài.

"Nghề nghiệp thường buộc tôi phải mang đến những tin dữ, và rất hiếm khi là những tin vui," ngài ấy cất lời. "Và lần này, niềm vui lại càng đáng để hoan nghênh hơn bao giờ hết. Cậu ấy không hề mắc bệnh phong."

"Ngài nói sao cơ?"

"Đây là một trường hợp vô cùng điển hình của bệnh giả phong, hay còn gọi là bệnh vảy cá (ichthyosis)9-một dạng bệnh lý về da gây ra tình trạng nổi vảy như vảy cá. Bệnh này trông có vẻ khó coi, dai dẳng, nhưng hoàn toàn có khả năng chữa khỏi và chắc chắn là không hề lây nhiễm. Vâng, ông Holmes ạ, sự trùng hợp này quả là một điều đáng ngạc nhiên. Nhưng liệu đó có đơn thuần chỉ là sự trùng hợp? Phải chăng đang tồn tại những thế lực vô hình nào đó đang chi phối mà con người chúng ta biết quá ít về chúng? Liệu chúng ta có dám chắc rằng nỗi sợ hãi-thứ cảm xúc mà chàng trai trẻ này không nghi ngờ gì nữa đã phải hứng chịu một cách tột độ kể từ lúc đối mặt với nguy cơ lây nhiễm-lại không đủ sức tạo ra một tác động vật lý lên cơ thể, mô phỏng lại chính xác căn bệnh mà cậu ta luôn khiếp sợ? Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, tôi cũng xin lấy danh dự nghề nghiệp của mình ra để bảo đảm-- Ôi kìa! Phu nhân đã ngất xỉu mất rồi! Tôi nghĩ rằng ông Kent nên ở lại đây chăm sóc cho bà ấy cho đến khi bà ấy bình phục sau cú sốc quá đỗi vui mừng này."



  1. Chiến tranh Nam Phi (1899-1902) giữa Đế quốc Anh và hai nước cộng hòa độc lập của người Boer (người gốc Hà Lan). Cuộc chiến này có tác động sâu sắc đến xã hội và quân đội Anh đầu thế kỷ 20. 

  2. Nguyên gốc tiếng Anh là 'Imperial Yeomanry', lực lượng kỵ binh dự bị tình nguyện của Quân đội Anh, được thành lập trong Chiến tranh Boer thứ hai để tăng cường lực lượng chiến đấu tại Nam Phi. 

  3. Một con phố ở trung tâm tài chính (City of London) của London, nổi tiếng là trung tâm của giới môi giới tài chính và từng là nơi tọa lạc của Sở giao dịch chứng khoán London. 

  4. Nguyên gốc 'Victoria Cross' - huân chương quân sự cao quý nhất của Anh, trao cho những cá nhân thể hiện lòng dũng cảm xuất chúng khi đối mặt với kẻ thù. 

  5. Cuộc chiến tranh (1853-1856) giữa Đế quốc Nga và liên minh gồm Đế quốc Ottoman, Pháp, Anh và Sardinia, chủ yếu diễn ra trên bán đảo Crimea. 

  6. Một tạp chí tuần của Anh tập trung vào chính trị, văn hóa và nghệ thuật, được phát hành từ năm 1828, nhắm tới giới trí thức và thượng lưu. 

  7. Một trong những tạp chí y khoa độc lập, uy tín và lâu đời nhất thế giới, được xuất bản lần đầu tiên tại Anh vào năm 1823. 

  8. Tạp chí y khoa hàng tuần được xuất bản bởi Hiệp hội Y khoa Anh (BMA), một ấn phẩm y khoa uy tín phổ biến. 

  9. Một nhóm rối loạn da di truyền khiến da trở nên khô, dày và bong tróc giống như vảy cá. Trong vụ án này, căn bệnh này có vẻ ngoài dễ bị nhầm lẫn với bệnh phong (leprosy).