XII. VỤ ÁN NHÀ SẢN XUẤT HỌA CỤ NGHỈ HƯU

Sáng hôm ấy, Sherlock Holmes chìm trong tâm trạng u sầu và đầy tư lự. Ngay cả một bộ óc thực tế nhạy bén như anh đôi lúc cũng khó tránh khỏi những khoảnh khắc chùng lòng như vậy.

"Anh có thấy ông ta không?" anh hỏi.

"Ý anh là ông lão vừa đi ra ngoài đó hả?"

"Chính xác."

"Có, tôi gặp ông ấy ở cửa."

"Anh nghĩ gì về ông ta?"

"Một người tội nghiệp, thảm hại và suy sụp."

"Đúng thế, Watson. Tội nghiệp và thảm hại. Nhưng chẳng phải cả cuộc đời này cũng tội nghiệp và thảm hại như vậy sao? Chẳng phải câu chuyện của ông ta chính là một bức tranh thu nhỏ của nhân loại đó sao? Chúng ta không ngừng vươn tới. Chúng ta cố gắng nắm bắt. Và rốt cuộc, tay ta còn lại những gì? Một cái bóng. Hoặc tệ hơn cả một cái bóng-sự khốn cùng."

"Ông ấy là một trong những thân chủ của anh sao?"

"Chà, tôi cho là có thể gọi như vậy. Sở Cảnh sát đã đẩy ông ta tới đây. Giống như các bác sĩ đôi khi vẫn đùn đẩy những bệnh nhân vô phương cứu chữa của họ cho một gã lang băm vậy. Họ cho rằng họ đã bó tay, và dẫu có chuyện gì xảy ra thì tình trạng của bệnh nhân cũng chẳng thể tồi tệ hơn được nữa."

"Có chuyện gì vậy?"

Holmes nhấc một tấm danh thiếp khá bẩn từ trên bàn lên. "Josiah Amberley. Ông ta nói mình từng là đối tác cấp dưới của công ty Brickfall và Amberley, chuyên sản xuất họa cụ. Anh sẽ thấy tên của họ trên các hộp màu vẽ. Ông ta đã kiếm được một khoản kha khá, lui về hưu ở tuổi sáu mươi mốt, tậu một ngôi nhà ở Lewisham, và an dưỡng tuổi già sau một đời làm việc không ngơi nghỉ. Người ta sẽ nghĩ rằng tương lai của ông ta đã được bảo đảm vững chắc."

"Đúng vậy, chắc chắn rồi."

Holmes liếc nhìn vài dòng ghi chú mà anh đã viết ngoệch ngoạc trên mặt sau của một chiếc phong bì.

"Nghỉ hưu năm 1896, Watson. Đầu năm 1897, ông ta kết hôn với một người phụ nữ kém mình hai mươi tuổi-một người phụ nữ khá ưa nhìn, nếu như bức ảnh không quá nịnh hót. Một khoản thu nhập đủ sống, một người vợ, sự thảnh thơi-dường như một con đường bằng phẳng đang trải dài trước mắt ông ta. Vậy mà chỉ trong vòng hai năm, ông ta lại trở thành một sinh linh thảm hại và khốn khổ nhất đang lê bước dưới ánh mặt trời, như anh vừa thấy đấy."

"Nhưng chuyện gì đã xảy ra?"

"Vẫn là câu chuyện muôn thuở thôi, Watson. Một người bạn phản trắc và một người vợ thay lòng. Có vẻ như Amberley chỉ có một niềm đam mê duy nhất trong đời, đó là cờ vua. Cách nhà ông ta ở Lewisham không xa có một vị bác sĩ trẻ cũng là một kỳ thủ. Tôi đã ghi lại tên anh ta là Bác sĩ Ray Ernest. Ernest thường xuyên ghé thăm, và sự thân thiết giữa cậu ta với bà Amberley là một hệ quả tất yếu, bởi anh hẳn phải thừa nhận rằng vị thân chủ bất hạnh của chúng ta chẳng có chút vẻ đẹp ngoại hình nào, mặc cho phẩm chất bên trong của ông ta có ra sao đi nữa. Tuần trước, cặp đôi đó đã bỏ trốn cùng nhau-bặt vô âm tín. Hơn thế nữa, người vợ bất trung còn mang theo chiếc hộp đựng giấy tờ của ông lão như hành lý cá nhân, trong đó chứa một phần lớn số tiền tiết kiệm cả đời của ông ta. Liệu chúng ta có thể tìm ra người phụ nữ đó không? Chúng ta có thể lấy lại số tiền không? Đó vốn chỉ là một vấn đề tầm thường cho đến thời điểm này, nhưng lại là vấn đề mang tính sống còn đối với Josiah Amberley."

"Anh sẽ làm gì với vụ này?"

"Chà, câu hỏi cấp bách hơn, Watson thân mến, lại là: Anh sẽ làm gì?-nếu anh vui lòng đóng vai người thế vai cho tôi. Anh biết đấy, tôi đang bận rộn với vụ án của hai vị Thượng phụ Giáo chủ Coptic1, vụ việc này chắc chắn sẽ đi đến hồi kết vào hôm nay. Tôi thực sự không có thời gian để đến Lewisham, thế nhưng bằng chứng thu thập tại hiện trường lại có giá trị đặc biệt. Ông lão đó đã vô cùng khăng khăng muốn tôi đích thân đi, nhưng tôi đã giải thích về hoàn cảnh của mình. Cuối cùng, ông ta cũng sẵn lòng gặp một người đại diện."

"Tất nhiên rồi," tôi đáp. "Tôi thú nhận rằng tôi không thấy mình có thể giúp ích được nhiều, nhưng tôi sẵn sàng làm hết sức mình." Và thế là vào một buổi chiều mùa hè, tôi lên đường tới Lewisham, chẳng mảy may ngờ rằng chỉ trong vòng một tuần nữa, vụ việc mà tôi đang tham gia sẽ trở thành tâm điểm bàn tán sôi nổi của toàn nước Anh.

Mãi đến tận tối muộn hôm đó, tôi mới quay lại phố Baker để báo cáo về chuyến đi của mình. Holmes đang ngả ngốn, vươn tấm thân gầy guộc trên chiếc ghế bành lún sâu. Tẩu thuốc trên tay anh chầm chậm nhả ra những cuộn khói xì gà khét lẹt. Đôi mí mắt anh sụp xuống vẻ lười nhác, hờ hững đến mức ai nhìn vào cũng ngỡ anh đang chìm trong giấc ngủ. Thế nhưng, cứ mỗi lần tôi ngập ngừng hay vấp váp trong lúc kể, đôi mắt ấy lại hé mở. Hai con ngươi màu xám, sáng rực và sắc bén tựa như những lưỡi gươm, lại phóng về phía tôi với ánh nhìn dò xét tột độ.

"The Haven là tên tư dinh của ông Josiah Amberley," tôi giải thích. "Tôi nghĩ anh sẽ thấy hứng thú đấy, Holmes. Căn nhà tựa như một vị quý tộc sa sút, ngập chìm giữa những kẻ thấp kém hơn mình. Anh thừa biết khu vực đặc biệt đó mà, với những con phố lát gạch đơn điệu và những nẻo đường ngoại ô rã rời. Nằm lọt thỏm ngay chính giữa vùng ấy, như một ốc đảo bé nhỏ lưu giữ chút văn hóa và tiện nghi của thời xưa cũ, là ngôi nhà cổ kính này. Bao bọc lấy nó là một bức tường vươn cao hứng chịu cái nắng nung người, lốm đốm những vệt địa y và phủ kín rêu phong trên đỉnh, cái kiểu tường--"

"Bớt phần thơ ca lãng mạn đi, Watson," Holmes nghiêm giọng. "Tôi xin ghi nhận đó là một bức tường gạch rất cao."

"Chính xác là thế. Chắc tôi đã chẳng thể nhận ra đâu là The Haven nếu không tiện miệng hỏi một kẻ nhàn rỗi đang đứng hút thuốc trên phố. Tôi có lý do riêng để nhắc đến hắn. Hắn ta là một gã đàn ông cao lớn, nước da ngăm đen với bộ ria mép rậm rạp, mang đậm dáng dấp của một quân nhân. Khi tôi cất tiếng hỏi, hắn chỉ gật đầu đáp lại và ném về phía tôi một ánh nhìn dò xét đến kỳ lạ. Mãi một lúc sau, ánh mắt ấy vẫn cứ lảng vảng trong tâm trí tôi.

"Vừa bước qua cổng, tôi đã thấy ngay ông Amberley đang chậm rãi đi dọc theo lối mòn. Sáng nay tôi mới chỉ kịp nhìn lướt qua ông ta, và dáng vẻ ấy quả thực đã để lại trong tôi ấn tượng về một con người kỳ dị. Thế nhưng, khi được chiêm ngưỡng ông ta dưới thứ ánh sáng tường tận tỏ rõ, vẻ ngoài của người đàn ông này lại càng toát lên sự bất thường."

"Dĩ nhiên là tôi đã tự mình nghiên cứu ông ta rồi, nhưng tôi vẫn muốn lắng nghe cảm nhận từ góc nhìn của anh," Holmes đáp.

"Tôi thấy ông ta hệt như một kẻ đang oằn mình gánh chịu muôn vàn muộn phiền. Tấm lưng ông ta còng gập xuống, tưởng chừng đang phải cõng một sức nặng khổng lồ. Thế nhưng ông ta tuyệt nhiên không phải là một kẻ yếu đuối như tôi lầm tưởng ban đầu. Lồng ngực và đôi vai ông ta mang cấu trúc khung xương của một gã khổng lồ thực thụ, dẫu cho vóc dáng vạm vỡ ấy lại thót dần xuống, kết thúc bằng một đôi chân gầy guộc, khẳng khiu."

"Giày trái thì nhăn nheo, còn giày phải lại nhẵn bóng."

"Tôi lại không hề để ý đến chi tiết đó."

"Phải rồi, anh làm sao mà để ý được. Tôi thì nhận ra ngay chiếc chân giả của ông ta. Nhưng thôi, anh cứ kể tiếp đi."

"Thứ khiến tôi ấn tượng là những lọn tóc hoa râm xoắn xít, ngoằn ngoèo thò ra từ bên dưới chiếc mũ rơm cũ mèm. Trên khuôn mặt in hằn những nếp nhăn sâu hoắm của ông ta, luôn thường trực một biểu cảm dữ tợn và đầy vẻ khao khát."

"Tốt lắm, Watson. Thế ông ta đã nói những gì?"

"Ông ta bắt đầu thao thao bất tuyệt kể lể về những nỗi oan ức của bản thân. Chúng tôi cùng nhau đi dọc theo lối mòn, và dĩ nhiên, tôi tranh thủ quan sát kỹ lưỡng xung quanh. Quả thực, tôi chưa từng thấy nơi nào được chăm chút tồi tệ đến thế. Khu vườn xơ xác, tiêu điều, gợi lên cảm giác về một sự bỏ bê đến hoang dại, nơi cỏ cây được mặc tình sinh sôi nảy nở theo bản năng tự nhiên chứ chẳng hề có chút dấu ấn nào của nghệ thuật cắt tỉa. Tôi không thể hiểu nổi làm sao một người phụ nữ đàng hoàng lại có thể cam chịu sống trong cảnh tượng nhếch nhác nhường này. Bản thân ngôi nhà cũng luộm thuộm đến cùng cực. Nhưng có vẻ như người đàn ông tội nghiệp ấy cũng tự ý thức được sự tồi tàn đó và đang ra sức khắc phục. Bằng chứng là giữa sảnh nhà chễm chệ một thùng sơn xanh lớn, còn tay trái ông ta đang lăm lăm một cây cọ dày cộp. Ông ta vẫn đang dở tay sơn lại đám đồ gỗ.

"Ông ta dẫn tôi vào căn phòng làm việc xập xệ của mình, và tại đây, chúng tôi đã có một cuộc trò chuyện dài. Dĩ nhiên, ông ta không giấu nổi vẻ thất vọng khi thấy anh không đích thân giá lâm. 'Tôi chẳng dám kỳ vọng,' ông ta than vãn, 'rằng một kẻ thấp cổ bé họng như tôi, nhất là sau khi gánh chịu tổn thất tài chính nặng nề thế này, lại có diễm phúc nhận được sự quan tâm trọn vẹn từ một nhân vật lẫy lừng như ngài Sherlock Holmes.'

"Tôi liền trấn an ông ta rằng vấn đề tài chính chẳng phải là rào cản. 'Không, lẽ dĩ nhiên rồi, với ông ấy, nghệ thuật là vị nghệ thuật,' ông ta tiếp lời; 'nhưng ngay cả khi xét trên phương diện nghệ thuật của tội ác, biết đâu ông ấy lại có thể tìm thấy chút manh mối gì đó chốn này để mà nghiên cứu. Lại nói về bản ngã con người, Bác sĩ Watson à-nhìn cái sự vô ơn bạc bẽo tột cùng của ngần ấy chuyện mà xem! Đã có bao giờ tôi từ chối ả ta bất cứ yêu cầu nào chưa? Liệu có người đàn bà nào trên đời này được cưng chiều đến thế chưa? Rồi còn cả cái gã thanh niên kia nữa-hắn ta đáng tuổi làm con trai tôi chứ ít gì. Hắn được tự do ra vào nhà tôi như chốn không người. Vậy mà xem cái cách bọn họ đối xử với tôi đi! Ôi, Bác sĩ Watson, thế giới này sao mà tồi tệ, quá đỗi tồi tệ!'

"Đó gần như là chủ đề trọng tâm trong suốt hơn một giờ đồng hồ ông ta ngồi than vãn. Có vẻ như ông ta chưa bao giờ mảy may nghi ngờ về một mối quan hệ vụng trộm. Bọn họ sống neo đơn, chỉ có độc một người giúp việc đến làm theo ngày và cứ đến đúng sáu giờ tối là rời đi. Vào buổi tối định mệnh ấy, lão Amberley, với ý định dành cho vợ một sự bất ngờ, đã cất công mua hai tấm vé hạng sang ở Nhà hát Haymarket2. Đến phút chót, cô ta lại than vãn bị đau đầu và khước từ lời mời. Rốt cuộc, ông ta đành lủi thủi đi một mình. Câu chuyện này có vẻ không có gì đáng ngờ, bởi ông ta đã đưa ra tấm vé chưa từng được sử dụng mà mình đã mua riêng cho vợ."

"Đáng chú ý thật-vô cùng đáng chú ý," Holmes cảm thán, sự hứng thú của anh đối với vụ án dường như đang tăng lên rõ rệt. "Xin hãy tiếp tục đi, Watson. Tôi thấy câu chuyện của anh rất hấp dẫn. Anh đã đích thân kiểm tra tấm vé đó rồi chứ? Chẳng hay anh có để tâm ghi lại số ghế không?"

"Tình cờ làm sao, tôi lại có nhớ," tôi đáp với chút tự hào râm ran. "Số ghế ấy vô tình trùng khớp với số thứ tự thời đi học của tôi, ba mươi mốt, nên nó cứ thế in sâu vào tâm trí tôi."

"Tuyệt vời lắm, Watson! Vậy thì ghế của ông ta phải là ba mươi hoặc ba mươi hai."

"Đúng vậy," tôi trả lời, thoáng chút bối rối. "Và ở hàng B."

"Thật vô cùng mỹ mãn. Thế ông ta còn kể thêm cho anh những gì nữa?"

"Ông ta dẫn tôi đi xem khoang an toàn của mình, đúng như cách ông ta gọi. Quả thực, đó là một hầm chứa an toàn đích thực-chẳng khác nào hầm của ngân hàng-với cánh cửa và hệ thống cửa chớp đều làm bằng sắt. Ông ta còn đinh ninh nó có thể chống lại mọi nỗ lực đột nhập. Dẫu vậy, có vẻ như cô vợ đã nắm trong tay chiếc chìa khóa dự phòng, và thế là đôi gian phu dâm phụ ấy đã ôm trọn số tiền mặt cùng mớ chứng khoán trị giá xấp xỉ bảy ngàn bảng Anh cao chạy xa bay."

"Chứng khoán ư! Bọn chúng tẩu tán những thứ đó kiểu gì cơ chứ?"

"Ông ta cho hay mình đã giao nộp bản danh sách chứng khoán cho cảnh sát và tràn trề hy vọng rằng bọn chúng sẽ không thể bán tống bán tháo được. Hôm đó, ông ta trở về từ nhà hát vào lúc nửa đêm, thì bàng hoàng phát hiện nơi này đã bị lục tung, cửa ra vào lẫn cửa sổ đều mở toang hoác, còn những kẻ phản bội thì đã bốc hơi không một dấu vết. Chẳng có bất kỳ bức thư hay lời nhắn nào được để lại, và kể từ dạo đó, ông ta cũng bặt vô âm tín về tung tích của họ. Ngay lúc bấy giờ, ông ta đã lập tức đánh tiếng cho cảnh sát."

Holmes chìm vào trầm tư trong vài phút liền.

"Anh bảo ông ta đang sơn phết. Ông ta đang sơn thứ gì cơ?"

"Chà, ông ta đang sơn dọc theo lối hành lang. Nhưng ông ta đã sơn xong xuôi cánh cửa ra vào cùng toàn bộ phần đồ gỗ trong căn phòng mà tôi vừa mới nhắc đến."

"Anh không thấy làm cái việc đó trong hoàn cảnh này là vô cùng kỳ quặc sao?"

"'Người ta phải vùi đầu vào việc gì đó để xoa dịu con tim rỉ máu.' Đó là lời giải thích từ chính miệng ông ta. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, việc đó quả thực kỳ quặc, nhưng bản thân ông ta vốn dĩ đã là một kẻ lập dị sẵn rồi. Ông ta thậm chí còn xé tan nát một trong những bức ảnh của vợ ngay trước mặt tôi-vò xé nó một cách điên cuồng giữa cơn thịnh nộ dữ dội như cuồng phong. 'Tôi không bao giờ muốn nhìn thấy cái bản mặt chết tiệt của ả ta thêm lần nào nữa,' ông ta gào lên."

"Thế còn tình tiết nào nữa không, Watson?"

"Có chứ, một điều khiến tôi trăn trở hơn hết thảy. Tôi đã lái xe đến tận Ga Blackheath và vừa vặn đuổi kịp chuyến tàu của mình tại đó. Đúng lúc đoàn tàu rục rịch chuyển bánh, tôi chợt thấy một bóng người lao vút vào toa xe ngay sát toa tôi đang ngồi. Anh thừa biết tôi có tài nhớ mặt người xuất chúng đến nhường nào mà, Holmes. Kẻ đó chắc chắn là gã đàn ông cao lớn, da ngăm đen mà tôi đã cất tiếng hỏi đường trên phố. Tôi lại bắt gặp hắn thêm một lần nữa ở Cầu London, rồi sau đó mới để mất dấu hắn giữa biển người đông đúc. Nhưng tôi dám chắc một điều rằng hắn đang bám đuôi tôi."

"Không còn nghi ngờ gì nữa! Tuyệt đối không còn nghi ngờ gì nữa!" Holmes nói. "Một người đàn ông cao lớn, nước da ngăm đen, để ria mép rậm rạp, lại còn đeo kính râm màu xám, anh tả thế phải không?"

"Holmes, anh quả thực là một tay phù thủy. Tôi chưa hề đả động gì đến chi tiết ấy, nhưng hắn thực sự có đeo một cặp kính râm màu xám."

"Và cài một chiếc kẹp cà vạt hình biểu tượng Hội Tam Điểm3?"

"Holmes!"

"Chuyện nhỏ như con thỏ thôi mà, Watson thân mến. Nhưng ta hãy quay về với thực tế đi. Tôi phải thừa nhận với anh rằng cái vụ án này, ngỡ như đơn giản đến mức chẳng bõ công tôi phải bận tâm, giờ đây lại đang xoay chuyển sang một cục diện hoàn toàn khác. Sự thật là trong chuyến đi vừa rồi, dẫu anh đã vô tình bỏ lỡ mọi chi tiết quan trọng nhất, thế nhưng chỉ nội những thứ đập thẳng vào mắt anh cũng đủ để gợi mở ra vô vàn suy ngẫm nghiêm túc rồi."

"Tôi đã bỏ lỡ điều gì cơ chứ?"

"Đừng vội tự ái, anh bạn thân mến. Anh biết tính tôi luôn khách quan mà. Chẳng ai khác có thể làm tốt hơn anh. Thậm chí có kẻ còn làm tệ hơn nhiều. Nhưng rõ ràng là anh đã bỏ sót vài điểm cốt lõi. Chẳng hạn như, dư luận hàng xóm láng giềng nghĩ gì về gã Amberley này và cô vợ của ông ta? Chi tiết đó chắc chắn mang tính sống còn. Còn Bác sĩ Ernest thì sao? Hắn ta có phải là một tay sát gái bẩm sinh như người ta vẫn tưởng tượng hay không? Với cái duyên trời phú của mình, Watson à, bất kỳ quý cô nào cũng có thể trở thành người trợ giúp và đồng minh đắc lực cho anh. Thế còn cô gái làm việc ở bưu điện, hay bà vợ của tay bán rau thì sao? Tôi hoàn toàn có thể mường tượng ra cảnh anh kề tai rót những lời đường mật tán tỉnh cô hầu gái trẻ ở quán 'Mỏ Neo Xanh', để rồi đổi lấy những thông tin đắt giá. Ấy vậy mà tất cả những việc rành rành ra đó, anh lại chẳng màng đoái hoài tới."

"Thì giờ bù đắp lại vẫn kịp mà."

"Mọi việc đã được thu xếp ổn thỏa cả rồi. Nhờ có đường dây điện thoại và sự hỗ trợ nhiệt tình từ Sở Cảnh sát, tôi thường gom góp được những manh mối thiết yếu mà chẳng cần phải nhấc gót khỏi căn phòng này. Trùng hợp thay, những nguồn tin của tôi lại hoàn toàn xác thực câu chuyện của ông ta. Lão có tiếng tăm khắp vùng là một kẻ bủn xỉn vắt cổ chày ra nước, đồng thời cũng là một ông chồng cay nghiệt và hà khắc. Việc lão sở hữu một khoản tiền kếch xù cất giấu trong cái hầm an toàn đó là điều chắc chắn. Và cũng có một sự thật không thể chối cãi rằng vị Bác sĩ Ernest trẻ tuổi, một gã trai tân độc thân, vẫn thường xuyên lui tới chơi cờ cùng Amberley, và rất có khả năng đã lén lút dan díu với vợ của lão. Tất cả mọi tình tiết xem chừng đều trôi chảy, thuận buồm xuôi gió, đến mức người ta hẳn sẽ tặc lưỡi cho rằng chẳng còn gì để phải bàn cãi thêm nữa-vậy mà!-vậy mà!"

"Thế thì khúc mắc nằm ở đâu cơ chứ?"

"Có lẽ là ở trong trí tưởng tượng của tôi chăng. Chà, hãy gạt chuyện đó sang một bên đi, Watson. Cứ tạm trốn khỏi cái thế giới trần tục đầy rẫy mệt mỏi này qua cánh cửa nhiệm màu của âm nhạc đã. Đêm nay Carina sẽ cất tiếng hát tại Hội trường Albert, và chúng ta vẫn còn dư dả thời gian để thay đồ, dùng bữa tối và thong dong thưởng thức nghệ thuật."

Sáng hôm sau, tôi thức dậy từ khá sớm, song những mẩu bánh mì nướng cắn dở cùng hai chiếc vỏ trứng trống rỗng trên bàn cho thấy người bạn đồng hành của tôi còn rời khỏi giường sớm hơn. Bên cạnh đó là một mẩu giấy ghi chú với những dòng chữ ngoệch ngoạc:

WATSON THÂN MẾN,-

Có một vài điểm mấu chốt tôi cần làm rõ với ông Josiah Amberley. Xong xuôi đâu đấy, chúng ta có thể khép lại vụ án này - hoặc không. Tôi chỉ muốn nhờ anh hãy túc trực ở nhà vào khoảng ba giờ chiều, vì rất có khả năng tôi sẽ cần đến sự hỗ trợ của anh.

S. H.

Suốt cả ngày hôm đó, tôi chẳng thấy bóng dáng Holmes đâu, nhưng cứ đúng giờ hẹn là anh lại xuất hiện. Trông anh mang vẻ mặt nghiêm nghị, trầm ngâm và đầy xa cách. Vào những khoảnh khắc như vậy, tốt nhất là tôi cứ để yên cho anh suy nghĩ một mình.

"Ông Amberley đã tới chưa?"

"Vẫn chưa thấy đâu."

"A! Tôi đang đợi ông ta đây."

Và sự chờ đợi của anh không hề uổng phí, bởi chỉ một loáng sau, ông lão đã bước vào, gương mặt khắc khổ hiện rõ vẻ âu lo và đầy hoang mang.

"Tôi vừa nhận được một bức điện tín, anh Holmes ạ. Chẳng hiểu cơ sự thế nào nữa." Ông ta chìa tờ giấy ra, và Holmes cất giọng đọc to:

"Hãy đến ngay lập tức, không được chậm trễ. Có thể cung cấp cho ông thông tin về mất mát gần đây của ông.-ELMAN. Nhà xứ."

"Bức điện được đánh đi lúc hai giờ mười phút từ Little Turlington," Holmes nhận định. "Nếu tôi không lầm thì Little Turlington nằm ở hạt Essex, cách Frinton không xa. Chà, hẳn nhiên là ông sẽ phải lên đường ngay. Rõ ràng tin nhắn này đến từ một người có trọng trách - vị mục sư của vùng. Cuốn danh bạ giáo sĩ Crockford4 của tôi đâu rồi nhỉ? À đây rồi, thông tin về ông ta nằm ngay đây. J. C. Elman, Thạc sĩ, Tu sĩ giáo xứ Mossmoor kiêm Little Purlington. Anh tra giúp xem có chuyến tàu nào sắp chạy không, Watson."

"Có một chuyến khởi hành lúc năm giờ hai mươi từ ga phố Liverpool."

"Tuyệt vời. Tốt nhất là anh nên đi cùng ông ấy, Watson ạ. Ông ấy có thể sẽ cần người hỗ trợ hoặc góp lời khuyên. Rõ ràng là chúng ta đã đi đến bước ngoặt mang tính quyết định của vụ án này rồi."

Trái ngược với sự quả quyết đó, vị thân chủ của chúng tôi dường như lại chẳng mấy mặn mà với việc lên đường.

"Thật hoàn toàn vô lý, anh Holmes," ông ta cằn nhằn. "Người đàn ông này thì biết cái quái gì về những chuyện đã xảy ra chứ? Rõ là phí phạm cả thời gian lẫn tiền bạc."

"Ngài ấy sẽ chẳng cất công đánh điện cho ông nếu bản thân không nắm giữ thông tin gì. Hãy báo lại ngay lập tức rằng ông đang đến."

"Tôi không nghĩ là mình sẽ đi đâu."

Holmes lập tức bày tỏ thái độ nghiêm khắc nhất của mình.

"Nếu ông từ chối lần theo một manh mối rõ ràng như vậy, thì điều đó sẽ tạo ra một ấn tượng vô cùng tồi tệ đối với cả phía cảnh sát lẫn bản thân tôi, ông Amberley ạ. Chúng tôi sẽ buộc phải cho rằng ông không thực sự nghiêm túc trong cuộc điều tra này."

Nghe thấy hàm ý đó, vị thân chủ của chúng tôi tỏ ra hoảng sợ lộ liễu.

"Chà, tất nhiên tôi sẽ đi nếu anh đã nhìn nhận vấn đề theo chiều hướng ấy," ông ta vội lấp liếm. "Bề ngoài mà nói, việc cho rằng vị giáo sĩ này biết được điều gì đó nghe có vẻ khá vô lý, nhưng nếu anh nghĩ--"

"Tôi thực sự nghĩ thế," Holmes ngắt lời bằng một chất giọng đầy nhấn mạnh, và thế là chúng tôi bắt đầu hành trình. Ngay trước khi chúng tôi rời khỏi phòng, Holmes kéo tôi ra một góc để dặn dò đôi lời, đủ để cho thấy anh coi trọng vấn đề này đến mức nào. "Dù làm gì đi nữa, anh phải đảm bảo rằng ông ta thực sự lên tàu," anh thì thầm. "Nếu ông ta tìm cách lẩn trốn hay quay về, hãy chạy ngay đến trạm điện thoại gần nhất và gửi cho tôi một từ duy nhất: 'Bỏ trốn'. Tôi sẽ thu xếp mọi thứ ở đây để tin nhắn đó có thể đến tay tôi dù tôi đang ở bất cứ đâu."

Little Purlington không phải là một chốn dễ bề đặt chân tới, bởi nó nằm tít tắp trên một tuyến đường sắt nhánh. Ký ức của tôi về chuyến đi quả thật chẳng lấy gì làm vui vẻ: thời tiết thì oi bức, chuyến tàu thì rề rà chậm chạp, còn người bạn đồng hành của tôi lại mang một vẻ mặt ủ rũ, câm lặng. Ông ta gần như chẳng hé môi lấy nửa lời, ngoại trừ những lúc thỉnh thoảng buông vài câu mỉa mai về sự vô ích của chuyến đi này. Khi cả hai cuối cùng cũng lết được đến nhà ga nhỏ bé, chúng tôi còn phải đánh xe ngựa thêm hai dặm nữa mới tới được Nhà xứ. Tại đó, một vị giáo sĩ với vóc dáng to lớn, vẻ mặt nghiêm nghị và có phần khoa trương đã đón tiếp chúng tôi ngay trong phòng làm việc của ngài. Bức điện tín của chúng tôi được trải ra ngay trước mặt ngài.

"Chà, thưa các ngài," ngài lên tiếng hỏi, "tôi có thể giúp gì cho các ngài đây?"

"Chúng tôi đến," tôi giải thích, "để đáp lại bức điện tín do ngài gửi."

"Bức điện của tôi ư? Tôi chưa từng gửi bất kỳ bức điện nào cả."

"Ý tôi là bức điện mà ngài đã gửi cho ông Josiah Amberley, đề cập đến người vợ và số tiền của ông ấy."

"Nếu đây là một trò đùa, thưa ngài, thì quả là một trò đùa kém cỏi và mờ ám," vị mục sư giận dữ quát lên. "Tôi chưa bao giờ nghe nói đến danh xưng của cái vị quý ông mà ngài vừa nhắc, và tôi cũng chưa từng gửi điện tín cho bất kỳ ai hết."

Vị thân chủ của chúng tôi và tôi chỉ còn biết đưa mắt nhìn nhau trong sự ngỡ ngàng tột độ.

"Có lẽ đã có một sự nhầm lẫn nào đó ở đây," tôi phân trần; "chẳng hay trong vùng lại có đến hai nhà xứ sao? Đây là một bức điện tín thật, có ký tên Elman, và rõ ràng được đánh đi từ Nhà xứ."

"Chỉ có một nhà xứ duy nhất, thưa ngài, và cũng chỉ có một mục sư mà thôi. Bức điện này là một sự giả mạo trắng trợn và đáng xấu hổ; nguồn gốc của nó chắc chắn sẽ bị cảnh sát lôi ra ánh sáng. Còn ngay lúc này, tôi không thấy có bất cứ lý do gì để kéo dài thêm cuộc nói chuyện vô bổ này."

Thế là ông Amberley và tôi nhận ra mình đang bơ vơ đứng bên vệ đường của nơi dường như là ngôi làng nguyên sơ và hẻo lánh nhất toàn cõi nước Anh. Chúng tôi lầm lũi cất bước về phía bưu điện, nhưng nơi đó đã đóng cửa im ỉm. Tuy nhiên, ở quán 'Vòng Tay Đường Sắt5' nhỏ gần đó vẫn có một trạm điện thoại. Nhờ đó, tôi đã liên lạc được với Holmes, người có vẻ cũng chia sẻ chung sự kinh ngạc của chúng tôi trước kết cục trớ trêu của chuyến hành trình.

"Kỳ lạ thật!" giọng nói từ đầu dây bên kia vang lên. "Quả là một chi tiết vô cùng đáng lưu tâm! Nhưng tôi e rằng, Watson thân mến, đêm nay sẽ chẳng còn chuyến tàu khứ hồi nào cho anh đâu. Thế là tôi đã vô tình kết án anh phải chịu đựng những nỗi kinh hoàng của một nhà trọ tồi tàn chốn nông thôn rồi. Dù sao thì, xung quanh anh vẫn luôn có Mẹ Thiên nhiên, Watson ạ - Mẹ Thiên nhiên và ông Josiah Amberley - anh hoàn toàn có thể tự mình giao tiếp và thấu hiểu cả hai." Tôi văng vẳng nghe thấy tiếng cười khúc khích đầy khô khan của anh cất lên ngay trước khi gác máy.

Tôi sớm nhận ra rằng lời đồn về thói keo kiệt của người bạn đồng hành không hề vô căn cứ. Dọc đường, ông ta cứ lầm bầm càu nhàu về chi phí chuyến đi, khăng khăng đòi ngồi toa hạng ba, và giờ đây lại đang lớn tiếng cự cãi về hóa đơn khách sạn. Sáng hôm sau, khi rốt cuộc cả hai cũng về tới London, thật khó để phân định xem ai mang bộ mặt đưa đám hơn.

"Tốt nhất ông nên ghé qua phố Baker khi chúng ta đi ngang đó," tôi lên tiếng. "Anh Holmes có thể đã có thêm chỉ thị mới."

"Nếu mấy cái chỉ thị đó cũng chẳng khá khẩm hơn những gì anh ta đã làm, thì có đi cũng vô ích thôi," Amberley càu nhàu, buông một cái cau mày hiểm độc. Dù vậy, ông ta vẫn lẽo đẽo theo tôi. Tôi đã đánh điện báo trước cho Holmes về giờ giấc chúng tôi đến nơi, nhưng đón chúng tôi chỉ là một tin nhắn dặn lại rằng anh đang ở Lewisham, và sẽ đợi chúng tôi ở đó. Điều này quả là bất ngờ, nhưng còn sửng sốt hơn khi thấy anh không hề ở một mình trong phòng khách của chính khách hàng. Một gã đàn ông dáng vẻ nghiêm nghị, vô hồn đang ngồi cạnh anh; một gã da ngăm đeo cặp kính râm màu xám cùng chiếc kẹp cà vạt to tướng mang biểu tượng Tam Điểm chình ình trên áo.

"Đây là bạn tôi, ông Barker," Holmes lên tiếng. "Ông ấy cũng đang quan tâm tới vụ việc của ông đấy, ông Josiah Amberley, mặc dù chúng tôi làm việc hoàn toàn độc lập. Nhưng có một câu hỏi mà cả hai chúng tôi đều muốn dành cho ông!"

Ông Amberley buông người ngồi phịch xuống ghế. Ông ta đã đánh hơi thấy mối nguy hiểm đang rình rập. Tôi có thể đọc được nỗi hoảng loạn ấy qua ánh mắt căng thẳng cùng những thớ cơ co giật trên gương mặt ông ta.

"Câu hỏi gì vậy, anh Holmes?"

"Chỉ thế này thôi: Ông đã làm gì với hai cái xác?"

Gã đàn ông bật nảy người lên với một tiếng thét khàn đặc. Hai bàn tay gầy guộc, gân guốc của ông ta cào xé vào không trung. Khung hàm ông ta trễ xuống, và trong một sát na, ông ta trông hệt như một loài ác điểu săn mồi gớm ghiếc. Chỉ trong chớp mắt, chúng tôi đã nhìn thấu chân tướng của Josiah Amberley, một ác quỷ dị dạng mang tâm hồn vặn vẹo không kém gì thể xác. Khi ngã ngửa trở lại ghế, ông ta vội đưa tay lên bụm miệng như để kìm lại một cơn ho. Nhanh như một con hổ, Holmes chồm tới bóp chặt cổ họng ông ta, vật ngửa khuôn mặt ấy xuống sàn. Một viên thuốc nhỏ màu trắng lăn khỏi đôi môi đang há hốc.

"Không có đường tắt đâu, Josiah Amberley. Mọi việc phải được xử lý đàng hoàng và đúng trình tự. Sao rồi, Barker?"

"Tôi đã gọi sẵn một chiếc xe ngựa đợi ở cửa," người bạn đồng hành kiệm lời của chúng tôi lên tiếng.

"Chỉ cách ga vài trăm thước. Chúng ta sẽ cùng đi. Anh cứ ở lại đây, Watson. Tôi sẽ quay lại trong khoảng nửa giờ nữa."

Gã thợ pha màu già cỗi sở hữu sức mạnh của một con mãnh thú bên trong cái thân hình thô kệch ấy, nhưng ông ta hoàn toàn bất lực trước gông kìm của hai người đàn ông dày dặn kinh nghiệm khống chế. Vật vã và quằn quại, ông ta bị lôi tọt ra chiếc xe ngựa đang đợi sẵn, còn tôi bị bỏ lại với cuộc gác đêm đơn độc giữa ngôi nhà mang đầy điềm gở. Tuy nhiên, Holmes đã quay lại sớm hơn khoảng thời gian anh hẹn, đi cùng một viên thanh tra cảnh sát trẻ trung, bảnh bao.

"Tôi đã để Barker lo liệu các thủ tục," Holmes nói. "Anh chưa từng gặp Barker phải không, Watson. Anh ta là một đối thủ đáng gờm của tôi ở bờ Nam sông Thames đấy. Khi anh miêu tả một gã đàn ông cao lớn da ngăm, tôi chẳng mấy khó khăn để phác họa ra chân tướng. Anh ta từng có khá nhiều chiến tích lẫy lừng, phải không Thanh tra?"

"Anh ta quả thực đã can thiệp vài lần," vị Thanh tra đáp với vẻ dè dặt.

"Phương pháp của anh ta vốn dĩ chẳng chính thống, không nghi ngờ gì nữa, hệt như tôi vậy. Nhưng đôi khi sự bất tuân quy tắc lại rất hữu dụng, anh biết đấy. Chẳng hạn như anh, với cái thủ tục cảnh báo bắt buộc rằng 'mọi điều hắn nói đều có thể được dùng làm bằng chứng chống lại hắn', sẽ chẳng bao giờ dụ được tên lưu manh này thốt ra thứ gần như là một lời thú tội."

"Có lẽ là vậy. Nhưng sớm muộn gì chúng tôi cũng sẽ tóm được hắn thôi, ngài Holmes. Đừng nghĩ rằng chúng tôi chưa có giả thuyết riêng về vụ này, và rằng chúng tôi sẽ để vuột mất tên đó. Ngài phải thông cảm nếu chúng tôi cảm thấy hơi xót xa khi ngài thình lình nhảy vào bằng những phương pháp mà chúng tôi không được phép dùng, rồi nẫng tay trên mọi công lao của chúng tôi."

"Sẽ chẳng có chuyện nẫng tay trên nào cả, MacKinnon. Tôi cam đoan với anh rằng từ giờ phút này tôi sẽ lui về hậu trường, còn về phần Barker, anh ta không làm gì khác ngoài việc nghe theo chỉ thị của tôi."

Vị Thanh tra lộ rõ vẻ nhẹ nhõm.

"Ngài thật là hào hiệp, ngài Holmes. Lời khen hay tiếng chê chẳng mấy ý nghĩa với ngài, nhưng với chúng tôi thì lại là chuyện hoàn toàn khác khi cánh báo chí bắt đầu đặt câu hỏi."

"Hoàn toàn chính xác. Nhưng đằng nào thì họ cũng sẽ bâu vào chất vấn thôi, vì vậy tốt nhất là nên chuẩn bị sẵn câu trả lời. Ví dụ, anh sẽ nói thế nào khi một phóng viên tinh ranh và lanh lợi hỏi anh rằng điều gì đã đánh thức sự nghi ngờ trong anh, và cuối cùng dẫn anh đến kết luận đinh ninh về sự thật?"

Vị Thanh tra tỏ ra lúng túng.

"Có vẻ như chúng ta chưa thực sự nắm được sự thật nào, ngài Holmes. Ngài nói rằng bị cáo, trước sự chứng kiến của ba nhân chứng, đã gián tiếp thú tội qua việc cố tự tử, rằng ông ta đã sát hại vợ cùng gã nhân tình. Ngài còn bằng chứng nào khác không?"

"Anh đã bố trí người lục soát chưa?"

"Ba cảnh sát đang trên đường tới đây."

"Vậy thì anh sẽ sớm tận mắt thấy bằng chứng rõ ràng nhất. Các thi thể không thể bị giấu quá xa. Hãy thử rà soát hầm rượu và khu vườn xem. Sẽ không mất nhiều thời gian để đào xới những góc khả nghi đâu. Ngôi nhà này còn lâu đời hơn cả hệ thống ống nước của nó. Chắc chắn phải có một cái giếng cạn đâu đó. Hãy thử vận may ở đó xem sao."

"Nhưng làm sao ngài biết được điều đó, và tội ác đã được thực hiện bằng cách nào?"

"Đầu tiên tôi sẽ cho anh thấy thủ đoạn của hắn, rồi sau đó tôi sẽ đưa ra lời giải thích mà tôi nợ anh, và còn nợ nhiều hơn thế đối với người bạn nhẫn nhịn lâu năm của tôi ở đây, người đã có những đóng góp vô giá trong suốt quá trình. Nhưng trước tiên, tôi muốn cho anh cái nhìn sâu sắc vào tâm lý của gã đàn ông này. Nó rất bất thường-đến mức tôi nghĩ đích đến của ông ta nhiều khả năng sẽ là Bệnh viện Tâm thần Broadmoor6 chứ không phải là giá treo cổ. Ông ta sở hữu, ở một mức độ cao, kiểu tư duy mà người ta thường gán cho bản chất của người Ý thời Trung Cổ7 chứ không phải là người Anh hiện đại. Ông ta là một gã keo kiệt khốn kiếp, kẻ đã đày đọa vợ mình trong sự đau khổ vì thói bủn xỉn đến mức cô ta dễ dàng sa ngã vào vòng tay của bất kỳ kẻ phiêu lưu nào. Một kẻ như thế đã xuất hiện dưới lớp vỏ của tay bác sĩ mê cờ vua kia. Amberley đánh cờ rất giỏi-đó là dấu hiệu của một bộ óc đầy mưu mô, Watson ạ. Giống như mọi kẻ keo kiệt khác, ông ta mang thói ghen tuông, và sự ghen tuông đó đã bùng lên thành một cơn cuồng loạn điên rồ. Chẳng cần biết đúng sai, ông ta đã nghi ngờ có một mối quan hệ mờ ám. Ông ta quyết tâm trả thù, và đã lên kế hoạch bằng một sự xảo quyệt tựa ác quỷ. Lại đây!"

Holmes dẫn chúng tôi dọc theo hành lang với phong thái tự tin như thể anh đã từng sống trong chính ngôi nhà này, rồi dừng lại trước cánh cửa mở toang của khoang an toàn.

"Phù! Mùi sơn nồng nặc quá!" vị Thanh tra kêu lên.

"Đó chính là manh mối đầu tiên của chúng ta," Holmes nói. "Anh có thể cảm ơn tài quan sát của Bác sĩ Watson về chi tiết đó, mặc dù anh ấy chưa kịp đưa ra suy luận. Chính nó đã đặt chân tôi lên dấu vết. Tại sao gã đàn ông này lại lấp đầy ngôi nhà của mình bằng cái mùi nồng nặc vào đúng thời điểm nhạy cảm như vậy? Rõ ràng, để che giấu một thứ mùi khác mà ông ta không muốn bị phát hiện-một mùi tội lỗi có thể khơi dậy sự nghi ngờ. Rồi thêm vào đó là một căn phòng như anh thấy đây, với cửa chính và cửa sổ bọc sắt-một căn phòng kín bưng. Ghép hai sự thật đó lại với nhau, và chúng ta có gì? Tôi chỉ có thể xác minh được điều đó bằng cách tự mình vào kiểm tra ngôi nhà. Tôi đã linh cảm rằng vụ án này cực kỳ nghiêm trọng, khi kiểm tra sơ đồ ghế ngồi tại Nhà hát Haymarket-lại là một điểm trúng phóc nữa của Bác sĩ Watson-và phát hiện ra rằng cả ghế B ba mươi lẫn ba mươi hai của hạng trên đều trống không đêm đó. Do đó, Amberley đã không hề đến nhà hát, và bằng chứng ngoại phạm của ông ta tan tành. Ông ta đã phạm một sai lầm chết người khi để người bạn tinh ý của tôi nhìn thấy số ghế được mua cho vợ mình. Vấn đề lúc đó là làm thế nào tôi có cơ hội để khám xét ngôi nhà. Tôi đã cử một đặc vụ đến một ngôi làng hẻo lánh nhất có thể, và triệu tập gã tới đó vào một thời điểm sao cho ông ta không tài nào quay về kịp. Để phòng ngừa mọi bất trắc, Bác sĩ Watson đã đi cùng ông ta. Tên của vị mục sư đáng kính thì tất nhiên, tôi đã lấy ra từ cuốn danh bạ Crockford của mình. Tôi giải thích như vậy đã đủ rõ ràng với anh chưa?"

"Thật sự là một bậc thầy," vị Thanh tra thì thầm bằng giọng điệu đầy kính sợ.

"Khi không còn lo bị quấy rầy, tôi đã đột nhập vào ngôi nhà. Trộm cắp luôn là một nghề tay trái lý tưởng, nếu tôi có ý định theo đuổi, và tôi chẳng mảy may nghi ngờ rằng mình sẽ đứng ở tốp đầu. Hãy xem những gì tôi tìm thấy. Anh thấy đường ống dẫn khí đốt chạy dọc theo tấm ốp chân tường đây không. Rất tốt. Nó nhô lên ở góc tường, và có một cái van được đặt ngay góc này. Đường ống chạy thẳng vào trong khoang an toàn, như anh có thể thấy, và kết thúc ở bông hoa thạch cao trên trần nhà, nơi nó được giấu kín bởi lớp hoa văn trang trí. Đầu ống đó mở toang. Bất cứ lúc nào, chỉ cần vặn cái van bên ngoài, căn phòng sẽ lập tức ngập chìm trong khí độc. Với cửa chính và cửa sổ bị khóa chặt cùng chiếc van được vặn hết cỡ, tôi cá rằng bất kỳ ai bị nhốt trong không gian chật hẹp này cũng không thể giữ được tỉnh táo quá hai phút. Bằng thứ mưu hèn kế bẩn nào mà ông ta lừa được họ vào đó thì tôi không rõ, nhưng một khi đã bước qua cánh cửa, mạng sống của họ coi như nằm gọn trong tay ông ta."

Vị Thanh tra hào hứng xem xét đường ống. "Một sĩ quan của chúng tôi có nhắc đến mùi khí đốt," ông nói, "nhưng, tất nhiên, cửa sổ và cửa ra vào lúc đó đang mở toang, và mùi sơn-hoặc một phần của nó-đã lảng vảng quanh đó. Ông ta đã bắt đầu công việc sơn sửa từ hôm trước, theo lời khai của chính ông ta. Nhưng sau đó thì sao, ngài Holmes?"

"Chà, sau đó một sự cố ngoài dự kiến đã xảy ra khiến chính tôi cũng phải bất ngờ. Tôi đang lẻn qua cửa sổ phòng đựng thức ăn vào lúc rạng sáng thì bất chợt cảm thấy một bàn tay túm chặt lấy cổ áo mình, và một giọng nói cất lên: 'Này, đồ lưu manh, ngươi đang giở trò gì trong đó vậy?' Khi ngoái đầu lại, tôi bắt gặp cặp kính râm màu của người bạn đồng nghiệp kiêm đối thủ của tôi, anh Barker. Quả là một cuộc đụng độ kỳ khôi, khiến cả hai chúng tôi đều phải bật cười. Hóa ra anh ta đã được gia đình của Bác sĩ Ray Ernest thuê để điều tra, và cũng đi đến chung một kết luận rằng có một tội ác đã xảy ra. Anh ta đã bám đuôi theo dõi ngôi nhà trong vài ngày, và đã ghim Bác sĩ Watson là một trong những kẻ khả nghi vì thấy anh ấy lảng vảng trước cửa. Anh ta đành ngậm bồ hòn làm ngọt không bắt giữ Watson, nhưng khi thấy một gã đàn ông thực sự đang trèo ra khỏi cửa sổ phòng thức ăn thì giới hạn chịu đựng của anh ta đã đứt phựt. Tất nhiên, tôi đã kể cho anh ta nghe toàn bộ sự tình và chúng tôi quyết định cùng nhau theo đuổi vụ án."

"Tại sao lại là anh ta? Sao không phải là chúng tôi?"

"Vì trong đầu tôi đã dự liệu một phép thử nhỏ và nó đã mang lại kết quả trên cả tuyệt vời. Tôi e rằng anh sẽ không dám đi xa đến mức đó."

Vị Thanh tra mỉm cười.

"Chà, có lẽ là vậy. Tôi hiểu rằng tôi đã có lời hứa của ngài, ngài Holmes, rằng ngài sẽ hoàn toàn rút lui khỏi vụ án từ lúc này và chuyển giao toàn bộ kết quả cho chúng tôi."

"Chắc chắn rồi, đó luôn là nguyên tắc của tôi."

"Chà, nhân danh Lực lượng Cảnh sát, tôi xin gửi lời cảm ơn ngài. Vụ việc có vẻ đã sáng tỏ, đúng như ngài nói, và sẽ không khó để tìm ra các thi thể."

"Tôi sẽ chỉ cho anh một mẩu chứng cứ rùng rợn," Holmes nói, "và tôi tin chắc bản thân Amberley cũng chưa bao giờ nhận ra nó. Anh sẽ thu được kết quả, Thanh tra ạ, bằng cách luôn đặt mình vào vị trí của kẻ khác, và suy nghĩ xem bản thân mình sẽ hành động ra sao. Cần một chút trí tưởng tượng, nhưng điều đó hoàn toàn xứng đáng. Bây giờ, giả sử anh bị nhốt trong căn phòng nhỏ này, không còn sống quá hai phút, nhưng muốn trả thù con ác quỷ đang nhởn nhơ cười cợt anh từ phía bên kia cánh cửa. Anh sẽ làm gì?"

"Viết một tin nhắn."

"Chính xác. Anh sẽ muốn kể cho mọi người biết anh đã chết như thế nào. Viết trên giấy thì vô ích. Nó sẽ bị phát hiện ngay. Nếu anh viết lên tường, ai đó vô tình liếc qua cũng có thể thấy. Nhưng hãy nhìn xem! Ngay phía trên tấm ốp chân tường có những dòng chữ được viết ngoệch ngoạc bằng loại bút chì tím không phai: 'Chúng tôi bị--' Chỉ có vậy."

"Ngài nghĩ gì về điều đó?"

"Chà, nó chỉ cách mặt đất có một bộ. Gã đàn ông tội nghiệp đó đang nằm gục trên sàn, hấp hối khi anh ta cố viết ra nó. Anh ta đã lịm đi trước khi có thể hoàn thành dòng chữ."

"Anh ta đang viết, 'Chúng tôi bị sát hại.'"

"Đó cũng là cách tôi dịch nó. Nếu anh tìm thấy một cây bút chì không phai trên thi thể--"

"Chúng tôi sẽ ráo riết tìm nó, ngài cứ yên tâm. Nhưng còn những tờ chứng khoán đó? Rõ ràng là không có vụ cướp nào cả. Vậy mà ông ta thực sự sở hữu những trái phiếu đó. Chúng tôi đã xác minh được điều này."

"Anh có thể chắc chắn rằng ông ta đã giấu chúng ở một nơi an toàn. Khi cơn chấn động về vụ bỏ trốn lắng xuống, ông ta sẽ đột nhiên phát hiện ra chúng, và bù lu bù loa lên rằng cặp tình nhân tội lỗi kia đã ăn năn hối lỗi và gửi trả lại chiến lợi phẩm, hoặc đã đánh rơi chúng dọc đường."

"Ngài dường như thực sự đã gỡ rối được mọi nút thắt," vị Thanh tra cảm thán. "Tất nhiên, ông ta buộc phải trình báo với chúng ta, nhưng tại sao ông ta lại tìm đến ngài thì tôi không sao hiểu nổi."

"Chỉ là để khoe khoang chiến tích thôi!" Holmes đáp. "Ông ta cảm thấy mình quá ranh mãnh và tự tin đến mức ảo tưởng rằng không ai có thể lật tẩy mình. Ông ta có thể vỗ ngực tự hào với bất kỳ người hàng xóm đa nghi nào rằng, 'Hãy nhìn những nước đi của tôi xem. Tôi không chỉ báo cảnh sát, mà nhờ đến cả Sherlock Holmes nữa cơ đấy.'"

Vị Thanh tra bật cười.

"Chúng tôi đành phải tha thứ cho từ 'cả' của ngài thôi, ngài Holmes," ông nói; "đó là một màn điều tra xuất sắc nhất mà tôi từng được biết."

Vài ngày sau, bạn tôi quăng sang cho tôi một tờ North Surrey Observer xuất bản hai lần một tuần. Dưới hàng loạt các tiêu đề chói lọi, bắt đầu bằng "Nỗi kinh hoàng ở The Haven" và kết thúc bằng "Cuộc điều tra xuất sắc của Cảnh sát," là một cột báo in dày đặc cung cấp bản tường thuật chi tiết đầu tiên về vụ việc. Đoạn kết là bản tóm tắt điển hình cho toàn bộ bài viết. Nó được viết như sau:

"Sự nhạy bén đáng kinh ngạc của Thanh tra MacKinnon khi suy luận từ mùi sơn nồng nặc rằng có thể có một thứ mùi nào đó khác, mùi khí đốt chẳng hạn, đang bị che đậy; sự suy luận táo bạo rằng khoang an toàn rất có thể chính là căn phòng tử thần, và cuộc điều tra sau đó dẫn đến việc phát hiện ra các thi thể trong một cái giếng cạn, được che đậy vô cùng khéo léo bởi một chuồng chó, sẽ sống mãi trong lịch sử tội phạm như một ví dụ điển hình về sự mẫn tiệp của các thám tử chuyên nghiệp của chúng ta."

"Chà, chà, MacKinnon là một anh chàng tốt," Holmes nói, nở một nụ cười bao dung. "Anh có thể cất nó vào kho lưu trữ của chúng ta, Watson. Một ngày nào đó sự thật thực sự có thể được đưa ra ánh sáng."

Được in tại Vương quốc Anh bởi Butler & Tanner Ltd., Frome và London


Của A. CONAN DOYLE

NHỮNG CUỘC PHIÊU LƯU CỦA SHERLOCK HOLMES. NHỮNG HỒI ỨC VỀ SHERLOCK HOLMES. SỰ TRỞ LẠI CỦA SHERLOCK HOLMES. MICAH CLARKE. THUYỀN TRƯỞNG TÀU POLE STAR. DẤU BỘ TỨ. BẠCH ĐOÀN NHỮNG NGƯỜI TỊ NẠN. NHỮNG BỨC THƯ CỦA STARK MUNRO. NHỮNG CHIẾN CÔNG CỦA CHUẨN TƯỚNG GERARD. RODNEY STONE. CHÚ BERNAC. BI KỊCH CỦA TÀU "KOROSKO." MỘT BẢN SONG CA, VỚI ĐIỆP KHÚC ĐÔI KHI. LÁ CỜ XANH. CON CHÓ SĂN CỦA DÒNG HỌ BASKERVILLE. NHỮNG CUỘC PHIÊU LƯU CỦA GERARD. NGÀI NIGEL. QUA CÁNH CỬA MA THUẬT. NHỮNG CÂU CHUYỆN BÊN BẾP LỬA. CHIẾC THUYỀN MÁI CHÈO CUỐI CÙNG. THẾ GIỚI BỊ MẤT. QUANH CHIẾC ĐÈN ĐỎ. THUNG LŨNG KHỦNG BỐ. CUNG ĐÀN CUỐI CÙNG. NGUY HIỂM! VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN KHÁC. CÔNG TY CỦA GIRDLESTONE. NHỮNG CÂU CHUYỆN PHIÊU LƯU VÀ ĐỜI SỐNG Y TẾ. NHỮNG CÂU CHUYỆN TỪ THUỞ XA XƯA. NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ HẢI TẶC VÀ NƯỚC XANH. NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ VÕ ĐÀI VÀ TRẠI LÍNH. NHỮNG CÂU CHUYỆN KINH DỊ VÀ BÍ ẨN. NHỮNG CÂU CHUYỆN LÚC CHẠNG VẠNG VÀ NHỮNG ĐIỀU VÔ HÌNH. BÀI CA HÀNH ĐỘNG. BÀI CA CỦA NHỮNG CON ĐƯỜNG. LỰC LƯỢNG VỆ BINH ĐÃ ĐẾN, VÀ NHỮNG BÀI THƠ KHÁC. THƠ: PHIÊN BẢN TUYỂN TẬP. BA NGƯỜI BỌN HỌ: MỘT HỒI ỨC.

BÍ ẨN VỀ JOAN OF ARC. CỦA LÉON DENIS. Được dịch từ tiếng Pháp bởi A. CONAN DOYLE.



  1. Chỉ người đứng đầu Giáo hội Chính thống giáo Coptic, một trong những nhánh Kitô giáo lâu đời nhất có trụ sở tại Ai Cập. Trong bối cảnh truyện, đây là một vụ án hư cấu khác mà Holmes đang thụ lý. 

  2. Haymarket Theatre (Nhà hát Hoàng gia Haymarket) là một trong những nhà hát kịch lịch sử nổi tiếng và lâu đời bậc nhất nằm ở West End, London, Anh. 

  3. Hội Tam Điểm (Freemasonry) là một tổ chức huynh đệ với các nghi lễ bí mật và hệ thống biểu tượng riêng. Biểu tượng phổ biến của họ là chiếc compa và thước vuông. Việc mang kẹp cà vạt có biểu tượng này cho thấy người đó là một thành viên của hội. 

  4. Crockford's Clerical Directory là một cuốn sách tham khảo quan trọng được xuất bản định kỳ, chứa danh sách và tiểu sử tóm tắt của các tu sĩ và giáo sĩ thuộc Anh giáo (Church of England). 

  5. Bản gốc tiếng Anh là 'Railway Arms', một cái tên rất phổ biến cho các quán rượu (pub) ở Anh nằm gần các nhà ga. Từ 'Arms' trong tên quán rượu thường mang ý nghĩa là huy hiệu (coat of arms), nhưng ở đây có thể đã bị mất đi lớp nghĩa văn hóa này qua bản dịch. 

  6. Broadmoor Hospital là một bệnh viện tâm thần an ninh cao nổi tiếng ở Anh, chuyên giam giữ và điều trị những bệnh nhân tâm thần có tiền án hoặc được đánh giá là đặc biệt nguy hiểm đối với xã hội. 

  7. Ám chỉ định kiến lịch sử về tầng lớp quý tộc hoặc chính trị gia người Ý thời Trung cổ và Phục hưng (như gia tộc Borgia hay Machiavelli), thường được miêu tả là những kẻ xảo quyệt, tàn nhẫn, thích sử dụng mưu mô và thuốc độc để trả thù.